Nỗi Đau Dài

Xin quý vị click vào hình để đọc.




THƠ XUÂN TÂN SỬU Xướng Họa: Tuyết Vân – Phương Hoa – Minh Thúy

XUÂN MONG ƯỚC

(Xướng)

Xuân về mừng đón Tân Niên

Hoa mai hoa cúc ngoài hiên nở rồi…

Xuân nay lặng lẽ bên đời

Ngắm xuân với những bồi hồi xót xa

Lặng trong ngày tháng phong ba

Bao nhiêu buồn khổ, bao là đắng cay

Vì đâu nên nỗi…cảnh này?

Xót thương nhân loại những ngày buồn đau

Năm qua bên cuộc bể dâu…

Dìm bao số phận…mà đau thương lòng

Xuân về tiễn biệt mùa đông…

Xuân mang thương nhớ cùng mong ước nhiều

Trời xuân hết cảnh đìu hiu

Xuân đem hy vọng đem điều thiết tha…

Mong cho hạnh phúc mọi nhà

Mùa xuân tươi thắm chan hoà niềm vui

Tuyết Vân (xuân 2021)

****

MỪNG XUÂN TÂN SỬU

(Họa)

Giao Thừa dâng lễ Tất Niên

Đì đùng tiếng pháo bên hiên nhộn rồi

Trăng non soi xuống trần đời

Tiếng chuông Trừ Tịch từng hồi ngân xa

Đường làng lũ lượt năm ba

Lên chùa hái lộc hương là mắt cay

Cỏ cây hoa lá nơi này

Thắm tươi quên hết bao ngày khổ đau

Xuân về sáng đẹp nương dâu

Tương lai tan biến niềm đau trong lòng

Không còn nặng mối sầu đông

Niềm vui đã thỏa còn mong chi nhiều

Gió Xuân rười rượi hiu hiu

Lòng Xuân phới phới trăm điều khai hoa

Chúc Xuân Trâu khỏe nhà nhà

Mừng Xuân Tân Sửu hợp hòa an vui…

Phương Hoa – Feb 2nd 2021

****

XUÂN 2021

(Họa)

Vạn vật thay sắc đầu niên

Đào , Mai nở nhắc bên hiên đây rồi

Đàn chim tung cánh bên trời

Tâm hồn lắng đọng từng hồi chuyện xa

Tha phương nhớ quá mẹ ba

Thời gian cơ cực toàn là lệ cay

Lưu vong tỵ nạn nơi này

Hằn sâu ký ức chuỗi ngày hận đau

Núi non mờ mịt ngàn dâu

Quê hương tan tác vết sâu ẩn lòng

Vùi theo quang cảnh sầu đông

Bây giờ lộc biếc thầm mong thật nhiều

Nâng từng giọt nắng hắt hiu

Cúc vàng nghiêng nụ yêu kiều sương sa

Đón Xuân chúc Tết bao nhà

Năm Tân Sửu được phước hoà lộc vui.

              Minh Thuý Thành Nội

                  Tháng 2/2/2021




Tản Mạn về Mùa Thu và Thi Nhân

Xin vui lòng click vào hình để đọc sách

https://www.youtube.com/watch?v=0Gs75l7E6Vk



Lời Tình Buồn

Xin quý vị click vào hình để đọc




Thorn In The Heart

Mrs. Salle Hayden MA, NLP. 
Author, Editor và publish.

Lời bình của bà Salle Hayden, về tác phẩm “THORN IN THE HEART” của tác giả Chinh Nguyên.
Thank you so much for sharing this book with me. 
Your feeling is quite clear. I know that there are many “kids” in the Vietnamese community who do not really know their parents’ and grandparents’ suffering. This book is an introduction to understanding the human tragedy that Vietnam had been for so long. 
I’m not sure that it has changed so much under the Communists, but we can’t see into that window, can we?
I appreciate your skill and fervor.

Salle Hayden
Tác phẩm “Thorn In The Heart” dầy 576 trang.
Quý vị mua sách xin liên lạc:
Chinh Nguyên E-mail cnchinhnguyen7@gmail.com.
phone : 1(669) 225-6043 Gía: $30.00 Mỹ Kim.
Hoặc xin quý vị click vào hình để đọc trọn bộ.
Please, click on the picture below to read the novel




Nợ Em Một Đời

Xin vui lòng click vào hình để đọc




Mẹ Tôi

TRÌNH  LÀNG

 “MẸ TÔI” là những mảnh hồi ức mà tác giả gom lại để viết ra thành một tuyển tập. MẸ TÔI hay QUÊ HƯƠNG TÔI cũng là một nghĩa, nó bàng bạc chập chùng lẫn lộn nhau trong hồn tác giả như những khúc mắc không thể tách rời, và từ trong những kỷ niệm gắn chặt vào đời sống, tác giả đã chắt chiu mang theo như một hành trang của ba lần tỵ nạn cộng sản.

Nhà văn Cao Hành Kiện (Gao Xing Jian) trong bài diễn văn tiếp nhận giải Nobel văn chương năm 2000 đã phát biểu:

“Văn học môt khi uốn thành tụng ca của quốc gia, kỳ xí của dân tộc, miệng lưỡi của chính đảng, hoặc phát ngôn của một giai cấp, môt tập đoàn, cho dù có thể mở rộng thủ đoạn tuyên truyền, mở rộng thanh thế, rợp trời kín đất chi nữa, cái loại văn học đó cũng chôn vùi mất bản tính, không thành văn học, mà biến thành công cụ của quyền lực hoặc lợi ích.

Văn học muốn bảo vệ lý do tồn tại của chính nó và không biến thành công cụ của chính trị thì không thể không quay về với tiếng nói của cá nhân, bởi văn học trước hết là cảm thụ của cá nhân mà ra, có cảm mới có phát.”

Chính vì ý tưởng không muốn làm công cụ tuyên truyền cho bất cứ quyền lực chính trị nào nên tác giả đã cố gắng đứng ở vị thế khách quan, tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật không thể chối cãi, và đôi khi vì xúc động nên tác giả đã ngả theo quan niệm riêng bởi sự sống thực trong mỗi chế độ chính trị mà viết ra những cảm nghĩ của mình, âu đó cũng là tiếng nói cảm thụ của cá nhân, tiếng sóng động vỗ bờ của tâm hồn, và là tiếng gọi cho công bằng của con người trong tự do và yêu thương nhân bản.

Dĩ vãng tác giả là những trắc trở đau lòng của lớp trẻ sinh ra trong nạn đói 1943, trưởng thành trong chiến tranh khói lửa của quê hương để rồi tất cả tan rã như xác pháo trắng tay mộng vỡ, và mang trên lưng sự nhục nhằn dân nhược tiểu kéo lê kiếp sống tỵ nạn nửa đời.

Biết đâu trong những khúc mắc oan khiên này, tác gỉa cũng có sự trùng hợp ngẫu nhiên với độc giả, và nếu có thật thì “Mẹ Tôi” là những lời tâm tình độc thoại với độc giả trong những buổi chiều buồn nhớ tới quê hương xa xôi vạn dặm.

Rất mong quý độc giả thông cảm trong khi đọc cuốn hồi ức tuyển tập tuyện ngắn “MẸ TÔI”.

Một chút xúc động hay một chút suy tư  nếu có của quý vị thì đó cũng là nỗi niềm của quý vị đối với quê hương Việt Nam mà tôi đã thay quý vị viết ra, và kể như đó cũng là một mảnh tình quý vị lưu lại trong MẸ TÔI.

Xin thành thật cám ơn quý vị.

San Jose, April

Xin vui lòng click vào hình để đọc




Lê Đình Thông: CON TRÂU TRONG VĂN HỌC

Năm Canh Tý (2020) qua đi, năm Tân Sửu (2021) thay thế. Sửu là con giáp thứ hai trong số 12 con giáp (十二支 : thập nhị chi). Tân là can thứ hai trong số thập can (十干).

Mười hai con giáp gồm có : Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (mèo), Thìn (rồng), Tỵ (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn).

Danh sách mười Can chép như sau. Số chót năm dương lịch tương ứng với Can + Chi. Năm 2021 : số 1 là Tân + Sửu (theo thứ tự mười hai con giáp).

Số Can Việt Âm – Dương Hành
0 canh Dương Kim
1 tân Âm Kim
2 nhâm Dương Thủy
3 quý Âm Thủy
4 giáp Dương Mộc
5 ất Âm Mộc
6 bính Dương Hỏa
7 đinh Âm Hỏa
8 mậu Dương Thổ
9 kỷ Âm Thổ

Trâu là tên gọi tiếng Việt. Chữ Hán viết là 牛 (ngưu), tượng hình cái sừng trâu. Trong văn hóa nước ta, con trâu là điềm lành : nằm mơ thấy trâu vàng là điềm giàu sang, cưỡi trâu là có tin vui, trâu sinh nghé là ý nguyện viên thành.

Văn học nước Tầu có truyện Tây Du Ký, Ngưu ma vương là vua các loài trâu. Trong truyện Ngưu Lang Chúc Nữ, Ngưu Lang là thần chăn trâu, vì mê say Chúc Nữ dệt vải, chàng bỏ việc đồng áng, còn nàng bỏ khung cửi. Thượng đế bắt đôi tình nhân phải xa nhau, kẻ đầu sông Ngân, kẻ cuối sông. Cả hai khóc như mưa, biến thành mưa ngâu. Hàng năm, vào đêm 7 tháng Bảy âm lịch, cả hai được gặp nhau trên chiếc cầu Ô Thước. Trong triết học đông phương còn có sự tích Lão Tử cưỡi trâu.

Trâu trong tranh Đông Hồ

Lịch sử nước ta có sự tích Đinh Bộ Lĩnh thuở nhỏ cưỡi trâu, lấy cờ lau tập trận.

Hình luật triều Lý và triều Trẩn đều ngăn cấm việc giết trâu, mục đích là để bảo vệ việc đồng áng.

Ở Bắc Giang và nhiều sắc tộc miền thượng du có tục tế trâu. Saigon, thủ đô VNCH trước 1975, thuở xưa có tên là Bến Nghé.

I – Con trâu trong văn chương truyền khẩu :

Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, giáo sư Dương Quảng Hàm chia văn học nước ta thành hai loại : văn chương bình dân và văn chương bác học. Văn chương bình dân gồm văn chương truyền khẩu (tục ngữ : lời nói có từ lâu đời) và ca dao (bài hát lưu hành trong dân gian)

Trong kho tàng tục ngữ, có nhiều câu nói truyền tụng nói về trâu như sau :

1.1. Tục ngữ :

– Con trâu là đầu cơ nghiệp

– Chín gang trâu cười, mười gang trâu khóc.

– Tha cày cuốc góc, nghỉ nhọc chăn trâu.

– Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà.

– Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo.

– Muốn giàu nuôi trâu lái, muốn lụn bại nuôi bồ câu.

– Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

– Trâu có đàn, bò có lũ.

– Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

– Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.

1.2. Ca dao :

– Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi cầy.

– Ai nói chăn trâu là khổ??
Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

– Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.
Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

– Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

– Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm.

– Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

– Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

– Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

– Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

– Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Gánh về trồng bí trồng bàu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

II – Con trâu trong văn học thành văn :

Trong các tác phẩm văn học thành văn, cổ văn có Lục Súc Tranh Công là tiêu biều. Tân văn có tiểu thuyết Con Trâu của Trần Tiêu.

2.1. Lục Súc Tranh Công (六畜爭功) viết bằng chữ Nôm. Theo cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1888-1960), tác giả Quốc Văn Cụ Thể (1932), tác phẩm này ra đời vào thời Lê mạt. Năm 1923, học giả Trương Vĩnh Ký có công phiên âm ra quốc ngữ.

Lục Súc Tranh Công viết theo thể nói lối, biến thể của song thất, gồm 570 câu. Không biết tác giả là ai, nhưng theo cụ Bùi Kỷ, tác giả hẳn là một nhà nho uyên bác, dùng nhiều điển cố.

Lục súc (六畜) gồm có ngựa, trâu, dê, chó, lợn (heo) và gà. Sau đây là trích đoạn về phần con trâu tranh công :

Trâu mỏi nhọc, trâu liền năn nỉ:
“Một mình trâu ghe nỗi gian nan,
Lóng canh gà vừa mới gáy tan,
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã.
Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã,
Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng.
Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông;
Vừa đến buổi cày bừa bua việc.
Trước cổ đã mang hai cái niệt,
Sau đuôi thêm kéo một cái cày;
Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây,
Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đỉa cắn.
Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,
Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.
Liệu vừa đứng bóng mới thôi,
Đói hòa mệt, bước khôn dời bước.
Ai thong thả, trâu nào ben đặng ?
Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho?
Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no,
Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở

Làm không kịp thở,
Ăn không kịp nhai.
Tắm mưa, trải gió chi nài!
Đạp tuyết, giày sương bao sá!

Có trâu, sẵn tằm tơ, lúa má,
Không trâu, không hoa quả, đậu mè.
Lúa gặt cất lên đà có trâu xe,
Lúa chất trữ, lại để dành trâu đạp.
Từ tháng giêng cho đến tháng chạp,
Kể xuân, hè, nhẫn đến thu, đông.
Việc cày bừa, nông vụ vừa xong,
Lại xe gỗ, dầm công liên khói,
Bất luận xe rào, xe củi.
Nhẫn đến loài phân bổi, tranh che.
Hễ bao nhiêu nhất thiết của chi,
Thì đã phú mặc trâu chuyên chở.

Bao quản núi non hiểm trở ?
Chi nài khe suối dầm dề ?
Cong lưng chịu việc nặng nề,
Cay đắng những lời dức lác!

Ăn thì những rơm khô, cỏ rác,
Ở quản chi ràn lấm, tráp nè.
Trâu dựng nên nông nọ, nỗi kia;
Trâu làm đặng căn trên, bồ dưới.
Nghĩ suy lại công trâu cho phải,
Lẽ cho trâu thao lụa mặc dày.
Không chi thì quần vải, dải gai,
Không chi thì khố lưỡi cày cũng khá.
Ăn cho phải những cơm với cá,
Không nữa thì rau cháo cũng nên
Đến mai sau già cả sức hèn,
Cũng bảo dưỡng bổ công lao lý.
Khi mạng một chẳng đơm, chẳng tế;
Lẽ “sinh cử, tử táng”, mới ưng.
Thủa sống đà không dạ yêu đương,
Khi thác lại đoạn tình siêu độ.
Bảo nhau sắm con dao, cái rổ,
Khiến nhau vơ mớ củi, nắm nè.
Rằng: Trâu này cốt Phật xưa kia,
Phát đình liệu cho hồn thăng thiên giái.
Còn hình tích giống chi để lại,
Người người đều bàn bạc với nhau:
Kẻ thì rằng: Tôi lãnh cái đầu,
Người lại nói: Phần tôi cái nọng.
Kẻ giành lòng bóng ép gối mà kê,
Còn sừng đem về ép thoi làm lược.
Kẻ thì chuốc hoa tai, làm bầu liều.
Làm tù và mà thổi cũng kêu,
Tiện con cờ mà đánh cũng tốt.
Kẻ thì làm cái mõ, cáo hộp,
Người lại tỉa cán quạt, cán dao.

Còn giò chia nhau,
Làm nham, làm thấu.

Trâu gẫm lại là loài cầm thú,
Phận sau chịu vậy, dám nài!
Trâu thác đã công nghiệp phủi rồi,
Trâu sống lại kiện nài với chủ:
Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ.
Ơn Tề vương vô tội kiến tha,
Tưởng chưng khi sức mọn tuổi già,
Cám Điền tử dạy con chớ bán.

Lời cổ nhân còn dặn,
Sao ông chủ vội quên ?

Chẳng nhớ câu “Dĩ đức hành nhân”.
Lại lấy chữ “Báo ân dĩ oán!”
Nói chi nữa cho dài chuyện vãn ?
Thưa chủ xin nói thép một lời:
Nhưng loài muông, vô tướng, vô tài,
Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc ?
Ăn cho lớn, dưỡng vai, dưỡng vóc,
Giỡn với nhau vạch cửa, vạch sân,
Một ngày ba bữa chực ăn,
Thấy đến việc lén mình lét lét.
Chưa rét đã phô rằng rét,
Xo ro đuôi quít vào trôn,
Vấy bếp người, tro trấu chẳng còn,
Ba ông táo lộn đầu, lộn óc,
Chưa sốt đà nằm dài thở dốc.
Le lưỡi ra phỏng ước dư gang.
Lại thấy người lơ đĩnh lơ hoang
Tài ăn vụng thôi thì hơn chúng.
Nhưng muông biết cày nương, bừa ruộng,
Thì muông kể biết mấy công ơn ?
Muông, người cho ăn cháo, ăn cơm,
Trâu, người bắt nhai rơm, nhai cỏ.
Khi muông thác tống chung, an thổ,
Có gạo tiền cấp táng toàn thân,
Trách một lòng chủ ở bất công,
Hậu ư bạc, bạc đem làm hậu”.

