Ngô Trúc Khánh : CỔNG THIÊN ÐƯỜNG

CỔNG THIÊN ÐƯỜNG
 
Thành phố Ban Mê Thuột thất thủ ngày 10 tháng 3 năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của Quân Ðoàn II sau đó, qua cuộc di tản chiến thuật từ Pleiku về Tuy Hoà trên liên tỉnh lộ 7B. Lúc đó tôi là một Trung Uý/QLVNCH, biệt phái sang CSQG phục vụ tại Phú Bổn. Ngày 17/3 quân cán chính của tỉnh này cũng tan rã và hầu hết chạy theo đoàn quân. Trong số này có vợ chồng tôi và 3 đứa con nhỏ.

Mười ba ngày lội trong sông máu, núi xương của hàng trăm ngàn quân dân các tỉnh cao nguyên từ Cheo Reo, Phú Túc, Sông Ba, Hiếu Xương về Tuy Hòa. Thật là lạ lùng, chiếc xe Honda Dame chạy trên 300 km đường rừng núi, đầy đá lởm chởm và gai gốc, mà không hề lủng bánh hay chết máy. Nó đã cứu cả gia đình chúng tôi 5 mạng người, bình yên về tới Chợ Lầu quê tôi vào cuối tháng 3-1975. Từ đó đến 19/4/1975 Phan Thiết mất, sau đó cả miền Nam bị cộng sản quốc tế nhuộm đỏ vào trưa 30/4/1975 theo lệnh đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh, tôi vẫn ở Bình Thuận dón chờ cuộc phong trần, dành cho người lính trận ngã ngựa.
Tôi biết những điều kể ra đây cũng chỉ là câu chuyện cũ rích, đã được nhiều anh em bạn tù viết đi viết lại nhiều lần trên sách báo, diễn đàn.., sau khi đã hiên ngang bước ra khỏi cổng thiên đường đỏ từ Nam ra tới Bắc. Ngày 5/5/1975 cộng sản ra lệnh tập trung tất cả quân cán chính bốn quận Bắc Bình Thuận về nhốt tại lao xá Phan Thiết.
Ngày 19/6/1975 tất cả sĩ quan trong tỉnh bị áp giải lên trại tù Kà Tót. Tôi là một trung uý biệt phái cảnh sát nên cũng cùng chung số phận với mọi người. Sau đó lại chuyển trại tới tổng trại tù Sông Mao, Lương Sơn, Giếng Triềng, Xóm Mía trong tỉnh Bình Thuận, ra tới trại tù khét tiếng A.30 Phú Yên, tổng cộng hơn 5 năm tù với không biết bao nhiêu niềm đau nổi nhục, từ thể xác tới tinh thần.
Ngày mãn tù về quê cũ cũng đâu có được yên thân với bản án năm năm quản chế tại xã Hồng Thái huyện Bắc Bình. Viết làm sao cho hết sự hành hạ trả thù của bọn cán bộ điạ phương, nhắm vào gia đình chúng tôi : một sĩ quan đại đội phó Ðại đội 238 ÐP thuộc Tiêu khu Bình Thuận, khét tiếng qua trận địa mìn claymore ỳ. Ngoài ra tôi còn là một trung uý CSQG, nên bao nhiêu thù hận chúng đều nhắm vào gia đình tôi, không bỏ sót một công tác nào, từ vét mương, làm thủy lợi, hốt cốt VC, quét rác…. Con cái không được thi vào đại học, vợ tôi chỉ cho làm ruộng rãy mà thôi.
Ngày 30 tháng 7 năm 1989, chính phủ Mỹ đã chấp thuận nhận các cựu tù nhân chính trị cộng sản từ ba năm tù trở lên, được đinh cư tại Hoa Kỳ qua chương trình gọi là H.O lịch sử. Nhờ bạn bè thông báo nên tôi cũng lo liệu giấy tờ theo thông báo ấn định, mang vào nộp tại Phan Thiết lúc đó là tỉnh lỵ của tỉnh Thuận Hải gồm ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy cũ nhập chung. Nhưng hồ sơ của tôi đã bị chúng dìm không gửi đi, nên cuối cùng không được ai cứu xét.
Nhìn cảnh bạn bè lần lượt được gọi phỏng vấn rồi ra đi, nên tôi vào Phan Thiết hỏi thì được trả lời là tỉnh nay không có trách nhiệm giải quyết vấn đề này, mà phải ra Ðà Nẳng nộp đơn. Thế là tôi lại phải chạy chọt vay mượn của bà con để làm lại hồ sơ và lộ phí. HO là hai chữ viết tắt của Humanitarian Operation, có nghĩa là “ chiến dịch nhân đạo “ .Nhưng mọi sự hình như có bàn tay của quới nhân phù hộ, nên cuối cùng gia đình tôi cũng nhận được giấy xuất cảnh đi Mỹ, theo danh sách HO 11, trừ đứa con trai lớn có gia đình phải ở lại.
Ngày 26 tháng 4 năm 1992, gia đình tôi đáp chuyến bay tù Sài Gòn đi Bangkok bằng chiếc phản lực do Nga chế của hảng Air VN. Máy bay đã rời phi trường Tân Sơn Nhất gần một tiếng đồng hồ va có lẽợ đang bay trên không phận Thái Lan, chừng đó tôi mới hết sự hồi hợp âu lo về nổi bị công an bắt lại vào giò chót.
Rồi máy bay cũng tới phi trường Bangkok, mọi người chưa kịp thưởng thức cái đẹp nơi xứ người, thì một chiếc xe buýt tới xúc tất cả hành khách trên chuyến bay chở tới một khu nhà tole để làm thêm một vài thủ tục, trong đó có phần ký giấy nợ vé máy bay. Sau cùng mọi người lại lên xe buýt chuyển tới trại tạm trú Suan Phlu thuộc bộ nội vụ Thái, được xây dựng trong phạm vi thủ đô, nằm giữa những tòa cao ốc. Chúng tôi may mắn nên chỉ ngủ tại đây một đêm, trên nền nhà xi măng lót đá hoa giả, không có mùng chiếu nhưng đèn điện và quạt máy trong phòng được mở 24/24. Không ai được phép ra khỏi khu cấm này dù mọi người chỉ quá cảnh . Suốt đêm không làm sao ngủ được vì tiếng xe buýt gần như liên tục chở người tới, rước người đi, khiên cho mình cũng thật nôn nao mong trời mau sáng để rời chốn buồn tẻ này.
Rồi cũng phải tới lúc lên đường, để bắt đầu một cuộc đời mới cam go không biết trước. Cùng đi với vợ chồng tôi còn có hai con nhỏ, một trai một gái. Riêng đứa con trai lớn vì đã có gia đình nên kẹt lại. Tài sản mang theo lúc đó ngoài quần áo cá nhân, còn có hai trăm đồng tiền Mỹ (USD) dành cho nhân số 4 người trong gia đình.
