ĐỪNG TƯỞNG

Thi sĩ Bùi Giáng

Đừng tưởng cứ núi là cao

Cứ sông là chảy cứ ao là tù

Đừng tưởng cứ dưới là ngu

Cứ cao là sáng cứ tu là hiền.

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên

Cứ nhiều là được cứ tiền là xong

Đừng tưởng không nói là câm

Không nghe là điếc không trông là mù

Đừng tưởng cứ trọc là sư…

Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang…

Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say…

Cứ chân là bước cứ tay là sờ

Đừng tưởng cứ đợi là chờ…

Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

Đừng tưởng cứ mới là tân…

Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

Đừng tưởng cứ thấp là khinh…

Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

Đừng tưởng cứ quyết là nên…

Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

Đừng tưởng cứ lớn là khôn….

Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

Đừng tưởng giàu hết cô đơn…

Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

Đừng tưởng cứ gió là mưa…

Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

Đừng tưởng cứ hạ là ve…

Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn…

Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu…

Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

Đừng tưởng vua là anh minh…

Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.

Đừng tưởng đời mãi êm đềm…

Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

Đừng tưởng cười nói ân cần…

Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường…

Nói lời ngon ngọt mười phương chết người

Đừng tưởng cứ chọc là cười…

Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

Đừng tưởng khó nhọc gian lao…

Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

Đừng tưởng cứ giỏi là hay…

Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần.

Đừng tưởng nắng gió êm đềm…

Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

Đừng tưởng góp sức là chung…

Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

Đừng tưởng cứ tiến là lên…

Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng…

Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu…

Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn…

Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.

Đừng tưởng quan chức là rồng

Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

☆☆☆

Đời người lúc thịnh, lúc suy

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

BÙI GIÁNG




LỤT LÌ

Mê Hoa
LTG: Lại ké con trai chút WiFi, MH lên mạng để lắng nghe tin tức bạn bè. Không nói được nhiều vì phải trả lại cho con để bảo tồn pin theo dõi thông tin. Xin chia sẻ với bạn bè tâm tư mấy ngày sống như thời xa xưa với cây đèn dầu leo lét…Giờ phút này nhà vẫn chưa được nhà đèn chiếu cố. Thông cảm thôi vì để bảo đảm an toàn cho dân.
************
U cha ! nước lụt chưa ra,
Lại tin có bão phương xa ập về.
Cố Đô tui tội chưa tề,
Điện mãi du hí, bốn bề tối tămh.
Người cần kêu cứu làm răng?
Điện thoại pin hết, khó khăn quá hè !
Website, internet bị chê,
TV, tủ lạnh, ê hề, bó tay!
Microway, máy giặt xỉn say,
Sức lực khô cạn, nằm quay chổng giò.
Phố xá qua lại bằng đò,
Dân chài gặp dịp giá hò vượt khung.
Chỉ 200 mét qua đường
Tiền công phải trả thất thường làm sao!
Hai trăm ngàn, tới cái vèo,
Xăng thời không tốn, công chèo – khiếp chưa?
Trèo tường, đường tắt, đi bừa,
Tìm nơi có điện, charge nhờ pin ngay.
Big C, Sân Đấu gần đây,
Nhà như ốc đảo, bao vây mịt mờ.
Mênh mông nước bạc vô bờ,
Mưa tuôn, đập xả, cây trơ thân gầy!
Trông chờ tin điện mỗi ngày,
Đêm nằm thao thức, đêm dài thâu đêm !
Năm ngày không điện ngặt thêm,
Thức ăn tủ lạnh nấu liền kẻo hư.
Cá chiên, tôm luộc, thịt nhừ,
Ăn dồn, mai mốt, thiếu thừa tính sau,
Nước xuống, điện sẽ có mau,
Cuộc sống trở lại, đâu vào đấy thôi.
Nước ra tiền tốn một hơi,
Xe bị ngâm nước, thôi rồi, mệt chưa?
Mỗi xe 3 triệu sơ sơ,
Sáu chiếc đứt bốn chục tờ 5 trăm.
Nhà dột, ngói trụt càng căng,
Thợ e không có, tính răng đây hè?
Lụt bão vẫn còn nặng nề,
Trăm lo, nghìn sợ, đầm đìa lệ rơi:
-Dọn nhà điện giựt- hết đời!
Mẹ con cùng chết, thương ơi, nỡ nào!
-Đời bé chưa mở mắt chào,
Mẹ hiền sinh đẻ, lật ào đò đưa!
Lưới trời lồng lộng mà thưa,
Hà Bá nuốt chửng con thơ mẹ hiền!…
Rào Trăng thuỷ điện- Phong Điền,
Chiến sĩ cứu hộ tận miền núi xa.
Mưa to, núi đá lở ra,
Lấp vùi chiến sĩ, chết 13 mạng người!
Còn bao nhiêu kẻ tong đời,
Thương ôi, biết nói làm sao hở trời!
Người thân kêu khóc cạn lời,
Người xa thương tiếc, ngậm ngùi sẻ chia.
Cầu cho bão lụt chớ về,
Gây bao tang tóc, nặng nề- oan khiên !
Cầu trời gió lặng, mưa yên,
Để cho nhân thế an nhiên đời thường.

Huế 13/19/2020
Mê Hoa

Image may contain: 1 person, sitting



Chạnh nhớ Huế độ cuối thu

THOẢNG BÊN NI NGHE TIẾNG RAO LẢNH LÓT
“..AI BÁNH XÔI GIẦY…”
CHẠNH NHỚ HUẾ ..ĐỘ CUỐI THU!

Nghe chuyện xưa từ Mệ Ôn dạy kể lại
Chợt chạnh lòng nhớ Huế độ cuối thu
Con bạc phận sanh ra nơi viễn xứ xa mù
Huế vẫn hiện hữu nhắc nhở Con về nguồn cội!

Mưa cuối giữa Thu trải dài trên Xứ Huế
Lảnh lót tiếng rao: “Ai ăn bánh xôi giầy..”
Trong các món ăn đặc sản của Xứ Huế ni
Thời còn Vua Chúa, Xôi Bánh Giầy là Cung tiến

Hạt nếp Huế luôn luôn là nguyên liệu chính
Cách làm rất công phu bởi rất hiếm kẻ mần
Bánh vừa dẽo, vừa ngon mờ mô nhão từ nhân
Vừa dai vừa ngọt lại mềm hợp với mọi khẩu vị

Nếp nấu thành xôi chín, sao cho thiệt nhuyễn kỹ
Kết hợp giã mạnh tay khi đang nóng để hạt xôi
Hòa lẫn vào nhau..dòm tợ một khối bột nhồi
Dẽo trắng và bóng mịn..Xôi bánh giầy là rứa đọ!

Chừ xã hội cải tiến thu gọn nhiều công đoạn nhỏ
Siêu thị, Chợ có bán đầy nhiều bột nếp tiện nghi
Mua một ít bột về, hòa với nước cứ như ri
Vo hình tròn, ẩn vô giữa ít đậu xanh nấu chín..

Đậu xanh nhuyễn mềm xào với dầu hành với cỡ đường kính
Chừng bảy, tám phân nắn cho viên bánh tê từ dẹt thành tròn
Chung quanh viền chỉ việc nắn lại cho dày hơn
Phần bánh ở giữa, thành vòng tròn ôm phắn bánh

Nhưn đậu xanh nằm giữa có thể ví chiếc bánh
Như chiếc khăn vấn trên đầu trong trang phục áo tứ thân*
Bánh lúc nì cần chỉnh lại dáng, cho dệ trông
Đem hấp cách thủy với độ mỏng mềm thanh cảnh

Rứa bước đầu đã mần xong phần bánh..
Dìn hắn in hệt dư mặt trăng vào độ trung tuần
Xếp bánh giầy vô chiếc nách* bên hông
Bên trong đặt thêm ít gia vị đi kèm đồ dùng bánh..

Nơi phố thị khắp đường làng quê lót lảnh
Những tiếng rao khi Huế độ cuối Thu..

Chiếc bánh hình mặt trăng được ấn giữa một chút xôi
Chín mềm thơm ngậy, bánh gấp đôi thành hình quai vạt
Và dư rứa từng chiếc Xôi Bánh Giầy lần lượt..
Bên cạnh ít mè rang thơm giã nát một chút thôi

Trộn chút muối quê, thứ gia vị tuyệt vời
Cắn một miếng bánh chấm muối mè, nhai từ tốn
Sẽ cảm nhận vị béo bùi của nếp thơm mô lẫn lộn
Mùi đậu xanh phi hành, thơm lựng đến nhức răng..

Huế cuối thu, trời lành lạnh dưới mưa giăng
Nhẹ nhàng man mác Thu chuyển mùa từng góc phố
Tiếng rao lảnh lót mẹt nách hông quày quả
“Ai xôi bánh giầy..”..Nhớ quá…Huế cuối Thu!

By Anne Sandra Anh Ton
(Cong Huyen Ton Nu Tram Anh)
•••••••••••
() Khi dòm từ trên xuống phần chiếc bánh

() Là một cách goại rất Huế chừ đương dần mai một, Từ “nách” ni có nghĩa là đặt chiếc rỗ, mẹt bên hông rồi dùng một tay giữ rị lại mờ mô hề vác lên vai hay đặt vô triêng gánh




Hương Quê Hoài Niệm

Vấn vương theo tà áo dài, như gợi nhớ cho tôi trở về với tình tự quê hương. Ở một nơi phương trời xa, hình dáng thiếu nữ trong tà áo dài, đã trở nên một hoài niệm của thời xa xưa

1
Em đi vạt áo gió bay
Cho bao hoài niệm nhớ ngày xa quê
Lắng nghe gió thổi hồn về
Cuốn theo nỗi nhớ, lời thề gió bay.
2
Hoa vàng mấy độ vơi đầy
Dùng dằng chia lối, đổi thay ý trời
Quê hương nay đã đổi dời
Còn đâu tà áo, bước rời cố hương.
3
Cho dòng lệ ngấn hạt sương
Ngày dài hiu quạnh, đoạn trường thế thôi
Bóng em đầy ắp hồn tôi
Quê hương ở lại, nhớ người phương xa.
4
Em đi khép nép đôi tà
Lòng tôi chết dại, mưa sa tần ngần
Thôi thì tình ấy phù vân
Gánh theo nỗi nhớ, bước chân người tình.
5
Tạ ơn em một bóng hình
Tung bay ta áo xuân tình mộng mơ
Thương em cái thuở bao giờ
Ngây ngô trong sáng tuổi thơ dạt dào.
6
Hương quê tình tự xôn xao
Vọng đưa câu hát ngọt ngào lời ru
Tiếng ngân não nuột trầm tư
Vang xa ngàn dặm bay vù cánh chim.
7
Hôm nay tôi vội đi tìm
Tìm trong tà áo trái tim bồi hồi.
Quê hương khế ngọt trên đồi
Đường quê in bóng, Mẹ tôi đợi chờ.
8
Xa người tôi lại làm thơ
Trang thư ráo mực nửa tờ đánh rơi
Đôi hạc trắng bay mất rồi
Tiếng kêu thảm thiết bên trời tha phương.
9
Dẫu rằng trời đất vô thường
Mà sao lòng vẫn còn vương nhớ hoài
Đêm về sương đẫm trên vai
Đèn khuya một bóng soi dài tiếng đêm.
10
Sương thu ngấn lệ bên thềm
Nhớ thương ở lại nỗi niềm gió bay
Vướng em vạt áo nơi này
Hương quê hoài niệm tràn đầy hồn tôi.

Lê Tuấn




GỞI CHÚT TÌNH VỀ HUẾ

Con đường đi , hoá thành sông
Đồng ruộng trắng xoá mênh mông biển hồ
Những dòng nước cuộn xô Bồ
Mưa gào gió thét thẫn thờ lo âu
Mây chùng xuống thấp rầu rầu
Trời đen mờ mịt một màu tang thương
Vài chiếc ghe nhỏ ngoài đường
Trong nhà dọn dẹp ghế giường ngổn ngang
Nhìn trời lòng thật hoang mang
Nước dâng lên mãi nát tan cõi lòng
Trời đất sao khiến long đong
Bao nhiêu vật dụng chất chồng lên nhau
Cầu cho con nước xuống mau
Điện thì “ cúp “đã từ lâu tối mù
Người thì mệt mỏi gật gù
Dựa lưng trên ghế tù mù lất lây
Nấu ăn biết chỗ nào đây ? !
Đành nhai sống gói mì này qua đêm
Nước phủ chẳng thấy bậc thềm
Trong nhà bì bõm lội rêm cả người
Cây vườn bầm dập kém tươi
Lều bều rác rưởi và rươi quanh nhà
Vì rứa Huế phải lo xa
Phòng khi bão lụt có mà miếng ăn
Nhìn quê hương thật băn khoăn
Biết bao suy nghĩ làm răng bớt buồn ? !

Võ Thời 11- 10 – 2020




Ở ĐÂU CŨNG CHỈ MỘT VẦNG TRĂNG

ThaiNC

Nói đến trăng, chúng ta sẽ nghĩ đến ông Lý Bạch, nhà thơ nổi tiếng như cồn bên Tàu cách nay cả ngàn năm có dư, và được tôn sùng là nhà thơ số một từ trước tới nay của Trung Hoa. Thơ ông hay làm sao, thật tình tôi chưa hân hạnh được đọc, nhưng ông chết thế nào thì tương truyền rằng một hôm đang đi thuyền uống rượu trên sông bỗng thấy bóng trăng phản chiếu xuống dòng nước đẹp quá, sẵn hơi men, ông nhảy ùm xuống nước để ôm trăng và…ngủm.

Mỗi lần nghe câu chuyện trên, tôi vẫn cười tự hỏi không biết ông Lý Bạch đã để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ và ngày nay biết còn được mấy người có thể nhớ trọn một bài nào đó của ông, nhưng chính cái chết của ông lại được thi vị hoá thành một huyền thoại và lưu truyền rộng rãi mãi cho đến bây giờ. Tôi thì tôi cho rằng bữa đó ông xỉn quá ngồi trên thuyền không vững nên bị tai nạn té xuống nước, và xui một điểm là nhà thơ không … biết bơi, nên đành lặng lẽ trôi theo khóm lục bình. Trăng thì cứ nhìn lên trời thấy nó sáng chói, rõ ràng mới đẹp chứ đợi nó in hình dưới nước thì đâu có gì đẹp? Tôi lấy thí dụ bạn muốn ngắm một người đẹp thực sự bằng xương bằng thịt trước mặt mình, hay nhìn cô ta trong gương vậy?

Vậy đó mà những cơn mưa bão thổi qua Cali mấy ngày qua đã làm tôi suy nghĩ lại. Không chừng ông Lý Bạch quả đúng như tương truyền, ông ấy nhảy xuống sông để ôm trăng mà chết thiệt!

Hôm kia, không hiểu vì lý do gì tôi ra vườn sau nhà vào buổi tối. Mưa đã tạnh, nhưng hậu quả của mấy ngày mưa dầm dề đã làm nước ngập một cái vũng trong vườn nhà tôi, khá lớn, độ gần một mét đường kính. Nếu không nhờ mấy cơn mưa lớn vừa rồi tôi cũng không biết vườn nhà mình có một chỗ hủm để nước có thể tụ lại thành vũng trông như một cái ao tý hon vậy. Nhưng điều làm tôi thích thú nhứt là ở ngay giữa ao là nguyên một vầng trăng. Đúng vậy. Mưa tạnh, mây tan và trăng lại hiện ra trên cao. Trăng rằm vành vạnh, chói sáng cả bầu trời sau cơn mưa và in trọn vẹn xuống …cái ao vườn nhà tôi.

Trăng đẹp. Chúng ta có ai không một lần trong đời nhìn trăng trên cao và tấm tắc khen là nó đẹp. Đã biết bao nhiêu giấy bút, thi văn, thần thoại xuất xứ từ trăng lưu truyền từ ngàn xưa và sẽ mãi đến ngàn sau. Tôi cũng vậy. Thỉnh thoảng, thường là những ngày rằm, tôi có khi tình cờ nhìn vầng trăng chiếu sáng trên bầu trời và cũng tấm tắc khen nó… đẹp. Chỉ vậy thôi. Nửa phút là nhiều lắm. Nếu lúc đó có ai hỏi trăng đẹp ở chỗ nào thì đành cười trừ.

Hôm nay cũng vậy. Tôi cũng nói là vầng trăng trên trời thật đẹp. Đẹp ở đâu ? Không biết. Nhưng vầng trăng ở trong vũng nước ngay trước mặt tôi thì khác. Tôi sẽ không ngần ngại gì mà trả lời rằng trăng đẹp vì hình như là nó có hồn. Hồn Trăng. Có một sự khác biệt rõ ràng giữa hai vầng trăng. Trăng ở trên trời thì xa xôi diệu vợi, còn vầng trăng dưói đất trước mặt tôi thì nó gần gũi làm sao. Thậm chí tôi có thể lấy tay đụng nó được. Trăng trên cao thì bất động vô tri, còn trăng ở đây thì đang chuyển mình theo từng gợn sóng lăn tăn mỗi khi có cơn gió thổi qua làm cho tôi có cảm tưởng như trăng đang múa.

Một cảm giác man mác, thanh thản chạy khắp cơ thể làm tôi rùng mình với ý nghĩ này. Trăng trên trời là của chung nhân loại, còn vầng trăng này là của riêng tôi, của tôi mà thôi. Trong một khoảnh khắc mấy giây thôi, tôi có cảm giác như thế giới chung quanh mình bỗng nhiên ngừng đọng; chỉ còn vầng trăng trước mặt đang lả lướt uốn mình trong một vũ điệu nghê thường nào đó, và tôi là khán giả duy nhứt được chọn để thưởng ngoạn.

Tôi ráng đứng thật yên tận hưởng những giây phút kỳ diệu này, vì một đám mây đang dần kéo đến xâm chiếm và che dần vầng trăng của tôi. Tôi tiếc lắm nhưng không làm gì được. Tôi linh cảm là những cảm giác vừa qua có thể là cơ hội duy nhứt trong đời. Trăng thì bao giờ cũng còn, và nước thì ở đâu cũng có, nhưng phải đợi đến bao giờ cảnh và tình mới có thể kết hợp một cách hài hòa và sống động trong tôi như vậy nữa?

