Liên Thành : Biến Động Miền Trung (Phần 3)

Biến Động Miền Trung

 

 

 

Tác Giả:  Liên Thành

 

 

 

  

Phần 3

 

 

   

 

       2- Thành phần chống đối tích cực:

       Các đảng phái chính trị quốc gia như:

– Việt Nam Quốc Dân Đảng.

– Đại Việt Cách Mạng của Ông Hà Thúc Ký.

        Lực lượng nòng cốt của Đại Việt Cách Mạng tại Thừa Thiên-Huế là Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông Thôn do Thiếu Tá Nguyễn văn Lý làm Tỉnh Đoàn Trưởng. Ông là một lãnh tụ quan trọng và cao cấp của Đảng Đại Việt.  Một nhân vật chống Cộng Sản tuyệt đối, nếu không nói là quá khích.

       Tỉnh đoàn Xây Dựng Nông Thôn đã góp công lớn trong việc dẹp loạn Miền Trung.  Họ tung nhân viên tham gia vào Lực Lượng Tranh Đấu thu thập tin tức, thiết lập hồ sơ những thanh phần quá khích cung cấp cho đơn vị hành quân dẹp loạn.

       Cũng không thể không nói đến một góp sức không nhỏ cho việc dẹp loạn Miền Trung là Cơ Quan Dân Ý Vụ.  Đây là một cơ quan được thành lập vào năm 1965, phụ trách về Tình Báo Nhân Dân, lãnh lương từ ngân sách Viện Trợ.  Chỉ Huy Trưởng cơ Quan này là ông Trần Đông Hoài, một giáo sư dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Thiên Hựu, nói ngoại ngữ Anh và Pháp giống như người ngoại quốc.  Mặc dầu là một nhà giáo, nhưng lại có thiên phú đặc biệt Tình báo.  Cơ Quan Dân Ý Vụ cung cấp hầu hết các kế hoạch hành động của Lực lượng tranh đấu.

       Ngoài ra, lực lượng quân sự chống lại cuộc nổi loạn miền Trung chỉ có 3 đơn vị nhỏ đó là:

      1- Phía Bắc Thừa Thiên: Quận Quảng Điền do Đaị úy Trần Đức Anh làm Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng.  Ông là thành viên cao cấp của Quốc Dân Đảng.  Đại úy Anh dự định lập Khu Biệt lập Quảng Điền dùng lực lượng quân sự của Chi Khu chống lại đám dấy loạn Miền Trung.  Công việc bại lộ Đại úy Anh phải đào tẩu vào Đà Nẵng trình diện Thiếu Tướng Tư Lênh Quân đoàn I, Trần Thanh Phong.  Khi lực lượng hành quân của Chính phủ đổ quân ra Huế dẹp loạn, ông theo lực lượng hành quân ra Huế trở lại nhiệm sở cũ, chức vụ cũ.  Sau đó, trong một cuộc đụng trận lớn với lực lượng Cộng Sản tại Quận lỵ Quảng Điền vào năm 1967, Đại úy Anh đã anh dũng đền nợ nước.

       2- Phía Nam Thừa Thiên: Quận lỵ Hương Thủy nằm về phía Nam thành phố Huế. Bộ Chỉ Huy Quận và Chi Khu Hương Thủy nằm cạnh phi trường Phú Bài và căn cứ của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Phú Bài, cạnh quốc lộ I trên dường vào Đà Nẵng.

       Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng là Thiếu Tá Tăng.  Thiếu Tá Quận Trưởng Hương Thủy là một trong những đơn vị trưởng quân sự đầu tiên chống lại Phong Trào Tranh Đấu Miền Trung.  Trong những ngày đầu của cuộc tranh đấu ông cho lực lượng quân sự Chi Khu bố trí và án ngữ ngay vùng Dạ Lê trên quốc lộ I, đồng thời ông cũng yêu cầu đơn vị TQLC Mỹ tại Phú Bài tăng phái 2 xe tăng M 48 chận ngay quốc lộ I vùng Dạ Lê, ngăn chặn không cho lực lượng tranh đấu từ thành phố Huế tràn xuống.  Văn phòng Quận, Chi Khu Hương Thủy bấy giờ trở thành BCH của lực lượng chống Phong trào Tranh Đấu.

       Trung Tá Phan Văn Khoa Tỉnh trưởng Tỉnh Thừa Thiên, Thị Trưởng Thị Xã Huế, kiêm Tiểu Khu Trưởng là vị Tỉnh Trưởng đầu tiên tại miền Trung chống lại phong trào tranh đấu, ông dời văn phòng Tỉnh Trưởng về quận Hương Thủy vì Tòa Hành Chánh Tỉnh đã bị đám mỗi loạn chiếm cứ.

       BCH lực lượng chống tranh đấu hằng ngày tấp nập các phái đoàn của Chính phủ trung ương Saigòn bay ra hội họp, lãnh tụ các đảng phái Chính trị và nhiều phái đoàn quân sự cũng như tình báo Mỹ, họp với Trung Tá Tỉnh Trưởng bàn soạn kế hoạch tái chiếm lại thành phố Huế hiện đang nằm trong tay đám tranh đấu.

       Tại Thành phố Huế, độc nhất còn lại BCH Tiểu khu Thừa Thiên chưa bị đám phản loạn chiếm cứ.  BCH Tiểu Khu Thừa Thiên đóng gần Đài Phát Thanh Huế. Trung Tá Khoa giao cho Thiếu Tá Nguyễn Văn Tố Trưởng Phòng II Tiểu Khu trấn giữ.  Đám tranh đấu chưa dám chiếm Tiểu Khu vì đây là cơ quan Quân Sự.

       Huế hoàn toàn bỏ trống, không còn chính quyền, thành phố nằm gọn trong tay đám tranh đấu Thích Trí Quang.

       3- Phía Tây Thành Phố Huế: Lực lượng thứ 3 chống lại đám tranh đấu là Quận Nam Hòa nằm về phía Tây thành phố Huế.  Quận Nam Hòa là một quận miền núi, mặc dầu chỉ cách thành phố Huế khoảng 12Km.  Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng là Thiếu Tá Phạm Khắc Đạt.  Phụ Tá Quận Trưởng kiêm Chi Khu Phó là tôi, Thiếu úy Liên Thành.

       Thiếu Tá Phạm Khắc Đạt là vị chỉ huy đầu đời trong đời binh nghiệp của tôi.  Ông là một sĩ quan trẻ cấp Thiếu Tá, nhưng ông có đủ khả năng quân sự vừa chiến thuật và chiến lược.  Vốn là người Bắc nên rất tế nhị, cẩn trọng trong mọi vấn đề, mọi trường hợp.  Trong những ngày đầu của cuộc dấy loạn Miền Trung, ông không chống mà cũng chẳng ngã về phong trào tranh đấu.  Chỉ đứng khoanh tay nhìn thời cuộc.  Cách hay nhất của ông là cáo bệnh giao hết mọi việc của Quận và Chi Khu cho tôi, mỗi buổi chiều lên xe Jeep về thành phố.

       Lực lượng quân sự của Chi Khu Nam Hòa gồm có :

200 Dân Vệ (sau gọi là Nghĩa Quân).

 

2 Đại Đội tăng phái từ Tiểu Khu .

1 Pháo Đội 105 ly tăng phái từ Sư Đoàn I BB

       Tôi vừa là Chi Khu Phó vừa là Liên Đại Đội Trưởng.

       Trong thời gian thành phố biểu tình lên đường, xuống đường thì tình hình địch tại Nam Hòa mỗi ngày mỗi nặng.  Hai Đại Đội chạm địch liên miên, ngày nào cũng có binh sĩ bị thương hoặc tử thương.

       Tôi còn nhớ vào một đêm trong tháng 3-1966 Đại đội do tôi chỉ huy đụng nặng với đơn vị Việt Cộng.  Tôi gọi máy xin pháo đội 105 ly pháo binh Quận yểm trợ.  Tọa độ xin tác xạ là 76.. .. bản đồ tỷ lệ 1/100,000 ba tràng đạn nổ chạm.  Chỉ 5 phút sau pháo đội báo: Đạn đi, đợi hoài chẳng thấy đạn nổ mà chỉ nghe ba tràng đạn nổ từ xa vọng lại, rất xa tọa độ tôi xin.

       Sáng hôm sau tôi kéo Đại Đội vượt nguồn hữu ngạn sông Hương trở về Quận, vừa đến chợ Tuần thì đại họa đến.  Đại Đội tôi đụng đầu với một đoàn biểu tình của nhóm Tranh Đấu từ thành phố Huế kéo lên, toàn là Sinh Viên, Học Sinh đang đứng gần chợ Tuần.  Họ la lớn, đả đảo Cần Lao đàn áp Phật Giáo bắn sập Chùa, giết hại Tăng Ni.  Đoàn biểu tình kéo lại định vây đơn vị tôi vào giữa.  Lính vừa đói vừa mệt lả, tôi cũng vậy.  Tôi phản ứng rất nhanh nhưng mà dại.  Tôi quay qua viên Thượng Sĩ Đại Đội ra lệnh rất nhanh: Đội Hình.  Binh sĩ túa ra bố trí.  Đoàn biểu tình thấy lính phản ứng nên lùi lại.  Cũng may trong đám biểu tình có tiếng la lớn:

– Khoan đã, đừng làm bậy, hắn là Liên Thành con thầy Trợ Cử (phụ thân tôi là một nhà giáo), cháu của Ngài Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết không phải Cần Lao đâu. 

Tiếng la đó phát xuất từ thằng bạn học cũ của tôi ở Trường Quốc Học và cũng ở cùng xóm Chùa Từ Đàm với tôi.  Anh ta là Trần Văn Rô, Sinh Viên Đại Học Khoa Học.  Tôi chưng hửng hỏi Trần văn Rô:

       – Chuyện gì vậy ?

       – Tối hôm qua mày bắn sập chùa Sư Nữ ở Cầu Lim, gần Đàn Nam Giao phải không? Rô trả lời,

       – Có, tao có gọi pháo binh bắn yểm trợ, vì tụi tao đụng nặng với Việt Cộng, nhưng tụi tao đánh nhau bên kia sông, trong núi đâu phải bên này.  Chuyện này tao vô can. Tôi trả lời Rô.

       Đoàn biểu tình kéo về Huế.  Trên đường về Quận tôi nghĩ mình ngu quá, ra lệnh cho binh sĩ dàn đội hình tác chiến, lỡ có người lính nào mất bình tĩnh bắn đại vào đám sinh viên biểu tình thì không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra.  Khi về đến Quận đã thấy có phái đoàn điều tra của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo và ty Cảnh Sát hiện diện tại đó.  Sự việc sáng tỏ.  Tôi gọi bắn yểm trợ ở tọa độ 76. (trục hoành độ ).  Nhưng vì cả pháo đội đang có sòng xì phé đến hồi gay cấn, lúc tôi gọi xin tác xạ, viên thượng sĩ già mắc dịch làm xạ bản tác xạ đang thua bạc, hấp tấp viết số 76 thành 70 có tí râu, nên trục hoành độ đã dời qua phiá đông 6 cây số, đạn rơi trúng phóc vào chùa Sư Nữ ở Cầu Lim.  Cũng may chỉ sập 1 góc chùa, các vị Sư Nữ đêm đó kéo nhau ra giếng ngoài ruộng tắm giặt nên chẳng ai bị thương tích gì, thật hú hồn.

       Những ngày kế tiếp, lính tại đơn vị mỗi ngày mỗi thưa dần, đa số đã bỏ súng tại đơn vị, trốn về Huế gia nhập chiến đoàn Nguyễn Đại Thức bảo vệ Thầy, bảo vệ đạo pháp đang lâm nguy.  Số binh sĩ hiện diện tại đơn vị đa số là người Công Giáo và lính già.  Cùng thời gian tôi nhận được công điện Hỏa Tốc của BCH Tiểu Khu Thừa Thiên: Yêu cầu quí đơn vị hạn chế tối đa đạn dược và điện trì cho máy truyền tin, vì không còn nhận được tiếp tế từ Quân Đoàn.

       Thời gian đó tại mỗi Quận, Chi Khu đều có Văn Phòng Cố Vấn Mỹ.  Viên cố vấn cho Chi Khu Nam Hòa tên Bob cấp bậc Thiếu tá.  Tôi phải vận dụng tối đa công lực vừa miệng vừa tay xổ tiếng Mỹ với viên Thiếu Tá, cho ông ta biết tình trạng hiện tại và nói tôi muốn trốn vào Đà Nẵng trình diện Quân Đoàn.

       – Anh không theo Tranh Đấu?    Ông ta hỏi tôi.

       – Như vậy có khác gì theo Việt Cộng. Tôi cười trả lời.

       – Hỏi vậy thôi chứ tôi biết rõ Thiếu úy, tôi sẽ giúp Thiếu úy, tuy nhiên Thiếu úy cũng nên bàn với Thiếu Tá Quận Trưởng.  Viên thiếu tá Mỹ nói.

 

       – Tôi sẽ bàn với ông ta.  Tôi nói. Trong khi đang đứng nói chuyện với tôi bỗng nhiên anh ta giật mình nói nhỏ với tôi:

       – Thiếu úy, nhìn kìa.  Tôi nhìn theo hướng tay ông ta chỉ về phía pháo đội 105 ly thì thấy cả hai khẩu pháo 105 ly đã quay hướng súng về phía Căn cứ Phú Bài từ hồi nào.  Trong lúc đó tôi vẫn còn 1 Đại Đội đang hoạt động trong vùng trách nhiệm phía vùng núi bên kia sông, vùng núi Kim Phụng.  Pháo đội phải quay súng về hướng đó để sẵn sàng tác xạ yểm trợ theo yêu cầu, tại sao lại quay hướng súng về Phú Bài.  Tôi đang suy nghĩ thì viên Thiếu tá Mỹ nói ngay:

       – Tôi nghĩ Pháo đội nầy đã theo lực lượng tranh đấu.  Họ quay hướng súng về phía Phú Bài để tác xạ vào Sư Đoàn TQLC Mỹ của chúng tôi.  Tôi sẽ báo ngay cho Bộ Chỉ Huy MACV.  Nói xong ông ta đi vào văn phòng.  Khoảng 30 phút sau đó Thiếu Tá Bob trở ra và mời tôi vào văn phòng của ông ta và nói ngay:

       – Thiếu úy, mình phải chiếm hai khẩu súng nầy ngay lập tức.  Bây giờ thì không thể xài tiếng Mỹ bằng miệng và bằng tay được nữa, mà phải xài tiếng Mỹ qua Thông dịch viên. Tôi hỏi viên Thiếu Tá:

       – Thông dịch viên anh đâu, tôi cần hắn dịch rõ ràng vì chuyện quan trọng.

       – Có ngay, Viên thiếu tá Mỹ nói.  Và ông ta gọi viên trung sĩ Mỹ vào làm thông dịch.  Tôi vô cùng ngạc nhiên vì bao lâu nay tôi chưa từng nghe người trung sĩ Mỹ nầy nói một chữ tiếng Việt.  Với giọng Bắc rất rõ ràng viên Trung Sĩ Mỹ nói:

       – Thiếu tá chúng tôi cần Thiếu úy ra lệnh cho Pháo Đội quay hướng súng lên núi, nếu Pháo đội không chịu thì phải dùng vũ lực chiếm 2 khẩu súng này vì họ muốn tác xạ vào đơn vị TQLC của chúng tôi. 

       – Trong vòng 1 giờ nữa sẽ có một Trung Đội TQLC của chúng tôi đến đây giúp Thiếu úy.  Viên Trung Sĩ nói tiếp.

       Qua Thông dịch viên tôi nói với Thiếu Tá Bob:

       – OK, nhưng để tôi cho mời Trung úy Pháo đội trưởng lên đây mình nói chuyện với ông ta trước để rõ sự việc như thế nào. Tôi không muốn phe mình bắn phe ta.

       Chỉ trong vòng 10 phút sau Trung úy Pháo đội Trưởng đã có mặt. Tôi nói ngay:

       – Ông hơn cấp bậc tôi, nhưng ông tăng phái cho tôi, lẽ dĩ nhiên phải dưới quyền chỉ huy và điều động của tôi.  Xin Trung úy cho biết ai cho quay hướng súng về Phú Bài, trong khi đó tôi đang còn một đơn vị đang hành quân bên kia sông hướng núi Kim Phụng.

      – Tôi nhận lệnh của Sư Đoàn quay súng về phía đó và đợi lệnh.   Pháo đội trưởng chậm rải trả lời.

       – Nếu có lệnh của Sư Đoàn Trung úy có bắn không?   Tôi hỏi viên pháo đội trưởng.

       – Không.

       – Tại sao?

       – Tôi không theo đám Tranh Đấu.

       – Tôi tin trung úy. Bây giờ xin cho quay hướng súng trở lại.  Nếu có ai báo cáo với Sư Đoàn trung úy cứ nói theo yêu cầu của Chi Khu vì họ cần tác xạ vào một số tọa độ khuấy rối trong đêm.  Tôi nói tiếp với Trung úy Pháo Đội Trưởng.

       – Ông yên tâm, tôi cho quay hướng súng lại ngay.  Hai phần ba binh sĩ của pháo đội tôi đã trốn theo tranh đấu, số còn lại là đệ tử thân tín của tôi.

        Trong khi tôi nói chuyện với Trung úy Pháo Đội Trưởng thì viên Hạ sĩ quan Mỹ đã dịch hết cho Thiếu Tá Bob nghe rồi.  Tôi xoay qua viên Thiếu tá Mỹ hỏi ông cần nói gì với Trung úy không?  Ông ta bắt tay Trung úy Pháo đội trưởng nói:

       – Tôi tin ông, nhưng kể từ giờ phút nầy Chi Khu không cần Pháo binh của ông yểm trợ nữa.  Pháo Binh của Sư Đoàn TQLC Hoa kỳ tại Phú Bài sẽ đảm trách.  Chốc nữa, sẽ có 1 trung đội TQLC Hoa kỳ xuống đây, nếu có lộn xộn tôi sẽ cho lệnh trung đội nầy phá hủy ngay 2 khẩu 105 ly của Trung úy.

       – Ok, Thiếu tá. Trung úy pháo đội trưởng nói.   Mọi người cùng cười, tan hàng.  Sáng hôm sau tôi về Huế gặp Thiếu Tá Quận trưởng, sau khi trình bày tình hình với ông tôi kết luận:

       – Không còn gì nữa, lính đào ngũ theo tranh đấu.  Đạn và điện trì cho máy truyền tin cũng cạn, lấy gì đánh nhau với Việt Cộng.

       Tôi cho Ông biết ý định của tôi và tôi hỏi Ông:

       – Thiếu Tá, ông đi không?

       – Bao giờ?

       – Ngày mai, 10 giờ sáng.

       – Đi, sáng mai tôi lên Quận đi với anh.

       Đúng 10 giờ sáng ngày hôm sau, trực thăng của Thiếu Tá Bob đón chúng tôi bay vào Quân Đoàn I trình diện Thiếu Tướng Tư Lệnh Trần Thanh Phong.  Trước khi đi tôi nói với Thiếu úy Hành Trưởng ban 3:

       – Anh coi nhà, tôi và Thiếu Tá Quận Trưởng và Thiếu Tá Bob đi họp hành quân với TQLC Mỹ sẽ về trong ngày.  Khoảng 45 phút sau, chúng tôi đáp xuống sân bay trực thăng của BTL/ Quân Đoàn.  Tại sân bay đã có một Trung Tá Mỹ đón chúng tôi và đưa thẳng vào phòng hội của BTL.

       Người đầu tiên chúng tôi gặp là Đại úy Anh, Quận Trưởng Quận Quảng Điền, người đã chạy thoát khỏi cuộc lùng bắt của đám Sinh Viên Quyết tử tại Huế khi ông chống lại Phong trào Tranh Đấu của bọn chúng.  Chúng tôi mừng rỡ ôm choàng nhau .