Cảm giác đầu tiên khi tới phi trường Los Angeles lâng lâng, buồn vui lẫn lộn. Vui bởi lần đầu tiên trong đời được tận mắt nhìn thấy sự vĩ đại và văn minh của một quốc gia hàng đầu thế giới. Vui vì từ đây đã thật sự đuợc hít thở bầu không khí của tự do, sẽ không còn chịu cái cảnh sợ sệt, bị hù dọa, chụp mũ.. Ðêm đêm được ngủ yên giấc, không còn phải hồi hộp lo âu mỗi lần nghe tiếng chân người hay xe cộ ngang qua trước nhà.
Còn nổi buồn lo là không biết rồi đây mình và gia đình sẽ sống ra sao nơi xứ lạ quê người ? khi nhìn thấy người da đen bản xứ đang sống vất vưỡng khắp nơi, trên hè phố, dưới gầm cầu. Trong lúc đó tôi chỉ là một người VN bình thường, trước năm 1975 dành hơn một phần đời làm lính, rồi chiu cảnh tù tội khi VC cưởng chiếm được miền Nam..
Nhưng trời sinh voi sinh cỏ, tôi tự mình an ủi mình là thế nào cũng sẽ kiếm được một công việc bình thường hơp với tuổi tác và trình độ để nuôi thân và gia đình. Những ao ước lúc đó giờ nhớ lại, càng thấy thương thêm cho thân phận người VN lưu đày, mất quê hương phải sống cảnh tha phương cầu thực. Trong niềm ao ước nhỏ nhoi lúc đó, tôi mong được đi chăn bò ở các đồng cỏ mênh mông hay được thu nhận làm công nhân hái nho, dâu, táo.. trong các trang trại. Và nếu may mắn hơn là được các gia đình Mỹ hay VN tới trước, nhận vào làm các công việc trong nhà như quét dọn, chăm sóc cây kiểng vườn tược..
Tội nghiệp nhất là vợ tôi thì ao ước được nhận làm con sen, giặt giũ, nấu ăn trong nhà ngươi VN Riêng hai con nhỏ không biết chúng có mơ ước điều gì cho tương lai. Tóm lại mọi mơ ước trên đều tầm thương nhưng chúng tôi vẫn lo sợ vì không biết có toại nguyện được chăng ? Cuối cùng chỉ còn “ liều “ tới đâu thì tới, giống như lúc còn sống tại quê nhà sau khi mãn tù về quê bị địa phương quản chế, vợ chồng tôi vẫn chịu đựng tất cả mọi phủ phàng, đắng cay của chế độ, để cố sống và đã sống được tới ngày bỏ quê hương mà đi.
Nhưng dù có gì chăng nữa, thì trước hết phải tận hưởng sự tự do trên xứ người, đó không phải là mục đính mà hằng triệu triệu người VN đã liều chết để mong ước ? Bà chị vợ đón gia đình tôi tại phi trường về nhà ở tạm một đêm, sáng hôm sau mới đưa tới căn nhà đã mướn sẳn tại khu chung cư ở Westminster CA. Những ngày kế tiếp, chị lại hướng dẫn gia đình tôi đến các cơ quan công quyền địa phương làm các thủ tục cần thiết dành cho người tị nạn cộng sản. Thời gian này, chúng tôi đi học Anh ngữ tại Trung Tâm Ða Văn Hóa St. Anselm, là cơ quan thiện nguyện đã bảo trợ gia đình chúng tôi tới Mỹ.
Nửa tháng sau, buổi sáng tôi đi học Anh ngữ, buổi chiều đi rữa chén tại một nhà hàng của người Việt, kế bên chợ Phát Tài. Hai ngày cuối tuần, tôi và đứa con trai, tới khu chợ trời Orange County ở Costa Mesa phụ khuân vác hàng cho mọi người. Vợ tôi thì đi giữ trẻ, sau đó làm thêm nghề phụ bếp tại nhà hàng Tự Do. Chúng tôi vừa đi học đi làm, mệt mõi nhưng ai nấy đều vui vẽ hạnh phúc trong không khí dầm ấm cởi mở trên đất nước tự do.
Ðầu tháng 12/1992, sau 7 tháng ở Mỹ, tôi may mắn xin được việc làm tại Công ty GT. Bicycles là một hảng xưởng Mỹ, chuyên sản xuất các loại xe đạp thể thao đắc tiền, với lương giờ 4,25 USD. Ðiều may mắn thứ hai là trong thời gian làm việc tại đây, tôi đã được ông Manager để ý vì sự cần cù và tôn trọng kỷ luật. Nhờ vậy ông ta đã nâng đỡ tôi từ một nhân viên lắp ráp (Assembler) lên điều hành máy (Machine operator) và kiểm soát chất lượng (Quality control. . là những công việc không bị ràng buộc giờ giấc và cấp chỉ huy.
Tóm lại chỉ hơn nữa năm làm việc, tôi đã tạo được chút uy tín đối với thượng cấp cũng như mối cảm tình cùng với đồng nghiệp. Từ ấn tượng đó, tôi muốn giới thiệu vợ tôi vào lam chung hảng để nàng bớt đi cực nhọc khi làm việc trong bếp. Nhưng vợ tôi đã từ chối vì cho rằng công việc đang làm của mình rất tốt, lại được nâng từ phụ lên bếp chính, phụ trách các món nhậu nổi tiếng, nhờ vậy mà nhà hàng Tự Do rất đông khách.
Sau sáu năm làm việc cực nhọc ngày đêm và sự tiện tận, chúng tôi đã để dành được một số vốn, nên vợ tôi quyết định nghĩ việc, để tự mở riêng một nhà hàng bán các món nhậu, lấy tên “ Mai Restaurant “, tại góc đường First và New Hope thành phố Santa Ana, như tâm nguyện của nàng khi đến Mỹ, theo phương ngôn “ phi thương bất phú “.Riêng tôi vẫn tiếp tục làm việc tại hảng ráp xe đạp, để có bảo hiểm sức khỏe cho gia đình..
Nhưng chuyện làm ăn buôn bán cũng như mưa nắng thất thường, không ai biết được ngày mai sẽ ra sao, nhất là trong giai đoạn ai cũng ồn ào mở hàng ăn quán nhậu bán nữa giá và có nữ tiếp viên trẻ đẹp hầu bàn. Biết vậy, nên nhân lúc nhà hàng Mai còn đông khách hấp dẫn, chúng tôi đã sang lại và dọn về thành phố Temecula tại vùng đồi núi hoang vu, năm giữa Orange County và San Diego, lúc đó đang phát triển mạnh.