Và tôi bỗng nhớ tới ông Lý Bạch. Họ nói ông thấy trăng dưới nước đẹp quá bèn nhảy theo xuống. Cũng có thể lắm. Tôi chỉ là một hậu sinh tầm thường mà bỗng nhiên cũng có vài giây xuất thần như vậy thì với công lực cao siêu của ông Lý Bạch, có lẽ ông không những thấy trăng đang muá vũ khúc Nghê Thường, mà chắc là ông còn thấy cả Hằng Nga Tiên nữ trong đó nữa nên ông nhào xuống ôm là phải rồi.

Trở lại cái vũng nước sau vườn.

Tôi vẫn còn tiếc nuối vầng trăng của tôi nên nấn ná chờ cụm mây đi qua. Quả nhiên chỉ vài phút sau sự nhẫn nại của tôi đã được bồi đáp. Trăng lại xuất hiện một lần nữa, trong veo vẻo giữa cái ao. Nó cũng uốn mình lăn tăn theo từng gợn sóng. Tôi mừng lắm, nhưng rồi lại thất vọng vì quả nhiên là không còn tìm lại được cảm giác như lúc nãy. Trăng vẫn đẹp, nhưng tôi không còn cảm được cái hồn của nó nữa. Tiếc quá đi thôi.

Có một đoạn thơ xưa như vầy:

“Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương giang thủy”

Chàng ở đầu sông, thiếp ở cuối sông. Nhớ nhung nhưng không thể gặp mặt; hãy cùng nhau uống nước sông Tương.

Nếu tôi nhớ không lầm thì đây là bốn câu trong bài thơ Trường Tương Tư. Bài thơ khá dài nhưng đây là bốn câu độc đáo và được trích đọc nhiều nhứt. Chuyện xưa kể rằng có nàng Lương Ý Nương nhà ở bên bờ sông Tiêu Tương vừa đẹp lại vừa hay chữ. Ở trọ nhà nàng có thư sinh tên là Lý Sinh. Một đêm Trung Thu trăng tròn, hai người cùng thưởng trăng, tâm đầu ý hợp và thương yêu nhau. Cha của nàng không đồng ý cuộc tình nên đã đuổi Lý Sinh ra đi thật xa. Nàng Ý Nương ở lại nhà bên bờ sông Tương, thương nhớ người tình mà cảm tác ra bài Trường Tương Tư này.

Phải chi ngày đó có ai nói cho họ biết rằng không phải chỉ có nước sông Tương mới là cái chung của họ. Còn vầng trăng trên trời nữa chi? Dù có cách xa nhau ngàn dặm sơn khê thì vầng trăng kia cũng chỉ một. Hai người chỉ cùng nhìn lên trăng mà tâm sự thì cũng vơi đi nỗi niềm.

Nhưng rồi họ lại nói rằng trăng kia có cả…ngàn cặp tình nhân khác cùng nhìn và cùng tâm sự như họ thì đâu còn gì là riêng tư. Được thôi. Muốn riêng tư thì có riêng tư.

Dù chàng có ở đầu sông nàng ở cuối sông , thì nơi nào cũng phải có những vũng nước như vũng nước sau vườn nhà tôi, phải không? Vậy thì chàng và nàng cứ ra sau vườn, mỗi người một vũng, đợi trăng lên cao in bóng xuống nước, thế là mỗi người đã có một vầng trăng riêng mặc sức mà tâm sự. Và điều tuyệt vời nhứt là bây giờ trăng đang ở gần ngay trước mặt. Hai người có thể đặt tay lên và nhờ ánh trăng làm cầu đưa lên gặp nhau trên Cung Quảng.

….Thi sĩ Tản Đà của chúng ta trước đây cũng có một câu lục bát bất hủ:

“Ai làm cho khói lên trời

Cho mưa xuống đất, cho người biệt ly.”

Làm người thì phải biệt ly, nhưng hội ngộ thì lại tùy duyên. Nếu có duyên, thỉnh thoảng chúng ta sẽ gặp lại nhau ở những khúc rẽ cuộc đời.

Còn nếu lỡ vô duyên?

Xin hãy gởi tình qua ánh trăng.

Bởi vì, dù ở phương trời xa xôi cách biệt nào, chúng ta bao giờ cũng chung một vầng trăng.

Đêm nay, dưới ánh trăng thanh bình của xứ người, xin gởi tình tôi về bên kia bờ đại dương, qua những xóm làng, đến những dòng sông của quê hương yêu dấu.

Trăng rơi rơi sáng ngập bờ đê.

Có người quảy gánh cuối đường quê

Nghiêng vai bóng đổ chân đều bước

Sương khuya trắng phủ mái tóc thề

Tôi về từ nghìn dặm sơn khê

Theo trăng dừng bước cạnh bờ đê

Đôi dòng viết vội treo đầu gánh

Gánh trăng cô gánh cả thơ về

./.

ThaiNC




THƠ ĐỜI TUY ĐỤC MÀ TRONG

Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ Bùi Chí Vinh là cái tên được nhắc tới với nhiều giai thoại, bởi anh có tài ứng khẩu thành thơ nhiều đề tài hóc búa do bạn bè thách đố bên chiếu rượu.

Còn trên thi đàn, thơ đời Bùi Chí Vinh người khoái cũng nhiều, người ghét cũng lắm, thậm chí là một cái gai trong mắt nhiều người vì dám nói thẳng, nói thật, tung hê hết thảy sự đời trong đục, kiểu “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng cũng cái dáng vẻ ngang tàng, gai góc ấy khi thỏ thẻ thơ tình lại biến hóa thành trong veo không có tuổi, kiểu như: “Cô gái ơi anh nhớ em/ Như con nít nhớ cà – rem vậy mà…”.

Tự nhận mình sinh ra dưới một ngôi sao “quậy”, cầm tinh con ngựa bất kham, từng khoác áo lính một thời tuổi trẻ, nhưng có lúc phải làm đủ thứ nghề mạt lộ để sinh nhai như lời tự bạch: “Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương/ Bất lương bàn luận chuyện hiền lương/ Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ/ Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”. Vài năm nay, anh chuyển sang cầm cọ vẽ tranh và đã có hai triển lãm cá nhân gây được sự chú ý trong công chúng. 

-Trước đây mọi người quen gọi anh là nhà thơ, nhưng bây giờ gọi anh là họa sĩ trẻ cũng được phải không ạ? 

Cứ gọi tôi là Bùi Chí Vinh – Bình Chí Vui là được rồi. Thật ra tôi làm quen với hội họa từ nhỏ, năm chín tuổi đã đoạt giải hội họa Thiếu nhi châu Á với bức tranh màu nước Quang Trung hành quân. Nhưng rồi do cái duyên, tôi gắn bó với văn chương nhiều hơn trong một thời gian dài. Thật vây, mỗi khi làm một công việc mới nào đó tôi đều không có sự tính toán nào. Tôi tin mọi việc đều do sự sắp đặt của số phận cả, và “cùng tắc biến, biến tắc thông”. 

-Bùi Chí Vinh một tay chọc trời khuấy nước mà cũng tin vào số phận sao? Cái sự “cùng tắc biến, biến tắc thông” của anh là gì vậy? 

Sao lại không chứ. Tính cách nào, số phận nấy mà. Tôi tin vào số phận, vào Thượng đế, vào luật nhân quả. Nếu có niềm tin, con người ta sẽ sợ làm điều ác, điều xấu. Tôi chỉ không sợ cái ác, cái xấu khi phải đối đầu với nó thôi.

Đời tôi có những việc rất lạ mà tôi tin đó là sự trợ lực của Thượng đế. Tôi có niềm tin vào tâm linh, dù chúng ta đang sống trong thế giới duy vật. Đó là một khi cuộc sống bị đẩy vô chân tường thì tôi lại bộc lộ ra một khả năng mới và sống được bằng khả năng đó. Tôi quăng mình vào thơ một cách dữ dội nhưng rồi đến lúc chỉ được làm thơ tình để mọi người vỗ tay, hay thơ minh họa nghị quyết… tôi không thích nữa và dừng lại. Đưa đẩy thế nào tôi chuyển sang viết truyện cho tuổi mới lớn và bán vào hàng chạy nhất lúc đó cùng với Nguyễn Nhật Ánh. Khi người đặt hàng tôi viết truyện thiếu nhi là ông Nguyễn Thắng Vu, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng qua đời thì lại có người đặt hàng tôi viết kịch bản điện ảnh. Khi những nhà đầu tư làm phim gặp khó khăn thì khả năng hội họa của tôi lại trỗi dậy. Hai triển lãm vừa qua, mỗi cái tôi bán được năm bức tranh. Là “họa sĩ trẻ” mà được như vậy cũng là thành công rồi. 

-Hỏi thật, anh đã thành danh trong văn chương, khi “tay ngang” đến với hội họa, anh không sợ bị cho là lấn sân, không “biết mình biết ta” sao? 

Tôi có biết gì về hội họa đâu, bỗng một ngày muốn vẽ thì cầm cọ vẽ thôi. Vẽ xong cũng không có ý định triển lãm, nhưng rồi cái duyên cứ đưa đến. Tranh của tôi không giống ai, nó là minh họa cho cái đầu, cho suy nghĩ của tôi nên có sự hồn nhiên, chân thật lẫn dữ dội, thống khổ. Mỗi người có một sứ mệnh riêng nên tôi không nghĩ là mình lấn sân. Và vì “biết mình biết ta” nên tôi chỉ dạo chơi với hội họa một cách thoải mái nhưng hết mình. Bùi Chí Vinh là thế, chơi cái gì cũng phải hết mình.

Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người. 

-Như vậy sau hội họa, sẽ còn điều bí ẩn nào đó đang chờ anh khám phá phải không? 

Như tôi đã nói, đó là một phản xạ tâm linh nên tôi cũng không biết trước. Có thể đó là sự trở lại với văn chương, vì tôi còn nhiều dự định đang ấp ủ.

Nếu có điều kiện viết tiểu thuyết lịch sử hoặc làm kịch bản phim, tôi sẽ chọn viết về thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ, vì những con người anh hùng áo vải thời đó rất ly kỳ. Nó sẽ rất phong phú bởi nhiều tình tiết, chi tiết dạng giả sử, ngoại sử rất hấp dẫn, nhưng đều trên cơ sở khoa học, hợp lý mà tôi có thể tưởng tượng và làm được. Không chỉ có Nguyễn Huệ mà cả Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, rồi sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Chỉnh – một tài năng lớn của thời Lê – Mạc nhưng đi theo Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhiệm cũng vậy. Những người này có đời sống riêng rất đặc biệt, Ngô Thời Nhiệm là đệ nhất văn thần, còn Nguyễn Hữu Chỉnh là đệ nhất quân sư thời đó. Có thể thấy những nhân vật lỗi lạc nhất của Bắc Hà đều theo Nguyễn Huệ, cả những người Hoa tham gia phong trào phản Thanh phục Minh cũng theo Nguyễn Huệ. Chỉ có minh chúa mới có sức thu phục nhân tâm như thế.

-Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn Bùi Chí Vinh thì có cảm giác gì khi “đáo tuế”?

Tôi sinh năm Giáp Ngọ 1954, năm nay 2014 cũng là Giáp Ngọ, vậy là đúng 60 năm cuộc đời. Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn tôi lại không nghĩ vậy. Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều vận hạn khắc nghiệt ở những năm khác nên đến năm tuổi, có khi tôi sẽ phục sinh, nạp đủ năng lượng để sải vó, để rong ruổi, để chinh phục những điều mới mẻ.

“Ngày ta sinh Nguyễn Huệ đã bùng hà/ Nên con – ngựa – tử – vi không người cưỡi/ Ta sút chuồng phá bỏ yên cương/ Lặng lẽ ruổi đời mình lên núi…”. Hình như kiêu hãnh và cô độc là con đường mà anh đã chọn và theo đuổi đến cùng…

Đúng rồi, vì “Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc/ Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người/ Ta không biết ta là người hay ngựa/ Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi”… Đó là bốn câu đầu và cuối mà tôi đã viết trong bài Ngày sinh của ngựa. Bài thơ này mới nghe qua tưởng rất ngông cuồng, nhưng thật ra không phải vậy. Câu “Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông”, tôi vừa mượn ý bài Ngày sinh của rắn của Phạm Công Thiện, nhưng hình ảnh rắn cũng để nói về một cái gì đó hiểm độc. Sự rình rập, mai phục trong bụi của rắn đối lập với hình ảnh con ngựa tung vó chạy trên đồng cỏ, càn lướt trên thảo nguyên. Trong đời tôi, Nguyễn Huệ là vị anh hùng mà tôi cảm phục, thần tượng nhất. Không chỉ là người làm nên chiến công hiển hách, chưa hề thất trận mà về mặt nhân quyền, ông có nhiều cải cách cho dân.

Thời nào cũng vậy, cách cô độc của một kẻ sĩ cầm bút đi liền với sự kiêu hãnh. Cô độc vì cảm thấy “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” nên phải lùi lại. Nhưng trong biểu hiện sự cô độc phải có cá tính riêng. Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.

-Văn chương cũng là một sản phẩm của xã hội. Có ý kiến cho rằng người viết trẻ bây giờ có kỹ năng nhưng ít có vốn sống nên tác phẩm của họ cũng lơ lửng. Anh thấy nhận xét trên thế nào?

Phải nói rằng viết văn là một nghề cực nhọc, đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn sự dấn thân, bản lĩnh của người viết. Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Tức phải tải được đạo lý, nhân nghĩa, chính trực, chứ nếu viết văn để tải cái hả hê, cái tham vọng của cá nhân thì nên chọn công việc khác hơn là viết văn. Tôi tin những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.

Bây giờ văn chương rất hỗn độn. Văn chương thậm chí tải cái ác, cái lơ lửng, khích cái tà đạo nhưng lại được một bộ phận không nhỏ cổ vũ. Có lẽ do đời sống bây giờ thực dụng, người ta không còn lý tưởng nên văn chương biến thành minh họa cho xã hội. Hơn bao giờ hết, giữa xã hội hỗn độn, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn thì văn chương càng phải làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai của văn học trẻ bây giờ tôi không cảm nhận được điều đó. Hiện nay tuy có rất nhiều người viết trẻ, nhưng tôi lại thấy văn học trẻ rất bế tắc. Lý do họ bị khống chế quá nhiều. Trong bản thân mỗi người có sẵn một người tự kiểm duyệt những con chữ của mình. Thế nên nhiều tác phẩm ra đời kiểu “đầu voi đuôi chuột”, mở ra vấn đề lớn nhưng kết thúc không đâu vào đâu.

Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.

-Đời sống thực dụng, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn. Nghe thật đáng sợ, nhưng chẳng lẽ chúng ta phó mặc, không làm gì sao? Có lẽ nên bắt đầu từ giáo dục, anh có thấy như vậy không?

Thời của tôi, từ khi còn nhỏ, học tiểu học là đã được nhà trường dạy môn Đức dục. Đó là cách tập tu thân, cư xử có đạo đức, theo đạo lý, lẽ phải nhưng không giáo điều, lên gân mà hết sức đơn giản, gần gũi như thưa gởi, xin phép cha mẹ khi ra khỏi nhà, chào người lớn tuổi, gặp đám tang cúi đầu chào, nghe thấy quốc ca dù ở đâu cũng đứng nghiêm, không nhặt của rơi… Những điều rất cơ bản trong một xã hội văn minh mà một đứa trẻ cần phải biết cách ứng xử với bạn bè trang lứa, với cha mẹ, người lớn, hàng xóm, với cả người nước ngoài đến nước mình. Lên trung học, bước vào đệ thất (tức lớp 6) thì học thêm môn Công dân, mở rộng hơn dạy về cách sống yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, nghĩ đến đất nước trước khi nghĩ đến bản thân. Nhờ những bài học Đức dục, Công dân mà một đứa trẻ khi lớn lên bên cạnh kiến thức thì đã được trang bị nền tảng văn hóa để biết cách sống đẹp. Đất nước ta đã từng có những thế hệ được thừa hưởng nền giáo dục nhân văn như thế, từ đó mới có những người sống vì lý tưởng, dám dấn thân, dám hy sinh.

Có lần tôi tham gia biểu tình và bị cảnh sát rượt, tôi phải quăng chiếc xe đang chạy trên đường Pasteur để thoát thân. Hai ngày sau quay lại thấy chiếc xe máy vẫn còn nguyên chỗ cũ. Lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi không cảm động hay thấy việc đó có gì đặc biệt. Vì đó là điều bình thường trong xã hội mà con người được giáo dục không được tham lam, tước đoạt của cải của người khác, dù để trước mặt. Thời tao loạn mà còn như thế. Còn bây giờ, chúng ta đã qua thời nghèo đói để biện mình cho việc “bần cùng sinh đạo tặc”, vậy mà những tin “hôi của” xảy ra khắp nơi. Hơn cả buồn là sự xót xa.

-Anh từng làm “sếp” của những tay anh chị giang hồ mà vẫn cảm hóa được họ bằng thơ kia mà.

Bởi tôi tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”, và thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.

Sau 1975, tôi được phân công về công tác tại Trường Thanh niên Xây dựng cuộc sống mới ở Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tân Phú (Đồng Nai) giáo dục cho thanh niên loại 4. Có những người có học thức và cả những người thất học, họ phạm pháp nhưng chưa đến mức phải ở tù nên bị thử thách, trải qua môi trường cải tạo, xây dựng cuộc sống mới ở trường này. Tôi làm tuyên huấn, trực tiếp dạy học cho họ bằng vốn sống và kiến thức mình chứ không theo giáo trình nào cả. Ở đó, tôi thấy sự ngây thơ và hướng thiện của họ còn mạnh mẽ hơn chính những cán bộ thanh niên xung phong đang giáo dục, hướng dẫn họ.

Tôi còn nhớ, có lần một học viên là giang hồ anh chị nổi tiếng vùng Tân Định bị đưa vào trường, anh này bất phục và có ý định bỏ trốn bằng vũ lực. Thấy được thái độ của anh ta, tôi làm bài thơĐiều tôi chưa chuẩn bị – là lời suy niệm của một “đại ca” dân Sài Gòn có học thức, nhưng cũng là châm ngôn của những người giảng dạy là “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”. Liền sau đó tôi bị cấp trên nhắc nhở, cho rằng tôi đi lệch phương pháp của trường.

“Đời sống có gì hơn quả bóng/ Tay trơn không níu được bao giờ/ Hạnh phúc có hơn gì quả bóng/ Lủng mấy lần xì hết ước mơ… Quả bóng tròn như thể công danh/ Anh chụp suốt một đời không dính…”.