       Phòng hội có khoảng 30 sĩ quan cấp Tá trở lên vừa Việt, vừa Mỹ.  Khoảng 5 phút sau Thiếu Tướng Tư Lệnh vào Phòng Hội.  Sau phần trình bày tình hình tại Huế của Thiếu tá Quận Trưởng Nam Hòa Phạm Khắc Đạt, Thiếu Tướng tư Lệnh chỉ thị chúng tôi trở lại Huế.  Thiếu Tá liên lạc với Trung Tá Tỉnh Trưởng Phan Văn Khoa hiện đang có mặt tại Quận Hương Thủy để nhận lệnh.  Phần tôi trở lại Chi Khu Nam Hòa chỉ huy 2 đại đôi cơ hữu đợi lệnh.  Hằng ngày Đại úy Anh sẽ liên lạc với tôi.

       Chúng tôi chào từ giã Thiếu Tướng Tư Lệnh.  Thiếu Tá Bob gặp chúng tôi ngay phòng hội cho biết 3 giờ sau sẽ gặp nhau tại bãi đáp trực thăng Quân Đoàn để trở về lại Huế.

       Đại úy Anh chở chúng tôi đi ăn phở tại Đà Nẵng.  Ông đưa cho tôi một đặc lệnh truyền tin và nhiều tần số liên lạc.  Hàng ngày vào buổi sáng ông sẽ bay ra Nam Hòa và sẽ liên lạc với tôi để nhận báo cáo tình hình, ông dặn dò:

       – Nói ngắn, gọn, đề phòng bọn nó vào tần số mình nghe lén.  Mỗi ngày thay đổi tần số liên lạc như đã qui định.  Chúng tôi trở lại Nam Hòa cùng ngày. Thiếu Tá Quận Trưởng về Hương Thủy gặp Trung Tá Tỉnh trưởng nhận lệnh hành động. Tôi tiếp tục ở lại quận.

       Đầu tháng 5-1966, Thiếu Tá Đạt gọi tôi về gặp ông ta và Trung Tá Tỉnh Trưởng tại BCH/ chống Tranh Đấu tại Chi Khu Hương Thủy.  Trung Tá Tỉnh trưởng hỏi tôi:

       – Liên Thành, anh có liên hệ gia đình với Ngài Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết phải không ?

       – Dạ đúng.

       – Anh có người anh đi tu là Đại Đức Thích.. .

       – Dạ đúng.

       – Anh có nhiều bạn trong đám sinh viên Đại Học Huế

       – Dạ đúng.

       – Vậy thì tốt, công tác nầy anh làm được, bọn Tranh Đấu không nghi ngờ.  Đã đến lúc phải tắt tiếng Đài Phát Thanh tranh đấu của bọn chúng.  Đài Phát Thanh Huế của Chính quyền bọn hắn chiếm bây giờ mình phải lấy lại.

       – Dạ, với 2 Đại đội cơ hữu của em, em tấn công thẳng chiếm lại Đài Phát Thành Huế, không trở ngại.  Tôi nói không suy nghĩ.

       Trung Tá Tỉnh Trưởng và Thiếu Tá Đạt cùng cười. Tôi biết mình hố rồi. Trung Tá Tỉnh Trưởng nói :

       – Tấn công cái… đầu của anh.  Lính Sư Đoàn I và chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức bọn chúng xơi tái 2 Đại Đội của anh ngay.  Vụ nầy chỉ có một mình anh làm mà thôi.

       – Trung Tá nói vậy nghĩa là sao?  Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

       – Người Mỹ sẽ huấn luyện và chỉ cách cho anh.

       Hai người Mỹ dân sự huấn luyện tôi trong hai ngày tại Căn Cứ Phú Bài, đủ để hiểu cách thức phá hoại bộ phận nào trong đám máy móc phát thanh của Đài Phát Thanh Huế.  Ba ngày sau tôi trở về Huế, ghé thăm gia đình cởi bỏ đồ lính thay thường phục, ghé đài phát thanh Huế kiếm mấy thằng bạn sinh viên tranh đấu mời chúng nó đi uống café Lạc Sơn.  Mấy thằng bạn gặp tôi mừng lắm, bọn chúng hỏi tới tấp:

       – Liên Thành, sao về được?

       – Lính về tham gia tranh đấu hết rồi, bây giờ tao tà tà.

       – Thôi về đi, tham gia với bọn tao, lật đỗ Thiệu, Kỳ xong rồi tính.

       – Có lý.  Cả bọn kéo nhau sang Lạc Sơn uống Café.

       Trời đã về chiều tôi nói với mấy thằng bạn:

       – Thôi, chiều rồi, tao về, vài hôm nữa gặp.

       – Mầy bận việc?

       – Không, lính tráng trốn đi hết rồi, bây giờ đâu có đánh đá gì đâu.

       – Vậy đêm nay ở lại với bọn tao cho vui, mình về đài phát thanh, tối nầy ăn cháo gà ca hát, ngày trước ở trường Quốc Học mầy hát hay lắm mà.  Không suy nghĩ tôi nói ngay:

       – Được rồi, đêm nay ở lại với tụi mầy cho vui.

       Tôi nghĩ thầm: Chết tụi mầy, tụi mầy rước cọp về rừng.




Vũ Lưu Xuân và Những Cảnh Ngộ Nghiệt Ngã Của Kiếp Người : Hương Hồng Quế

Hương Hồng Quế
Và Những Cảnh Ngộ Nghiệt Ngã Của Kiếp Người

 

Theo “thổ lộ” của tác giả, truyện Hương Hồng Quế được viết trong một thoáng tình cờ chụp bắt từ một mẩu chuyện bên lề, không chủ ý.

Một lần từ Sài Gòn ra Bắc, tác giả nghe người bạn thuật lại lời nói của một bà già bị bệnh hủi: "Trước khi chết tôi chỉ mong được ngửi mùi hương hồng quế một lần". Ước mơ giản dị đó của một người sắp rời cõi thế xoáy vào suy nghĩ của tác giả: Phải có “cái gì đó” gợi cho người đàn bà bất hạnh kia nhớ tới mùi hương hồng quế và kỷ niệm nào đó trong đời…

Câu nói đơn giản ấy đã làm tác giả rợn người, khiến tác giả nghĩ tới thân phận người trí thức còn sống trong nước. Người trí thức cũng què cụt, cũng đui mù rồi, nhưng ở tận đáy lòng vẫn nuôi dưỡng một niềm mơ ước dù rằng rất nhỏ, gắn với một kỷ niệm chẳng biết đáng gọi là vui, hay buồn, nhưng rất đẹp. Chính vì thế tác giả đã lấy ba chữ Hương Hồng Quế làm tên tập truyện.

Có lẽ ẩn ý này của tác giả khó được người đọc nhận ra, vì đây chỉ là một cảm nghiệm hoàn toàn riêng tư.

 

Nhìn lại suốt dọc dài lịch sử thăng trầm của đất nước, giới sĩ phu luôn luôn giữ vai trò hướng đạo trong mỗi thời kỳ sơn hà biến động, cũng như lúc xã tắc an bình. Giới sĩ phu thời xưa và thành phần trí thức thời nay dù cách xa nhau hàng thế kỷ nhưng thiên chức và vai trò của họ trước vận mệnh dân tộc không có gì thay đổi.

Dưới các triều đại quân chủ, cùng với nhà vua, giai cấp sĩ phu đã từng chủ động và chứng tỏ vai trò ưu thế của mình trong việc an định nước nhà, mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân. Nhiều bậc sĩ phu là những nhà nho, ngay từ thời nhà Trần đã xây đắp một nền văn học Việt Nam sáng chói với những văn tài như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Hồ Quý Ly, Nguyễn Thuyên, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Ngũ Lão…

Dòng văn học đó tiếp nối theo giòng lịch sử với những danh nhân tên tuổi như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm, Hồ xuân Hương…

Và từ thời cận đại đến cuối thế kỷ 20, một thế hệ cầm bút mới tiếp nối sự nghiệp tiền nhân như  Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Phùng Quán, Trần Dần, Phùng Cung v.v.

Dấu mốc lịch sử, Hiệp định Geneve 1954 kết thúc chiến tranh Việt – Pháp, đất nước chia đôi, Văn học Việt Nam rẽ thành hai giòng chảy: vàng đỏ, trong đục khác biệt…

Văn học miền Bắc, như lời thú nhận của những người làm văn học “ăn cơm chúa múa tối ngày” đã viết trên giấy trắng mục đen rằng một trong những “Đặc điểm cơ bản của nền văn học mới” là “một nền văn học thống nhất, có tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng” (1).

Ở một chỗ khác, tương đối kín đáo hơn, những người làm văn học XHCN ở miền Bắc lại viết:

“Mấy chục năm qua, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và được sự lãnh đạo của Đảng, giới nghiên cứu văn học đã tiếp thu một cách chọn lọc những kinh nghiệm và truyền thống của việc nghiên cứu văn học thời trước để tìm hiểu sự phát triển của văn học Việt Nam…” (2)

Trong khi đó, người cầm bút, giới văn nghệ sĩ, nói chung trong 20 năm Văn học miền Nam hoàn toàn được tự do sáng tác, phát hành, phổ biến.

Khỏi cần lý luận dông dài, mọi người đều thấy rõ bản chất của văn học miền Bắc” là một nền Văn học được “soi sáng” bởi chủ nghĩa Mác-Lênin, dưới sự chỉ đạo, kiểm soát và khống chế của đảng CSVN.

Lịch sử nói chung và văn học, nói riêng đã bị nhào nặn, vo tròn bóp méo, cố tình nhận định sai lạc nhằm phục vụ chế độ, theo kiểu “mặt trời chân lý” của Tố Hữu. 

Giới trí thức miền Bắc dưới chế độ Cộng sản trong hàng chục năm qua đã phải thúc thủ trước “bạo lực cách mạng”. Vì cơm áo và sự sống, một số đông đã bị “què cụt, đui mù”, giấu kín trong lòng những ước mơ và kỷ niệm…  – Ước mơ một lần được ngửi mùi hương tự do dân chủ – Một số vẫn kiên cường vung bút đòi hỏi tự do sáng tác, ghi lên sách báo sự thật lịch sử, những hiện tượng và hành vi bất lương của thời đại họ đang sống, chấp nhận mọi hậu quả trả thù ác nghiệt. Đó trường hợp của Nhân Văn Giai Phẩm và các nhà văn, nhà báo, giới trí thức, luật gia hiện nay ở trong nước.

 

**

Tôi nhận bản thảo “Hương Hồng Quế”, đọc từ truyện đầu sách cùng tựa đề, đến truyện thứ 28 cuối sách, mỗi truyện một nội dung, một cảnh ngộ, kết cấu khác nhau nhưng luồng văn có sức thu hút, lôi cuốn người đọc không thể dừng lại sau mỗi truyện, mà phải giở sang trang sau, đọc tiếp truyện khác.

Tập truyện chia làm hai phần.

Phần I gồm 22 truyện ngắn.

Phần II có 6 truyện, là một loại phóng tác, làm mới lại và đưa ra một cái nhìn mới về những huyền thọai dân gian, lịch sử, giả tưởng từ Trương Chi-Mỵ nương, Lưu Thần-Nguyễn Triệu, Hậu Nghệ, đến Từ Hải, Trọng Thủy-Mỵ châu…

Hầu hết các cốt truyện trong phần I là những cảnh ngộ nghiệt ngã của những kiếp người trong một xã hội đã băng hoại đạo lý. “Nạn kỳ thị vẫn độc hơn lưỡi dao giết người”. Hương Hồng Quế giống như cuộc tình mong manh, nhưng dường như nó không chỉ là một thoáng tình, mà còn là niềm khát vọng, sau chuỗi dài cay đắng.

Trong “Bản Hợp đồng”, không phải một Đan Thanh mà có thể hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn cô gái bất hạnh khác lênh đênh trong một mảng xã hội lọc lừa sa đọa. Tác giả nói với mình hay nói với mọi người: “Điều nghiệt ngã là trong một thế giới còn bất công, chúng ta có qúa ít sự lựa chọn, bởi thế ranh giới giữa tội phạm và nạn nhân, không phải lúc nào cũng rạch ròi…”

Sự đổi chác giữa hai phái tính nam nữ tưởng là “sòng phẳng, lạnh lùng” nhưng vẫn không thể đẩy nỗi xúc động, xót xa nhân bản ra khỏi trái tim của một con người. “Đan Thanh tồn tại và biến mất giữa một thế giới thừa thãi sự tiến bộ, nhưng thiếu hụt tình người. Cô sống như cỏ cây, như hạt bụi đọng”. (Bản Hợp đồng)

Cảnh bịp lừa, dối trá, chơi đểu lẫn nhau không chỉ ở những mảng xã-hội-đen mà còn khá phổ biến khắp nơi, ở các công sở, xí nghiệp, công ty. Tại một công ty sản xuất lớn, có hàng trăm cán bộ, công nhân, “nghe nói có mấy thằng trong cơ quan muốn chơi anh”. Thế là xếp bỏ tiền ra – chẳng phải tiền của xếp – cho anh kỹ sư thiết kế chiếc máy “tét” nói dối. Và máy phát hiện “xếp ngu như bò”. Anh kỹ sư nghĩ bụng: “ngu như bò hay ngu như lợn thì cũng na ná như nhau, mà có lẽ lợn còn tệ hơn bò một bậc, vừa ngu vừa bẩn…” (Máy Tét). 

Họat cảnh xã hội Việt Nam đương thời dưới ngòi bút của Vũ Lưu Xuân đã phơi bày nhiều tệ trạng, đủ mọi thứ nạn nhân bị xô đẩy, bị vùi dập giữa dòng sống thác loạn. Con người luôn luôn gặp phải trở lực, ngõ cụt, không lối thóat. Ở đó là những mảnh đời, những thân phận, những dằn vặt, vật lộn, giằng xé, những nỗ lực đến tuyệt vọng để được làm người.

“Thảm quá! Tôi bảo thật, chú vô tội, có tội là cái xã hội đã đẩy con người vào bước đường cùng”. (Trắng đen)

Bên cạnh sự thừa thãi phung phí của con cái những nhà giàu của, lắm tiền, quyền cao chức lớn, thì ước mơ nhỏ bé tầm thường của một học sinh con nhà nghèo khó, xin ông già Noel chỉ là quyển vở học trò và bộ quần áo đồng phục: “Con muốn xin ông nhiều thứ lắm. Trước hết con xin bộ đồng phục cho thằng Út, nó khai giảng lớp một hết mấy tháng rồi mà vẫn chưa có đồ mặc. Con cũng xin ông hai cuốn tập trăm trang giấy trắng…” (Quà Giáng Sinh).

Còn nữa, trong những truyện khác, nhiều cảnh ngộ bi đát kiếp sống con người dẫy đầy trên mặt nổi xã hội Việt Nam hiện nay. May thay, tàng ẩn giữa môi trường sống bon chen, giành giựt, trấn lột lẫn nhau, với ngòi bút hướng thượng, nhân bản, tác giả Vũ Lưu Xuân đã không quên nét đẹp tâm hồn của người con gái vùng vẫy vượt lên số phận, như cô bé trong truyện “Từ Trong Bóng Tối Bước Ra”. Hay những con người hy sinh quên mình, nhường cả hạnh phúc lớn lao cho tha nhân như Minh, người điều hành trung tâm người mù đã nhường ca mổ mắt lấy lại ánh sáng cho người khác … 

 

Đọc sang phần II tập truyện, độc giả sẽ không thể không dừng lại nghe Hậu Nghệ tái sinh trình bày:

“Hôm nay Nghệ được lệnh tiếp xúc cùng qúy vị, để chận đứng bàn tay đẫm máu của những kẻ vẫn tự nhận mình là duy nhất đúng… Nghệ đã ngẩng cao đầu, lần lượt bắn rụng chín mặt trời và bị đầy xuống đáy mười tám tầng địa ngục. Bọn đồ tử, đồ tôn của Nghệ đã nhân danh một thứ chân lý tuyệt đối, duy nhất đúng, để tiêu diệt những ai không cùng một quan điểm với mình, chúng đáng bị đầy xuống tầng mười bẩy, tầng này hiện đã quá chật…” (Hậu Nghệ).

Tác giả Vũ Lưu Xuân trong phần Tự bạch có bài thơ Vô Đề, hai câu mở đầu:

Hồn ta đâu là bãi sông đò vắng,

Mà nghe vọng hoài tiếng hát buồn tênh!

 

Bài thơ viết ở tuổi 40 của một con người sinh ra và lớn lên giữa bủa vây của âm thanh bom đạn và khói mù khét lẹt của chiến tranh, để rồi khi đất nước hòa bình, ngỡ ngàng thất vọng truớc một kết cuộc bi thảm phủ trùm khắp mọi đường ngang lối dọc.

Năm 1981, Vũ Lưu Xuân bỏ nghề dạy học, gom toàn bộ sách vở cân ký bán “ve chai”, tự nguyện làm “tên vô học”, nhưng Vũ Lưu Xuân đã không thể buông bút, bỏ chữ nghĩa, nên ông đã làm thơ, dù chỉ có một bài duy nhất – một bài thơ tưởng đã đủ nén vào đó tâm sự cả một đời người – và dần dà từng truyện ngắn lần lượt ra đời, làm món quà tinh thần quý giá cho các thế hệ hôm nay và cho văn học mai sau.

Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn hân hạnh là trung gian chuyển tới bạn đọc tác phẩm văn học giá trị này. Và đây là một trong những mục tiêu mà chúng tôi theo đuổi như tôn chỉ đã được đặt ra từ ngày thành lập, muời lăm năm truớc.

 

SONG NHỊ 

20 tháng 7-2009




Nguyễn Xuân Tường VY : Tác phẩm Mắt Thuyền.


            MẰT THUYỀN

M
Ở

Tôi rời Việt Nam. Hành trang mang theo là chuỗi hạt trai kết bẳng chữ mười bốn năm chào đời.

Những hạt trai ngời nắng nhiệt đới. Hơn hai mươi năm hội nhập, tôi đã đánh mất, đã nhặt lại, đã đánh bóng từng viên ngọc của mình.

Dù không còn rực rỡ, Những viên ngọc đã kết thành chuỗi ngôn ngữ tôi yêu. Vẫn quyến rũ như buổi đầu. Vẫn ngọt ngào như tiếng Mẹ ru đầu tiên trong đời.

Khi các nhà xuất bản Việt đóng cửa,
Khi sách Vìệt phủ bụi thời gian,
Khi không ai còn muốn đọc tiếng Việt,

Tôi đã chọn và viết bằng ngôn ngữ của trái tim mình 

                                     Nguyễn Xuân Tường Vy
                                     San Jose, California
                                     tháng 1 năm 2011

   

 

 

 

Mắt Thuyền

 

 

 

Biển lặng những ngày sau. Tôi vẫn không đủ can đảm nhìn xuống lòng đại dương sâu hút. Đôi mắt thuyền vẫn ở đó. Trong thâm tâm tôi biết đôi mắt ấy vẫn dõi theo tôi từ khi rời khỏi mặt nước. Biển trong lòng tôi đã lặng. Cả những lượn sóng sôi. Nhưng đôi mắt vẫn ở đó trong sâu tận đáy lòng. Đôi mắt làm bằng ván của quê tôi, của Tam Kỳ tuổi thơ, của những gốc phi lao rì rào. Những gốc cây trơ gầy vậy mà chúng cũng ghép lại được để chở mang tôi ra xa, vượt những ngọn sóng, vượt những lượn triều, vượt trời nước mênh mông để khi tôi quay nhìn lại thì Tam Kỳ đã biến mất. Quê tôi không biến mất, Tam Kỳ chưa biến mất. Tam Kỳ gửi theo tôi đôi mắt ván thuyền.

  Đó là năm 83, khi tôi bước chân xuống chiếc thuyền chòng chành ở mấp mé bờ nước. 

 

Thuyền đi đã bao lâu, tôi không thể nhớ. Tôi thức giấc giữa lòng ghe. Chung quanh im phắc. Ánh sáng lờ mờ từ nắp ghe hắt xuống những thân người nằm ngồi ngả nghiêng. Các chị tôi ngồi dựa lưng vào thành thuyền, lờ đờ. Mùi nôn mửa xú uế trùm kín vùng không gian hẹp. Ngộp thở, tôi lại muốn nôn. Nhưng bao tử thắt chặt co bóp. Không còn gì để nôn ra. Tôi bò về phía có ánh sáng. Không ai la mắng khi tôi bò lên thân họ, dẫm lên mặt họ. Tôi đưa đầu lên khoảng sáng. Mùi gió mặn thốc vào mặt làm tôi tỉnh táo. Biển nhám hiện ra lờ mờ trong vũng sương. Trời và nước cùng xám đục. Hình dáng vài chiếc ghe hiện lên xa tít, lung linh mờ ảo như buổi sáng ban mai đang êm dịu.