Cũng nhờ Phật Trời thương xót cứu độ, nên tôi một đứa trẻ mồ côi bất hạnh từ thuở ấu thơ sống nhờ sự đùm boc của bên ngoại, tới năm 18 tuổi dấn thân vào đời tự nuôi thân. Cũng từ đó tới ngày miền Nam mất và thời gian định cư tại Hoa Kỳ, có thể nói là vợ chồng tôi luôn được ơn trên phù hộ, ban cho nhiều sự may mắn, từ công việc làm trong các hảng Mỹ.. cho tới khi mở riêng nhà hàng ăn uống.. công việc nào cũng có kết quả tốt đẹp.
Ðầu năm 2003, chúng tôi dọn tới miền đất mới, mở một tiệm ăn theo đúng tiêu chuẩn Mỹ. Lúc này tôi cũng xin nghĩ việc hảng để phụ giúp vợ tôi trong việc kinh doanh, sau 12 năm lao động từ hảng GT.Bicycles chuyên sản xuất các loại xe đạp thể thao, tới hảng MGE chế bộ phận giữ điện cho máy computer và cuối cùng là hảng Power Wave chuyên làm các phần phân phối sóng cho điện thoại di động. Chúng tôi cố gắng học hỏi cách làm ăn, để phù hợp với khách hàng hầu hết là người Mỹ. Nhà hàng do đó rất đông khách và được ái mộ, đến nổi một tờ Ðặc San tại New York chuyên về ăn uống, đã viết một bào báo khen tặng nhà hàng chúng tôi về cung cách phục vụ khách hàng theo đúng tiêu chuẩn Mỹ với các thức ăn của người Việt. Ðây là một trường hơp hiếm hoi của mõt tờ báo tại Hoa Kỳ, giới thiệu và khen tặng một nhà hàng của người Châu Á.
Năm 2006 gia đình đứa con trai lớn tới Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Ðứa con gái kế và thằng út theo chúng tôi từ đầu, cũng yên bề gia thất và có cuộc sống ổn định. Công cuộc làm ăn buôn bán tại thành phố Temecula rất khả quan..
Nhưng con người cũng như máy móc, tới một lúc nào đó cũng phải suy yếu. Vợ tôi một đời cực khổ lam lũ làm ăn từ tuổi nhỏ tới khi lấy chồng lính, nuôi con nuôi chồng làm lính đi tù VC. Sau đó suốt mười mấy năm lăn lộn trên xứ người để kiếm sống, nên cuối cùng cũng yếu bệnh. Con cái thì đứa nào cũng lớn và có cuộc sống riêng tư, không thích nối nghiệp của cha mẹ. Không biết làm gì hơn, vợ chồng tôi lần nữa lại bán nhà hàng giữa lúc đông khách. Nhờ vậy đã tránh được hậu quả , khi nền kinh tế Hoa Kỳ bước vào giai đoạn suy thoái sau đó không lâu.
Giờ thì tất cả đã có từ tự do tới đời sống bình thường như mọi công dân Mỹ. Cũng không còn nổi hồi hợp lo sợ bị công an cán bộ hạch sách hăm dọa làm tiền, không lo bị bắt bớ thẩm vấn rồi bị buộc tội cầm tù. Nhưng có một thứ còn đáng sợ hơn, đó là tuổi già và sự cô đơn nơi xứ người, mà không ai có thể tránh được ! Mười bảy năm thoáng qua như một giấc mộng, nhớ ngày nào vợ chồng con cái bước chân vào đất Mỹ, chúng tôi chỉ dám mơ được chăn bò hái trái cây làm vú em ở đợ. Rồi thì “ trời sinh voi sinh cỏ “ , rốt cục cũng kiếm sống như mọi người, còn con cái cũng vẹn vầy như ước nguyện.
Nay nhìn lại mới giật mình vì tuổi đời trước mặt với bệnh hoạn và nổi cô đơn. Nhà có, xe có, con cái cũng có nhưng tất cả cũng chỉ là cái hạnh phúc vô thường xa hoa hào nhoáng. Bởi vậy chúng tôi chỉ còn biết ngày ngày thơ thẩn bên ngoài để vui lây cái vui của thiên hạ. Rồi tối tối về nhà đóng kín cửa, vợ chồng lại dán mắt vào ti vi cho vơi bớt niềm thương nổi nhớ, sống im lặng như nghĩa trang, giống như đồng hương bạn bè khác.. không ai có thể tránh được.
Xin chân thành cám ơn đất nước và dân tộc Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay cưu mang chúng tôi, giúp triệu triệu nạn nhân VN làm lại con người, từ một chốn địa ngục trần gian có thật mang tên là xã hội chủ nghĩa. Cám ơn ông bà ba mẹ, cậu dì .. luôn theo dõi phù trợ con cháu trên vạn nẻo đường tủi cực thương đau. Cám ơn tất cả đã cho chúng tôi có cơ hội thật sự, để bước chân vào CỔNG THIÊN ÐƯỜNG NƯỚC MỸ, để được làm người như mọi người..!
Xin mượn bài thơ của Mường Giang để tạ ơn đời :
Trời như đã cùng ta đang trẩy hội,
ngày Tạ Ơn trên xứ lạ quê xa
cõi thần tiên mật ngọt chảy muôn nhà
làm ai cũng tưởng đầu thai trở lại
Ta tới đây trong hình hài điên dại
đêm vượt biên hốt hoảng những âm thừa
người săn người đã ngả ngựa chào thua
người gục trước lưỡi lê và mủi súng
Ta tới đây hồn xanh xao chết sửng
tai vẫn vang tiếng chém giết kêu gào
mắt vẫn đầy khẩu hiệu máu đỏ au
đèn phố Mỹ ngở hỏa châu rợp sán
Ta tới đây phận hèn thân tị nạn
giải khăn sô ướt lệ máu chan hòa
khóc bạn bè gục chết chốn rừng xa
thương đồng đội phơi thây nơi tù ngục
Ta tới đây khác gì thân gổ mục
làm lá xanh vàng trước nổi hận thù
ngực căng đầy những thương tích thiên thu
da còn mặn mùi đất quê biển gió
Ta tới đây mang hành trang nổi nhớ
đầy tình em, xóm học với sân trường
con sông buồn, lầu nước cỏi quê hương
luôn bãi vắng, bờ hoang dăm mái rạ
Ta tới đây với hồn tim tơi tả
nhưng không quên những lối bước chân đời
Tết Mậu Thân thây co quắp muôn nơi
Trời Ðại Lộ Kinh Hoàng mùi tử khí
Ta tới đây khác nào tên mọi Mỹ
nên bâng quơ say tỉnh khắp hiên người
bỏ nhà vào lính, tuổi chớm đôi mươi
nay tóc bạc vẫn đầu đường xó chợ
Ngày Tạ Ơn làm ta thêm bở ngỡ
nhớ quê xa thương nấm mộ mẹ hiền
xót đồng đội đang đói lạnh triền miên
chuyện buồn kể chắc không còn ai nhớ !

