Chúc Anh : XUÂN TRỜI ÂU

                                                Thơ Ơi

                                                             Dẫu

                                                             đời

                                                             mưa

                                                             nắng

                                                             khóc

                                                             cuời

 

                                                             ta và thơ

                                                             vẫn

                                                             là

                                                             người

                                                             tình

                                                             thân

                                                             Chúc Anh
                                                          Jan. 07, 2011
                                                              3:00pm

Anh …

 

 

Ngày lẻ 13 !

biet viet gì?

 

Nguời đời

xa tránh ,

khắc truyền ghi

 

Gian truân ?

khong sợ .

lời đồn nhảm

 

Cột gót

chân mây

gửi chữ " Si " .

 

 

chúc anh

Jan. 13, 2011

                                                                                         12: 03am

XUÂN ĐỢI CHỜ

 

Yêu thơ
ta trải giấy hoa
Đón Mừng Xuân Mới
gửi ba bốn vần
Về Người
vóc dáng phong trần
Tâm hồn cao trọng :
Chữ ÂN , Chữ TÌNH

Mai , Đào
hương nụ xinh xinh
Giữa rừng hoa thắm
nép mình chờ ai
Đâu đây
vọng khúc Thiên Thai
Khơi lòng
chuỗi ngọc
ai cài xa xưa

Nhớ nhung
nói mấy cho vừa
Dòng thơ nhắn nhủ :
sao chưa trùng phùng ? (Chúc Anh)

 

Thơ em

trỗi nhạc vang lừng

Nghe như

ngàn tiếng suối trong mát đồi

Bình minh

 ửng giọt nắng rơi

Rót lòng độc giả

 bao lời pháo bông

 

Viết giùm ai

chữ mặn nồng

Ru xanh ánh mắt

tình hong mơ màng

Xuân về

lộng tiếng chim vang

Đón mừng Năm Mới

đôi hàng thơ nghiêng

Nôn nao 

    gió lượn bên thềm

Thắt lòng khăn ấm

dải duyên tơ hồng ( Trầm Vân)





Không

Không bao giờ phôi phai
Anh mãi là thần tượng
Là Ông Hoàng, thiên tướng
Là bóng mát che đời

Giữa không trung lưng trời
Theo cánh mây phiêu lãng
Đôi chim "nghèo" lang bạt
Hẹn cõi vắng bay về

Xứ người buồn lê thê
Nhớ ai, ai có thấu
Lòng sục sôi..nung nấu
Phút trùng phùng tâm giao

Bên vần thơ ngọt ngào
Hồn say ánh trăng bạc
Dập dồn dòng suối nhạc
Quên thế giới sầu miên.

chúc anh
1/25/11
9:30pm


XUÂN HỘI NGỘ

Thân gửi Quí Soeurs bạn,
Quí bạn Thiên Phước
Nhân dịp Xuân về
Trước thềm Năm Mới
Chúc Mừng quí bạn
Tình nghĩa phu thê
Tràn đầy hạnh phúc
Đẹp như Mai, Cúc
Dưới ánh Xuân nồng
Đời mãi tươi hồng
Như Đào, Lan, Cúc
Cuộc sống sung túc
Tiền của tuôn vào
Sức khỏe dồi dào
Như hoa Vạn Thọ…

Riêng Dòng Saint Paul
Quí Soeurs Cường Để
Bà Nhất , Bà Nhì
Soeur Vân, Soeur Chi,
Soeur Thu, Soeur Thương
Đầy ơn Chúa Mẹ
Thánh Cả Giuse
Saint Pierre, Saint Paul
Trọn đời tận hiến.

Chúc Anh

 

 

XUÂN NHỚ

Phố đỏ ! Xuân tàn..bước viễn phương
Chập chùng đồi núi giải phong sương
Chuông ngân tiếng vọng..hoài u uất
Thành quách ngập sầu nước nhiễu nhương

Man mác lòng ta thương nhớ ai
Chiều hôm xa vắng ngóng thôn đoài
Tà dương khuất bóng chìm phai sắc
Cung kiếm gẫy tàn lấp chí trai

Tang bồng tung cánh thỏa đam mê
Ta nguyện cùng vang một tiếng thề
Quyết chiến xua tan loài bạc nhược
Buôn dân, bán nước, bán tình quê

Ôi Ngọc Viễn Đông ! Mẹ dấu yêu
Ngàn Xuân chinh chiến dáng tiêu điều
Xứ người, con ước nguyền tô điểm
Mảnh đất quê hương nét diễm kiều.

chúc anh
(viết thay anh L.H.S.T.)

 

 

TÌNH SẦU BAO LÂU ?

Chỉ vài tiếng nữa
Sẽ qua ngày mai
Bao nhiêu sóng gió
Buồn khổ..đắng cay
Trôi vùng dĩ vãng
Như nắng chiều phai

Ta muốn hỏi ai :

Vì sao tình lỡ ?
Vì sao giận lâu
Vì sao hờ hững
Vì sao duyên đầu
     vướng vào
          ngõ tối ..

Tình sầu bao lâu ?

chúc anh
1/26/11
9:15pm



 

 

XUÂN TRỜI ÂU

(Viết tặng Hoàng , Thu

 France – Switzerland)

Xuân sắp về ! trong hoa tuyết bay
Ngập tràn khắp ngõ cõi trời tây
Mùa đông buốt giá hồn hiu quạnh
Lạc lõng, bước chùng..tay trắng tay

Chợt bỗng anh về kết dấu yêu
Họa con đường gấm ngát hương chiều
Vòng tay âu yếm mềm môi ấm
Anh khẽ thì thầm : say nét. xiêu.

Xa xứ, khó nghèo theo gót ta
Nhưng tình nồng thắm bóng đậm đà
Có anh, Xuân tuyết thành Xuân Mộng
Những cánh tim buồn bỗng nở hoa.

chúc anh
1/27/11

SẼ VỀ ĐÂU ?


 

Tặng Cẩm Thu – Suisse

Trao gửi Người dòng nhớ đậm sâu
Dù tình duyên thắm chẳng về đâu
Người âu người á..trời mây phủ
Vạn dặm, trùng dương nửa địa cầu

Thơ họa bóng chiều quyện nhớ thương
Bên kia trông ngóng lá thư hương
Bên này hong đợi ngàn cung điệu
Dòng nhạc du dương dạo phố phường

Người có nhớ đêm vạn ánh sao
Trên giòng nước bạc, sóng lao chao
Thuyền nan hai đứa cùng chèo chống
Kỷ niệm xưa..Người cất chỗ nào ?

Ta sợ nghiệt cay lắng đọng môi
Người vì chữ hiếu cách chia phôi
Se duyên tri kỷ cành hương lạ
Xóa dấu tình xưa hứa chẳng rời.

chúc anh
1/28/11

 

LƯU NIỆM
THỨ BẢY CUỐI NĂM

Thứ Bảy cuối cùng năm cũ xưa
Mừng Xuân !..tuần tới Lễ Giao Thừa
Dâng Trời Ngũ Quả muôn hương sắc
Tưởng nhớ Tổ Tiên Cúng Bánh, Dưa

Ba sáu (36) năm qua ta mất quê
Mẹ Cha khuất núi, lạc đường về
Dòng thơ gửi nhớ thương non nước
Nhớ biển-sông-hồ, nhớ chiếc ghe

Tân Mão – Xuân về dân khắp nơi
Sầu vương, gian khổ đến bao đời ?
Việt Nam nghèo đói, lòng đau buốt
Sóng đỏ tràn bờ, giọt đắng rơi

Dân Việt triền miên lắm đoạn trường
Xin Trời ban phát trọn tình thương
Việt Nam mau thoát giòng sông đỏ
Rừng Lá Cờ Vàng rợp bốn phương. 

chúc anh
1/29/11

 


 

CHỦ NHẬT CUỐI CÙNG NĂM



Cơn mưa bụi đưa ta về quá khứ
Lưu dấu ngày Chủ nhật Cuối Cùng Năm
Chú Cọp con khua tiếng chót "gầm gầm"
Ba hôm nữa : Lễ Mừng Xuân Tân Mão

Sinh năm " Khỉ " nên Canh Dần chao đảo
Ta mất đi bao dấu ái người thân
Nào Ông Cậu, Bà Bác, những ân nhân
Cả Người Mẹ ta hằng yêu thương quí

Đời mất Mẹ không còn chi thú vị
Lời thơ buồn Chủ Nhật cuối cùng năm
Ta đơn côi trong kiếp sống âm thầm
Gom tất cả gửi mây dòng tâm thức

Dù vẫn biết đời hư hư thực thực
Là vui buồn pha trộn chất đắng cay
Ta mong tìm ai hỡi chốn cung mây
Để gửi trọn giòng tâm tình lưu niệm

Chợt tiếng nhạc từ đâu như xâm chiếm
Thấm cõi hồn như khuyên nhủ – vấn an
Làn gió hương như quấn quyện cung đàn
Ôi Chủ Nhật Cuối Cùng Năm..Lưu Luyến !

Chúc Anh
Chủ nhật 30.01.2011
11:30am


 






HÙYNH VĂN THÔI : LONG THÀNH NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI THÁNG

LONG THÀNH NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI THÁNG

30 Tháng 04, 1975

Với số tuổi chẵn chò bảy bó, tôi nghỉ rằng không còn sống bao lâu nữa, nếu không kể lại chiến tích của anh em Nghĩa quân, Địa phương quân, các đơn vị tăng cường như BCH/ Tiểu đoàn ĐPQ đóng tại đình Lộc-An do Đ/úy Giàu, Tiểu đoàn phó, chỉ huy và nhất là hai khẩu 105 đặt tại sân của trại gia binh Nguyễn-hửu-Ngộ , thì e rằng tôi sẽ mang theo xuống mồ không ai được biết.Viết lại chiến tích nầy không ngoài mục đích làm dày thêm chiến công của QLVNCH trong công cuộc chiến đấu với quân CS, bão vệ Tổ-quốc, đem lại sự an ninh thịnh vượng cho đồng bào. Vì thời gian quá dài nên tên của các đơn vị có thể bị lầm lẩn, mong các chư vị bỏ qua cho và xin được mách bảo để sửa sai.

Nói đến Long-Thành mọi người đều biết đây là một trong sáu quận lỵ trù phú thuộc tỉnh Biên-Hòa, nằm trên QL.15, giữa Saigòn và Vũng-Tàu, Long-Thành có nhiều đặc sản như soài-riêng, chôm-chôm, mít tố-nữ v.v.Người dân Long- Thành hiền hòa, cần cù và nhẫn nại, chịu khó làm ăn. Long-Thành tăng phần đẹp đẽ và tráng lệ sau khi con đường QL.15 được nới rộng vào cuối thập niên 60, với 3 ấp của người Công-giáo: Thái-Lạc, Liên-kiêm-Sơn và Văn-Hải, trong đó ấp Thái-Lạc là thành trì chống cộng kiên cường với hàng rào tre bao bọc kiên cố, con chó đi qua không lọt.