Đêm qua, chúng tôi rời bến Bình Triệu. Thuyền xoáy đuôi tôm từ bên này bờ sang bên kia thì mắc cạn. Những giây phút chờ nước lên trở thành vô tận. Lúc đó tôi còn hồi hộp, tim đập thình thịch vì cách nhổ bãi chớp nhoáng. Hầm tàu tối om. Mọi người co rút lặng lẽ. Người theo đạo Công Giáo lẩm nhẩm đọc kinh. Người theo đạo Phật lầm thầm tụng niệm. Lúc chiều tôi để ý nhiều người xách theo tượng Phật và cả nhang đèn. Con người cầu cạnh thượng đế những khi yếu đuối nhất. Sao không yếu đuối khi tất cả diễn ra mong manh vừa thúc đẩy mỗi chúng tôi dấn bước vào định mệnh.

Từ buổi chiều nhập nhoạng, chúng tôi theo người dẫn đường đến tụ tập tại điểm hẹn tại một ngôi nhà thờ trong khu cư xá Tam Đa. Gia đình tôi và các anh chị họ được đưa đến đầy đủ. Thánh lễ chiều vừa xong, giáo dân lục tục ra về. Chúng tôi vào nhà thờ cầu nguyện. Đức Mẹ giang tay an ủi. Chúa Giêsu cúi nhìn từ thánh giá. Trời tối mau. Cơn mưa rả rích từ chiều vẫn chưa dứt. Ở bên ngoài, tôi thấy thêm nhiều tốp người đứng lố nhố. Họ không phải giáo dân ở đây. Như chúng tôi, họ chờ giờ khởi hành. Tôi thấy má bắt đầu bồn chồn. Đứa em nhỏ tám tháng của tôi khóc leo nheo. Đám đông đứng lớ ngớ, tay xách nách mang. Trong chiếc giỏ bàng ở chân cột có hình Quán Thế Âm và bát nhang.

“Không biết họ đi đâu? Hôm nay làm gì có chầu.”

Một con bé đang nhảy dây nơi sân đứng lại hỏi han. Không ai trả lời cho nó. Mắt tôi nhìn sững vào vòng dây quay đều trên sân. Tôi cũng hay cột hai tà áo dài để nhảy dây ở sân nhà thờ sau buổi lễ. Đám bạn tôi, Bích, Yến, Mai, Tươi. Chúng nó có thắc mắc tìm tôi sau buổi lễ chiều nay? Chúng nó có biết tôi đang ở đây, chờ một chuyến đi để phải xa chúng nó mãi mãi?

Bóng tối lan nhanh. Mưa vẫn phớt mặt Chúa qua lớp tôn chắn kêu rào rào. Chúng tôi đứng ép vào hiên nhà thờ. Ông Từ nhà thờ bảo chúng tôi vào xin phép cha xứ. Nhà thờ đã đến giờ đóng cửa. Tôi thấy hai cánh tay Chúa chịu nạn vươn dài khỏi lỗ đinh rướm máu. Hai cánh cửa nhà thờ đóng lại. Không thể chờ ở đây, chúng tôi phải đi đâu đó khỏi khuôn viên nhà thờ. Đám người lục tục xách giỏ lên tay. Ai cũng nhìn nhau lo lắng. Ba và bác Niếp tới kịp ngay lúc ấy. Không cần hiệu lệnh, chúng tôi vội theo sát chân hai ông. Đám người bước hỗn loạn, tất tả trong con hẻm nhỏ ra bến đò. Mỗi người thúc nhau đi mau. Tôi xách đôi dép da chạy theo ba. “Họ đi đâu mà đông dữ vậy?” “Chắc đi ăn đám giỗ.” Cánh đàn ông trong hãng cưa đứng bên kia đường láo xáo hỏi. Không ai trả lời. Chúng tôi cắm đầu chạy. Mưa rơi lất phất lên tóc tôi, lạnh tanh trên trán, rồi lạnh buốt da mặt. Mặc, tôi cứ chạy. Thuyền neo tại bến đò. Một mảnh ván xiêu bắc ngang làm cầu. Ba tôi đứng bên kia đầu ván, kéo tay chị em chúng tôi và đẩy từng đứa xuống hầm. Tôi rớt xuống vùng không gian tối mù, đôi dép văng khỏi tay lúc nào không rõ. Chung quanh tôi, tiếng người và dép guốc rơi lộp bộp. Trong bóng tối, chị em chúng tôi tìm nhau. Má và mấy đứa em nhỏ không ở chung khoang thuyền. Tôi chỉ tìm thấy tay của các chị. Không có cảm giác nào an toàn hơn được nắm tay người thân của mình trong bóng tối lo âu, mịt mùng đầy bất trắc. Thuyền nổ máy. Tiếng vang rền, dòn tan. Mùi dầu, khói. Thuyền rú ga phóng ra khỏi bến, nhưng chỉ được ít phút, bỗng khựng lại. Máy thuyền tạch tạch một lúc rồi tắt lịm. Không khí đông cứng. Ngột ngạt. Mọi tiếng thì thầm bặt câm. Chúng tôi nín thở. Tôi nghe tiếng nước vỗ róc rách vào mạn thuyền; tiếng mưa rơi long tong lên mặt ván gỗ trên đầu. Thỉnh thoảng, có tiếng ghe máy sè sè vọng lại. Tim tôi vồng lên hồi hộp. Thời gian trôi chậm nặng nề. Nắp hầm đột nhiên mở rộng. Bác Niếp nói vọng xuống, thuyền mắc cạn, phải chờ nước lên. Mọi người tuyệt đối giữ im lặng. Hầm thuyền vẫn tối om. Mồ hôi tôi đổ đẫm lưng áo. Lưng con gái sớm biết sợ. Tôi khua tay tìm bàn tay chị. Chị đang lần hạt bằng những đốt ngón tay ẩm. Ngón tay chị lạnh ngắt. Một lát, có tiếng ì oạp của mái chèo, tiếng lục cục của gỗ va vào nhau. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Nhất định là công an đến kiểm tra.

“Anh Uyển ơi, về đi. Trên bờ họ biết cả rồi. Họ còn biết thuyền đang mắc cạn nữa.” Tôi nhận ra giọng nói của chú Tôn. Chắc chú lọt lại trên bờ khi thuyền vội vã rời bến khi nãy. Tim tôi lại dội lên thình thịch. Trên bờ họ biết cả rồi. Chẳng mấy chốc, công an sẽ đến. Trời ơi! Nhóm tổ chức toàn là những người bạn tù của ba. Cái tội “Ngụy” chưa ráo, tội vượt biên sẽ mang họ về đâu. Tôi tưởng tượng đến lúc ba bị bắt đưa vào trại cải tạo lần nữa. Hiện ra trước mắt tôi đồi núi Nghệ Tĩnh khô cằn. Cả vùng chỉ trồng toàn sắn là sắn. Ba ốm nhom trong bộ quần áo lao động. Lưng áo ba đóng triện đỏ. Ba chữ Tù Cải Tạo đỏ lòm như cổng chào. Tiếng mái chèo ì oạp xa dần. Tôi thầm mong ba nghe lời chú Tôn lên ghe vào bờ. Nhưng hai cha con chú quyết định ở lại. Ba cũng ở lại. Tôi lại tìm tay chị. Chị vẫn lần hạt bằng những đốt ngón tay ẩm. Tôi lầm thầm đọc kinh, nghĩ đến cánh tay Chúa Giêsu chịu nạn. Tay Chúa có lạnh giá? Lưng Chúa có đổ mồ hôi? Dù Chúa ở trong nhà thờ đóng cửa, chị em tôi vẫn cầu nguyện. Tôi lần hạt hết Năm Sự Thương, Năm Sự Mừng, Năm Sự Vui mà nước vẫn chưa lên. Tôi chưa bao giờ lần hạt nhiều đến như vậy.

 

Tôi giật mình bởi những tiếng súng nổ. Thuyền tăng tốc độ. Máy rú gầm, phóng lao. Chị em tôi nắm chặt tay nhau kinh sợ. Thuyền bốc thêm người ở hai nơi. Địa điểm thứ nhất lên được cả. Địa điểm thứ hai bị công an gác bến đuổi bắn. Chúng tôi phóng chạy, bỏ lại một số người. Sau này tôi được biết vì thuyền mắc cạn hai giờ đồng hồ, công an gác bến đổi phiên. Toán công an sau không được ăn chia nên ra lệnh bắn. Hầm thuyền vẫn tối mù. Khoang tàu như thu nhỏ lại với số người mới lên. Chúng tôi ngồi dèn lên nhau, lưng khòm theo mạn thuyền. Hơi người hầm hập. Thuyền sóc mạnh. Vài người bắt đầu nôn oẹ. Tôi muốn ngộp thở. Mùi nôn mửa bốc lên chóng mặt. Chị đã thôi lần hạt bằng những ngón tay ẩm. Chị cũng gập người nôn thốc tháo. Tôi dựa vào vai chị, người mệt bã. Tôi nhắm mắt. Khoang thuyền tối. Tôi mở mắt. Khoang thuyền vẫn tối bưng. Khi mở mắt tôi không thấy gì ngoài bóng tối. Nhưng nhắm mắt tôi có thể hình dung đến tương lai. Tôi hình dung đến bờ bên kia của biển cả. Vượt biên đối với tôi lúc ấy giống như đi đò từ bên này sông sang bên kia sông. Chỉ một lát thôi, tôi sẽ đến bến. Ý nghĩ ấy làm tôi nhắm nghiền mắt lại. Tôi thiếp dần vào giấc ngủ mê mệt. Trong giấc ngủ, hình ảnh ba còm cõi cuốc đất trồng sắn không ngừng ám ảnh.

 

 Cũng ngay tại đây, ngay tại ga xe lửa Bình Triệu, lần đầu tiên tôi biết đến sân ga. Chúng tôi mua vé tàu suốt đi từ ga Bình Triệu đến ga Vinh. Ba bị cải tạo ở đó. Chúng tôi mới được giấy phép thăm nuôi. Ba ra đi biệt tăm từ tháng Năm năm 75. Bây giờ đã là tháng Sáu năm 79. Tôi được mười tuổi, bằng tuổi của má ngày di cư vào Nam. 
 

Gia đình tôi gốc Bắc. Hai bên nội ngoại di cư vào Nam năm 54. Chị em chúng tôi hầu hết sinh ra ở miền Trung, theo bước chân hành quân của ba. Tôi sinh ở Quảng Ngãi. Em M sinh ở Quảng Tín. Em K sinh ở Tam Kỳ. Gia đình tôi ở Tam Kỳ cho đến ngày phải di tản về Sàigòn. Tam Kỳ mưa phùn lạnh lẽo trong trí nhớ tôi non nớt. Tôi đứng bên song cửa thèm thuồng nhìn những đứa trẻ hàng xóm long nhong tắm mưa. Má cấm chị em tôi dầm mưa. Mùa đông Tam Kỳ chúng tôi mặc áo măng tô bên trong, áo mưa bên ngoài chờ chú Mới đưa đi học bằng xe Jeep. Thỉnh thoảng chú chở chúng tôi vào căn cứ Chu Lai thăm ba bận việc không về nhà. Căn cứ Chu Lai có lá quốc kỳ vàng bay phất ở cổng vào. Cuối tuần chú chở chúng tôi ra Đại Chủng Viện Đà Nẵng thăm bác dạy học tại đó. Chúng tôi chạy nhảy tha hồ dưới những cây dừa rụng bông trắng xóa. Ba hay vắng nhà, chúng tôi ở nhà với má và bà vú. Chị em tôi hay cười khi bà bảo, en cem meo meo rồi đi ngủ hỉ. Mỗi chiều, tôi chờ tiếng xe Vespa của ba reo vui ở đầu ngõ. Chị em tôi chạy ùa ra đường, đứa trèo đứng đằng trước, đứa leo đằng sau để ba lái xe vào sân nhà. Đêm trăng sáng, trẻ con hàng xóm tụ tập ở sân nhà tôi múa hát. Chiến tranh đang xảy ra ở căn cứ Chu Lai hoặc nơi nào đó trên quê hương. Nhưng chiến tranh trong tuổi thơ tôi đầy êm đềm vì đã có những người lính như ba chết để bảo vệ chúng tôi.  Cảnh nhà tôi vẫn ấm cúng. Những người lính đem đến ấm cúng, đem đến hòa bình giữa chiến tranh. Chúng tôi yên ấm giữa bom đạn mù lòa.

Năm 74 tôi chỉ mới vài tuổi. Tôi không biết đấy là lúc quân cách mạng ồ ạt vượt dãy Trường Sơn để vào giải phóng chúng tôi. Anh Lê Văn Tám hy sinh làm bó đuốc sống phá tan kho đạn Thị Nghè. Anh giao liên Kim Đồng thông minh lanh lợi lập nhiều chiến công. Em bé quê dùng dầu gió bắt sống lính Mỹ. Chị Út Tịch mang bầu bảy tháng giả kế mỹ nhân quyến rũ sĩ quan Ngụy chiếm bót Tám Thế. Sau này tôi được trường học dạy như thế. Tôi học những bài học lịch sử đứt đoạn, từ thời Ngô Quyền nhảy vọt đến cuộc kháng chiến chống Mỹ.

 

Tháng Ba năm 75. Chiến tranh lan như vết rắn bò trườn. Ba đi hành quân liên miên. Má lo âu võ vàng. Bom đạn phủ xuống đời sống. Đạn pháo cách mạng rình rập. Lưỡi lê giải phóng canh chừng. Chúng tôi lo lắng. Chú Mới đón chị em tôi ở trường học. Con đường yên tĩnh từ trường về nhà giờ mang đầy thương tích. Dãy phố cháy, khói bốc cao thành cột. Bụi tre ở đầu ngõ bị bom đánh gẫy. Cờ phủ vàng những chiếc quan tài trong xóm. Chiến tranh phơi bày bộ mặt tàn khốc. Tam Kỳ chìm vào lửa. Chúng tôi phải chạy về Sài gòn bằng máy bay quân sự, không có ghế phải ngồi trên sàn. Ba ở lại với các đồng đội. Khi miền Trung mất, chúng tôi mất liên lạc với ba nhiều ngày. Ở Sài gòn ông nội lo lắng từng giây. Hai người con trai của ông còn kẹt lại ở miền Trung không có tin tức. Cả ngày ông ôm khư khư cái radio theo dõi từng biến chuyển của cuộc tháo chạy, sừng sộ với bất cứ một tiếng động nào. Không khí trong nhà nghẹt thở. Cuối cùng, ba và chú cũng trở về được vài ngày sau đó. Ông bà nội rơi nước mắt khi thấy hai con trai của mình tơi tả bước vào cổng.

Chúng tôi về bên ngoại tá túc. Bà ngoại ở gần bến Bạch Đằng. Mỗi chiều, ba dắt một hai đứa chúng tôi ra bến xem người ta di tản. Họ rủ ba đi, nhưng ba lắc đầu. Ba dẫn chúng tôi xuống tàu chơi, rồi lên bờ khi tàu nhổ neo. Sau này, trong những năm ba ở tù, tôi thường tự hỏi tại sao ba không theo tàu di tản vào thời gian đó? Ba có bao giờ ân hận vì cái lắc đầu ngày ấy? Ba nghĩ gì? Ba tin vào điều gì?

Tháng Năm năm 75, ba ra trình diện chính quyền mới. Tôi nhớ ngày đi ba mặc chiếc áo in hình bánh qui. Bánh rơi đầy vai ba như có ai vừa mở tung nắp hộp thiếc. Những chiếc bánh qui hình vuông, viền răng cưa thơm thơm ngọt tan trong miệng. Chúng tôi không cho ba đi. Chúng tôi đeo theo, đứa đu tay, đứa ôm chân. Ba đeo túi lên vai, hẹn mười ngày sẽ về. Em trai út vừa sinh chưa tròn tháng, ba bảo chờ ba về hãy rửa tội cho em. Ba thanh thản đến nơi tập trung. Ba nghĩ đến tình anh em Nam Bắc một nhà. Ba tin vào lòng khoan hồng của kẻ chiến thắng. Ba tin vào lời hứa “mười ngày”. Nhưng ba đã thất vọng. Gia đình tôi đã tuyệt vọng. Niềm tin không cứu được ba. Hòa bình bắt đầu bằng sự khát khao thanh trừng của kẻ chiến thắng. Ba đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời chúng tôi lúc đó. Tôi không thể hiểu. Đất nước thanh bình mà gia đình tôi tan nát.

 

Chị em chúng tôi lớn lên với má và bà ngoại trong một căn nhà ở ngoại ô Sàigòn. Hai người đàn bà chật vật nuôi năm đứa trẻ. Chị cả mới lên tám và em út chưa đầy tháng. Ngoài giờ dạy học, má đạp xe chạy lùng khắp nơi, đến từng nhà giam trong thành phố tìm tin tức của ba. Bà ngoại ở nhà nuôi đứa bé sơ sinh bằng nước cháo pha muối. Đứa bé ba đặt tên Hòa Bình. Vừa ra đời đã thiếu cha. Ba còn sống hay đã chết? Đối với mọi người chung quanh, ba đã không còn hiện hữu. Tấm hình ba oai phong trong bộ quân phục bị nhét sâu dưới đáy rương, nằm lẫn lộn giữa quần áo cũ và những viên băng phiến hắc. Ba có khác gì một người đã khuất. Chỉ còn thiếu tấm hình của ba trên bàn thờ là bà ngoại sẽ xin lễ giỗ cho ba hàng năm. 

 Ba ra đi, mang theo những chiếc bánh thơm lừng tuổi thơ của chúng tôi. Nắp hộp thiếc đóng chặt từ ngày ấy. Sau này, lâu lắm, khi sang Mỹ tôi mới được nếm lại mùi bánh qui. Tôi nhai bánh như nhai giấy. Mùi vị không còn ngọt ngào béo ngậy như trong trí nhớ. Tôi không còn là con bé sáu tuổi đeo lên lưng ba vờ ăn bánh. Tôi không còn thèm bánh qui nữa. Tôi thèm ly nước chanh mát lạnh trên đường vượt biển.

 

Từ lúc lên được boong, tôi không muốn xuống hầm nữa. Boong thuyền không còn chỗ trống. Người nằm ngồi la liệt. Tôi chỉ đủ chỗ dựa lưng vào thùng phi chứa nước. Nước trong thùng chỉ còn lấp xấp. Chúng tôi chưa đi được bao xa. Nước uống phải để dành, phải dè sẻn. Tôi khát khô cổ. Tôi tìm bóng dáng một chiếc tàu ngoại quốc. Tàu nào cũng được. Tàu nào có thể cho tôi một ly nước đá chanh ngọt lịm. Buổi sáng nắng trong. Mặt biển óng ánh như kính nhuyễn. Thuyền phóng băng băng mà cứ như đứng một chỗ, giống xả hết tốc độ mà vẫn như neo lại trên vũng nước. Tôi nhìn đại dương bao la không thấy bến bờ, không thấy tàu bè. Mênh mông bạt ngàn những trận gió. Con thuyền như chiếc tàu giấy con con tôi xếp thả vào ao nước mưa. Những cơn mưa ngập lụt đất Tam Kỳ. Tôi vẽ đôi mắt thuyền nguệch ngoạc. Đôi mắt ấy giờ theo tôi ra đại dương. Cũng như thuyền, tôi chưa bao giờ ra biển. Tôi hoàn toàn không hình dung hết được hiểm nguy chực chờ. Nếu chúng tôi bị giông bão? Nếu chúng tôi gặp hải tặc? Nếu chúng tôi chết trên biển? Dù sao chúng tôi cũng có nhau. Ba nói: chết thì chết cả nhà. 