(Tạ Ơn Ðời, thơ MG)
NGÔ TRÚC KHÁNH




Nhà thơ Mỹ giúp bảo tồn văn hóa chữ Nôm của Việt Nam

Nhà thơ Mỹ giúp bảo tồn văn hóa chữ Nôm của Việt Nam

18/12/2008

Chữ Việt hiện nay hay là chữ quốc ngữ là do người Pháp đặt ra và nhìn cũng tương tự như Anh ngữ hay Pháp ngữ. Nhưng trong nhiều thế kỷ, chữ Việt đã được viết cách khác dựa vào chữ Nho. Bây giờ chỉ một nhóm người còn đọc nổi loại chữ Hán Nôm đó. Tại Hà Nội, thông tín viên đài VOA Matt Steinglass tham quan một Viện đang cố gắng bảo tồn di sản này.

John Balaban
Nhà thơ Mỹ John Balaban

Tại một quán cà phê cũng là một tụ điểm văn hóa, mấy chục người Việt nam và người nước ngoài đang kỷ niệm 10 năm bảo tồn chữ Nôm. Ông Balaban là một nhà thơ Mỹ đến Việt Nam với tư cách một người thiện nguyện nhân đạo trong chiến tranh cách đây 40 năm. Ông đã chú ý đến chữ Nôm khi dịch tác phẩm của nhà thơ nữ Việt nam Hồ Xuân Hương. Chính ông đã lập ra Hội chữ Nôm.