2.2. Tác phẩm Con Trâu của Trần Tiêu :

Trần Tiêu (1900 – 1954) là em ruột Khái Hưng. Ông viết văn là nhờ sự khuyến khích của Khái Hưng.

Con Trâu đăng trên báo Ngày Nay từ số 140 ngày 10 tháng 12 năm 1938, sau đó in thành sách và do nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940.

Ngoài Con Trâu, Trần Tiêu còn viết :

– Chồng con (tiểu thuyết, 1941)

– Năm hạn (tập truyện ngắn, 1942)

– Sau lũy tre (tập truyện ngắn, 1942)

– Truyện quê (đoản thiên tiểu thuyết, 1942)

Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan viết về tác giả tiểu thuyết Con Trâu như sau : “Người dân quê Việt Nam dưới ngòi bút của Trần Tiêu bao giờ cũng là người dân quê nghèo khổ và mê tín. Người dân quê của ông là những người bị xiềng xích trong hủ tục, họ nghèo vì những tục hủ và khổ cũng vì những tục này. Trần Tiêu là nhà văn cho chúng ta thấy cái mặt kém cỏi của người dân quê Việt Nam (…) nhưng vì nếu chỉ nghèo nàn, mê tín, tất đã bị diệt vong từ lâu rồi”.

Dưới đề mục ‘‘Mục đồng’’ mở đầu tiểu thuyết, Trần Tiêu viết như sau : ‘‘Nghé ơ ơ…ơ nghé ! Thằng Tửu ngồi trên mình trâu gọi nghé. Con trâu mẹ kêu thêm mấy tiếng ‘‘nghé ọ’’ và chân vẫn thản nhiên, đều đều bước một trên con đường đất gồ ghề.

Xa xa, cánh đồng cỏ nhấp nhô những mả. Một con nghé đứng sừng sững, cất đầu, ngơ ngác nhìn, đen sẫm in trên nền trời đỏ.

Bỗng nó nhảy quàng mấy cái, rồi vừa chạy vừa nhảy như một đứa trẻ nghịch ngợm, nó đến theo sau mẹ nó, thỉnh thoảng lại kêu mất tiếng ‘‘nghé ọ’’ còn non nớt.’’

Người miền bắc nói ‘‘mả’’ mộ (chôn người chết). Nghé là con trâu con.

Văn học nước ta có ‘‘Con Trâu’’ của Trần Tiêu. Văn học Pháp có nữ sĩ Marguerite Duras kể lại kỷ niệm về con trâu trong thuở niên thiếu ở nước Việt.

2.3. Nhà văn Marguerite Duras viết về con trâu :

Marguerite Duras (1914-1996) là con út trong gia đình gồm ba anh em. Cha bà là hiệu trưởng Trường Gia Định, mẹ : giáo viên. Duras là tác giả L’Amant, giải văn học Goncourt (1986). Trong tác phẩm này, bà thuật những kỷ niệm tuổi thơ, hình ảnh các trẻ chăn trâu (enfants sur les buffles) còn in đậm trong ký ức.

Kết luận :

Khác hẳn với câu tục ngữ ‘‘đàn gảy tai trâu’’, con trâu rất gần gũi với văn học, nghệ thuật. Tranh Đông hồ vẽ trẻ chăn trâu. Câu ca dao :

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta

Cấy cầy giử nghiệp nông gia

Ta đây trâu đầu ai mà quản công

Bao giờ cây lúa còn bông

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

là lời nói thân tình của nhà nông với con trâu, coi trâu cầy như người bạn thân tình. Cả hai cùng làm lụng vất vả, cùng vui hưởng thành quả cần lao. Nhà nông thì gieo mạ, gặt lúa, con trâu có ‘‘ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn’’.

Trâu còn là bạn của các trẻ mục đồng, tai nghe tiếng sáo thổi vi vu trên mình trâu, ngắm nhìn con diều dật dờ trên trời quê xanh biếc.

Trong ca khúc ‘‘Em Bé Quê’’, nhạc sĩ Phạm Duy viết rằng :

Ao bảo chăn trâu là khổ

Chăn trâu sướng lắm chứ

Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau

Và miệng hát nghêu ngao.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đường về xóm nhà

Chữ i chữ tờ

Lùa trâu nhốt chuống

Gánh nước nữa là xoxng

Khoai lùi bếp trấu

Ngon hơn là vàng.

Người viết xin kính chúc bạn đọc sang năm Tân Sửu luôn khỏe mạnh, không còn phải băn khoăn, lo lắng về dịch bệnh ; trong năm mới, mỗi người sẽ gặt hái mùa màng vui tươi, thịnh vượng.

Lê Đình Thông




THƠ XUÂN XƯỚNG HỌA: Hồ Thanh Hà – Minh Thúy – Phương Hoa – Trường Giang

1). HỎI ANH

(Xướng)

Ngoài nớ đông về lạnh lắm không?!

Luyến lưu còn giữ mãi bên lòng!?

Ruộng đồng canh cánh chờ xuân mới

Cây cỏ bâng khuâng đợi ánh hồng

Tiếng dế vang rền đâu gọi lại

Âm chuông thoang thoảng sáng chờ mong

Dòng đời chìm nổi trong giông bão

Tui cũng như ai thấy chạnh lòng!

Hồ Thanh Hà – 24-12-2017

HỎI NGƯỜI

(Họa)

Đông về nẻo ấy có buồn không?

Gió bão từng hôm hẳn chạnh lòng?

Lối mộng giăng chờ mây dạt tím

Vườn Xuân ướm thử nắng loang hồng

Cung sầu lặng lẽ ai tìm kiếm

Phím lạc âm thầm kẻ đợi mong

Tiếng nhớ lao xao về xóm hạ

Thì đây gối nguyệt trải đôi dòng

            Minh Thuý Thành Nội

                Tháng 1/25/2021

XIN TRẢ LỜI ANH

(Họa)

Bạn hỏi đông về có lạnh không?

Xin thưa khuya khoắt buốt tê lòng.

Gian hàng ban sáng còn thùng bánh,

Cửa tiệm khi trưa hết sọt hồng.

Trai gái ung dung không vội vã,

Trẻ già đủng đỉnh chẳng chờ mong.

Một ngày nhàn hạ trong sinh hoạt,

Còn sướng nào hơn phải trạnh lòng…

Trường Giang

Thung Lũng Hoa Vàng, 01-02-2021

KHÚC TƠ XUÂN

(Họa)

Xuân đến bên trời ai nhớ không?

Nơi đây sao quá xót xa lòng

Gió xô cánh nhạn phờ lông trắng

Sương đẫm chòm hoa tái nụ hồng

Khúc khuỷu thân mai quằn luyến tiếc

La đà nhành liễu nặng sầu mong

Vì chưng tâm sự chùng tay phiếm

Nên đệm đường tơ khúc não lòng…

Phương Hoa – JAN 26th 2021

2). NÉT XUÂN HỒNG

(Xướng)

Xuân sang tôi lại nhớ về

Tuổi hồng đón tết chân quê thuở nào

Lì xì rổn rẻng hầu bao

Xênh xang áo mới nôn nao cả lòng

Theo cha thăm hỏi xóm giềng

Tối xem hát bội đình làng vui ghê

Qua rồi tuổi nhỏ đam mê

Ngày nay tết đến bộn bề lo toan.

Hồ Thanh Hà.

NHỚ XUÂN XƯA

(Họa)

Ngày Xuân kỷ niệm quay về

Nhớ cuồng những Tết quê hương dạo nào

Chè xôi bánh mức biết bao

Mồng một ăn diện nao nao cõi lòng

Lên Chùa hái lộc quanh vòng

Ngắm hoa tươi chiếu nắng hồng đẹp ghê

Mơ màng ký ức say mê

Chừ thì trước mặt mọi bề tính toan

           Minh Thuý Thành Nội

               Tháng 1/25/2021

XUÂN TUỔI THƠ

(Họa)

Cỏ hoa mừng đón Xuân về

Lòng mơ lại cảnh Tết quê ngày nào

Giao Thừa vui rộn biết bao

Nhớ khi hái Lộc mà nao trong lòng

Khắp nơi lân pháo chuông cồng

Nam thanh nữ tú lượn vòng xinh ghê

Hương tình lộng ánh đê mê

Tuổi thơ ngà ngọc không bề tính toan

Phương Hoa – JAN 26 th 2021

NÉT XUÂN HỒNG

(Họa)

Đông qua, xuân đã lại về

Toàn dân chúc tụng làng quê dạo nào

Ông yêu con cháu xiết bao

Tặng quà ngày tết nao nao tấc lòng

Cùng nhau thăm viếng thong dong

Vui chơi coi hát đình làng chật ghê

Tuổi đời đã vượt ham mê

Vệ sinh nhà cửa bốn bề lo toan

Trường Giang – February 2/2021 




Now Adays – Bây Giờ




Trời Buồn 

Trời Buồn 

 

Trời đất sao buồn như để tang

Mây trời mới tụ gió đã tan

Trăm năm chưa đến đời đã mất

Mà chẳng ai về, qua hỏi han.

 

Chiều qua còn thấy ở nơi đây

Hôm nay hồn đã ở trên mây

Hỏi thăm mới biết người thiên cổ

Thắp nén nhang buồn gửi gió bay.

 

Con chim bói cá trên cọc nhọn

Sõi bóng tìm ai, xuống mặt hồ

Dư ảnh phận người như cát bụi

Hoài công vun xới, cũng hư vô.

 

Ta đợi như chừng bóng cố nhân

Đã bỏ người đi tự lúc nào

Hoàng hôn bóng đổ buồn muốn khóc

Ta không thèm hỏi, bởi tại sao?

 

Nhân thế muộn phiền tan vỡ mộng

Ai còn mê tỉnh vướng thêm sầu

Trần gian thoáng chốc, như sương khói

Một chút tình thân, tiếng kinh cầu.

 

Lê Tuấn

Buồn cho thân phận con người

Đã sớm bỏ cuộc chơi trong mùa dịch bệnh Covid 19.

January 7, 2021

 

Ngày Buồn 

Ngày buồn giống kẻ đội khăn tang 
Cảnh vật đìu hiu lạnh héo tàn 
Tiễn bước anh đi tràn giọt lệ 
Tâm tình cuộn gió thả lang thang 
 
Ngày buồn giấc mộng vẫn quanh đây 
Hạnh phúc vơi đầy gởi đám mây 
Vạn ngã đường đời lăn cát bụi 
Chim đành vẩy cánh thả trời bay 
 
Ngày buồn nhắc nhở thời chung sống 
Nắng hạ mưa thu phẳng lặng hồ 
Ngát đượm vườn hoa mềm giấc nguyệt
Tranh đời điểm phấn vẽ hoà tô 
 
Ngày buồn thủ phận sống hiền nhân 
Phút cuối trà chung sưởi ấm nào 
Vỗ giấc mơ xưa hồn lảo đảo 
An bày số phận tủi vì sao 
 
Ngày buồn tiễn biệt mi nhoà ướt 
Phận bạc đôi mình rẽ lối sâu 
Bước cảnh sương mù thêm héo hắt 
Con tim thổn thức nguyện dâng cầu 
                Minh Thuý Thành Nội 
                     Tháng 1/8/2021




CẢM TÁC ĐẦU XUÂN (gửi bạn bốn phương)

1/4- Hoa đào tươi thắm đón Xuân sang,

Lựa vận thành chương, gửi bạn vàng.

Chúc tụng đồng hương đều phú quý,

Chào mừng thi hữu thảy an khang.

Miệt mài sáng tác càng phong độ,

Liên tục tranh đua thật rộn ràng.

Tết đến dân mình còn đẵm lệ,

Nguyện cầu Đất Tổ sớm vinh quang

2/4- Vinh quang sớm đến với quê nhà,

Đoàn kết cùng xây dựng Quốc gia.

Hạnh phúc Đông Đoài sang tựa ngọc,

Tự Do Nam Bắc quý như ngà.

Văn chương vang tiếng trai nô nức,

Khoa học lừng danh gái thiết tha.

Quốc Tổ Hùng Vương đang réo gọi,

Trong tim ghi khắc chữ sơn hà.

3/4- Sơn hà sẽ tới vận thăng hoa,

Hạnh phúc chen nhau đến mọi nhà.

Cả nước hân hoan chào Ngũ Phúc,(1)

Toàn dân hứng khởi rước Tam Đa (2)

Hô hào thiếu nữ theo đường chính,

Vận động thanh niên tránh nẻo tà.

Luật tắc (3) đất tuần, nhân có vận,

Lẽ thường chính trực thắng yêu ma

4/4- Yêu ma dẫn lối, quỷ đưa đường,

Tam khổ (4) oan cừu chẳng vấn vương.

Dạy cháu sáng chiều rèn đạo lý,

Khuyên con khuya sớm luyện luân thường.

Chủ trương trị quốc khinh chuyên chính,

Phương pháp tề gia (5) trọng kỷ cương.

Thương Ưởng (6) đa tài nhưng khiếm đức

Nghìn sau trân quý kẻ khiêm nhường.

TRƯỜNG GIANG

Họa

Chúc Đầu Năm 2021

 

Tưng bừng vạn vật đón mùa sang 

Nắng chiếu cành mai nở rực  vàng 

Ước nguyện trần gian luôn ổn thỏa 

Mơ cầu thế giới mãi bình an 

Vần xinh vẫy bút cùng thi hội 

Chữ mộng cài chương với diễn đàn 

Bạn hữu đầu năm mừng chúc Tết 

Soi lành mọi nẻo đuốc từ quang 

 

Từ quang cuộc sống đẹp bao nhà 

Kẻ sĩ nhân tài chẳng ẩn gia 

Ổn định quê người soi nước biếc 

Bình an đất mẹ ngắm trăng ngà 

Xây đời xả khổ rèn dung thứ 

Đắp việc gom hiền tập lượng tha

Tuổi trẻ gầy danh cùng xã hội 

Tài năng tạo dựng cảnh yên hà 

 

Yên hà hưởng sắc cúc ,đào ,hoa

Hốt gió chơi vơi buổi nắng tà 

Hạ biếc mùa thương ngời gốc liễu 

Xuân nồng nụ ước thắm cành đa 

Lòng trung quyết chí theo điều phải 

Đạo chính đồng tâm chống việc tà 

Bất khuất tinh thần vì đại nghĩa 

Con đường trí tuệ chống tà ma 

 

Tà ma cám dỗ dễ sa đường 

Bóng tối theo phiền nỗi ám vương 

Cửa dưỡng sông nằm mơ giản dị

Dòng nuôi bến ngủ mộng bình thường 

Thù vào chiến đấu nơi biên ải 

Giặc tới tranh hùng ở trận cương

Cháu lạc con giòng bà Triệu ,Trắc 

Gìn sông giữ biển quyết không nhường 

 

                 Minh Thuý Thành Nội 

                      Tháng 1/8/2021

 




TÌNH NGHĨA QUÂN DÂN 62

 

 Vì Tổ Quốc giang sơn, nòi giống,

Ai khước từ cuộc sống ấm êm ??

Ai đi chinh chiến ngày đêm?

Băng rừng, vượt suối càng thêm nhọc nhằn.

Ai quyết vượt khó khăn, gian khổ?

Ai chẳng nề máu đổ, thịt rơi?

Xông pha khói lửa ngút trời,

Dấn thân mưu ích cho đời mai sau.

Nguồn cơn nghĩ lòng đau như cắt,

Sứ mạng chưa hoàn tất mười mươi.

Thảm chưa ? Thương tích đầy người,

Thực là dở khóc, dở cười hỡi ôi!

Chim hồng hộc (1) vượt đồi gẫy cánh,

Tàu chinh nhân (2) lệch bánh từ đây.

Vì ai phải cụt chân tay?

Đau thương, khổ ải chất đầy hai vai.

Chữ Trung, Hiếu phận trai chưa vẹn,

Tình phu thê khôn nén niềm thương.

