Phương Lan, Tác phẩm MỘT PHIÊN GÁC ĐÊM, giải ba văn VTLV 2015

Link bài ca Lạc Việt.
https://www.facebook.com/Vantholacviet/videos/vb.308245602689534/515868515260574/?type=2&theater

Vedio link ngày trao giải VTLV 2015:
https://www.youtube.com/watch?v=4vsdPFCtoyQ&feature=youtu.be
https://www.youtube.com/watch?v=k0QHUDV-chU&feature=youtu.be

Tác phẩm : “Một phiên gác đêm”

Tác Giả Phương Lan

Quý Ban Tổ Chức kính mến
Tôi rất hoan nghênh việc làm ý nghĩa của VTLV.. Chúc anh và toàn ban VTLV sức khoẻ và thành công.
Tác giả Phương Lan của 35 audio đọc truyện và 7 cuốn sách , do nhà sách Tự Lực ở Orange County – California phát hành: 
1- Tiếng dương cầm ( truyện dài )
2- Còn chờ một kiếp sau
3- Anh mới biết yêu lần đầu
4- Bốn mươi năm cuộc tình
5- Tiếng đàn xưa
6- Lấy chồng xa
7- Nửa đường đứt gánh ( truyện dài sắp phát hành)

—————————————————————–

MỘT PHIÊN GÁC ĐÊM (Giải ba văn)
Truyện của Phương Lan

Đêm đã khuya, đường vắng không một bóng người. Chiếc xe tuần tiễu của cảnh sát chạy chầm chậm quanh thành phố một vòng, rồi đổi hướng đi, dọc theo bờ biển. Không thấy có gì khác lạ, viên cảnh sát dừng lại, cho xe tấp xe vào lề đường và bước xuống đi bộ. Đêm nay ông có nhiệm vụ đi tuần tra an ninh ở khu vực này. Đây là khu bãi sau Vũng Tàu, một vùng biển rất đẹp, bãi cát sạch và nước biển xanh trong. Vào mùa hè, thiên hạ ra đây nghỉ mát đông lắm, nhưng ít ai dám bơi ra xa, vì nơi đây có sóng lớn nguy hiểm. Một lá cờ màu đen vẽ hình sọ người với hai khúc xương chéo nhau, để cảnh báo du khách, thế mà vẫn có những người bất chấp hiểm nguy, cứ liều lĩnh bơi ra thật xa để chơi trò nhảy sóng, hoặc trượt ván nuớc. Đã xảy ra nhiều vụ chết đuối, nên người ta dựng một chòi canh để quan sát, và báo động cho toán cứu cấp trên cái tầu đậu ở ngoài khơi, để kịp thời cứu những người đang bị sóng cuốn. 
Chòi cao độ bốn, năm mét, lên chòi phải dùng thang. Chòi xây trên một cái sàn bằng xi măng chống bởi bốn cái cột cũng bằng xi măng trông vững chắc, nhưng cái chòi lại nhỏ xíu, giống như một túp lều nhỏ, diện tích chưa tới bốn mét vuông, vừa đủ cho một người ngồi thoải mái để nhìn ra xa, dùng ống nhòm quan sát. Chòi có mái che nắng làm bằng tôn, phủ một lớp sơn màu nâu , xung quanh là bốn bức vách gỗ chỉ cao tới ngực, phía trên tứ bề đều để hở. Một trong bốn bức vách để chừa một khoảng trống nhỏ làm cửa ra vào, duới chân cửa là một cái thang bằng sắt có tay vịn, nối liền với mặt đất. Bây giờ đang là mùa đông, không ai đi tắm biển vào thời tiết lạnh như thế này, nên chòi bỏ không. 
Viên cảnh sát nhìn đồng hồ, đã hơn 11 giờ khuya, đang giờ giới nghiêm. Thành phố thời chiến tranh im lìm như thành phố chết, ngoài đường không một bóng người, những bóng điện đường toả ánh sáng vàng vọt càng tăng thêm vẻ thê lương. Xa xa, biển đang gầm thét, sóng lớn ầm ầm xô vào bờ, gió ào ạt đem theo hơi nước càng làm không khí thêm lạnh lẽo. Tay cầm cây đèn pin, ông bước những bước thong thả dọc theo bãi vắng. Ngang qua cái chòi, ông dừng lại, châm một điếu thuốc. Khói thuốc làm ông cảm thấy ấm hơn, ông nhìn bóng mình đổ dài trên bãi cát, rồi lại nhìn ra ngoài khơi. Biển cả mênh mông bây giờ trông giống như một khối đen khổng lồ đang dập dềnh lên xuống, nước triều lên làm mặt biển như bị nâng cao. Thiên nhiên về đêm đầy vẻ bí hiểm và đe dọa.
Ông nghĩ giờ này mà được chui vào chăn ấm thì sướng biết mấy. Rồi ông lại tặc lưỡi nhủ thầm, cũng chỉ còn hơn một tháng nữa là mình sẽ đổi qua làm ca ngày, thôi ráng chịu khó thêm một thời gian ngắn nữa. Ở đồn cảnh sát này, người ta chia phiên làm đêm, mỗi người phải làm ca đêm hai tháng, sau đó đến lượt người khác. 
Năm nay, thời tiết mùa đông có vẻ khắc nghiệt hơn mọi năm. Ông quấn lại cái khăn quàng cổ cho bớt lạnh, thì bỗng nghe có tiếng trẻ khóc, tiếng khóc yếu ớt nghe như tiếng mèo kêu, chỉ vài giây rồi im bặt. Thoạt đầu ông cứ tưởng mình nghe lầm, có lẽ chỉ là tiếng gió. Nghe ngóng một hồi, không thấy động tĩnh gì thêm, ông rụi tắt điếu thuốc rồi lại tiếp tục nhiệm vụ tuần tra. Nhưng khi ông vừa dợm cất bước thì tiếng khóc lại cất lên, lần này rõ hơn, đó là tiếng khóc của một đứa bé sơ sanh chừng vài tháng tuổi. Ông nhìn quanh quất, không thấy ai cả, ông rợn người nghĩ đến chuyện ma quỉ.
– Hừ, có lẽ nào…
Như để trả lời, tiếng khóc lại vang lên ngằn ngặt, xen lẫn trong tiếng khóc là những tiếng nói ngắt quãng như xoa dịu, hay dỗ dành chẳng biết, nhưng rõ ràng là tiếng người. Ông định hướng và thấy những tiếng động đó phát ra từ phía cái chòi canh. Vội vàng đề cao cảnh giác, ông đặt tay lên báng súng, thận trọng bước tới. Khi còn cách cái chòi chừng vài thước, ông dừng lại quan sát. Chòi cao ngang cột điện, nên ánh đèn soi vào bên trong, cái chòi cũng sáng như có đèn. Ông nhìn thấy rõ có người đang ngồi gần cửa. Theo thói quen nghề nghiệp, ông lùi lại mấy bước, cất tiếng hô dõng dạc, ra lệnh:
– Cảnh sát đây! Những người ở trên đó hãy xuống hết! 
Không có tiếng trả lời, cả tiếng trẻ khóc cũng im bặt dường như đang bị bịt miệng. Chờ thêm vài phút vẫn không thấy động tĩnh, ông dùng cán cây đèn bấm gõ mạnh vào cái thang sắt, nói lớn hơn:
– Tôi lập lại, đây là cảnh sát! Ra lệnh những người trên chòi phải xuống hết, nếu không tôi sẽ bắn. 
– Ấy chớ, đừng bắn! Tôi xuống ngay đây, ông cảnh sát. 
Tiếng một người phụ nữ kêu lên hốt hoảng. Tiếp theo là những tiếng khua động lịch kịch, và từ trên khung cửa, một người đàn bà xuất hiện, một tay bế đứa bé, tay kia vịn thang, run rẩy leo xuống. Ông sửng sốt nhận ra đó là một cô gái rất trẻ, chỉ chừng 17, 18 tuổi, trên khuôn mặt hốc hác, đôi mắt mệt mỏi vì thiếu ngủ đang mở to đầy vẻ sợ hãi. Cô ta mặc một cái áo lính đã cũ và bẩn thỉu, chân đi đôi dép nhựa, dáng nghèo khổ, lam lũ nhưng không có vẻ bất lương. Xuống tới mặt đất, cô ta ôm vội ôm chặt đứa bé vào lòng để che cho nó khỏi lạnh. Ông hỏi:
– Trên kia còn ai nữa không? 
Bấy giờ cô ta mới ngẩng lên, thấy trước mặt mình là viên cảnh sát già, tóc bạc hoa dâm, trông có vẻ hiền lành, cô yên tâm và giọng đã hết run:
– Dạ không! Chỉ có mình cháu và đứa bé. 
– Để tôi kiểm chứng lại đã. 
Ông nói và leo lên thang, tới lưng chừng, ông bật đèn pin, lia chùm ánh sáng rà một vòng khắp căn chòi nhỏ để kiểm soát. Không thấy có dấu hiệu gì khả nghi, ông đi xuống và dịu giọng hỏi:
– Con ai thế? không phải cô bắt cóc nó để đòi tiền chuộc đấy chứ? 
– Dạ cháu đâu dám. Đứa bé này là con của cháu.
– Có gì chứng minh không?
– Cháu sẽ cho nó bú, chắc nó cũng đang đói.
Vừa nói, cô ta vừa vạch áo sửa soạn cho con bú. Ông vội vã xua tay:
– Thôi khỏi, để lát nữa đi, tôi tin cô. Bây giờ cho tôi coi thẻ kiểm tra. 