Ông Balaban nói: “Hồ Xuân Hương là một người vợ lẽ sống vào năm 1800. Một nhà phê bình đã mô tả bà là một khuôn mặt nữ phá phách nhưng xuất chúng của thế kỷ 18 và 19. Đôi khi toàn thể những bài thơ của bà đều mang những ý nghĩa đảo ngược, với tình dục là đề tài tiềm ẩn.”

Những bài thơ của Hồ xuân Hương mang tính cách nữ quyền gây kinh ngạc. Bài thơ sau đây nói về phong tục đa thê một thời rất thông dụng tại Việt nam, khiến những phụ nữ như Hồ xuân Hương phải làm lẽ cho những người quyền thế.

“Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.”

Đọc Thơ Hồ Xuân Hương tưởng chừng mới được viết hôm qua vì những tư tưởng rất hiện đại. Tuy nhiên, phần đông người Việt nam lại không đọc được nguyên bản vì bà viết bằng chữ Nôm. Chỉ một số rất ít người Việt đọc được chữ Nôm, phần đông là các nhà sư, người già, hay những người có sở thích.

Và những người thật sự hiểu chữ Nôm? Tổ chức vừa nêu cho là chỉ có khoảng 30 người trên toàn thế giới.

Tại thư viện quốc gia Việt Nam, một nhóm nhỏ do hội này tài trợ đang bận rộn với một công trình lớn: chuyển qua kỹ thuật số 4,400 bản thảo Hán Nôm giá trị nhất trong văn khố Quốc gia Việt nam.

Đứng đầu nhóm bảo tồn tại thư viện là ông Tô Trọng Đức. Nhóm này chụp những hình rõ của mỗi tư liệu và nhập những dữ kiện liên quan đến việc tư liệu đã được in như thế nào và sưu tập ra sao. Sau cùng họ viết lại bằng tay toàn bộ tác phẩm, vì không có phần mềm nào dành cho chữ nôm.

Cách đây ít năm, Hội đã gửi đại diện tới dự một hội nghị quốc tế của ủy ban điều hành việc chữ được tạo mã ra sao trên Internet.

Mới đầu, các đại biểu Trung Quốc phản đối việc tạo một hệ thống mã riêng cho chữ Nôm. Họ nói đó chỉ là một loại chữ của Tàu. Sau đó một chuyên gia Việt nam đưa một bản chữ Nôm ra và người Trung quốc đã không đọc được, vậy là hiện nay chữ Nôm đã có hệ thống tạo mã chính thức của mình trên Internet.

Đây là một bước ngoặt đối với loại chữ mà từ 75 năm nay không có gì quan trọng được viết ra.

Người Việt nam bây giờ đọc thi văn cổ điển như các bài thơ của Hồ Xuân Hương bằng loại mẫu tự ABC mà người Pháp đã đưa vào từ đầu thế kỷ 19.

Ca sĩ Lê Phạm Lệ ngâm thơ Hồ Xuân Hương nói rằng thơ chữ Nôm và chữ quốc ngữ không hoàn toàn giống nhau.

Cô Lê nói: “Một cách nào đó, tôi thấy là ngâm thơ Hồ xuân Hương bằng chữ Nôm cho cảm giác mạnh hơn. Lý do là đó giống như một sự cảm thông với một di sản cổ điển. Đó cũng là mục tiêu, là nỗ lực mà Hội chữ Nôm đang theo đuổi.”

Với cố gắng và duyên may của Hội chữ Nôm, một thế hệ trẻ Việt nam sẽ có thể thưởng thức thơ Hồ Xuân Hương đúng như đúng như lúc bà đặt bút lông lên giấy tại Hà Nội cách đây 200 năm.

VOA News

 




Thơ Tháng Tư của Phan Ni Tấn, Hoàng Ánh Nguyệt

NẮNG THÁNG TƯ                                             

 

 

 
Cái gì được thổi phồng lên ở đây
Ngọn lửa
Cây đàn
Hay mũi súng
Còn ai vừa mới bước vào tôi
vẻ mến thương như nắng
Không phải cái nắng sáng nay
Trui sâu mùi khét lẹt vào những ngách chợ
Tất cả những cánh cửa khép lại
Những cõi lòng khép lại
Chỉ có tiếng oán thù là mở ra
Tôi phải nói sao với em
Khi cuộc đổi đời này không như ta mơ ước
Rằng chỉ có máu và nước mắt luồn trong mỗi thớ tim
Cuộc sống bây giờ
bị dồn lên những chuyến xe lầm than chia cách
Người mẹ xa lìa mái thân yêu
Người cha xa lìa chốn tương lai
Trong khi Tội Ác vẫn không ngớt thò ra những bàn tay đẫm máu
bóp mặt người méo lại
Tôi là khúc hát âm u lướt trong bóng chiều mờ tối
Tôi hát có em nụ cười đã khép
Con đường đưa em đến chợ mỗi ngày bị chắn ngang
bằng một sắc luật tháng tư mới ban hành
Dưới ánh nắng rỡ ràng của tháng tư
Ảo mộng con người lần lượt bị tích thu chất thành đống
Cũng dưới áng nắng rỡ ràng  của sáng nay
Tôi đi qua tôi
Đi qua những mặt người
Những mặt người với những cái mồm lắp đầy nỗi khốn khổ
Tại sao trong gió lành sáng nay lại mọc ra nhiều điều bất hạnh
Tại sao sự bình yên trên mặt đất lại không được quyền nhặt lấy
Và sự tự do buộc phải đứng im hỏi giấy
Tại sao những con đường phải quay về một hướng
Xua tuổi thanh xuân lảo đảo những nhát cuốc quên đời
Và sâu hơn nữa trong chiến trường đẫm máu
Nơi Sự Chết dễ dàng thắng thế Sự Sống Còn hụt hã của con người
 