Bầy con thiếu vắng học đường,

Lấy ai rèn cặp cho thường ngày đêm.

Việc đi đứng càng thêm vất vả,

Mấy ai màng chị ngã, em nâng!!

Bể dâu (3) nổi sóng đất bằng,

Phế binh chìm đắm vĩnh hằng (4) trần ai.

Cơm thường bữa nhánh khoai, củ sắn,

Nước mắt chan đều đặn thay canh.

Áo quần tơi tả một manh,

Đoái hoài ai kẻ thấu tình giúp cho ??

Thuốc trị liệu kim mò đáy biển,

Hái lá rừng chế biến qua loa.

Tiếng kêu vang dội ngân hà, (5)

Năm Châu, bốn Bể sót xa ngậm ngùi.

Ai chiến hữu ngọt bùi hòe quế ?

Có nhớ tình huynh đệ chi binh ?

Nhớ khi lên thác xuống ghềnh ?

Đói no cùng hưởng, lênh đênh chung giường?

Nào ruột thịt đồng hương hải ngoại!!

Còn nhớ câu ăn trái trồng cây?

Phế binh vất vưởng đêm ngày,

Triền miên thống khổ, đọa đầy bấy lâu.

Chung sức góp mớ rau, cái chén,

Của một đồng, công nén quý thay!

Cùng nhau ta nắm vòng tay,

Một ao nước lã khôn thay máu đào.

Ơn Đất Nước chót cao vô lượng,

Nghĩa Đồng Bào vạn trượng khôn đo.

Dù xây chín bậc phù đồ,

Không bằng làm phúc cứu cho một người.

Đó mới thực tính trời nhân đạo,

Đây chính là tối hảo lương tri.

Quê xưa, nước cũ khắc ghi,

Tình Quân, Dân, Chính ai thì nhớ không?

Khi no bụng nem công chẳng hám,

Lúc đói lòng bát cám cũng mê.

Chúng ta hạnh phúc tràn trề,

Là nhờ người giữ làng quê thủa nào !!

Trước là đáp nghĩa đồng bào,

Còn sau uống nước lẽ nào quên sông ??

Ước mong góp gió thành giông,

Quyên tiền làm nghĩa, góp công là tình.

Ơn đền, nghĩa trả thương binh,

Ấy là truyền thống ân tình Quốc Gia. 62

TRƯỜNG GIANG

 GHI CHÚ :

(1) CHIM HỒNG HỘC : Một loại chim rất lớn, chim đại bàng đã bị gẫy cánh. Ý nói người lính V.N.C.H. khi  giao chiến với Việt Cộng, bị chúng bắn bị thương

(2) TÀU CHINH NHÂN : Tàu chở các chiến binh đi đánh trận bị trật đường rầy. Ý nói người chiến sĩ bị thương tích ngoài mặt trận.

(3)  DÂU BỂ : Do chữ Thương hải tang điền, nghĩa là nơi đất phù sa ở bờ biển được sóng bồi lên thành bãi . Dân cư ngụ lân cận đem cành dâu ra trồng để lấy lá nuôi tằm dệt lụa  may quần áo. Ý nói việc đời thay đổi.

(4VĨNH HẰNG : Luôn luônhiện hữu, không bao giờ thay đổi.

(5) NGÂN HÀ : Giải sao ở thượng tầng không gian, có hàng tỷ ngôi sao, thường gọi là giải Ngân Hà.

Họa

Nhớ Người Thương Binh VNCH

1

Non sông gấm vóc con giòng giống 

Chẳng thể vì đời sống đẹp êm

Chiến trường gối súng từng đêm

Ngăn thù diệt giặc dù thêm mệt nhằn 

2

Còn ai để ý băn khăn khổ 

Dẫu phải mồ hôi đổ ướt rơi

Lăn thân lửa đạn rực trời

Hy sinh tuổi trẻ cho đời về sau 

3

Than ôi ngẫm dạ đau thầm cắt 

Thế sự xoay cờ thắt cuộn mươi

Cảm anh thương phế hư người 

Nghẹn ngào đất nước nụ cười tắt ôi 

4

Đàn chim vượt biển đồi lay cánh 

Tổ ấm đà tan gánh tại đây

Nhìn xem kẻ cụt hai tay

Mưu sinh cơm áo nặng đầy đôi vai

5

Nhìn về tổ quốc trai nào vẹn

Én Nhạn phu thê nén thảm thương

Bầy con giáo dục đứt đường 

Đành chôn chữ nghĩa mộng thường giữa đêm 

6

Thân di chuyển lại thêm cuồng vả 

Lúc khó khăn cùng ngã chẳng nâng 

Nghẹn ôi thảm cảnh cầm bằng 

Thương binh tủi nhục vết hằn hận ai

7

Từng ngày độn bữa khoai cùng sắn 

Lệ nhỏ đầy trôi đặng thế canh

Đêm nằm đắp chiếc chiếu manh

Nhìn quanh đều khổ cũng đành lơ cho

8

Lời than tựa sóng gào ngoài biển 

Bệnh hoạn đành xoay biến bóp xoa 

Có đau cũng chỉ hít hà 

Mười phương bốn bể ngàn xa bùi ngùi 

9

Khi xưa bạn hữu chung trà quế 

Kỷ niệm huynh cùng đệ chiến binh 

Hành quân lội suối băng gềnh

Gian lao nếm đủ lặng tênh trên giường 

10

Ra đi nhớ cố hương quê ngoại 

Khó thể quên dùng trái nhớ cây 

Thương binh lăn lộn từng ngày 

Đầu đường xó chợ khốn đầy từ lâu 

11

Rao mời vé số hay hàng xén 

Chịu nhọc nhằn đè nén tủi thay

Tình thương thể hiện nhanh ngay

Giúp người lính trận không may thải đào 

12

Từ bi bác ái cao đầy lượng 

Nghĩa nặng dù nghìn trượng khó đo

Còn thương còn nghĩ tiền đồ 

Ra tay cứu giúp ban cho bao người 

13

Phù du của cải thời hành đạo

Tạo nghiệp lành hoà hảo túc tri

Nêu cao tổ quốc nhớ ghi 

Hy sinh tánh mạng bao vì biết không 

14

Thời sung túc chẳng ai cần hám 

Lúc đắng cay thau cám quý mê

Bên nay cuộc sống dư trề 

Có đâu quên được tình quê dạo nào 

15

Nghĩ về đất nước ruột bào 

Chim bay xa tổ thể nào lướt sông 

Gom mây kết nắng tan giông 

Cùng nhau hành thiện của công đầy mình 

Ơn sâu đáp trả phế binh

Con tim máu chảy nghĩa tình nước non 

           Minh Thuý Thành Nội 

              Tháng 11/7/2020

____________________________________

HỌA

Ghi Dấu Ngày Về (Lê Tuấn)

 1

Ngày đánh dấu, ta trở về phố thị

Bỏ lại sau lưng vách đá trại tù

Bước chân ta dẫm nát lối hoang sơ

Từng nhịp bước chuyển rung rừng núi.

 2

Đếm năm tháng, tám năm buồn tăm tối

Ta hóa thân, loài vượn giữa núi rừng

Chốn rừng thiêng, mất dấu bóng loài người

Xác thân đó trong hình hài cổ quái.

 3

Em thấy ta, mắt tròn xoe kinh hãi

Chân dung người, biệt xứ mới trở về

Tám năm rồi tỏ mặt với nhau đây

Xáo động cả, buồn vui ngày hội ngộ.

 4

Người qua lại nhìn ta không thăm hỏi

Bước chân đi, từng cặp mắt e dè

Ta mất dấu, nhìn phố xưa xa lạ

Đời lặng im, sét rỉ đến không ngờ.

 5

Và ta thấy thành phố già hơn trước

Cờ máu treo, nhuộm đỏ cả phố phường

Ta xót thương, căm giận lũ hung cuồng

Ta bật khóc, nỗi đau buồn thế sự.           

 6

Lòng chợt nghe, tin buồn vang khắp xứ

Gió cát vụt bay, che khuất đoạn trường

Ta chẳng buồn nhìn lại bóng quê hương

Những mảnh vụn, treo toàn cờ máu đỏ.

 7

Ngày gặp gỡ, trong lòng còn chút mộng

Ta đi tìm người con gái khi xưa

Nàng không đợi, bỏ đi tự bao giờ

Nỗi xót xa, mối tình đầu cũng mất.

 8

Ôi nhân thế! Với lưỡi dao thật sắc

Cắt vụn đời người, cắt nát trái tim

Loài ma quỷ, sùng bái những lũ điên

Bán linh hồn, thâm tâm nào vọng động.

 9

Ta ngước lên, trời cao buồn muôn thuở

Nhìn lại mình, thân phận đã hư hao

Hoàng hôn đến, mái đầu vương tóc trắng

Ta chẳng buồn, tìm hiểu bởi vì sao.

 

Lê Tuấn

Nỗi buồn sau tám năm tù cải tạo

 




Lục Vân Tiên – VTLV Mạn Đàm Phần 4 (Hết)




CÕI ÂM

https://www.facebook.com/vth.ntt

1

Tôi tốt nghiệp đại học tài chính đúng lúc kinh tế Pháp xuống dốc. Kiếm việc lúc bấy giờ khó ơi là khó, nhớ lại mà rùng mình. Đã tưởng một khi cầm được mảnh bằng trong tay ắt đời phải phơi phới lên hương, thế mà rốt cuộc lũ sinh viên vừa ra trường vẫn phải chạy đôn chạy đáo để xin một việc làm bất kỳ mà không được, khốn nạn là thế. Tôi nộp đơn vào ngành bưu điện là ngành tréo cẳng ngỗng nhất hạng đối với chuyên môn của mình vì chẳng còn đường nào khác. Những người trên thông thiên văn dưới thông địa lý bảo: đó chính là nơi duy nhất tôi có cơ may được nhận.
Đơn gửi đi rồi, tôi dài cổ chờ. Một tháng. Rồi hai tháng. Đùng một cái, giữa tháng thứ ba, đang lui cui rửa chén ăn lương giờ cho một quán ăn Tàu, tôi nhận được giấy làm việc ở Sermages thuộc vùng Basse Normandie. Mừng khôn tả. Thiếu nỗi phát điên.
Sermages là một thị trấn nghèo, với hơn trăm ngàn dân, bé tẹo và già lão, nhà cửa ọp ẹp. Ở ven đô còn sót lại một cổng đá hộc đầy hoa phong lữ, một cái hào sâu tối om dưới bóng những gốc tiêu huyền rậm rạp, một pháo đài đổ nát không biết từ thế kỷ nào… Một thị trấn thích hợp với những ông già chờ chết, nhưng không phải với tôi.
Đồng nghiệp trong sở ăn vận chững chạc, nói năng điềm đạm, có điều rất chi hờ hững với thằng tôi lính mới cứ như thể tôi đã ở bên họ từ khươm mươi niên nào. Nói tóm lại, đó là dân Ăng Lê bên này biển Manche, những robots cổ cồn chính hiệu. Thôi thì đành tự thân vận động, được đến đâu hay đến đó, trời sinh voi trời sinh cỏ. Tôi lấy tạm một phòng hẹp gần sở, trả theo tuần, trong một nhà trọ tồi tàn, có rệp, được mỗn cái giá cũng phải chăng. Từ từ rồi sẽ kiếm cho mình một căn hộ, hoặc một ngôi nhà nhỏ, tôi tính thế. Đã đến lúc phải sống cho ra sống. Chẳng gì bây giờ mình cũng là một viên chức, dù là viên chức quèn. Sermages đâu phải nơi phồn hoa đô hội, giá nhà thuê không thể quá đắt. Vĩnh biệt những chambres de bonnes áp mái ở Paris, mùa hè như trong lò bánh mì, mùa đông tha hồ diện áo ấm trong nhà, nơi trú ngụ của bộ lạc sinh viên nghèo.
Tìm nhà ở đây tưởng dễ, hoá không phải. Lang thang đến vẹt gót giày trong cái tỉnh lỵ bằng cái giạng đái, nói ngoa theo cách người xưa, thế mà hai tháng qua cái vèo vẫn chưa kiếm được chỗ nào ưng ý. Nhà ở cũng như đàn bà, người mình ưng thì không ưng mình, người ưng mình thì mình lại không ưng.
May cho tôi gặp được Ngoạn.
Ngoạn cho biết: ngoài anh và tôi ra, ở chốn đèo heo hút gió này không có một người Việt nào khác. Giúp tôi là nghĩa vụ người đến trước, anh vỗ vai tôi đồm độp, nói bằng giọng đàn anh che chở. Được ăn nhiều thịt hươu thịt vượn từ tấm bé trước khi vượt biên đến xứ này, tôi nghe vậy biết vậy, chứ chẳng mấy tin.
Thấp, đen, cục mịch, với một sợi lông dài mọc ra từ một nốt ruồi trên má, Ngoạn giữ nguyên dáng dấp một ông phó cối vùng đồng bằng Bắc bộ ngày xưa, mặc dầu anh đã ở Pháp trên hai mươi năm. Ngoạn làm nghề sửa chữa vặt trong nhà, người Pháp gọi là plombier. Một thằng không bằng cấp, lại vợ đầm (tốn hơn vợ ta nhiều), hai con nhỏ (tốn hơn con ta nhiều), làm plombier là tốt nhất, anh bảo thế. Plombier là thợ đặt đường ống, theo nghĩa nguyên thuỷ, nhưng plombier làm tuốt tuột mọi việc linh tinh lang tang như mở khoá hóc, đặt hố xí, sửa chữa cửa rả, chạy dây điện ngầm…

  • Giờ công việc oải lắm, cậu ơi. Kinh tế mà đã xuống thì kiếm tiền bằng nghề chó nào cũng vất – Ngoạn tâm sự trong một quán cà phê, nơi mọi ghế ngoài vỉa hè đều xếp quay mặt ra đường, rất Paris – Cậu ngồi bàn giấy, trông thì bảnh, cơ mà chông chênh lắm… Mất việc lúc nào không biết. Ngay cả với nhân viên nhà nước.
    Tôi buồn rầu hình dung cái viễn cảnh ấy. Dễ như Ngoạn nói lắm.
  • Mất việc thì đi làm với tớ – thấy tôi thở dài, Ngoạn an ủi – Nghề tớ không sang, khó thì khó, vẫn còn có đồng ra đồng vào…
  • Anh Ngoạn ạ, gặp anh tôi thật may.
  • May cái con khỉ. Này, đừng gọi tớ là Ngoạn, phải gọi là Nô Ăng, theo cách bọn Tây gọi, chứ không thì đến con vợ tớ nó cũng không hiểu. Bọn Tây không phát âm được vần ng, chúng nó đổi béng cái tên của tớ thành Noan. Cho tiện. Được nghe cậu gọi tớ bằng tên cúng cơm, thấy đã con ráy.
    Tôi kể nông nỗi đi tìm nhà. Anh gật gù, suy nghĩ.
    Một tuần sau anh gọi điện cho tôi biết đã tìm được một căn nhà ngoại ô.
  • Mình xem mấy cái, ưng được cái này. Một đôi thì vừa xinh. Một mình thì quá rộng. Ở lâu được, không phải kiếm chỗ khác.
  • Nhà nhiều phòng?
  • To đùng.
  • Tôi chưa định lấy vợ. Nhà to thì tiền to, hãi lắm.
  • Đã biết là bao nhiêu mà rộn. Rẻ rề hà.
    Tôi chờ Ngoạn cho tôi biết tiền nhà, nhưng anh không vội nói ra.
    Anh miêu tả căn nhà, bảo:
  • Không sang, được cái rẻ.
    Anh xướng lên giá thuê. Tôi trợn mắt.
    Làm sao Ngoạn có thể tìm được ngôi nhà với giá hời đến thế?
  • Làm plombier chẳng khác gì làm anh cắt tóc, tha hồ nghe, đủ chuyện tào lao thiên tôn. – Ngoạn nhẩn nha giải thích – Chủ nhà nào cũng thế, cũng hay tâm sự vụn trong lúc ngó nghiêng mình làm việc. Nhất là các ông bà già. Mình nói có ông bạn cần nhà, thế là người nọ mách, người kia mách, chỉ còn có việc nhấc điện thoại mà hỏi. Giỏi gì đâu.
    Những ngôi nhà tôi đã xem cái nào cũng đắt, giá thuê nếu không gấp ba trung bình thì cũng gấp đôi. Tiếc nỗi, từ căn nhà ngoại ô này đi bộ đến sở tính ra mất gần một tiếng, gặp xe buýt thì cũng phải hai mươi phút. Xe buýt ở đây thưa, nửa giờ một chuyến, lại hay đỗ vặt.
    Nhà sẵn đồ đạc, nhiều nữa là khác. Đến nỗi Ngoạn định sẻ cho tôi một ít đồ dùng ở nhà anh, rốt cuộc chẳng phải mang đến thứ gì.
    Đưa cho tôi chìa khoá, ông già chủ nhà dặn:
  • Mọi thứ ở đây ông cứ việc dùng. Điều kiện duy nhất là đồ đạc trong nhà xin ông đâu để nguyên đó, đừng xê dịch. Nếu ông không chịu thì coi như vụ này không thành.
    Tôi chấp nhận điều kiện ấy ngay lập tức, như bất cứ người thuê nhà gặp giá rẻ nào. Thế này là tốt quá rồi, khỏi phải lang thang các siêu thị, rẽ vào các cửa hàng đồ cũ, tha lỉnh kỉnh trăm thứ bà rằn về nhà.