-Có khi nào anh nghĩ đời mình trắc trở do thơ anh vận vào đời không?

Nhờ làm thơ về bóng đá mà tôi sống được đó chứ. Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn “cấp trên cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo”, còn nếu phải đăng thì “chỉ đăng thơ tình và duy nhất thơ tình mà thôi”. Tuy chỉ cấm bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, nhưng không nơi nào dám làm trái. Tôi phải xoay xở và nghĩ ra đề tài làm thơ về bóng đá. Thuởấy nhà báo Hồ Nguyễn phụ trách tờLong An Bóng đá và tờLong An Cuối tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh thắt ngặt của tôi bèn đề nghị mỗi số báo tôi có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Những bài thơ như một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam đã giúp tôi sống được qua lúc khó khăn đó.

-Lý lịch của anh rất đỏ mà cũng phải khổ sở như vậy sao?

Gia đình tôi là gia đình cách mạng. Ba tôi từng là thành viên Ban tuyên truyền thi hành Hiệp định Geneve, là một nho sĩ Bắc Hà, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Mẹ tôi cũng hoạt động trong Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và cũng là đảng viên Đảng Lao động. Bà từng bị bắt ở bót Catinat và ở tù chung với bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… Ba tôi cũng muốn hướng tôi đi theo con đường của ông, nhưng tôi vốn cầm tinh con ngựa, có máu lang bạt, nổi loạn nên không muốn đi theo lối mòn. Nhà tôi ở xóm Lách dưới chân cầu Công Lý toàn là người lao động nghèo. Lớn lên tôi thấy hàng xóm tuy nghèo nhưng là những người tử tế, cư xử minh bạch, quân tử, ngay cả tiếng chửi thề cũng khí khái chứ không bừa phứa, vô lối. Vì vậy, tuy sống ở khu bùn lầy nước đọng nhưng chất hiệp sĩ cứ ngấm vào người từ lúc nào, khoái làm anh hùng nghĩa hiệp để bảo vệ người cô thế. Trong hoàn cảnh đó, những người có lý tưởng tham gia đấu tranh rất nhanh. Năm 15 tuổi tôi đã tham gia hoạt đồng cách mạng. Và cuộc đời đã quăng quật thằng tôi không thương tiếc để tôi phải thấm thía câu thế thái nhân tình.

-Nhưng có lẽ nhờ thấm đòn mà anh cũng khôn ngoan hơn?

Một con người có khi trộn lẫn nhiều yếu tố, nhưng dù thế nào cũng trên cơ sở Chân – Thiện – Mỹ. Khi tôi phân thân ra thì tôi vẫn là tôi, không giả dối, đánh lừa mình. Phân thân không phải là biến thành diễn viên mà là để linh hoạt tồn tại như câu nói nổi tiếng của Pele: “Tại sao tôi biến thành một cầu thủ thiên tài trong bóng đá? Bởi vì tôi biết linh hoạt như một giọt thủy ngân trên sân cỏ”.

-Những biến thiên của một cuộc đời rất vô cùng. Giờ đây, nhớ về cậu bé xóm Lách ngày nào, anh có thấy hài lòng với những gì mình đã làm được trong cuộc đời chưa?

Với một thằng bé xuất thân từ xóm Lách với đủ trò thả diều, câu lươn, bắt dế… và phải kiếm kế sinh nhai từ thuở nhỏ như dạy toán, luận văn cho những đứa cùng lớp, làm lồng đèn trung thu, nhiều trò thủ công khác để có tiền… thì tôi có chút hãnh diện, nhưng cũng chưa hài lòng, bởi với đất nước có bổn phận phải làm nhiều việc. Thời nào cũng vậy, bổng lộc là xương máu tạo anh hùng. Những câu thơ cũ tôi viết từ năm 1978 giờ vẫn “nóng”: “Biên giới như người đau mới mạnh/ Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng/ Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh/ Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương…”.

Xin được chia sẻ cùng anh những nỗi niềm của một người Việt Nam.

Thu Ngân thực hiện

Ảnh 1: chân dung tự họa Bùi Chí Vinh – sơn dầu 60x80cm

Ảnh 2: VĨ CẦM ĐÔI sơn dầu, 80x120cm tranh đã bán

Ảnh 3: Bùi Chí Vinh chụp với những người mua tranh và MC Hương Lan

Ảnh 4: Bùi Chí Vinh, Hương Lan, Bùi Vương tại phòng tranh

Theo FB




Ngày Tháng Tám

Thơ Song Linh

Thanh Thanh chuyển dịch

NGÀY THÁNG TÁM

Ngày tháng tám mùa thu về rất lạ

Em mắt buồn theo cỏ lá heo may

Đường thở dài vàng nắng áng mây bay

Tình cúi mặt để sầu rêu nhánh lá

Ngày tháng tám mùa thu xanh biển cả

Cánh chim về hong ấm nụ môi hôn

Bài thơ yêu nhung nhớ lại gần hơn

Căn gác nhỏ mở lòng vui đất lạnh

Ngày tháng tám mùa thu vàng đất trắng

Tay em mềm gối mộng ngát trùng dương

Con sóng vỗ thềm trăng mòn vách đá

Gió thu về mây trắng đẹp trời hương

Ngày tháng tám mùa thu trùng xuống thấp

Đất khóc thầm tan vỡ mối tình hoa

Em nói dối ta buồn như muốn khóc

Con thuyền nào chở hết cõi lòng ta

Ngày tháng tám mùa thu về thêm tuổi

Đất mẹ nghèo mọc cánh vỗ trời hoang

Và tình ta từ đó cũng lang thang

Khi trước mặt cuộc đởi chưa đáp số

                        SONG LINH

A DAY IN AUGUST

That day in August, Autumn seemed so strange;

Your eyes grew sad like in grass blades a change.

The road sighed in the yellow cloudy sun,

Love faced down, anxiety got leaves moss dun.

Also a day in August, Autumn had been sea blue;

The birds had returned to warm their kiss due;

The romantic poem of each other helping take hold;

The small attic opening its heart on the land tho cold.

On that day in August, Fall had gilded the white earth;

Your soft arms as dreamy pillows in an ocean mirth;

Crashed by the waves in the moon the cliff worn;

The fall wind bringing back a clear perfumed morn.

Then, that day in August, Autumn sank abruptly low,

The ground silently cried, broken the love glow.

You lied to me so that I felt I wanted to weep,

No vessel could transport my soul in sorrow deep.

Yes, that day in August returned adding a year in age,

My poor maternal place grew wings to a wild stage;

And my love too since then got adrift dilution

While my immediate existence had not yet a solution.

Translation by THANH-THANH

Thanh-Thanh.com




TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ

(Nhã Ca)

Tôi lớn lên bên này sông Hương

Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ

Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ

Cửa từ bi vồn vã bước chân sông

Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng

Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn

Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn

Những sáng chim chiều dế canh gà

Tiếng chuông buồn vui dợn thấu xương da

Người với chuông như chiều với tối

Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi

Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông

Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn

Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy

Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy

Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan

Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em

Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền

Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố

Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ

Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời

Đổi họ thay tên viết văn làm báo

Cơm áo dậy mồm ăn lơ nói láo

Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư

Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù

Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục

Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc

Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da

Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ

Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ

Tiếng chuông xưa bừng sống lại trongtôi

Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi

Chuông oà vỡ trong tôi nghìn tiếng nói

Những mảnh đồng đen như da đêm tối

Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình

Những mảnh đồng đen như máu phục sinh

Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi

Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi

Thưc dậy thực sự rồi

Thức dậy cùng giông bão,

Thức dậy cùng tan vỡ

Thưc dậy cùng lịch sử

Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay

Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ

Cho con trở về đừng mê sảng ngó

( Nhã Ca)




Hữu Loan, Dzũng Chinh, Vũ Anh Khanh

Ba người lạ cùng nhau nổi tiếng

Hữu Loan, Dzũng Chinh, Vũ Anh Khanh, ba con người tuy hoàn cảnh và đường đời khác nhau nhưng đã tình cờ gặp nhau nơi con đường cái quan, trên đường tranh đấu, mưu cầu Xuân tự do cho quê hương, dân tộc.

Từ trái, nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhà thơ Vũ Anh Khanh, nhà thơ Hữu Loan. (Hình:wikimedia.org & Người Đưa Tin)

“Nàng có ba người anh đi quân đội,” Hữu Loan mở đầu bài thơ khóc vợ mang tên “Màu Tím Hoa Sim” được ông làm từ năm 1949, sau được in trên tờ Trăm Hoa do Nguyễn Bính làm chủ nhiệm, đã đi vào lịch sử thi ca, như một chứng nhân của lịch sử. Còn ông, sau này trở thành chứng nhân của cuộc đời.

Khi Hữu Loan vướng vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, cũng như những bất mãn trước đó trong cải cách ruộng đất, ông bỏ đảng, bỏ quân đội trở về vùng quê heo hút, Nga Sơn, Thanh Hóa, để làm một người phu kéo xe thồ đá. Bỏ lại phía sau lưng con đường công danh (mà ông cho là bại hoại) phía trước.

Hữu Loan làm thơ không nhiều. Thơ ông vượt tuyến, vào Nam, không biết có phải do được in trong tập “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Đất Bắc?”

Chỉ biết, bài “Màu Tím Hoa Sim” được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, và truyền bá sâu rộng ở miền Nam. Ít nhất có ba bài được giới trẻ và giới trí thức thời bấy giờ yêu chuộng là “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy.

Riêng bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy, một bi ca, một hùng ca, cho đến nay vẫn là những tác phẩm nổi tiếng nhất dựa trên bài thơ gốc của Hữu Loan; trong đó, nhạc phẩm của Dzũng Chinh ra đời vào thập niên 1960, được cho là bản phổ nhạc sớm nhất.

Sau năm 1975, Hữu Loan có vô thăm Sài Gòn. Ông ra chợ trời, mua được mấy băng cassette cũ, trong đó có thâu bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh. Nghe nói, Hữu Loan nghe đi nghe lại, tỏ ra thích thú với Dzũng Chinh, người mà theo Hữu Loan phổ nhạc thơ ông hay nhất.

Nhạc sĩ Dzũng Chinh.

Dzũng Chinh đưa Hữu Loan và Vũ Anh Khanh nổi tiếng hơn Dzũng Chinh, một sĩ quan bộ binh trẻ tuổi, tài hoa trong Quân Lực VNCH, không chỉ “nổi” lên khi sáng tác bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim” với tiếng hát của nữ ca sĩ Phương Dung (được khán giả đương thời ưu ái gọi là “Con nhạn trắng Gò Công”) vào thời điểm năm 1961-1962, mà ông còn

được nhiều người biết đến với nhạc phẩm “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” qua giọng ca của Hoàng Oanh.

Nhạc phẩm này nói lên nỗi niềm bi thiết, trước lịch sử bi hùng của dân tộc, khát khao một mùa Xuân thanh bình, quê hương liền một huyết mạch lịch sử.

Lời nhạc trầm hùng, trong “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” của Dzũng Chinh làm người ta nhớ tới những tác phẩm bất hủ như “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương; “Con Đường Cái Quan”của Phạm Duy; chút u uất, đau đớn vì những khát vọng thuần nhân bản bị đè nén, bức hại như trong “Người Anh Vĩnh Bình” của Nguyễn Đức Quang.

Nghe “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” của Dzũng Chinh, thấy thương tiếc cho ông. Một vùng trời âm nhạc bao la, ông vừa chạm đôi cánh vào. Nhưng chưa kịp vẫy vùng, tung cánh chim bằng lướt gió, thì lửa đạn chiến tranh đã đưa ông về tận đáy mồ sâu.

Ông hy sinh dưới chân núi Chà Bang (Ninh Phước) vào đêm cuối Tháng Hai, 1969. Năm đó Dzũng Chinh mới 28 tuổi (sinh năm 1941). Dzũng Chinh để lại cho đời tiếng kêu bi thiết, của một thời mà mãi trời chưa sáng: “Từ nghìn năm trước đất mòn nào đưa/ Tiếng gọi Trường Sơn theo bóng tối tuổi gầy mòn… Gục ngã nơi sa trường, manh áo nhuộm bụi đường/ Cây lá bạc màu xanh, một lời nguyền hy sinh chưa hề nhòa…”

Nơi Dzũng Chinh nằm xuống, cũng là một vùng có nhiều hoa sim tím, mọc dài theo triền đồi cát trắng, miền duyên hải.

Từ những đồi hoa sim của Hữu Loan, hay mùa sim tím theo những triền cát trắng của duyên hải miền Trung – Nam bộ, quê hương của mình, Dzũng Chinh mơ thấy Xuân về trên đỉnh Trường Sơn với bao thao thức:

“Mấy mùa mùa đợi mong, mai nở ven rừng/ Xuân đến bao giờ người nào hay…

Cũng như Hữu Loan, Dzũng Chinh không sáng tác nhiều (hay đúng hơn là chưa kịp viết nhiều). Ngoài bài “Những Đồi Hoa Sim,” “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng,” “Lời Tạ Từ,” “Hoa Trắng Tình Yêu,” “Hai Màu Hoa,” thì Dzũng Chinh còn được biết đến với một bài nổi tiếng khác, là bài “Tha La Xóm Đạo,” phổ thơ Vũ Anh Khanh.

Nhà thơ Vũ Anh Khanh. 

Vũ Anh Khanh nổi lên với “Tha La Xóm Đạo”

Vũ Anh Khanh cũng là người ở vùng duyên hải miền Trung-Nam bộ. Ông quê ở Phan Thiết nhưng thuộc thế hệ trước. Ông viết văn, làm báo với Thẩm Thệ Hà, thập niên 1940-1950 ở Sài Gòn.

Ông là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông phần lớn được in trong năm 1949 tại Sài Gòn, với “số lượng phát hành chiếm kỷ lục trong số ấn phẩm thời đó,” gồm truyện dài “Cây Ná Trắc” (nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1947), “Nửa Bồ Xương Khô” (hai tập, nhà xuất bản Tân Việt Nam, Sài Gòn, 1949), “Bạc Xỉu Lìn” (nhà xuất bản Tiếng Chuông, Sài Gòn, 1949)…

Trong một lần cùng Thẩm Thệ Hà về thăm quê bạn ở Trảng Bàng (Tây Ninh), Vũ Anh Khanh có ghé thăm họ đạo Tha La, cám cảnh sinh tình ông viết ra bài thơ Tha La. Sau bài thơ này được in trong tiểu thuyết “Nửa Bồ Xương Khô” của ông.

Bài thơ “Tha La Xóm Đạo” cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, nhưng bài do nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc là đi vào lòng người nhất. Theo wikipedia.org, “Tha La Xóm Đạo” đã được nhạc sĩ Dzũng Chinh, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc vào năm 1964.

Có lẽ, cũng như “Màu Tím Hoa Sim,” “Tha La Xóm Đạo” sẽ còn mãi với thời gian, như là chứng nhân của một thời – không thể nào quên.

Nếu như Hữu Loan đi kháng chiến ở miền Bắc, thì Vũ Anh Khanh đi  kháng chiến ở miền Nam.

Sau 1954, Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc. Đến năm 1956, sau khi đi dự hội nghị nhà văn Á-Phi tại Ấn Độ, Vũ Anh Khanh trở về, sửa giấy phép đi đường, tìm cách tới bờ sông Bến Hải, với ý định vượt tuyến trở lại miền Nam tự do.

Nhưng khi Vũ Anh Khanh còn đang ở giữa dòng nước, chưa kịp chạm tới bờ Nam. Thì bị biên phòng Cộng Sản miền Bắc phát hiện, dùng tên tẩm thuốc độc, bắn chết ông.

Cái chết của Vũ Anh Khanh trở thành một khúc ca bi tráng, cho một văn-thi nhân sớm biết quay đầu là bờ. Ông đã không vượt qua nổi dòng sông định mệnh. Nhưng trong bóng đêm của hơn nửa thế kỷ trước, ông đã can đảm vượt qua dòng sông ý thức hệ. Nơi mà cho tới tận hôm nay, hàng triệu triệu con người, vẫn còn bị “mắc kẹt” ở bờ bên kia.

Năm Vũ Anh Khanh mất, ông mới 30 tuổi (ông sinh năm 1926).

Nhà thơ Hữu Loan. 

Hữu Loan, truân chuyên một đời

Như vậy, trong ba người văn nghệ khoác áo chinh nhân vì vận nước, chỉ có mình Hữu Loan là Trời cho (hay Trời bắt) được (phải) sống lâu. Vì sống lâu không phải để mong làm lão làng, mà chỉ để làm chứng nhân cho câu nói của người xưa – đa thọ, đa nhục (?!).

Hơn thế nữa, Hữu Loan phải sống như lời ông kể lại, trong thơ:

“Một bên là chính quyền có đủ thứ nhân dân

(quân đội, tòa án, nhà tù nhân dân)

Và nhất là Cuồng tín nhân dân…”

Ông đã trả lời trong một cuộc thẩm vấn:

-Sao anh không làm nhà?

-Vì tôi mắc làm người!

Cả cuộc đời của Hữu Loan, vật lộn tranh đấu từng ngày, để chỉ được làm người – con người lương thiện, bình dị, không viết hoa (như Cộng Sản tuyên truyền).

Hữu Loan có hai người vợ. Cả hai đều là con địa chủ. Dù ông chỉ là con của một tá điền.

Nhờ siêng năng tự học, ông lấy được bằng tú tài Tây. Tham gia kháng chiến, ông là tuyên huấn của sư đoàn, kiêm chính trị viên tiểu đoàn.

Người vợ đầu của ông mất trong thời chiến tranh, như trong bài “Màu Tím Hoa Sim” ông viết: “Nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người em gái nhỏ hậu phương.”

Nhà thơ Hữu Loan và người vợ thứ hai. 

Người vợ thứ hai, ông “nhặt được” sau cải cách ruộng đất.

Bà nguyên là con của một gia đình địa chủ, mà người cha trong kháng chiến thường cho tá điền gánh gạo tới ủng hộ quân lương cho sư đoàn của ông. Chính Hữu Loan nhiều lần đề nghị sư đoàn cấp giấy khen cho người địa chủ yêu nước kia. Nhưng trong cải cách ruộng đất, gia đình người địa chủ kia bị chôn, chỉ chừa cái đầu lên mặt ruộng, để trâu kéo bừa “cày” cho tới chết. Riêng cô con gái năm đó mới 17 tuổi, được tha, nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, với chỉ thị của cán bộ là dân làng không ai được tiếp xúc với cô.