 

Trời nóng. Gió biển rì rì nhưng vẫn nóng. Mặt trời phả hơi xuống những thân người nằm phơi như cá. Tôi say nắng. Người nóng rực như sốt. Biển trải rộng. Biển vô cùng. Màu xanh bất tận chạy dài ngút ngàn. Tôi thấy bà ngoại mấp máy, miệng móm mém. Bà pha cho tôi ly nước chanh thật to. Chiếc ly sành vẽ hai con cò trắng lung linh. Uống đi con! Vậy là chúng mày bỏ bà mà đi. Tôi muốn cầm ly nước bà đưa, nhưng tay mỏi rã rời. Bà ngoại không đi. Bà ở nhà giữ hộ khẩu, nhỡ bị bắt còn có bà thăm nuôi, còn có nhà để về. Bà nuôi chị em chúng tôi từ ngày giải phóng. Em út tôi là con trai của bà mới đúng. Bà chăm sóc nó từ ngày lọt lòng. Không có bà, tôi biết má không sao đứng vững được. Chạy về từ Tam Kỳ, chúng tôi không còn gì ngoài hai bàn tay trắng. Chúng tôi mất tất cả. Ngôi nhà nhỏ xinh có mảnh vườn trồng rau. Mỗi buổi sáng tôi theo ba ra vườn bắt ốc sên. Đất Tam Kỳ đỏ quạch bám nhão gót giầy. Sau nhà có con sông nước lênh láng mỗi chiều. Hoa lục bình trôi tím mặt sông. Tôi dõi mắt cố tìm một cánh lục bình trên biển, chỉ thấy sóng bạc nhấp nhô. Sóng bạc của Thái Bình Dương ngợp nắng. Người tôi vẫn nóng hực. Tôi nhắm mắt lại cho đỡ lóa. Lẽ ra chúng tôi đã ra biển trước đây mấy tuần. Lần ấy chủ thuyền định đổ bến gần Bà Rịa. Gia đình tôi từ Sàigòn ra Hải Sơn chờ ngày đi. Ông bà nội ở đó. Ngày đi, bà nội dậy lúc gà gáy, lục đục thổi xôi luộc gà. Chúng tôi mặc quần áo ấm, khăn gói ngồi chờ đến khi trời sáng rõ. Ông nội nói bể rồi không đi được nữa đâu. Giọng ông buồn mà mắt ông lại tựa như đang vui mừng. Ông cười lấp lánh răng vàng. Ông bảo bà rỡ xôi gà ra cho chúng nó ăn. Con cháu ông đã rủ nhau ra biển. Chúng tôi đi, ông chẳng còn ai. Ngày di cư vào Nam, chắc ông chẳng bao giờ ngờ lịch sử lập lại. Con cháu phải bồng bế nhau xa rời quê hương lần nữa.

Chiều đến. Mặt trời biến nhanh lắm. Một thoáng thôi, đã mất hút. Nền trời xám xịt. Gió bắt đầu thổi mạnh. Mây sà xuống boong, trĩu nước. Sóng không còn đập hiền hòa vào mạn thuyền. Từng con sóng giận dữ quật xuống. Sóng nhồi suốt cho đến đêm. Trời tối đen. Tôi không thấy gì ngoài bóng tối đặc sệt. Tôi hình dung đến đôi mắt thuyền phăng phăng rẽ sóng. Thuyền đưa tôi đi qua biển dữ. Gió vẫn mạnh. Sóng đập vào mạn thuyền tung nước lên boong. Thỉnh thoảng mưa đổ ào rồi ngưng. Người tôi ướt đằm. Cái lạnh thấm vào da thịt, buốt giá. Thái Bình Dương đen. Đêm bao la chỉ một ánh đèn le lói trên cabin. Gương mặt chú Thiện căng thẳng. Chú Thiện sĩ quan hải quân bạn ba. Chú vẫn nghiêm trang ít nói mỗi lần đến nhà. Lần nào chú cũng trốn ngay lên lầu làm việc gì đó với chiếc la bàn. Ba dặn: có người lạ tới phải báo ngay cho ba. Tôi hồi hộp với vai trò gác cửa, mắt đau đáu nhìn ra ngõ. Đột nhiên có tiếng la to: Tàu lớn kìa! Tôi mở choàng mắt. Xa thật xa, trong tối đen mịt mù, một ánh đèn bập bềnh ẩn hiện. Mắt tôi mở dán vào vùng không gian phía trước. Ánh đèn chấp chới tựa bóng ma lúc ẩn lúc hiện. Tôi dụi mắt ngỡ mình nằm mơ. Không phải tôi mơ. Ánh sáng có thật. Ánh sáng bừng lên chói lọi như mặt trời vừa mọc. Nhưng lạ quá, ánh sáng cứ bừng lên rồi tắt lịm. Thuyền chao qua. Ánh sáng tắt ngúm. Sóng bắn tung vào người tôi. Thuyền nhảy lên. Ánh sáng bừng lấp lánh. Chúng tôi cứ tiến tới. Tôi tưởng tượng đến con tàu đằng xa. Con tàu đèn điện sáng trưng. Những người đàn ông đàn bà tóc vàng mũi lõ tử tế. Tôi cầm trong tay ly nước đá chanh. Màu xanh lá mạ dịu dàng sóng sánh. Những viên đá nhỏ reo lanh canh. Chúng tôi đi về phía mặt trời ẩn hiện. Sau này tôi biết chẳng phải mặt trời chơi trò ú tim. Chúng tôi đang vật lộn với sóng lớn. Khi sóng đưa thuyền lên cao, tôi nhìn thấy ánh sáng. Khi con thuyền rớt xuống chân sóng, ánh sáng biến mất vào biển đêm. Tôi vẫn rùng mình mỗi khi nghĩ lại.

 

Chúng tôi vẫn đi về phía mặt trời. Khối đen trước mặt hiện dần hình con tàu. Mặt trời chiếu ra từ cột quan sát. Chúng tôi bật đèn cấp cứu. SOS. Đèn đỏ nhấp nháy. SOS. Chúng tôi đến gần hơn. Boong tàu thấp thoáng bóng người. Tôi không nằm mơ. Thật sự là một con tàu. Một con tàu to kềnh càng. Tôi cầm lấy ly nước đá chanh. Mặt trời vẫn sáng rực trên cao. 

“Tàu Liên Xô! Chạy ra, chạy ra.”

Tiếng người hét thất thanh. Tôi sực nhìn lên. Mặt trời sáng rực lóa mắt.

“Cờ búa liềm! Cờ búa liềm. Trời ơi!”

Tài công dùng dằng, tiếc rẻ. Tôi cũng tiếc. Một con tàu to kềnh hẳn an toàn hơn chiếc thuyền mỏng manh. Tôi thèm được cuộn mình trong chăn ấm. Tôi đang lạnh run. Và khát. Ly nước đá chanh vẫn ám ảnh. Con thuyền quay đầu, phóng chạy. Sau giây phút xôn xao, rồi sợ hãi, mọi người im lặng. Chỉ còn tiếng gió gầm gừ. Chỉ còn tiếng sóng đập tung vùng biển động. Chúng tôi chạy trốn mặt trời.

 

Cơn bão thứ hai dội xuống đại dương một ngày sau đó. Lúc ấy chúng tôi đã an toàn trú ẩn trong khoang tàu Nhật Shonan Maru. Những con tàu mang ly nước đá chanh không thèm ngừng lại. SOS. Tín hiệu báo lâm nguy chưa đủ thảm thương. Shonan Maru ngừng lại và chúng tôi lập tức leo lên. Ba ghi tên điểm danh 105 người. Số thuyền nhân nhiều gấp hai số thủy thủ trên tàu. Chiếc Shonan Maru chở sinh viên thực tập trên biển. Cả tàu không có một nữ sinh viên. Vị thuyền trưởng cho kéo theo chiếc thuyền rách nát vượt đại dương của chúng tôi. Mắt thuyền lập cập. Thuyền như con nhái bám vào vách giếng. Thủy thủ đoàn đưa chúng tôi xuống hầm tàu. Họ không có đủ chăn đắp nhưng sàn tàu sạch sẽ láng bóng. Quanh chỗ tôi nằm là nơi dự trữ gạo. Gạo Nhật hạt to tròn trĩnh. Nấu lên ăn dẻo như cơm nếp. Ngày đầu nhà bếp mang ra một khay cá sống. Từng lát cá tươi rói trong veo bắt mắt nhưng không ai dám ăn. Lúc đó tôi chưa biết mê sushi. Tôi chỉ dám ăn món cháo cá nấu nhão với rong biển suốt những ngày trên tàu.

Sau đêm bão lớn, tôi lò dò lên boong. Biển êm. Gió đã nhẹ lắm tuy sàn tàu vẫn còn đẫm nước. Bên cabin, vài người con trai đứng lố nhố chõ mắt vào hai ô cửa kính. Tôi cũng tò mò chen vào xem. Bên trong, đám sinh viên Nhật đang xem tivi. Màn ảnh màu rực rỡ hiện ra đôi trai gái. Họ ăn mặc rách nát hơn chúng tôi hôm lên tàu Nhật. Đứa con gái tóc dài đến lưng, quấn hai mảnh vải tả tơi ôm chầm lấy đứa con trai đóng khố. Những đôi mắt thuyền nhân mở to chiêm ngưỡng. Đó là phim The Blue Lagoon sau này tôi xem khi đến Mỹ. Biển trong phim êm ả không dữ dằn những đợt sóng sôi. Từ chỗ tôi đứng, biển bao la xanh ngắt. Tàu Nhật thênh thang, tôi hay đi thơ thẩn dưới hầm và trên boong. Tôi ngỡ mình đang ngắm biển Cà Ná hùng vĩ từ trên xe lửa. Chuyến xe lửa đưa tôi đi gặp ba tại trại cải tạo Tân Kỳ. Từ ga Vinh, chúng tôi đi một chuyến xe đò gập ghềnh, thêm một quãng đi bộ mới đến trại. Buổi trưa u buồn vắng vẻ. Cả vùng núi lặng lẽ dưới nắng. Đâu đó vọng lại tiếng gà gáy kêu lơ thơ ở một hốc bụi nào. Xa về phía núi là nơi giam giữ ba. Chúng tôi chờ ba cả buổi chiều. Tôi thấy ba từ ngoài cổng. Ba ốm nhom. Da đen sạm. Tôi chạy thật nhanh ra cổng. Ba đón lấy, nhấc bổng tôi lên lòng. Tôi khóc. Khóc chan hòa vì tưởng sẽ không bao giờ còn được gặp ba. Khóc cho hết nỗi cô đơn không cha, cho vơi những nhọc nhằn từ ngày giải phóng. Tôi khóc trên vai ba như tôi đeo lên vai ba trong ngày ba ra đi. Vai áo ba không còn những chiếc bánh thơm. Tôi ngửi mùi nắng cháy khét trong tóc ba. Ba lấy trong túi ra một nhánh hoa tím.

“Đây là hoa mua, ba hái cho con. Giống như hoa sim ngoài Bắc mình.”

Lúc ấy tôi chưa biết buồn vì màu tím, cũng chưa thuộc thơ Hữu Loan tím cả chiều hoang biền biệt. Tôi chỉ thấy cảnh tù đày phi lý. Ba có tội gì? Chúng tôi có tội gì? Má xoay sở đầu chợ cuối chợ mới mua được vé xe. Chúng tôi đứng nhìn con tàu Thống Nhất sang trọng sáng choang chạy qua trước mắt. Tôi nhặt bao nhiêu lon sắt, giấy vụn; tôi dang bao nhiêu cơn nắng, nhưng tôi phải đi xe lửa chợ cũ rích ghế gỗ cứng ngắc đau mông. Con tàu Thống Nhất không dành cho tôi một chỗ ngồi như đất nước đã từ chối ba làm một công dân. Chúng tôi lặn lội ba ngày ngủ đứng ngủ ngồi trên xe lửa. Chúng tôi bị mất cắp bị chen lấn bị chèn ép trong các toa xe. Qua ngần ấy gian nan để chỉ được gặp ba một giờ đồng hồ. Chú cán bộ ngồi đầu bàn theo dõi từng cử động. Tôi có bao điều muốn kể với ba. Nhưng tôi chỉ dám ngồi yên trong lòng ba. Một giờ đồng hồ qua nhanh như chớp mắt. Tôi và má đứng ngẩn nhìn ba bước về trại giam. Lưng áo ba in chữ đỏ. Tù Cải Tạo.  

 

Tôi theo ba lên cabin gặp vị thuyền trưởng. Phòng ông có tivi màu và tủ đựng nước ngọt. Ông bấm vào nút, một lon nước ướp lạnh chạy ra. Tôi tròn mắt nhìn ông làm ảo thuật. Ông đưa cho tôi lon nước mở sẵn. Tôi ủ lon nước lạnh ngắt vào đôi tay. Ly nước đá chanh tôi ao ước. Ngụm nước đọng trên đầu lưỡi, lạnh buốt suốt tuổi niên thiếu. Vị thuyền trưởng nói chuyện với ba bằng cuốn tự điển. Ba nói tiếng Anh. Ông tra tự điển rồi trả lời. Tôi ngồi xem tivi, không hiểu gì cả. Mãi mãi ghi sâu trong trí nhớ tôi vùng không gian nhỏ bé bình yên, màn hình tivi với ngôn ngữ lạ, nước cam lạnh, chiếc tủ nước ngọt, và ông Nhật biết làm ảo thuật. Mỗi lúc tình cờ bấm tivi sang một đài nước ngoài hoặc lạc vào đám đông với ngôn ngữ lạ, tôi thấy mình nhỏ lại như năm mười bốn, ngồi bên cạnh ba và vị thuyền trưởng. Ba múa tay giải thích với vốn liếng Anh ngữ từ thời đi dạy. Tôi nhìn ba ung dung, tự tin, nhớ lại những lần đứng thập thò nghe ba nói chuyện e dè với công an khu phố.

Ba trở về sau sáu năm sáu tháng hai mươi hai ngày “cải tạo”, thể xác héo mòn, tinh thần kiệt quệ. Tôi không biết thực sự ba đã được “cải tạo” những gì trong những năm tháng đó, ngoài những cơn đói triền miên và những ngày lao động cực khổ. Ba ra tù, về chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương. Công an dân phố ghé qua sáng chiều. Ở trường học, mỗi tuần chúng tôi xếp hàng đi bộ đến nghĩa trang liệt sĩ làm cỏ. Trời đổ lửa. Chúng tôi mặc áo trắng quần đen đi theo hàng. Nghĩa trang liệt sĩ nằm kề bên con đường lớn. Ở giữa, một khung đài tưởng niệm nhang khói lâm thâm. Lần nào về tôi cũng ấm đầu. 

Ra đi là con đường duy nhất để chúng tôi được sống đúng với ý nghĩa một con người. Đối với ba má, đó là một sự chọn lựa đau đớn và liều lĩnh. Ra đi là đánh cuộc với mạng sống của tám thành viên trong gia đình. Tôi không ngạc nhiên vì quyết định của ba má. Như thể đó là định mệnh. Chúng tôi không còn con đường nào khác.
 

Biển lặng những ngày sau đó. Tôi vẫn không đủ can đảm nhìn xuống biển từ lan can tàu. Màu xanh hun hút làm tôi chóng mặt. Nếu không được tàu Nhật vớt, chúng tôi có thể

 chống nổi với cơn bão chiều ấy? Biển đẹp man rợ. Biển mênh mang không thấy bến bờ. Biển lan như trên mặt đất chỉ toàn nước. Biển xanh lục như trên mặt đất toàn rêu. Biển nhấp nhô như tinh thần chúng tôi hãy còn chông chênh chưa tin đang hít thở khí quyển tự do.

Chúng tôi dần lại sức. Cháo cá rong biển đậm đà không còn vô vị. Chúng tôi sẽ đáp bến Manila nay mai. Vị thuyền trưởng ra lệnh chặt dây thừng bỏ con thuyền rách nát đã theo chúng tôi dọc Thái Bình Dương. Tôi nhìn đôi mắt thuyền ướt nước ngỡ như đang nhìn chính mình. Chiếc thuyền tang thương bẩn thỉu mang hình ảnh của chúng tôi ngày hôm qua. Đêm nay thuyền sẽ về đâu? Con mắt thuyền ướt đẫm. Mắt thuyền lặng câm. Thuyền xa bến như tôi xa quê hương. Biết thuyền có tìm được đường về. Thuyền lênh đênh tôi cũng lênh đênh. Thuyền trôi dạt, tôi cũng trôi dạt. Mười bốn năm, tôi mất tuổi thơ hai lần. Tôi mất Tam Kỳ tháng Tư năm 75.  Năm 83, tôi mất Sàigòn. Chiến tranh phá hủy tuổi thơ.  Hòa bình đẩy tôi dạt ra biển cả. Những giọt nước mắt con gái khóc chia tay; không phải tôi khóc mà mắt thuyền đang khóc.

 

Nhiều năm sau tôi vẫn nhớ đôi mắt thuyền ai oán. Mỗi khi soi gương tôi vẫn thấy mắt thuyền long lanh trong mắt mình. Tôi mang đôi mắt ấy, đôi mắt Tam Kỳ và những mảnh vụn ký ức không thể ráp nối. Tôi chưa vào đến đất liền. Chưa vào đến Bataan hay hải đảo Palawan huyền hoặc.  Tôi trôi mãi trên biển Đông ở vùng hải phận quốc tế.

 

Ngày mai mất biển Đông, tôi sẽ trôi về đâu ?       

 

 

Nguyễn Xuân Tường Vy

Ngày 17 tháng Tư, 2009

 




Tháng Ba, Ngày giỗ em.

 

 THÁNG BA, BANMÊ – Như Thương 

 Xin quí vị click vào mỗi tựa mục dưới để xem PPS & PDF.
THÁNG BA GIỖ EM. (PPS)
CHIẾU QUA NGHĨA TRANG (PPS)
 
THÁNG BA, BANMÊ
 
Tháng Ba ta lại … giỗ em
Lòng rưng rưng khóc
 
giọt mềm lá rơi
Tháng Ba nguyệt vọng lưng trời
Hồn hoang gió hú chơi vơi đại ngàn
Tháng Ba em chết vội vàng
Khi rời con phố … tan hoang đường về
Tháng Ba tìm lại Ban mê
Gãy cành hoa trắng cà phê thơm lừng
Tháng Ba suối đổ ven rừng
Địu tình lên rẫy lưng chừng nhớ thương
Tháng Ba tóc thoảng mùi hương
Đoá thuỳ dung đã bên đường vùi thân
Tháng Ba vừa khép nụ xuân
Vỡ tan mộng ước trong ngần yêu thương
Tháng Ba bụi đỏ mù sương 
Quỳ vàng rưng rức dặm trường tiễn em
Hoả châu sáng rực trời đêm
Em đâu giữa chốn đất mềm đạn bom
Em ơi ….

 
Như Thương



Ngọn lửa Kiều, Nguyễn Du lần đầu tiên lóe sáng trên Miền Tây Bắc Mỹ

Ngọn lửa "Kiều Nguyễn Du" lần đầu tiên lóe sáng trên Miền Tây Bắc Mỹ.

* Chiều thơ nhạc chủ đề "Truyện Kiều với đại thi hào Nguyễn Du" thành công rực rỡ.