Ôi cuộc đời
Ôi nhân loại
Cái gì sẽ phồng lên trong ước vọng
Ngọn lửa
Cây đàn
Hay lưỡi kiếm
Còn ai vừa mới bước vào tôi vẻ mến thương như nắng
Không phải cái nắng ngày xưa
Cái nắng sáng nay mọc ra
như một bụi hồng
Xám xịt
 
Phan Ni Tấn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 




Thơ Trần Văn Lương : HÃY ĐỂ BỐ


HÃY ĐỂ BỐ

DẠO: Lòng không muốn sống xa nhà

       Nhưng trời bắt tội tuổi già biết sao!

 

 

(Kính mến gửi về Chú, ngậm-ngùi đánh dấu ngày mà Chú, vừa tới tuổi 90, phải vào nhà dưỡng-lão, mặc dù con gái Chú rất thiết-tha muốn được đưa Chú về nhà.)

 

          Đêm bệnh-viện, sầu tơi trên tóc trắng,

          Người già nằm, bóng hạc lắng chiều sương, 

           Mắt ngu ngơ như nắng lỡ độ đường,

          Nhìn con gái dựa bên giường gà gật.

 

Đầu ngật ngầy váng vất,

Thương con mình tất bật ngược xuôi,

Mấy ngày qua luôn túc-trực không rời,

Đến tối mịt mới về nơi tổ ấm.

 

          Bàn tay già chầm chậm,

          Thờ thẩn nắm tay con.

          Từ rãnh mắt xoáy mòn,

          Giọt thương cảm lăn tròn theo vết cũ.

 

                                         X

                                   X        X

 

 Khuya rồi đó, sao con chưa về ngủ,

 Chuyện tuổi già, con ủ-rũ làm chi.

 Chín mươi rồi, Bố chưa bị cất đi,

 Mình may mắn, có gì mà áo-não.

 

         Hãy để Bố vào ở nhà dưỡng lão,

         Như mọi người vừa khuyên bảo sáng nay,

         Vì một mai khi rời khỏi nơi đây,

         Khó khăn sẽ theo tháng ngày dai dẳng.

 

 Bố không muốn mình trở thành gánh nặng,

 Để cho con phải lo lắng miệt mài

 Đời con còn nhiều trách-nhiệm trên vai,

 Đâu có thể chực-chầu hoài sớm tối.

 

         Thân gầy còm yếu đuối,

          Sao kham nổi đường xa.

          Thêm việc sở, việc nhà,

          Chuyện con cái, dễ gì mà vất bỏ.

 

 Người già thường cau-có

 Nằm liệt giường, càng khó tính gấp trăm.

 Dù cho con chẳng quản ngại nhọc nhằn,

 Nhưng chịu đựng tháng năm dài sao thấu.

 

          Bố vẫn muốn sống đời bên con cháu,

          Dẫu cơ-hàn, mà rau cháo có nhau.

       Bao năm qua mất Mẹ , bấy năm sầu,

          Bố gượng sống với niềm đau-lẻ-bạn.

 

 Buồn nhớ lại ngày vượt biên hoạn-nạn,

 Bỏ quê nhà, chấp-nhận vạn gian-truân,

 Chết trong tay đã nắm chặt chin phần.

 Mạng sống chỉ ngàn cân treo sợi nhỏ.

 

         Con thuyền khốn khổ,

         Sóng gió tả-tơi,

     Phút chót đã kề nơi,

         Lối định-mệnh, ai người sống sót.

 

Tưởng chỉ được nhìn Mẹ, con lần chót, 

 Nhưng Trời thương cho trót-lọt qua đây,

Trong khi bao người biển cả vùi thây,

Giờ sao nữa, chẳng mảy-may tiếc rẻ.

 

         Bố chỉ hận mình không còn sức khỏe,

         Đở đần con việc lẻ-tẻ hôm mai,

         Để chiều về, con bớt phải loay-hoay,

         Được yên nghỉ sau ngày dài kiệt sức.

 

Khi bị đẩy vào trong phòng hồi-lực,

Bố biết mình gần tới lúc xuôi tay.

Dù thoát nạn hôm nay,

Đời cũng phải rẽ ngay vào lối ngoặc.

 

        Bố tự biết như ngọn đèn sắp tắt,

        Nên cố tình bẳn gắt mấy ngày qua.

        Nếu chẳng may phải theo gót ông bà,

        Con cũng đở xót xa giờ đưa tiễn.

 

 Mai kia rời bệnh-viện,

Con đừng bịn-rịn xót xa,

Hãy nghe lời y-tá dặn ngày qua,

 Mà đưa Bố thẳng ra nhà dưỡng lão.

 

        Cuộc sống mới dù là mưa hay bão,

        Bố không buồn,tự bảo vẫn còn may,

        Vì biết rằng, chỉ quanh-quẩn đâu đây,

        Con cháu Bố đang vui vầy hạnh-phúc.