Cô đi lang thang, nhặt những mẩu khoai sót trên đồng để ăn, tối về ngủ trong miếu hoang.

Trong nơm nớp lo sợ, trước sự cuồng tín của cán bộ và sự cuồng tín nhân dân…

Hay tin, Hữu Loan từ đơn vị trở về, đón cô gái bị chế độ căm thù, ruồng bỏ kia về nhà. Từ đó, ông bắt đầu một hành trình làm người gian nan, còn khổ nhục hơn cả thời tham gia kháng chiến.

Người ta phá, không muốn cho Hữu Loan thồ đá, vì không muốn ông làm người lương thiện (dám bỏ đảng, bỏ quân đội). Vợ ông buôn bán ngoài chợ, người ta bao vây, hất hết đồ xuống đất… Nhưng tất cả sự cuồng tín của một chế độ, cũng không chà đạp nổi nhân tính của một con người như Hữu Loan.

Nhiều người không hiểu chuyện, đố kỵ cho rằng Hữu Loan chỉ làm có một bài thơ thôi, mà nổi tiếng tới tận bây giờ. Sự thật, cuộc đời của Hữu Loan trong mấy mươi năm, cắn răng từng ngày, để được làm một con người lương thiện dưới chế độ Cộng Sản, còn đẹp hơn tất cả những bài thơ.

Ngoài bài “Màu Tím Hoa Sim,” Hữu Loan còn có những bài như: “Hoa Lúa,” “Đèo Cả”…

Tha La xóm đạo ở xóm An Hội, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nổi tiếng khắp nơi nhờ bài hát “Tha La Xóm Đạo” của nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Vũ Anh Khanh. (Hình: Flickr Vinh_Saigon).

Sau chiến tranh, trở về từ chiến khu, nhìn cảnh miền Bắc điêu tàn, nhất là sau cải cách ruộng đất. Hữu Loan làm bài thơ Tết, đăng trên Giai Phẩm – Xuân 1957, với câu như: “Tết và mùa Xuân/ Như mắt người ứa lệ.”

Nơi Nga Sơn, miền heo hút gió, người phu thồ đá vật lộn từng ngày với áo cơm, cùng hiểm nguy muôn thứ hận thù rình rập, vẫn không quên thế cuộc. Ông ngước nhìn mây bay trên đầu, như thấy tận đỉnh Trường Sơn, mượn tiếng quạ kêu, ông làm một bài thơ nói lên nỗi niềm ai oán. Thương cho những người lính ngã xuống, trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam-Bắc.

 (Văn Lang)




Da Cao Cấp

Ngu Yên

Gần nửa thế kỷ sống ở Hoa Kỳ,

nếu bạn chưa gặp kinh nghiệm

bị kỳ thị,

chưa buồn lòng

vì chỉ khác màu da,

có lẽ,

bạn ngây thơ

hoặc ngu ngơ

hoặc giả vờ.

Kỳ thị là phản ứng tự nhiên:

thích hay không thích,

khinh hay không khinh,

sợ hay không sợ.

Kỳ thị là chuyện phải chấp nhận

dù không vui.

Kỳ thị không thể chịu đựng

khi đổ máu

khi tội hình

khi quá độ

khi mạng người bị diệt vong.

Người Việt kỳ thị có hạng trên thế giới.

Hầu hết người Việt già không thích da đen.

Đa số giới Việt trẻ bạn bè đa văn hóa

không phân biệt màu da,

chỉ phân biệt tốt xấu.

Khi người Việt ủng hộ kỳ thị,

có tự hỏi da mình màu gì?

Không thể hơn da đen,

Vì da Việt chưa có Louis Armstrong, Michael Jordan, Muhammad Ali, Whitney Houston, Beyoncé, Denzel Washington, Will Smith, Morgan Freeman, Whoopi Goldberg, George Washington, Alice Ball, Mae C. Jemison, Maya Angelou, Toni Morrison, Langston Hughes, Barrack Obama…

Không thể hơn da Mễ,

Vì da Việt chưa có Octavio Paz, Carlos Fuentes, Anthony Quinn, Jennifer Lopez, Victor Celorio, Victor Ochoa, Pacho Villa, Alfonso Garcia Robles, Mario José Molina…

Chỉ có thể hơn da bản thân.

Khi người Việt ủng hộ da trắng kỳ thị da màu,

đã tự quên mình là ai,

có lẽ,

vì ngây thơ

vì ngu ngơ

vì giả vờ

hoặc nửa nghi nửa ngờ da mình thuộc hàng cao cấp. 




PHƯƠNG XA

Thơ Vũ Hoàng Chương

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,

Xô về đông hay giạt tới phương đoài,

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,

Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi.

Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,

Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,

Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,

Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,

Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,

Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan.

Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,

Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.




ĐÔI GUỐC TRẮNG

Nhật Tiến 

đăng trong Văn Hóa Ngày Nay – Tập 2 – Tháng 7, 1958

Tôi đứng trên vệ đê nhìn xuống. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng trên những tầu lá. Vào buổi trưa, bốn bề êm ả quá. Chỉ có tiếng gió rì rào, tiếng chim chiêm chiếp và mơ-hồ có tiếng một nhà máy ở xa xa vẳng lại.

Qua những gốc chuối, bên kia là mặt sông. Nước xanh ngắt. Sóng nước nhòe trong ánh nắng loang-loáng như bạc.Tôi đi xuống dưới ấy. Lối cát trong vườn chuối phẳng lì. Hơi đất phù sa từ mé sông đưa lên âm ẩm. Quanh tôi đầy bóng mát; ánh nắng nghiêng nghiêng trên những tầu lá xanh và mỏng. Những bẹ chuối đang nở hoa.

Có vết chân ai đi trên lối cát. Tôi nhìn ra bờ sông. Bốn bề vắng lặng. Vết đi in sâu xuống thành một hố xinh xinh. Những vết guốc gót nhỏ với bàn chân thon. Tôi lại chăm chú nhìn ra bờ sông. Nắng nhấp nháy chói mắt. Không có ai ở ngoài ấy cả.

Vết guốc quanh co trong vườn chuối. Tôi nghĩ đến một thiếu nữ có mái tóc đen dài, có cặp môi mộng đỏ. Lần theo vết guốc ấy, tôi tưởng tượng đến một cuộc đi chơi của hai người trong bóng mát.

Vết guốc mất dấu ở ven sông. Cát ở đây đẫm nước nên mịn hẳn. Sóng giạt lên bờ rồi rút ra xa. Mấy lớp bọt vàng bị bỏ rơi lại, sùi lên rồi ngấm xuống.

Tôi nhìn vào những lùm cây chìa ra mặt nước. Mấy quả sung chín rơi lõm bõm. Và có một đôi guốc. Đôi guốc trắng nằm ở ven sông, lấm-tấm đất phù sa đỏ.

Tự nhiên tôi hồi hộp. Ở đây không phải có một mình tôi. Có hai người. Tôi và một thiếu nữ đang tắm ở sau bụi cây sung; tôi nhìn về phía ấy, và tưởng tượng sau bụi cây phải là một tà áo trắng mắc vào cành, gió đưa phơ phất. Tôi không nghĩ đến một mảnh quần lụa vo tròn trên bờ cỏ, nhưng nghĩ đến một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng, một thân hình óng ả đang đắm mình dưới làn nước veo. Có tiếng chim hót gần đây. Tôi ước gì mình được là con chim.

Ngoài mặt sông, sóng vẫn nhấp nhô rồi giạt lên bờ cát. Trời xanh lơ lơ. Khúc sông lấp loáng ánh nắng, lượn mình quanh những lùm cỏ, bụi cây. Bờ bên kia là ruộng mía. Đằng sau tôi là lối cát đi trong vườn chuối. Lối cát in những vết guốc lốm đốm chạy vòng lên chân đê.

Ở đây không có mình tôi. Có hai người. Hai đứa. Tôi mỉm cười, trầm ngâm.

Nhưng rồi tôi cũng phải ngược lại lối cũ. Bịn rịn đấy, nhưng cũng đành. Nếu không tôi sẽ xấu hổ với những con chim đang hót ở bờ sông.

Tôi bỏ lại phía sau đôi guốc trắng. Đôi guốc trắng nằm trên lòng cát mịn, có lấm tấm đất phù sa đỏ. Giá mang về được một chiếc để sau này khi quen nhau, lấy nhau rồi hai đứa cùng giở ra xem. Yêu biết mấy.

Và rồi tôi lại đứng trên vệ đê nhìn xuống dưới ấy. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng qua những tầu lá. Có những con chim đang chuyền cành. Có một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng và có một đôi guốc trắng nằm ở bờ sông.

Đôi guốc mà chẳng bao giờ còn có người đi.

Vì sáng hôm sau… có tin một thiếu nữ trầm mình ở chỗ ấy.

Nhật Tiến




Nhà văn Nhật Tiến qua đời

Nguyễn Vy Túy

Tuy Nguyen

Ông mất tại Hoa kỳ, thọ 84 tuổi.

ÔNG THEO CHÂN HIỀN THÊ CHỈ SAU 18 NGÀY.

Một nhà văn, nhà giáo đáng kính của thế hệ chúng tôi, đã qua đời  lúc 11 giờ 26 phút trưa ngày 14 Tháng Chín, 2020, (tức 27 Tháng Bảy, Canh Tý), tại thành phố Irvine, Nam California, hưởng thọ 84 tuổi, theo tin loan báo từ gia đình.

Nhà văn Nhật Tiến qua đời chỉ ít ngày “sau sự ra đi của hiền thê là nữ văn sĩ, dịch giả Đỗ Phương Khanh vào ngày 26 Tháng Tám vừa qua”, gia đình cho hay.

Trước 1975, ông là Giáo sư Cố vấn cho Thi Văn Đoàn Trầm Tích ở Sài Gòn (do tôi làm Thi Văn Đoàn trưởng), và từng ký tặng tất cả các tác phẩm của ông và tuần báo Thiếu Nhi do ông làm Chủ bút, cho thư viện của Trường Trung học Văn Đức, và tôi đã có vinh dự đến tòa soạn báo Thiếu Nhi để nhận và đưa về trường.

Cũng chính từ cuộc gặp gỡ này, ông nhận lời làm Cố Vấn.

Năm 1979, khi ông và gia đình gặp nạn Hải tặc trong vùng Vịnh Thái Lan (qua vụ án đảo Kokra), với tư cách chủ bút tuần báo Chuông Sài Gòn, chúng tôi đã vận động độc giả và chính quyền Úc cùng yểm trợ tài chánh để ông và các nhân chứng ra tòa chống lại bọn hải tặc.

Các bức thư trao đổi giữa tòa soạn và ông, chúng tôi vẫn còn cất giữ. Bởi đó là những chứng tích lịch sử về một thời oan trái đầy đau khổ, của những thuyền nhân bất hạnh trên đường vượt biển tìm tự do.

Bây giờ ông đã “đoàn tụ” với vợ trên thiên đường.

Đoạn đường Núi Sọ đầy chông gai, ông và bà đã đi qua.

Nguyện chúc Ông Bà an vui nơi miền cực lạc.

*Nguyễn Vy Túy

Dưới đây là tiểu sử nhà văn Nhật Tiến theo công bố của gia đình.

“Nhà văn Nhật Tiến tên đầy đủ là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 Tháng Tám, năm 1936, tại Hà Nội – là tên tuổi lớn trên văn đàn Việt Nam. Ông là tác giả tiếp nối của dòng văn học Tự Lực Văn Đoàn; và, bằng chính đời sống và sáng tác của mình, ông mở rộng những chủ đề và cả phong cách sáng tác theo dòng lịch sử đất nước. Có thể nói, lịch sử đặt ông vào những biến cố lớn của đất nước, để từ đó, thông qua ngòi bút của mình, ông trở thành tiếng nói của thời đại mà chính ông và gia đình là những nhân chứng sống. Năm 1954 ông di cư vào Nam, sống tại Đà Lạt, rồi Sài Gòn. Vượt biển vào Tháng Mười, 1979, và tỵ nạn tại Songkhla (Thái Lan) chín tháng. Ông và gia đình định cư tại California (Hoa Kỳ) từ năm 1980”.

“Về sự nghiệp văn chương, ông đoạt Giải Nhất Giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1960-1961, với tác phẩm Thềm Hoang. Trước đó, năm 1952, truyện ngắn của ông lần đầu xuất hiện tại Hà Nội trên nhật báo Giang Sơn và những vở kịch trên tuần báo Cải Tạo năm 1953-1954. Tại Đà Lạt, năm 1954-1955, ông tiếp tục viết kịch truyền thanh cho đài radio tiếng nói của Ngự Lâm Quân. Từ năm 1958, tại Sài Gòn, 1958, ông tham gia Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay do nhà văn Nhất Linh chủ biên”.

Trước năm 1975, tại Việt Nam, ông từng viết cho: Giang Sơn, Cải Tạo, Thời Tập, Chánh Đạo, Bách Khoa, Văn, Tân Phong, Văn Học, Đông Phương. Tại hải ngoại, từ năm 1980 đến nay, ông được mời xuất hiện trên nhiều tờ báo và trang web. Riêng tại California, ông đã từ viết cho: Người Việt, Sài Gòn, Văn Nghệ, Hợp Lưu, Văn Học, Việt Tide, Vietstream, Khai Phóng, Chấn Hưng, Việt Nam Hải Ngoại. Ngoài ra, ông còn có tác phẩm trên Đất Mới (ở Seattle), Ngày Nay (ở Kansas City), Xác Định (ở Virginia). Xa hơn, bên ngoài Hoa Kỳ, ông có bài trên Chuông Saigon, Việt Luận, Chiêu Dương phát hành tại Úc châu, Lửa Việt tại Canada, Độc Lập tại Tây Đức), và Đường Mới, Quê Mẹ tại Pháp.

Tác phẩm của ông bao gồm nhiều thể loại: Truyện dài, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, kịch-tiểu thuyết kịch. Đặc biệt, những năm sau này ông làm công việc khảo cứu gần như là văn học sử qua các tác phẩm Ghi Chép và Tiểu Luận. Ngoài viết văn, ông còn là nhà giáo. Ông dạy học, và tham gia các hoạt động văn hóa, giáo dục và xã hội khác. Ông là người viết thỉnh nguyện thư và sau trở thành thành viên của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S. Committee), từ năm1980 đến 1990.

Các tác phẩm của nhà văn Nhật Tiến đã phát hành.

Truyện dài:

-Những Người Áo Trắng (1959)

-Những Vì Sao Lạc (1960)

-Thềm Hoang (1961)

-Mây Hoàng Hôn (1962)

-Chuyện Bé Phượng (1964)

-Vách Đá Cheo Leo (1965)

-Chim Hót Trong Lồng (1966)

-Tay Ngọc (1968)

-Giấc Ngủ Chập Chờn (1969)

-Quê Nhà Yêu Dấu (1970)

-Mồ Hôi Của Đá (1988)

Truyện ngắn: Đã viết hơn 100 tác phẩm, một số được giới thiệu trong các tuyển tập…

-Những Bước Tiên Của Tôi (1951, tuyển tập truyện và thơ chép tay đã thất truyền)

-Ánh Sáng Công Viên (1963)

-Giọt Lệ Đen (1968)

-Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972)

-Tiếng Kèn (1982)

-Một Thời Đang Qua (1985)

-Cánh Cửa (1990)

-Quê Nhà – Quê Người (1994, in chung với nhà văn Nhật Tuấn)

-Mưa Xuân (2013)

Truyện thiếu nhi:

-Lá Chúc Thư (truyện dài, 1969)

-Theo Gió Ngàn Bay (truyện vừa, 1970)

-Quà Giáng Sinh (truyện vừa, 1970)

-Đóa Hồng Gai (truyện vừa, 1970)

-Kể chuyện Tấm Cám (truyện ngắn, 1970)

-Ngày Tháng Êm Đềm (truyện vừa, 1972)

-Đường Lê Núi Thiên Mã (truyện dài, 1972)

-Thuở Mơ Làm Văn Sĩ (hồi ký, 1973)

Kịch & tiểu thuyết kịch:

-Người Kéo Màn (tiểu thuyết kịch, 1962)

-Hạ Sơn (kịch lửa trại, 1973)

-Công Lý Xã Hội Chủ Nghĩa (kịch một màn, 1988)

-Một Buổi Diễn Kịch (truyện ngắn kịch, 1990)

-Một Khoảnh Đời Thường (kịch một màn, 2013)

-Ông Giáo Hồi Hưu (kịch một màn, 2013)

Ghi chép-Tiểu luận:

-Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan (1981, viết chung với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy)

-Thuyền Nhân – Vài Trang Bi Sử (2008)

-Hành Trình Chữ Nghĩa (2012)

-Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác (2012)

-Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi (2012)

-Một Thời… Như Thế (2012)

-Từ Hội Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (2016)




Hồi ký về Đại tá Sử gia Phạm Văn Sơn

Trường Xuân Phu Tử Hồ Quang

Lời người viết: 

Tôi phải viết lại bài này một lần nữa cho rõ ràng hơn. Vì rằng, vừa qua cũng có những bài viết về cái chết của Ðại Tá Sơn, nhưng phần chính không nói được tính khí kiên cường của Ðại Tá mà chỉ xoáy vào mối liên hệ tình cảm cá nhân của 2 bên với nhau…

 

Tôi tuy không phải là người được khiêng xác Ðại Tá đi chôn (việc chôn cất tù nhân chính trị thường do nhóm tù hình sự đảm nhận vào ban đêm, nhằm khỏi gây dư luận xôn xao…) nhưng là người đưa xác Ðại Tá Sơn từ trạm xá đến nhà Vĩnh Biệt trong khuôn viên nhà tù, do đó tôi biết rất rõ về cái chết của Ông.