SEATTLE (TMN News).- Trước hình ảnh pho tượng Đại thi hào Nguyễn Du lộng trong khung kính lớn. Ban tế lễ gồm 3 tên tuổi quen thuộc trong cộng đồng đốt nến và hương trầm, vái lậy Cụ Nguyễn Du. Hai bên sân khấu là 2 lọng vàng, cùng 2 câu đối viết lớn bằng Chữ Nôm ghi là “Nơi đất khách thương nhau dùng tiếng Việt – Chốn quê người nhớ nước học văn Kiều”.
Tiếng trống chiêng vang lên bởi Danh trống Văn Thịnh (nghệ sĩ hơn nửa thế kỷ chuyên nghiệp trống và sáng tạo một số nhạc cụ dân tộc, từng biểu diễn trên màn hình Thuý Nga Paris). Ba nhân vật trong Ban tế lễ Đại thi hào là nhân sĩ Nguyễn Hảo (cựu Tổng thư ký Hội Đồng Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng), nghệ sĩ sáo trúc Phan Uy Nghị tức nhà thơ Thuận Thiên và thi văn sĩ Quốc Nam. Cụ Nguyễn Hảo dõng dạc đọc: “Kính thưa quí vị:
Sau khi sáng tác xong truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã viết hai câu:
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như” tạm dịch:
Không biết ba trăm năm sau, trong thiên hạ có ai khóc Tô Như?
Tố Như khóc Kiều, Vũ Hoàng Chương đã khóc Tố Như rằng:
Ba trăm năm vời vợi
Đường xa hiện pháp đăng và
Lòng băng tan rã lệ trào
Bật lên tiếng khóc thi hào Tố Như.
Trong bài tổng vịnh của Dực Anh Tông Hoàng Đế Tự Đức viết:
Truyện này Thánh Thán soạn ra
Diễn thơ lục bát nước ta Tiên Điền.
Trong bài Tổng Thuyết của Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Minh Mạng viết:
Trên khỏi phụ công kiểm điểm của khách lan đài
Dưới góp thêm phần giai thoại trong vườn văn nghệ
Thiết tưởng cũng là việc hay, đối với khách tài tình kim cổ vậy.
Xem thế, ảnh hưởng của truyện Kiều lớn lao biết chừng nào.
Đại thi hào Nguyễn Du, một danh nhân thế giới, đã lưu lại cho hậu thế một Tác Phẩm Văn Chương tuyệt mỹ, một kho tàng từ ngữ văn học lớn lao cho tiếng Việt. Hôm nay, quí vị cùng chúng tôi đến đây không phải để khóc Tố Như Tiên Sinh, mà để tưởng niệm Đại Thi Hào Nguyễn Du.
Xin mời quí vị cùng chúng tôi đứng dậy, dành một phút tưởng niệm Đại Thi Hào Nguyễn Du của dân tộc Việt Nam chúng ta…”
Tất cả người Việt trong hội trường đã đứng bật dậy, cùng cúi đầu tưởng niệm Đại thi hào với lòng kính trọng vô biên.
Tiếp theo là nhạc phẩm Tình Ca của Phạm Duy song ca bởi 2 nữ ca sĩ Kim Khuê & Mi Lăng thực tuyệt vời, trong đó có câu "Một yêu câu hát Truyện Kiều. Lẳng lơ như tiếng sao diều làng ta". 
Dứt bài hát đượm tình tự quê hương, thi văn sĩ Quốc Nam lên diễn đàn nói về tiểu sử Đại thi hào Nguyễn Du từng được UNESCO (Tổ Chức giáo dục, khoa học & văn hoá Liên Hiệp Quốc) vinh danh là "Danh Nhân của Thế Giới". Cụ chào đời ngày 3 tháng 1 năm 1766 tại Thăng Long, và tạ thế ngày 16 tháng 9 năm 1820, lúc 54 tuổi. Cụ sáng tác nhiều tác phẩm bằng chữ Nho và chữ Nôm. Tác phẩm chữ Nôm nổi bất nhất của cụ Nguyễn Du là Đoạn Trường Tân Thanh tức Truyện Kiều gồm 3254 câu thơ lục bát bất hủ. Thời VNCH, Truyện Kiều được đưa vào chương trình trung học và đại học Văn Khoa. Tuy nhiên hơn 40 năm qua, tác phẩm này rất ít được học tại quốc nội, và ngay tại hải ngoại cũng không được giảng dậy tại các Trường Việt Ngữ. Trước tình trạng bi đát này, Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương đã cùng với một số văn nghệ sĩ Miền Tây Bắc Hoa Kỳ quyết định thực hiện một sinh hoạt văn học nghệ thuật chủ đề "Truyện Kiều với đại thi hào Nguyễn Du" để đốt lên một ngọn lửa cho mọi con dân Việt tìm đọc và nhắc nhở các thế hệ tương lại hãy bảo tồn nền văn hóa Việt-Tộc với Truyện Kiều Nguyễn Du tới hàng ngàn năm nữa.
Ba diễn gia thâm cứu Truyện Kiều đã lên sân khấu nói về một số nét đặc sắc trong tác phấm này của đại thi hào Nguyễn Du, gồm:
– Thi sĩ Song Xuyên 80 tuổi sau khi kể nhiều câu thơ Kiều được xử dụng trong dân gian, ông phân tích sự "GHEN" độc đáo trong Truyện Kiều.
– Thi sĩ Lam Nguyên (tác giả thi tập chữ Nho "Mặc Tư" từng được giới văn học Hongkong khen ngợi) nói về những vần thơ chữ Nôm tuyệt tác của Truyện Kiều, với triết lý Phật Giáo ẩn chứa trong đại tác phẩm này. 
– Thi sĩ Trần Thế Phong thuyết trình về tính “nhân bản” trong Truyện Kiều. Ông phân tích tỉ mỉ qua 3 phần: Tình yêu lứa đôi, lãnh vực tình người và lãnh vực xã hội.
Mỗi diễn giả nói chuyện với cử tọa khoảng 30 phút. Một vị thức giả đến từ Portland nhận xét: Cả 3 vị diễn giả đều nghiên cứu nội dung Truyện Kiều rất kỹ.
Xen giữa các diễn giả
là tiết mục ngâm 4 đoạn thơ Kiều bởi nhà thơ Chính Tâm và nữ nghệ sĩ Phương Thu, từng được biết là hai giọng ngâm thơ hàng đầu tại tiểu bang Washington.
Đặc biệt nữ ca nhạc sĩ Hoài Trang đã trình diễn xuất sắc 2 nhạc phẩm phổ thơ Kiều của nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, tựa đề là “Người đâu gặp gỡ mà chi & Chữ Tài chữ Mệnh”. Trang phục của cô khá giống Thuý Kiều trong bức tranh cổ. Có lẽ vì thế mà khi ca nhạc sĩ Hoài Trang trình diễn, một số khán giả đã la lên “Nàng Kiều, Nàng Kiều!”
Trước khi cô Hoài Trang hát nhạc bản Kiều đầu tiên, nhà báo Bùi Quốc Hùng (MC toàn bộ chương trình) đã giới thiệu Tác Giả phổ thơ Kiều nguyên văn như sau: “Nhạc sĩ/Kỹ sư Quách Vĩnh Thiện hiện là Viện Sĩ của Hàn Lâm Viện Nghệ Thuật Âu Châu. Ông là người Việt đầu tiên đã phổ nhạc nguyên văn tất cả 3254 câu thơ lục bát của đại thi hào Nguyễn Du. Trong thời gian qua, nhạc sỉ tài hoa Quách Vĩnh Thiện đã được cộng đồng người Việt ở nhiều quốc gia đón chào ông vô cùng nồng nhiêt. Hôm nay, nữ ca nhạc sĩ Hoài Trang sẽ cống hiến quý vị 2 nhạc phẩm phổ thơ Truyện Kiều của nhạc sĩ/kỹ sư Quách Vĩnh Thiện. Trước tiên là nhạc phẩm "Người đâu gặp gỡ mà chi". Kính mời quý vị cùng thưởng thức…”
Ngoài ra, 10 cây đàn tranh của Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Hướng Việt dẫn đầu bởi nhạc sĩ đàn tranh/Bác sĩ Việt Hải, đã trình tấu 2 nhạc phẩm cổ truyền, được khán giả vỗ tay tán thưởng nồng nhiêt.
Saigon HD Radio ghi dấu 22 năm phục vụ đồng bào, với 150 ngàn 450 giờ phát thanh.
Trước khi mở ra phần thơ nhạc chủ đề "Truyện Kiều với đại thi hào Nguyễn Du", thi văn sĩ Quốc Nam (Tổng Giám Đốc Global Saigon HD Radio) trong diễn văn khai mạc đã gởi cảm tạ đến quý thính giả khắp nơi đã hỗ trợ tài chánh một phần nào cho Bổn Đài tồn tại được tới ngày hôm nay. Theo ông, có lẽ đây là đài Việt Ngữ duy nhất còn hoạt động được 22 năm qua, nhờ sự "donation" của một số quý thính giả và một ít thân chủ quảng cáo dài hạn. Nay thì nợ nần cũa Bổn Đài đã chống chất. Ông kêu gọi mọi giới đồng bào (nhất là quý cơ sở thương mại, dịch vụ) hỗ trợ tài chánh để Saigon HD Radio được tiếp tục phục vụ tập thể Người Việt Quốc Gia tại địa phương và nhiều nơi khác trên toàn cầu .
Một số vị quan khách đã lên diễn đàn khen ngợi sự đóng góp tích cực cho cộng đồng này suốt 22 năm qua, với tổng số 150 ngàn 450 giờ phục vụ. Đó là Hoà Thượng Thích Nguyên An, ông Phạm Quý Hậu (cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Công Giáo VN Tổng Giáo Phận Seattle), ông Nguyễn Kim Long (Hiệu Trưởng Trường Việt Ngữ Chu Văn An) và cựu Hải Quân Thiếu Tá Trần Bá Hạnh. Kết qủa sơ khởi là quý khách hiện diện đã ủng hộ tổng số tiền tại chỗ hơn 2 ngàn Mỹ kim. 
Mở đầu chương trình ghi dấu 22 năm phục vụ của Saigon HD Radio là quốc ca hát bởi nữ sinh Lucy Nguyễn, quốc ca VNCH thì toàn hội trường đồng hát lớn, và phút mặc niệm.
Xen kẽ chương trình phần đầu là sự trình diễn của các nữ ca sĩ Kim Khuê, Mi Lăng, Thanh Loan và Hoài Trang.
Giới truyền thông báo chí trong vùng có mặt đông đủ, như các tuần báo: Việt Báo Miền Nam, Seattle Việt Times, Người Việt Ngày Nay, Saigon Nhỏ, Người Việt Tây Bắc v.v…
Quan khách gồm mọi giới đồng bào, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, trí thức, giáo dục, cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat & Trừ bị Thủ Đức, cựu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, SVHS, gia đình HO, phụ nữ Mê-Linh v.v… Buổi tưởng niệm Đại thi hào Nguyễn Du và kỷ niệm 22 năm phục vụ của Saigon HD Radio còn có sự hiện diện của quý khách phương xa, như Tiến sĩ Kim Thanh, nhà thơ/cựu Thiếu Tá CTCT Trịnh Đình Bội, nhà hoạt động cộng đồng Phạm Quốc Nam, nữ thi sĩ Song Phương và phu quân (đền từ Portland, Oregon) và Tiến sĩ Nguyễn Công Đàm (đến từ Chicago, Illinois).
Quan khách và quý đồng hương đã kéo đến tham dự quá đông đảo chương trình đặc biệt nêu trên. Họ ngồi ghế hoặc đứng chật kín hội trường của Cổ Lâm Pagoda (ngôi chùa đồ sộ nhất tiểu bang Washington). Ban Tổ Chức của Chiều Thơ Nhạc này gồm: Quý thi sĩ Phan Uy Nghi, Bùi Quốc Hùng, Hoàng Mai Nhất, Trúc Ngọc, Trần Thế Phong, Quốc Nam và nhân sĩ Nguyễn Hảo.
Kết thúc 2 phần chương trình là màn đồng ca nhạc bản "Chung khúc Việt Nam của Phạm Duy" bởi tất cả Ban Tổ Chức, các diễn giả và các nam nữ nghệ sĩ trình diễn, để tiễn khách ra về.
Được biết đây là lần đầu tiên một sinh hoạt văn hóa chủ đề lớn lao về "đại thi hào Nguyễn Du" thực hiện tại Miền Tây Bắc Hoa Kỳ và Canada. Saigon HD Radio đã xử dụng 3 cameras thu hình trực tiếp và sẽ phát hành bộ DVDs tạm gọi là "Ngọn lửa Truyện Kiều Nguyễn Du" để trao tặng những người Việt vẫn yêu ngôn ngữ Việt, như cố học giả Phạm Quỳnh khẳng định "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn".
Dư luận chung cho rằng Chiều thơ nhạc chủ để "Truyện Kiều với đại thi hào Nguy
ễn Du" tại đô thị Seattle ngày 10/10/2015 đã thành công hơn sự mong đợi của Ban Tổ Chức. Tiếc rằng "show văn hoá đầy ý nghĩa” như vậy không tổ chức ở California, nên không có sự ghi nhận hình ảnh của một số đài truyền hình lớn như SBTN, Viên Thao, Hồn Việt, VBS, VNA v.v…

Chú thích 5 tấm hình.-
22 ND-1: Quang cản hội trường. Photo by Master Trịnh.
22 ND-2: Ban Tế Lễ đại thi hào Nguyễn Du. Photo by Đặng Công Minh.
22 ND-3: Ca nhạc sĩ Hoài Trang hát nhạc phổ thơ Kiều. Photo by Đặng Công Minh.
22 ND-4: Đoàn văn nghệ dân tộc Hướng Việt. Photo by Đặng Công Minh.
22 ND-5: Đồng ca nhạc bản "Chung khúc Việt Nam". Photo by TMNNews.




GIẢ TÌNH NHÂN

GIẢ TÌNH NHÂN
 
Lời tác giả: Đây là những công tác thật được tác giả kể lại một cách trung thực . Nhưng vì lý do tế nhị, những địa danh, tên tuổi nhân vật trong chuyện có thay đổi phần nào.
 