Sau khi mản khóa 3/68 SQTB Thủ-Đức, đi chiến dịch Diên-Hồng ở Tiểu-khu Hậu-Nghĩa, sau được chuyển về phường Chí-Hòa, Saigòn. Hết chiến dịch được đi học khóa CTCT tại trại Nguyễn-Trải, Biệt-khu Thủ-đô. Sau đó chọn Tiểu-khu Biên-Hòa cùng với 6 tân sĩ quan khác. Một cuộc rút thăm 6 sĩ quan đi sáu Chi-khu và một phục vụ tại phòng CTCT Tiểu-khu, thăm của tôi là Chi-khu Long-Thành, ban CTCT. Chắc tôi có duyên nợ với Long-Thành nên đề nghị anh em hoán đổi, không ai chịu đổi và thời gian phục vụ của tôi từ năm 69 cho đến 75 luôn.

Tin tức chiến sự từ miền Trung bay về làm lòng người Long-Thành bất ổn, nhất là hàng ngày nhìn thấy hàng đoàn xe đò hướng về Sàigòn, chở đầy ấp người từ trong xe cho đến trên mui dân di tản từ miền Trung. Tôi bàn với bà xã là mình sẽ tử thủ khi chiến sự lan đến đây, sau thời gian ngắn cầm cự, mọi việc sẽ đươc giải quyết trên bàn hội nghị, vợ tôi cũng đồng ý như vậy. Nhưng khi thấy Tiểu-khu Long-Khánh cùng Sư-đoàn 18 di tản một phần lực lượng hướng về Bà-Rịa,

Vùng-Tàu và một phần về tái phối trí tại Long-Thành, tôi nghỉ rằng chiến sự trước sau gì sẽ tới đây, nên ngày 25/04 tôi để vợ và ba đứa con nhỏ về quê Ngoại ở Cây Chàm, Biên-Hòa.

Sáng ngày 26/04, quân CS tràn ngập ấp Bà-Ký, quốc lộ 15 bị cắt đứt, mãi đến trưa, lực lượng giải tỏa gồm TD3/45ĐPQ và Chi-khu Long-Thành đánh bật quân CS ra khỏi ấp, tái lập lại giao thông QL.15.

Cũng ngày 26/04, vợ tôi cùng đứa cháu gọi tôi bằng cậu, đi chiếc mini Vespas Ducati xuống lại Long-Thành với mục đích mang ít đồ đạc giá trị về Biên-Hòa, nhưng đến chiều mợ cháu về lại Biên-Hòa với hai bàn tay không. Sau khi vợ và cháu ra về, Đ/úy Vũ-đình-San, Trưởng ban 5 Chi-khu, đến thăm, Đ/uý San nói hiện tại ở Saigòn các cao ốc được phát quang để trực thăng đáp xuống bốc họ ra biển, còn mình ở đây tử thủ. Long-Thành là cửa ngõ sau cùng bảo vệ Thủ đô Saigòn, nếu Long-Thành mất Biên-Hòa và Saigòn sẽ mất theo. Đồng quan điểm với Đ/úy San và vì hai chữ tử thủ đã ăn sâu vào tâm não rồi nên tôi không cãm thấy nao núng. Sau khi từ biệt Đ/uý San ra về, tôi bèn leo lên trần nhà lôi những bao cát và vỉ sắt xuống, vì là nhà ở của các cố vấn Mỹ ở nên trần nhà được trang bị như vậy để chống pháo kích, bao cát đem xuống được tấn trước cửa ra vào độ hai lớp, bổng tiếng nổ đùng.. đùng.. đùng liên hồi, NQ Long, phụ việc cho nhà Th/Tá Thọ, Chi-khu Phó, chạy ngang tôi hớt hải la VC pháo kích ông ơi!. Mình mẩy đầy bụi bậm và màng nhện, tôi xối đại vài gáo nước xong vào nhà mặc quần áo, trang bị gọn gàng, ngoài cây rouleau, thêm khẩu M16 và nón sắt hai lớp có lưới cùng áo giáp. Tiếng pháo vừa lơi thì tiếng ầm ầm của chiến xa T54 đã đến chợ từ hướng Bình-Sơn, một phát súng của T54 đã làm bể tháp nước của quận, hai T54 chạy huốt qua Chi-khu, hé cửa nhìn ra, tôi thấy Tr/Tá Hà-văn-Sáu, Quận Trưởng kiêm Chi-khu Trưởng bắn vói theo hai quả M79, hai T54 chạy thẳng về hướng làng Cô-nhi Long-Thành. Hai nhân viên trực ở ban ANQĐ quận bỏ văn phòng chạy ngã sau trước nhà tôi, một trong hai người làm rớt khẩu Colt 45, quay lại nhặt trước khi leo rào qua nhà của thương gia người Ấn, tôi nghe tiếng càm ràm lơ lớ tiếng Việt của chủ nhà. Lúc đó tôi nghe tiếng kêu gọi của Tr/Tá Sáu: “ anh em đâu rồi, ra gặp tôi”. Tôi cầm súng đi ra, nhìn quanh không thấy ai ngoài tôi, Tr/Tá bèn ra lệnh “ anh Thôi ra cổng sắp xếp dùm tôi”. Tuân lệnh và khi ra đến nơi chỉ thấy vài ba NQ có mặt, vì là buổi chiều nên anh em chạy về nhà cơm nước và bị pháo dồn dập nên không dám chạy về đơn vị. Sau đó, họ lác đác chạy vào, cuối cùng cũng được chục móng lại thêm hai quân nhân của hậu cứ TD316/ĐPQ (?), Trung sĩ nhất Ngộ và một HSQ cùng vài anh em áo đen và Quận đòan Trưởng Lê-bá-Bửu.

Sau khi ổn định nhân sự xong, tôi lệnh cho anh em NQ kéo concertina và ngựa gỗ làm chướng ngại vật trước cổng Chi-khu.

Độ 7 giờ, tiếng xích của chiếc PT76 nghiến mặt đường từ từ tiến lên từ hướng chợ, khi đến gần cổng của BCH/CSQG/Quận Long-Thành dừng lại vì lựu đạn và M79 bắn xối xả của anh em phòng thủ, tôi đang ở trong bunker, nằm ngay góc Chi-khu và văn phòng ban ANQĐ/Quận, xuyên qua lỗ châu mai nhìn thấy những bóng đen lốp ngốp phía trên mui xe, tôi liền nhả đạn hai băng cong M16, những bóng đen ngả xuống vệ đường, trong ánh chớp của những quả pháo và trong ánh mắt phải tôi thấy ba bóng đen dìu nhau chạy vào văn phòng ban ANQĐ/Quận Long-Thành. Chiếc PT76 lùi về phía chợ và ẩn núp đâu đấy. Pháo vẫn tiếp tục rơi khắp nơi từ hướng Binh-Sơn, An-Viển và trại Quyết-Thắng, tôi đi một vòng quan sát mặt trước của Chi-khu, thấy anh em phòng thủ lên tinh thần sau đợt dự định vượt tuyến của chiếc tăng lội nước PT76 địch.

Đến khoảng độ hơn 8 giờ tối, hai chiếc T54 chạy huốt về hướng làng Cô-nhi Long-Thàmh, bây giờ quay trở lại, tiếng xích sắt nghiến mặt đường nghe rợn người, khi đến ngã ba hai chiếc dừng lại quan sát vì buổi chiều chúng không thấy chướng ngại vật mà bây giờ thì đầy rẩy. Thình lình chiếc đi đầu rồ máy cố vượt qua, nhưng vừa đến ngay cổng trại gia binh Nguyễn-hửu-Ngộ, những quả đạn 105 trực xạ ngay pháo tháp, các tay cán binh tùng thiết bị những binh xăng quanh pháo tháp phựt cháy như cây đuốt, té nhào xuống đường như trong cảnh cinéma, bị trúng đạn xe lảo đảo đè bẹp các concertina, lướt qua cổng Chi-khu, lực lượng phòng thủ bồi thêm và chiếc T54 dừng lại trước cổng Cảnh sát Quận, trước mắt tôi, một cán binh mở nắp xe chui ra, có lẽ là tay lái tăng, bị trái lựu đạn của tên nằm chết cháy trên bửng che dây xích nổ kết liểu đồng đội sinh bắc tử nam. Nhờ Ông Bà hộ độ nên tôi vô sự.

Chiếc thứ hai thấy vậy bèn rẻ trái hướng về phía sau chợ. Ngọn lửa còn phựt cháy sáng một góc trời, tôi nghe tiếng reo hò phấn khích của anh em phòng thủ phía sau Chi-khu.

Rất tiếc là tôi không được biết danh hiệu của hai khẩu 105 đặt tại sân của trại gia binh Nguyễn-hửu-Ngộ, trước khi có ý định kể lại câu chuyện nầy, tôi đã liên lạc vài pháo thủ ở Georgia cũng như trong ban tổ chức buổi hội ngộ hàng năm của pháo binh, đều không có kết quả. Rất mong đón nhận một vài tin tức liên quan từ các chiến hữu nhà pháo để chiến tích của hai khẩu 105 nói trên không bị quên lãng, vì nếu không có hai quả 105 trực xạ đó thì tình thế sẽ thay đổi khác và chưa chắc gì Chi-khu giữ vửng cho đến chiều ngày hôm sau.

Độ hơn nửa tiếng đồng hồ, tiếng rên la của ai đó vang lên một cách đau đớn phát ra từ bên trại Nguyễn-hửu-Ngộ, một toán lục soát được phái đi, qua đến nơi, tiếng rên im lặng nên toán lục soát trở về. Độ mười phút sau, tiếng rên la lại tiếp tục một cách dữ dội hơn trước, kỳ nầy anh em dẫn về một cán binh CS bị phỏng vì xăng và cho hắn nằm trên bực thềm của ban quân y Chi-khu không canh giữ. Tôi vào bunker nằm ngã lưng trên phản của anh em NQ phòng thủ Chi-khu, tiếng pháo có lúc lai rai, có lúc dồn dập đì đùng đâu đó xung quanh chợ và Chi-khu, sau hơn một giờ nằm nghỉ, tôi lòm còm ngồi dậy, leo lên chòi gác, quan sát khắp nơi, dưới ánh trăng thượng tuần tôi thấy ai nằm ngay cổng ra vào, tôi lên tiếng hỏi, TS1 Ngộ trả lời: cái thằng bị phỏng lợi dụng tiếng pháo dồn dập bỏ chạy, em cho nó mấy phát nên nó nằm ngay đó. Tôi lại vào bunker nghỉ tiếp, hai tiếng sau lại lò mò leo lên vọng gác quan sát và la lên hỏi, ai lại nằm dọc theo đường mương của cổng nữa đây, có tiếng trả lời của TS1 Ngộ, em thấy một tên băng qua đường từ hướng văn phòng của QCTP/Quận, trên tay cầm hai quả lựu đạn nên em cho nó vài phát. Tôi cảm thấy an tâm hơn khi có TS1 Ngộ sát cánh bên cạnh. Dưới ánh trăng lờ mờ tôi thấy một vài cảnh vật di động trên sân thượng của một nhà lầu ở bến xe Long-Thành/ Biên-Hòa, tôi liền cho vài quả M79 lên đó, nhưng nhìn kỹ lại thì ra gió đẩy đưa ngọn của những chậu cây kiểng.