 

*  *  *

Chúng tôi từ nhiều trại “tập trung cải tạo” thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm đủ mọi thành phần “nặng ký” khác nhau, đều bị chuyển xuống miền trung du, vì Trung Quốc sắp xua quân xâm lăng biên giới… Nói chung, Cộng Sản đã ghép chúng tôi vào loại “ác ôn” vì trong chế độ VNCH chúng tôi đã phục vụ ở các ngành: Tuyên Úy, Tình Báo, An Ninh Quân Ðội, Cảnh Sát, Chiến Tranh Chính Trị, Tâm Lý Chiến…

 

Giai đoạn này chúng tôi không còn được đi lại dễ dàng như khi sống trong núi rừng hồi còn Ðoàn 776 thuộc Nha Quân Pháp (Bộ Quốc Phòng) VC trông coi… mà bị tống ngay vào buồng giam do công an “áo vàng” cai quản. Trên danh xưng, bọn công an trại giam (thuộc Bộ Nội Vụ) bắt chúng tôi phải thừa nhận mình là “Cải Tạo Viên” chứ không phải là “Tù Nhân”…

 

Ngay từ khi bước qua cổng để vào sân trại giam K1 Tân Lập, chúng tôi đã thấy một cái gì đó rờn rợn cả người. Mọi thủ tục khám xét thật là khắc nghiệt, nhìn mặt mày hầm hầm của những tên công an vừa nộ nạt, vừa đấm đá mấy tên tù “hình sự” phụ giúp việc khám xét các tù “chính trị” mới đến mà tất cả chúng tôi thầm nhìn nhau… lắc đầu!

 

Không khí “cải tạo” do công an thuộc Bộ Nội Vụ cai quản làm chúng tôi ngột ngạt thật. Mấy ngày sau chúng tôi mới biết từ miệng các tù hình sự, các cảnh sát bảo vệ mang súng dẫn “đội tù” đi lao động như sau: Trại Tù Tân Lập là trại tù khét tiếng khắc nghiệt nhất tại miền Bắc, còn phân trại K1 là trại “điểm” của tỉnh Vĩnh Phú này.

 

Tỉnh Vĩnh Phú có 2 trại tù lớn, đó là Tân Lập và Phong Quan, nhưng Tân Lập lớn hơn (7 phân trại) và được Bộ Nội Vụ chọn làm trại tù kiểu mẫu cho toàn quốc.

 

Như chúng ta ai cũng biết chuyện “kiểu mẫu” của một trại tù dưới chế độ Cộng Sản luôn luôn phải hiểu rằng sự hà khắc, sự dã man do bọn cai tù áp dụng đối với tù nhân phải thật tàn bạo nhất mới được nâng lên làm “trại kiểu mẫu”. Phân Trại K1 Tân Lập đạt đủ các “tiêu chuẩn” gian ác đó, nên hàng năm mở Ðại Hội Tù Nhân luôn được giữ lá cờ đầu.

 

Chúng tôi bị giam ở trại này từ tháng Mười 1978, vì lúc đó những vùng biên giới phía Bắc là mục tiêu của quân Trung Quốc lăm le xâm chiếm. Và quả thực vào đầu Xuân 1979, Trung Quốc đã xua quân đánh các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam để dạy cho Việt Nam Bài Học Thứ Nhất!

 

Trong số các tù nhân chính trị từ Hoàng Liên Sơn bị đưa về trại tập trung quỷ tha ma bắt này, có Ðại Tá Phạm Văn Sơn.

 

Mặc dầu bị nhốt chung cùng một trại, nhưng lúc đầu anh em chúng tôi chưa biết hết nhau lắm, còn đối với Cộng Sản thì hẳn nhiên chúng quá rõ về lý lịch từng người chúng tôi. Họ phân chia chúng tôi thành nhiều đội theo “tội trạng” để nhốt chung vào một phòng. Phòng giam được bao bọc bởi 4 bức tường kiên cố, trần phòng giam được rào chằng chịt bởi những lớp kẽm gai, tất cả che khuất bằng tấm “pla-phông” cứng. Các cửa sổ của phòng giam đều có những song sắt ngang dọc có đường kính chừng 18mm. Phòng giam tập thể nào cũng có một lối đi chung ở giữa, dọc theo tường của phòng là 1 dãy sạp dài 2 tầng dùng làm chỗ ngủ cho tù nhân. Mỗi phòng giam chứa khoảng 200 tù, tính trung bình mỗi tù nhân có chừng 0.4m bề ngang để nằm, do đó các tù nhân thường nằm ngược đầu nhau mới có thể cựa mình được.

 

Lúc đầu thì Ðại Tá Sơn cũng như các anh em khác ở chung trong đội lao động. Chừng nửa tháng sau, không hiểu tình hình thế nào mà Ðại Tá cùng Cha Thịnh (Ðại Tá Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo), Mục Sư Kỳ (Ðại Tá Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Tin Lành) và một người khác nữa tôi quên tên bị đưa vào phòng “cách ly”. Ðể giải thích chuyện này, Công An Trực Trại K1 Tân Lập nói rằng: Ðể tránh “lây lan” cho các “cải tạo viên” khác, nên những người này phải được cho ở riêng… Trên thực tế, Mục Sư Kỳ chỉ bị vàng da, Cha Thịnh bị bệnh “đồi mồi” loang đốm ở vùng môi và cằm, Ðại Tá Sơn cũng bi bịnh này nhưng nặng hơn (khắp cả tay chân mặt mày), bọn cai tù cho đây là bệnh “phong cùi”.

 

Rõ ràng chuyện bệnh tật của 4 người này chỉ là một trong trăm ngàn lý do mà Việt Cộng áp dụng nhằm ngăn cách những người chúng cho là nguy hiểm nhất trong tập thể anh em tù chúng tôi. Sau khi gom 4 người đó vào với nhau rồi, họ thấy việc làm quá trơ trẽn nên mới đưa thêm một Thiếu Úy Ngành Quân Báo còn trẻ, bị mụn nhọt làm thối ngón út của bàn chân trái, vào ở chung để lý giải danh xưng “bệnh cùi” cho hợp lý.

 

Phòng “cách ly” bây giờ gồm 5 người sinh hoạt chung với nhau, không được phép ra ngoài, đến giờ cơm nước, tù hình sự mang đến, không cho bất cứ tù chính trị nào lai vãng lại gần, mặc dù phòng cách ly này không phải là phòng kỷ luật. Phòng kỷ luật là 1 cái hầm nổi, xây gạch kiên cố, chật hẹp, chứa tối đa 2 người, thiếu ánh sáng, có hệ thống cùm chân bằng các khoanh sắt hình móng ngựa.

 

Ngày 2 buổi, trong khi anh em tù nhân chính trị khác làm kiếp lao động khổ sai, thì trong phòng “cách ly”, 4 vị “bự” này phải viết kiểm điểm, nhất là Ðại Tá Phạm Văn Sơn, ông phải trả lời hết mọi câu hỏi mà cán bộ chấp pháp trung ương từ Hà Nội về làm việc đặt ra. Gọi là lấy khẩu cung, nhưng thực chất họ có dụng ý muốn tìm hiểu để học hỏi thêm.

 

Cuộc sống của 5 người cùng “phòng cách ly” vẫn ngày tháng trôi đều: cơm 9kg/tháng, chia làm 2 bữa một ngày. Trưa, tối, bọn hình sự đem cơm tới, mỗi sáng thì ghé xem bên trong có ai bị việc gì không, tiện thể lấy phân để đem ra bón rau cải ở khu lao động, thỉnh thoảng năm ba ngày tên cán bộ trực trại cho họ đi tắm một lần trong giếng gần “đội nhà bếp”.

 

Mấy tháng trôi qua, một hôm cán bộ Việt Cộng phát hiện trong bài viết về lịch sử, khi so sánh 2 chế độ “tù” thời VNCH và thời XHCN của ĐT Sơn một điều gì đó chúng tôi không rỏ, nhưng họ cho đó là một việc làm “đại phản động hay cực kỳ phản động” nên Ban Giám Thị Trại Tân Lập “đặc biệt chiếu cố” bằng quyết định “mật” cho anh Sơn vào ngay hầm biệt giam tại K1. Tất cả anh em chúng tôi khi vi phạm điều gì đều bị gọi tên ra trước sân, riêng trường hợp Ðại Tá Sơn thì quá đặc biệt, ngay cả Cha Thịnh và Mục Sư Kỳ cũng không biết nốt. Cả hai vị này khi gặp tôi chỉ nói rằng:

– Họ chuyển ảnh đi đâu mất rồi, vì có đem theo hết tất cả đồ dùng cá nhân…

Nhàn là một tên “đâm thuê, chém mướn, lừa đảo, cờ bạc”. Tên này vẫn làm Trưởng Ban Thi Ðua để kềm kẹp chúng tôi. Hắn biết rõ Ðại Tá Sơn ở đâu vì y là người đưa cơm hàng ngày cho Ðại Tá Sơn khi bị cùm trong phòng biệt giam.

Một hôm Nhàn than phiền với tôi:
– Cái tên Sơn này cứng đầu… từ hôm bị biệt giam đến nay không chịu ăn chịu uống gì cả, lại còn phóng uế bừa bãi, linh tinh… thối chịu “đếch” được!

Thấy có cơ hội, tôi nói ngay:
– Thế anh đưa cơm hằng ngày cho hắn ta, hắn ta có chửi mắng gì anh không?
– Anh ta đâu có thèm nói năng gì mà chửi với không chửi… Chỉ cái tội viết bậy mà vào cùm nên khổ thân đấy thôi! Các anh bảo nhau mà liệu hồn!
– Tôi nghe nói khi ở phòng cách ly, anh ta được viết những gì đúng theo cán bộ yêu cầu kia mà?

– Thì đương nhiên phải đúng yêu cầu, nhưng diễn tả mặt tích cực thì được, đằng này cứ phanh phui chuyện tiêu cực thì hỏng ngay…

Tôi giả vờ:
– Như thế nào là tiêu cực? Anh cho tôi biết để còn giữ mình có thể cải tạo tốt không chỉ riêng bản thân mà còn giúp anh em khác nữa chứ…?

Nghe tôi hỏi có lý, tên Nhàn vênh mặt có vẻ như một cán bộ công an khi lên lớp cho các tù nhân:
– Anh ta khờ lắm! Viết gì không viết lại viết bài có nội dung đem so sánh hai chế độ tù giữa Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ Nghĩa Xã Hội… còn đem chuyện gian trá trong việc trao trả tù binh của hai bên ra phân tích… Chơi kiểu này thì chết thôi con ạ!

Chừng 4 ngày sau, tôi giả bộ đi ngang qua khu cấm này gọi là coi xem có vấn đề gì cho an ninh trại hay không. Trước khi đi tôi có báo cho tên cán bộ trực trại biết. Tên này dặn thêm: “Anh phải cẩn thận chứ tên Sơn khá nguy hiểm đấy nhé !”. Cũng từ câu nói của tên này, tôi mới xác quyết rằng Ðại Tá Phạm Văn Sơn đang bị kỷ luật.

Làm bộ như đang đi lo việc quan sát phía bên ngoài các phòng kỷ luật, nhìn quanh thấy không có ai, tôi nói nhẹ vọng vào:
– Anh Sơn, em là Q. đây, anh khỏe không? Ðói lắm không? Em vứt vào nửa cái bánh bột nhé!

Giọng thật nhỏ, yếu, vọng ra:
– Q. đó hả?

Tôi không cần gì cả, đừng vứt vào, bọn chúng đến kiểm soát thì chết cả lũ, ráng phải lo giúp các bạn khác nữa… Hôm nay đã 4 ngày tôi nhịn ăn rồi, ít hôm nữa thì anh sẽ rõ những việc tôi làm. Anh mau đi khỏi đây, và từ nãy giờ coi như anh chưa lại chỗ tôi, và cũng đừng nói với ai là tôi đang ở đây, nếu lỡ việc ra thì anh sẽ bị nguy, mà ngay chính tôi cũng không thể thực hiện ý nguyện của mình…

Tôi rón rén bước về phía các phòng giam khác giả vờ đi kiểm soát tổng quát…

Sau giờ xuất trại đi lao động chiều hôm ấy, một tên tù hình sự đến nói với tôi:
– Chú à, cháu đề xuất với chú chuyện này, khó khăn thật đấy, nếu vỡ ra thì cháu chết ngay, nhưng nếu không nói thì không được.

Tôi bảo ngay:
– Mầy lại lèng èng chuyện gì đây, linh tinh nữa phải không? Nhanh lên kẻo đến giờ tao phải phát dầu cho các buồng rồi đây!

Tên hình sự ngập ngừng:
– Vâng ạ, vâng ạ! Chú Sơn bảo chú cho chú ấy xin tờ giấy trắng, còn cháu thì có cây bút chì để chú ấy viết cái gì gì ấy mà…

Tôi như điếc cả 2 lỗ tai, không biết nghe có lầm không, nếu nó gài mình thì ngày mai tôi lại phải vào cùm, nếu nó thật lòng thì mình phải làm sao đây? Tôi giả vờ nạt nộ một hồi, xong nói tiếp:
– Thôi, tao không giải quyết được việc gì đâu, tao bận lắm, mầy ở đây coi văn phòng giúp tao một tí, đừng cho giấy tờ trên bàn gió bay lộn xộn, và không cho bất cứ ai sờ vào món gì cả nghe chưa? Tao phải xuống bệnh xá một tí là về ngay!

Nói xong tôi đi thật vội, không dám nhìn lại cho đến khi phải trở về lấy dùi trống đánh lên 3 tiếng gọi các “trực sinh” (danh xưng dùng cho những tù nhân lo việc vệ sinh, cơm nước cho anh em tù khác ra ngoài lao động) của các phòng đến nhận dầu về thắp trong đêm, chủ yếu để có lửa hút thuốc lào…

Ngoài ra, trong đêm, có ánh sáng leo lét của ngọn đèn tuy làm bằng vỏ chai cưa cổ, nhưng cũng giúp được nhiều việc như rủi có anh em nào đau nặng, cần cấp cứu là phải hô to: “Báo cáo cán bộ, phòng X có người đau nặng, xin được cấp cứu”. Hô to lên như vậy nhiều lần cho tới khi các tên cán bộ vào mở cửa thì anh em mới có thể thấy đường để khiêng người bệnh lên trạm xá. Nếu bệnh quá nặng thì để lại luôn tại trạm xá, nếu bệnh nhẹ hơn thì chỉ nhận 2 viên “xuyên tâm liên” rồi phải khiêng trả lại phòng giam ngay. Nói là “trạm xá” cho oai thôi, chứ thật ra cũng vẫn là một phòng giam bị khóa cửa cẩn thận như mọi phòng giam tù khác. Có nhiều anh em tù chính trị được cấp cứu trong những đêm như vậy, sáng hôm sau đã phải vĩnh viễn ra đi, có khi ngay tại trạm xá, đôi khi ngay tại phòng giam chung. Nói chung, tù chính trị chết nhiều hơn tù hình sự. Gần 2 năm bị giam tại trại Tân Lập, tôi chưa gặp một trường hợp nào tù hình sự bị mạng vong cả.

Hai ngày sau, tên cán bộ trực trại gọi tên Nhàn (Trưởng Ban Thi Ðua) đưa 2 tù hình sự khỏe mạnh khiêng Ðại Tá Sơn từ phòng Kỷ Luật xuống trạm xá, lúc đó đã 8g tối, các tù nhân khác đã vào chỗ ngủ. Màn đêm xuống, từ lâu… Tại trạm xá chả có thuốc men gì để giúp cho Ðại Tá Sơn khỏe lại mặc dầu biết Ðại Tá kiệt sức vì tuyệt thực đã mấy ngày… Thế rồi Ðại Tá bắt đầu đi vào mê sảng… Ðến 2g sáng hôm sau, Ðại Tá Sơn được đưa về lại Phòng Cách Ly cùng với Cha Thịnh, Mực Sư Kỳ, nhưng lúc này ông ta yếu lắm rồi, không nói được lời nào với các người chung phòng. Tình trạng dần dần đi vào mê man… cho đến 8 giờ sáng hôm sau.

Thường thì 7 giờ 30 sáng tên công an làm cán bộ trực trại vào mở cửa phòng cách ly để những người này làm vệ sinh cá nhân, sau đó họ phải vê than đá bột lại thành từng nắm vừa trong hai bàn tay, đem phơi khô để đội nhà bếp lấy về đun bếp. Công việc “vê” than này chỉ dành riêng cho 5 người trong phòng cách ly mà thôi. Hôm đó anh chàng Thiếu Úy Quân Báo, sau khi làm vệ sinh cá nhân xong, thấy Ðại Tá Sơn quá yếu sợ để nằm trong phòng sẽ ngộp thở vì thiếu không khí, nên đã đề nghị mấy người còn lại phụ khiêng Ðại Tá Sơn ra bên ngoài bên đống than đang “nắm” dở… để hưởng chút không khí trong lành.

Lúc đầu Ðại Tá còn gượng ngồi được giống như một người đang làm việc “nắm” than. Nhưng khi lệnh xuất trại đi lao động, thì cũng là lúc Ðại Tá không còn ngồi nổi nữa, ông gục mặt trên đống than dang dở, và bất động… Cũng đúng lúc đó anh tù chính trị làm ở nhà bếp đem xe cải tiến đến… Thay vì chở than về đun bếp như thường lệ, anh ta phải dùng ngay xe nầy để chở Ðại Tá Sơn lên trạm xá cấp cứu… Khi vượt qua sân trại thì đúng vào lúc chỉ còn một đội tù cuối cùng xuất trại, những người đi sau ngoái đầu nhìn ngơ ngác, không biết chuyện gì đã xảy ra… Khi kéo được Ðại Tá Sơn đến trạm xá, những người tù trong này chạy ra để phụ khiêng vào cấp cứu…Nhưng lúc đó Ðại Tá đã tắt thở rồi…

Ðại Tá Phạm Văn Sơn đã vĩnh biệt anh em như vậy đó! Đúng vào ngày 06/12/1978.

Khoảng 11 giờ trưa khi tất cả các tù nhân còn đang ở ngoài bãi lao động, thì xác Ðại Tá Sơn được nhóm tù hình sự và tôi đưa đến “nhà vĩnh biệt”, một cái chòi mái lợp tranh, vách tô bằng đất sét nhồi với rạ do chính anh em tù chúng tôi dựng lên phía Tây đằng sau khu nhà giam của chính mình.

Những bộ quần áo tù rách nát, vá víu chằng chịt được khoác thêm vào người anh Sơn để gọi là tạm ấm khi phải trở về lòng đất lạnh.