 

 Rồi sẽ có những buổi chiều hun-hút,

Bố nặn dần từng phút ngóng người thân.

Nhưng rủi con chẳng tới được một lần,

Bố cũng hiểu, đừng bận tâm ray-rứt.

 

        Bố không ngại chặng cuối đời khổ cực,

        Nhìn thấy con hạnh-phúc, Bố vui lòng.

        Tuổi đã nhiều, phận Bố thế là xong,

        Con phải sống cho chồng, cho con cái.

 

 Hứa với Bố, con sẽ không buồn mãi,

Nếu mai này, khi Bố phải ra đi,

Mà con không kịp đến lúc phân-kỳ,

Nói cùng Bố lời chia-ly vĩnh-viễn.

 

                              X

                         X      X

 

         Đêm trơn giấc, người con rời bệnh-viện,

         Đôi mắt già quyến-luyến vọng đưa chân.

         Trong ký-ức phai dần,

         Khuôn  mặt những người thân vùng hiển-hiện.

 

               Lòng chợt thoáng bùi-ngùi khi nghĩ đến

               Phút lên đường, theo ước-nguyện ba-sinh,

               Chân bơ-vơ trong tăm tối một mình,

               Mò mẫm lối hành-trình về thiên-cổ.

 

                                  Trần Văn Lương




Du Sơn LãngTử: Chúc Xuân Canh Dần

CHÚC XUÂN CANH DẦN – DU SƠN LÃNG TỬ KÍNH HỌA

?ui=2&view=att&th=126d5c2291949470&attid=0.1&disp=attd&realattid=ii_126d5c2291949470&zw

Chúc Xuân Canh Dần  (Bài Xướng)

               

Chúc mừng bằng hữu được an khang,

Phúc lộc đề đa quý tựa vàng.

Phú Lục quanh năm qua núi Thái,

Thi Văn suốt tháng vượt Trường Giang.

Anh em buôn bán vang hoàn vũ,

Con cháu học hành động thế gian.

Ước muốn trăm điều đều toại nguyện,

Sống lâu trăm tuổi mãi giàu sang.

 

Trường Giang  (Sáng Mồng Một Tết)

 

Chúc Xuân Canh Dần   (Bài Họa)

 

Mừng tuổi mọi người phước, thọ, khang,

Bình an hạnh phúc ngắm nai vàng.

Thi Ðàn phát lộc, danh lừng lẫy,

Con trẻ hoạnh tài, tiếng giỏi giang.

Ðịa múa quạt mo, chào khắp phố,

Lân vờn pháo giấy, rộn trần gian.

Canh Dần Tết đến vui bè bạn,

Túi nặng lì xì… mặc sức sang.

 

Du Sơn Lãng Tử   (Tối Mồng Hai Tết)

 

 

 

Kiều Ở Lầu Xanh Tại Châu Thai(1)

(Kính họa bài “Kiều Ở Lầu Xanh Tại Châu Thai”

của nhà thơ Nhựt-Hồng Nguyễn Thanh Vân)

 

Bài Họa :

 

1/10

Tiền-Ðường không đến… đến Châu Thai,

Trinh nữ hồng lâu lụy chữ tài.(*)

Ðưa rước tiệc tùng hư sắc thúy,

Dập dìu ong bướm nát cành mai.

Gió mùa sai trái, vầng mây úa,

Duyên số lỡ lầm, dáng nguyệt phai.

Thương tiếc tài hoa Kiều nuốt lệ,

Cõi trần ai thấu nỗi bi ai.

2/10                                                          

Cõi trần ai thấu nỗi bi ai,

Cửa Phật từ đây khép nguyệt đài.(*)

Phổ độ “Giác-Duyên” sân chùa mở,

Khổ tu “Chiêu-Ẩn” cửa am cài.

Xa lìa tửu quán tàn hương phấn,

Rủ bụi hồng lâu nát thảo hài.

Những tưởng đời hoa rời bến khổ,

Bồ đoàn chuông mõ ngộ đêm dài.

3/10

Bồ đoàn chuông mõ ngộ đêm dài,

Thầy bỏ nghiệp trần, thiếp bỏ ngai!(*)

Bạc-Hạnh đẩy đưa đời kỹ nữ,

Bạc bà run rủi kiếp trùng lai.

Chọn lầm gác tía, buôn hương phấn,

Gởi lộn lầu xanh, thưởng sắc đài.

Ðau đớn phận bèo, duyên lạc chỗ,

Tài hoa xấu số lạnh son hài.

4/10                                                          

Tài hoa xấu số lạnh son hài,

Nhụy rữa còn đâu dáng mảnh mai.

Một kiếp buôn hương chàng hối tiếc,

Nửa đời ca kỹ thiếp chê bai.(*)

Trăng vờn gối chiếc hồn than vãn,

Gió đệm phòng the tiếng thở dài.

Gọi đất kêu trời, trời chẳng thấu,

Tú bà lừa lọc sắc hương phai.

5/10

Tú bà lừa lọc sắc hương phai,

Tiếp khách Hồng lâu muộn tháng dài.(*)

Ðã hết phong nho tầm cổ nguyệt,

Ðâu còn xuân sắc ngắm hoa khai.(*)

Ðượm màu liễu rũ, tươi hồn sáo,

Nhạt phấn cành hoa, úa bướm ngài.

Tỉnh mộng tằm tơ ươm lộn kén,

Cung thương lỗi nhịp phím đàn sai.