– Thưa ông cảnh sát, cháu mới 17, chưa đến tuổi lấy thẻ kiểm tra. 
Nhìn khuôn mặt non choẹt của đứa con gái, ông cau mày thở dài:
– Hừm! mới 17 tuổi mà đã bụi đời, bỏ nhà đi hoang? 
– Thưa ông, cháu đâu có bỏ nhà đi…
– Nếu vậy tại sao cô lại ở đây giờ này? Cô có gia đình không? nhà cửa, cha mẹ cô đâu? 
Cô gái cúi đầu buồn bã, ngần ngại một hồi, rồi mới bắt đầu kể:
– Má cháu mất rồi, cháu ở với cha và mẹ ghẻ. Ba cháu làm nghề đi biển, lâu lâu mới về nhà, ỏng chẳng bao giờ để ý đến cháu, phó mặc cháu cho mẹ kế muốn đối xử với cháu ra sao cũng kệ. Cháu học hết tiểu học thì phải ở nhà giữ em và làm việc nhà cho mẹ ghẻ cháu rảnh rang đi đánh bài. Cách đây mấy tháng, ba cháu bị tai nạn, hôm đó bão lớn lắm, ghe đánh cá của ba cháu bị lật, ba cháu bị sóng cuốn đi mất tích. Mẹ ghẻ cháu nói vận đen là tại cháu, bà không muốn chứa đứa con gái chửa hoang ở trong nhà xui xẻo, nên đuổi cháu đi…
– Thì ra là vậy, thế cô không có chồng à? 
Cô gái cúi mặt dấu vẻ xấu hổ, ngượng ngùng, một lúc mới lí nhí nói:
– Cháu có bạn trai, tụi cháu thương nhau, nhưng không có tiền làm đám cưới. 
– Cha đứa nhỏ đâu rồi? anh ta phải có trách nhiệm chứ? 
– Anh ấy thương cháu lắm, nhưng chưa có điều kiện đem cháu theo. Anh Bình là lính, đang đi hành quân. 
– Cơ khổ, chưa có điều kiện lập gia đình mà lại để cho có con, tệ quá. Thế gia đình anh ta có biết việc này không? họ khoanh tay làm ngơ à? 
– Anh Bình mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thuở nhỏ, anh sống trong viện mồ côi, lớn lên đi lính nhảy dù, bây giờ là hạ sĩ nhất. Bình không có bà con thân thuộc nào hết."
Viên cảnh sát thấy lòng se lại, cô gái này lâm vào đường cùng rồi, không biết nên giúp cô ta bằng cách nào? Nghĩ ngợi một hồi, ông thở dài:
– Tội cho cô quá, nhưng cô không thể ở đây được. Tôi sẽ đưa cô vào viện tế bần, ở đó họ nuôi cơm, và có chỗ trú cho hai mẹ con.
– Lậy ông đừng làm vậy, cháu chết mất.
– Sao thế? vì lẽ gì cô không muốn vào đó? Cho dù viện tế bần chẳng phải là một nơi sung sướng, thoải mái, nhưng ít nhất cô cũng có cơm ăn, và không phải ở ngoài trời những đêm lạnh như thế này. 
– Cháu còn tiền ăn. Trước khi theo đơn vị đi hành quân, Bình cho cháu một số tiền, và hẹn tết này về phép sẽ lo cho mẹ con cháu. Từ giờ đến tết cũng chỉ còn chưa tới một tháng nữa… 
Thấy ông làm thinh, cô năn nỉ:
– Tiền anh ấy cho, cháu nhín nhút cũng còn lại chút ít, nhưng không đủ để mướn nhà. Xin ông cho cháu ở tạm đây ban đêm thôi, ban ngày cháu sẽ làm bất cứ việc gì người ta mướn để kiếm tiền nu&ocirc
;i con, trong khi chờ ba nó về. 
– Nhưng ở đây lạnh lắm, cô và đứa bé sẽ bị ốm mất. 
– Đỡ hơn là ở ngoài trời, vì dù sao mẹ con cháu cũng có được cái mái che, và bốn bức vách tuy thấp nhưng cũng chắn gió được phần nào, nếu nằm ngay xuống sàn. "
Ông cau mày, hoàn cảnh cô gái này đáng thương quá, nhưng ông không thể làm sai nguyên tắc. Buồn bã, ông lắc đầu:
– Không được đâu, đây không phải là chỗ trú cho những người vô gia cư. Địa điểm này thuộc khu vực an ninh do tôi phụ trách, nếu có ai báo cáo có người ở lậu nơi đây, thì tôi sẽ bị khiển trách vì không làm tròn nhiệm vụ. 
Cô ta oà lên khóc:
– Cháu không muốn ông bị rắc rối, nhưng quả thật cháu không biết phải làm thế nào… Bình không biết là cha cháu mới chết, và cháu bị đuổi ra khỏi nhà. Nếu cháu bị bắt vô viện tế bần thì anh ấy làm sao kiếm được cháu? Bình hẹn khi về phép sẽ tới đây tìm mẹ con cháu, vì truớc kia tụi cháu vẫn hẹn hò ở chỗ này. Ngày nào cháu cũng bồng con ra đây chờ… 
Viên cảnh sát chợt thấy tim xao động, ông nhìn người mẹ trẻ đang ôm con đứng co ro trong gió lạnh, với vẻ thương cảm. Ông bối rối không biết phải hành động như thế nào? Hơn ba mươi năm tận tụy trong nghề cảnh sát, ông được tiếng là một người có tinh thần trách nhiệm, làm việc đúng nguyên tắc. Chưa bao giờ ông gặp một trường hợp khó xử như lần này. Đúng lý ra thì ông phải đưa cô ta về bót, và chắc chắn cô ả sẽ bị tống vào viện tế bần cùng chung với đủ mọi hạng người cặn bã của xã hội: những tên lưu manh, du thủ du thực, những gái điếm ăn sương, những tên ghiền ma tuý, lưu manh, bụi đời… Viện tế bần tiếng là trạm cứu tế, nhưng thật sự chỉ là một trại giam lỏng, điều kiện sinh sống rất tồi tệ, luật lệ lại khắt khe nên chẳng ai muốn vô, những người vô gia cư vẫn thích ở bên ngoài, cho dù có bị đói khát. Làm vậy thì ông không nỡ, nhưng nếu làm ngơ cho cô ta ở trong cái chòi này là bất hợp pháp. 
Ông thừ người suy nghĩ, giữa lương tâm và chức nghiệp, ông không biết phải nghe theo bên nào. Cô gái này có vẻ lương thiện và ngây thơ rất đáng thương, cô ta chỉ có một hoài bão nhỏ là đợi người tình về, anh ta sẽ có kế hoạch để lo cho mẹ con cô. Một mối tình nghèo thật cảm động, và những lời van xin của cô làm ông mủi lòng, nên ông cứ đứng đó mà suy nghĩ, đắn đo cân nhắc mãi. Sau cùng lòng trắc ẩn đã thắng, ông nghĩ thầm cũng chỉ còn hơn ba tuần nữa, thôi thì hãy cho cô ta một cơ hội, biết đâu… Còn việc làm sai nguyên tắc, ta sẽ giải thích với cấp trên sau. Đứng thẳng người lên, ông nói:
– Thôi được, tôi sẽ lờ đi cho cô, cô có thể ở đây cho tới hết ngày mùng 3 Tết. Đó là tất cả những gì tôi có thể giúp cô trong quyền hạn của tôi, sau đó tôi sẽ không nhân nhượng với cô nữa.
– Cháu cũng chỉ xin có thế, cám ơn ông ngàn lần. 
Vừa nói cô ta vừa quì xuống, chắp tay lạy như tế sao. Ông bất nhẫn quay đi, nói:
– Đứng lên đi! đừng làm thế. Cô có thể ở tạm lúc ban đêm, nhưng ban ngày cô phải rời khỏi đây trước khi trời sáng, kẻo mọi người qua lại sẽ thấy. 
– Dạ! cháu hứa sẽ ra đi thật sớm, cháu cũng giữ sạch sẽ, không xả rác và không để lại dấu vết gì, ông yên tâm. 
– Thôi bây giờ hai mẹ con lên chòi đi nghỉ đi. 
Nghĩ ngợi làm sao, ông cởi cái khăn len trên cổ, đưa cho cô ta:
– Ở đây gió máy, cô hãy dùng tạm cái khăn quàng của tôi quấn cho cháu bé, đừng để nó bị lạnh. 
Rồi ông ra xe, lái tới một khách sạn đang xây cất ở gần đó, đi vòng ra phía sau, chỗ người ta để những vật liệu phế thải, ông tìm được mấy miếng giấy carton lớn. Quay trở lại cái chòi, ông đưa cho cô gái:
– Cô lấy mấy tấm bìa cứng này, che lên chỗ trống để chắn gió. Nhớ dẹp đi khi trời sáng, đừng để người ta thấy. 
Đứa bé bỗng ré lên khóc làm ông giật mình, nghĩ ngợi một lúc, ông lục trong túi áo, lấy hết số tiền lẻ đưa cho cô ta:
– Cầm đi, mai mua sữa cho đứa nhỏ, đừng để nó đói tội nghiệp. 
Nói xong, không cần nghe cô ta cám ơn, ông bỏ đi, lòng nửa vui, nửa buồn nhưng nhẹ nhàng thanh thản vô cùng. Từ đó, mỗi khi đi tuần ở khu vực này lúc ban đêm, ông vẫn nhìn thấy bóng hai mẹ con người đàn bà khốn khổ trong cái chòi bỏ hoang.