Tám giờ tối, các phòng giam của khu tù chính trị được khóa cẩn thận, thì cũng là lúc chiếc hòm bằng cây “vông đồng” sần sùi, tồi tàn đựng xác Ðại Tá được đặt trên xe “cải tiến”, do 4 tên tù hình sự kéo và đẩy đi. Họ chôn anh Sơn cạnh bên kia bờ suối nhỏ, phía bên này là một rừng sắn đang tươi tốt cao ngang lưng, thành quả lao động bằng máu và mồ hôi trong những ngày khổ sai của số người còn sống sót…

Tin về cái chết của Ðại Tá kiêm Sử gia Phạm Văn Sơn được giữ kín. Ðiều này chứng tỏ đã không có sự bình thường như mọi lần trước khi có một trong những anh em chúng tôi ra đi.

Ðại Tá Sơn nằm xuống yên lặng như thế, nhưng mọi việc còn lại gây nhiều chấn động không phải chỉ trong anh em tù với nhau mà ngược lại có sự bàn tán, tranh luận… thể hiện ngay trong nội bộ của bọn chỉ huy trại Tân Lập (K1) do nội dung lá thư viết bằng bút chì trên 1 trang giấy “tự túc” mà tên hình sự đã tự ý lấy tại phòng thi đua. Trong thư Ðại Tá Sơn nói rằng: “Xin các ông hãy xem xét lại cách đối xử với chúng tôi, những hình thức dã man như vừa qua hoàn toàn không có lợi mà ngược lại rồi đây trong lịch sử phải ghi thêm vào đấy vết ô nhục mãi ngàn đời sau cho dân tộc VN… vì đã có một thời mà người cộng sản từng đối xử dã man ngay với đồng bào, đồng loại của mình!” (Thực ra câu này, tôi chỉ viết dựa theo ý chính của tên Nhàn, còn nguyên văn thì không cách nào cá nhân tôi có thể xem được).

Sau biến cố này, bộ mặt sinh hoạt tù khác hẳn, kỷ luật nghiêm ngặt hơn. Về phía ban thi đua được tăng cường thêm 2 người tù chính trị làm trật tự, các đội trưởng phải chịu trách nhiệm hết mọi hành vi của đội viên mình trong mọi nhất cử nhất động.

Bên ngoài tuy phải áp dụng hình thức lao động khổ sai như cũ, nhưng bên trong bọn Việt Cộng đã ngầm bảo nhau cần nhẹ tay hơn. Trước đó, việc nấu nướng riêng tư không cho phép, nay thì có lệnh mỗi tù nhân vào sáng Chủ Nhật có thể xuống bếp trại để hâm lại những thức ăn riêng.

Hôm nay ngồi suy ngẫm lại chuyện cũ thì cái chết của Ðại Tá Sơn nào có khác gì những anh hùng Nguyễn Tri Phương (thà nhịn đói chịu đau mà chết chứ không bao giờ khuất phục giặc Pháp), Hoàng Diệu (lên thành treo cổ tự vẫn chứ không đầu hàng)… Ðại Tá Phạm Văn Sơn tuyệt thực trong nhà kỷ luật, chấp nhận cái chết, vì muốn đòi quyền lợi cho các anh em tù nhân chính trị khác được hưởng đúng theo quy chế của một tù binh theo luật quốc tế, tuy kết quả không như ông mong muốn, nhưng dầu sao cũng làm cho những anh em còn sống được dễ thở hơn…

Ðại Tá Sơn chịu chết để cho anh em chúng tôi sống…

Viết bài này với ước mong có thể thay mặt cho các anh em cùng sống chung với Ðại Tá kiêm Sử gia Phạm Văn Sơn tại trại K1 Tân Lập, xin được thắp nén nhang vái linh hồn Ðại Tá luôn được siêu thoát.

Trường Xuân Phu Tử Hồ Quang
Viết lại vào ngày 18/5/2010
Nguồn : Diễn Đàn Cựu SVQY

Di ảnh cố Đại tá Phạm Văn Sơn




RU TÌNH

Hôm nào mở cửa mùa Thu,
Nắng hanh mây tụ non mù quyện nhau,
Lửa tình chớm trước duyên sau,
Chiều nào mang sáo qua cầu thang mây.

Hôm nào mở cửa Hạ say,
Sóng trùng dương dợn ngất ngây gió nồng,
Sầu ve phượng vỹ nát lòng,
Ngày nào biển gọi ru dòng tình thơ.

Hôm nào mở cửa Đông mơ,
Trăng non buốt giá soi mờ bóng xiêu,
Người đi lỗi tạ muôn chiều,
Ru tình tạ lỗi cô liêu một thời.

Hôm nào mở cửa Xuân tươi,
Ra đi là mất mộng đời xuân xanh,
Gởi người ở lại an lành!
Gởi người ở lại Mai lành nguyên hương !

Hôm nào người ghé bến thương,
Người mang cả một thiên đường đê mê,
Bên nhau rộn rã non thề,
Thời gian ngừng bặt biển thề dưới trăng !

Tình em vằng vặc trăng rằm,
Tình anh sầu rụng rơi nằm trong thơ,
Bên nhau hò hẹn tận giờ,
Tình ru thắm thiết cuối bờ yêu thương…!

NGUYỄN THIÊN LONG




Châu Công Tử – qúi tộc Hội An

Nguyên Ngọc

Chuyện này đến nay có lẽ chỉ còn mình tôi biết. tôi muốn kể lại, trước hết vì Hội An của tôi, để Hội An hiểu thêm rằng mình từng lạ và “hay” đến thế nào. Đặng mà cố giữ nó.

Năm ấy hình như tôi khoảng 12 tuổi,  cũng có thể chỉ mới 11 vì đến cách mạng tháng Tám 1945 tôi vừa 13, mà  theo tôi nhớ thì ông Nguyễn Tuân tới Hội An trước Cách mạng đâu khoảng  vài ba năm.

Ba tôi, bấy giờ gọi là “thầy thông bưu chính’’, tức đã có đến bằng diplome, hồi ấy thế cũng là trí thức bậc trung. Hình như ông định biến con trai mình thành một nhà bác học, hay tệ nhất cũng là  một nhà văn lừng danh. Ông có lối dạy con rất đặc biệt: ông bắt tôi đọc hầu như toàn bộ văn học Việt Nam đương thời, từ Tự Lực văn đoàn cho đến Tiểu thuyết Thứ bảy, rồi Phổ thông bán nguyệt san, đọc hết luôn tủ sách Văn mới của Hàn Thuyên, các tạp chí Thanh Nghị, Tri Tân, tất nhiên không  thể thiếu báo Ngày nay…, cả Tây sương ký và Trang Tử Nam hoa kinh qua  bản dịch của Nhượng Tống

… Còn sách Tây thì tôi phải đọc trước chương trình quy định ở lớp một, có khi đến hai năm. Ngốn toàn bộ “Những người khốn khổ” và “Nhà thờ Đức Bà Paris” của Victor Hugo, tra từ điển  Larousse đến mờ mắt để lần cho ra cái đoạn lê thê ông nhà văn lắm lời này tả các cánh cửa rậm rạp của nhà thờ Đức Bà… Tôi biết ơn ba tôi đã  biến tôi thành một con mọt sách suốt đời.

Một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như Hội An, khi nó có, từng có, và  biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một lớp quý tộc văn hoá như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung.

Bây giờ nhớ lại, cứ như ngày ấy tôi vì say sách mà đã thành kẻ mộng du, mới 11 hay 12 tuổi mà đêm nào cũng lang thang một mình trên các đường phố Hội, thường rất khuya, chỉ đi một mình thôi – anh ấy dặn vậy, tìm đến một ngôi nhà cổ bé tí và sâu hun hút. Nhà ấy có hai mặt đường như tất cả các nhà trong phố cổ Hội An, một mặt quay ra Rue du pont japonnais (đường Chùa Nhật Bản) nay là Trần Phú, mặt kia trổ ra Rue Cantonnais (đường  Quảng Đông) nay là Nguyễn Thái Học. Đấy là nhà của một vị nho học nổi  tiếng có cái tên rất lạ: Châu Phi Cơ. Lúc nào cũng thơm nồng mùi thuốc bắc, về đêm càng sực nức. 

Khuya, tôi gõ cửa rất khẽ, đúng ra là chỉ cần chạm nhẹ vào cái khuy đồng ở cửa, lập tức “hạt vừng’’ từ từ mở ra. Anh  Châu Tường Anh, mới nghe tên đã biết tất phải là người rất sang trọng,  rất quý tộc, hình như đêm nào anh cũng sẵn chờ tôi sau cánh cửa dày và nặng, trong đêm đẹp như một bức sơn mài ấy. Vâng, một nhà quý tộc trẻ. Thanh mảnh, hơi gầy và cao, lúc nào cũng mặc áo dài hai lớp, áo dài  trắng bên trong áo lương đen mỏng tan. 

Hội An ngày ấy có một lớp “quý  tộc’’ như vậy của mình. Một lớp quý tộc chập chờn giữa hai thời đại. Còn nho nhã phương Đông, nhưng đọc rành Tây và thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây. Một lớp quý tộc nghèo mà sang. Những La Hối, Lê Trọng Nguyễn, Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lưu Nghi… tất nhiên cả gia đình họ Nguyễn Tường, những người đã mang tinh hoa phố Hội quê hương tự  trong máu của mình ra trộn với tài hoa Cẩm Giàng Hải Dương để làm nên Tự Lực văn đoàn, cả một thời đại trong văn chương xứ Việt như Hoài Thanh  từng nói… Và anh Châu Tường Anh nữa, bạn vong niên của tôi. Anh lớn hơn  tôi đâu chỉ ba hay bốn tuổi, ở tuổi đó cách nhau chừng ấy đã gần cả một  thế hệ rồi, vậy mà anh kết nạp tôi vào thế hệ anh. Vì anh biết tôi cùng  mê sách. Những người mê sách thì bình đẳng trước văn hóa và vĩnh cửu, và  không có tuổi.

Nhà tôi cũng có một tủ sách, tất nhiên, dày cộp.  Nhưng làm sao dám sánh với sách của anh Châu Tường Anh, dù anh có cuốn  nào tôi cũng có đúng cuốn ấy, không sót. Nhưng sách của tôi là sách  “thường’’, tầm thường, bán đại trà, cứ ra phố là mua được, mua hàng lô cũng còn được nữa là, những cuốn sách “vô danh’’, cũng còn có thể gọi là  “vô chủ’’ nghĩa là ai có cũng được, không đặc biệt là của riêng ai hết, có thể trôi nổi, nay vào tay người này mai vào tay người kia. Lại nữa,  không từ đâu đến, không ai trao cho mình cả, mình có tiền mình đi mua, có thể nơi một quầy vô danh bất kỳ ở một hiệu sách vô danh bất kỳ. Theo một nghĩa nào đó, một cuốn sách như thế không có “cá tính’’, không phải  là riêng nó, chỉ riêng nó, không có hai, duy nhất, đơn nhất, như một  người bạn, người thân, người yêu, của riêng mình… Có một dấu hiệu cho loại sách đó: mép sách được, hay bị, xén bằng dao kim loại, xoẹt một cái  phẳng lì, tăm tắp, chắc cũng có thể với máy móc hiện đại xoẹt một cái  xén phẳng sạch bong hàng chục cuốn…

Tôi để ý: trên bàn của anh Châu Tường Anh tuyệt không có một con dao kim loại nào. Thư phòng của  anh ở trên gác, nhỏ thôi, tường gỗ, bốn mặt tường đều là sách. Và tuyệt không có cuốn sách nào bị xén “công nghiệp’’. Trên bàn có một con dao  bằng ngà, trắng nhờ. Bởi vì ở đây chỉ có toàn những cuốn sách được in hai tờ, hay bốn tờ, dính vào nhau, phải rọc ra. Con dao ngà kia là để  rọc.

Ngày ấy sách được in như thế này: ở những nhà xuất bản lớn,  những cuốn sách hay của những tác giả tên tuổi, bao giờ ở trang giáp  cuối cũng có ghi: “… ngoài những bản thường, có 50 (hay 100) bản đặc  biệt, in trên giấy dó (hay giấy Lafuma), được đánh số từ A1 đến …, có  chữ ký của tác giả và không bán”. Không bán, vì nó vô giá. Bây giờ đến  lúc tôi khoe với các bạn rồi đây: 11 hay 12 tuổi, tôi đã có được một  người bạn vong niên, anh Châu Tường Anh, của Hội An tôi, là chủ nhân của  một tủ sách gồm toàn những cuốn như thế. Và đêm đêm, gần suốt tuổi thơ,  như một kẻ mộng du, tôi bỏ nhà lang thang trên các đường phố Hội An vắng tanh, một mình tìm đến ngôi nhà cổ nhỏ xíu trên đường Chùa cầu Nhật Bản,  chỉ chạm nhẹ vào cánh cửa nặng trịch thì vừng liền mở ra, và anh bạn vong niên của tôi, áo dài trắng bên trong áo lương đen, không nói một lời dắt tôi lên thư phòng của anh. Tôi ngồi yên trên một chiếc ghế nhỏ,  nhìn anh chậm rãi lấy từ giá xuống một cuốn sách mới, không bao giờ tôi  biết từ đâu mà anh có được, tôi không bao giờ dám hỏi. Tôi ngồi yên, sững sờ ngắm anh thực hiện cái nghi lễ thiêng liêng của người mê sách.  Đôi bàn tay các ngón đẹp như của một nghệ sĩ dương cầm, cầm con dao ngà,  rất chậm, rất nhẹ, như sợ làm đau giấy, rọc từng trang sách, mép giấy đó nhẹ nhàng xơ ra, một chút bụi giấy vàng mong manh bay lên và rơi  xuống lấm tấm li ti trên mặt bàn. Tôi những muốn được đưa ngón tay chấm nhẹ một hạt bụi ấy, mà không dám… Vậy đó mỗi đêm, một cuộc thôi miên…  Tôi không đọc sách ở nhà anh Châu Tường Anh, những cuốn sách ấy ở nhà  tôi cũng có, bản in phàm, bán đại trà, ba tôi mua. Tôi đến nhà anh Châu Tường Anh, đêm đêm, mộng du, là để chiêm ngưỡng những cuốn sách vô giá  của anh, được ngửi mùi thơm vừa thoảng vừa ngậy đặc trưng của giấy dó và  của mùi bụi giấy lấm tấm bay ra khi anh rọc sách bằng con dao ngà màu  trắng đục. Tôi cứ ngỡ bụi “phấn thông vàng” của Xuân Diệu cũng đẹp như  thế, thơm nhẹ và sâu như thế, tuy mãi mấy mươi năm sau tôi mới được biết phấn thông vàng thực ở Tây Nguyên. Cũng có hôm anh Châu Tường Anh cho  tôi được tự tay dở vài trang sách. Rất lạ, những trang ấy tôi đã đọc ở nhà rồi, có khi đến thuộc lòng, vậy mà ở đây mỗi con chữ đều long lanh,  và vang lên một cách khác… Nói thế nào nhỉ, chúng trở nên quý tộc hơn,  sang trọng hơn, và bổng như trở nên bí mật hơn… Vâng, mỗi đêm tôi được  hưởng một nghi lễ như vậy của cái đẹp…

Cho tới một bữa, vừa bước lên gác tôi đã nhận ra mùi hương trầm. Anh Châu Tường Anh, không nói một  lời, lặng lẽ chỉ cho tôi ngồi xuống ghế, và ra hiệu cho tôi phải để hai  bàn tay xuống bên dưới mặt bàn. Nghĩa là tuyệt đối không được sờ đến  bất cứ thứ gì. Và ngồi đó chờ… Rất lâu. Rồi anh nhẹ nhàng nhấc từ trên  giá xuống một cuốn sách mới tinh. Sách đã rọc. Các mép giấy dó xơ ra,  còn giữ nguyên từng sợi vàng óng. Chỉ những người chuyên chơi sách mới  biết: sách đẹp chính là ở những xơ giấy dó được giữ quý như vàng đó. Tôi  nhìn trân trân. Cuốn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Anh Châu Tường  Anh dùng mũi dao ngà khẽ lật trang bìa, rất chậm rãi, đến trang lót, rồi càng chậm rãi, đến trang thứ ba. Và tôi sững sờ: lời đề tặng của  chính ông Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân ngày ấy là huyền thoại của chúng tôi. Tự tay ông viết, cái ông Nguyễn Tuân tài hoa, phiêu bạt và ngang tàng  ấy, tự chính tay ông viết, như múa, không phải “Tặng anh Châu Tường  Anh”, cũng không phải “Kính tặng anh Châu Tường Anh”, mà là ”Kính tặng  Tường Anh Châu công tử”… Và bên dưới, chữ ký bay lên, như khói. Có người  bảo: đấy là hình tượng một cánh buồm lộng gió.

Ôi ông Nguyễn  Tuân, chỉ có ông mới nghĩ ra được như vậy, mới viết được như vậy. Tôi có  hỏi kỹ một anh bạn chuyên nghiên cứu văn bản học, anh ấy khẳng định  trước Cách mạng tháng tám Nguyễn Tuân đến Hội An chỉ một lần, năm 1941,  và viết tùy bút Cửa Đại nổi tiếng. Năm đó tôi đúng 11 tuổi. Anh Châu Tường Anh của tôi lớn hơn tôi đâu bốn hay năm tuổi, tức khoảng 15 hay 16. Mà đã “Châu công tử”, kỳ lạ không, đã có thể kết bạn với ông Nguyễn Tuân, đã được chính ông Nguyễn Tuân huyền thoại kết bạn tâm đắc đến mức  tự tay trân trọng tặng Châu công tử một cuốn Vang bóng một thời in giấy dó vàng ươm!

Vâng, Hội An của tôi là vậy đó. Cho phép tôi nói điều này: một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như  Hội An, khi nó có, từng có, và biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một  lớp quý tộc văn hóa như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý  tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung.

Chắc tôi phải nói thêm chút nữa về người bạn vong niên kỳ lạ của ông Nguyễn Tuân ở Hội An, anh Châu Tường Anh quý tộc nghèo của tôi. Anh mất vào những ngày đầu kháng chiến chống Pháp cuối năm 1946. Không ai biết thật rõ về cái chết của anh. Chỉ nghe đồn đâu đó  ở cửa sông Thu Bồn. Anh quen biết, và hẳn gắn bó nhiều với gia đình  Nguyễn Tường của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ta biết, họ là Quốc dân  đảng. Trong những ngày cực kỳ rối ren, sôi nổi, hào hùng và thảm khốc của một cuộc chiến tranh ác liệt đang bắt đầu.