Duy Văn Hà Đình Huy
 
Buổi chiều Sàigòn cuối Đông năm 1989 thật nhộn nhịp. Từng đòan người và đủ các loại xe tấp nập trên những đại lộ, đông nhất là khu trung tâm thành phố, bởi nơi đây có chợ Hoa và các cửa hàng để mọi người mua sắm. Huy thả bộ ngang qua tòa Đô Chánh cũ tiến về hướng rạp Rex, định xem có phim nào hay để gởi mình vào ấy một xuất cho thư giản đầu óc sau những ngày làm việc vất vã. Vừa gần đến rạp, Huy chợt thấy một phụ nữ dáng gầy gầy cầm một cái xách tay lớn hơi khác lạ với những cái xách tay bán trong các cửa hàng quốc doanh trong thời bao cấp của chế độ “Xã Hội Chủ Nghĩa”. Vì khoảng cách còn xa để nhận diện được nhau, nên Huy không nhìn ra loại xách tay của người phụ nữ đang có là của nước nào sản xuất, nhưng một điều chắc không phải sản phẩm của các nước cộng sản.
Người phụ nữ đi như chạy về hướng trạm xe buýt trên đường Lê Lợi. Nhìn dáng đi của người này Huy chợt nhớ đến Loan một người bạn đồng nghiệp với mình có lần theo lệnh của cấp trên, hai đứa trong nhiệm vụ phá vở một cụm tình báo của cộng sản xâm nhập vào trường đại học Luật khoa Sàigòn, mục đích theo dõi bắt và sát hại những giáo sư có tinh thần quốc gia.
Không bỏ lỡ cơ hội, Huy thay đổi ý định vào xem phim và quyết theo dõi tìm hiểu về người phụ nữ vừa đi vừa chạy này. Đến trạm xe buýt, người phụ nữ không ngồi trên băng chờ xe như bao nhiều hành khách khác mà đứng lẫn khuất vào trong đoàn người, hai tay ôm tròn cái xách trước ngực. Xe buýt đến. Mọi người lên xe, Huy cũng lên xe và ngồi băng phía sau người phụ nữ. Xe thắng gấp vì phải nhường đường cho một chiếc xe gắn máy do người say rượu quẹo trái luật. Hành khách trên xe chao đảo có khuynh hướng lao người về phía trước phòng lái. Thân người của Huy như bị bứng ra khỏi chổ ngồi và đẩy về phía trước, Huy cố vịn thanh xà ngang trước mặt, để tạo sự thăng bằng, nhưng không cản nổi lực đẩy, tay của Huy đã tuột khỏi xà ngang chạm vào phía sau gáy và phần vai của người phụ nữ .Chiếc túi xách trên tay của người phụ nữ rơi xuống sàn xe và lăn tuột về phía sau chỗ Huy ngồi. Huy nhặt chiếc xách tay đưa lại cho người phụ nữ kèm theo lời xin lỗi. Người phụ nữ nhìn Huy trân trân và quay mặt về phía khác làm cho Huy lúng túng không biết người có chấp nhận sự xin lỗi của Huy không? Lòng Huy cảm thấy khó chịu về việc đụng chạm trước đó.
Nhìn khuôn mặt của người phụ nữ Huy không thể nào nghĩ ai khác ngoài Loan. Huy khẳng định với chính mình. Vì thế Huy quyết định hỏi chuyện. Xe ngừng ở trạm Chợ Lớn, người phụ nữ xuống xe làm ý định của Huy hỏng vở. Nhưng vốn bản tính lì lợm, Huy lại quyết bám mục tiêu, Huy nhảy xuống xe khi xe sắp sửa lăn bánh. Người tài xế xe buýt chửi toan lên bằng những danh từ tục tỉu về hành động phóng xuống xe của Huy. Rồi việc gì cũng qua. Xe chạy.
Huy theo chân người phụ nữ đến một góc của chợ Bình Tây. Người phụ nữ rẽ vào hàng bán trái cây và đang lựa mua một số trái Thanh Long. Huy vừa trờ tới, người phụ nữ như đã biết mình bị theo dõi, nên vội vã trả tiền, tiếp tục len lõi vào trong đám đông người về hướng nhà lồng chợ. Nhưng Huy đã xuất hiện đứng sờ sờ trước mặt. Trong ngạc nhiên, người phụ nữ ngẩng cao mặt và hỏi:
-Ông làm gì thế? Huy ấp úng.
-Dạ thưa tôi không làm gì cả. Tôi thấy bà giống một người bạn trước đây tôi đã quen.
Người phụ nữ nhìn Huy từ đầu đến chân và nói. Người yêu của ông ? Dạ thưa không!
Chỉ là bạn thôi.
-Bạn thôi, nhưng sao ông lại nhớ nhau dai thế ? Người phụ nữ hỏi.
-Vâng, chỉ là bạn. Nhưng đây là người bạn đặc biệt .
Miệng người phụ nữ the the giọng cổ như nói một điều gì không rõ! Sau đó bà bổng nói to: có phải ông là Huy không?
-Vâng tôi là Huy đây. Còn bà có phải Loan không ? Đúng rồi, tôi là Loan của 18 năm về trước với hổn danh “Loan mắt nhung Luật khoa Sàigòn”. Hơn 2 tiếng đồng hồ, ngồi trên xe buýt, tôi thật hồi họp, vì đã biết có người theo dõi, nên cố tìm mọi cách phản tình báo để biết nguyên do, nhưng không ngờ là anh. Huy thay đổi cách xưng hô.
-Nghiệp vụ của chị vẫn còn nhạy bén đấy chứ ! Còn tôi thì bị “cháy” rồi! Cớ đời gì làm tình báo theo dõi người ta lại để cho người ta phát hiện! Huy nói trong dè biểu nghề nghiệp. Chị Loan nhún vai và cười như không đồng tình với câu nói của tôi.
Cả hai chúng tôi rời khỏi nhà lồng chợ Bình Tây vào trong một quán nước kế bên đường, chị cho biết chủ quán là người thân của chị.
Qua trao đổi. Huy được biết chị vẫn chưa lập gia đình, vì cái chết của Trung Úy Tuấn Biệt Động Quân, người chồng sắp cưới của chị năm nào đã làm cho tâm hồn chị đau khổ, nên sống một thân đến giờ. Theo lời tâm sự của chị.
Năm 1972, chị khóc tiễn biệt Trung Úy Tuấn khi chị tròn 22 tuổi, đang học năm thứ hai đại học Luật Sàigòn. Trung Úy Tuấn cùng quê với chị ở Mỹ Tho. Hai người quen nhau từ còn là học sinh trung học Nguyễn Đình Chiểu. Sau Tết Mậu Thân, với khẩu hiệu “ Tổ Quốc Lâm Nguy” của chính phủ miền Nam . Hàng hàng lớp lớp thanh niên hưởng ứng theo lệnh tổng động viên của chính quyền ban ra .Cùng với những người trai thời chiến khác Tuấn xếp bút xếp bút nghiên vào quân ngũ .Anh vào khóa 3/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường phục vụ dưới cờ binh chủng Biệt Động Quân. Đơn vị của Tuấn trấn đóng các vùng biên giới của quân Khu 2 và 3.
Vào tháng 3 năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt tung nhiều trận đánh lớn, vào các quân khu của Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt quân khu 1, 2 và 3 nhằm tạo áp lực quân sự để hậu thuẩn nước cờ chính trị của chúng tại Hội Đàm Ba Lê .
Tại quân khu 3, căn cứ hỏa lực Tống Lê Chân, được Việt cộng đánh giá cao về mặt chiến lược và xem như là cái gai chọc vào hai bàn chân của chúng, nếu không hạ được vị trí này chúng sẽ không thể tiến xa hơn theo kế hoạch của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương đề ra là tạo một vùng “giải phóng” để cho nhóm cái gọi là “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” phô trương thanh thế với quốc tế. Cho nên Trung Uơng Cục Miền Nam của Việt Cộng tại Mõ Vẹt ( Ba Thu) đã nhận lệnh của Bắc Bộ phủ Hà Nội là bằng giá nào cũng phải triệt hạ cho bằng được căn cứ hỏa lực Tống Lê Chân, dù phải nướng hàng vạn binh lính “cáo Hồ” và bọn Việt cộng miền Nam !
Cộng sản Bắc Việt đã dùng tòan bộ công trường 7 và một trung đòan pháo cùng với vài tiểu đoàn Việt cộng địa phương. Với chiến thuật cổ điển “ Tiền pháo hậu xung” vàø chiến thuật “đào hầm” dùng đặc công đánh bọc phá nhằm tiêu diệt căn cứ này.
( Quân cộng sản Bắc Việt áp dụng lại chiến thuật đánh Pháp ở trận Điện Biên Phủ .Họ dùng lực lượng thanh niên xung phong hoặc, hoặc nhân công phục vụ chiến trường, đào một đường hầm từ trong rừng hoặc trong những cánh đồng hay một ngôi nhà nào đó thông vào trong trại lính và quân của họ theo đường hầm đó vào dùng đặc công đánh phá bộ chỉ huy đầu nảo của quân đối phương)
Mỗi ngày cộng quân pháo kích hàng ngàn quả pháo đủ loại vào trong căn cứ Tống Lê Chân, sau đó dùng chiến thuật biển người xung phong để đánh vào căn cứ do tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân Biên Phòng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trấn đóng. Chỉ huy tiểu đòan này là Thiếu Tá Ngôn đã phản công mãnh liệt chống trả từng đợt xung phong của cộng quân. Nhờ pháo binh và phi cơ yểm trợ và nhờ sự đồng tâm tiêu diệt kẻ thù của quân nhân các cấp. Sau 3 tháng chiến đấu trong tình trạng khó khăn về mọi mặt. Cuối cùng theo lênh cấp trên Tiểu Đòan bắt buộc phải mở đường máu rút lui bỏ căn cứ .Tiểu đòan 39 Biệt Động Quân đã gây tổn thất nặng cho cộng quân. Theo báo chí thời đó tường thuật : Sau khi chiếm được căn cứ hỏa lực Tống Lê Chân cộng quân đã nướng hết gần một trung đoàn. Thiệt hại về tiểu đòan 39 Biệt Động Quân cũng không ít. Trung Úy Tuấn đã làm xong nhiệm vụ của một người trai thời chiến một cách hào hùng, sau khi “ chia nhau” hạ 3 tên bộ đội cộng sản định bắt anh bằng một quả lựu đạn M26.
Sau sự hy sinh của Trung Úy Tuấn, chị thật đau buồn cho số phận của mình. Nhưng chị tự nhũ, nếu cứ vì tình cảm bi lụy sẽ không giải quyết được gì cho bản thân và những mơ ước cống hiến cho đất nước. Chị không tiếp tục việc học sau lần thi khảo thí lên năm thứ ba ban tư pháp trường Luật Khoa Sàigòn mà chị đang theo.
Chị về Mỹ Tho, thăm Ba Mẹ các anh chị em của chị và đặc biệt thăm lại mộ phần của Trung úy Tuấn. Vã lại chị cũng muốn hít thở những không khí đồng nội trong lành để nhớ lại thuở còn là cô học sinh nhỏ trường làng mỗi ngày hai buổi đi bộ đến trường tung tăng cùng hoa bướm. Cũng như tìm lại những dư hương của tháng ngày yêu đương nồng ấm bên người yêu.
Sau một năm đầm ấm, hạnh phúc quanh những người thân, cùng tìm lại những kỷ niệm xa xưa của những ngày thơ mộng.
Chị trở lại thủ đô.
Mùa Đông khí hậu Sàigòn không lạnh như Mỹ Tho, có lẽ hơi lạnh bị chắn khuất bởi những tòa nhà cao tầng bao bọc chung quanh trung tâm thành phố. Tuy nhiên về chiều, khi mặt trời đi ngủ, một vài vị trí trong thành phố có vẽ lạnh hơn. Bến Bạch Đằng về đêm khách dạ du phải khoát trên mình một áo len chống lạnh.
Đi lại trên những đại lộ đầy những đèn hiệu quảng cáo đủ màu sắc và các thương hiệu sầm uất, cùng với những con hẽm nhỏ một năm trước đây là những ngõ tắt đưa chị đến trường Luật. Tâm hồn chị trở nên thư thái và như cảm nhận một điều gì đó thay đổi cho chuyến trở lại thủ đô lần này.
Qua một tuần lễ nghĩ tại nhà của người cô họ, chỉ có xem ti vi và nghe radio. Phần lớn những tin tức chị nghe và thấy là những tin nóng bỏng từ các chiến trường. Những cảnh tàn ác của Việt cộng nằm vùng, giết hại dân lành… làm chị phải suy nghĩ, nên đóng góp chút ít gì cho đất nước.
Với một đêm trằn trọc không ngũ đến sáng. Chị quyết định gia nhập vào ngành Nữ Quân Nhân để được chiến đấu bảo vệ dân lành. Đến Trường Nữ Quân Nhân, chị trình tất cả giấy tờ tùy thân cho người nữ hạ sĩ quan tuyển mộ để xin ghi danh gia nhập. Xem qua giấy tờ, người hạ sĩ quan từ chối cho rằng, chị thuộc thành phần tài nguyên quốc gia nên không thể gia nhập vào khóa A tân binh được. Nếu muốn phục vụ, nên ghi danh vào khóa Sĩ Quan Nữ Quân Nhân. Chị đồng ý gia nhập vào khóa Sĩ quan. Nhưng đến giai đọan khám sức khỏe nhập ngũ, chị bị loại vì lý do sức khỏe kém. Thế thì mộng “được chiến đấu bảo vệ dân lành” bị tan vỡ.
Không được vào khóa sĩ quan Nữ quân nhân, chị rất buồn định tìm việc làm để giải khuây, đồng thời có một ít tiền nuôi sống bản thân và giúp đở gia đình. Suốt một tuần đọc báo tìm việc, nộp đơn vào một vài cơ quan. Nhưng cả tháng trời chẳng thấy ai kêu gọi phỏng vấn. Chị chán nản định trở về quê làm quản lý nhà máy xay lúa cho Ba chị.
Tình cờ một buổi trưa, tại một quán nước gần nhà của bà cô họ, anh lính Thủy Quân Lục Chiến vừa uống nước xong trả tiền rời khỏi quán để quên lại tờ báo Quật Cường. Chị gọi người lính để đưa lại tờ báo đã bỏ quên, nhưng người lính đã vội nhanh lên xe máy phóng đi.
Đọc qua trang tìm việc, chị thấy công ty Z của Mỹ cần người biết chút ít tiếng Anh để làm thư ký. Liên lạc qua số điện thoại trên báo chị tìm địa chỉ đến xin việc làm.
Tại Văn phòng X trên đường Nguyễn Kim, cô gái hoa ngàn đồng nội của tỉnh Định Tường với chiếc áo dài trắng trinh nguyên thời sinh viên ngày nào. Nay trong chiếc áo dài màu cúc vàng sặc sở đã làm cho biết bao nhiêu người hiếu kỳ phải để mắt nhìn chị và thầm ru hồn vào lời thơ của thi sĩ Nguyên Sa. “Áo nàng vàng anh về mơ hoa cúc. Áo nàng xanh anh đếm lá sân trường….”
Đậu bài text 50 câu hỏi về trí thông minh và phong cách ứng xử .Chị được nhận vào công ty. Tuy nhiên để làm việc tốt chị phải qua một giai đọan huấn luyện. Hàng ngày chị đến văn phòng học, nhưng không thấy dạy về nghiệp vụ tiếp tân hay sổ sách phần vụ cho một thư ký mà học toàn là những kiến thức căn bản về tình báo, và phản tình báo …
Bởi quá đổi ngạc nhiên, hỏi giảng viên, chị mới hiểu ra rằng chị đang học lớp căn bản tình báo do Cục Trung Ương Tình Báo hướng dẫn.
(Vào thập niên 70, vì nhu cầu công tác, Cơ quan tình báo Miền Nam Việt Nam tuyển mộ nhân viên khế ước qua hình thức mẫu rao vặt tìm việc của những hãng thầu hay công ty Mỹ. Mục đích để bảo mật và giữ kín tông tích. Sau khi một người được tuyển vào công ty hay hãng thầu và biết mình không phải làm công việc thuần túy cho hãng hay công ty, mà làm công việc của một tình báo viên. Người đó có quyền không hợp tác. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, phần lớn ai đã được nhận vào điều cũng vui vẻ nhận việc, không bao giờ từ chối.)
Học xong lớp căn bản theo dõi (giám thị) chị làm việc tại A 17 thuộc Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương. (CIO)
Hơn một tiếng đồng hồ, chị và Huy hàn uyên, Huy mới biết được một phần đời của chị có những nỗi đau tình yêu như không thể xóa nhòa và ở chị cũng có tấm lòng yêu tổ quốc như bao người, sẵn sàng chiến đấu chống lại bọn cộng sản vô thần.
Huy nhớ lại vào năm 1973, để phá vở một tổ chức tình báo của việt cộng chuyên trí vận, bắt cóc hay thủ tiêu các giáo sư và giảng viên có tinh thần quốc gia trong đại học Luật Khoa Sàigòn. Nha Nội Chính ( E4) thuộc khối Cảnh Sát Đặc Biệt (N.Đ.B) của Việt Nam Cộng Hòa (giống như F.B.I của Mỹ và S.E.D của Pháp và K.G.B của Liên Bang Sô Viết) mở đầu mối và phân công Huy điều nghiên để phá vỡ tổ chức này của việt cộng. Công việc tuy chỉ gọi là “phá vở” nhưng rất phức tạp. Bởi vì trước năm 1972, sau vụ ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật. Cở sở tình báo Việt cộng hầu như đã có mặt và ăn sâu vào trong các đại học miền Nam, đặc biệt là các đại học tuyển sinh qua hình thức ghi danh mà không qua thi tuyển như: Luật Khoa, Văn Khoa và Khoa Học. Trong các đại học này, các cơ sở tình báo việt cộng được che chở bởi một số vị giáo sư có uy tín nhưng khuynh tả, trong tổ chức mà chính quyền VNCH gọi là thành phần thứ ba. Ngoài ra, cơ sở tình báo việt cộng còn có sự trợ giúp nghiệp vụ bởi Ban Trí Vận thành ủy Saigon – Gia Định.
Ngày Z, tại một phòng nhỏ bên trái phòng khách của Tổng Hội Sinh Viên Sàigòn
( cũng là phòng nghĩ của Huy) được tin của mật báo viên Hồng Anh cho biết có một cặp tình nhân đang ngồi gần giáo sư VT trong lúc ông xem phim cùng vợ trong rạp Rex. Cử chỉ của cặp tình nhân này có vẽ không để ý gì đến phim ảnh, ngược lại chỉ thường để ý đến cử chỉ của vợ chồng giáo sư VT. (Giáo sư VT dạy môn công pháp quốc tế, ông là người đã từng lên án việt cộng vi phạm hiệp định đình chiến dịp Tết Mậu Thân và tấn công vào các đô thị miền nam giết hại dân lành) Ban Trí vận Thành Ủy Sàigòn – Gia Định đã có truyền đơn hăm dọa khủng bố ông. Nhưng ông vẫn không sợ hải mà còn viết bài đăng báo ngoại quốc tố cáo hành động hèn hạ này của Việt cộng. Nên việt cộng muốn trừ khử ông. Cụm tình báo C21 Trung ương Cục Miền Nam điểu khiển đưa hai nam nữ điệp viên trẻ thuộc phân cục tình báo Gia Định đảm trách kế họach hành động này.
Qua điện đàm, Huy bảo Hồng Anh bám chặt mục tiêu và nhận diện rõ ràng khuôn mặt từng người. Cố làm theo lời chỉ bảo của Huy, nhưng Hồng Anh cũng cho biết cặp tình nhân này dường như đã phát giác ra cô. Vì cô cho biết những hàng ghế gần cuối rạp phần lớn đã trám đầy những cặp tình nhân, họ lợi dụng cơ hội tối nhiều hơn sáng này để âu yếm. Vì đây là xuất hát về đêm, một mình cô lẽ loi trong môi trường này, nên có thể là mục tiêu tốt cho bọn tình báo khả nghi. Nghe qua, Huy bảo cô cố bám chặt mục tiêu và ráng đợi chờ Huy sẽ có kế họach giải tỏa tinh thần cho cô. Huy trình lên cấp trên và xin tiếp ứng cho Huy một nữ nhân viên tình báo để Huy thực hiện kế họach giám thị.
-Sĩ quan điều họp nói: Nữ Thiên Nga được không?
– Huy trả lời: Thiên Nga hay bên nào cũng được miễn là nữ và có khá tốt về nghiệp vụ khoa giám thị.
Mười phút sau, người sĩ quan điều họp nói, bên Thiên Nga không còn nữ nào rỗi rãnh cho anh cả. Nhưng tôi sẽ cho anh một nữ bên A 17 anh có đồng ý không?
-Được. Bao lâu họ đến ? Tôi cần gấp, vì xuất hát sắp hết.
– Năm phút nữa .
– Vâng . Chào thẩm quyền.
Một cô gái trẻ mãnh khảnh có đôi mắt đen láy, đến Tổng Hội Sinh Viên tìm Huy. Chúng tôi đã nhận diện nhau qua trao đổi mật khẩu và biết cô có tên thật là Loan với bí số nghiệp vụ Z12. Hỏi qua tuổi tác biết Loan
lớn hơn tôi 2 tuổi. Huy xin được gọi Loan bằng chi.
Màn kịch “ tình nhân” được diễn ra bởi tôi và chị Loan. Vào rạp chiếu phim chúng tôi ngồi phía sau mục tiêu. Vị trí chúng tôi ngồi cách vợ chồng giáo sư VT một hàng ghế. Sở dĩ chúng tôi chọn vị trí như thế để dễ quan sát 2 mục tiêu cùng một lúc. Trên màn ảnh một cặp tình nhân đang âu yếm ngoài một công viên có nhiều cây rợp mát. Liếc nhìn chung quanh mọi cặp tình nhân cũng đang mơn trớn nhau bằng ngôn ngữ đôi tay và miệng. Không ngoại lệ, Huy cũng kéo chị Loan vào lòng .Đầu chị đặt trên ngực Huy, nhưng đôi mắt của chị vẫn hướng về phía mục tiêu. Mắt Huy cũng thế.
Hơi thở của chị Loan dồn dập và tim đập nhanh. Huy hỏi khẻ chị Loan tại sao thế ? Chị chỉ cười thẹn mà không nói.