* * *

Một tuần trước tết nguyên đán, viên cảnh sát được nghỉ phép, ông đưa cả gia đình về quê vợ ở Bạc Liêu để ăn tết. Khi trở lại, ông không thấy hai mẹ con họ đâu nữa, căn chòi bỏ trống, mọi vật vẫn y như cũ. Cô ta đã giữ lời hứa, ra đi không một lời từ giã. Ông băn khoăn không biết số phận hai mẹ con họ ra sao? trôi nổi về đâu? Ông bồi hồi thương cảm một lúc rồi quay bước, ông phải tiếp tục nhiệm vụ.
Thời gian qua, mọi việc chìm vào quên lãng, cho tới ba tháng sau, ông nhận được một bức thư gởi về ty cảnh sát Vũng Tàu, một bức thư rất đặc biệt, không có tên người nhận, ngoài phong bì chỉ đề có dòng chữ " Gởi người cảnh sát tuần tiễu khu bãi sau trong khoảng thời gian trước Tết." gởi về ty cảnh sát Vũng Tàu, vậy mà cũng tới tay ông. Tò mò, ông mở phong bì, một lá thơ rơi ra:

"Trại gia binh Long Bình ngày..tháng.. năm 1969
Thưa ông cảnh sát 
Cháu rất ân hận đã sơ ý không hỏi để biết tên ông, ân nhân của gia đình cháu. Chắc ông còn nhớ người thiếu phụ trẻ với đứa con nhỏ ông gặp trong cái chòi hoang ở bãi sau Vũng Tàu, cách đây vài tháng? chính là cháu đó. Nhờ lòng nhân của ông, mẹ con cháu đã sống sót qua mùa đông. Chồng cháu đã về kịp lúc để lo cho mẹ con cháu. Anh Bình đã xin được một căn nhà ở trong trại gia binh và đón mẹ con cháu về, căn nhà tuy nhỏ nhưng rất ấm cúng.
Trước khi rời khỏi nơi đây, vợ chồng cháu có đi tìm ông để từ giã, nhưng không được gặp, cầu mong thư này sẽ tới được tay ông, để ông được biết một tin vui về hai mẹ con cháu. Anh Bình và cháu mới làm hôn thú, và khai sanh cho đứa nhỏ. Bây giờ cuộc sống của vợ chồng cháu đã tạm thời ổn định, Bình có lương hạ sĩ, được thêm tiền trợ cấp vợ con, còn cháu buôn bán lặt vặt phụ thêm, nên cũng đủ sống. Gia đình cháu có được ngày nay, một phần cũng là nhờ ông đã cho cháu một cơ hội. 
Cháu rất mong được gặp lại ông, một người cảnh sát rất nhân từ, tốt bụng. Khi nào có dịp đi ngang qua trại gia binh ở dưới chân đồi Long Bình, cách Biên Hoà chừng một cây số, xin mời ông ghé chơi, nhà chúng cháu ở dãy H, nhà số 32, cho vợ chồng cháu được nói một lời tri ân. Cầu xin Phật trời phù hộ cho ông và gia đình ông được mọi điều tốt lành.
Kính thư
Nguyễn Thị Nhiên và chồng là Đỗ An Bình"
Đọc xong lá thư, viên cảnh sát mỉm cười cảm động, không ngờ hành một vi nhân đạo nhỏ nhoi, không đáng gì lại có thể cứu vãn cuộc tình của hai người trẻ tuổi đáng thương. Ông nhủ thầm, bây giờ ta có thể yên tâm về họ, nhưng còn ta, danh dự của một người cảnh sát không cho phép ta nói dối, không thể cứ dấu nhẹm mãi chuyện này. Bổn phận của ta là phải báo cáo hết sự thật, rồi tới đâu thì tới, cho dù có bị khiển trách hay bị hình phạt nào chăng nữa, ta vẫn không buồn vì đã làm được một việc đúng với lương tâm. Nghĩ vậy, ông mạnh dạn cầm lá thư tới sở cảnh sát, xin gặp ông trưởng phòng. Chậm rãi ông kể lại hết sự việc, nghe xong, ông trưởng phòng tên Hoà cười ha hả, vỗ vai bạn mà rằng:
– Nếu cậu cứ lờ đi không nói thì cũng chẳng ai biết, nhưng mà cậu đã tự ý khai ra… Hà hà! cũng tốt thôi, nhưng đã biết cậu vi phạm nội qui, thì tôi không thể không phạt cậu. Vì tinh thần tự giác, có thể cậu sẽ được hưởng trường hợp giảm khinh nếu báo cáo đúng hạn, đàng này để tới bây giờ là quá trễ. Tôi phạt cậu phải gác đêm hai tuần liền, bắt đầu từ thứ hai tới, thế cho một viên cảnh sát được nghỉ phép vì vợ đẻ. Thế nào? có kêu ca oan ức gì không? 
Ông lắc đầu, cười ngượng nghịu:
– Nếu đem lên bàn cân, thì hai tuần lễ phạt chắc chắn sẽ nhẹ hơn cái lá thư này nhiều. 
– Tôi cũng nghĩ thế. 
Cả hai cùng cười xoà, họ bắt tay nhau từ giã. Rời khỏi văn phòng, ông bước những bước nhẹ tênh trên hè phố. Ông phóng tầm mắt nhìn ra xa xa, cảnh vật hôm nay sao đẹp quá, chim chóc ca hót ríu rít, gió xôn xao và hoa cỏ dường như xanh tươi hơn mọi ngày. Mùa xuân đã về trên khắp nơi, thành phố biển dường như sinh động hẳn lên với những tiếng sóng rạt rào từ ngoài khơi xô vào bờ tung bọt trắng xoá, tiếng sóng nghe như tiếng reo vui, hay lòng ông đang vui? Ông nghĩ về đôi vợ chồng trẻ nọ, về cái gia đình nhỏ bé của họ và mỉm cười, thấy lòng ấm áp lạ thường.

PHƯƠNG LAN




ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ

ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ   

                                                                                           
 
                                                                             Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
 
     Hoàng đến. Hắn vừa liệng tờ báo Mercury tiếng Việt xuống bàn truớc mặt bạn bè vừa lớn tếng đùa dỡn:
 
–   Tin nóng hổi! Tin nóng hổi đây!
 
     Thế là bọn chúng tôi ba đứa đã đủ mặt. Tuần nào cũng vậy, chúng tôi gặp nhau vào cuối tuần để hàn huyên và tán gẫu cho vui. Có thể nói cuộc gặp gỡ hàng tuần như thế này đã trở thành nếp sống riêng của cả ba. Nếp sống này hình thành từ ngày chúng tôi rời khỏi quân trường, trước kia thì những lúc rảnh rỗi, còn bây giờ thì vào mỗi cuối tuần. Cả ba chúng tôi tốt nghiệp cùng một khoá, phục vụ tại cùng một đơn vị, đóng quân tại một vùng trong suốt thời gian 6 năm lính. Cuộc đời vào sinh ra tử đã nối kết chúng tôi lại như một gia đình. Trừ ra quãng thời gian đi tù, sang Mỹ cả ba lại cùng gặp lại và chung sống với nhau trong cùng một thành phố, nên chuyện gắn bó với nhau là điều tất nhiên. Vì thế chúng tôi tự đặt cho mình cái tên là Ba-chàng-ngự-lâm-pháo-thủ theo tên của cuốm phim Les Trois Mousquetaires coi hồi còn là học trò. Đó có lẽ là một định mệnh. Chỉ cần một ly cà phê, một lon nước ngọt, hay một chai la de là đủ để buổi họp bạn kéo dài cho đến khuya. Đủ mọi chuyện để nói: chuyện đời học trò, chuyện trong đơn vị, những mẩu chuyện tình vụn vặt, cả những chuyện thời sự cũng được đem ra trao đổi.   
 
      Bạn bè đã quen tính láu lỉnh của Hoàng xưa nay nên chẳng bao giờ coi điều hắn đùa dỡn là quan trọng, chẳng cần biết tin nóng hổi mà Hoàng muốn loan báo là tin gì, cứ tưởng Hoàng méo mó cái nghề thông tín viên ngày xưa của hắn, một dạo làm cho hãng AP (Associated Press) trước khi nhập ngũ. Theo Hoàng kể, vì hắn có tài chỗ nào chui cũng lọt nên anh chàng Esper văn phòng trưởng của AP sai chạy có cờ. Đó là đặc điểm của nghề làm báo của Hoàng. Chuyện xào tin và phịa tin của bọn báo chí ngoại quốc là chuyện cơm bữa. Đôi khi chính Hoàng cũng phải tham gia vào. Sang Mỹ thỉnh thoảng Hoàng tỏ ý mơ ước được trở lại cái nghề tối ngày chạy rông này. Tôi cứ tưởng Hoàng xạo chuyện như mọi lần nên đùa lại để chế diễu:
 
–   Thì ra ông thầy trở lại nghề làm báo mà tôi không hay. Báo đời hay báo hại đây? Mà từ hồi nào vậy?
 
     Thằng bạn khác là Sơn nóng tính chẳng cần biết ất giáp gì, tiện thể phang liền:
 
– Làm báo nào chứ làm cho bọn Mẹc-Cu thì xin phép tao chê. Ở trong nước bọn báo chí phải làm văn nô cho đảng chả nói làm gì. Ở cái xứ tự do này mà đi làm văn nô cho tụi báo chí bất lương để kiếm miếng ăn thì chó má lắm. Thằng tỵ nạn như mình thà đi rửa nhà cầu mà sống còn hơn chui đầu vô làm cái nghề điếm nhục đó.
 
     Hồi còn ở lính, Sơn ghét cay ghét đắng bọn báo chí phản chiến, nhất là bọn nhà báo Mỹ lúc đó. Từ ngày sang Mỹ, cái ấn tượng này càng đè nặng hơn trên người Sơn. Nói đến bất cứ tờ báo nào của tập đoàn tư bản truyền thông Do Thái Knight Ridder là Sơn muốn nổi sùng ngay. Thấy Hoàng đi vào cầm theo tờ Việt Mercury là Sơn muốn điên lên rồi. Thấy câu chuyện bỗng đâu trở nên gay gắt một cách vô lý, Hoàng cụt hứng, nghệt mặt ra một lúc rồi mới lên tiếng phân trần:
 
– Đừng nóng! Các ông đừng nóng! Các ông lạc đề hết rồi. Thằng này có làm báo làm bổ gì đâu. Có cái tin ngộ ngộ trên báo muốn cho các ông biết chơi thôi.
 
     Hoàng vừa nói vừa cầm tờ báo lên, lật qua lật lại rồi banh ra trước mặt các bạn:
 
–   Các ông thử nhìn kỹ xem ai đây? Có quen không?
 
     Sơn không thèm ngó trong khi tôi dán mắt vào tấm hình đen trắng một đàn ông và một đàn bà trên một phần tư trang báo ở góc trái trang 2. Tôi bỗng kêu lên sửng sốt:
 
–   Thằng Tư Lù tụi bay ơi!
 
–   Đúng rồi, thằng Tư Lù. Mày hãy còn nhận ra nó. Khá đấy.  – Hoàng xác nhận.
 
     Tình hình xem ra đã bớt căng thẳng. Hoàng quay sang nói với Sơn:
 
–   Mày đừng nóng, coi thử đi.
 
     Sơn vẫn chưa hết hậm hực:
 
–   Ừ thì thằng Tư Lù, nhưng rồi làm sao?
 
     Nói thế chứ Sơn cũng phải lấy tay banh tờ báo và dán mắt vào tấm hình. Phải nói là cả bọn tôi đứa nào cũng hết sức ngạc nhiên. Không khí căn phòng trở lại thân mật như bình thường và chuyện trò bỗng sôi nổi hẳn lên:   
 
–   Sao lại là thằng Tư Lù được nhỉ?
 
–   Có cả con chằng lửa nữa. 
 
–   Không, tên con mẹ là Thu Đạm.
 
–   Cũng không đúng, phải nói là đồng chí Tư Lù và đồng chí Con Đĩ Ngựa mới phải.
 
–   Rõ ràng là thằng Tư Lù, mà sao lại thành Nguyễn Tạ?
 
–   Còn là thủ tướng mới rùng rợn nữa chớ.
 
– Tư Lù thành ra Nguyễn Tạ thì có sao, nhưng nó làm thủ tướng thì nghe chuế quá.
 