Khỏang độ 3-4 giờ sáng, chợ Long-thành đã bị phát hỏa mà nguyên nhân cũng dễ hiểu do ai gây nên, ngọn lửa làm sáng rực một góc trời.

Độ 7 giờ sáng ngày hôm sau, chiếc PT.76 lần nầy quyết tâm vượt qua cổng Chi-khu nên nó chạy hết tốc lực, nhưng hỏa lực của anh em phòng thủ buộc nó dừng lại ngay cổng trước mặt tôi. Thiết kế của PT.76 cũng giống như M.113 của ta, nên khi cửa hậu vừa hé mở, tôi liền cho vào xe hai băng cong M16, cánh cửa mở toang ra, hai xác ngã đè lên nhau nằm bất động. Một HSQ truyền tin xách súng leo lên chỗ tôi đang đứng, thấy hai xác đang nằm đó liền bắn mấy phát, tôi bảo người ta đã chết rồi đừng bắn nữa. Lúc nầy Chi-khu được tăng cường trung đội 57/NQ (?) và sau đó được tăng cường thêm một đại đội/ĐPQ cùng với BCH/TĐ/347(?) do Tiểu đoàn phó Đại úy Giàu chỉ huy.

Từ chiều hôm qua cho đến bây giờ, trong bụng trống rổng không có gì để bỏ vào, tôi bèn bảo một em NQ vào nhà tôi lấy gạo nấu cơm, vợ tôi, trước khi dẫn ba đứa con về Biên-Hòa, đã chuẩn bị cho tôi một nồi thịt kho tử thủ, do đó anh em chúng tôi vững bụng.

Khỏang 9 giờ, Trung đội 57 NQ lục soát bên nhà Đ/úy Trưởng Chi ANQĐ dẫn về Chi Khu trình diện Trung Tá Chi Khu Trưởng hai tên cán binh CS, mặt còn non choẹt, Trung Tá ra lệnh đem bắn bỏ. Anh em NQ dẫn hai tên cán binh ấy ra đến cổng và ra lệnh cho chúng chạy, xong anh em bắn vói theo, một tên trúng đạn còn một tên chạy thoát. Độ hơn nửa tiếng đồng hồ sau, Trung đội Trưởng báo cho tôi biết còn một người nữa bị thương ở chân và không đi được, tôi bèn đi qua coi xem sao. Khi đến nơi, tôi thấy một người trạc độ trên dưới 40, tướng có vẽ như cấp chỉ huy. Anh ta bảo: tôi là D trưởng; tôi có vẽ như không tin lắm, đoán được ý tưởng của tôi, anh ta bèn lết lại phuy nước của gia dình Đ/úy Trưởng Chi ANQĐ móc ra một khẩu K54 để chứng tỏ mính là cấp chỉ huy. Tôi giao khẩu k.54 cho Trung đội Trưởng NQ giữ, tôi không giữ khẩu K.54 đó là vì tôi đã có một khẩu rồi, nhưng tôi đã cho Đ/úy Quý, sở dĩ tôi có khẩu K.54 đó là: một hôm VC đặt súng cối và hỏa tiển bắn vào Chi-khu ở hướng ấp Bình-Lâm, xã Lộc-An, Đ/úy Quyền cho lệnh cây cối cơ hửu Chi-khu bắn vào hướng súng của VC, thay vì Đ/úy cho tọa độ của hướng súng Đ/úy Quyền cho tọa độ ngay mẫu mía 7 tháng tuổi của tôi và mía bị sạt hết một góc, tôi liền bảo tay giữ súng cối lần sau nếu có lệnh của Đ/úy Quyền phải tránh tọa độ hồi hôm. Trung-tá Hà-văn-Sáu biết được câu chuyện đã lệnh cho ban 3 thôi không chấm tọa độ vào đám mía của tôi và của những người chung quanh nũa. Trong lúc tôi đi vòng quanh đám mía để quan sát, chú bé làm cỏ mía cho tôi đã nhặt được một bịch nylon hơi nặng gói rất kỹ, mở ra mới biết là khẩu K.54.

Trung đội Trưởng hỏi tôi “tính sao đây Tr/úy?”. Tôi nghỉ cuộc chiến đang tiếp diễn nên bảo “y lệnh của Tr/tá”, thế là tên D trưởng được thả ra đường QL.15…

Tiếng pháo có vẽ lơi dần, anh em NQ đồn trú, tăng viện và một bộ phận của BCH TĐ 347/ĐPQ (?) đang lục soát và bố trí chung quanh Chi-khu. Nghe nói Tiểu-khu sẻ tăng viện một đơn vị thiện chiến bằng trực thăng vận cho Chi-khu.

Tr/Tá Thới, Tham mưu phó hành quân Tiểu-khu đang bay thị sát trên bầu trời Long-Thành, làm anh em vững tâm chiến đấu. Đây là cuộc điện đàm giữa hai vị Tr/Tá, Tham mưu phó hành quân và Chi-khu Trưởng mà Đ/uý Long, P2 /Quân Đoàn III kể lại khi cùng tôi bị tập trung cải tạo tại Trung Tâm YTTV/ Tiểu-khu Long-Khánh, vì Đ/úy có gia đình đang sinh sống tại xã Phú-Hội quận Nhơn-Trạch nên theo dỏi diển biến cuộc chiến tại Long-Thành trên làn sóng điện.

Tr/Tá TMP/HQ hỏi: “ ai đã diệt chiếc T.54 ở cổng Cảnh-sát và chiếc PT.76 ở ngay cổng Chi-khu vậy?”.

Tr/Tá Chi-khu Trưởng: “ chiếc T.54 do hai khẩu Pháo binh tăng phái trực xạ, còn chiếc PT.76 do công của sĩ quan ban 5 và anh em đồn trú Chi-khu.

Tr/Tá TMP/HQ: “ tôi sẽ thưởng 100.000. đồng cho anh em Chi-khu.

Câu chuyện đã xảy ra 36 năm rồi được kể lại cho vui, nhưng lúc đó nghe xong cũng ấm lòng chiến sĩ.

Tiếng nổ vẫn đều đều trên bầu trời Long Thành, lúc 3 giò chiều, chiếc T.54 còn lại đang sục sịch ở đầu hẻm vào ấp Liên-kim-Sơn, tôi liền mang hai khẩu M.72 ra nấp ở trụ cổng dự tính chờ T.54 đưa cái hông ra sẽ cho nó một phát. Độ 10 phút sau, một phát đạn nổ ở tòa nhà của Chi-khu trưởng, ngói bay tứ tung, đứng dậy nhìn vào tôi thấy Tr/Tá Sáu đang đứng dưới balcon, yên tâm tôi lại núp tiếp, sau 5 phút quả thứ hai nổ tiếp, lấn nầy đứng dây không thấy ai hết mà thấy hai quân nhân vai mang balô, tay cầm súng bỏ vị trí phòng thủ chạy vào ở hướng phải. Tôi liền la: “chạy đâu vậy?.”. Một trong hai người bảo rằng “ họ đi hết rồi ông ơi”. Tôi ném khẩu M.72 xuống đất, chạy vào bunker sách khẩu M.16 chạy vào ban truyền tin, một NQ chạy theo tôi phía sau nói: “súng của em Tr/úy”, tôi ném súng lại và như vậy tôi chỉ còn hai qủa lựu đạn trên dây ba chạc và khẩu rouleau đeo bên mình, tôi không còn kịp để chạy vào nhà lấy thêm một món gì cả, ngay cả ba con heo đất của ba đứa con tôi, ít nhất vài ngàn mỗi con, rất may là trong túi còn sót lại giấy 2.000 đồng, nên tôi đở vất vã trên đường di tản. Chạy vào đến ban truyền tin, không một bóng người, một trong những máy còn khè khè chưa kịp tắt. Xuyên qua ban viễn thông đến khu vực pháo binh không còn ai ngoài xác một NQ thuộc trung đội 54 phòng thủ nằm vất vưởng trên miệng hố cá nhân, nhìn xuyên qua bãi đáp trực thăng thấy bà con đang lốp ngốp băng qua hàng rào kẻm gai, tôi cố chạy để bắt kịp đoàn người. Qua khỏi vòng rào gặp NQ Phụng, thuộc trung đội 54 phòng thủ Chi-khu ca vọng cổ rất mùi, bị thương ở chân, tôi bảo NQ chạy theo tôi dìu Phụng vào xóm nhà gần đó để lánh nạn vì nhà của Phụng cũng gần đau đây, sau nầy nghỉ lại tôi cảm thấy hối hận vì không giúp được gì cho đứa em bị thương. Khi bắt kịp đoàn người phía trước, Tr/T Sáu bị thương nhẹ ở chân nên được trực thăng xuống bốc. Tôi theo đoàn quân của BCH/TĐ ra đến rẩy dưa được lệnh dừng chân, hai phản lực thi nhau ném những quả bom xuống khu vực địch, những cột khói đen bốc cao lên nền trời u buồn, trời đất cũng không vui khi Long-Thành đã bỏ ngỏ, nơi mà tôi sống và làm việc suốt 6 năm biết bao kỹ niệm vui buồn. Đoàn quân tiếp tục di chuyển về hướng xã Tam-An, nhưng vì trời tối nên đoàn quân được lệnh nghỉ đêm trên bãi ruộng khô phía sau xã. Đến khuya bọn du kích xã bắn B40 ra quấy rối làm tôi phải bò đến bờ đê để ẩn núp. Đ/úy Giàu gọi đơn vị pháo binh ở Bến-Sang thuộc quận Nhơn-Trạch yểm trợ, hơn chục quả pháo được rót vào xung quanh xã, tiếng súng bắn ra từ xã im bặt cho tới sáng ngày 28-04-1975. Nhờ mặc áo giáp nên đêm đở lạnh và nhờ ly sữa của Đ/úy Giàu mời nên tôi cảm thấy hưng phấn, ly sữa ân tình đã làm cho tôi nhớ hoài, xin gởi lời cám ơn đến Đ/úy. Đoàn quân tiếp tục lên đường hướng bờ sông Tam-An. Khi ra đến bờ sông, một chiếc ghe bầu đang neo ngoài giữa dòng mà không dám vào bờ để rước đám người mới đến vì sợ quá tải, sau nầy tôi được biết như vậy là lúc đó có người bạn chí thân của tôi là Quận đoàn Trưởng Long-thành Lê bá Bửu đang có mặt trên chiếc ghe bầu đó. Gọi máy và đợi mãi không thấy phum của Giang-đoàn đến, một ghe bầu đang chở đầy gạch chạy ngang bị gọi vào và buộc phải tuôn gạch xuống bờ để chở đoàn người qua bên kia sông, gạch được tuôn xuống gần hết, năm chiếc phum đến và đoàn người lần lượt lên hết, nhìn chủ ghe và một vài nhân công mặt mày tiu nghỉu, tội nghiệp, không biết Đ/úy Giàu có bồi dưởng họ không, xin chủ ghe và công nhân hảy thông cảm vì chiến sự đang đến hồi khốc liệt. Đến chiều tối, chúng tôi đến Thành tuy Hạ, Đ/úy Hùng (cựu Trưởng ban 4/Chi-khu Long-Thành) tiếp đón tôi niềm nở và đãi tôi một tô mì ăn liền và chai coca rất ấm bụng. Đ/úy Hùng bảo tôi ra ngủ ở nhà chùa kế bên sáng sẽ tính, nhưng đến gần sáng VC lại pháo vào làm tôi theo đoàn người hướng vế Cát-Lái, lên phà để qua bên kia sông, gặp lại TS1 Trần quang Hiến trên phà, hai anh em mừng rở sau những giờ phút nghẹt thở ở Long-Thành, TS1 Hiến có tài bắn súng cối, nghe nói chiếc T54 còn lại ẩn núp đâu đó ở gần hội đồng xã Phước-lộc nên cây súng được dựng đứng trên dưới 85%, đạn bắn đi anh em hồi hộp và sau khi thấy cột khói bốc lên ở đâu đó gần HĐX hay trường Trung học Long-thành, sau vài phát tôi cảm thấy không an toàn nên bảo thôi bắn. Phà đến bên kia bờ, vừa lên thì được lệnh của đám người nhái “ai muốn về Sàigon hảy bỏ súng đạn tại đây”, nhìn thấy một đống súng đạn mà tôi ngao ngán, tôi bàn với TS1 Hiến nếu bỏ súng đạn lại và đi từ đây đến xa lộ, một thằng con nít ra hù dọa mình cũng sợ, thôi ở lại đây, chiều tối xuống cầu phà ngủ đở sáng mai sẽ tính. Hai anh em vào quán kiếm gì bỏ bụng cho vững, sau đó lửng thửng xuống cầu t&ag
rave;u, mấy chiếc phum đang neo, radio mở nhạc quân hành inh ỏi và bên kia là tàu lớn đang đậu với đoàn người tay xách nách mang đang lũ lượt bước lên vừa dân sự quân sự. TS1.