2

Thế mà rồi tôi quên bẵng lời hứa.
Ở được vài hôm, thấy cái giường đặt ở vị trí đối diện lò sưởi là không phải lối, tôi quyết định dịch nó ra bên cửa sổ, vừa có nhiều khí trời, vừa nhiều ánh sáng, đi làm về có thể nằm ườn ra đọc sách mà không cần phải bật điện. Cái tivi cổ lỗ, thuộc thế hệ tivi màu đầu tiên, to như một tủ lạnh, cũng cần đẩy qua bên phải một chút, xoay lại vị trí để cái màn hình đã bạc phếch không bị phản quang do ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào.
Một đêm, chợt thức giấc, tôi thấy có bóng người ngồi thu lu trong chiếc ghế bành đặt bên lò sưởi. Nửa tỉnh nửa mê, tôi nhận ra đó là một người đàn ông đứng tuổi vận áo choàng đen, đội mũ phớt. Tôi nổi da gà. Tôi ở một mình, cửa đóng then cài, làm sao có người vào được?
Trong ánh sáng mờ mờ của sao trời chiếu qua cửa sổ tôi thấy người đó không có vẻ một tên trộm. Trộm gì mà bình thản đến thế trong căn nhà nó đột nhập?
Những gì tôi đọc được thì trong tình huống như thế này cách xử sự khôn ngoan nhất là vờ ngủ say. Người vờ ngủ say, cả trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trong mọi mối quan hệ cá nhân cũng như quan hệ xã hội, người sống theo nguyên tắc ba không – không biết, không nghe, không thấy – bao giờ cũng tìm được lối thoát an toàn.
Mắt hé mở, tôi nhìn thấy tên trộm yên vị một lúc lâu trong bóng tối. Ngồi chán, hắn đứng lên, đi đi lại lại, dáng suy nghĩ, đầu hơi cúi, bàn tay phải đưa lên gãi cằm. Rồi đến bên lò sưởi, hắn nhấc từng thứ trên đó lên mà ngắm nghía. Đầu tiên, hắn ngó nghiêng quan sát kỹ tượng cô vũ nữ pha lê với cánh tay trần bị gãy đã được gắn lại bằng keo trong, rồi đến cái bloc lịch bằng gỗ mà thời gian chết cứng với ngày tháng không đổi, thứ lịch không có năm nên không thể biết được nó dừng lại từ năm nào… Trên lò sưởi là cả một lô một lốc đồ không tên, không biết có tự bao giờ, không hiểu được dùng vào việc gì, tất cả chen chúc nhau trên một diện tích bé nhỏ. Cái nào cũng được tên trộm nhấc lên xem xét với vẻ trìu mến. Đáng ngạc nhiên là hắn không bỏ bất cứ thứ gì vào túi. Xem xong cái nào hắn lại nhẹ nhàng đặt vào chỗ cũ. Cái đáng giá nhất trong số những đồ vật ấy là cái ví của tôi, thì hắn thậm chí không thèm cầm lên.
Sau đó tên trộm đi một vòng căn nhà. Rồi lặng lẽ nhìn về phía giường tôi bằng cái nhìn không mấy thiện cảm, tôi không nhìn rõ nhưng cảm thấy thế bởi điệu bộ lầm lì của hắn.

  • Hừ.
    Hắn phát ra một tiếng duy nhất kể từ lúc tôi thấy hắn.
    Thế rồi hắn bắt đầu cúi xuống. đẩy cái tivi trở lại chỗ cũ. Sau cái tivi là cái ghế bành. Công việc rõ ràng nặng nhọc, tôi nghe hắn thở phì phò. Xong cái ghế, hắn tiến về phía chỗ tôi nằm. Một bầu không khí lạnh lẽo trùm lên tôi, càng lúc càng lạnh hơn, cùng với bước chân nhẹ như bước chân mèo của hắn. Trong khi hắn cố gắng đẩy, tôi có cảm giác thân hình hắn phình to dần, to mãi, trùm lên cả cái giường đang nhích đi từng chút một. Trong bóng đêm dày đặc ở chỗ tôi nằm, cặp mắt hắn gắn chặt vào mặt tôi.
    Tôi hét lên, chồm dậy, giơ tay vớ công tắc đầu giường.
    Đèn bật sáng. Tên trộm biến mất. Tôi run rẩy, mãi mới xỏ chân được vào dép, nhìn quanh căn phòng trống rỗng. Thở hổn hển, người lạnh toát vì sợ, tôi quỳ xuống, ngó vào gầm giường. Chẳng có quái gì hết.
    Tôi đi sang phòng ăn, vào bếp, vào phòng ngủ vẫn để trống từ khi tôi dọn đến. Không có gì hết. Kiểm tra lại mọi khoá cửa thấy vẫn y nguyên.
    Tôi ngồi phịch xuống giường, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh.

3

Tôi không kể cho Ngoạn nghe chuyện xảy ra. Tôi ngượng. Khi người đàn ông sợ ma, thiên hạ sẽ nhìn hắn như con nít.
Câu chuyện ban đêm tôi vừa kể không phải đến đấy là hết. Sau lần ấy là những lần khác.
Bây giờ tôi đã biết đích xác tên trộm là ai – một hồn ma. Ma thật sự. Các nhà bác học đeo kính trắng trong các phòng thí nghiệm giải thích hiện tượng hồn ma theo đủ mọi cách, thậm chí với những sở cứ có vẻ khoa học, tôi đã đọc. Nhưng tôi là thằng thực tiễn – tôi thừa nhận cái tôi thấy, giải thích cách gì đối với tôi cũng bằng thừa.
Khốn nạn cho tôi là ở chỗ, sau khi thừa nhận sự hiện hữu của con ma nọ, tôi chẳng biết phải làm gì nó? Đánh nhau với nó thì không được rồi – ai cũng biết ma chỉ là cái bóng. Chỉ còn nước bỏ ngôi nhà này mà đi? Để rồi bắt đầu lại, một lần nữa, cuộc lùng kiếm chỗ ở mới, rất mất thời giờ, nghĩ đến đã phát ớn?
Hồn ma nọ còn hiện về vài lần nữa, lần nào cũng như lần nào, với những cử chỉ lặp lại. Hắn rõ ràng chẳng có ý làm khó cho tôi. Hắn lẳng lặng làm công việc hắn muốn làm, và chỉ có thế. Như tôi đã kể, hắn hiền lành cầm các đồ vật lên ngắm nghía, hì hục đẩy các đồ bị xê dịch về chỗ cũ, một cách bực dọc và hoàn toàn vô tích sự – hôm sau tôi vẫn thấy chúng ở nguyên chỗ. Hắn có vẻ một hồn ma đứng đắn. Mọi cử chỉ của hắn đều khoan thai, chững chạc.
Thôi thì thây kệ, tôi nghĩ, mặc cho hắn làm cái việc hắn muốn. Xét cho cùng, sự hiện diện của hắn đâu có gây ra điều gì tệ hại cho tôi? Nếu hồn ma không đủ sức đẩy đồ vật thì hắn có thể làm được gì với tôi, một thằng người trên sáu chục kí lô?
Có điều sau mấy lần quan sát hắn đánh vật với mấy thứ bị tôi dịch chuyển, tôi đâm ra ái ngại cho hắn. Hắn quá vất vả. Mà hoài công. Nếu là tôi, tôi sẽ vứt ngay cái công việc vô tích sự và mất sức ấy. Hì hục như thế để làm gì cơ chứ?
Còn tôi, tại sao tôi không thể giúp hắn một chút? Gì thì gì, để hắn khốn khổ thế là không nên. Làm người phải có lương tâm. Nghĩ rồi, tôi làm liền, tức là đẩy trả lại mấy đồ vật về chỗ mà hắn muốn.
Đêm đến, hồn ma nghiêng ngó ngắm nghía cái tivi, cái ghế bành, cái giường. Hắn phát hiện ra sự thay đổi vị trí. Hắn tỏ vẻ hài lòng. Thay vì kiểm lại những đồ vật trên lò sưởi, hắn đi bách bộ trong phòng. Trông dáng đi của hắn, nhẹ nhàng chứ không uể oải, hơi nhún nhẩy nữa là khác, tôi biết hắn vui. Hình như hắn còn huýt sáo miệng nữa.
Cuối cùng, xoa hai tay vào nhau, hắn quyết định đi về phía tôi nằm.