     Cả ba đứa tôi đều ngạc nhiên trước sự kiện thằng Tư Lù ngày nào, bây giờ trở thành ông thủ tướng Nguyễn Tạ. Không sao giải thích được. Chuyện sâu bọ làm người chỉ xẩy ra ở những xứ mọi rợ thôi chứ không bao giờ có trong các xã hội văn minh như cái nước Mỹ này. Dưới chế độ đồ tể Hồ Chí Minh thì chuyện gì cũng có thể xẩy ra được. Chúng tôi đành phải đi đến kết luận như thế. Hồ Chí Minh làm bồi tầu, Đỗ Mười thiến heo, cạp rằng đồn điền cao xu Lê Đức Anh đều là những thứ sâu bọ làm người cả. Dưới chế độ mọi rợ này, một con người mà tên tuổi bị lem luốc thì nó chỉ việc thay đổi một cái tên khác thôi là xong rồi. Xã hội coi như thằng người có cái tên ngày trước đã chết. Người mình thường nói: chó chết hết chuyện là thế. Vì thế người ta mới thấy bọn cán bộ thay tên đổi họ như thay áo mỗi ngày. Từ thằng to đầu cho đến lũ cán nhí bên dưới, không đứa nào là không mang ít nhất hai, ba tên. Thằng Hồ có đến hàng chục cái tên. Bốn thằng anh em nhà họ Đinh cùng một lỗ chui ra nhưng rồi bốn thằng mang bốn họ khác nhau. Dưới cái chế độ côn đồ này, giết người còn chưa phải là chuyện lớn thì việc thay tên đổi họ thì nào có nhằm nhò gì. Kinh điển Marx dậy: cứu cánh biện minh cho phương tiện không tấy sao!
 
     Thằng Tư Lù ngày nào, bây giờ biến thành thủ tướng Nguyễn Tạ, dưới bầu trời cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vietnam không phải là chuyện lạ. Chuyện lạ là một tên du thủ du thực biến thành ông thủ tướng. Thế mới biết chánh sách đổi mới của nhà nước CS Việt Nam nó thần sầu quỉ khốc tới múc nào. Tư Lù, một con người mà mấy bà bạn hàng ngoài chợ thường gọi là thằng Tư, sống lang thang chui rúc trong một cái xó chợ nhỏ nhà quê hẻo lánh gọi là chợ Chọi, chỉ là một tên vô lại. Nhưng kể từ ngày bọn VC nhẩy lên cướp chính quyền, Tư Lù được mang tước hiệu là “đồng chí”, bỗng dưng trở nên sáng chói và uy danh khắp miền Lục Tỉnh. Hiện tượng đó các nhà sử học sau này biết đâu sẽ chẳng đặt ngang hàng huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương trong cổ sử nước ta.
 
     Về địa danh có tên là chợ Chọi, đó là một khu đất trống người ta họp để buôn bán mỗi buổi sáng sớm lúc gà chưa cõng con đi đái. Chợ họp chừng bốn năm tiếng đồng hồ là tan rồi. Nó nằm ngay mé sông, cạnh một thị trấn nhỏ gần Ngã Ba Ống Quần (xin đừng lộn với địa danh cũng có tên là Ngã Ba Ống Quần trong tác phẩm Vàng Và Máu của nhà văn Nguyên Vũ). Khu thị tứ này mấy bà nhà quê đã đo đạc tỉ mỉ, tính toán tường tận và qui ra chỉ lớn bằng một cái giạng đái của mấy bà. Ngày xưa, nơi đây không phải là cái chợ, mà là một khu đồng trống, bên cạnh một ngã ba sông. Trên bờ con sông lớn có một cái đồn Tây. Cách đó khoảng vài trăm thước là mấy túp lều tranh trá hình bán buôn giải khát, nhưng kỳ thực là nơi tiếp khách tây của chị em làng chọi. Vì thế khu chợ mọc lên sau này dân địa phương quen thói nôm na gọi là chợ Chọi. Nơi đây có thể nói là địa linh nhơn kiệt, đã sản sinh ra nhiều tay yêng hùng hảo hớn, những tay anh chị của đủ mọi thời đại. Chuyện kể về những bậc yêng hùng này có khi chỉ được truyền tụng giới hạn trong nền văn chương truyền khẩu tại địa phương, chẳng hạn đồng chí Tư Lù (khi chưa trở thành thủ tướng) như đang nói đây thì cứ tính từ chợ Chọi có đường bán kính vài chục dặm, bảo đảm từ già tới trẻ không ai là không biết. Nhưng cũng có chuyện được ghi chép lại trong nền văn chương được gọi là bác học của nước ta. Chẳng hạn như câu chuyện về nhân vật quen gọi là Bác Cáo thì cả nước ai cũng biết.
 
     Bác Cáo vốn là một tay anh chị nổi tiếng. Hắn sinh ra trong một gia đình nghe đâu là khoa bảng ở ngoài Trung. Người ta đồn ông bố thân sinh ra Cáo đã đậu tới thám hoa bảng nhỡn gì đó, rồi ra làm quan cho triều đình tại đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Được ít lâu, đất Nam Kỳ trở thành thuộc địa của tây mũi lõ. Ông bố Cáo trở thành ông quan ta thuộc địa, cai trị dân bản xứ ở mãi tận miệt Năm Căn Cái Nước. Ông quan ta thuộc địa này ăn phải bả tây nên nhiễm được hai cái tật rất tây là uống rượu tây như dân Năm Căn uống nước sông Hậu, và uấn dân ta như tây mũi lõ ngày xưa uấn nô lệ Phi Châu. Một hôm có một nông dân đến gãi đầu gãi tai xin quan giảm thuế vì mùa màng thất bát, lại vợ đau con ốm. Người này đến thật không phải lúc, làm mất hứng quan đang nhậu. Quan liền nọc anh nông dân ra đánh đòn. Đang lúc hơi men chếnh choáng, quan xuống tay quá mạnh chẳng may làm chết người. Thế là quan bị triều đình cách chức. Trước cảnh nhà sa sút, Cáo phải bỏ học, phiêu bạt giang hồ về mãi tận khu chợ Chọi này để lăn lộn kiếm sống. Lúc đó Cáo còn trẻ nên rất xốc vác. Hắn làm đủ nghề: cu ly có, bồi bàn có, đôi khi còn dắt mối tây cho chị em ta từ Cầu Hàn Chợ Lớn về đến chợ Chọi. Ông bố Cáo vì buồn phiền nên đâm ra nát rượu. Ngày nào cũng sáng xỉn chiều say. Chỉ vài năm sau ông bị thối gan mà chết. Cáo trở về thì ông bố đã ngỏm từ bao giờ. Thời gian bôn ba quá cực khổ làm Cáo gầy rộc đi, đen sậm lại, không còn cái dáng vẻ cậu ấm con quan ngày xưa nữa. Sống ở khu chợ Chọi, Cáo mới tròm trèm năm chục mà râu tóc đã bạc phơ. Có người gọi Cáo là cụ, kẻ kêu là bác để tỏ lòng kính trọng, vì dù sao hắn cũng thuộc giòng dõi nhà quan, lại có được cái dáng dấp tiên phong đạo cốt bên ngoài. Người ta vẫn thường nói ở xứ mù thằng chột làm vua. Ở cái chợ nhà quê này chẳng mấy ai có chữ nghĩa, nên Cáo đương nhiên được kể là người có ăn học. Hắn chễm chệ lên ngôi hương thân, và có chút vai vế trong khu vực. Thực ra ngoài mớ tiếng tây Cáo học được ở trường thuộc địa hồi còn bé, mớ kiến thức tả pín lù của hắn chỉ là do lăn lộn trường đời nhiều nên dễ nói phét khiến nhiều người nể nang hắn. Được chút nể vì của người đời, Cáo lên mặt ta đây, tự xưng là Bác với mọi người, bất kể lớn bé già trẻ. Cáo nối nghiệp ông bố được thói nát rượi và hút sách. Nhưng cũng còn được cái là hắn chỉ uống và hút lén lút một mình ở trong nhà. Ra đường Cáo cố giữ vẻ trang nghiêm và mực thước của bậc tôn trưởng. Đặc biệt Cáo đã tiêm nhiễm được ở đâu cái thói cầm nhầm. Để tỏ ra ta đây là người có ăn học, hắn thường đánh tráo thơ văn của người khác nhận làm của mình. Tệ hơn nữa hắn còn cầm nhầm cả vợ bạn. Nhiều người nói Cáo còn là một tên giết người. Hắn ăn vụng biết chùi mép, giết người, cướp vợ bạn, hay làm những hành vi bỉ ổi khác nhưng đều che dấu rất tài tình. Ai nấy đều e dè Cáo, nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười vồn vã với hắn vì sợ có chuyện gì lại liên lụy vào thân.
 
     Cáo xứng đáng là bậc tiền bối của đám hậu sinh như Tư Lù. Hai nhân vật này giống nhau ở một điểm là do thời thế tạo nên. Những điểm khác nhau chẳng hạn về thân thế thì có nhiều. Tư Lù không xuất thân nhà quan. Nghe đồn nó sanh ra từ mấy quán nước gần đồn Tây, và trưởng thành ở cái chợ Chọi này. Nửa chữ cắn đôi cũng không biết, nhưng nhờ “kách mệnh”, nó bỗng dưng trở thành một nhân vật được nể vì. Nhiều người cho Tư Lù là thứ sanh phùng thời. Cũng đúng. 
 
     Người ta sinh ra ở đời, ai cũng đều sống có nhà, chết có mồ. Nghĩa là còn sống thì có gốc gác gia đình, dòng họ. Chết đi để lại mồ mả để con cháu nhớ ngày cúng giỗ. Riêng đồng chí Tư Lù, cái khoản gia thế chỉ là con số không. Từ khi được “kách mệnh” giác ngộ và dậy dỗ, nó thường tỏ ra tự hào có tổ tiên là giống khỉ. Hậu duệ của nhà khỉ này trước kia ban ngày sống lang thang chung quang khu chợ Chọi. Đêm đến thì bất kỳ đâu cũng là nhà. Nhà nó có thể là cái chái miếu thờ Thổ Thần trong xóm. Cũng có thể là cái phản thịt của chú Ba Xệ ngoài chợ, hoặc cái sạp của mụ Bẩy Mướp bán bún nước lèo dưới mé sông. Tư Lù sống nửa cuộc đời vô gia cư, vô gia đình, vô bà con dòng họ. Thậm chí đến cái tên cúng cơm cũng vô luôn. Nó không có lấy một thứ giấy tờ gì lận lưng, nên không biết ngày sanh tháng đẻ, không biết cha mẹ là ai. Quê quán thật sự ở đâu nó cũng mù tịt.
 