6/10                                                          

Cung thương lỗi nhịp phím đàn sai,

Gẫy cánh chim xanh rối tóc cài.(*)

Duyên cuối mặn nồng hồn đắm đuối,

Tình đầu ngang trái mộng phôi phai.(*)

Hồng ân buổi ấy dài đăng đẳng,

Tri ái giờ đây khó miệt mài.(*)

Tuyệt vọng kêu trời ai hiểu thấu,

Ðêm trường lệ đẵm áo choàng vai.(*)

7/10

Áo choàng kỷ niệm đã phai hơi,

Phiền não thanh xuân lỡ cuộc đời.

Môi kẻ đầy son, sương tóc điểm,

Má tô đậm phấn, bướm ong mời.

Người say hay tỉnh, cười nghiêng ngữa,

Kiều múa theo đàn, rũ dáng tơi.

Nâng chén cụng ly mời “ác-quỷ”,

Sầu tình gượng liếc khách làng chơi.(*)

 

8/10                                                          

Khách chơi được dịp ngắm nhìn mai,

Trình diễn Quan xem kẻ mắt ngài.

Trang điểm mặt mày xinh dáng thúy,

Thêu thùa xiêm áo đẹp vòng đai.

Hát tuồng cống xứ dìu lên kiệu,

Múa khúc Chiêu-Quân qụy xuống đài.(*)

Cảm xúc người xưa đồng cảnh ngộ,

Cung vàng điện ngọc chẳng tham ngai.(*)

9/10

Ngai vàng xa tít mịt mù khơi,

Sa mạc mênh mông, hạt cát rời.

Gần mãn kiếp người, tình chửa thắm,

Sắp tàn mạng số, lệ khôn vơi.(*)

Phận hầu loan chạ, duyên chưa đến,

Phòng lẻ chăn chung, nợ vẽ vời.(*)

Khấn Phật cầu trời mau thoát nạn,

Canh tàn gió thổi cánh hoa rơi.

10/10                                                                 

Canh tàn gió thổi cánh hoa rơi,

Mặt dạn mày chai chịu cảnh đời.

Hoài vọng chân trời, đàn én lượn,

Viễn vong góc biển, cá tôm bơi.(*)

Bướm vờn dáng liễu chưa tròn buổi,

Xuân thắm cành mai chỉ một thời.(*)

Nức nở đoạn trường sầu thục nữ,

Còn đâu trinh tiết mộng buông lơi.(*)

 

Du Sơn Lãng Tử

(*) Xin đổi vần.




Nguyễn Quốc Chánh :Nhửng vần thơ hay lắm

 Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân
 Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá
 Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả
 *Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân
 Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm
 Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố*
 *
 *
 *Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ*
 Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang
 Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng
 Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa
 Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa
 *Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây
 Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay*
 *
 *
 *Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
 Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc*
 Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do
 Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô
 Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống
 
 
 *Ai nhân danh hạnh phúc
 Thứ hạnh phúc ngục tù*
 *
 *
 Ai nhân danh dân chủ
 Thứ dân chủ si ngu
 
 
 *Ai nhân danh chân lý
 Thứ chân lý đui mù*
 *
 *
 Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã,
 Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian
 Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam!
 *Sự thật đó có làm em đau nhói ?*
 *
 *
 *Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói
 Chồn cáo kia có rình rập trước sau*
 Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau
 Đứng lên em bằng tâm hồn biển động.
 
 
 *Em đứng lên như đại dương dậy sóng
 Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang*
 Những tượng hình, chủ nghiã, phải tiêu tan
 Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống,
 
 
 *Em bây giờ khôn lớn
 Mắt rực lửa yêu thương,
 Biết đâu là sự thật
 Em tìm thấy con đường.
 Tự-Do sẽ nở hoa
 Trên quê hương khốn khó*
 *
 *
 Anh như con ngựa già
 Vẫn cúi đầu kiên nhẫn
 Đốt những đám cỏ khô
 Dọn đường cho em đi làm lịch sử
 
 
 *Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn.
 Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn
 cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng
 Anh. Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh
 nhận xét về đảng Cộng Sản:*
 *
 *
 *“Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và
 Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc” cho cộng sản Tàu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng
 thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là phản động. Kẻ phản động có thể gây tai
 họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân.*
 *Những ai vì Ðảng sẽ kết án kẻ phản động, còn những ai vì con người thì sẽ
 hoan hô kẻ phản động. Hãy nhớ câu nói lịch sử của ông Nguyễn Văn Thiệu:*
 *“Ðừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”.*
 *
 *
 *(Gửi tuổi trẻ Việt Nam)*
 *
 *
 Em hãy ngồi xuống đây
 Anh kể câu chuyện này
 *Trên cánh đồng cỏ cháy
 Ngậm ngùi như khói bay*
 *
 *
 Con ngựa già một đời
 Chưa thấy được ngày vui
 Mắt mỏi mòn trông đợi
 Những mầm cỏ xanh tươi.
 
 
 *Đã bao nhiêu năm rồi
 Hướng nhìn về xa xôi
 Tâm tư đau nhức nhối
 Cuộc đời vẫn nổi trôi*
 *
 *
 Em nhìn về tương lai
 Cố dấu tiếng thở dài
 Mắt dường như ngấn lệ
 Có phải vì khói cay?
 
 
 *Em thấy đó, trên đường đi không đến,
 Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang
 Những con thú người nhảy múa kiêu căng
 Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghiã.
 Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ,*