  • Này ông bạn!
    Tôi nghe hắn dừng lại ở chân giường.
  • Đừng có giả vờ, tôi biết thừa…
  • Hừm, – tôi ọ ẹ – Tôi ngủ hay tôi thức mắc mớ gì tới ông?
  • Ông bạn này – hắn định đặt tay lên vai tôi, nhưng nghĩ sao, hắn rụt tay lại – Dậy đi!
  • Hừm – tôi lại nói.
    Lạ một cái là tôi không cảm thấy sợ như lần đầu thấy hắn. Nhìn vóc dáng hắn thì thấy hắn đã ở tuổi về già. Hắn có vẻ hiền lành, không phải là loại trẻ để có thể giở trò nghịch ngợm vô trách nhiệm.
  • Ông bạn tốt hơn là tôi nghĩ đấy.
  • Hừm – tôi đáp, vẫn nằm yên chỗ.
  • Này – hắn gọi tôi – nhà có cà phê không?
  • Cà phê hử? Có – tôi che miệng ngáp, vẫn giả giọng ngái ngủ.
  • Tuyệt! – hắn nói, lại xoa hai tay vào nhau, vẻ hài lòng.
  • Capuccino, được không? – tôi hỏi hắn một cách không nhiệt tình.
  • Capuccino? – hắn hỏi lại.
  • Có hộp capuccino hoà tan đấy. Ở trong tủ…
    Hắn nhún vai:
  • Capuccino hoà tan? Ồ, không, tôi không bao giờ xài loại ấy.
  • Tôi không có thứ nào khác.
  • Cả đời tôi chỉ uống expresso. Không dễ gì mà bỏ một thói quen lâu ngày như thế.
    Đúng là một hồn ma Pháp. Hồn ma Anh sẽ không đòi cà phê, mà trà sữa.
  • Ờ, thói quen là thứ không dễ bỏ – tôi lầu bầu – Nhưng đào đâu ra expresso bây giờ? Phải ra tận ga mới có một quán cà phê đêm, ông ơi. Mà là cà phê Thổ, loãng toẹt.
  • Đi uống cà phê vào giờ này ấy à? Có mà điên. Nhà có cà phê bột không?
  • Có. Tôi mới mua, hàng hạ giá. Pha kiểu Thổ ư?
    Hắn lắc đầu:
  • Không. Tôi không thích. Trong nhà có máy pha expresso, ông không biết à?
  • Không.
  • Có đấy. Để tôi chỉ cho ông bạn. Hoá ra ông là một thằng lười – hắn càu nhàu – Ở trong nhà ngần ấy thời gian mà không thèm biết có thứ gì, ở đâu…
  • Cái đó đúng, tôi vốn lười.
  • Dậy đi!
    Tôi uể oải ngồi dậy. Trong phòng tối om. Tôi sờ soạng tìm công tắc điện. Hồn ma giơ tay ngăn:
  • Đừng bật đèn. Tôi không thích ánh sáng. Thắp nến đi, nếu ông muốn. Ông biết nến ở đâu chứ?
  • Không.
    Hắn cười hí hí, hoặc tôi có cảm giác như thế. Tôi nghe thấy tiếng của tôi phát ra, chứ tiếng của hắn thì không. Tưởng chừng nghĩa của câu nói phát ra từ miệng hắn đi thẳng vào nhận thức của tôi, thứ lời nói không mảy may làm rung động không khí.
    Hắn dẫn tôi vào căn phòng nhỏ, thứ phòng chứa đồ, mà tôi chưa hề ngó tới vì sự ngổn ngang trăm thứ bà rằn trong đó. Hắn chỉ cho tôi chỗ để mấy hộp nến. Rồi hắn chỉ tiếp cho tôi lấy ra trong hộc một cái tủ xiêu vẹo, một cái máy pha cà phê Krups nằm bên dưới đủ thứ đồ tập tàng. Thứ máy cổ lỗ sĩ này chẳng còn ai dùng, áp suất hơi của nó quá thấp.
    Tôi vào bếp, bật ga, đun nước. Hắn uống cà phê, còn tôi sẽ uống trà đen. Uống cà phê lúc này có mà thức đến sáng.
    Hắn đứng gần tôi, ngay bên cạnh. Tôi rất muốn nhìn xem mặt hắn thế nào, mà ngại. Biết chỗ để nến rồi tôi cũng không muốn thắp lên là vì thế. Tôi sợ nhìn thấy một cái đầu lâu với hai hố mắt sâu hoắm như những hồn ma trong phim kinh dị của Mỹ. Những hồn ma Mỹ thường giống nhau, chắc hẳn do người Mỹ tiết kiệm, phim nọ dùng lẫn chế vật của phim kia. Một cái đầu lâu dưới vành mũ sùm sụp chắc hẳn rất gớm ghiếc. Hình như hắn dễ coi hơn, dưới vành mũ là một cái mặt chứ không phải một cái đầu lâu, tôi nhác thấy nó trong một thoáng, do vô tình, lúc chúng tôi đi song hàng.
    Hắn hài lòng thưởng thức ly expresso. Hắn uống chậm, từng hớp nhỏ. Với tư cách chủ nhà, tôi hài lòng thấy khách hài lòng. Chúng tôi ngồi cách nhau mấy bước, hắn – trong ghế bành, tôi – trên ghế tựa.
  • Ông bạn, e hèm, biết nói thế nào nhỉ, ừm…
  • Sao?
    Hắn gãi đầu:
  • Tức là, tôi muốn nói, ông là người, hì hì … kể ra… cũng được đấy!
  • Ông quá khen.
    Hồn ma gật gù:
  • Trước hết, tôi phải cảm ơn ông.
  • Ơn huệ gì!
  • Ơn chứ. Rốt cuộc, rồi ông đã chiều theo ý tôi trong việc trả lại mấy thứ nọ về chỗ cũ. Tính tôi thế: tôi không thể nào chịu được khi thấy đồ đạc bị di chuyển khỏi chỗ mà tôi đã chọn cho chúng.
  • Có thể đó là một tính tốt. Ít nhất thì nó cũng là một cái quyền mà người ngoài không nên xâm phạm.
    Hắn cười.
  • Tôi không nghĩ rằng ông làm việc tốt cho tôi nhờ lý trí mách bảo. Ông hiểu chứ? Hừm, biết nói thế nào nhỉ, ở ông ấy, trong việc làm tốt đối với tôi có sự dự phần của tấm lòng, nhờ vào khả năng biết cảm thông với tha nhân, hay nói cách khác, khả năng tìm ra cách hành xử phải đạo do biết đặt mình vào vị trí kẻ khác….
    Lời khen của hắn làm tôi bối rối. Tôi ngượng.
  • Đó chẳng qua là sự lui bước của tôi trước sự kiên trì đáng nể của ông thôi. Hoặc là sự thoả hiệp với tình thế bất khả kháng…
    Hắn nhún vai:
  • Ông khiêm tốn. Điều đó có lợi cho ông. Nhờ khả năng đáng quý ấy ông vượt qua được cảm giác sợ…
  • Tôi chưa hiểu ý ông.
  • Có gì mà không hiểu. Ông thú nhận đi, lần đầu ông thấy tôi ông đã sợ tôi, sợ muốn chết…
    Hắn dùng thời quá khứ khi nói rằng tôi đã sợ hắn. Quả thật bây giờ, không hiểu sao, cảm giác ấy không còn. Tự nhiên, tôi không thấy sợ hắn nữa.
    Nghĩ cũng lạ, thoạt đầu tôi còn hơi sợ một tí, giờ thì không sợ chút nào. Tôi lý luận: nếu không phải một vật thể, cái bóng ngồi trước mặt tôi kia chỉ là một khái niệm. Sợ một khái niệm là dở hơi. Ma, với tôi, và với rất nhiều người, chỉ là một khái niệm. Còn hơn thế, một khái niệm rất đỗi mù mờ.
  • Vâng, tôi đã sợ ông. – tôi gật đầu – Đúng thế. Nhưng khi thấy ông quá vất vả xử lý mối mâu thuẫn giữa hai ý muốn của tôi và của ông, thì tôi đâm ra ái ngại.
  • Hay thật!
  • Khi tôi ái ngại thì cảm giác sợ hãi biến dần. Rồi hết. Ở đời, ông ạ, xét cho cùng, có lắm cái đáng sợ hơn nhiều…
  • Chính xác – hắn gật gù.
  • Có thể còn có một nguyên do khác. Ông không biết chứ tôi đã từng sợ, sợ nhiều thứ, sợ bóng sợ gió, sợ tất cả, sợ lắm lắm.
  • Mon Dieu, Trời ạ.
  • Không phải mình tôi, cả thế hệ chúng tôi sợ, còn hơn thế, cả một giống nòi tôi sợ, ông hình dung nổi không: cả-một-giống-nòi? Không hả? Chúng tôi được huấn luyện từ tấm bé để mà sợ.
  • Có chuyện ấy à?
  • Kết cục là chúng tôi không phải chỉ sợ cái đáng sợ, chúng tôi còn sợ cả những cái chẳng có gì đáng sợ nữa. Trong ngôi nhà của mình, chúng tôi đi lại len lén. Trong thành phố của mình, trong nhà của mình chúng tôi nói chuyện với nhau bằng giọng thì thào, nhìn trước nhìn sau, chúng tôi theo dõi những câu nói của chính mình, lúc nào cũng e phạm phải điều gì cấm kỵ, và lo lắng nhỡ điều đó bị phát giác, bị bẩm báo…
  • Khiếp. Đến thế kia ư?
  • Hì hì, tôi biết mà, ông mù tịt về cái đó, ai không nếm trải nỗi sợ ấy người đó chắc chắn không hiểu nổi. Cả ông nữa, ông cũng không phải ngoại lệ, cho dù ông có là… – tôi định nói “cho dù ông có là ma”, nhưng kịp kìm lại – Tuy nhiên, cái gì cũng có giới hạn. Khi sợ quá nhiều và quá lâu, người ta ắt trở thành dạn dĩ, chẳng sớm thì muộn…
    Nhìn hơi nước lởn vởn trên miệng tách cà phê của hắn, tôi nhắc:
  • Ông uống đi kẻo nguội.
  • Tôi đang uống đây. – hắn nói và cúi xuống nhắp một ngụm – Phải thú thực với ông: khi thấy ông sợ tôi, tôi cũng khoái. Đến khi ông không sợ nữa, thì, ông biết không, tôi hơi buồn một chút. Con người ta bao giờ cũng khoái được thấy người khác sợ mình. Ông nói tiếp về cái sợ của ông đi.
    Hắn nói “con người ta” ngon lành, như thể hắn không phải là ma.
  • À, cái sợ… Nó khủng khiếp một cách âm thầm. Tức là, người ta sợ đấy, mà bề ngoài thì như không. Tôi biết có người chỉ nói hớ có một câu xét cho cùng là vô thưởng vô phạt, vậy mà anh ta sợ đến phát khùng, anh ta cứ đinh ninh rồi sẽ phải trả giá đắt cho câu nói ấy, anh ta dỏng tai nghe ngóng mọi phản ứng, cho đến khi biết chắc rằng chẳng ai nghe thấy nó hết…
  • Sợ là một xúc cảm tồi tệ. Tệ hơn bất cứ cảm xúc nào – hắn trầm ngâm – Nó hạ thấp con người.
  • Đúng thế. Điều khả dĩ có thể an ủi ta là kẻ bắt người sợ mình xét cho cùng lại chính là kẻ cũng sợ… một kẻ khác chẳng hạn. Thật vớ vẩn, phải không ông?
    Tôi triết lý vụn, rồi cười cái triết lý của mình. Hắn gật gù cười theo.
  • Ông có thể kể cho tôi nghe đôi điều về cái mà chúng tôi gọi là cõi âm của ông không? – cà phê kích thích tôi, hay là cái gì khác: nỗi buồn man mác chợt đến trong đêm, hay nỗi chán ngán một cái gì không biết và còn hơn thế, không hiểu – Với tôi, câu trả lời của ông hẳn sẽ rất thú vị.
  • Ông nói ông lười cả tò mò cơ mà.
  • Tôi vẫn lười, cả trong sự tò mò này. Nếu ông không muốn kể, tôi sẽ chẳng vật nài. Tôi không tò mò đến cùng. Tôi chỉ tò mò nhân tiện mà thôi.
    Hắn có vẻ suy nghĩ. Trong bóng tối tôi vẫn chưa thấy mặt hắn. Nửa trên bị vành mũ che khuất, còn nửa dưới thì lẫn vào màu đêm.
  • Chẳng có gì đặc biệt đâu ông ơi. – hắn nói sau một ngụm cà phê – Nó, cõi âm, chỉ là cái âm bản của sự sống mà ông biết. Các ông sống, còn chúng tôi sống lại cái sự sống đã qua. Những cư dân của cõi âm không bao giờ biết đến cái gọi là tương lai. Đối với chúng tôi tất cả đều là quá khứ. Chúng tôi sống trong cái khuôn của thời hiện tại-quá khứ nơi mỗi người.
  • Tại sao lại như thế?
    Hắn cười hích hích:
  • Tại sao, tại sao? Ông cứ như một đứa trẻ vậy.
  • Nhưng mà tại sao chứ?
  • Tại vì chúng tôi đã có tất cả những gì chúng tôi từng có, từ điểm khởi đầu cho tới chỗ kết thúc. Chúng tôi chỉ tồn tại bên trong biên cương của cái khoảng ấy mà thôi.
  • Thế thì chán quá nhỉ?
    Hắn có vẻ phật ý:
  • Không chán hơn nơi người sống đâu. Ông không gặp những người còn sống phây phây mà cuộc đời lại gắn chặt với quá khứ đến nỗi gỡ không ra à?
  • Ờ, cái đó quả có thật. Chẳng hạn như lão tổng thống quá cố của chúng tôi, những năm cuối đời lão ta chẳng biết làm gì khác ngoài việc vỗ ngực khoe những việc lão làm… Mà có tốt đẹp gì cho cam.
  • Tôi biết lão – hắn ngắt lời – Ở cõi âm chúng tôi di chuyển nhanh lắm, như chớp ấy, hoặc nói theo cách bây giờ, nhanh hơn ánh sáng, ông không tưởng tượng nổi đâu. Nhưng tôi không khoái chơi với lũ ngợm ấy. Tôi tởm. Có một thằng cha lúc nào cũng lảm nhảm “Bóp chết từ trong trứng! Cho tuốt vào nhà đá! Bắn bỏ!”, hắn la hét suốt. Khốn nạn, có hồn ma nào buồn nghe hắn đâu. Tuy nhiên, về một mặt nào đó, chúng tôi giống nhau, đáng chán là thế … Tuy chúng tôi không sống bằng quá khứ như hắn, nhưng tựu trung mọi hồn ma đều là những kẻ sống trong quá khứ…
  • Thế còn cháo lú? – tôi rụt rè hỏi – Chuyện đó thế nào?
  • Cháo lú? – hắn hỏi lại – À, tôi hiểu rồi. Ông muốn nói cái món súp miễn phí ở đầu đường vào cõi âm.
    Tôi ngạc nhiên:
  • Vào cõi âm cũng phải đi qua một cái ngưỡng, tựa hồ biên giới giữa các quốc gia sao?
    Hắn nhìn tôi, tủm tỉm:
  • Đại khái vậy. Nhưng cõi âm là một quốc gia đặc biệt, ở đấy không có bất cứ sự phân biệt nào trong mọi nhóm dân cư của nó, không màu da, không chủng tộc, không giàu nghèo, không có sự phân biệt giữa VIP và dân thường. Đi vào đó không phải trình hộ chiếu có visa…
  • Có phải ăn cháo lú xong thì linh hồn sẽ quên sạch mọi sự đời?
  • Không một thứ thuốc an thần nào có thể sánh với nó, cái cháo lú ấy – hắn nói với giọng pha chút khoe khoang – Ông tưởng chỉ ở cõi âm mới có cháo lú sao? Ở cõi dương cũng có đấy. Nó được trộn lẫn vào các bài báo, các làn sóng phát thanh, các chương trình truyền hình, các cuốn sách…
  • Ồ, cái đó thì tôi biết quá đi chứ!
  • Ở cõi dương cháo lú còn có một chút lừa mà người tỉnh táo biết được, ở cõi âm người ta không lừa ai. Ai chả biết rằng cuộc đời nào cũng vậy, chẳng nhiều vui thú, húp một đĩa cháo lú là sẽ quên sạch mọi ưu sầu. Nó chẳng qua là thứ cháo thí cho những linh hồn đau khổ. Chao ôi, ông không tưởng tượng nổi đâu. Các linh hồn xô đẩy, chen lấn, tranh nhau thứ cháo miễn phí ấy. Cảnh tượng phải nói là khủng khiếp. Thậm chí họ còn xô đẩy nhau để được nhận suất cháo phát chẩn, nhà bếp luôn tay múc không kịp…
  • Còn ông?
  • Không. Tôi không húp.
  • Tức là, không bắt buộc?
  • Đâu có. Bắt buộc chứ. Nó là cái lệ cho tất cả.
  • Nhưng bằng cách nào ông không…
  • Dương sao âm vậy, ông ơi, đã không muốn thì cũng có cách để tránh. Mấy anh chàng trông coi vụ phát chẩn cũng như những công chức, họ chắp tay sau lưng đứng nhìn, thỉnh thoảng la hét vài tiếng lấy lệ. Chỉ cần láu cá một chút, lăng xăng thay đổi chỗ xếp hàng, làm ra vẻ mình đã húp rồi… Bọn lãnh tụ, vua quan mà tôi nói ấy, sở dĩ còn nhớ quá khứ là vì chúng vẫn giữ nguyên thói trí trá khi còn sống.
  • Hay nhỉ? Tôi hiểu. Vì không ăn, ông nhớ được tất cả?
    Hắn gật. – Ờ… Tôi giả vờ húp vội húp vàng cho xong – im lặng một lát, hắn tiếp -Lừa lúc thiên hạ không để ý thì quay mặt đi mà nhổ ra.
  • Nhưng ông vừa nói: thứ cháo đó tốt. Nó có mục đích nhân đạo.
  • Ông nói “nhân đạo”? Những kẻ chế ra cháo lú, ở cõi dương cũng như ở cõi âm đều muốn mọi người nghĩ chúng nhân đạo, chúng làm tốt cho mọi người. Ông hãy hình dung một con người không nhớ gì hết, không còn phân biệt tốt xấu hay dở, không biết mình là ai…
  • Ờ nhỉ, thế thì chán thật.
  • Tôi không húp vì tôi còn mấy việc dang dở. Tính tôi thế, làm cái gì chưa xong thì trong lòng bứt rứt. Chẳng hạn như cái tượng vũ nữ ba lê này. Tôi rất thích nó. Đặt nó lên đĩa hát đang quay, trông nó sống lắm, cứ như nó đang múa thật. Một hôm tôi vô ý đánh rơi, làm nó gãy một tay. Tôi đã thử gắn lại bằng mọi thứ keo, chẳng cái nào cho hiệu quả ưng ý. Ông nhìn kỹ thì thấy cái tay gãy tôi gắn hơi lệch.
  • Ông muốn làm nốt những việc ấy?
  • Phải. Nhưng tôi nhầm.
  • Ông không gắn lại được?
    Hắn buồn bã thở dài:
  • Nhầm là nhầm thế này. Đã vào trong cõi âm rồi thì mọi việc trần thế là xong tuốt, chẳng còn cái gì làm tiếp, làm thêm, được nữa. Chỉ có thể nhớ lại thôi. Nhưng nhớ tuốt tuồn tuột quá khứ, cái gì cũng nhớ, thì ngán lắm. Những bước gian truân mình đã nếm trải nay lại trở về với nó lần nữa, rồi lần nữa, như một cuốn phim phải xem đi xem lại… Hay một cuộc tình đã xa, nay tự nhiên phải nhớ lại, chẳng cần ai nhắc cũng nhớ, với đầy đủ chi tiết, và hàng trăm lần y như nhau… Ối giời, mệt vô cùng. Người tình của mình thì đã húp sạch sành sanh đĩa súp lú, gặp mình, nàng ngơ ngác: “Ủa, ông là ai”?
    Một đêm khác, tôi hỏi hắn:
  • Ông bạn này, một con ma, xin lỗi, tôi muốn nói một linh hồn, có thể phù hộ cho một con người không?
  • Ông định lợi dụng tôi đấy hử? – hắn chặn ngang, cười hích hích – Ông định nhờ tôi cái gì đây? Một dãy số loto độc đắc? Một áp phe có lợi?
  • Không, ông hiểu nhầm rồi – tôi vội vã cải chính – Tôi không có ý ấy. Tôi chỉ tò mò thôi.
  • Ông tò mò hơi nhiều – hắn hấm hứ.
  • Chả là tôi muốn kiểm chứng điều thiên hạ tin – đành phải phân trần với hắn – Ông không thấy những người đến với Chúa, với Phật cùng mọi thứ thần thánh trong mọi thứ đền thờ không phải chỉ để tỏ lòng ngưỡng mộ, sùng kính hay sao? Ông không biết rằng họ đến đấy chỉ để mua bán sao? Họ mặc cả với tất tần tật các thứ đấng thiêng liêng: nếu tôi được hưởng ân huệ của các vị, tôi hứa sẽ cúng các vị cái này cái kia. Cái này hay cái kia ấy bao giờ cũng phải lớn tương xứng, hoặc nhiều hơn, so với ân huệ mà họ chờ đợi được hưởng… Ân huệ to thì vật hiến tế phải to.
  • Tôi biết chứ – hắn nhún vai – Nói đến cái lũ khốn nạn ấy làm gì!… Bậy! Bậy hết. Lũ ấy nghĩ về thần thánh của chúng, hệt như thần thánh là những chủ tiệm ở chợ trời, có thể mặc cả thoải mái.
  • Cũng có người nhờ cầu khẩn mà được đấy.
  • Đó là sự trùng hợp của những ngẫu nhiên. Người chết rồi, linh hồn, hay là ma, không trừ cả thần thánh, cũng y như tôi đây này, chẳng có sức lực gì hết, chẳng làm nổi cái gì hết. Ông thấy rồi đấy, chỉ đẩy một cái ghế dịch đi một li mà tôi cũng không làm nổi…
    Lời thú nhận của con ma thực thà na ná một dạng báng bổ.
  • Tôi hiểu rồi, vì thế ông chỉ còn cách ngắm nghía các đồ vật xưa cũ cho hết ngày, à quên, hết đêm, phải không?
  • Tôi còn biết làm cái gì khác hở ông bạn thân mến? – hắn nhún vai trước câu hỏi, theo hắn là dớ dẩn – Nó là cái nghiệp của tôi. Đồng thời, khốn nạn cho tôi, cũng lại là thú vui của tôi.
    Nghe giọng hắn thì biết hắn lại bực mình. Lý luận gì mà lăng nhăng, cù nhầy, chắc hắn nghĩ thế.
  • Ông không thấy những người sống cũng có cái thú vui ấy ư? – hắn nói tiếp, không phải hắn hỏi – Có một thằng cha ở gần đây này, tôi không quen hắn, nhưng tôi quen bố hắn. Hắn viết được độc một cuốn sách, đưa ra những ý tưởng điên rồ, lạ tai lạ mắt, bằng cách chửi khắp thiên hạ, gây ra được một sự ồn ào khá lớn ở những kẻ đần độn, hắn khoái lắm. Nói cho đúng, người khen thì ít, người chê thì nhiều. Thiên hạ bình phẩm thế nào hắn tuyệt nhiên không biết, không thèm biết. Thấy người ta chửi nhiều, hắn càng đinh ninh hắn là nhà tư tưởng lớn. Là nhà tư tưởng lớn thì tất nhiên không phải ai cũng hiểu. Thiên hạ càng chửi nhiều hắn càng thích. Hắn cần cái đó – càng bị chửi nhiều thì càng nổi tiếng, một thứ quảng cáo không công mà. Lâu không thấy có ai chửi thì hắn buồn xo. Cả ngày hắn bận bịu với việc cắt những dòng tán dương hắn trong những bức thư độc giả gửi cho hắn để dán vào một cuốn vở dày cộp, ký tên vào những cuốn sách, bìa cứng hẳn hoi, để gửi cho những người hắn có thể gửi mà không bị trả lại. Hoặc kỳ cạch gõ những lời giáo huấn cho những độc giả còn ngưỡng mộ hắn.
  • Hay nhỉ?
  • Đêm nào hắn cũng hí hoáy làm công việc đó, đến nỗi một ông bạn tôi nhầm, tưởng hắn cũng là ma như mình, mới hiện ra bắt quen. Chỉ đến khi thấy hắn hét lên, lăn đùng ra bất tỉnh nhân sự, ông bạn tôi mới biết hắn là người sống…
    Con ma cười ha hả, tay liên tục vỗ đùi, nhưng không thành tiếng.