     Từ ngày giặc cờ đỏ tràn về, Tư Lù bỗng dưng được coi là người có công với cách mạng. Chuyện cũng chỉ là tình cờ, nhưng đã có ông thầy bói mù ở chợ Chọi bốc quẻ nói tiên tri rằng nó là một thằng Xuân Tóc Đỏ thời đại. Trong lúc mọi người chạy giặc, cả đồn cảnh sát, chi khu và căn cứ lính tráng đã rút về tỉnh hết, một mình nó say xỉn, lượm đâu được lá cờ nửa xanh nửa đỏ, vừa đi vừa phất, miệng hát ngêu ngao. VC thấy nó cho  là dân chúng cử đại diện ra nghênh đón quân giải phóng. Nó ở thế chẳng đặng đừng nên tình nguyện hướng dẫn bọn bộ đội tiến vào quận lỵ đã bỏ trống. Tư Lù vì thế trở thành anh hùng cách mạng. Chỉ ít ngày sau, nó được tuyên dương thành tích trong một buổi meeting long trọng chào mừng ngày giải phóng của toàn tỉnh và được tham gia vào phái đoàn Thành Đồng Chống Mỹ Cứu Nước của Miền Nam ra tham quan Hanoi. Khi nó được gọi đến để lấy lý lịch và kê khai thành tích, tên chính trị viên của tiểu đoàn 307 cơ động tỉnh phụ trách công tác tuyên dương cấp tỉnh tiếp đãi Tư Lù như một thượng khách. Sau một tuần trà nước, bánh kẹo, và thuốc lá xã giao, tên bộ đội bắt đầu làm công tác. Hắn rút ra trong túi cuốn sổ tay và cây viết bic để ghi chép rồi ôn tồn hỏi Tư Lù: 
 
–   Đồng chí có giấy tờ gì không?
 
     Tư Lù chưa đoán được sự thể ra sao nên vẫn chưa cảm thấy yên bụng. Nó lí nhí trả lời trong cổ họng:
 
–   Dạ, không có.  
 
–   Có mà không mang theo hay không có?
 
–   Không có.
 
     Tên bộ đội nghĩ trong bụng dù sao Tư Lù cũng chưa tin tưởng cách mạng lắm nên cố tình dịu ngọt với nó để nó yên tâm: 
 
–   Đồng chí không có gì phải sợ. Cách mạng hiểu đồng bào sống trong vùng địch kiểm soát, ai cũng phải mang giấy tờ tùy thân mà đồng bào không muốn. Đồng chí tất nhiên cũng thế thôi. Chẳng hạn khi đồng chí muốn đi đâu thì cũng phải có giấy căn cước thì mới đi lại được. Chẳng lẽ đồng chí không đi đâu bao giờ?
 
–   Dạ tôi không có đi.
 
     Tên bộ đội vẫn giữ giọng thân mật:
 
–   Thôi cũng được. Đồng chí nhớ được gì thì đồng chí cho biết. Đồng chí tên gì?
 
–   Dạ, tên Tư Lù.
 
–   Đây là tên gọi của đồng chí? Tôi muốn hỏi tên họ. Đồng chí họ gì? 
 
–   Dạ không biết. Tôi không có họ. Người ta vẫn gọi tôi là Tư Lù.
 
– Cả tên họ của đồng chí mà đồng chí cũng không biết họ gì. Cha mẹ đồng chí còn sống hay đã chết, ở đâu?
 
–    Tôi không biết. 
 
–    Chết thật!
 
     Tên bộ đội thở dài hơi tỏ vẻ thất vọng. Hắn hỏi thêm về tuổi tác, thân nhân của Tư Lù nhưng nó vẫn ngồi làm thinh. Hắn ngồi cắn bút suy nghĩ trước cái lý lịch mù mơ của người đối diện. Đầu tiên tên bộ đội còn nghi ngại đoán già đoán non Tư Lù có thể là một điệp viên tụi Mỹ cài lại. CIA chắc chắn rất quỉ quyệt nên cần phải đề cao cảnh giác. Hắn tự nhủ. Tuy nhiên, chỉ trong khoảnh khắc hắn đã tìm ra được chân lý. Một lý luận rất logic trong kinh điển Mác chợt loé ra trong cái đầu đặc sệt của tên bộ đội làm hắn bật đứng lên, vui như nhà bác học Achimède đang lúc tắm truồng trên sông Nile, khám phá ra nguyên lý thuỷ tĩnh học. Hắn đập tay lên bàn một cái bịch, rồi nhả vào khoảng không trước mặt một hơi dài sự khoái trá trong lòng hắn:
 
–   Đúng rồi! Đúng rồi! Nhất định là như thế!
 
     Tư Lù không hiểu tên bộ đội này muốn nói đúng là đúng cái gì. Nó hơi hoảng, lo sợ biết đâu hắn lại chẳng nhớ ra một người nào đó trông giống mình mà cơ quan của hắn đang tầm nã. Tên bộ đội vẫn đứng đó. Hắn hí hửng ngắm nghía Tư Lù một lúc từ đầu xuống chân rồi từ từ bước tới trước mặt nó. Hắn biết Tư Lù đang thắc mắc và lo sợ nên làm ra vẻ kẻ cả, đặt tay lên vai Tư Lù và bắt đầu giảng giải về phép biện chứng mà hắn đã được học trước đây:
 
–   Đừng sợ! Đừng sợ! Trường hợp của đồng chí kể như đặc biệt lắm đấy. Đồng chí sống giữa lòng địch mà đã tự giác ngộ được cách mạng, thoát ly tất cả mọi ràng buộc gia đình giống như bác Hồ muôn vàn kính yêu, tự mình lột xác một cách toàn diện và triệt để. Đồng chí phủ định tất cả quá khứ, cũng như mọi liên hệ tình cảm của mình mà không cần đến sự giáo dục của đảng để trở thành một con người cộng sản tinh ròng theo đúng logic, phù hợp với biện chứng của chủ nghĩa Mác bách chiến bách thắng thì thực là trên đời có một không hai đấy. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí, và thay mặt đảng tuyên dương đồng chí là một người con yêu của tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy đồng chí chưa chính thức gia nhập đảng, nhưng tôi tin chắc rằng rồi ra đồng chí sẽ có những bước tiến nhẩy vọt để trở thành một người cộng sản chân chính, một đảng viên gương mẫu. Tôi chúc mừng đồng chí, và một lần nữa, thay mặt đảng, tôi nhiệt liệt hoan nghênh và tuyên dương đồng chí.
 
     Tư Lù ngồi chết trân. Mặt nó nghệt ra, đầu óc lùng bùng vì những thứ chữ nghĩa mà nó chưa hề nghe nói đến bao giờ.  Nào là lột xác. Nào là qui luật. Rồi còn biện chứng, logic, chủ nghĩa Mác vv.. Tuy không hiểu gì, nhưng nhìn vào nét mặt rạng rỡ của tên bộ đội, và bỗng nhiên được ông quan cách mạng này gọi là đồng chí, nó cảm thấy yên tâm với ý nghĩ dữ ít lành nhiều. Tên bộ đội nói xong, sửa lại tư thế đứng nghiêm kiểu nhà binh, giơ tay ra bắt tay Tư Lù. Nó vội vàng đứng dậy, lưng hơi cong xuống, không dám ngẩng mặt lên, mắt chớp chớp, đưa cả hai bàn tay nắm lấy tay tên bộ đội mà lắc. Trong lúc nắm tay tên bộ đội, Tư Lù chợt nhận thấy trong lòng nó trào lên một thứ tình cảm thật khó diễn tả, vừa sung sướng, vừa tự hào, vừa tin tưởng, vừa hy vọng. “Nhờ ơn cách mạng, nhờ ơn đảng”, nó gật gù cái đầu bờm xờm và lẩm bẩm một mình. Nó không nói lên sự cám ơn tên bộ đội bằng lời, nhưng bằng hai con mắt rươm rướm ướt. Nó cảm thấy như cuộc đời của nó như đã biến đổi. Nó thầm cám ơn cách mạng đã giải phóng nó. Đối với nó, tất cả quá khứ từ nay đều tiêu tan hết. Một tương lai mới hiện ra trước mắt nó. Từ nay nó sẽ không còn bị khinh khi, bị gọi tên một cách xách mé: thằng Tư này, thằng Tư nọ nữa. Nó ghét nhất kẻ nào gọi nó xách mé như thế. Nó hình dung ra những kẻ mà chỉ vài ba ngày trước còn chiếm một địa vị trên nó rất cao, rất cao, giờ này đây chỉ còn là những con giun, con kiến dưới chân nó. Mấy mụ bán hàng ở chợ và ngoài bến sẽ hết còn dám xỉ vả nó. Tên xã trưởng già mà thường ngày nó vẫn khép nép vâng vâng, dạ dạ xưng bố xưng con, từ nay nó sẽ bắt phải bỏ cái thói nhìn nó bằng nửa con mắt đi. Bọn sĩ quan trong chi khu và căn cứ nữa, tuy phần lớn có xề xoà tốt bụng thật đấy, còn trẻ măng, cũng cỡ chừng tuổi với nó, nhưng nó vẫn phải khúm núm kêu bằng ông thầy, từ nay sẽ biến mất khỏi cái giang sơn này của nó, hết còn hàng ngày ra ăn uống tại quán bún nước lèo của mụ Bẩy Mướp. Lại còn anh chàng trưởng chi cảnh sát mới thật đáng chết. Xưa nay nó vẫn kính cẩn gọi anh ta là sư phụ. Có lần nó bị sư phụ nhốt một đêm trong đồn vì tội ăn cắp, còn doạ bắt nó đi lính. Nó không sao quên được cái đêm trong căn hầm nóng nực đầy muỗi ấy. Gặp được sư phụ ít nhất nó cũng phải xỉ vả cho mấy câu để trả thù. Nó sẽ bắt mọi người từ nay phải kính trọng nó. Phải rồi, còn cả cái ả bán hột vịt lộn tên Nở ấy nữa. Mỗi khi nó ăn hột vịt, ả tính toán với nó từng đồng từng cắc, không cho thiếu một xu. Ấy vậy mà không hiểu sao trong khoảnh khắc tưởng tượng đó, Tư Lù lại chừa ra cho ả một chút lòng thương hại. Nó cho rằng ả cũng nghèo nên đáng thương hơn là đáng ghét. Sự phân biệt đối xử này có lý do khác chứ không phải mang tính giai cấp mà nó mới giác ngộ được từ tên bộ đội. Đã nhiều lần Tư Lù chọc ghẹo thị Nở nhưng lần nào cũng bị ả cự tuyệt và đuổi đi. Nó đặt cho Nở một cái tên thật văn vẻ là Thu Đạm. Bình thường nó thân mật kêu ả là Con Đĩ Ngựa. Nó bấm bụng phải trả thù cái tội hỗn láo và bần tiện của Con Đĩ Ngựa mới được. Nó nhớ lại lần ăn chạy năm cái hột vịt lộn của Thị Nở. Ả đòi kẹp nó vào háng để đậy cho nó một bài học. Giận Nở thì có giận thật, nhưng sao lúc này nó lại thấy tội nghiệp ả vô cùng. Nó bỗng mơ ước được Con Đĩ Ngựa kẹp vào háng để dậy cho nó bài học ngay vào lúc này thì hay biết mấy. Nó cảm thấy nóng ran ở mặt. Nó nuốt nước miếng ừng ực, nhếch mép cười ruồi và quả quyết trong đầu: vụ này quyết không thể bỏ qua được, nhưng để rồi sau sẽ tính.
 