Hiến vừa đặt balô xuống và chuẩn bị đặt lưng, một tiếng nổ lớn làm tung cao cột nước trước mũi một tàu nhỏ và liên tục sau đó, thế là tàu lớn, tàu nhỏ tranh nhau nổ máy chạy rối loạn, tôi và TS1 Hiến cũng chạy theo đoàn người hướng ra xa lộ. Trên đường tôi nhìn thấy một đôi dép của ai đó bỏ lại để chạy chân không cho nó nhanh, không biết chạy nhanh có tránh được đạn không nhỉ, tôi bèn nhặt đôi dép để dùng khi cần. Khi đi ngang một ấp người Công giáo gần xa lộ mà tôi không biết tên, thình lình tôi nghe ai gọi tên tôi, té ra Tr/úy Thọ, có thời gian đại đội của Thọ đóng tại đình Lộc-an và có nhiều lúc Thọ phải ra gặp tôi để lảnh về những tay lính quậy phá ngoài chợ Long-Thành, lúc đó Tr/Tá Phương, Quận Trưởng/ Chi-khu Trưởng rất kỷ luật vì thuộc binh chủng TQLC, nên giao cho tôi thêm nhiệm vụ như Quân trấn Trưởng, tôi tưởng Thọ còn giận tôi, nhưng không ngờ Thọ bảo tôi “ đi đâu nữa, hảy vào nhà thằng em nghỉ chân, mai sẽ tính”, không có gì thể hiện cho bằng tình “huynh đệ chi binh” như trong lúc nầy.

Hai thầy trò vào nhà tấm rửa sau mấy ngày ở dơ và được mẹ của Thọ đải một tô mì gói ấm lòng. Gần sáng mọi người đang ngon giấc thì tiếng pháo lại đì đùng đâu đó trong ấp, thế là mọi người tung cửa chạy, thầy trò tôi cũng theo họ bén gót, bây giờ tôi mới thấy việc nhặt đôi dép lúc chiều hôm trước bây giờ có công dụng vì còn thì giờ đâu mà mang giày. Lẩn quẩn trong xóm mãi đến lúc nghe tin TT Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, trước khi ra đến đường cái, tôi ném thẻ bài và căn cước quân nhân của tôi, hai vật không rời tôi nửa bước, xuống ao cá bên vệ đường. Trên đường đi tôi thấy một chiếc tàu màu hồng to lớn đang chạy ra hướng biển Cần-Giờ bị những quả pháo rờt trên sàn tàu, nhưng tàu vẫn lướt sóng không nao núng, mong rằng tàu ra khơi an toàn. Về đến nhà trọ, quân trang quân dụng đều bị khóm ấp tịch thu hết, bây chỉ còn vỏn vẹn quần short, áo thung màu cứt ngựa trên thân và đôi dép dưới chân, TS1 Hiến còn tệ hơn tôi là đi chân trần. Hai thầy trò cám ơn và từ giả chủ nhà cùng mọi người lên đường kẻ về Biên-hòa, người về tận Hố-Nai.

Ra đến đường đám du kích súng đạn đầy mình, tay mang băng đỏ nhan nhản khắp nơi. Đi được một đoạn bắt gặp một người đi vespa chạy tới, tôi xin đi nhờ ra xa lộ, tôi hỏi thăm người chủ xe về đâu, anh ấy bảo về Thủ-đức, chúng tôi mừng thầm, nhưng khi tới nhà máy xi măng Hà-tiên có một chốt chặn, xe dừng lại, một người vai mang súng, tay băng đỏ đến hỏi chúng tôi đi đâu và trình giấy tờ cá nhân, tôi bảo chúng tôi về nhà và không có mang giấy tờ theo. Tên mang súng nhìn chúng tôi từ đầu đến chân chắc nghỉ chúng tôi là những người chạy giặc và cuối cùng phất tay cho đi. Được một đoạn chắc chủ xe hơi lo ngại, chưa đến ngã tư Thủ-Đức đà bỏ chúng tôi xuống, Chúng tôi cám ơn và tiếp tục cuộc hành trình hướng về Biên-Hòa, đến ngã ba Tân-Vạn chúng tôi ngậm ngùi chia tay, rồi đây không biết ngày nào lại gặp nhau vì cuộc đời đã quay một góc 180 độ. Cuối cùng rồi cũng đến nhà, dưới ánh đèn đường hàng xóm nhìn thấy tôi đều hân hoan thăm hỏi, ai cũng tưởng tôi tiêu rồi vì Long-Thành đã thất thủ vào chiều 27-04-1975.

 

Viết xong April 21-2011

 

Cưụ Trung-Úy HÙYNH VĂN THÔI

Ban CTCT Chi-khu Long-Thành

Email: hthoi43@hotmail.com




Liên Thành: Huế Thảm Sát Mậu Thân

Sách Mới – Sách Mới

 

Liên Thành: "Huế Thảm Sát Mậu Thân"

 
TỘI ÁC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

 

 

Buổi Ra Mắt Sách Huế Thảm Sát Mậu Thân  – Tội Ác Của Đảng Cộng Sản VN sẽ được ra mắt chính thức lần đầu tiên tại thành phố Seattle, Tiểu Bang Washington vào ngày 17 tháng 7 2011. Mọi chi tiết xin liên lạc Chính Khí Việt 2009. Diễn Đàn Paltalk room DD NOITHANGNOITHAT.


 

Tác Giả Liên Thành ra mắt sách – Huế Thảm Sát Tết Mậu Thân 1968
 tại San José, California 09-24-11. 
 

Tác giả Biến Động Miền Trung, Liên Thành phát biểu trong buổi ra mắt sách tại San José, California 09-24-2011
Phần 1:
 
http://www.youtube.com/watch?v=DM6jOjTjul0
 
 
 Phần 2:
 
http://www.youtube.com/watch?v=cFa9Yz15KtM

 

 

***

 

LỜl GlỚl THIỆU CỦA

Nguyễn Văn Phán

Cựu Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 

 

 

 

Kính thưa quý độc giả,

 

Tôi rất ngại ngùng, không biết phải viết thế nào, khi được tác giả ưu ái giành cho vinh dự giới thiệu cuốn sách này.

Bởi lẽ, tuy đơn giản đây là một cuốn sách, nhưng theo thiển ý, nó có phần không giống với những cuốn sách khác, vì mang một nội dung đặc biệt quan trọng, có tính cách lịch sử, kể lại một sự kiện kinh hoàng, không chỉ cho dân Huế, mà cho toàn dân Việt Nam và cả thế giới nữa. Đó là cuộc thảm sát đẫm máu đồng bào Huế, do cộng sản miền Bắc gây ra trong dịp tết Mậu Thân 1968, khi chúng lợi dụng thời gian hưu chiến trong dịp Tết, đồng loạt xua quân đánh phá trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và chúng đã chiếm được thành phố Huế trong suốt 23 ngày đêm.

 

Chính trong thời gian này, chúng đã theo lệnh của bọn chóp bu trong bộ chính trị đảng, chỉ thị là phải áp dụng "bạo lực cách mạng" tàn sát dân Huế, để răn đe những người dân vô tội, đã không hợp tác với chúng, nổi lên chống đối chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

 

Sự việc đã trải qua hơn 40 năm, những tội ác động trời đó của bọn cộng sản luôn hiển hiện trong lòng người dân Huế, nhưng dường như có vẻ phôi pha trong dư luận quần chúng. Cùng lúc, bọn tội đồ gây ác lại đồng thanh chối tội, phủ nhận tất cả việc chung đã làm, dù có nhiều nhân chứng đã chứng kiến. Thêm vào đó, còn có những kẻ đồng lõa, đứng ra viết những bài phản bác, dùng những từ ngữ khôn khéo, tránh né, đánh lạc hướng, hầu chạy tội cho những tên đao phủ Mậu Thân mà nhiều người đã biết.

 

Vì thế, đây đúng là lúc chúng ta rất cần những tài liệu do những nhân chứng đã trải qua kiếp nạn Mậu Thân tại Huế, lên tiếng công bố những sự kiện thật, đã xảy ra, gây chết chóc, đau thương, không những cho các nạn nhân bị thảm sát, cho thân nhân của họ, cho toàn thể nhân dân Huế, mà còn cho toàn dân; toàn quân VNCH và những người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới nữa. Vì những lý do đó, cuốn Huế -Thảm Sát Mậu Thân ra đời .