4

Rốt cuộc rồi tôi cũng phải thú thật với Ngoạn về hồn ma nọ sau mấy lần anh nhận xét về sức khoẻ sa sút của tôi.

  • Sắc mặt cậu xấu lắm. Xanh, má hóp. Sao vậy?
  • Dạo này tôi kém ngủ.
  • Phải tìm ra nguyên nhân mà giải quyết.
    Chúng tôi đã trở thành thân tình hơn kể từ sau khi anh kiếm chỗ ở cho tôi. Mỗi khi có công việc nặng, cần người phụ, vào những ngày nghỉ cuối tuần anh gọi tôi giúp anh. Gọi là giúp chứ công việc xong anh thanh toán đàng hoàng. Anh hơn tuổi tôi, anh tự cho phép anh gọi tôi bằng “cậu”. Chị Jeanette, vợ anh, và hai cháu thì toa moa với tôi, như người trong nhà.
    Đúng là tôi có ít ngủ thật. Những buổi trò chuyện với hồn ma thường kéo dài. Chứ âm khí âm khiếc quái gì đâu. Ngủ ít thì má hóp. Không thể đổ lỗi cho hồn ma. Hắn đâu có đòi nói chuyện với tôi. Những hôm bận công việc ở sở, về đến nhà, tôi ăn xong là lăn ra ngủ, hắn cũng chẳng đánh thức. Nửa đêm tỉnh dậy, thấy hắn thì chúng tôi cũng chỉ chào nhau một tiếng như hai người láng giềng lịch sự. Tôi mới là kẻ chủ động gợi chuyện, trong khi hắn lại là kẻ kiệm lời. Những câu chuyện với hắn, mỗi khi có, đều thú vị.
    Nghe tôi kể, anh hỏi:
  • Hắn không làm gì cậu thật?
  • Không.
    Ngoạn mở to mắt.
  • Không doạ nạt?
    Tôi lắc.
  • Không.
  • Hắn có làm gì khác không?
    Câu hỏi làm tôi phải suy nghĩ. Hắn còn làm gì nữa nhỉ? Không, hắn chỉ chuyện vãn, thế thôi.
  • Hoàn toàn không!
  • Hoàn toàn không?
    Tôi lại lắc.
  • Vô lý.
    Ngoạn ra chiều suy nghĩ.
  • Cậu phải tìm một cái nhà khác – anh bảo – Ở đấy nguy hiểm. Âm dương cách biệt, người là người, ma là ma, ở lẫn với nhau không được.
  • Tôi nghĩ không cần thiết – tôi nói – Hắn chẳng làm gì hại tôi.
  • Cẩn tắc vô áy náy. Không sao, tôi lại tìm nhà cho cậu lần nữa.
    Anh quyết định ngủ lại nhà tôi một đêm xem hư thực ra sao.
    Nửa đêm, con ma đến, chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên thấy có người lạ mặt ở trên giường tôi. Ngoạn nằm im thin thít.
    Sáng ngày ra anh bảo tôi:
  • Nói không biết cậu có tin không, hoá ra tôi đã gặp con ma này.
  • Bao giờ?
  • Lâu rồi. Dễ trên chục năm trước. Hồi mới lập gia đình, tụi tôi nghèo lắm. Đêm đến tôi luôn lượn lờ trong khu nhà giàu – họ thường vứt đồ cũ ra hè. Để kiếm cái dùng, vậy đấy. Có nhiều thứ người ta vứt không phải cũ hẳn, nhưng ở đây thế, cứ dọn đến nhà mới là người ta thay tất tật. Cũng có khi là đồ dùng của người vừa chết, thân nhân không muốn giữ lại, không phải họ tin nhảm, mà vì không thích để những nhìn thấy những đồ vật của người thân đã qua đời, nhiều thứ còn mới nguyên, mà có cũ đôi chút thì cũng còn tốt chán với mình. Đi nhặt mấy thứ đồ bỏ ấy không ai đi ban ngày, xấu hổ chết được…
  • Anh đã gặp con ma này trong những lần đi kiếm đồ Tây quăng?
  • Đúng hắn, với cái mũ phớt sùm sụp, với dáng dấp ấy, như đêm qua tôi thấy. Không lẫn được. Tôi không nghĩ hắn là ma.
  • Hồi đó hắn còn là người sống.
  • Có thể lắm.
  • Hắn chắc cũng đã nhận ra anh, nếu gặp?
  • Hừm, biết đâu đấy, chúng tôi chạm trán luôn, nhưng cố tránh không nhìn mặt nhau. Dân đi nhặt đồ đều thế. Họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen… Thậm chí vớ được thứ đồ tốt một mình không khuân nổi cũng không dám nhờ nhau, cứ đứng canh đấy cho tới khi vắng người mới chạy đi tìm cabin điện thoại báo cho người nhà biết để ra khiêng cùng…
  • Anh có thấy hắn nhặt gì không?
  • Không. Hắn cứ lượn lờ quanh đám đồ bỏ, tôi chưa thấy hắn nhặt thứ gì. Con ma này phải trị mới được.

5

Con ma cũng nhận ra Ngoạn.
Hắn bảo tôi, cười hì hì:

  • Ông Nô Ăng. Tôi biết ông ấy quá mà. Tôi giả vờ không nhận ra ông ấy thôi. Chúng tôi gặp nhau luôn. Tôi hồi ấy là một anh ký quèn ở sở hoả xa. Ông biết cái ga Sermages rồi. Gọi là ga cho nó oách, chứ ga ghiếc cái quái gì một khối bê tông xám xịt chỉ nhỉnh hơn trạm biến thế một chút. Ông Nô Ăng bạo gan đấy. Có điều ông kể cho ông ta nghe về tôi làm gì?
  • Có cần phải giữ bí mật về ông không?
    Hắn lắc đầu:
  • Không. Không cần. Tôi là cái có đấy mà không đấy. Nói cách khác, tôi là cái vừa hiện hữu vừa không hiện hữu. Nói về tôi hay không nói về tôi thì cũng thế mà thôi. Chỉ người sống mới có bí mật. Ở chỗ chúng tôi mọi linh hồn đều như cởi truồng trong một cái lồng kính, linh hồn này biết hết về linh hồn kia…
  • Chán quá nhỉ?!
    Hắn cười hích hích.
  • Nhưng các linh hồn thường chỉ biết về những gì linh hồn khác đã làm khi họ còn ở cõi dương… Và chỉ ở những linh hồn không húp hết đĩa cháo vô vị.
  • Ông bảo: các linh hồn chỉ lặp lại những gì họ làm khi còn sống?
  • Ý tôi là: linh hồn chỉ lặp lại thói quen. Những gì họ làm trong cõi âm các linh hồn có thể biết mà cũng có thể không biết, tựa như ở cõi dương vậy – người này không thể biết tất tần tật về người kia. Đôi khi linh hồn cũng làm một cái gì đó chứ, nhưng nó chỉ làm được cái ấy nếu như khi còn sống nó từng làm. Linh hồn, ông bạn ạ, chỉ là cái bóng mờ của quá khứ. Nó khoái lắm nếu có ai tưởng nó có khả năng hành động. May cho các ông, những người sống. Chứ không à? Cứ thử nghĩ mà xem, nếu những thằng đểu chết rồi vẫn tiếp tục đểu được với người sống, thì sao?
    Tôi hoàn toàn đồng ý với hắn:
  • May thật!
  • Ông không nên kể về tôi với ông Nô Ăng.
  • Ông đã nhắc tôi rồi.
  • Ông ấy là người tốt, nhưng ông ấy không vượt qua được định kiến: một con ma là một con ma. Ma là cái người ta không hiểu được. Khi không hiểu được thì người ta nghĩ nó xấu xa, nó không tốt.
  • Tôi không nghĩ ông bạn tôi tồi đến thế. Ông ấy chỉ lo cho tôi thôi…
  • Ông ấy hiểu lầm do không hiểu biết. Nhưng lại tưởng mình biết hết. Trong thực tế, cái ông ấy tưởng mình biết lại là cái hiểu lầm mượn của người khác…
  • Ông có những ý nghĩ hay đáo để.
    Hắn cười khà khà. Cảm giác là thế, chứ không có tiếng.
  • Ông khác, ông không có định kiến. Một ưu điểm đấy. Ông lại còn biết thông cảm nữa…
    Hắn nói tiếp, đượm chút buồn rầu:
    -… dù là thông cảm với một con ma…

7

Ngoạn nói anh sẽ mời một đội bắt ma thiện nguyện để tống con ma khỏi nhà tôi.
Tôi phản đối kịch liệt.
Tôi phản đối vì, xét cho cùng, con ma chẳng làm điều gì xấu cho tôi. Ngược lại, nó còn là một bạn chuyện thú vị. Hà cớ tôi lại xử xấu với nó? Nhưng Ngoạn khăng khăng: phải diệt nó. Đó là một người cứng đầu, đã nghĩ ra cái gì là phải làm cho bằng được.
Đội bắt ma thiện nguyện tha các thứ đồ đạc lỉnh kỉnh của họ đến nhà tôi vào một chủ nhật. Họ lăng xăng đi lại, còn tôi thì ngồi yên trong ghế bành, nơi con ma thường ngồi, với bộ mặt nặng chịch. Ba người trong đội bắt ma – một mục sư về hưu, hai sinh viên trẻ gày nhẳng, cả ba đeo kính cận loại nặng. Với các máy móc đo từ trường, đo nhiệt độ, mọi cái đều là loại cực nhạy. Họ rà soát mọi ngóc ngách – gầm giường, gầm bàn, gầm ghế, gầm tủ, với vẻ mặt nghiêm trang của sứ giả nhà trời đi xuống địa ngục. Kim trên những mặt đồng hồ đặt giữa nhà lắc lư lờ đờ.

  • Con ma này ban ngày không ở đây. – ông mục sư trầm ngâm – Ta sẽ túm được nó ban đêm.
    Tôi giật mình. Đúng là tôi chỉ gặp con ma vào ban đêm.
    Đội bắt ma rất mẫn cán. Hôm sau cả ba lại đến cùng một lúc , lập tức bắt tay vào việc. Mấy người đàn ông đứng tuổi, mặt mũi nghiêm trang ngồi trầm ngâm trước những mặt đồng hồ, mắt dán chặt vào những cái kim. Tôi để mặc họ muốn làm gì thì làm.
    Đúng 12 giờ đêm, nhưng cái kim bắt đầu chuyển động, lúc đầu chậm, sau nhanh dần, rồi lắc loạn xạ. Ông mục sư phán:
  • Nó đến đấy.
    Trống ngực đánh thình thịch, tôi thầm lo cho ông bạn ma của tôi.
    Ngoạn ngồi bên tôi, theo dõi nét mặt tôi bằng cái nhìn dò xét.
    Nhưng khi ông mục sư giơ cao thánh giá đi về góc, theo kim chỉ của một cái máy đặt nằm, thì những cái kim đồng hồ lại lờ đờ trở về chỗ cũ. Ông mục sư lắc đầu:
  • Con ma này khôn phết.
  • Nó lẩn tài lắm. – anh sinh viên cao kều cúi xuống thì thào với anh bạn thấp hơn.
  • Khôn mấy thì khôn, rồi ta cũng sẽ tóm được nó. – mục sư nói to, giọng quả quyết.
    Đúng vào lúc ấy tôi nghe thấy giọng con ma bên tai:
  • Ông bạn ông tệ thật, ông ta dẫn mấy tay này đến đây làm gì cơ chứ?
  • Tôi xin lỗi, tôi đâu có muốn thế – tôi lẩm bẩm trả lời, cốt để Ngoạn khỏi nghe tiếng.
  • Ông có thấy ông Nô Ăng nhà ông là đa sự không?
    Tôi gật đầu.
  • Có điều họ chẳng làm gì được tôi đâu – con ma nói.
  • Thật không?
  • Ông đừng lo cho tôi.
  • Tôi vẫn lo đấy – tôi thì thào – Thật không sao chứ?
  • Thật. Không ai có thể bắt được cái không có.
    Tôi thở ra.
    Ngoạn ngờ vực nhìn vào mặt tôi. Anh kêu lên với ông mục sư đang cảnh giác nhìn quanh trong phòng:
  • Con ma đang ở đây này.
  • Đâu? Nó đâu?
    Ông mục sư quên bẵng mình là người bắt ma, nghĩa là mình phải thấy được con ma trước những người khác.
    Ngoạn chỉ vào tôi:
  • Nó ở bên ông bạn tôi đây này.
    Tôi cãi:
  • Tôi đây, chứ ma nào.
    Ba nhân vật bắt ma xô lại phía tôi. Họ quăng một cái lưới bằng sợi gai hôi hám lên người tôi. Ông mục sư đổ cả bình nước thánh lên đầu tôi. Hẳn ông ta nghĩ nước thánh với liều lượng càng lớn thì hiệu quả càng cao. Rốt cuộc tôi bị ướt như chuột lột, toàn thân bị trói chặt trong tấm lưới gai, còn con ma thì chẳng thấy đâu.