Lợi dụng đọan phim có phần sáng, đánh tan cái tối trong phòng, Huy đứng dậy giả vờ đi vào phòng vệ sinh để cố ý nhìn thật kỷ mặt của mục tiêu. Vì thế Huy đã nhận diện được mục tiêu là hai sinh viên đang học trong trường Luật.
Giữa phim thật hấp dẫn, và hồi họp. Phim chiếu vụ cướp và bắt cóc con tin tại một ngân hàng lớn kéo dài hai ngày trời. Cuộc đấu trí giữa cảnh sát và nhóm tội phạm diễn ra căng thẳng, hồi hộp nhưng kết thúc lại không ai ngờ tới. Tất cả đều có bằng chứng ngoại phạm.
Đầu đuôi câu chuyện bắt đầu từ lúc bốn kẻ tội phạm mặc đồ thợ sơn tiến vào sảnh ngân hàng Manhattan Trust, một chi nhánh quan trọng của một thể chế tài chính quốc tế lớn. Chỉ trong vài giây, những tên cướp ngân hàng đã biến nơi đó thành pháo đài với 50 con tin vô tội. Sở cảnh sát New York cử thám tử Keith Frazier và Bill Mithchell tới hiện trường để thương thuyết với tay cầm đầu Dalton Russell nhằm đảm bảo sự an nguy cho các con tin. Nhưng có điều kỳ lạ, dường như bọn tội phạm táo tợn này luôn đi trước cảnh sát một bước và che giấu âm mưu thực sự của vụ này. Frazier dần đoán ra mục tiêu cuối cùng của bọn chúng không phải là tiền.
Trong khi đó Arthur Case, ông chủ ngân hàng bị hại, không muốn cảnh sát can thiệp sâu mà cầu cứu Madeline White, một nữ luật sư, đàm phán với tên tội phạm. Phải chăng ông ta sợ “cháy nhà ra mặt chuột”? Nhưng cô luật sư này lại có đủ bản lĩnh để chơi trên cơ kẻ bắt cóc con tin. Bản thân ngài thanh tra Keith Frazier còn đang gặp rắc rối trong vụ án trước, làm thế nào để anh xoay sở khi phát hiện ra đây là điệp vụ kép với chỉ một manh mối?
Kết thúc bộ phim, thám tử Frazier đi vào căn hộ của mình, cậu em trai của bạn gái anh nằm vật vờ trên ghế, tay ôm một chai rượu hình quả bom. Chi tiết này gợi nhớ đến bộ phim trước của đạo diễn Spike Lee Bamboozled có nội dung về một loại rượu tên là “Da Bomb” được đóng trong chai có hình dáng tương tự như một quả bom.
Đèn rạp bật sáng, mọi người ra về, vợ chồng giáo sư VT lần lượt đứng lên rời khỏi chổ ngồi. Chúng tôi thấy mục tiêu cũng đứng lên và nhanh chân ra trước hướng cửa chính của rạp chiếu phim. Chị Loan và Huy cũng bám theo. Đến cửa, chúng tôi thấy mục tiêu dõi mắt nhìn theo vợ chồng giáo sư VT đi ra bãi xe gắn máy. Trong lúc cô gái liếc mắt quan sát mọi người đang đứng xung quanh, thì người thanh niên tiến chân theo sau vợ chồng giáo sư VT. Huy và chị Loan tay đang trong tay. Huy buông tay chị Loan ra và dặn : Nhớ bám chặt cô gái này nhé chị Loan. Huy theo gã thanh niên ra bãi đậu xe. Gã thanh niên đến chiếc xe gắn máy Honda 67, dỡ yên xe lên như lấy một vật gì bỏ vào túi áo khoác và dẫn xe theo sau vợ chồng giáo sư VT. Trả tiền cho người giữ xe máy xong vợ chồng giáo sư VT định mở máy xe chạy về đường Lê Lợi, nhưng gặp một người bạn, nên chần chờ vài phút nói chuyện qua lại bên ngoài khu giữ xe. Trong khi đó gã thanh niên cũng đã làm xong bổn phận của người gởi xe. Dẫn xe ra ngoài. Nhưng hắn có vẽ lung túng, vì mục tiêu của hắn ta đang theo dõi là vợ chồng giáo sư VT không di chuyển. Để không bị mọi người chú ý, hắn dẫn xe đến gần mục tiêu và đốt thuốc hút giả như chờ đợi ai vậy!. Trong lúc Huy đang bám chặt gã thanh niên, chị Loan cho Huy biết (dĩ nhiên qua điện đàm) cô gái đang tiếp xúc với một người đàn ông lái xe tắc xi . Đồng lúc Huy nhận tín hiệu từ sĩ quan điều họp là phải phá vở đầu mối ngay trước 12 giờ đêm, nếu không vợ chồng giáo sư VT có thể bị nạn. Qua thoại đàm Huy bảo chị Loan chuẩn bị xử dụng vũ khí và để ý thật kỷ gã tài xế xe tắc xi đang nói chuyện với cô gái.
Xe máy vợ chồng giáo sư chạy ngang trước cửa rạp hát hướng về đường Lê Thánh Tôn. Gã thanh niên tốc xe theo. Trong cùng lúc cô gái lên tắc xi cũng về hướng đường đó.Huy chạy ngang rước chị Loan và tăng tốc độ theo phía sau mục tiêu.
10 giờ đêm, thành phố Saigòn vẫn còn náo nhiệt, các toán cảnh sát tuần lưu vẫn còn kiểm tra trên đường phố rất khó cho đối phương hành động.Huy đoán nếu bọn chúng hành động phải chờ qua 10 giờ, và Huy cho sự tiên đoán của mình là đúng nên tự tin hơn để có đủ thời gian đối phó.
Đến đèn đỏ, chị Loan lên thay Huy lái xe. Huy bảo chị Loan lái nên giữ khoảng cách cho đều để dễ bề xử lý súng ngắn khi đụng chuyện. Huy móc khẩu súng P.38 nòng ngắn từ trong bụng ra sọt vào túi quần lên vồ sẳn sàng nhả đạn khi cần.
Đọan ngã tư Hai Bà Trưng và Điện Biên Phủ tiến về hướng ngã tư Hàng Xanh ngoại ô thành phố, đèn đường thưa, người đi đường vắng. Chị Loan cho xe tiến gần song song với xe của vợ chồng giáo sư (vì khỏang đường này chỉ có 2 lane). Chiếc xe tắc xi từ phía sau trườn tới như muốn hút vào cạnh sườn phải của xe máy vợ chồng giáo sư VT, trong khi chiếc xe máy của gả thanh niên cũng đang trờ tới như trợ lực cho chiếc tắc xi .Trong máy điện đàm của Huy, người sĩ quan điều hợp bảo: “phải dứt điểm mục tiêu” . Điểm cuối cùng là tại ngã tư Hàng xanh.
Tới trạm biến điện đối diện quán Mì Cây Nhãn trên đường Điện Biên Phủ, chiếc tắc xi bị nổ lốp tạo một tiếng nổ lớn, xe chao đảo lết một khoảng rồi lủi vào lề. Xe máy của gả thanh niên thế vào vị trí của xe tắc xi , cùng lúc một xe máy khác do một người trung niên từ phía sau lao tới thay vào vị trí xe của gã thanh niên. Huy cảm thấy không ổn và quyết định ra tay bắt gả thanh niên bằng phương thức đụng xe. Huy báo chi tiết cho cảnh sát tỉnh Gia Định và xin trợ lực, đồng thời bảo chị Loan cho xe chạy gần sát phía sau, xe của mục tiêu. Khi xe cảnh sát vừa đến. Chi Loan cho xe vào sát hông trái xe của gả thanh niên, và canh độ khoảng cách chính xác, để khi tăng tốc độ vượt qua mặt, để xe chúng tôi có thể kéo theo xe của mục tiêu. Tiếng máy xe của chúng tôi nổ gầm, chiếc xe máy vọt lên phía trước như con ngựa đua. Hai xe máy vướn vào nhau rồi ngã ầm xuống mặt đường. Huy, chị Loan và gả thanh niên không một ai bị thương nặng, chỉ trầy trụa sơ sài. Vì khi hai xe dính vào nhau tốc độ giảm đến mức thấp nhất nên mức độ thương tích không đáng kể. Cảnh sát đến lập biên bản giải cả hai phía đem về trụ sở.
Đến phòng Cảnh Sát giao thông của Ty Cảnh Sát Gia Định. Huy và chị Loan được tách rời ra khỏi gả thanh niên và ra về, còn gả thanh niên bị giữ lại qua đêm. Hôm đó, dù trời đã khuya, cả hai chúng tôi mệt mỏi và đau nhức bởi những vết trầy trên tay và chân, nhưng Huy và chị Loan vẫn đèo nhau ra bến Bạch Đằng tìm nhai vài con khô mực chấm tương đen, món hải sản mà Huy vốn thích, đồng thời tìm hương vị đêm của sông nước thị thành.
Hôm sau, vào đơn vị. Sĩ quan điều hợp cho biết cô gái và người tài xế cũng đã bị bắt và hiện giao cho Trung Tâm Thẩm Vấn, nếu Huy muốn khai thác đương sự hãy liên lạc với trung tâm.
Cảnh Sát Gia Định cũng cho Huy biết: gã trung niên và vợ chồng giáo sư VT cũng đã bị Cảnh Sát Tuần Lưu xa lộ tạm giữ. Vợ chồng giáo sư VT được cảnh sát bảo vệ về nhà ngay trong đêm, còn gả trung niên hiện đang giao cho F đặc biệt xử lý.
Tổng hợp tin thẩm vấn. Chúng tôi biết được gả thanh niên là một tên đặc công tình báo đội lốt sinh viên. Hắn được lệnh bắt có hai vợ chồng giáo sư VT, lúc giáo sư vừa đến cổng nhà. Vì thế chúng mang theo chiếc tắc xi để tống hai vợ chống vị giáo sư vào trong xe mà không ai có thể biết được.Đó là phương án 1. Phương án 2, nếu như không thể bắt cóc được thì phải hạ sát hai vợ chồng vị giáo sư này trên đọan đường vắng nhất.
Nhân số thực hiện hành động cho công tác này, gồm 4 nhân viên của phân cục tình báo Gia Định thuộc cụm tình báo C21 Việt cộng. Gả thanh niên trẻ và cô gái là 2 nhân viên trực vụ chính, còn gã tài xế và tên trung niên là hai nhân vật phụ trợ lực.
VÔ HIỆU HÓA CỤM TÌNH BÁO MANG ÁM SỐ C21
Bắt được những người định thực hiện công việc bắt cóc hoặc sát hại giáo sư VT xong, nhưng chưa phá vở được đầu mối chính là cụm tình báo C21 của cộng sản đó là một điều trăn trở vô cùng của Trưởng cơ quan GF, Thiếu Tá N.
Một tuần sau khi triệt hạ 4 nhân viên tình báo Việt cộng trong phân cục Gia Định.Thiếu Tá N gọi Huy vào văn phòng làm việc của ông .Người chỉ huy vui vẻ cho biết: việc làm của Huy và chị Loan vừa qua được cấp trên khen thưởng và ông đã đề nghị ban phát huy chương bội tinh. Nhưng cấp trên nói đó chỉ là bước đầu. Cần đi một bước hai nữa là: phải vô hiệu hóa cụm tình báo C21, điều này có nghĩa là phải bắt gọn toàn bộ ban lãnh đạo là những cán bộ nồng cốt của cụm C21. Đó cũng là mong muốn của D1( Chuẩn Tướng T) .Anh có thể làm được điều này? Thiếu Tá N hỏi?
-Dạ thưa thiếu Tá tôi tuân lệnh.
-Anh có thích cô Loan bên A 17 làm việc với anh?
– Huy ấp úng…
– Được nếu anh cần vì nhu cầu công tác, tôi sẽ trình với cấp trên xin cô ấy biệt phái sang đây làm việc với anh.
– Huy vui ra mặt.
– Thiếu Tá N vừa cười vừa nói: Tôi biết anh mà!
Huy chào Thiếu Tá N ra về nghĩ ngơi để chuẩn bị công tác mới. Hôm sau Huy mời chị Loan ăn nhà hàng seafood trong vùng Chợ Lớn. Huy cho chị biết: Huy và chi sắp sửa làm việc chung trong một công tác mới. Chị tỏ vẽ ngạc nhiên và nói: lần công tác trước đây Loan chỉ tăng cường cho anh, theo nhu cầu công tác, chứ Loan không thuộc quân số của đơn vị anh!
-Vâng, chị nói đúng. Nhưng trong tương lai chị sẽ thuộc về đơn vị của Huy. Cấp trên của Huy sẽ xin chị hẳn về bên này. Nếu được thế, chị có vui không. Huy hỏi?
– Chị Loan cũng ấp úng …và hỏi ngược lại Huy. Loan vẫn là người tình của anh trong công tác mới?
– Không hẳn thế, nhưng … làm người tình tâm hồn chi có hạnh phúc không ? Mặt chị Loan đỏ hồng sau câu hỏi của Huy. Chị quay mặt nơi khác để cố tránh những cái nhìn can đảm nhưng dò xét của Huy. Huy cầm tay chị để vào lòng bàn tay của mình và nói: Bàn tay của chị ấm quá! Chị Loan không phản ứng nhưng nhìn Huy thẹn thùng nói: “ Cái anh này!”, rồi đưa mắt vào màn ảnh truyền hình khi đang chiếu cặp tài tử Alen Delon và Bebe đang hôn nhau trong phim Adieux à L’été.
Với hành động trên, Huy không biết chị có cảm nhận gì không ? Chứ Huy cảm thấy nắm tay có nghĩa là một tình yêu nữa bắt đầu…. Khi hai cực nam và bắc chạm vào nhau, sẽ nãy sinh ra những giòng điện tình ái…nắm tay là một nghệ thuật…có nhiều người thích được người khác nắm tay, có nhiều người nắm tay phãi chọn lựa người. Đối với người Huy yêu, Huy thích nhất là nắm tay người đó.
Đầu năm 1973, tình hình chiến sự từ các quân khu có những sự việc làm bất lợi cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản miền Bắc đã tung bộ đội chính quy vào áp lực quân sự trên các quân khu 1 và 2 cùng một vài nơi trên lãnh thổ quân khu 3.
Tại thủ đô Sàigòn, phong trào chống chính phủ do những tổ chức cộng sản trá hình như linh mục Trần Hữu Thanh, Ngô Bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên … tạo những cuộc biểu tình làm cho không khí chính trị thủ đô vào thời điểm này trở nên nặng nề.
Tiếp tay với các nhóm cộng sản trá hình để làm cho bộ mặt thủ đô Sàigòn thêm nặng nề hơn. Cục tình báo C21 đã chỉ thị và bật đèn xanh cho các thám tử của họ tấn công đồng lọat vào các đại học để “ xây dựng cũng cố và quật khởi” phong trào sinh viên học sinh mà trước đây đã bị đã bị chính quyền miền Nam đập tan.
Cuối tháng 3 năm 1973, bước đầu Cụm tình báo C21 cho tổ chức sinh họat ngày truyền thống kỷ niệm Trần Văn Ơn và kỷ niệm ngày Quốc Tế Phụ Nữ .Đến đầu năm 1974 cộng sản đẩy mạnh phong trào sinh viên cụ thể là biểu tình khu vưc chợ Bến Thành đòi trả tự do cho Huỳnh Tấn Mẫm và các sinh viên khác. Nhóm sinh viên
“ xung kích” của cộng sản dùng cả bom xăng và lựu đạn khói gây rối làm náo động khu vự trung tâm thành phố. Đồng lọat cộng sản cho thành lập “phong trào bảo vệ quyền lợi sinh viên học sinh” họat động vào các trọng điểm như Đại Học xá Minh Mạng, Đại Học Vạn Hạnh, Đại Học Hòa Hảo và các Đại Học khác. Cộng sản còn lập ra một ủy ban gọi là “Ủy Ban Hành Động Công Bằng Xã Hội” tập họp gồm các sinh viên học sinh các tôn giáo . Ủy ban này phối họp với Phong Trào Bảo Vệ Quyền Lợi Sinh Viên Học Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1974 vịn cớ ngày “hy sinh của sinh viên Quách Thị Trang” để xuống đường. Mặt khác cộng sản còn dùng các sinh viên của các tôn giáo mít tinh tại nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế chống bắt lính và đòi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức.
Những truyền đơn chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa,đòi Tổng Thống Thiệu từ chức được bí mật rãi đầy trong các đại học Văn Khoa, Khoa Học, đặc biệt là Đại Học Luật Khoa.
Tại trung tâm dự bị đại học trên đường Trần Hoàng Quân quận 10, trong vòng một tuần lễ có 3 vụ rãi truyền đơn. Những vụ rãi truyền đơn thường thấy vào những giờ học của giáo sư Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Độ.
Qua sự nghiên cứu của cấp trên, để ngăn chặn và vô hiệu hóa các vụ rãi truyền đơn là phải phá vỡ tận gốc cụm tình báo C21.
Thiếu Tá N, trưởng cơ quan GF gọi Huy vào văn phòng, cố vấn cho Huy thực hiện kế họach và hướng dẫn Huy đến gặp D1. Sau khi trình bày kế họach công tác. D1 nói : tôi kỳ vọng vào anh và Thiếu Tá N. Khi ra khỏi văn phòng của D1, Huy cảm thấy lo lắng, mặc dù từ khi xa rời quân trường Mẹ là Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia và sau khi tốt nghiệp Á khoa khóa 3 Cán Bộ Điều Khiển ở trường Tình Báo Trung Ương, cũng như có thời gian làm việc với vai trò một trưởng đầu ngành đặc biệt của một quận hẻo lánh của tỉnh Tây Ninh. Huy đã có dịp thử lòng can đảm của mình đối với những công tác nguy hiểm, nhưng thành thật mà nói lòng Huy chưa có sự hồi họp nào như lần nhận công tác này.
Thiếu Tá N, nhìn vẽ mặt đăm chiêu của Huy, ông hỏi.
-Anh làm sao thế?
– Thưa Thiếu Tá, tôi hơi lo lắng…
– Anh sợ không hoàn thành công tác?
– Dạ thưa…
-Tôi hiểu anh. Tôi sẽ sát cánh cùng anh. Tôi tin anh là người thông minh và sẽ chiến thắng.
Về đến văn phòng của Thiếu Tá N, Huy đã thấy chị Loan ở đó. Chị mặc chiếc quần Jean Mỹ với chiếc sơ mi trắng dài tay, tóc xõa thẳng dài đến tận mông và má dậm thêm một ít phấn hồng ngọai làm cho khuôn mặt chi đẹp hẳn ra trông giống như
“ Nữ Hoàng Sân Khấu Cải Lương” Thanh Nga trong phim “Xa lộ không Đèn”. Nhìn chị lòng Huy bổng rộn ràng và chợt nhớ đến bài thơ “ Yêu Nhau Cỡi Áo Cho Nhau” của Thái Sơn.
Hồn ta một cõi đam mê
Tóc mây sợi nhỏ vương thề tình em
Em thơ ngây dệt mộng lòng
Thiên thai một chốn lãng du cuộc tình.
Tiếp thu lời dặn của người chỉ huy, Huy và chị Loan nhập cuộc. Ngày 25 tháng 01 năm 1975, Theo tin của cảm tình viên là một sinh viên cùng quê của chị Loan. Chúng tôi biết được tác giả của các vụ rãi truyền đơn trong trung tâm dự bị đại học trên đường Trần Hoàng Quân là do tên Khắc Tân một sinh viên năm thứ hai cầm đầu. Tên này thường có mặt trong giờ dạy của giáo sư Vũ Văn Mẫu cùng với một nữ sinh viên tên Dương thị Quỳnh. Hai sinh viên này lợi dụng giờ giáo sư Mẫu vì ông là người có chân trong thành phần thứ ba ( đó là một nhóm khuynh tả không ưa chính phủ. Nói theo từ ngữ tâm lý chiến thì nhóm nay là nhóm :ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản) . Ông thường có cảm tình với những sinh viên có khuynh hướng thiên tả, ưa quậy chống phá chính quyền. Cục tình báo C21 việt cộng điều nghiên và khai thác triệt để, những lớp học nào có giờ của giáo sư Mẫu thì cho người của họ hành động .
Với sự yểm trợ của cấp trên, Huy quyết định xâm nhập vào toán rãi truyền đơn của tên Khắc Tân. Qua nhiều ngày tiếp cận mục tiêu, chị Loan và Huy biết được quán tính của Khắc Tân mỗi sáng thường ngồi hút thuốc và uống nước ngọt tại vĩa hè trước hàng rào trường Nam Sinh Mù. (đối diện Trung Tâm Dự Bị Đại Học ) Chị Loan đến ngồi gần bàn của hắn, gọi một chai nước ngọt uống và lấy tự điển làm bộ tra từ, nhưng bên trong quyển tự điển là một máy camera technical color được thiết kế kỹ thuật riêng biệt dành cho công tác thu hình tình báo. Hắn hút chưa hết nửa điếu thuốc chị Loan đã lấy xong hình của hắn vào máy. Chị cất quyển tự điển vào cặp sách, vừa uống nước vừa nói chuyện với cô bán hàng. Thỉnh thoảng, chị nhìn hắn và cười đưa tình. Không mấy chốc hai người đã quen nhau. Hai người bạn mới thăm hỏi nhau về gia đình, nguyên quán…và đôi khi bàn về khía cạnh thời sự . Lãnh vực này, tên Khắc Tân có vẻ tâm đắc nên nói tương đối nhiều, trong khi đó chị Loan chỉ có nhiệm vụ là vuốt theo quan niệm của hắn. Hắn cho rằng sinh viên cần phải yêu nước, và nếu như vậy là phải đứng lên lật đổ chính quyền do tổng thống Nguyễn văn Thiệu cầm đầu, và phải đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam, để lập một chính phủ mới hợp hiến công bằng hơn. Theo hắn có một chính phủ như thế chỉ có người cộng sản mới thực hiện được. Hắn thao thao bất tuyệt, mà hắn không biết rằng những lời nói của hắn đã lọt trủm vào trong các băng nhựa của chiếc máy thu băng đặc biệt hiệu sony của Nhật nằm trong chiếc áo nịch nhũ hoa của chị Loan. Đôi khi chị Loan ca tụng sự hiểu biết về nhận định của hắn làm hắn trở nên tự đắc. Hắn nói liên tằng không mõi mệt mãi đến khi bạn hắn Dương thị Quỳnh đến, hắn mới thôi.