 

Cuốn sách này được viết bởi tác giả Liên Thành, một người con của Huế, trọng cương vị là một Phó Ty Cảnh Sát Đặc Biệt thời điểm đó, và sau này là Trưởng Ty, hay Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên – Huế. Ông cũng đã đóng góp công sức trong phần vụ của mình vào việc chiến đấu bảo vệ thành phố và đồng bào Huế.

 

Tác giả kể lại, những điều mắt thấy, tai nghe, những đau thương, khổ hận của dân Huế, khi bị bọn cộng sản dã man, nhận chìm trong máu và nước mắt, suốt thời gian chúng chiếm giữ thành phố .

 

Sau khi Huế được giải tỏa, tác giả còn tiếp tục công tác truy tìm những hầm mộ tập thể, mà bọn cộng sản Bắc Việt và một số tay sai là dân địa phương tại Huế, đã vùi dập thân xác đủ mọi thành phần, quân, dân, cán, chính, những người đang vui xuân cùng gia đình, trong tay không một tấc sắt tự vệ. Chúng đã đập đầu hoặc chôn sống những nạn nhân đó trên đường tháo chạy, khi bị Quân Lực VNCH và Đồng Minh tấn công tái chiếm và truy đuổi chúng ra khỏi Huế. Tác giả vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân, trực tiếp chứng kiến từ phút đầu đến phút cuối, vì thế việc ông kể lại câu chuyện này, theo tôi nghĩ có mức độ chính xác cao và hoàn toàn đáng tin cậy .

 

Cá nhân chúng tôi, cũng đã có mặt và trực tiếp tham dự vào trận đánh giải tỏa thành phố Huế. Phải nói đây là trường hợp đặc biệt, hiếm có vì tôi là một quân nhân trong Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, một đơn vị Tổng Trừ Bị, địa bàn hoạt động bao trùm toàn lãnh thổ VNCH, từ Quảng Trị tới Cà Mâu. Vì thế, khi được trực tiếp tham dự trận đánh giải tỏa chính nơi chôn nhau, cắt rốn của mình, đối với anh em trong lực lượng Tổng Trừ Bị chúng tôi, thật sự là trường hợp hãn hữu .

 

Tôi đã phải chứng kiến những hoang tàn, đổ nát, những đau thương, thống khổ mà người dân xứ Huế phải gánh chịu, khi nhìn qua những con đường ngập ngụa máu thịt của những người dân lành vô tội.

 

Tim tôi như thắt lại khi nhớ tới mạ tôi, dì tôi, em tôi cùng những bà con thân thuộc, những người quen biết thân sơ trong khu xóm, khi họ phải đắm mình trong lửa đạn trong lo âu sợ hãi, trong kình hoàng tuyệt đỉnh, môi khi nhìn thấy những người thân yêu của họ bị trói tay rồi bị bắn gục trước mũi súng bọn quỷ dữ máu lạnh, nạn nhân chẳng kịp kêu la, chỉ có những tiếng ú ớ, những con mắt trợn trừng, những vòi máu phun ra ồng ộc, trong khi thân xác co giật, quằn quại trong vũng máu.

 

Những người đàn bà chân yếu tay mềm, những trẻ thơ non dại, nhìn thấy chồng, cha mình bị quân thù hành hạ ngay trước mắt, chủng xẻo tai, cắt mũi, từ từ đâm những lát lưỡi lê lút cán vào bụng, vào ngực, để được nhìn thấy những nạn nhân phải đau đởn tận cùng trước khi chết, hầu thỏa mãn thú tính. Thật tàn bạo, thật dã man !!!

 

Chúng tôi tiến lên chiếm mục tiêu mà lòng như chùng xuống, vì nhìn cảnh hoang tàn, đổ nát của khu phố, không còn một chút sinh khí. Những tiếng khóc ai oán, tiếng nấc tức tưởi, những lời than vãn nghẹn ngào vẫn còn như văng vẳng đâu đây, ám ảnh tôi cùng đồng đội, trong khi trước mặt thì súng địch chát chúa rền vang, chúng đã chiếm giữ những cao điểm có lợi thế, khống chế đường tiến quân của chúng tôi bằng hỏa lực mạnh nhất của chúng.

 

Chúng tôi phải tiến chiếm từng thước đất, từng căn nhà, máu của anh em binh sĩ chúng tôi nhuộm đỏ theo từng mỗi bước chân. Cuộc chiến thật nghiệt ngã, khốc liệt Sự sống chết luôn diễn ra trong đường tơ, kẽ tóc mùi tử khí bao trùm toàn thành phố.

        Trước đây, những trận chiến chúng tôi tham dự thường xa thành phố, chưa một trận đánh nào tạo cho chúng tôi cảm giác gần gũi với câu " bảo vệ quê hương, đồng bào" bằng lần này, vì trong tâm tình của một con dân xứ Huế, chúng tôi chiến đấu bên cạnh những đau thương, thống khổ mà bà con thân thuộc mình đang phải gánh chịu. Chúng tôi cố gắng xoa dịu bằng cách chiến đấu không quản hy sinh xương máu, để đem lại cho đồng bào đời sống an bình, hạnh phúc.

Tôi thật sự tự biết mình không đủ khả năng diễn đạt nỗi khổ hận của những nạn nhân bị thảm sát và của những thân nhân họ, những người còn sống sót sau trận tàn sát dã man của quân thù. Vì thế, tôi rất tâm đắc khi thấy tác giả Liên Thành viết cuốn sách này, kể lại ngọn ngành những khổ nạn của người dân Huế phải gánh chịu, dưới bàn tay sắt máu của bọn cộng sản vô thần, mà đau đớn thay, những tên đao phủ từng nhúng tay vào máu đồng bào Huế, lại là những tên đã từng được đồng bào yêu thương, ấp ủ cho chúng lớn lên trong vòng tay nhân ái của quê hương xứ Huế.

 

Tôi cũng chẳng lạ lùng gì với những tên tuổi nằm vùng khát máu như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đóa, Nguyễn thị Đoan Trinh v. . .v. . .mà bây giờ mỗi khi nhắc đến chúng, tôi còn thấy như hiển hiện trước mắt cảnh chúng tàn sát dã man những người dân vô tội họ bị bắn, bị đập đầu hay chôn sống, họ gục xuống, máu họ đổ ra ngay tại nơi cư ngụ của gia đình họ.

 

Ôi ! đau thương, thống khổ. Chính cá nhân tôi khi nghĩ đến những chuyện đó thì máu nóng đã dồn lên tới óc, chỉ còn biết quay cuồng trong uất hận, nghẹn ngào, không biết phải làm sao cạn tỏ được ý mình.

 

Đau đớn hơn nữa là những kẻ gây ác đó, vẫn đang nhởn nhơ sống trên đau khổ của đồng bào Huế. Chúng còn thọc sâu mũi nhọn vào tim gan người dân Huế, khi chúng rêu rao, ăn mừng . . . "chiến thắng Mậu Thân"… Tại sao? Tại sao những tên tội đồ này chưa bị trừng phạt.

 

Chúng ta, những người Quốc Gia, những nạn nhân của chúng, có thân nhân bị chúng giết hại một cách dã man, có thể làm gì được chúng, để trả lại công bằng và sự thật cho những người đã bị thảm sát .

 

Câu trả lời đó có trong cuốn sách này, đó là: Chúng ta cùng nhau thiết lập hồ sơ truy tố tội ác đảng cộng sản Việt Nam ra Tòa Án Nhân Quyền Quốc Tế.

 

 

Trong tinh thần. ấy, chúng tôi trang trọng giới thiệu đến quý vị cuốn Huế – Thảm Sỏt Mậu Thân & Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ước mong quý độc giả, những người yêu chuộng tự do, công bình và nhân ái nhiệt liệt ủng hộ.

 

Chúng ta cùng góp một bàn tay với tác giả cũng như ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam, đưa bọn tội đồ diệt chủng là đảng cộng sản Việt Nam, cũng như bọn đao phủ tay sai, hiện đang còn sống nhởn nhơ tại Việt Nam ra Tòa Án Quốc Tế, để chúng phải đền tội trước lương tâm và công lý.

 

Cầu mong hương linh các anh hùng, liệt nữ, các oan hồn uổng tử trong Tết Mậu Thân, phù hộ độ trì cho công việc của chúng ta sớm đạt kết quả mỹ mãn.

 

Trân trọng,

Nguyễn Văn Phán

Cựu Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 

 




Xuân Giáp Ngọ. Kính chúc Quí Vị Vạn Sự Bình An

Kính chúc Vạn Sự Bình An

Giáp Ngọ, Một Vòng Hoa Giáp

 

Bóng ngựa năm tư nay lại đến

Sáu mươi năm mòn mỏi chân phi

Bốn vùng chiến thuật đều in dấu

Suốt giải Trường Sơn vó cũng ghi

Bốn mũi tên bay về bốn hướng

Tang bồng hồ thỉ chí nam nhi

Hồ Gươm một thuở  chim tung cánh

Đà Lạt tang bồng cất bước  đi

Năm cánh hoa mai Xuân đất nước

Một thời tao loạn tuổi xuân thì

Năm nay ngựa lại về chờ chủ

Ngửa mặt rung bờm đoán thịnh suy

Rập vó ào ào tung gió bụi

Mắt ngời hun hút ánh tà huy

Yên cương còn vướng mùi sương khói

Chinh chiến ngày qua động bốn bề

Dấu đạn còn ghi trên áo trận

Máu thù vẫn đọng giữa hàng khuy

Ngàn xưa sao tưởng ngày nay nhỉ

Cứ tưởng rằng xa, chợt hiện về

Sáu chục năm dài thu gọn lại

Nỗi buồn nỗi hận chẳng qua đi

Năm nay bóng ngựa về đây lại

Dăm vết thù hoang lưng vẫn ghi

Hùng dũng cang cường cao tiếng hí

Đường dài muôn dặm vó cuồng phi

Ngựa ta vẽ lại đường biên trấn

Vạch một đường gươm vẹn tiếng thề

 

Đông Anh

Giáp Ngọ 2014

 

 

Photo
 

 

Chúc Xuân 2014.

Xuân về hỏi lại cuộc cờ..
Đường đời phủ bụi sương tơ bao giờ ?
Trắng đầu chỉ một giấc mơ
Nhìn trăng mài kiếm hẹn hò núi sông

Chúc người ôm cả mộng lòng
Chúc ai hạnh phúc ngựa dong đường dài
Chúc em mái tóc đừng phai
Chúc ta..không khóc tình hoài nỗi mong
Tương lai về đón xuân hồng… 

San Jose, Giáp Ngọ 2014

 

 

 

Hoa rơi, Xuân buồn.