     Tên bộ đội vui vẻ hiện ra mặt vì hắn vừa mới khám phá ra được một con người cộng sản lý tưởng. Hắn tự cho mình đạt được một chiến công đúng ngày hắn vào giải phóng khu chợ Chọi này. Hắn khám phá ra rằng một con người nếu đã mang sẵn tính giai cấp trong mình, khi gặp điều kiện thì họ lập tức sẽ đột biến, chẳng khó khăn gì. Đó là mỘt bước nhẩy vọt, cũng giống như bước nhẩy vọt từ vượn thành người mà hắn đã được học ở khu rừng già chiến khu D Phước Thành. Cả một mớ lý thuyết hắn dồn vào bụng, nay mới có cơ hội được chứng minh. Quả thật có sức thuyết phục. Thái độ vừa khuất phục, vừa biết ơn của Tư Lù làm tên bộ đội càng tự tin hơn vào sự suy nghĩ của mình. Sự mù tịt về lý lịch của Tư Lù đã không còn phải là vấn đề, mà trái lại còn là động cơ cho tiến trình phát triển đúng với qui luật. Hắn cho đó là một sự lột xác thần kỳ, một mánh lới khôn ngoan để thi hành chánh sách bất hợp tác với ngụy quân, ngụy quyền. Rõ ràng là một hình thức phản kháng đầy trí tuệ đã đem lại hiệu quả. Chỉ với sự kiện này, Tư Lù cũng đáng được kể là đã lập được thành tích, có công lớn đối với cách mạng. Nó xứng đáng được tuyên dương anh hùng chống Mỹ cứu nước, và được tưởng thưởng huy chương Thành Đồng Chống Mỹ. Với Tư Lù, giờ đây nó chỉ cần biết một điều là nó đã có tên tuổi hẳn hoi đối với cách ma.ng. Tên nó là Tư Lù. Đúng hơn nữa là Đồng Chí Tư Lù. Cách mạng gọi nó là đồng chí thì nhất định nó là đồng chí rồi. Nghĩa là nó cũng như những tên bộ đội mang súng, đội nón cối, chân mang dép râu mà nó thấy. Nó tin rằng chắc chắn nó cũng sẽ được khoác khẩu súng trên vai và lúc đó mọi người ở chợ Chợi sẽ phải phục nó sát đất. Chữ “đồng chí” đối với nó thật đáng yêu làm sao! Ngày trước người ta gọi nó là thằng Tư thì nó tưởng đấy là tên cha mẹ đặt cho nó. Còn chữ Lù đi kèm tên Tư thì lại là một câu chuyện truyền tụng khó quên chung quanh khu chợ Chọi, một thành tích có một không hai về nghề ăn quịt của nó. Điều này Tư Lù biết rõ hơn ai hết. Nhiều bà bán hàng ngoài chợ những lúc vắng khách vẫn còn đem ra bàn qua tán lại câu chuyện ăn quịt rất hài hước này của thằng Tư.
 
     Thị Nở, hay Thu Đạm, hay Con Đĩ Ngựa hàng ngày vào mỗi buổi chiều đội thúng hột vịt lộn ra bán ngoài đường cái ngay lối vào chợ. Bữa đó, khi Nở vừa bầy hàng ra xong thì bỗng thằng Tư lù lù vác xác tới. Mỗi khi thấy nó, ả vội vàng lập tức đuổi nó như người ta đuổi tà. Ở chợ ai lại không biết Tư Lù là thằng chuyên môn ăn chạy, nghĩa là ăn xong là chạy, không trả tiền. Hôm ấy Nở chưa kịp ra tay tống khứ Tư Lù thì nó đã xà đến kéo ghế ngồi. Nó hách dịch nói với ả như ra lệnh:
 
–   Cho năm cái vịt lộn. Nhớ chọn mấy cái ấp mề già đấy nhá.
 
     Nở muốn điên liên. Ả nghĩ trong bụng, thằng này hôm nay chán sống rồi, nhưng ả cũng cứ cho nó ngồi yên để xem thử, vì dù sao nó cũng đã lỡ ngồi xuống rồi. Ả trợn mắt nhìn thẳng vào nó rồi lên giọng kẻ cả, hỏi:
 
–   Có tiền không cái đã. Không thì đi chỗ khác chơi cho người ta buôn bán. Đừng có đến đây mà ám. Chưa mở hàng đâu đấy nghe, ông thần nước mặn.
 
     Nó làm bộ thọc tay vào túi quần, lắc lắc mấy cái như ra dấu bảo rằng ta đây có tiền, còn nhe răng cười và trả lời chắc nịch:
 
–   Sao lại không? Yên chí đi. Sòng phẳng mà chị Hai.
 
     Thị Nở cũng là người cả tin. Ả giọn ra cho nó một cái tô đựng năm cái hột vịt lộn còn nóng hổi. Ả dằn mạnh cái tô trước mặt Tư Lù rồi dục:
 
–   Ăn đi. Ăn lẹ lên rồi đi ngay, chỗ người ta làm ăn.
 
     Ả còn không quên nhắc lại một lần nữa:
 
–   Mà phải trả tiền sòng phẳng đó nghe. Không thì cứ để cái xác lại đấy. Không dỡn đâu.
 
     Tư Lù chẳng thèm để ý đến lời đe doạ của Thị Nở. Nó gục đầu xuống, vừa thổi phù phù, vừa ăn một cách rất tự tại. Chỉ trong khoảnh khắc, nó đã nuốt trôi năm cái hột vịt lộn nóng hổi vào bụng, rồi thản nhiên đứng lên đi. Biết mình lại bị một phen nữa mắc lừa, Thị Nở đứng bật dậy, dục hết đồ đạc trên tay xuống bàn. Ả bung người nhẩy bổ ra, đứng chắn trước mặt nó, hét lên như trời gầm:
 
–   Mày lại dám ăn quịt của tao nữa hả, cái thằng trời đánh này? Mày phải trả tiền cho tao đã rồi mới được đi. Không thì mày móc họng mày ra hết cho tao. Lần này tao không tha đâu. Tao nói trước rồi.
 
     Tư lù không còn đường tiến, cũng không còn đường rút lui. Bất thình lình, nó lấy hết sức gạt người đàn bà sang một bên rồi ù té chạy. Thị Nở té chúi xuống, nhưng chồm dậy ngay được. Ả đuổi theo nó, vừa đuổi vừa chửi. Ả chạy một quãng rồi dừng lại vì biết rằng không thể nào đuổi kịp nó. Vả lại ả không dám bỏ lại thúng vịt lộn không có người coi. Thấy Nở đứng lại, nó cũng đứng lại. Thấy ả bước tới, nó lại cắm cổ chạy. Cứ như thế một lúc thật lâu. Người ta chung quanh chợ đổ ra xem đông nghẹt. Con nít coi màn tuồng cút bắt này khoái tỉ, vừa reo hò, vừa vỗ tay bôm bốp. Trước tình trạng đó, thị Nở cũng đành phải bất lực. Ả cảm thấy mắc cỡ với những người đứng coi vì sự nhẹ dạ của mình. Ả đứng lại thách thức thằng Tư:
 
– Mày có giỏi thì lại đây chơi tay đôi với bà. Bà không xé xác mày ra không làm cái giống người.
 
     Nó đứng ở xa cười hăng hắc, hỏi lại để cố ý trêu chọc ả:
 
–   Mày dám?
 
–   Tao không dám thì ai dám?
 
–   Tao lại mà không dám làm gì tao, mất năm cái hột vịt nữa, chịu không?
 
– Thằng chó đẻ! Bắt được mày, tao kẹp mày vào háng bắt mày bú L. tao cho mày chừa cái thói ăn dựt, ăn chạy đi.
 
     Tư Lù nghe vậy cười khoái chí, nó càng trêu chọc thêm:
 
– Thiệt không? Sợ gì mà không dám cho mày bắt. Sướng thấy mồ. Tổ sư cha đứa nào chỉ nói mà không dám làm? 
 
     Người đứng xem cười ồ lên. Đám trẻ con vỗ tay rần rần như pháo tết. Kể từ ngày đó, thằng Tư được đặt cho một chữ nữa ghép vào cái tên Tư thành ra là Tư Lù. Ai gọi sao thì gọi. Nó chỉ cười hề hề, chẳng phân trần, cũng chẳng cải chính. Nó không buồn phiền gì với Con Đĩ Ngựa, trái lại nó càng mơ tưởng đến ả nhiều hơn.
 
     Sau khi Tư Tù đi tham quan thủ đô Hanoi về, nó được bố trí công tác an ninh ngay tại khu vực chợ Chọi. Trong giai đoạn đầu của chánh quyền “kách mệnh”, sự xếp đặt này là đúng người đúng việc, vì không ai xứng đáng được gọi là thổ công ở cái chợ Chọi này hơn nó. Nó biết rành từng gia đình, từng người trong khu vực. Gia đình nào có con, cháu đi lính “ngụy”, làm công chức “ngụy”, gia đình nào có người trước kia đi làm cho Mỹ vv.., từng gia đình, tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn như thế nào nó đều biết rành cả. Nó biết rõ mọi chuyện như nắm trong lòng bàn tay. Nó chỉ dưới quyền một người là tên bộ đội chính trị viên của tiểu đoàn 307. Tên này quyền hành cũng như chủ tịch xã lúc trước, còn Tư Lù phụ trách vấn đề an ninh trong khu vực. Cả hai tên này họp lại dưới danh nghĩa là Ban Quân Quản Chợ Chọi. Với tư cách là thành viên Ban Quân Quản, nó gởi hết vào trại cải tạo những thành phần đáng nghi ngờ đối với chế độ, nói cho đúng hơn là những người nó không ưa, hay nó có thành kiến. Chức vụ mới này cũng cho phép Tư Lù tuyển chọn theo ý nó một đám lâu la để sai khiến. Bọn này quản lý hầu như mọi vấn đề quanh khu chợ Chọi. Chúng gồm có bốn tên đàn ông và một mụ đàn bà. Mụ này không ai khác hơn lại chính là Con Đĩ Ngựa. Trước ngày VC vào, bốn tên lâu la này đều là thứ anh chị ở trong vùng. Mỗi tên bao sân thu hụi chết một lãnh vực buôn bán, chẳng hạn đứa hàng ăn, đứa hàng trái cây vv.. Giang san của đứa nào đứa ấy quản trị ngầm theo một nguyên tắc giữa chúng với nhau là nước sông không phạm đến nước giếng. Vì thế ít khi có đụng độ nào đáng kể giữa bọn chúng. Riêng Con Đĩ Ngựa, sau khi “chính quyền đã về tay nhân dân” rồi thì nó mới hiện nguyên hình là một đồng chí nữ giao liên VC. Ả được giao nắm đầu hội Phụ Nữ Giải Phóng huyện, trực tiếp làm việc với ban quân quản. Khi Tư Lù lên làm lớn, bọn bốn tên tự động qui thuận dưới trướng của nó. Chúng tôn Tư Lù lên làm lãnh đạo và gọi nó là thủ trưởng. Chức thủ trưởng này vậy mà rất có tác dụng.
 