8

Sau cái lần bắt ma bất thành, đội bắt ma đi thẳng. Trong những trường hợp như thế bao giờ cũng có những lý do được đưa ra để bào chữa, kiểu như “trên chủ trương đúng, dưới thực hiện sai”; “trên bảo, dưới không nghe”, theo cách nói quen thuộc ở nước tôi.
Con ma sau đó xuất hiện ít hơn, không phải vì sợ cái gì, mà vì hắn bận bịu chuyện gì đó. Cuối cùng rồi hắn cũng bật mí điều bí mật của hắn:

  • Ông có tin ở thuyết luân hồi không?
  • Tôi chẳng có bằng cớ gì để tin. Một expresso nhá?
  • Không, cảm ơn. Giờ tôi phải đi ngay.
  • Hồn ma cũng biết bận?
  • Không. Hồn ma không bao giờ bận. Nhưng nó cũng có việc phải làm. Ông có muốn đi chơi một lần với tôi không?
    Tôi ngần ngừ.
  • Ông sợ?
  • Không. Nhưng đi đâu?
  • Cứ đi với tôi. Ông sẽ không hối tiếc đâu.
    Chúng tôi đi.
    Về sau này, nhớ lại chuyến đi chơi ban đêm với ông bạn ma, tôi thấy ông ta chẳng hề có ý lừa tôi – chuyến đi thực thú vị.
    Dắt tôi vùn vụt đi qua biên giới hai cõi âm dương không có lính biên phòng mặt lạnh, không có cửa hải quan với những cái nhìn soi mói, qua chỗ các âm hồn bách tính tụ tập húp cháo lú, tây ta lẫn lộn, đen trắng không phân biệt, ông ta đưa tôi tới một thành phố lúc nhúc những hồn ma là hồn ma. Tôi không nhớ là ở đó có cửa hàng cửa hiệu gì không, nhưng tôi gặp khá nhiều hồn ma quen. Có người chết đã lâu, có người mới chết. Họ hoàn toàn không nhận ra tôi. Thậm chí viên cai ngục nổi tiếng ác độc thời tôi ở tù dưới quyền hắn còn nhoẻn cười thân thiện với tôi. Trong tay hắn vẫn có cây roi bằng da xoắn, cũng nổi tiếng không kém gì hắn. Cây roi da ấy, những người tù lưu niên kể, đã lập công xuất sắc – ít nhất đã có ba người tù chết vì nó. Nhưng hắn vẫn giữ nguyên dáng đi ngày trước, cái đầu hơi cúi, cặp mắt láo liên soi mói, cái roi trong tay đập đập vào cẳng chân, sẵn sàng vung lên để quất vào ai đó. Ở một chỗ khác, tôi gặp tên lừa đảo có hạng đã từng lừa không ít người, trong đó có tôi, bằng những lời đường mật về những món lãi kếch xù, nếu chung vốn với hắn. Hắn bị một ông quan mà hắn lừa bắn chết, nghe nói là chết oan, đúng vào lúc hắn mang tiền lãi đến nộp cho ông ta. Hắn cũng không nhận ra tôi, chực sán lại để rỉ tai tôi về một kế hoạch thu lợi cực lớn. Thấy tôi lờ, hắn cũng chẳng giận, lại sán đến người khác, xin lỗi, tôi muốn nói: một hồn ma khác.
    Ông bạn ma của tôi dẫn tôi tới một chỗ có mấy vị lãnh tụ mà tôi quen mặt nhờ những bức chân dung được treo trên tường mọi nhà ở quê tôi. Tôi đồ rằng những vị này cũng gian như ông bạn tôi, không chịu húp cháo lú, hoặc húp rất ít, vì thế họ mới có thể quần tam tụ ngũ bên nhau. Nhưng cái giống lãnh tụ nọ là để sống trong thế giới của những kẻ tuân phục, những kẻ rạp mình trước họ, chứ cả một đống lãnh tụ ở cùng một chỗ với nhau thì ngán lắm. Tất cả bọn họ đều ra lệnh cùng một lúc, mà không biết ra lệnh gì, ra lệnh cho ai, chẳng anh nào chịu nghe anh nào, kể cả anh lãnh tụ bị bắn chết cùng với bà vợ, ngực còn toác hoác vết đạn, vẫn tiếp tục vung tay về phía trước, trong dáng điệu của nhà hùng biện trước đám đông há hốc mồm nghe huấn thị.
  • Ê, anh kia, lại đây!
    Vị lãnh tụ quen thuộc của tôi ngồi ủ rũ trên một bệ đá hoa cương thời cổ La Mã, giữa một đám đông chính khách com lê com táo chỉnh tề lăng xăng đi lại. Ông vẫn trong bộ quần áo bình dân cố hữu, y như một lão nông. Hồi còn sống, ông nổi bật trong các chính khách quốc tế nhờ bộ quần áo này. Trong những cuộc họp long trọng ông là ngôi sao sáng. Tiên phong đạo cốt, ông đi những bước nhẹ nhàng trên trần thế, ban phát bên phải bên trái đủ thứ lộc lớn lộc bé, bằng hiện vật cũng như bằng khen, giấy khen. Bây giờ trông ông giống một anh nhà quê ra tỉnh. Trong đống lãnh tụ xênh xang, ông có một vị trí kém cỏi mà giờ đây người ta ưa dùng chữ khiêm tốn thay vào. Chợt nhận ra tôi là đồng hương, ông vồ lấy tôi, nắm tay tôi kéo lại gần để ân cần hỏi han về đời sống của nhân dân. Cứ như thể thiếu ông trên đời mọi người sẽ khốn khổ lắm, côi cút lắm. Không hiểu sao, lúc ấy tôi lại xúc động đến luống cuống, lễ phép chắp tay trả lời ông như một thần dân ngoan ngoãn. Tôi thưa rằng tôi xa nước lâu rồi, lại chưa về thăm nhà lần nào, tôi không thể báo cáo với ông điều gì.
    Ông bạn ma lập tức túm lấy tôi, lôi xềnh xệch đi chỗ khác:
  • Sao ông lại làm thế?
  • Làm thế là thế nào?
    Ông bạn ma cằn nhằn:
  • Thằng cha ấy là cái quái gì mà trước mặt hắn, nói ông tha lỗi, ông lại phải khúm núm? Ông không thấy rằng hắn chẳng hề quan tâm tới nhân dân nhân diếc gì hết sao? Hắn chẳng cần biết ông là ai, đang ở đâu, làm gì, hắn chỉ lặp lại một thói quen thâm căn cố đế mà thôi. Ố là là, ông này hay thật đấy! Rõ vớ vẩn.
    Tôi ngượng ngùng:
  • Hề hề, tôi cũng không ngờ những thói quen lại sống lâu đến thế.
  • Thế thì khi xuống đây ông đừng có theo gương tôi, nhớ mà húp hết khẩu phần cháo lú của mình. Xem ra nó có ích cho ông đấy.
    Giọng ông ta nửa giận dỗi, nửa khinh miệt.
    Ông ta còn dẫn tôi đi nhiều nơi, cho tôi thấy nhiều điều thú vị khác, viết ra phải một cuốn sách. Tôi thì lại không biết viết văn, tôi viết thì sẽ rất dây cà ra dây muống, toàn những “thì” “là” “mà”, làm khổ người đọc. Điều đáng tiếc là ông ta không đưa tôi đến nơi tôi có thể gặp những người thân trong gia đình. Ông ta bảo cái đó không phải mục đích của chuyến đi.
  • Ông nói đến thuyết luân hồi là có ý nghĩa gì? – trên đường về tôi hỏi ông ta.
  • Là tôi sẽ chia tay với ông, để sống một kiếp khác.
  • Tức là luân hồi là có thật?
    Ông ta nhún vai:
  • Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết lần này tôi phải xực hết một khẩu phần cháo lú. Lầnnày khó mà tránh được. Nghe nói chẳng ai thoát. Tôi sẽ đi khỏi cõi này. Đi đâu, tôi không biết. Có lẽ là để sống kiếp khác. Ăn cháo lú rồi, tôi sẽ không biết ông là ai, người ta bảo vậy, ông cũng không thể nhận ra tôi…
  • Nhưng những vị Lạt Ma ở Tây Tạng đầu thai trong kiếp sau vẫn nhớ chuyện kiếp trước đấy thôi. Người ta thuật lại chuyện đó không phải một lần trong những cuốn sách đứng đắn.
  • Ồ, cái đó thì tôi chịu, thật thế hay không, tôi không biết. Có thể, đó là vì những vị Lạt Ma là những người đặc biệt. Những bậc chân tu. Những vị thánh. Tôi không dám nói họ có thể là những tay đại láu cá.
    Tôi tỉnh dậy trên giường. Vạt nắng sớm lọt qua cửa sổ chảy lênh láng trên sàn.
    Có nghĩa là suốt đêm qua tôi chẳng hề đi đâu. Nhưng cảm giác thực của cuộc du hành với ông bạn ma còn nguyên, hệt như trong sách của Bồ Tùng Linh.
    Khác ở chỗ hồn ma của Pháp không giống hồn ma của Tàu, nó chẳng làm hại gì tôi. Mà cũng có thể những hồn ma Tàu trong Liêu Trai đều là đàn bà, còn đây là một hồn ma đàn ông.
    Tôi thì lại không phải một tên đồng ái.

8

Từ đó tôi không bao giờ gặp lại ông bạn ma nữa. Chắc hẳn ông ta đã đầu thai vào một nhà nào đó và đang bĩnh ra tã.
Tôi cũng hơi ân hận một tí. Chơi với nhau bằng ấy thời gian mà chẳng biết tên họ ông bạn là gì. Hình như ông ta mang cái họ rất phổ biến là Dupont mà tôi thấy được ghi trên một món đồ. Chiết tự ra, Dupont có nghĩa là từ chỗ cây cầu, ở nơi gần cầu. Dòng họ Dupont có từ những thế kỷ xa xưa, cũng như dòng họ Dubois với nghĩa từ khu rừng, ở miền rừng. Nước Pháp có vô số cầu, cầu qua sông, cầu qua suối, ai biết được những người thuộc dòng họ này đến từ cái cầu nào. Trên lò sưởi không có cái ảnh nào của ông ta, mà tôi thì vì sợ nên không dám nhìn vào mặt hồn ma, thế là chẳng biết mặt ngang mũi dọc ông bạn mình ra sao.
Ngoạn rồi cũng ít đến tôi. Anh bận nhiều việc, tôi đồ thế.

  • Này, cậu phải cẩn thận mà giữ lấy chỗ làm – anh dặn tôi – Cái nghề khốn nạn của tôi vậy mà bây giờ thiên hạ cũng tranh nhau xông vào. Tôi phải liên tục hạ giá để giữ khách. May mà họ đã quen mình. Hai đứa con càng lớn càng phải chi nhiều, đủ thứ. Sống như thế này vất vả quá. Chết có khi còn sướng hơn…
    Những lời than thở về cuộc sống không thể gọi là chuyện giữa hai kẻ tha hương. Ở với bà vợ đầm lâu ngày, anh dường như không nhớ gì tới đất nước. Nó xa xôi.
  • Tôi bây giờ có muốn giúp cậu cũng chẳng được – anh nói.
    Tôi rất biết ơn Ngoạn đã giúp tôi nhiều khi còn chân ướt chân ráo đến Sermages, nhưng đúng là chúng tôi không biết nói gì với nhau nữa – chúng tôi không còn những đề tài chung để mà trò chuyện. Cũng phải thôi. Ngoạn là một con người bình thường đúng nghĩa, tức là người chẳng quan tâm tới cái gì khác ngoài cuộc sống hằng ngày của gia đình mình. Những vấn đề chính trị xa lạ với anh. Đối với Ngoạn thế giới nào cũng cũ, tức là thế giới nào cũng thế mà thôi cho một kiếp người với tất cả những lo toan tầm thường của nó. Còn tôi thì dù muốn dù không vẫn cứ vướng vào ba cái chuyện chính trị, như nhiều đồng hương đa sự.
    Khi nghe tôi nói chuyện về tình hình đất nước, hoặc tình hình thế giới, Ngoạn thường ngáp vặt, lúc đầu còn lịch sự giấu giếm, sau thì cố ý cho tôi biết mà chuyển sang chuyện khác. Khi không còn đề tài chung để nói chuyện, người ta rất dễ xa nhau. Có người nói anh dạo này hay ốm vặt, nhưng tôi cũng ngại gọi điện hỏi thăm. Tôi ngại những cuộc điện đàm theo phận sự.
    Một đêm tôi đi dự sinh nhật một bạn đồng nghiệp về, thấy ở bên đường gần nhà tôi người ta vứt lỏng chỏng đồ bỏ có nhiều thứ còn tốt, mới dừng lại xem. Ở đây người ta vứt đồ theo ngày, khu này thứ bảy, khu kia chủ nhật. Tôi chọn được một cây đèn bàn có chân bằng đồng, một thứ đồ cổ, kiểu cây đèn thần trong Nghìn Lẻ Một Đêm. Đã toan kẹp nó vào nách mang về, thì chợt thấy một dáng quen quen đang lúi húi gần đấy.
    Trong ánh đèn đường mờ mờ tôi nhận ra cái bóng ấy: Ngoạn. Dễ là anh lắm, với cái áo khoác tàng tàng, dáng đứng hơi gù. Nhưng tôi không dám chắc trăm phần trăm là anh. Thoáng bắt gặp ánh mắt của tôi, người ấy quay ngoắt.
    “Dân đi nhặt đồ đều thế. Do ngượng ngùng, họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần rồi cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen…”
    Ngoạn có lần nói với tôi như thế. Nhưng đó là những người gặp nhau lần này lần khác trong những chuyến đi nhặt đồ, chứ không phải là những người quen nhau như tôi với anh.
    Khi thấy tôi chăm chú nhìn, cái bóng càng lúng túng.
  • Anh Ngoạn hử? – tôi gọi khẽ.
    Cái bóng đứng sững khi nghe tiếng gọi. Nhưng không đáp lại, dù bằng một cái gật đầu.
  • Tôi đây mà – tôi nói.
    Cái bóng vẫn nín lặng.
    Tôi rùng mình vì một ý nghĩ chợt đến. Hay là, nói dại, Ngoạn không còn nữa, mà chưa ai kịp báo tin cho tôi? Anh đã trở thành một con ma. Như Dupont.
    Tôi dụi mắt để nhìn cho kỹ hơn. Chẳng lẽ tôi nhầm?
    Đến lúc ấy thì cái bóng mà tôi ngờ là Ngoạn liếc trộm tôi rất nhanh, rồi quầy quả bỏ đi. Nói nó lướt đi thì đúng hơn, bởi vì vừa thấy nó đấy đã chẳng thấy đâu. Nó tan biến. Trong màn đêm mờ mờ ánh đèn đường và khói sương.
    Ngày mai thể nào tôi cũng phải gọi điện cho Ngoạn. Không, tôi chắc mình nhìn nhầm. Cũng có thể không phải là Ngoạn. Dám thế lắm. Nếu là anh, chắc chắn anh sẽ gọi tôi. Chúng tôi đâu có phải là những người xa lạ đến nỗi phải tránh mặt nhau khi làm cái chuyện có vẻ đáng xấu hổ này. Rất có thể không phải Ngoạn. Nếu anh chết, chị Jeanette ắt đã gọi điện cho tôi – ít nhất thì vào lúc anh qua đời ắt chị phải nhớ rằng anh từ đâu đến và ở Sermages có một người cũng đến từ quê hương anh. Nhưng cũng có thể Jeanette đã quên không báo cho tôi biết trong cơn bối rối. Hoặc ngày mai chị mới báo. Hoặc chị không tìm ra sổ địa chỉ.
    Tôi xua đuổi ý nghĩ rằng Ngoạn đã chết. Nhưng ý nghĩ ấy cứ bám chặt lấy tôi. Sinh hữu hạn tử bất kỳ mà. Ai nói trước được? Anh xuất hiện trước mắt tôi lờ mờ như một bóng ma, nhất định không nhận tôi, nói với tôi một câu. Hoặc giả tôi nhầm, bóng ma ấy lại là Ngoạn thật, còn sống? Mừng rồi lại buồn – sao mà mình tệ thế, đến nỗi không phân biệt nổi người sống với hồn ma?
    Tôi bùi ngùi nhìn vào bóng đêm đã mất dấu bạn mình mà thở dài. Tôi hình dung ra anh trong cái cõi âm đáng ngán – hẳn từ nay anh sẽ phải sống, như cái ông Dupont nọ, quẩn quanh trong giới hạn chật hẹp của một kiếp người từ sinh tới tử, để rồi lặp lại trong suốt đời âm của mình những thói quen cố hữu của đời dương?
    Tôi cầm lấy cây đèn, không nhìn về phía cái bóng vừa biến mất, quay gót về nhà.

2005




Thanksgiving – Lễ Tạ Ơn




Thần Linh

Thần Linh

Tế Luân

Em là hiện thân của thần linh

Để ta tụng niệm cõi vô hình

Em ngồi đất nứt mọc hoa lạ

Thơm ngát từng mây những cuộc tình.

Trang giấy trắng vần thơ ẩn hiện

Dòng mực đen thấm ướt đường viền

Chỉ một chữ yêu còn hiện diện

Một chữ thôi xóa những ưu phiền.

Chim nhảy nhót mừng ngày huyền thoại

Hoa ngát hương thơm ngát tầng mây

Chỉ một lần hóa thành linh hiển

Mối tình đầu nguyên thủy không phai.

Tế Luân

EM THẦN THOẠI

(kính họa cùng thầy Lê Tuấn)

Em ngồi sợi nắng thẹn lung linh

Suối cũng ngừng reo rọi bóng hình

Gió phủ quanh bờ vai diễm lệ

Ngào thơm hương sắc lẫn hương tình

Ta đắm say cuồng, mơ thoảng hiện

Bờ môi bỏng mọng nét hồng viền

Dáng hoa xuân thắm ngời nhân diện

Chắp cánh cùng bay thoát cõi phiền

Em như giấc mộng đơm thần thoại

Lấp lánh hào quang vẹt áng mây

Ta chốn trần gian lòng khắc khoải

Lo tình muôn thuở sẽ tàn phai

Phương Hoa – NOV 15th 2020

Đêm Thần Tiên

Thiên thần áo trắng đẹp huyền linh

Thánh thiện vời cao một dáng hình

Chỗ ấy em ngồi hoa nở rộ

Trăng sao lấp lánh gợi mơ tình

Vẫy bút say sưa nồng ý tưởng

Tràn nghiên nét mực vẽ tranh viền

Lâng lâng cảm giác vùng sương tỏa

Thế tục lùi xa những não phiền

Tiếng mộng ru hồn say nhịp bước

Cung đàn lã lướt vọng trời mây

Hương lùa tỏa ngát đêm trà nguyệt

Giấc ảo tiên vời khó nhạt phai. 