Anh ghép Hoa Rơi với Xuân Buồn.
Hòi người bên ấy nhớ môi hôn ?
Đêm mơ ngày cũ vang tiếng hát.
Anh chợt thèm vai tựa linh hồn…

Mưa lạnh chiều hoang vai em đâu
Xin gánh dùm anh vạn trái sầu
Trải trên sa lộ trong mùa nắng
Nắng hắt hiu buồn trái sầu đau

Thấm thoát mấy mùa xuân qua mau
Tinh ơi vẫn thế tóc phai màu
Màu trăng bạc ph
ếch tơ sương lạnh
Xuân lại hiện về trong đêm sâu…

Anh hỏi xuân về em ở đâu ?
Bao năm rồi nhỉ quê hương sầu
Ôm mặt lệ rơi hồn ngất ngưởng
Chân thấp chân cao mộng về đâu !!!


Hoa Rơi

Không có anh, em vui với ai ?
Đêm cuối năm lặng lẽ đường dài
Cái se lạnh choàng ôm tê buốt
Cánh hoa hồng rơi mất ngày mai.

Cúc Vàng.

 

Xuân buồn

Bướm chết, hoa tàn, xuân đợi ai ?
Cơn mơ thức giấc xót đêm dài !
Gối chăn sô lệch lòng se buốt
giọt nắng buồn thiu, trơ cành mai… 

Ồ lại một năm biệt xứ !
Trên lưng đời chợt vết chém thêm sâu
Hồn rỉ máu theo bước chân nghiệt ngã
lưng thêm còng tự hỏi bước về đâu !!!

Xuân Em!

Xuân đến rồi! sao phải gọi xuân ?
Đêm xuân em đợi đã bao lần?
Tình xuân e ấp trong mầu mắt!
Rạo rực hoa cười đua trước sân !

Em có đêm nào ước hóa xuân ?
Đưa tay quấn quít thoát lòng trần
Môi hôn ngây ngất tình bùng cháy
Nghiêng ngả mặc đời với thế nhân
 
Em có bao giờ mộng thoát y ?
Để trăng bóng ngã động xuân thì
Để gío ngây thơ tình dạ khúc
Để lòng tiếc nuối
bước chân đi

Em có bao giờ động gối xuân ?
Lòng em ngàn kiếp vẫn phơi trần
PhotoTỉnh mê hương phấn hoa hàm tiếu
Gọi tình trong nắng bướm mơ xuân

Xuân lại về đây, mộng ước qua…!
Đón em quê lạ, lệ sương nhòa !
Nụ hôn  gởi gío.. sầu cay mắt..
Nhớ buổi hẹn thề lòng xót xa…

San Jose Jan. 11, 2012
Chinh Nguyên

 

 

Ngồi đây nhớ mẹ ngất ngây…
Quê hương còn đó khồ này nào an
Em quê mặc áo cơ hàn
Thương quê nhớ mẹ lệ tràn mắt sâu…

…………………………………………….
Giao thừa, hồn lạnh nỗi sầu….

    

    XUÂN TỚI RỒI SAO TA CHẲNG BIẾT!
      BỖNG BÂNG QUƠ TIẾNG PHÁO VANG ĐƯA

      TƯỞNG GIẶC VỀ ĐÊM XUÂN NẠN CŨ
      VỘI VÀNG VƠ… À PHÁO GIAO THỪA!!!!

      TÌM CÂY NẾN THẮP NHÌN VONG MẸ
      ĐỐT NÉN NHANG KHOM LẠY ẢNH CHA
      LỆ XÓT XA RƠI VÀO NHỤC KHẢM
      MỘT ĐỜI BUỒN VẬN NUỚC CAN QUA 

      THÔI ĐÀNH  MỘT KIẾP PHẬN BÈO TRÔI
       
TÌNH CŨNG BUÔNG, QUÊN CẢ NGUYỆN BỒI
      TÓC ĐÃ THAY MÀU THEO THẾ SỰ
      XUÂN VỀ VÀNG ÚA MỘNG XA XÔI.  

      XUÂN LẠI VỀ…! TA MẶC XUÂN THÔI…!
      VÒNG TAY CHỢT LỎNG MẮT XUÂN RỒI…!

TRĂM NĂM ĐÔI MẮT CÒN VƯƠNG MỘNG
ÔM NỢ TÌNH QUÊ… CHỢT MẶN MÔI…!       
        

 

Đêm xuân

Cạn đi… đêm vắng, tình mê, men rượu…!
Khúc Nghê Thường ai đó thoát xiêm hồng
chợt trút bỏ nỗi nhà vang tiếng gọi
Bước xiêu xiêu đêm lạnh tủi ước mong…

Hề…! Ngất ngưởng say, quên đời không tỉnh
Hề…! Tỉnh như mê, lảo đảo chân hoang
Hề…! Bình rượu cạn, lòng thơ không cạn !
Hề…! Ta theo em dù hoả ngục, thiên đàng.

Em có phải gái Việt Nam họ Lạc?
Dáng liêu trai hương phấn nặng lòng trần
Gót sen nhẹ, chỉ se môi kiều nữ
Tóc nhung mềm sóng soải mộng tình xuân.

Thôi đã thế, ta thề không muốn tỉnh
Để tay ôm khe khẽ vóc xuân nồng
Trong ngất ngây em thoát thai diễm tuyệt
Chới với say mềm, tình thoát hư không

Ta mãi yêu em không hề dứt bỏ
Sông hết nguồn, biển cạn núi trơ cây
Lòng vẩn thế …linh hồn ta vẫn thế
Dù thời gian, cơn nhục.. đắng lòng say…

ỢT MỘT MÙA XUÂN

Tay mẹ gầy da bọc lấy sắt son.

Giọt lệ con mẹ nuốt lấy nỗi mừng.

Nuống khoai xưa bỏ dở chẳng vun trồng

 

 

Xuân Cầm

Xuân về tình vội ước mong !
thầm ôm chiếc áo ghi lòng mùi da!
Thâu canh sửa lại vạt tà
Cho em vừa dáng tình sa bước thầm…
…………………………
nhắn ai mặc áo Xuân Cầm…! 

Trăm xuân gom lại một đời
Tình khoe trên áo nhắn lời xuân xanh
Mơ xuân chiều lặng tơ mành
"Hồng Hồng, Tuyết Tuyết" yến oanh "Xuân Đào"
Thương xuân tà áo mời chào
Xuân thơ nở nhụy.. mắt chào liếc ngang…?
……………………………………
Ai đem xuân tặng trao nàng ???

Photo

 

 

Xuân Về Nhớ Ban Mê.

Mấy chục năm rồi anh vẫn nhớ
Núi xanh, rừng thẳm, suối sông xưa
Vạt tình bay.. phượng tàn đường cũ
Nắng bụi lên trời…! Em ướt mưa…!

Ba tám năm rồi xuân xứ lạ
Lạnh căm hồn ước, vọng vươn xa
Ban Mê, em có thương hay nhớ ?
Có tủi lệ buồn tóc sương pha ?

Lạnh quá đi thôi ! bước chuyển chân !
Ta gọi em Ban Mê tình gần,
Ta níu lòng say, say, say tỉnh !
Ta mơ tàn mộng, mộng tàn xuân…!

Có thế thôi em… thế thế thôi..!
Trăm năm lỗi hẹn, quên thề bồi
Dòng sông con nước xuôi chảy mãi
Tóc trắng xuân về chợt mặn môi…

Tăng quí bạn Ban Mê, xứ nắng bui mưa lầy
San Jose Jan. 01, 2014

XUÂN Ý NGUYỆN
                                                            
                                                             Mừng Xuân tưởng nhớ quê cha
                                                             Nghĩ về quê mẹ xót xa dân nghèo
                                                             Hùng anh tráng khí thừa còn
                                                             Quyết tâm dựng lại quê hương thuở nào
                                                                                   
                                                                            Seattle, Xuân Giáp Nghọ 2014
                                                                            Hoàng Mai Nhất

CHÚC XUÂN GIÁP NGỌ
                              
            
Giáp Ngọ đầu năm ngựa hí vang !
Chào xuân khai bút xướng vài hàng.
Chúc người thăng tiến giàu phi mã;
Cầu bạn trăm năm sống thế gian.
Tri kỷ gặp nhau vui hạnh ngộ.     
Cố nhân đối mặt lệ hàng hàng!
Ai vui ?  Ai đợi ? Tình non nước,
Mong thấy thanh bình đến mấy trăng ?


    
NGHIÊM ĐỖ
    
(19/01/2014)

 




Mậu Thân 1968 và cuộc thảm sát tại Huế. (Khối 8406 Tự Do Dân chủ cho Việt Nam)

Mậu Thân 1968 và cuộc thảm sát tại Huế.
Tài liệu và Chứng Từ
Tập I

Mậu Thân 1968 và cuộc thảm sát tại Huế.
Tài liệu và Chứng Từ
Tập II

Mậu Thân 1968 và cuộc thảm sát tại Huế.
Tài liệu và Chứng Từ
Tập III

Mậu Thân 1968 và cuộc thảm sát tại Huế.
Tài liệu và Chứng Từ
Tập IV

 

 

 

 




Giao Chỉ : Mỹ Dung và “NGÀN GIỌT LỆ RƠI” đến San Jose

Mỹ Dung và “NGÀN GIỌT LỆ RƠI” đến San Jose

                                                                                                                                                Bài của Giao Chỉ.

Lời nói đầu:

Ða số hồi ký của các nhân vật lịch sử Việt Nam thường viết về thời gian trước tháng tư 75, và thiếu vắng tác phẩm của phụ nữ. Nhưng bút ký về cuộc đời bà Mỹ Dung đã viết về một giai đoạn chính từ sau tháng tư 75. Phải chờ giải mật năm 1995 tức là 20 năm sau tác phẩm bằng Anh ngữ “A Thousand Tears Falling..” mới được xuất bản. Ngay khi tác phẩm ra đời, báo chí và các nhà điểm sách Hoa Kỳ đã không tiếc lời khen ngợi. Nhiều độc giả Việt Nam cũng đã mua và đọc nguyên tác Anh Ngữ. Nhưng đa số vẫn còn mong có cơ hội đọc bản Việt ngữ của một câu chuyện thực hết sức bi thương và hấp dẫn. Vào lúc 1 giờ chiều ngày chủ nhật 16 tháng 5-2010 bộ sách lịch sử cả Anh và Việt ngữ sẽ ra mắt San Jose. Dân Sinh Media sẽ tổ chức tại hội trường của quận hạt Santa Clara số 90 W. Hedding, San Jose. Như vậy là chúng ta phải chờ đợi 20 năm để đọc bản Anh ngữ. Rồi chờ thêm 15 năm mới có bản tiếng Việt. Sau này không biết bao giờ câu chuyện này sẽ được dựng thành phim. Trong khi chờ đợi, xin vui lòng dành cho chúng tôi cơ hội giãi bầy về việc thảo luận cho Ngàn Giọt Lệ Rơi trên con đường đi lên màn ảnh,… sau này.