Hắn và Quỳnh từ giả chị Loan và hứa sẽ gặp lại một nơi khác trong thành phố. Chúng tôi báo cáo sự việc về sĩ quan điều hợp cùng với những chứng liệu đã thu thập.Phân tích chớp nhóang tình hình Thiếu Tá N chỉ thị: Huy cần phải xâm nhập nhanh vào tổ chức, để làm cái nhân cho các tế bào để tế bào phát triển, còn chị Loan là những bó li be gổ tiếp nhận sự sống từ nhân làm cho thân cây được vững và phát triển. Chúng tôi hiểu ý vị chỉ huy và khai triển chỉ thị.
Tại một quán kem trên đường Nguyễn Trung Trực thuộc quận nhất, Khắc Tân và Dương thị Quỳnh gặp chị Loan. Chị giới thiệu Huy với hai người. Khắc Tân bắt tay Huy và nói: trông anh khỏe, rắn chắc quá! Chắc anh không phải là người của thành phố Sàigòn ? Vâng tôi là người ở tỉnh quê, nên có vẽ thô kịch. Cám ơn anh đã có lời khen . Mọi người ăn kem và uống nước lọc. Trong khi uống nước và nói chuyện Khắc Tân nói với chị Loan. Qua một thời gian quen biết, tôi nghĩ Loan là người tốt có thể họp tác với chúng tôi về nhiều công việc cần thiết, nhất là những việc có liên hệ đến tình hình thời cuộc hiện nay. Khắc Tân nhìn Huy và quay nói nhỏ với chị Loan cùng với Dương Thị Quỳnh. Huy cảm thấy khó chịu với thái độ này của Khắc Tân, nhưng cố nén lòng. Huy không hiểu nội dung Khắc tân nói gì! Nhưng chị Loan nói: tôi cam đoan với Khắc Tân, Huy sẽ làm được.Hắn là kẻ nhà quê mà! Cái khó của hắn bây giờ là không có tiền mướn nhà để tiếp tục học Luật ở thành phố Sàigòn này!. Gia đình của hắn nghèo lắm. Loan biết điều này rất rõ.
-Anh có yêu tổ quốc Việt Nam không? Khắc Tân hỏi Huy.
– Tổ quốc ai mà không yêu. Huy trả lời.
– Anh có dám dấn thân để làm một hành động gì đó cho tổ quốc không?
– Tôi sẵn sàng đi vào quân đội cầm súng để bảo vệ đất nước, hay làm một việc gì đó khi đất nước cần. Trước mắt tôi là cố học để tốt nghiệp và sẽ trở thành một người trí thức hữu dụng. Khắc Tân cười nhếch môi và nói: Anh sẽ thực hiện được gì anh muốn. Chúng ta sẽ thực hiện được. Bây giờ chúng ta sẽ là những đôi bạn cùng nhau thực hiện mơ ước. Tôi sẽ gặp lại anh. Khắc Tân và Quỳnh ra khỏi cửa quán kem, trong khi Huy dõi mắt theo họ cho đến khi hai người khuất vào dòng người đông đúc .
Huy nhìn chị Loan cả hai đều nhìn nhau không nói, nhưng ngầm hiểu nhau, bước đầu của kế họach tương đối thành công. Huy nắm lấy tay chị Loan rời quán kem.
Ngày X, tại quán Bún Ốc trên đường Hồng Thập Tự. Khắc Tân gặp Huy và Chị Loan mà theo lời nói của Khắc Tân đây lần gặp cuối để sau đó là hành động. Lần gặp này, ngoài Khắc Tân ra còn có một sinh viên nữa, Khắc Tân gọi sinh viên này là Hoàng Dũng. Trông Hoàng Dũng. Huy thấy như là đã gặp nơi nào một lần rồi. Hoàng Dũng bắt tay Huy và nói nhờ anh Tân tôi mới biết được anh. Tôi nghe anh Tân nói nhiều về hoàn cảnh của anh, nên định gặp anh để giúp anh. Khắc Tân đã nói gì về tôi. Huy hỏi?
-Anh ấy nói anh có tư tưởng tốt yêu quê hương đất nước, anh là một sinh viên nghèo đang khó khăn về nơi ăn chốn ở để học hành. Có đúng không?
– Vâng tôi ở tỉnh về đây học. Sau một năm ba tôi mất do bom mìn chiến tranh khi ông đốn gổ trong rừng, gia đình tôi bị khủng hỏang kinh tế, cuộc sống hàng ngày mẹ tôi phải gồng gánh tất cả nên không thể cung cấp chu toàn cho sự ăn học của tôi. Tôi có dạy kèm một vài em học sinh kiếm tiền phụ vào việc thuê nhà để được tiếp tục việc học, nhưng không đủ chi phí.
– Anh có muốn vào sinh họat với nhóm chúng tôi không? Vào nhóm này, anh sẽ được làm những công việc nhẹ nhưng có tiền, anh khỏi phải dạy kèm trẻ em mà thù lao thì chẳng có bao nhiêu! Hoàng Dũng nói.
– Vâng xin các anh giúp đở tôi. Huy nói.
– Được. Tôi sẽ gặp anh lại, bây giờ tôi và anh Tân có việc phải đi.
Tại căn nhà mang số K trên đường Nguyễn Trãi Hoàng Dũng gặp Huy. Anh dài dòng về hiện tình thời sự và giới thiệu “ Phong Trào Bảo Vệ Quyền Lợi Sinh Viên Học Sinh” với Huy. Hoàng Dũng cũng nói rõ: vào Phong Trào này khi làm tốt Huy sẽ được một số tiền hàng tháng là 10 ngàn đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa.
– Công việc của Phong Trào là như thế nào ? Và làm tốt thì là sao? Huy Hỏi.
– Hòang Dũng : Công việc của Phong Trào đơn giản bước đầu là rãi truyền đơn chống chế độ Cộng Hòa và đòi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức…Làm tốt những việc như thế tổ chức sẽ đánh giáo cao về chất lượng công tác. Anh sẽ được trọng thưởng.
Ngày L, tại Trung Tâm Dự Bị Đại Học Trần Hoàng Quân, hàng ngàn tờ truyền đơn nội dung chống Chế độ VNCH và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bay đầy lớp Cổ Luật của giáo sư Vũ Văn Mẫu do Huy thực hiện. Để tránh sự chú ý của sinh viên khác .Theo lời hướng dẫn của Hoàng Dũng Huy mang truyền đơn bỏ vào cặp sách
(truyền đơn được in khổ nhỏ để dễ bảo mật).Khi gần đến giờ ra về, chuyển những bó truyền đơn ( đã mở sẵn ) xuống ghế và ngồi lên, sau đó đứng lên đi ra nhanh khỏi vị trí. Những lá truyền đơn bay lên tung tóe bởi hàng chục chiếc quạt máy gắn trên trần nhà.)
Việc làm thử thách lần đầu đã trót lọt, Huy báo cáo sự việc về cơ quan đồng thời nhận chỉ thị mới . Về phía Phong Trào. Hoàng Dũng nhiệt liệt khen ngợi Huy và hứa giúp cho Huy nhà ở để học hành đồng thời làm việc cho Phong Trào.
Cũng tại căn nhà mang số K, sau này mới biết là nhà của dân biểu Nguyễn Văn B trong Hạ Nghị Viện của VNCH.
Hoàng Dũng sắp xếp cho Huy một căn phòng nhỏ vừa đủ để chiếc giường và một bàn học. Thế là Huy được thưởng số tiền 10 ngàn đồng và có chỗ cư ngụ. Lòng Huy mừng nhưng cũng rất hồi họp. Vì đây là một công tác tương đối nguy hiểm. Nhưng nếu không phải Huy chắc khó người nào làm nổi, theo sự ước đóan của Thiếu Tá N cấp chỉ huy của Huy.
Qua công tác rãi truyền đơn trong khu Đại Học Dự Bị, Huy phát giác thêm 4 sinh viên nữa cũng làm công tác này. Họ phần lớn là sinh viên theo học năm thứ nhất .
Một ngày nọ, Hoàng Dũng gọi Huy đến một căn nhà mang số E trên đường Nguyễn Cư Trinh. Đến nơi Huy đã thấy có Khắc Tân, Dương Thị Quỳnh và 4 sinh viên cùng rãi truyền đơn với Huy ở Trung Tâm Dự Bị. Mọi người đều chờ Hoàng Dũng đến. Lần này, Hoàng Dũng đến với một người thanh niên khỏang 32 tuổi có nước da ngăm đen. Dũng gọi người thanh niên này là anh Ba và giới thiệu cùng mọi người.
Anh Ba bắt tay từng người và nói với những người có mặt : “Lãnh đạo Phong Trào Bảo Vệ Sinh Viên Học Sinh muốn có cuộc đấu tranh quật khởi, phối họp với các phong trào khác để xuống đường rầm rộ yểm trợ cho “quân giải phóng” ngoài chiến trường. Và Phong Trào Bảo Vệ Sinh Viên Học Sinh là nòng cốt trong công cuộc tranh đấu. Vì thế để chuẩn bị tốt cho cuộc tranh đấu các anh chị sau đây cần phải dự khóa học tập để sau này là cán bộ nòng cốt cho Phong Trào” .Hai người được chon dự khóa học trong đó có Huy.
Huy báo cáo sự việc lên Thiếu Tá N, kế họach được điều nghiên và cơ quan phản gián E 2 cũng đã nhập cuộc để hổ trợ cho Huy.
Gần ba tuần lễ không gặp chị Loan lòng Huy cảm thấy buồn. Thăm hỏi được biết chị Loan đang được cấp trên điều về phòng tổng họp tin tức để ghi nhận sự kiện đầu mối của Huy, nhưng ban ngày vẫn đến lớp bình thường, và cũng vẫn bám chặt Khắc Tân cùng Dương Thị Quỳnh.
Kể từ được Hoàng Dũng cho ở trong nhà đường Nguyễn Trãi quận 5, Huy giống như con chim bị nhốt vào lồng dường như là mọi sự sinh họat của Huy đều có người theo dõi.
Buổi chiều ngày L, Hoàng Dũng qua phòng của Huy cho biết ngày T, sẽ đưa Huy đến một địa điểm bí mật để học tập. Khóa học tập này kéo dài khỏang 2 tuần cho nên Huy cần chuẩn bị tư tưởng.
Buổi trưa ngày T, Huy được người chạy Honda ôm đưa đến một ngôi nhà trong xã Bình Phước Quận Hóc Môn giáp ranh quận Thủ Đức. Nơi đây Huy được chủ nhà cho ăn một bửa cơm và nghĩ tạm vài giờ chờ đêm xuống lên đường. Chủ nhà là một người đàn bà trung niên nói với Huy: cháu làm công tác tốt nên “ Phong Trào ” đã chú ý và đề bạc cháu, ráng cố gắng học tập để giúp nước sau này.
Khoảng 8 giờ đêm, bà đưa Huy qua hai ruộng mía đến một chiếc xuồng câu đậu ven con rạch. Bà bảo xuống xuồng câu, trên đó có sẳn một người thanh niên đang chờ sẵn để đưa Huy đi. Trời càng về đêm càng tối lạ thường, Huy chỉ nghe tiếng nói của người đàn bà chào gả thanh niên ra về dù bà chỉ đứng trên bờ con rạch cách chiếc xuồng câu vài mét. Thỉnh thoảng Huy nghe văng vẳng tiếng chó sủa vang trong xóm xa quanh con rạch. Gã thanh niên đưa cho Huy một bó câu cấm và bảo: Huy đóng vai như là một người đi câu đêm, để qua mắt an ninh xóm ấp tuần tiểu khi gặp.
Xuồng câu ra giữa dòng rạch thẳng hướng về miệt Lái Thiêu. Trời hừng sáng, xuồng câu đến điểm H. Gả Thanh niên và Huy vào một căn chòi. Gả ra lệnh cho Huy ngồi trên chiếc sạp gổ và lấy khăn đen bịt hai mắt của Huy lại và nói với Huy. Đây là lệnh trên anh cần phải thi hành. Trong lòng Huy không đồng ý cách hành xử như thế nhưng vì nhiệm vụ phải cắn răng nhịn chịu.
Từ khi bị bịt mắt Huy giống như người mù, đành phải chịu theo sự hướng dẫn của bọn họ. Tuy không thấy đường, như đầu óc của Huy đoán được là mình bị họ dẫn đi trên một bờ ruộng lúa và những gò đất cao khô.
Ước khỏang một giờ đồng hồ đi đường. Huy được tháo bịt mắt ra thì thấy mình đang ngồi trong một căn hầm. Phòng học là một sàn nhà bằng đất phía trên căn hầm. Huy biết như thế là do người hướng dẫn nói. Thật sự Huy cũng chưa từng thấy bao giờ, vì mỗi khi lên lớp những học viên đều bị bịt mắt. Học viên chỉ dùng tai mình để nghe lời giảng hoặc hướng dẫn của giảng viên mà thôi. Sau khi học xong học viên được hướng dẫn về hầm, khi đó mới được mở mắt ra.
Hai tuần lễ bị hành hạ thể xác khổ cực như thế. Đến lớp thì lại bị “ hiếp dâm “ lỗ tai, vì chỉ nghe toàn là những câu “chuyện chống Mỹ – Ngụy” hoặc những bài học tranh đấu nhằm phá rối nền an ninh của chế độ VNCH, mà Phong Trào Sinh Viên Học Sinh thành thị là mũi xung kích.
Có ba giảng viên phụ trách khóa học. Huy không được nhìn mặt những giảng viên này, nhưng qua giọng nói của một giảng viên dạy về môn “ phương cách vận động kết họp các phong trào Sinh Viên tôn giáo” Huy đã biết được một người đã từng gặp Huy tại căn nhà trên mang số E trên đường Nguyễn Cư Trinh. Đó là anh Ba người mà Hoàng Dũng giới thiệu với Huy.
Sau khi nhận báo cáo mật về nội dung khóa học, chương trình hành động của Phong Trào từ Huy, Thiếu tá N, quyết định đưa 2 tóan xung kích gồm 6 người là những sĩ quan trẻ có võ thuật đóng vai sinh viên vào trận để yểm trợ cho Huy, để phòng những bất trắc có thể xảy ra. Các toán này luôn đặt dưới sự điều động của Huy .Chị Loan cũng được bố trí trở lại với phần nhiệm như là người bạn tình của Huy. Chị và Huy xuất hiện thường xuyên câu lạc bộ sinh viên
Có chị Loan Huy cảm thấy sự cô đơn lẫn mất, tâm hồn phấn chấn cường độ làm việc được tăng cao.
Bên Phong Trào cũng không bỏ cơ hội tiến hành những kế họach đã được cụm tình báo C21 chỉ thị.
Cuối tháng 10 năm 1974, với sự xuất hiện của anh Ba một cán bộ tình báo của Cụm cũng là giảng viên môn “ Phương Thức Vận Động..” trong khóa học mà Huy đã biết được thông qua tiếng nói. Đại Học Luật Khoa dường như không tuần nào được yên ổn. Không cảnh sinh viên cướp microphone để tuyên truyền cho cộng sản thì có màn hăm dọa Ban Đại Diện Sinh Viên v.v
Chiều ngày Y tháng 10 năm 1974, Hoàng Dũng cho người nhắn Huy đến trình diện anh Ba tại một quán cà phê cạnh hồ con Rùa. Huy nhận lệnh từ anh Ba là phải có kế họach cho pháo đại nổ vào phòng Hành Chánh của trường Luật đồng thời vận động Sinh Viên tiến chiếm văn phòng Ban Đại Diện Sinh Viên, cùng lúc 10 ngàn truyền đơn chống chính quyền, chống chiến tranh đòi tổng Thống Nguyễn văn Thiệu từ chức phải được rãi khắp trong khuôn viên trường Luật trong tuần lễ sau cùng của tháng 10. Huy nhận lệnh, nhưng lòng thật lo lắng vì biết luôn có người theo dõi và sẵn sàng thủ tiêu Huy khi bị bại lộ.
Theo kế họach họach định. Khoảng 12 giờ trưa ngày H, khi sinh viên hết giờ ra về và khi có tiếng pháo nổ trên lầu 2 thì thành phần sinh viên điều khiển những quả pháo đại khổng lồ sẽ cho nổ tung văn phòng Hành Chánh.
Sau khi sắp đặt kế họach trình cho anh Ba đồng thời cũng báo cáo về cho Thiếu Tá N, trưởng cơ quan GF. Để có phương pháp đối phó hữu hiệu. Huy đích thân đến gặp riêng vị chỉ huy này bàn thảo kế sách . Huy cũng đã được gặp D1(Chuẩn Tướng T) và ông đã quyết định cho phá vỡ đầu mối, để bắt gọn các nhân viên và cán bộ cụm tình báo C21. Ông đoán rằng: nếu không phá vỡ đầu mối trước 12 giờ ngày H tuần lễ chót của tháng 10, e rằng tông tích của Huy bị lộ, như thế sẽ nguy hại cho chiến lược lâu dài trong đại học.
Một kế họach phá vỡ đầu mối được Thiếu Tá N trình lên D1 đã được chấp thuận.
Thành phần: chính là Huy và các anh em trong đoàn đặc nhiệm. Thành phần ngoai vi: Một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến của quận 5. Toán cảnh sát sắc phục có phương tiện là công xa…
11 giờ trưa ngày H như đã định, sinh viên lần lượt ra về anh Ba đến gần Huy nói nhỏ: Huy cẩn thận nhé. Bọn cảnh sát chìm trà trộn trong này nhiều lắm nhé! Ráng cố gắng thành công Phong Trào sẽ tưởng thưởng cho Huy. Anh Ba còn nói thêm, không biết sao hôm nay Cảnh Sát Đồ Bông nó lãng vảng gần khu vực này nhiều quá!
– Dạ em cố gắng, anh yên tâm.
11 giờ 30 phút sinh viên ra về càng đông. Huy và anh Ba đứng trong một góc để điều khiển kế họach. Trong khi đó Huy cũng đã bố trí nhân viên trong Đoàn Đặc Nhiệm đứng lẫn lộn vào các sinh viên trước lối ra vào cửa trường để ra dấu hiệu cho các nhân viên sắc phục đến bắt những sinh viên là nhân viên tình báo trong cụm tình báo C21.
Cứ mỗi cái gãy đầu hay gãy tai của anh em trong Đoàn Đặc Nhiệm thì lại có một tên tình báo viên hay cán bộ Cụm tình báo C21 bị nhân viên công lực tạm giữ. Gần 12 giờ anh Ba nóng ruột quay hỏi Huy: liệu kế họach được thực hiện tốt? Vâng thưa anh có thể thực hiện được, ngọai trừ các toán xung kích hành động chậm trể. Huy nói với anh Ba: hay là anh Ba và Huy ra phía cổng trường để quan sát rõ hơn. Anh Ba đồng ý! Vừa đi gần đến cổng, Huy thấy một nhân viên trong Đoàn Đặc Nhiệm đưa tay trái lên gãy vành tai phải của anh, liền ngay sau đó hai anh Cảnh Sát mặc Sắc phục đến còng tay của Huy và anh Ba tống lên công xa đưa về bót Cảnh sát Quận 5. Huy nhìn anh Ba và ngược lại anh Ba nhìn Huy trong nỗi tuyệt vọng.
Vào phòng điều tra của Ty Cảnh Sát Quận 5. Huy bị thẩm vấn viên tra tấn thẳng tay . Anh Ba cũng thế. Mặt của Huy bị sưng vù bởi cú đấm của anh Trung Sĩ T thẩm vấn viên . Sau màn dàn chào phòng thẩm vấn của Ty Cảnh Sát Quận 5. Anh Ba và Huy được tách rời ra. Một thẩm vấn viên khác đến đưa anh Ba qua một phòng khác . Riêng Huy vẫn bị giữ lại và sẵn sàng chờ nhận tiếp những cú đấm sấm sét không thương tiếc của Trung Sĩ T.
Bị đau, nhưng Huy không một lời tiếc lộ tông tích mình là ai! Trung Sĩ T bắt Huy hai tay chống lên tường và khám xét. Móc hết giấy tờ trong người của Huy.
Huy không biết ông tìm cái gì từ một chiến hữu của ông, khi cái công việc ông đang làm để hàng tháng ông có tiền nuôi sống bản thân và gia đình là do người chiến hữu vừa bị ông tra tấn đem đến.
Điện thoại reo, ông không thèm bắt ông chỉ cấm đầu vào cái mớ giấy tờ là những thẻ sinh viên và những giấy hoãn dịch sức khỏe hoặc học vấn trong cái bốp ông vừa lấy được từ túi quần của Huy. Xem chừng ấy giấy tờ, có lẽ không thỏa mãn tính chuyên nghiệp của ông, nên ông bảo Huy cỡi hết đôi giày để ông tìm chứng tích. Khi Huy cởi xong hai đôi giày đưa cho ông. Ông thấy dưới lớp vãi lụa dùng lót chân có một tấm card. Ông vội mừng và quay sang hỏi Huy: Cái thứ gì anh để trong này? Huy không trả lời câu hỏi của ông mà nhìn thẳng vào mặt của Trung Sĩ T. Huy thấy sắc mặt của ông biến đổi lạ thường. Ông đến gần Huy dịu giọng hỏi: Thiếu Úy là người của mình à ?
-Vâng. Anh đừng lo ngại. Việc anh anh cứ làm. Tôi chỉ trách anh là anh quá hăng say tìm hiểu về cái bóp của tôi mà anh quên nghe những cú phone từ mọi nơi gọi đến can thiệp cho tôi, đôi khi trong đó có cú phone của Chuẩn Tướng Phụ Tá Tư Lệnh Đặc Biệt.
-Trung Sĩ T, ra vẽ bối rối. Ông liên lạc với Thiếu Tá Hữu Trưởng F Đặc Biệt người chỉ huy của ông.
Sau cú phonre liên lạc của Trung Sĩ T. Thiếu Tá Hữu xuống gặp Huy tại phòng thẩm vấn tỏ vẽ hối tiếc và xin lỗi Huy. Đích thân ông đưa Huy khám sức khỏe và dùng bửa với ông.
Huy đã được Thiếu Tá N, trưởng cơ quan GF đề bạc với cấp trên ân thưởng Đệ Tam Đẳng Chiến Công Bội Tinh.
Thế là Cụm tình báo C21 đã bị sa lưới với 20 nhân viên trong đó có bốn cán bộ trung và cao cấp. Anh Ba là cán bộ tình báo nòng cốt của C21 vai trò như là một phái khiển tất cả các mạng lưới gián điệp trong các đại học miền Nam . Hoàng Dũng là Phó Chủ Tịch Phong Trào Bảo Vệ Sinh Viên Học Sinh, Khắc Tân là Tổng Thư Ký Phong Trào Sinh Viên các Tôn Giáo và Dương Thị Quỳnh cán bộ trí vận.
Sau công tác vô hiệu hóa cụm tình báo C21, Huy không còn làm việc với Thiếu Tá N và Đoàn Đặc nhiệm nữa. Cấp trên biệt phái Huy sang Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương nhận công tác mới.Huy cũng được biết vị chỉ huy khả kính, Thiếu Tá N cũng không còn là trưởng cơ quan GF, ông cũng được cấp trên điều sang cơ quan khác.
 
Duy Văn Hà Đình Huy