Minh Thuý Thành Nội

Tháng 11/15/2020




KIẾP LẦM THAN

Tôi sinh ra giữa núi rừng cao nguyên
Nơi Ba mẹ lưu đày kinh tế mới
Những tháng ngày sống trong miền đen tối
Nên tôi hiểu thế nào là khổ đau !
Những đứa trẻ ở nhà tự giữ nhau
Cho Ba mẹ vào rừng kiếm mây bán
Ba đi trầm, lúc trời còn chưa sáng
Mẹ nấu cơm để đó , rồi đi sau !
Chị ở nhà phải lo trước lo sau
Cơm độn khoai lấy cho em lót dạ
Bầy khỉ đói, vờn quanh nhà chị Cả
Ôm đàn em co dúm lại với nhau !
Rồi những lúc mẹ vắng nhà tôi đau
Sốt rét rừng run từng cơn, tôi sốt
Chiều tối sầm người tôi như lửa đốt
Ba mẹ sao hôm nay vẫn chưa về !

Mẹ đi rừng chẳng may mẹ bị té
Gãy cánh tay Ba phải dắt đi băng
Mẹ ở nhà chị em cứ lăng xăng
Hôm nay vui được ở nhà với mẹ !
Tôi nhõng nhẽo đòi quà mẹ khe khẽ
Chờ Ba về mẹ sẽ dắt đi mua
Đếm từng giờ, đợi từng phút,xót chua
Ba đi rừng một mình rồi lạc lối !
Trời mịt mù Ba lần trong đêm tối
Suốt đêm thâu Ba cũng chẳng về nhà
Đốt đuốt tìm trong muôn vạn xót xa
Lo cho Ba tôi cũng không ngủ được.
Rồi có lần Ba đi rừng trơn trượt
Rớt từ trên đầu thác xuống hố sâu
Họ khiên Ba trong chiếc võng đớn đau
Tôi nhìn Ba mà trong lòng hoảng sợ !

Tuổi thơ tôi lớn lên như thế đó !
Trong rừng thiên nước độc bởi vì đâu ?
Kiếp con người hay là kiếp ngựa trâu ?
Kiếp lầm than miệt mài trong đêm tối .

Theo FB




Cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị

ThaiNC

Cuộc bút chiến giữa hai nhà Nho: Tôn Thọ Tường (1825- 1877) người ra cộng tác với Pháp, và Phan Văn Trị (1830-1910), một nhà Nho khác nhưng lại tranh đấu chống Pháp, là một giai thoại văn chương lý thú. Cuộc tranh luận bằng thơ văn giữa hai ông tuy gay go nhưng rất có tính cách văn hóa ở trên văn đàn. Ông Phan Văn Trị (PVT) làm thơ cực lực lên án Ô. Tôn Thọ Tường ( TTT) hợp tác với Pháp là sai trái, là phản bội đất nước, và dĩ nhiên ông TTT cũng đối đáp lại bằng thơ văn lỗi lạc của mình để đưa ra lý lẽ biện hộ cho việc hợp tác với thực dân.

Rất nhiều bài thơ của hai người đã để lại cho đời sau, nhưng được biết đến nhiều nhất là hai bài: “Tôn Phu Nhân Quy Thục”, và “Từ Thứ Quy Tào”.

Có bạn hỏi Tôn Phu Nhân là ai?

Thời Tam Quốc Chí có 3 nước đánh nhau giành thiên hạ

Nhà Ngụy : Tào Tháo

Nhà Thục : Lưu Bị

Nhà Ngô: Tôn Quyền

Một lần kia Lưu Bị vua nước Thục qua nước Ngô. Vua Ngô Tôn Quyền và các tướng lập mưu muốn nhân dịp giết chết Lưu Bị, nhưng nhờ Khổng Minh là quân sư biết trước nên bày mưu để Lưu Bị cưới được em gái Tôn Quyền, tức là “Tôn Phu Nhân”, nhờ sự giúp đỡ của vợ và nhạc mẫu là mẹ Tôn Quyền mà an toàn về nước Thục. Tôn Phu Nhân đã theo chồng, phản anh, phản Đông Ngô thả cọp Lưu Bị về rừng.

Ông Tôn Thọ Tường đã ví mình như Tôn Phu Nhân ấy qua bài thơ:

Tôn Phu Nhân Quy Thục

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,

Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!

Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,

Về Hán, trau tria mảnh má hồng

Son phấn thà cam dày gió bụi,

Đá vàng chi để thẹn núi sông .

Ai về nhắn với Chu Công Cẩn :

Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng

(Tôn Thọ Tường)

Ông TTT đem diển tích Tam Quốc Chí để biện hộ và ví von hành động theo Pháp của mình cũng như Tôn Phu Nhân quy Thục, đã theo chồng thì không thể theo anh. Không thể vẹn cả đôi bề.

Và ông PVT đã đối lại rằng:

“Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,

Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.

Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng

Duyên về đất Thục đượm màu hồng.

Hai vai tơ tóc bền trời đất,

Một gánh cang thường nâng núi sông

Anh hởi ! Tôn Quyền anh có biết

Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

(Phan Văn Trị)

Tất cả ý tứ của bài thơ kết lại ở câu cuối : Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

Ông Phan Văn Trị nhắn với ông Tôn Thọ Tường rằngTôn Phu Nhân là phận nữ nhi mới thờ chồng cho trọn đạo tam tòng chớ ông là thân nam nhi, bậc thức giả, phải biết chọn chúa mà theo tức là chọn lẽ phải của quốc gia dân tộc, hà cớ chi như phận má hồng, nhắm mắt hùa theo thực dân?

Bài “Tôn Phu Nhân Quy Thục” được giảng dạy trong chương trình trung học, một phần lớn do tính cách văn chương bóng bẩy của cả hai bài thơ. Nhưng nỗi lòng Tôn Phu Nhân thật ra không hoàn toàn phản ảnh con người và hoàn cảnh của ông Tôn Thọ Tuờng.

Bài thơ TỪ THỨ QUY TÀO sau đây của ông mới thực sự bài thơ bày tỏ hết nỗi lòng.

Từ Thứ là ai?

Xin thưa đó là quân sư giỏi của Lưu Bị thời Tam Quốc nói trên. Tào Tháo sợ tài Từ Thứ nên bày kế cho người giả mạo thư của người mẹ ở quê nhà nhắn ông trở về nhà. Ông vì chữ hiếu phải từ giã Lưu Bị về Tào, hứa sẽ không hiến bất cứ mưu kế nào cho Tào Tháo. Và nhất là trước khi đi đã tiến cử Gia Cát Lượng tức Khổng Minh là người tài giỏi hơn mình thập bội cho Lưu Bị.

Ông Tôn Thọ Tường gởi gắm tâm sự mình về với Pháp cũng như Từ Thứ về với Tào Tháo.

Từ Thứ Quy Tào

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi,

Muối xát lòng ai, nấy mặn mòi.

Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,

Về Tào chi sá một cây còi !

Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,

Bịn rịn trông vua biếng giở roi.

Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,

Thân này xin gác ngoại vòng thoi!

(Tôn Thọ Tường)

Và Phan Văn Trị đã đối lại rằng:

“Quá bị trên đầu nhát búa voi,

Kinh luân đâu nữa để khoe mòi.

Xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám,

Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.

Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi,

Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!

Về Tào miệng ngậm như bình kín,

Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi ?”

(Phan Văn Trị)

Lịch sử cận đại đã chứng minh rằng ông Tôn Thọ Tường không phải là người hoàn toàn đánh mất hết lương tri. Ông ra làm việc với Pháp là con đường giúp nước theo cách riêng của ông. Trong thời gian làm quan cho Pháp, ông không có hành động nào làm hại đến dân tộc và đồng bào. Ông làm quan với quyền hành trong tay có thể bắt bớ Phan Văn Trị và những sĩ phu khác chống đối ông, nếu muốn, nhưng ông đã không làm điều đó. Ngược lại khi nhà cách mạng kháng Pháp Bùi Hữu Nghĩa bị Pháp bắt, ông là người đã đứng ra xin ân xá cho Bùi Hữu Nghĩa.

Trải qua tất cả những bài thơ qua lại giữa hai ông, tuy chính nghĩa vẫn thuộc về ông Phan Văn Trị, nhưng người ta vẫn nhận ra được nỗi khổ tâm thành thực của ông Tôn Thọ Tường qua thơ văn của ông. Trong khi Ô.Phan Văn Trị luôn luôn đanh thép và tấn công trực diện vào con người của ông Tôn Thọ Tường, thì ông Tôn Thọ Tường luôn điềm đạm, muốn chia sẻ, trang trải nỗi lòng mình đối với các vấn đề quốc gia mà thôi.

Tuy hai nhà Nho trên hoàn toàn đối ngược về tư tưởng, nhưng tất cả bài thơ của họ trong cuộc bút chiến đó đều để lại cho hậu thế những áng văn tuyệt tác. Mỗi bài thơ dù của ông Tôn Thọ Tường hay Phan Văn Trị đứng riêng rẽ đều mang một sắc thái riêng biệt đặc sắc, ý thơ sắc bén, đanh thép, nhưng lời thơ lại rất mượt mà, đầy điển cố.

Và đó là cái trí thức đáng kính của người xưa!

ThaiNC




LẦN ĐẦU VỀ XỨ MẠ

Hai mốt tuổi, theo Mạ về với Huế
Xứ sở bao năm với mắt quế môi trầm..
Huế từ trên cao, ẩn hiện giữa mù giăng..
Con luôn miệng..Huế mềm mô hở Mạ?

Sóng sánh lệ, tiếng nấc dài..rơi lả chả
Huế mềm tê..răng lạnh lẽo mọi ngã đường!
Vệt uốn dài trắng đục, nớ Dòng Hương..
Con cắt cớ, Huế dú mình…răng kỹ rứa!

Càng xuống thấp..Nước mắt Mạ giàn giụa
Bốn mươi ba năm, xa Huế đến tận chừ..
Huế mơ màng trinh bạch nét hoang sơ
Đương nhấp nháp..cơn gió lùa rét buốt !

Huế ẩn hiện trong sương mờ trắng muốt
Mạ ngậm ngùi..Con liên tục bấm máy quay
Nơi chôn rau cắt rún của Mạ ni..
Huế hiện hữu..hệt tự tình của Mạ!

Mạ quỳ sụp, giữa Thu tàn xao xác lá
Vết lăn trầm viễn xứ..bước tha phương
Chừ khấu đầu trước Tiên Tổ, Cố Hương..
Con cảm nhận..Nỗi lòng Người Xứ Huế!

Đời thênh thang, phận người như chiếc lá
Khi úa vàng..xin được rụng dưới Cội cây!
Mặc ngoài tê, mưa gió lạnh giăng đầy..
Răng ấm áp..khi trong lòng Xứ Mạ!

Về Đại Nội trong Trời mưa tầm tã..
Hai mạ con..phó mặc bước trong mưa
Giọt ngắn giọt dài, như lấn lướt giọt mưa..
Trong thổn thức khi lần về Nguồn Cội!

Đến Kim Luông..chạng vạng mưa giăng lối
Bước chân lạc loài, hiu hắt gió Thu đưa..
Đệ Phủ chong đèn..rêu phong phũ lối xưa
Tay trong tay Mạ..

Chiều Huế Thương..Hai lẻ bảy !




Lá Thu

Theo lẽ tuấn hoàn, năm nào cũng có bốn muà , chuyển dần từ nóng sang lạnh , rồi lại trờ lại từ lạnh sang nóng, có lẽ để dễ dàng thích hợp với những chuyền động đổi thay , tạo hoá đã ban cho ta những khoảng thời gian chen giữa hai thái cực, mà người đời chọn cho hai cái tên Xuân và Thu , rối cũng vì hai cái tên đó mà lòng người cứ mãi vấn vương dao động . nhưng hơn cà, Thu vẫn gieo vào lòng nhân thế những nỗi buồn nhè nhẹ man mác, không  biết từ tiết trời đổi thay, từ những tiếng lá lao sao lay động vào nhau trong cơn gió nhẹ, từ những sắc lá đổi mầu lẫn lộn , cũng có thể lả hình ảnh những chiếc lá khô lìa cành, bay lượn đong đưa trước gió, là người đa sầu đa cảm , làm sao tránh khỏi những rung động cảm xúc, nhũng lần xa cách , biệt ly, những mất mát lại ẩn hiện trở lại trong ánh mắt xa săm thẫn thờ. Lâu lắm rồi, trong những vần cổ thơ, còn nói :

“ Một lá Ngô đồng rơi

Cả thiên hạ biết Thu đến … ”

Quả là hơi quá, chốn trần gian nhộn nhịp , chỉ có những tâm hồn nghệ sĩ

lãng mạn mới dành thì giờ ngắm hoa tươi nhìn lá rụng, hồn lặng đi mà

quên đi chuyện thế sự.

Một lần thơ thẩn ngồi đợi nắng lên bên bờ giòng suối, nhìn những

chiếc lá muôn màu, đuổi rượt nhau miệt mài trên giòng nước quanh

co, lúc trồi lên lúc hụp xuống, tưởng chừng như bị cuón hút mất đi.

Nhưng chợt thấy , bên bờ suốí, cũng có những chiếc lá gặp duyên,

trôi giạt vào bên bờ suối, “Đến bờ kia “ thảnh thơi nằm phơi nắng Thu

xen cùng những tảng đá rêu phong, thoát khỏi trầm luân

Còn trong cõi nhân gian sinh tử vô thường, nếu vượt qua được giòng

đời phiền nào, là đến được chốn thảnh thơi , an nhiên tự tại ./.

***

Thu tịch lữ hoài

“ Tối muà Thu nhớ nhà “ thơ Lý Bạch, cụ Tản Đà dịch

Lạnh lùng gió vượt bể thu,

Hồn quê theo gió như vù vù bay.

Chạy dài dãy núi liền mây,

Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?

Đám mây vút mắt xa chừng,

Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.

Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,

Áo may mặc rét giục người móc sa!

Giấy mơ rơi giải Ngân hà,

Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.

Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,

Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?

Năm nay, 2020 là một năm lắm nỗi đau thương trên cõi trần gian, vốn dĩ đã mang nhiều gian truân nhọc nhằn. Theo ngày tháng, Thu sang đã gần một tháng rồi, trần gian như chưa sẵn sàng đón rước nàng Thu trở lại với chúng ta. Tiết trời chưa hạ giảm cơn nóng nực của muà hè “ lovely summer“ của bà thị trưởng Seattle, vẫn chưa nghe tiếng lá vàng bay lượn lao sao trong từng cơn gió, vẫn chưa thấy lá khô chạy đuổi từng cơn trên hè phố. Hay nàng Thu còn e dè chuyện cảm cúm lăng nhăng, hay quên mang theo khẩu trang, phải trở lại lấy mang theo cho hợp thời trang chốn trần thế.Vượt lên trên, lặng nhìn chuyện thế gian, dọc ngang khó mà phân biệt , đúng sai khó lường, lầm lạc trong chốn thức tình. Mê lầm che khuất nhân tình, tối tăm không biết đường ra lối vào. Tranh cãi chuyện hơn thua nhất thời. Mờ mịt, nổi trôi trong những cảm xúc vô minh. Nhưng rồi cùng với sự chuyển động không ngừng của vũ trụ, mọi chuyện đều phải đổi thay trong từng phút giây, không một điều gì tồn tại mãi mãi trong chốn vô thường.

Ao Thu

Tóc trắng xoã ê chề

Sầu đời dài lê thê

Gương trong mà mù mịt

Sương Thu che lối về

( thơ Lý Bạch )

***




Nhớ người

Nhớ người từ chốn nghìn trùng
Nhớ người tan nát tận cùng thịt da
Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà
Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm
Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm
Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao
Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao
Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh
Nhớ từ thuở rất điêu linh
Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan
Tay trong tay vẫn dịu dàng
Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau
Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau
Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm

NK-TNC