     Từ khi Tư Lù lên chức thủ trưởng, sinh hoạt khu chợ Chọi có phần đi vào nề nếp hơn. Bọn đầu gấu này có mặt chỗ nào là chỗ đó hết ai dám hó hé. Chúng nói gì mọi người phải  tuân theo răm rắp. Chúng ghé hàng quán nào, ăn uống gì, mua bán gì, chủ quán đều phải khép nép mời chào rất lễ phép. Và tất nhiên mua gì chúng không bao giờ nhớ trả tiền. Cũng không ai dám đòi tiền chúng. Có một lần Tư Lù dẫn lũ đàn em vô nhậu tại quán chú Ba Thìn. Ăn uống xong, cả bọn đứng dậy. Tư Lù làm bộ móc tiền định trả làm chú Ba xanh mặt. Chú vội xua tay cười giả lả nói với nó như van xin:
 
–  Có gì đâu, thôi đi. Chuyện nhỏ mà ông Tư.
 
     Tư Lù làm ra vẻ thành khẩn:
 
–   Chú Ba buôn bán mà, tụi tui ăn không của chú sao được.
 
     Ba Thìn là dân Chệt. Chú chỉ cần được yên thân. Thói bợ đỡ đút lót là nghề của dân Chệt làm ăn trên đất người. Chú áp dụng mánh lới rất chệt để mà tâng bốc Tư Lù:
 
–   Cách mạng lo cho dân thì dân giúp đỡ lại cách mạng thôi mà. Có phải không ông Tư?
 
     Sự việc này sau đó trở thành nếp sinh hoạt tự nhiên của người dân buôn bán chung quanh khu chợ Chọi. Tất cả cán bộ, bộ đội, kể cả những kẻ chỉ có hơi hướng với kách mạng đều ngang nhiên ăn uống, mua bán miễn phí. Hậu quả đem lại là cả thị trấn chỉ trong sáu tháng từ sau ngày “giải phóng” đã đoạt ngọn cờ tiên phong, đi đầu trong cuộc chạy đua tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa đói rách. Không còn ai bán buôn. Chợ Chọi lại trở về hoang vu thời tiền Pháp thuộc. Tư Lù một lần nữa được tuyên dương tiên tiến xây dựng nếp sống mới xã hội chủ nghĩa.
 
     Khi người dân chợ Chọi đã quay về với đồng ruộng rồi thì Tư Lù do thành tích, được gia nhập đảng và dược đưa lên làm trưởng đồn công an phường tại thị xã Sóc Trăng. Sau ngày “giải phóng”, tỉnh Ba Xuyên sát nhập vào tỉnh Bạc Liêu và tỉnh lỵ trở thành thị xã Sóc Trăng. Thị xã này có 6 phường. Trong 8 năm trời, Tư Lù lần lượt nắm chức đồn trưởng công an của cả 6 phường trong thị xã. Tính trung bình mỗi phường nó làm đồn trưởng ở đó hơn một năm. Sau cùng nó được đề bạt làm trưởng ty công an thị xã kiêm thị uỷ viên. Dưới sự chăm sóc an ninh tận tình của đồng chí Tư Lù, Sóc Trăng cũng mau chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội theo con đường của thị trấn chợ Chọi. Một thị xã lúa gạo trù phú nhất miền Nam chỉ trong 8 năm trời tiến lên tới đỉnh cao chủ nghĩa xã hội phải nói đó là một bước tiến nhẩy vọt. Công đầu làm nên thành tích này không phải do tên Mười Thì, bí thư thị xã, mà là do đồng chí Tư Lù. Thành tích này đã đẩy Tư Lù lên thay tên Mười Thì làm bí thư thị xã.
 
     Tư Lù không thể tưởng tượng có ngày nó lại được làm lớn như thế. Trước đây nó cứ tưởng càng làm lớn càng khó, không ngờ đối với nó lại quá dễ dàng. Mọi thứ công văn giấy tờ trình lên nó, nó chỉ cần hỏi tên cần vụ xem ký chỗ nào rồi cầm cây viết quẹt vào chỗ đó một con giun dài ngoòng là xong. Tuy nhiên tình trạng mù chữ cũng gây khó khăn đôi chút đối với nó. Một là rất dễ bị bịp, và hai là vấn đề sĩ diện đối với dân chúng và thuộc cấp. Trường hợp Mười Thì đã cho nó học được rất nhiều kinh nghiệm.
 
     Mười Thì bắn súng thì giỏi nhưng phải cái mù chữ cho nên hắn chỉ mang quân hàm đến đại tá và làm bí thư thị xã là cao lắm rồi. Trong suốt những năm làm bí thư thị xã, Mười Thì không một lần dám ăn nói hay đọc diễn văn trước đám đông. Những việc này thì lại xẩy ra quá thường đối với cương vị một bí thư, nhưng Mười Thì đều đẩy hết cho tên phó bí thư làm thay. Còn mù chữ bị gạt thì Tư Lù đã chính tai nghe, mắt trông thấy Mười Thì bị gạt nhiều lần. Người gạt Mười Thì không ai xa lạ mà là tên cần vụ của ông bí thư. Thằng ranh con này cũng không phải gạt chuyện lớn gì, mà chỉ kiếm chác bao gạo hoặc ký đường để bán lấy tiền gởi về Bắc nuôi bà mẹ già ngoài đó. Tư Lù biết rành chuyện qua mặt cấp trên của tên cần vụ nhưng nó nghĩ chấp nhất ba cái trò vặt vãnh này thuộc cấp sẽ khinh khi mình và có thể khiến nó hết làm ăn gì được. Tên cần vụ cũng biết thế nên tỏ ra rất khâm phục và biết ơn Tư Lù.
 
     Những cái bất lợi như trên làm Tư Lù suy nghĩ mãi. Con đường thăng quan tiến chức của nó không thể để tình trạng mù chữ phá hỏng được nên nó nghĩ mình phải quyết tâm học. Người thầy đầu tiên khai sáng cho Tư Lù lại là Con Đĩ Ngựa.
 
     Con Đĩ Ngựa đã học hết lớp hai bậc tiểu học. Nó bỏ học ngang xương theo du kích đi làm cách mạng. Ả được bố trí công tác giao liên và theo dõi tình hình địch tại khu vực chợ Chọi. Ít lâu sau khi Tư Lù về làm đồn trưởng công an tại Sóc Trăng, Con Đĩ Ngựa cũng được bố trí về đó. Ả được coi là thành phần có văn hóa nên được giao làm thư ký trong văn phòng bí thư. Do công việc đòi hỏi, Tư Lù và Con Đĩ Ngựa có cơ hội gặp nhau thường xuyên. Chuyện lúc trước ở chợ Chọi không những đã không làm chúng khó xử khi gặp lại nhau, mà trái lại cả hai coi đó như là những kỷ niệm đẹp làm chúng xáp lại với nhau một cách dễ dàng hơn. Chưa đầy hai năm sau chúng chính thức trở thành vợ chồng. Con Đĩ Ngựa đồng thời là người vợ, là tham mưu, và là cố vấn rất đắc lực của Tư Lù. Không những ả giỏi kiếm chác mà còn tỏ ra tinh khôn, biết tới lui những nơi cần tới và nhất là biết việc gì nên làm, việc gì không nên làm. Người ta thường nói khôn chết, dại chết, biết sống. Con Đĩ Ngựa trời cho được cái biết này. Cần làm gì, ả không sợ tốn kém, cũng không tiếc bất cứ một thứ gì, miễn sao con đường hoạn lộ của Tư Lù được hanh thông. Chính ả cũng thừa nhận rằng Tư Lù muốn tiến thân hơn nữa nó cần phải có học. Ả biết cách làm thế nào để Tư Lù đạt được những thứ mơ ước đó. Nhờ công lao của ả, Tư Lù từ bước đầu học i-tờ cho đến khi có trong tay tờ giấy chứng chỉ lớp 12 do chính hiệu trưởng trường trung học phổ thông Hoàng Diệu ký và đem đến tận nhà cho nó. Việc này tuy vậy cũng phải mất 6 năm. Đó là thời gian tối thiểu cho một thần đồng, hay ít nhất là loại người sinh nhi tri.
 
     Bây giờ Tư Lù đã có thể xem duyệt công văn và đọc được diễn văn rồi. Con Đĩ Ngựa lại tính đến bước kế tiếp. Ả phen này phải bôn ba đi Hanoi một chuyến. Rồi như là một chuyện may ngẫu nhiên, Tư Lù bất thình lình được kêu lên thành phố ( Saigon ) làm thủ tục đi Liên Sô du học. Liên Sô thời đó là một nơi đào tạo nhân tài số một cho các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Các đại học ở đây bảo đảm cho tất cả các du học sinh, miễn là có ghi tên học, đều được cấp bằng phó tiến sĩ khi trở về nước. Nhà nước Vietnam sau khi đã làm một bản hạch toán kinh tế, đề ra kế hoạch đào tạo nhân tài đầy sáng tạo mà người trong nước gọi là “dắt bò đi Liên Sô, đem phó tiến sĩ về”. Con cháu cách mạng vì thế ào ào đi Liên Sô. Vài ba năm sau trở về đứa nào cũng đem theo về ít nhất một mảnh bằng phó tiến sĩ. Tư Lù cũng đi Liên Sô du học theo cách thức đào tạo này.
 
     Khi Tư Lù lên máy bay thì nó đã biến thành một nhân vật khác rồi. Cái lý lịch cũng khác đi nhiều rồi cho phù hợp với tương lai đang tới của hắn như câu người Pháp vẫn thường đem ra biện lý: noblesse oblige. Trên hộ chiếu ghi tên nó là đồng chí Nguyễn Tạ. Thằng Tư Lù ngày nào coi như đã chết. Đây là việc đương nhiên nằm trong qui luật của chủ nghĩa Mác bách chiến bách thắng. Hồ Chí Minh sanh ra có tên là Nguyễn Tất Thành. Tên này có nghĩa là nhất định phải thành. Cái thành của chàng thanh niên Tất Thành này mơ ước là trở thành một viên quan thuộc địa như ông bố của hắn. Nhưng khi không thành ông quan thuộc địa, mà chó ngáp phải ruồi, mới thành chủ tịch nước, tên hắn lại đổi thành Chí-Minh, nghĩa là cực kỳ sáng láng. Khi Tư Lù cần phải giao tiếp với lớp thượng lưu trí thức, cái tên Tư Lù đầy dấu tích phèn chua nước mặn của miền sình lầy chợ Chọi Nam Bộ kia tất nhiên không còn hợp thời nữa.
 