                           

 

Ngàn Giọt Lệ Rơi

Sau 30 năm chiến tranh Việt Nam đã có nhiều hoàn cảnh éo le trong đời sống. Cuộc binh đao giữa hai miền Nam Bắc, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đưa đến cảnh gia đình chia cắt. Câu chuyện được ghi lại lần này là một nhà chia đôi ngả. Cha và con trai theo miền Bắc. Mẹ và 5 con theo miền Nam. Câu chuyện thật và đầy đủ tình tiết để dựng nên một cuốn phim làm di sản cho đời sau. Phim ảnh Hoa Kỳ thường hay phỏng theo các cuốn tiểu thuyết hoặc ký sự dựa theo chuyện có thật đã xảy ra. Nếu người Việt chúng ta làm một cuốn phim tại hải ngoại để có thị trường phải là phim nói Anh ngữ, có cái vai Mỹ Việt, tình tiết éo le, hấp dẫn, pha chút màu sắc điệp viên với các giây phút lo sợ kịch tính. Ðồng thời có những lúc vai chính phải ray rứt nội tâm. Màn ảnh chiếu gần, diễn tả bằng nét mặt.

Sự lựa chọn giữa lý tưởng và bổn phận của các vai chính làm cho chuyện phim đóng mở, lôi cuốn khán giả. Nội dung cần có cơ hội để lấy ngoại cảnh từ Việt Nam, Nhật Bản, Hạ Uy Di, Hoa kỳ và Âu châu. Vai chính đi từ những phân cảnh của gia đình Việt Nam trong chiến tranh đến các buổi tiếp tân của ngoại giao đoàn tại các quốc gia Tây phương. Từ các phòng ăn tráng lệ tại các câu lạc bộ sĩ quan Hoa Kỳ cho đến các chiến khu ở rừng già Nam Bộ. Từ văn phòng của bộ ngoại giao chính phủ cộng sản Việt Nam đến cơ sở tình báo của hải quân trong Ngũ Giác Ðài. Một chuyện phim như thế mà phỏng theo một câu chuyện hồi ký có thực thì vô cùng lý thú. Có thể tìm thấy không? Trên thực tế chuyện này đã xảy ra.

Chúng ta có thể tìm được câu chuyện tình tiết như vậy với nội dung bao gồm cuộc chiến Quốc Cộng giữa Việt Nam với Việt Nam. Giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. Câu chuyện gián điệp thực sự xảy ra đã được kể trong cuốn hồi ký của một phụ nữ.

Người đàn bà viết cuốn sách này tên là Ðặng Mỹ Dung và cuốn sách có tựa đề là Ngàn Giọt Lệ Rơi. Nguyên tác Anh ngữ là A Thousand Tears Falling. Bà Yung Krall sáng tác theo thể tự truyện dựa vào cuộc đời của cha mẹ rồi đến chính cuộc đời của tác giả. Tất cả mọi danh tính đều giữ nguyên như là một sử liệu. Dựa theo tác phẩm Anh ngữ, chúng tôi viết bản phác họa cho một cuốn phim tương lai của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại.

Ðây là phim truyện về một người chủ gia đình theo kháng chiến rồi đi tập kết 54 trở thành nhân viên cao cấp trong chính phủ cộng sản. Người vợ ở lại miền Nam trong vùng quốc gia rồi di tản qua Hoa Kỳ. Bà đã từ chối không về sống với chồng ở Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, con cái mỗi người theo một ngả. Tiếp theo cuộc chiến Quốc Cộng tiếp tục bàn giao cho thế hệ thứ hai. Tác giả là con gái trong gia đình đã thành hôn với một sĩ quan hải quân Mỹ. Trong hoàn cảnh éo le, cô gái đã trở thành gián điệp nhị trùng. Một bên là cha ruột, một bên là chồng. Ðứng giữa hai phe thù nghịch nhưng tác giả thực sự làm việc cho phía Hoa Kỳ. Ðã góp phần phá vỡ âm mưu của Hà Nội lúc đó đang tìm cách cài người vào bộ ngoại giao tại Hoa Thịnh Ðốn.

Chuyện thật đã xảy ra tại Mỹ vào cuối thập niên 70. Trong chiến tranh Việt Nam, phe quốc gia và đồng minh Hoa Kỳ thường bị phía cộng sản cài người nằm thật sâu vào các cơ quan của ta, nhưng phe ta chưa hề có được những đòn gián điệp đáng kể lừa được đối phương. Câu chuyện Ngàn Giọt Lệ Rơi là một biệt lệ đặc biệt cần được biết đến, cần được nhắc lại và cần được đóng thành phim. Cảm khích với nội dung của tác phẩm, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị sau đây là câu chuyện về một cuốn phim tương lai, nhân dịp 35 năm sau kể từ tháng 4-1975.

PHÁC HỌA CHUYỆN PHIM “NGÀN GIỌT LỆ RƠI”

“A thousand Tears Falling” bắt đầu từ ngoại cảnh tại Nhật Bản. Thời gian lúc đó là tháng 6-1975, không gian là tại phòng tiếp tân của đại khách sạn Nhật Bản tại Ðông Kinh. Tại đây, một hội nghị quốc tế giữa các nước Ðông Nam Á đang diễn ra. Ông Ðặng Văn Minh là trưởng phái đoàn của nước cộng sản Việt Nam vừa chiến thắng Sài Gòn 2 tháng trước, đến dự hội nghị với niềm tự hào và được sự lưu ý của báo chí thế giới. Tuy nhiên, cũng vào chiều hôm đó tại Ðông Kinh, người cán bộ cao cấp của phe cộng sản gặp lại con gái sau 23 năm xa cách. Từ hình ảnh trong đại sảnh của khách sạn quốc tế tại Tokyo, phía trước treo cờ các nước dự hội nghị, có cờ đỏ sao vàng. Hình ảnh vị trưởng phái đoàn rạng rỡ tươi cười mở đầu cuốn phim để tiếp đến hình ảnh hồi tưởng thời kỳ trongchiến khu với cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Ông Minh sinh năm 1909 tại Vĩnh Long, đi theo Kháng Chiến và trở thành nhân viên cao cấp của Mặt Trận. Năm 1954, ông dẫn con trai lớn 17 tuổi là Ðặng Văn Khôi ra Bắc. Vợ ông Minh là bà Trần Thị Phàm và 5 con nhỏ ở lại miền Nam. Khi chia tay hẹn 2 năm trở lại nhưng thật sự phải hơn 20 năm sau người cộng sản mới vào được Sài Gòn thì lúc đó đã biết bao nhiêu vật đổi sao rời. Người con trưởng theo bố ra Bắc đã trở thành sĩ quan của quân đội nhân dân được gửi đi Nga học về hỏa tiễn phòng không năm 1968. Ðến năm 1975, ông Minh trong khi vẫn một lòng trung thành với chế độ và trở nên cán bộ cao cấp ngành ngoại giao thì người con trưởng Ðặng Văn Khôi có thái độ chống chiến tranh nên đã bị sa thải khỏi quân đội miền Bắc.

Tại miền Nam, người con trai thứ của ông bà là Ðặng Hải Vân, lúc ông tập kết chỉ có 5 tuổi sau này đã trở thành phi công của Không Quân Việt nam Cộng Hòa. Nhưng không may Hải Vân đã bị thiệt mạng trong một phi vụ bay huấn luyện tại Hoa Kỳ lúc 21 tuổi. Chị Ðặng Mỹ Dung là con thứ tư của ông bà đã thành hôn với đại úy phi công của Hải Quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn và năm 75 gia đình chị đang sống tại Hawaii. Cuộc sống thơ mộng và bình yên của ông Krall và bà Mỹ Dung hoàn toàn thay đổi từ tháng 4-1975.

Cũng vào tháng 4-1975, lúc đó cha của bà Dung là ông Minh đang làm đại sứ cộng sản Hà Nội tại Nga Sô, mẹ của bà và đứa em út thì kẹt ở Sài Gòn. Với bao năm xa cách, với quan niệm về cuộc sống khác biệt, bà Phàm vợ ông Minh không hề có ý muốn ở lại Sài Gòn để chờ đoàn tụ với chồng. Ðặng Mỹ Dung từ Hạ Uy Di liền yêu cầu thiếu tá Krall tìm cách về Sài Gòn đón gia đình bà mẹ qua Mỹ. Khi ông Krall qua Sài Gòn đã lâu mà chưa có tin tức gì. Tại Hawaii, bà Ðặng Mỹ Dung lo sợ đã nói chuyện trực tiếp qua điện thoại cầu cứu với đề đốc Gaylor, tổng tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương tại Trân Châu Cảng. Lời nói chỉ vắn tắt báo cáo chuyện chồng bà về Sài Gòn để lo cứu gia đình sao chưa thấy qua, nhưng bà nói thêm một tin tức động trời, bà là con gái của đại sứ cộng sản Việt Nam tại Mạc Tư Khoa.

Lập tức guồng máy quân báo của Hải Quân Hoa Kỳ chuyển động và cả FBI lẫn CIA nhập cuộc. Hệ thống tình báo Mỹ ghi nhận ngay đây là một đầu mối vô cùng quan trọng mà tại sao lâu nay không ai biết. Ngay cả lúc hồ sơ thành hôn của vị sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng không ai lưu ý đến mối liên hệ huyết tộc của cô dâu nước Mỹ có đầu mối Hà Nội. Họ cứ tưởng đây chỉ là cô gái thuần túy Sài Gòn. Tiếp theo khi chuyến bay chở mẹ và em gái út của Ðặng Mỹ Dung ra khỏi Việt Nam do CIA Sài Gòn trực tiếp sắp đặt thì một khế ước bất thành văn đã bắt đầu. Mỹ Dung nợ khối tình báo Mỹ một yêu cầu. Cuộc đời điệp viên khởi sự. Khi bà Minh đã yên ổn tại Hoa Kỳ thì hơn 60 ngày sau Mỹ Dung dắt con nhỏ qua Nhật Bản thăm thân phụ đã hơn 20 năm xa cách. Guồng máy tình báo của thế giới tự do mở chiến dịch để Con Chim Xanh với Ngàn Giọt Lệ lên đường công tác.

Sơ lược chuyện phim.

Bây giờ xin mời khán giả trở lại Ðông Kinh của tháng 6-1976. Cánh cửa phòng họp riêng của đại sảnh Tokyo hé mở, một cán bộ ngoại giao của Hà Nội bước vào trình với thủ trưởng Ðặng Quang Minh: “Thưa đồng chí thủ trưởng, bà Việt kiều ở Mỹ và đứa con lai đã có hẹn xin vào gặp.” Ông Minh vẫn còn đang ngồi xem hồ sơ hội nghị, nói mà không nhìn lên: “Ðây là đại diện Hội Việt Kiều Yêu Nước đến để động viên và mừng đất nước thống nhất. Ðồng chí mời vào đi.” Ðặng Lệ Dung bước vào cùng con gái nhỏ nép một bên.