Lịch sử mà…

Nguyên Ngọc

Theo FB




Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài hoa

  NGUYỄN TRỌNG TẠO

   

Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và  tài hoa

Hơn nửa thế kỷ nhầm nơi sinh quê quán.

Thật lạ là hơn nửa thế kỷ người ta tin là nhạc sĩ Hoàng Nguyên sinh ở Quảng Trị. Tất cả tiểu sử giới thiệu tác giả, đều ghi quê quán Quàng Trị, đến nỗi từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi rõ: “Hoàng Nguyên (19321973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ… Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 11932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên có tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố”.

Các tư liệu ấy có 2 cái nhầm: Nơi sinh và năm sinh của ông.

Sự thực, ông sinh ra tại xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tên thật ông là Cao Cự Phúc, sinh ngày 3.1.1930 (sau này ông khai là sinh năm 1932), mất ngày 21.8.1973.

Tôi quen với Giáo sư Cao Cự Bội sinh năm 1936 tại Diễn Bình là chú của Cao Cự Phúc, nhưng cháu hơn chú 6 tuổi, lớn lên lại biết dạy võ cho chú. Tất nhiên tuổi thiếu thời của Phúc sống và học tập ở quê cùng chú Bội gần chục năm mới rời quê hương. Anh Phúc rời quê là vì mẹ đã mất sớm, cha đi làm sở điện, đến lúc anh 15-16 tuổi theo ông nội vào Vinh học và tham gia quân đội chống Pháp khi còn trẻ. Tổ chức thấy anh thông minh, giao ông nhiệm vụ vào tìm bố làm việc bưu điện ở Quảng Trị để hoạt động bí mật. Anh Phúc vào học xong ở Huế rồi bị bắt vì làm nhạc trong phong trào Hòa bình. Được thả, 1955 lên Đà Lạt dạy Anh văn và âm nhạc, hướng nghiệp cho Nguyễn Ánh 9 sau này trở thành nhạc sĩ. Năm 1957 bị bắt đày ra Côn Đảo vì thành phần Việt minh cũ và cất trữ bản nhạc Tiến quân caTrương Chi của nhạc sĩ Văn Cao. Ra tù, 1961 học thêm đại học Sư phạm Sài Gòn, dạy học, sáng tác âm nhạc. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi ra trường chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt và được giao phụ trách ban nhạc Hương Thời Gian.1973 mất vì tai nạn xe hơi ở Vũng Tàu.

Gần đây tôi có gặp ông Lương Tử Miên, người xã Diễn Bình kém anh mấy tuổi có biết anh Phúc. Ông kể: sau năm 1945, anh Cao Cự Phúc đang ở nhà ông bà nội anh ấy (ở cùng xóm với tôi cách nhà nhau chừng 100m). Hàng ngày tôi vẫn vào nhà học nhóm với chú ruột Cao cự Phúc là Cao Cự An và gặp anh Cao Cự Phúc. Có lần Cao Cự Phúc hướng dẫn cho chúng tôi về âm nhạc. Cao Cự Phúc cũng học Trường Nguyễn Xuân Ôn, trên chúng tôi 2 lớp. Quảng năm 1948 anh Cao Cự Phúc rời nhà ông bà nôi sang nhà bà Hàn Lương cháu nội cụ Nguyễn Xuân Ôn ở xã Diễn Thái vừa làm gia sư vừa đi học tiếp trung học. Từ đó cho đến khi tôi đi lính thì không gặp anh Cao Cự Phúc nữa. Khoảng năm 1949-1950 nghe tin anh Cao Cự Phúc tham gia đoàn tuyên truyền kháng chiên liên khu 4 cùng với nhà văn Bửu Tiến và anh Cao Xuân Hạo (sau này là giáo sư ngôn ngữ học) đi vào chiến khu Ba Lòng (Cam Lộ – Quảng Trị) hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Thông tin về Cao Cự Phúc sau đó không có nhiều ở quê nên ít người biết. Còn nói về gốc gác quê hương bản quán và tuổi trẻ thì phải nói anh Phúc quê ở Xóm Chợ xã Diễn Bình huyện Diễn Châu – Nghệ An bây giờ

Như vậy, Cao Cự Phúc xuất hiện ở Quảng Trị đi tìm bố, từ khoảng 19 tuổi, khi ấy anh đã học nhạc ở ban nhạc họ Cao Diễn Châu, học nhạc Nguyễn Văn Thương quen ông nội ở Vinh và sáng tác âm nhạc. Mẹ đẻ anh mất lúc 2 tuổi, mấy năm sau bố anh là ông Thông Bàng lấy vợ kế, sinh con ở Quảng Trị. Từ khi tìm bố ở Quảng Trị, Cao Cự Phúc vào học ở Huế khai tụt 2 tuổi và lấy bút danh Hoàng Nguyên. Sự kiện 1955 bị bắt và được thả đã thôi thúc ra đi, và thẳng Đà Lạt dạy Việt văn, Anh văn và âm nhạc, xuất hiện chùm ca khúc Đà Lạt nổi tiếng của Hoàng Nguyên: Ai lên xứ hoa đào, Bài thơ hoa đào, Đà Lạt mưa bay. Không ai ngờ rằng, Hoàng Nguyên là người nhạc sĩ tài hoa quê tận Diễn Châu, Nghệ An.

Âm nhạc cuộc sống và lãng mạn.

Nếu nói về sáng tác âm nhạc thì Cao Cự Phúc – Hoàng Nguyên là một nhạc sĩ rất nổi tiếng thập niên 50, 60 thế kỷ trước. Ông không chỉ sáng tác nhạc mà còn dạy nhạc, dàn dựng tác phẩm và phát hiện bồi dưỡng những nhạc sĩ trẻ. Nguyễn Ánh 9 là một nhân tố mà ông yêu quý, chăm sóc trở thành người nhạc sĩ tài hoa sau này. Người học trò thuở đấy đã nghĩ về Hoàng Nguyên là một con người có lý tưởng chống Pháp, và âm nhạc của anh đã hiện rõ lý tưởng đó: Có lẽ trong lòng những người yêu nhạc sẽ mãi mãi vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp… “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ…”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc Anh Đi Mai Về này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.

Có lúc Hoàng Nguyên đã sáng tác ca khúc khi làm tuyên truyền quân khu 4, cùng tinh thần sáng tác ca khúc với Cao Xuân Hạo đồng hương, nhưng rồi do nhiệm vụ khác nhau. Hoàng Nguyên học ở Huế, các hoạt động Việt Minh bị cách trở thấy xa xăm. Nhiều đêm anh nhớ cảnh hoạt động cùng đồng đội mà vẫn phải chịu đựng qua ngày tháng:

Quên đi những chiều nhìn mây vương sau đèo

Nắng vàng đùa thông reo bên bờ dòng suối lắng

Cùng nhau vỗ súng ca cho đời biên khu

Xa rồi ơi đàn

Đâu đêm trăng vàng cùng chung vui bên rừng

Tiếng trầm hùng vang vang, bóng từng đoàn chiến sĩ,

nguyền dâng sức sống cho quê nhà

Đêm nay xa rồi ơi đàn

Đàn ơi xa rồi,

Lòng vắng mơ chi ngày về, đàn ơi dứt đi đường tơ

Đàn ơi xa rồi, tơ lòng đừng vương vấn

Buồn chi khi non sông còn vương máu, và chiến chinh đang tràn lan

(Đàn Ơi, Xa Rồi)

Ngay cho đến khi đất nước chia đôi, tinh thần thống nhất đất nước vẫn luôn trỗi lên trong anh. Tất cả những mối liên lạc hoạt động như mất hết với anh, và niềm khắc khoải day dứt cùng lý tưởng chỉ lặng lẽ với anh. Anh nghĩ tới “cách chia”, “chia lìa” và vẫn “nhớ thương”, “mong chờ”. Chính vì vậy mà bài hát “Em chờ anh trở lại” đã ra đời sau hiệp thương 1954 như một khao khát nước nhà thống nhất:

Ngày anh ra đi, đường nắng chưa phai màu

Dòng sông chia ly, lờ lững chưa hoen sầu

Ngờ đâu chân anh, lạc bước khi qua cầu

Chiều nay bâng khuâng, chợt xót thương đời nhau.

Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh màu

Mà nay bên sông, liễu khuất bến giang đầu

Mười mấy năm qua rồi còn gì đâu? Còn gì đâu

Có chăng là đớn đau.

Em chờ anh trở lại chốn đây

Đường xưa còn đó sánh đôi vai gầy

Em chờ anh tìm về lối cũ

Có em còn đây bên sông này

Đợi chờ ai đến trong vòng tay.

Bài hát là bài tình khúc, khao khát và chia lìa, lãng mạn trên đau khổ. Những bài hát như vẫn phảng phất lý tưởng dân tộc trong đất nước chia đôi. Đó chính là lý tưởng của người nhạc sĩ Hoàng Nguyên trong một giai đoạn lịch sử hiện thực chi phối cả dân tộc.

***

Từ thời Hoàng Nguyên phiêu bạt vào Đà Lạt, anh tung một chùm bài hát trữ tình, lãng mạn rất tươi đẹp, như cảm xúc của du khách rất yêu đời. Những người du khách, nghệ sĩ nghe nhạc, nhập vào những âm thanh bên hồ, tiếng suối, tiên cảnh nên thơ. Có người nghe nhạc Đà Lạt của Hoàng Nguyên rồi gọi ông là “người đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”. Vâng, âm nhạc của anh xứng đáng vẻ đẹp và tươi sáng của xứ hoa như vẫy mọi con người. Và lời ca của Hoàng Nguyên rất giàu chất thơ, gây mê người thưởng thức:

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai

Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên”

Những câu nhạc như dài ra hơn bình thường. Những nốt nhạc lên xuống như núi đồi nối nhau. Những hoa bướm, bướn hoa; những quên lãng, lãng quên như quấn quýt lấy nhau trong một khúc thức mở ra không cùng lấp lánh. Qua bài hát, ta thấy tài năng cả nhạc và lời của Hoàng Nguyên như được trời cho:

Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa 

… Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má aị

Có thể nói Hoàng Nguyên đã mê say Đà Lạt trinh nguyên thuở ban đầu. Chỉ trong thời gian ngắn, 2 ca khúc về Đà Lạt được anh sáng tác, và trở thanh 2 ca khúc bất hủ cho vùng đất này. Bài thứ 2 là “Bài thơ Hoa Đào” anh viết trong một căn phòng đơn sơ của một thầy giáo, “trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt”. Nguyễn Ánh 9 đã nhớ lại như vậy, và đã nghe anh hát cho nghe giai điệu đầu tiên đầy quyến rũ:

Ngày nào dừng chân phiêu lãng 

Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi 

Màu hoa in dáng trời 

Tình hoa lưu luyến người 

Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi 

…Ôi! Đà Lạt là mơ 

Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần 

Tóc mây buông lơi tha thướt bên hồ 

Đợi tình quân đến trong giấc mơ…

Và vẫn còn “đợi tình quân đến trong giấc mơ” của  anh lính Cao Cự Phúc ngày nào. Với âm nhạc say sưa da diết như vậy, người ta tin là anh đã gắn bó với đất này như thiên đường của tuổi trẻ. Nhưng anhthú nhận với người học trò yêu quý ngay sau khi anh viết xong bài hát này: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng…”. Vâng, sự “ghé chân” đã dâng lên trog bài hát:

Nhưng rồi mùa hoa tàn 

Người hoa sao vắng mãi 

Bao chiều lòng mong chờ 

Đường hoa sao hững hờ 

Để lòng lữ khách tê tái 

Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai 

Màu hoa in trên má 

Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi!

Chính vì tâm sự ấy mà nỗi lòng bâng khuâng mãi với Đà Lạt, bâng khuâng mãi ­­với lữ khách muôn thời.

Cũng với Đà Lạt, anh còn có những bài hát nữa như “Đường nào lên thiên thai”, “Đà Lạt mưa bay”… Bài hát nào cũng muốn cái đẹp của Đà Lạt như Thiên Đường, không bị phai tàn. Có thể đó là mơ mộng:

Cầm tay em anh hỏi

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai?

Nơi hoa xuân không hề tàn,

Nơi bướm xuân không hề nhạt,

Nơi tình xuân không úa màu bao giờ

Và Hoàng Nguyên cứ tin cuộc đời là vậy, với đôi mắt trong đẹp ngây thơ:

Nhìn trong đôi mắt đẹp,

lòng chợt vui như say;

kìa đường lên Thiên Thai,

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,

Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.

Rồi một ngày anh chỉ “ghé chân” nơi Đà Lạt, phải rời xa nơi này bởi tù đày vì yêu đời yêu nhạc yêu ca. Âm nhạc của anh vẫn vang lên cũng cuộc sống:

Chừ anh đi rồi mình tôi còn ở lại 

Dalat buồn mưa mãi mãi không thôi…

Rời Đà Lạt, Hoàng Nguyên tiếp tục một cuộc sống khác, nhưng chỉ mấy năm gắn bó bằng âm nhạc, bằng lời thơ, bằng trái tim yêu đời cùng thành phố hoa thơ mộng, anh đã trở thành “Người nhạc sĩ đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”.

***

Thời gian “sau Đà Lạt” thì cuộc đời rất phức tạp và éo le với Hoàng Nguyên. Năm 1956, anh bị chính quyền lùng bắt ở Đà Lạt do hoạt động tuyên tuyền Quân khu 4 kháng chiến chống Pháp từ lâu và lấy cớ trong nhà có bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, nên anh đã bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1957. Bị tù ở Côn Đảo, do tài giỏi, anh được Chủ đảo mời dạy nhạc cho con gái 19 tuổi, thầy trò đã yêu nhau bốc lửa và mang bầu, phải vận động cuộc tự do để thả Hoàng Nguyên ra tù về Sai Gòn theo ý Chủ đảo. Anh ra tù không lấy con Chủ đảo vì éo le, tiếp tục dạy học và theo học Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1961, anh quen ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết và bà Huỳnh Khanh là nữ diễn viên mến mộ tài năng nhận anh làm em nuôi, rồi trở thành con rể ông bà. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, lý ban nhạc Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đến khi bị tai nạn xe hơi kết thúc cuộc đời.

Thời kỳ này âm nhạc miền nam không chỉ nhạc vàng tình yêu, nhạc xanh, nhạc sến mà còn nhạc trẻ, nhạc tây. Hoàng Nguyên từ dòng tiền chiến lãng mạn đến tình yêu sang trọng, rồi nhập vào dòng tân nhạc hay hiện đại. Nhưng câu chuyện tình yêu trong ca nhạc muốn vượt lên, nhưng vẫn phảng phất nỗi niềm tủi đau. Trong khi chuyện gia đình người vợ làm anh u uất không vui, và âm nhạc cũng gieo vào tâm sự:

Những tưởng dài lâu 

như trăng như sao cho đến bạc đầu. 

Nào ngờ trời mưa 

mưa rơi không thôi nát tan tình đầu 

Nước mắt rơi mau 

long lanh giọt sầu xót xa niềm đau. 

(Đừng trách gì nhau)

Ai dám đợi chờ ai 

Và người nay đi xa 

Từ giã bến sông dài 

Để đến hôm nay tôi ngồi đây 

Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy 

Người ơi! thơ ngây đã lỡ rồi 

Tình xa rồi thì cho tôi chép lại vần thơ xưa.

(Thuở  ấy yêu nhau)

Và bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,dù là một chuyện tình đã lỡ, nhưng cái con người nhân văn của nhạc sĩ luôn luôn trĩu nặng trong từng lời thơ nốt nhạc. Âm nhạc cũng mới mẻ lên, nhịp điệu cũng dào dạt hơn, để lại tâm tình càng sâu nặng sau bao yêu thương đau khổ. Bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,có gía trị, và được chọn thu vào đĩa 45 vòng do Hãng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất do Thanh Lan hát cùng bài “Không”của Nguyễn Ánh 9 được Khánh Ly hát. Và đây là đầy đủ lời ca của Hoàng Nguyên”:

Khóc mà chi, yêu thương qua rồi 

Than mà chi, có ngăn được xót xa 

Tiếc mà chi, những phút bên người 

Thương mà chi, nhắc chi chuyện đã qua 

Anh giờ đây như là chim 

Rã rời cánh biết bay phương trời nào 

Em giờ đây như cành hoa 

Trót tả tơi đón đưa ngọn gió nào. 

Mình  nào ngờ, tình rơi như lá rơi. 

Người tình đầy, vòng tay ôm quá lơi. 

Để giờ này một người khóc đêm thâu, 

Một người nén cơn đau nghe mưa mà cúi đầu. 

Thế là hết, nước trôi qua cầu 

Đã chìm sâu những thánh ngày đắm mê 

Thôi đành quên, những tiếng yêu đầu 

Những lời yêu ấy nay đã quá xa. 

Nẻo đường cũ giăng đầy mưa 

Khuất mù lối khiến nên tình đành lỡ 

Ta giờ đây như rừng thu 

Nắng liệm với chiếc lá vàng cuối mùa.

Có thể nói, từ “Ai lên xứ hoa đào”đến“Cho Người Tình Lỡ”,là 2 đỉnh cao của ca khúc đầu đời và cuối đời của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.

Hoàng Nguyên – Nhạc sĩ của công chúng.

Thường thì một đời, một sự nghiệp âm nhạc phụ thuộc vào tác phẩm được công chúng yêu thích. Có nhạc sĩ cả nghìn bài đươc 1 bài nổi tiếng, được công chúng ghi danh. Có nhạc sĩ trăm bài được vài bài, dăm bài nổi tiếng là để lại nhiều thế hệ yêu thích. Và có người qua đời, không để lại tác phẩm nào cả. Điều đó là công bằng, tác phẩm được sàng lọc qua thời gian.

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc mất sớm do tai nạn khi 43 tuổi, không còn từ năm 1973 đến nay đã 45 năm, nhiều bài hát của anh vẫn còn được công chúng yêu thích, được khắc trên đá, được vang trong cuộc sống. Đó là niềm vinh dự của người nhạc sĩ trong cuộc đời này. Có thể nói, các thế hệ không quên những tác phẩm nổi tiếng của anh, và biết ơn anh.

Và anh có quê, quê gốc nhiều đời, quê cha mẹ sinh ra xã Diễn Bình, Diễn Châu của anh; quê tuổi thanh niên Quảng Trị cùng cha đẻ, mẹ kế và các em của anh; và các miền quê phiêu bạt đã làm nên sự nghiệp của anh.