Hơn 20 năm qua, lúc thân phụ ra đi, cô là đứa bé con. Giờ đây, đứa cháu ngoại lai Mỹ xinh đẹp mắt mở to nhìn người đàn ông xa lạ mà e ngại. Cuộc gặp gỡ riêng tư nhưng hết sức khách sáo. Cả cha con đều phải đóng kịch dù rằng trong lòng như lửa đốt. Trước khi chia tay, ông Minh nói nhỏ với con gái là sẽ thu xếp để gặp lại người vợ cũ là bà Phàm đã hiện di tản qua Hoa Kỳ.

Sau cuộc gặp gỡ lần đầu tiên vào tháng 6-1975, cuộc đấu tranh chiến tranh chính trị, tình báo và ngoại giao giữa hai cha con bắt đầu. Một bên là Việt Nam cộng sản đã thống nhất và một bên là guồng máy tình báo Hoa Kỳ. Cả hai bên đều tìm cách mua chuộc lẫn nhau. Cuốn phim Ngàn Giọt Lệ Rơi thực sự sẽ có cả hàng trăm phân cảnh hết sức độc đáo để dàn dựng.

Chiến tranh tình báo.

Thủ trưởng Ðặng Quang Minh về báo cáo lên bộ chính trị và được Lê Duẩn đồng ý cho phép qua Paris gặp lại vợ con. Ông dự trù sẽ thuyết phục để đưa vợ con trở về Hà Nội dưới hình thức chiến thắng ngoại giao sau khi tuyên bố là gia đình ông ở Sài Gòn đã bị Hoa Kỳ áp đảo bắt phải di tản. Hà Nội chắc chắn một lần nữa sẽ đạt được một thành tích đánh bại Hoa Kỳ trên diễn đàn dư luận quốc tế. Phía Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn đã cho phép CIA giúp đỡ hai mẹ con bà Minh qua Pháp để bắt nhịp cầu làm việc trực tiếp với tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Paris. Tình báo Mỹ chấp nhận nhập cuộc.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chính trị giữa cộng sản và Hoa Kỳ đã trở thành một mối xung đột và mâu thuẫn trong nội bộ gia đình họ Ðặng, vượt ra khỏi tầm tay của những thế lực đằng sau từ cả hai bên. Ông Minh hết lòng thuyết phục bà vợ tao khang trở về với một đất nước nay đã thanh bình, độc lập, thống nhất và hoàn toàn chiến thắng. Ông thề thốt lấy cả cuộc đời ra để bảo đảm cho sự an toàn của bà và người con út cùng đi với bà.Nhưng bà Minh vẫn còn dè đặt và sau cùng quyết định ở lại Hoa Kỳ. Một quyết định sáng suốt mà sau này bà vẫn cho là hết sức may mắn.

Trong thời gian đó, phe cộng sản hết lòng chiều chuộng móc nối với Ðặng Mỹ Dung với hy vọng cô sẽ thuyết phục bà mẹ. Và hơn nữa, dù bà Minh chưa muốn về Hà Nội nhưng Mỹ Dung với ảnh hưởng sẵn có trong quân đội Mỹ, có thể dễ dàng trở thành một nguồn tin đáng giá và tốt nhất là cô chuyển hộ các tài liệu trên đường hàng không từ Hoa Thịnh Ðốn qua Paris. Con Chim Xanh của Ngàn Giọt Lệ Rơi luôn luôn sẵn sàng hợp tác như là một người cảm tình với phe chiến thắng mà thân phụ của cô cũng góp phần.

Dần dân Mỹ Dung gián tiếp trở thành một phụ nữ Việt Nam yêu nước kết hôn với người Mỹ những vẫn hồn nhiên đóng góp công tác cho chính phủ Hà Nội và các tổ chức thân Cộng. Cũng vào thời điểm đó, sinh viên thân cộng Trương Ðình Hùng là con của luật sư Trương Ðình Dzu đang hoạt động cho tình báo cộng sản. Hùng du học Mỹ trước 1975 và tiếp tục ở lại Hoa Kỳ móc nối lấy tin tức từ bộ ngoại giao. Hùng rất tin tưởng ở sự thân hữu chặt chẽ của Mỹ Dung với Hà Nội và tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Pháp.

Ronald Humphrey là nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ được phép đọc tài liệu tối mật. Lúc còn ở Việt Nam, Humphrey lấy cháu gái Võ Thị Ðịnh, một nữ cán bộ quân sự của Giải Phóng Miền Nam. Hà Nội đưa điều kiện nếu Ronald muốn cho phép đem vợ qua Mỹ phải lấy hồ sơ mật của bộ ngoại giao Mỹ trao cho Trương Ðình Hùng. Hùng nhờ Ðặng Mỹ Dung chuyển tài liệu cho cộng sản qua tòa đại sứ Việt Nam tại Paris Tài liệu Humphrey đưa ra qua tay Hùng đến Mỹ Dung thì CIA đổi thành tài liệu giả để chuyển qua Pháp.

Khi chính phủ Hoa Kỳ quyết định truy tố Trương Ðình Hùng và Humphrey thì cần có Mỹ Dung ra làm nhân chứng. Nếu như thế là cuộc đời gián điệp sẽ chấm dứt và đồng thời bà Dung phải chấp nhận mọi rủi ro thách đố về sau. Ðây là một quyết định khó khăn đối với một phụ nữ. Lần đưa mẹ ra khỏi Việt Nam, Mỹ Dung đã phải trả giá bằng cách bước vào con đường chông gai của nữ điệp viên. Lần này lại thêm một thử thách mới.

Sau cùng Mỹ Dung yêu cầu chính phủ Mỹ phải cam kết đưa cha và anh bà được vào Mỹ, trước khi phiên tòa bắt đầu. Việc này sẽ được thu xếp trước khi vụ gián điệp tại bộ ngoại giao được chuyển qua tòa án. Hồ sơ cam kết mật đưa lên tổng thống Carter xin chấp thuận. Guồng máy tình báo Hoa Kỳ lại mở chiến dịch mới.

Bà Mỹ Dung viết thư cho Lê Duẩn, tổng bí thư của dảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn Duy Trinh bộ trưởng ngoại giao Hà Nội xin cho cha là Ðăng Quang Minh qua London gặp gia đình vợ con vì bà Minh bị bệnh nan y có thể chết. Giáng Sinh năm 1977, Hà Nội chấp thuận cho ông Minh xuất ngoại. Trong hai tuần lễ sống bên cha, cả hai chị em bà Mỹ Dung thuyết phục ông Minh đi Mỹ nhưng không thành công. Cuộc tranh luận, phân giải trong gia tộc với nghĩa phu thê, và tình cha con của một gia đình Quốc Cộng đã kéo dài suốt mùa Giáng Sinh tại thủ đô sương mù London năm 1977. Ông Minh đã dành cả cuộc đời đi theo con đường của ông, đêm nằm trằn trọc cùng phòng với đứa cháu ngoại thân yêu.

Bà Minh suốt thời gian nghe con gái và chồng tranh luận mệt nhoài nên đã nói những lời sau cùng trước khi chia tay đôi ngả. Bà yêu cầu chồng và các con chấm dứt tranh luận, cãi cọ qua lại về chính trị, về chủ thuyết, và tương lai. Hãy ngồi với nhau lần cuối trong tình huyết tộc rồi đường ai nấy đi.Cuộc chia tay của hai phe đấu tranh chiến tranh chính trị trong một gia đình bây giờ chỉ còn toàn nước mắt của “Ngàn giọt lệ rơi.”

Sau cuộc họp mặt Giáng Sinh lịch sử 1977 của gia đình họ Ðặng, Hoa Kỳ quyết định đưa vụ án ra ánh sáng. Chính phủ Mỹ truy tố Trương Ðình Hùng và Ronald Humphrey mỗi người bị tù 15 năm. Cả hệ thống ngoại giao của cộng sản Hà Nội bị lung lay, rung động từ đại sứ Ðinh Bá Thi tại Liên Hiệp Quốc cho đến đại sứ Ðặng Văn Sung tại Paris.

Câu chuyện gián điệp nữ Ðặng Mỹ Dung được viết lại thành ký sự bằng Anh ngữ nhưng CIA đã yêu cầu bỏ đi gần 200 trang trước khi in

Về sau ông Ðặng Quang Minh sống độc thân tại Hà Nội, thỉnh thoảng đi thăm mộ con trai là thiếu úy Ðặng Hải Vân của KQVNCH tại miền Nam. Ông mất năm 1986, hưởng thọ được 77 tuổi. Ðặng Văn Khôi, người con trai lớn theo ông tập kết ra Bắc có đến chào cha trước khi vượt biên, Ðoàn tụ với mẹ và các em ở miền Ðông Hoa Kỳ. Từ một sĩ quan của đơn vị phòng không quân đội nhân dân đã du học bên Nga, nay ông trở thành người tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ông sống độc thân, cho đến khi bà mẹ mất, rồi ông cũng qua đời mấy năm sau. Dù theo cha đi tập kết 1954, đi học bên Nga, sĩ quan của đơn vị phòng không tên lửa, nhưng ông không chịu vô đảng. Sau cùng ông chết theo mẹ trên miền dất tự do. Bà Minh sống với vợ chồng con gái là Ðặng Mỹ Dung. Khi được tin chồng chết, bà không muốn về chịu tang dưới nghi lễ của đảng cộng sản. Một lòng kiên quyết, bà muốn để cho chồng đi trọn con đường ông lựa chọn. Ông chết trong lòng đất quê hương, nơi có mộ phần con trai út của ông là sĩ quan miền Nam. Bà Minh qua đời khi nước Mỹ bước vào thế kỷ thứ 21. Có thể ngày nay ông bà đã cùng những người con trai phục vụ cho hai miền đất nước đang đoàn tụ ở một nơi không còn khác biệt về ý thức hệ.

Cuốn sách A Thousand Tears Falling hiện được một số giáo sư Hoa Kỳ dùng để dạy cho các trường trung học. Tác phẩm Ngàn Giọt Lệ Rơi sẽ được đến tay độc giả Bắc California cùng với chương trình 35 năm nhìn lại tại San Jose vào tháng 5-2010. Còn cuốn phim A Thousand Tears Falling của Giao Chỉ thì đang dự thảo. Cũng mới chỉ là một ý

kiến mà thôi. Chỉ sợ rằng để lâu quá thời gian sẽ làm cho nước mắt đã khô hết cả mất rồi. Nhưng dù lâu hay mau, câu chuyện Ngàn Giọt Lệ Rơi sẽ rất xứng đáng để quay thành phim. Và hàng triệu giọt nước mắt sẽ chan hòa rạp hát. Vì vậy chúng tôi xin kể lại chuyện này nhân dịp tháng 4-2010, ba mươi lăm năm sau.

Giao Chỉ – San Jose (2010)