Là một người bắt đầu hoạt động chống Pháp từ khi còn trẻ, dù môi trường công tác khác nhau có thể mất cả đường dây hoạt động, bị khủng bố, tù đày nhưng anh vẫn trở về cuộc sống nhân văn làm gốc với con người, xã hội. Và cho dù làm với bên này bên kia bằng ngòi bút sáng tác, bằng người dạy học mang kiến thức cho mọi người. Thật đáng kính.

Vì vậy những người yêu anh đã khắc những bản nhạc của anh lên đá, những phù điêu hình ảnh của anh nơi công cộng, và cũng có những người đề nghị đặt tên đường cho anh trên đất Đà Lạt, con đường nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Và theo tôi, nên đặt cả tên đường của anh trên đất Diễn Châu, Nghệ An và trên đất Quảng Trị.

Vâng, sự nghiệp của anh bằng âm nhạc thật rõ ràng. Anh, Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc là người nhạc sĩ lãng mạn và tài hoa.

Hà Nội, 15.7.2018




Dịch giả HÀ MAI ANH

Người trong hình chính là ông Hà Mai Anh, dịch giả của Tâm hồn cao thượng, cuốn sách gối đầu giường của tôi từ bé thơ. Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, ông đậu bằng Cao Ðẳng Tiểu học và trường Sư phạm, từng làm giáo học và hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ.

Hà Mai Anh (1905 – 1975), bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn, là một nhà giáo, cùng là tác giả của nhiều sách giáo khoa về văn chương, toán học và dịch giả nhiều cuốn sách phổ biến như Tâm hồn cao thượng (Les grands cœurs), Vô gia đình (Sans famille), Trong gia đình (En famille)…

Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, từng làm hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ. Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo đương thời nhưng sự nghiệp văn học của ông chủ yếu là các tác phẩm mang tính cách giáo dục. Ngay từ năm 1938 cuốn Công dân giáo dục đã được xuất bản tại Nam Định và được chính phủ Bảo hộ chấp thuận dùng làm sách giáo khoa.

Vào những năm đầu 1940, ông dịch cuốn “Tâm hồn cao thượng” (tiếng Ý: Cuore) đoạt Giải thưởng Văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội năm 1943, dịch từ tiếng Pháp  (Les grands cœurs).

Cuốn này nguyên thủy viết bằng tiếng Ý của Edmondo De Amicis và tại Việt Nam được xem như một cuốn “luân lý giáo khoa thư” của thế kỷ 20 và trở thành “kim chỉ nam” của một thế hệ thiếu niên. Các tác phẩm khác do ông dịch lại từ tiếng Pháp, Anh: 

  • Vô Gia Ðình, Sans famille của Hector Malot (Giải I Dịch thuật 1970)
  • Trong Gia Ðình, En famille của Hector Malot
  • Về với Gia Ðình, Romain Kabris của Hector Malot
  • 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới, Le tour du monde en 80 jours của Jules Verne
  • Guy-Li-Ve Du Ký. Les voyages de Gulliver của Jonathan Swift
  • Hoàng Kim Ðảo, L’île au trésor của Robert Luis Stevenson
  • Con Voi Chúa, Poo Lorn l’éléphant của Reginald Campbell
  • Chuyện Trẻ Em, Contes de Perrault của Charles Perrault
  • Cầu Vồng Trong Ruộng Lúa, L’arc-en-Ciel dans les rizières của Rosy Chabbert
  • Thuyền Trưởng 15 Tuổi, Un Capitaine de 15 Ans của Jules Verne
  • Thuật Tàng Hình của Vi-Liêm, Le secret de Wilhelm Storitz của Jules Verne
  • Dòng Sông Tráng Lệ, Le superbe Orénoque của Jules Verne
  • Em Bé Bơ Vơ, Oliver Twist của Charles Dickens.

Năm 1954 ông di cư vào Nam làm hiệu trưởng trường Trần Quý Cáp ở Sài Gòn rồi chuyển sang làm việc trong Ban Tu thư và Học liệu thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục của Việt Nam Cộng hòa.

Khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ông sang Mỹ tỵ nạn và mất ngày 20 tháng 8 năm 1975 tại San Bernadino, CA, Hoa Kỳ, thọ 70 tuổi.

Bạn ông, nhà giáo Bảo Vân Bùi Văn Bảo có làm bài thơ “Khóc Bạn Hà-Mai-Anh” như sau:

Thôi thế là xong nhé bác Hà

Tâm hồn Cao thượng kiếm đâu ra?

Tuổi Xanh đất Mỹ đành thua-thiệt

Sống Mới trời Nam hẳn xót-xa

Về với gia-đình sao vội-vã?

Vòng quanh thế-giới há lâu-la!

Đồng-hương, đồng-quận, thêm đồng-nghiệp

Giọt lệ như sương khóc bạn già.

—- Huy Phương —-




XUÂN DIỆU VÀ QUÊ MẸ

(Nhân kỷ niệm 35 năm ngày mất của nhà thơ Xuân Diệu 1985-2020)

Nhiều người Bình Định nhận xét “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng thơ tình Việt Nam” có một khuôn mặt rất “nẫu”, tức rất Bình Định, với nét đẹp cao sang mà hồn hậu, tinh quái mà ngây thơ, mơ màng nhưng ngay thực. Chẳng biết Xuân Diệu nghĩ sao nếu nghe nhận xét này của đồng hương, nhưng sinh thời, trong nhiều bài viết và các buổi nói chuyện, ông thường tâm sự: thiên nhiên, con người, những câu ca dao ở Vạn Gò Bồi, Tùng Giản, Văn Quang, Luật Bình, Kim Trì, ở Bình Định, Quy Nhơn đã làm thành một mảnh rất sâu xa, tinh tế, bền vững trong tâm hồn ông.

Xuân Diệu rất tự hào vì cái gốc “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong/ông đồ nho lấy cô làm nước mắm” của mình và tình cảm đó làm nên một trong những bài thơ mộc nhất, thương nhất, xúc động nhất của ông:

Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ

Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang

Bà ngoại nói: tôi trọng người chữ nghĩa

Nên dám gả con cách tỉnh xa đàng

Tiếng đàn ngoài tiếng đàng trong quấn quít

Vào giữa mái tranh, giuờng chõng cột nhà

Rứa mô chừ? Cha hỏi điều muốn biết

Ngạc nhiên gì mẹ thốt ối chu cha!…

Mẹ thảnh thót: qua thương em nhớ bậu

Cha hát bài phụ tử tình thâm

Năm 18 tuổi, Xuân Diệu bắt đầu xa quê để đi học rồi đi làm ở Huế, Hà Nội, Mỹ Tho, và chỉ vài năm sau, giữa tuổi 20, trong tình cảnh “nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ”, ông trở thành một trong những chủ soái của phong trào thơ Mới, làm bàng hoàng làng thơ VN thời ấy bằng “một y phục tối tân…lẫn với chút hương xưa của đất nước” như phát hiện của nhà phê bình Hoài Thanh.  Cái “y phục tối tân” thì  có lẽ Xuân Diệu học từ các nhà thơ hiện đại Pháp, còn “chút hương xưa của đất nuớc” , tiếng cây me ríu rít, mùi hương hoa bưởi báo đêm khuya, cái ánh trăng sáng, xa, rộng vô chừng kia thì chắc chắn Xuân Diệu đã mang theo từ đất trời quê mẹ.

Tham gia tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, lên Việt Bắc kháng chiến rồi về thủ đô khi đất nước bị chia cắt cho đến 1975, Xuân Diệu đã phải xa quê đằng đẵng hơn 30 năm. May mắn cho ông, “nhớ, tìm con, má đi tập kết/đem miền Nam ra ở với con”, người mẹ của vạn Gò Bồi, làng Tùng Giản đã lặn lội đi tập kết, đem con cá, con tôm, mắm muối, tiếng hò giã gạo, tiếng chày nện cối suốt đêm sao của quê hương ra sống cùng ông ở thủ đô. Tuy vậy, nhà thơ vẫn không nguôi thương nhớ quê hương “Quê má, quê má yêu/ta mang theo sớm chiều/mang theo trong giọng nói/pha Bắc vẫn Nam nhiều” và tha thiết mơ một ngày trở lại “Ôi bao giờ, bao giờ. Ta tắm vào da thịt. Con sông nhỏ Gò Bồi. Quy Nhơn về ngụp biển. Muối đọng ở vành tai”.

Niềm thương nhớ quê hương trong những năm xa cách đó, ngoài thổ lộ trong thơ, đã được Xuân Diệu dồn vào bài phê bình nghiên cứu tuyệt hay “Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung bộ”, năm 1963. Cho đến nay, đây vẫn là bài viết công phu nhất, toàn diện nhất, sâu sắc và giàu cảm xúc nhất về ca dao dân ca miền Nam Trung bộ và Bình Định. Với Xuân Diệu, đây là “một thứ máu của tổ quốc”.

Ở bài viết dài gần trăm trang in này, nhà thơ bồi hồi kể chuyện “tôi với em tôi chen chúc nghe hô bài chòi ngày tết ở chợ làng Văn Quang. Làng nhỏ, chợ nhỏ, đồng bào rất hiền lành, anh hô bài chòi cũng hiền, chuyện đêm nằm đò dọc từ Vạn Gò Bồi xuống Giã (Quy Nhơn), nghe “gió nhẹ hiu hiu phần phật trên buồm” và “sóng nhỏ nghìn gợn đập canh cách dưới thân thuyền”, chuyện tục hát giã gạo ở Vạn Gò Bồi, với những đợt hát kéo dài suốt mấy tháng liền.

Trong ký ức Xuân Diệu, dường như mỗi người Bình Định, nhất là phụ nữ, ai cũng có một “pho” ca dao dân ca riêng. Hồi nhỏ là các dì các mợ, bà vú già giữ em ruột ông, bà ngoại ông. Chính nhờ bà ngoại mà ông biết được bài ca dao rất nghịch mà cũng rất buồn này:

Sớm mai em xách cái thõng ra đồng

Em bắt con cua, em bỏ vô trong cái thõng

Nó kêu cái rỏng

Nó kêu cái rảnh

Nó kêu chàng ơi!

Chàng giờ an phận tốt đôi

Em đây lỡ lứa mồ côi một mình

Và cái ông “Tốc xi măng”  ở Quy Nhơn mà Chế Lan Viên cũng biết . Cái con ngươi dở khờ, đở dại, đôi mắt lạc trí ấy đã tay đập nhịp lên đùi, miệng hát cho Xuân Diệu nghe cả một bản trường ca ca dao huê tình rất dài và thật hay. Rồi đến má nhà thơ. Xuân Diệu đi học, ghi chép ca dao dân ca khắp nơi, mà mấy chục năm trời chẳng ngờ má mình cũng là một cái “mỏ” lớn. Mãi đến khi má tập kết ra với ông được 5 năm, tình cờ nói chuyện, ông mới biết má thuộc vô khối ca dao dân ca hay quê mình. Không những thế, bà còn là tác giả của nhiều câu rất đáo để. Ví như câu “Trồng trầu thì phải xẻ mương/làm trai hai vợ phải thương cho đồng”, bà làm là để nhắc khéo chồng phận “lẽ mọn” của mình (Cha Xuân Diệu đã có vợ ở ngoài Bắc, vô Bình Định lại lấy má ông, nên bà phải là vợ “bé”). Hay như câu này:

Anh ngồi trong bếp lửa

                                    đau cái bụng

Em ngồi ngoài cửa

                                   nát nửa lá gan

Biết thuốc chi mà chữa bệnh chàng

Lấy trầm hương cho uống sao chàng vội quên

là bà “đặt” để nhớ chuyện chữa khỏi bệnh hay đau bụng của cha ông bằng cách lấy gừng vùi vô bếp rồi cho ông uống. Khi “đặt”, bà thấy nói “gừng” thì không hay nên nói thành “trầm hương” cho hay…

Xuân Diệu viết “ca dao dân ca Nam Trung bộ, Bình Định đã ru tôi ngủ và đánh thức tôi dậy với những thương mến bao la của quê hương thứ nhất, nơi má đẻ ra mình”. Bởi vậy, bài viết này là một cách đấu tranh thống nhất đất nước của ông năm ấy.

Nhớ quê, yêu quê, nặng tình quê như thế, nên năm 1976, khi được về thăm quê, niềm vui, hạnh phúc rộn lên trong thơ Xuân Diệu “Ba chục năm dư được trở về/quê mừng mình lại đón mừng quê…/Nước không mất nưã, trời xanh thế/Đất hết chia rồi lộng bốn phương”. Đặc biệt cảm động là chuyến trở về với Tuy Phước, với Gò Bồi được Xuân Diệu ghi lại trong bài thơ “Đêm ngủ ở Tuy Phước”:

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ

Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh

Thức những ngôi sao, thức những bóng cành

Đêm quê hương thương cái hương của đất

Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc:

– Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi

Khi má anh sinh ra

Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi

Nên tới già thơ anh còn đậm đà thấm thía –

Nhà thơ Huy Cận, bạn thân nhất của Xuân Diệu, có nhận xét: càng về cuối đời, tình yêu quê mẹ của Xuân Diệu càng thiết tha, da diết, ông luôn muốn làm nhiều việc để đền đáp nơi sinh thành.

Có lẽ vì thế mà công trình nghiên cứu văn học lớn cuối cùng của Xuân Diệu là về danh nhân Đào Tấn, đồng hương Tuy Phước của ông.

Còn nhớ đó là khi giới nghiên cứu về Đào Tấn tuy đều đánh giá cao các sáng tạo tuồng bất hủ của cụ nhưng về con người, cuộc đời cụ, thì còn không ít nghi ngại, một số người còn mạt sát cụ thậm tệ về việc làm quan to của triều Nguyễn như một bằng chứng phản bội đất nước.  Xuân Diệu nghe được, rất bất bình và quyết định xung trận. Trong hội thảo lần thứ hai về Đào Tấn tại Quy Nhơn năm 1979, Xuân Diệu đã đăng đàn tới hơn một giờ đồng hồ với tham luận “Đọc thơ và từ của Đào Tấn”. Kiến thức uyên bác, tư liệu phong phú, phân tích tinh tế, lý lẽ sắc sảo, Xuân Diệu đã khắc họa chân dung Đào Tấn không chỉ như một “nhân tài nghệ thuật đặc biệt” mà còn là một nhân cách lớn, một con người hết mực yêu nước thương dân. Bằng một linh cảm thiên tài, chỉ qua lời của Tiết Cương, nhân vật tâm đắc của Đào Tấn, “Thế sự đoản ư xuân mộng/nhân tình bạc tợ thu vân/nghiến rằng cười cười cũng khó khăn/ôm lòng chịu chịu càng sung sướng”, Xuân Diệu đã nhận ra việc làm quan của Đào Tấn thực ra là một “chủ động lớn lao của người chấp nhận sự hy sinh và cảm thấy trong việc nằm gai nếm mật của mình niềm vui sướng của sự tự giác tự nguyện”. Những phát hiện của các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã chứng minh linh cảm của Xuân Diệu là hoàn toàn đúng. Đào Tấn không chỉ là một thiên tài nghệ thuật mà còn là một chính khách lớn. mẫu mực.

Tham luận đầy thuyết phục của Xuân Diệu đã là một “chiêu tuyết’ tuyệt vời cho những oan ức mà cụ Đào phải gánh chịu, là đòn quyết định làm câm bặt mọi ý đồ bôi nhọ cụ. Sau này, Xuân Diệu đã dày công phát triển tham luận trên thành một công trình nghiên cứu lớn và những dòng cuối cùng của công trình này được Xuân Diệu viết vào ngày 7/11/1985, chỉ trước khi ông trút hơi thở cuối cùng 11 ngày (18/12/1985)…

Nhà lưu niệm Xuân Diệu ở Gò Bồi Tuy Phước, Bình Định
Hội đua thuyền trên sông Gò Bồi

Theo FB




Hoài niệm thu về

Hoài niệm thu về bao vấn vương

Cho lá vàng phai những cung đường

Gió sương, lá úa bay khắp ngõ

Xơ xác hoa vàng đã nhạt hương.

Sương khói mờ bay chiều nhớ nhung

Trời thu giá buốt đến lạnh lùng

Buồn nghiêng theo lá rơi về cội

Viết nốt bài thơ lòng nhẹ rung.

Mùa thu vàng úa nét tiêu sơ

Gió lạnh sương bay phủ bóng mờ

Thiếu nữ nhà bên buồn tựa cửa

Nhớ thương ai? mà đứng ngẩn ngơ.

Người ấy! có lẽ ở rất xa

Thương sao! Thiếu nữ nhớ quê nhà

Mấy thu mưa gió trời xa lạ

Tình cũ tàn phai nhuộm bóng tà.

Lê Tuấn

“Người nghệ sĩ lang thang hoài trong tâm tưởng để viết mãi những vần thơ tình cho mùa thu hoài niệm.

Thung lũng hoa vàng. San Jose tháng 9 mùa Covid 2020”

———————————————————————————

Còn một chiếc lá

Bỗng nhận ra mùi lá

Nhẹ bay theo gió về

Sương giăng mờ phố vắng

Mùa thu đứng bên lề.

Em được mùa xúng xính

Quần áo rất điệu đàng

Ai ngoài kia đứng đợi

Bước vào thu nhẹ nhàng.

Thu còn bao nhiêu gió

Cành vơi nhiều lá khô

Cổ thụ già lớn tuổi

Còn chiếc lá chơ vơ.

Lê Tuấn

Người nghệ sĩ lang thang

Tháng 9 mùa Covid 2020.

Hình minh hoa với kỹ thuật photoshop lê tuấn

Ảnh tự chụp, trong công viên quốc gia miền bắc California, nơi đây là vùng rừng núi tuyệt đẹp Yosemite National Park. Tháng 10 mùa thu năm 2018.




MỘT CƠN GIẬN

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.
Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:

Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.

Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:

-Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.

-Thầy cho sáu xu.

-Không, bốn xu là đúng giá rồi.
Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:

-Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:

-Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:

-Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:

-Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!

-Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.

Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.

-Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.

Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:

-Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.

-Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:

-Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…

Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:

-Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!

Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.

-Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?

Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:

Tôi đi từ phố hàng Bún.

-Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:

-Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?

Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.

Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.

Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:

-Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

-Bác Dư có nhà không ?

Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:

-Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

-Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:

Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:

-Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.

-Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:

Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:

-Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?

Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.

Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bươc ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.
Đứa bé con đã chết.
Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:

Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

THẠCH LAM