     Trong thời gian Tư Lù đi du học, Con Đĩ Ngựa ở nhà tần tảo kiếm chác. Ả chẳng còn biết làm gì cho qua những ngày trống vắng đó ngoài việc thỉnh thoảng bay đi Hồng Kông hay Singapore sửa sắc đẹp. Qua mấy chuyến đi, Con Đĩ Ngựa ngày nào của đất chợ Chọi không mấy chốc đã biến thành nàng công chúa ngủ trong rừng. Cái tên Thị Nở bám đầy cáu ghét phù sa sông Hậu cũng đã đổi thành nàng Thu Đạm mơ mộng. Ở Saigon , ả tới lui cơ quan thành uỷ như đi chợ. Ngoài Hanoi, ả ra vào dinh tổng bí thư như đến chỗ không người. Bữa ra phi trường đón Nguyễn Tạ đi du học về, hai đứa hug nhau và hôn hít ngoài đường ngoài chợ hệt như tây đầm thứ thiệt. Để khoe sự quảng giao của mình, ả õng ẹo hỏi chồng:
 
–   Đồng chí muốn ra Hanoi công tác hay làm trong thành uỷ?
 
     Nguyễn Tạ cũng tỏ ra biết nịnh vợ, nó trả lời:
 
–   Anh chỉ thích phục vụ cho đồng chí Con Đĩ Ngựa của anh thôi.
 
–   Nghiêm túc đấy. Vậy thì thành ủy đi nghe.
 
     Nguyễn Tạ làm trong thành uỷ thật, phụ trách về kinh tế. Thế lực của Con Đĩ Ngựa đã lên cao, bao trùm trên cả nước. Nguyễn Tạ có số thân cư thê. Nó mang đôi hia bẩy dặm để đi làm việc nước. Nó bước những bước vững chắc từ thành uỷ, rồi lên bí thư, và hiện nay là thủ tướng chính phủ. Trong một chuyến đi sang Tầu trước đây, nó đã học được câu “phi thương bất phú” là phương châm cường quốc của người Tầu. Vì thế khi lên nắm chính quyền, Nguyễn Tạ chủ trương phát triển tối đa ngành bán buôn trong nước. Dân ta ai cũng lao đầu vào buôn bán. Khắp hang cùng ngõ hẻm, từ đồng quê đến thị thành, nhà nhà buôn bán, người người buôn bán. Có thể nói người Việt Nam bất kể sang hèn, lớn bé già trẻ, hết 90% đều làm nghề buôn bán. Lê dân bá tánh thì buôn thúng bán mẹt, củ khoai, củ sắn. Viên chức làng xã thì bán đất, bán ruộng cho Đài Loan làm sân golf. Cán bộ cấp trung san bằng phố xá để bán cho Hàn, cho Nhật làm khách sạn. Mấy ông ở trung ương bán biển, bán biên giới cho Tầu, nghe đâu kiếm ăn được lắm. Một điểm rất đặc biệt của nền kinh tế Việt Nam mà trên thế giới không nước nào có là nghề bán thân. Nghề này có xuất xứ từ chợ Chọi. Nay đã phát triển ra địa bàn cả nước, rồi còn xuất khẩu qua nhiều quốc gia trong vùng. Những cô gái xuân tình hơ hớ được xuất khẩu đi nhiều nước. Họ còn được nhà nước đem sang tận Singapore triển lãm để rao hàng. Món hàng đặc sản Vietnam này cũng được quảng cáo rầm rộ trên nhiều tờ báo Đài Loan. Mấy chú ba ham mua sắm đến nỗi khiến nguồn hàng trở nên khan hiếm. Trước tình trạng cầu vượt mức cung này, nhà nước của Nguyễn Tạ đã phải thu vét hàng loại tuổi mới vừa rời vú mẹ chưa được bao lâu để xuất khẩu.
 
     Đường lối lãnh đạo của Nguyễn Tạ tài tình và hữu hiệu đến nỗi khiến nhiều ông tổng thống Mỹ phải thán phục. Ông Clinton đã phải thân hành sang Việt Nam để học hỏi. Còn Bush thì mời mọc cho bằng được Nguyễn Tạ sang Mỹ để cầu thân. Trong bài diễn văn chào mừng Nguyễn Tạ, Bush không tiếc lời khen và hứa hẹn với ông khách quí này: Khi quí vị phát triển quyền buôn bán Tự Do (chứ không phải tự do buôn bán) của quí vị như hiện nay, chúng tôi sẽ cùng đứng chung với quí vị.    
 
     Thời gian ở thăm nước Mỹ, vợ chồng Nguyễn Tạ và bộ hạ không dám đi đến đâu, vì chường mặt ra là bị đồng bào tỵ nạn rượt đuổi. Phái đoàn của Nguyễn Tạ chỉ thấy xuất hiện một lần trong buổi họp báo tại vườn hồng toà Bạch Ốc. Cách toà Bạch Ốc không xa đồng bào ta biểu tình đông nghẹt. Bọn ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ chúng tôi cũng có mặt. Thấy một anh nhà báo Mỹ lăng xăng thu hình, ghi chép gần đó, Hoàng khều nhẹ anh ta hỏi nhỏ:
 
–   Này, lát nữa anh có vô trong kia không?
 
–   Sure.  – Anh nhà báo Mỹ trả lời.
 
     Hoàng cười xã giao:
 
–   Phiền anh có thể giúp tôi việc này không?
 
–   Việc gì? Tôi sẵn sàng.
 
–   Anh làm ơn nói với đồng chí Tư Lù và cả Con Đĩ Ngựa chúng tôi hỏi thăm họ:
 
–   Ai là đồng chí Tư Lù và ai là Con Đĩ Ngựa? Ông với họ thế nào?
 
– Thì là vợ chồng ông thủ tướng Nguyễn Tạ đấy. Chúng tôi hồi xưa ở vùng chợ Chọi Việt Nam có quen biết với họ.
 
–   À thì ra thế.
 
     Anh chàng phóng viên Mỹ nghe Hoàng nói nhưng không tin. Anh ta tưởng tượng đến dư âm cuộc chiến gần nửa thế kỷ trước, có thể hai kẻ thù hôm nay bất ngờ gặp lại nhau. Hoàng đoán biết anh chàng Mỹ nghĩ gì, cố tìm cách giải thích cho anh ta hiểu. Anh ta nhe răng cười thông cảm. Hoàng được trớn nhắc thêm:
 
– À còn chuyện này nữa, anh cũng làm ơn nhắc dùm với ông Bush hộ tôi là ông ta đã đứng lộn chỗ rồi đấy (*).
 
     Anh nhà báo Mỹ thật thông minh. Anh hiểu ra ngay Hoàng muốn nói gì mới kiếm một câu thật hóm hỉnh trả lời Hoàng:
 
– Chả đã làm hai nhiệm kỳ rồi, đâu có ứng cử lại được nữa, có đứng lộn chỗ một tí cũng không sao. Mà đứng bên cạnh Nguyễn Tạ có lợi nhiều hơn cho Chả chứ. Ông thấy có đúng không?
 
     Hoàng thẩy cho anh chàng nhà báo Mỹ một cái cười nhếch mép cùng với một bàn tay giơ lên thay cho câu cám ơn, cũng là câu từ biệt. Bọn chúng tôi kéo nhau đi chỗ khác. Cả ba vừa buồn thấm thía, vừa tội nghiệp đồng bào mình đang giang thân ra giữa trời nắng gió thế này mà biểu tình. Đồng bào thật có lòng và cũng thật đáng thương, ăn quả lừa đã ngán rồi vẫn còn ráng mà ăn.
 
 
 
(*) Trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ 2, Tổng Thống George W. Bush tuyên bố:
“Today, America speaks anew to the peoples of the world: All who live in tyranny and hopelessness can know: the United States will not ignore your oppression, or excuse your oppressors. When you stand for your liberty, we will stand with you. “(Tạm dịch: Hôm nay, một lần nữa nước Mỹ nói với các dân tộc trên thế giới rằng tất cả những ai đang sống trong chuyên chế và vô vọng đều nên biết Hoa Kỳ sẽ không làm ngơ trước việc họ bị áp bức, và tha thứ cho những kẻ đàn áp họ. Một khi các bạn đứng lên vì tự do, chúng tôi sẽ cùng đứng chung với các bạn).
 
 Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất



Nguyễn Phan Ngọc An : VẦNG TRĂNG VU LAN

VẦNG TRĂNG VU LAN

                                                Tâm Bút  Nguyễn Phan Ngọc An

 

 

Trời về khuya khí hậu mát mẻ, cảnh vật im lìm ngoài tiếng động cơ hạ cánh, bởi vậy Thy thích du lịch Việt Nam vào thời điểm này…nàng khoan khoái thở một hơi dài nhẹ nhõm, mừng đã thoát được cái ghế tội tình kia !

Nàng nhớ lại hơn hai mươi giờ ngồi một chỗ mà nổi ga gà, cũng may mắn là Thy không bao giờ say sóng. Ngày xưa khi mới lập gia đình, đất nước tràn ngập chiến tranh, đường xá bị giật mìn hư hỏng, nàng chỉ toàn đi phi cơ đủ loại từ phi cơ tải thương H20, phi cơ du lịch Secna, phi cơ đưa thư  Hauter cho đến loại C130 chở hàng chục chiến xa và mấy trăm con người nên với chiếc Boing 747 này nàng thấy rất bình thường như lái xe trên Freeway vậy thôi…

Phi cơ ngừng hẵn, từng đoàn người xách hành lý lần lượt ra khỏi phi cơ, trong lòng Thy rộn lên một niềm vui khôn tả…chỉ một khắc nữa thôi, sau khi làm thủ tục nàng sẽ được gặp đứa con gái thân yêu của nàng.

       –      Kìa, Thy đã về !

Một giọng nói quen thuộc khiến Thy quay nhanh lại, nàng không khỏi ngạc nhiên khi đón nàng không chỉ con gái nàng mà còn có cả một số bạn bè của nàng nữa…Thy ríu rít :

–           Chào các anh, các chị, rất vui mừng khi được các anh, các chị hy sinh giấc mơ hoa để đi đón Thy, vạn hạnh, vạn hạnh.

–           Thôi đi cô bé ! quà Mỹ đâu bày ra hối lộ ngay đi, người ta năn nỉ hụt hơi tụi này mới chịu đưa đi đón đó chứ dễ gì nửa đêm khiêng được lũ này ra khỏi nhà!

Thy ngạc nhiên trố mắt ra định hỏi thì Hồng Vân đã cướp lời anh Bảo Cường : Người ta trồng cây si đến độ quên ăn mất ngủ, về rồi phải tính sao đây ? nhà hàng Năm Sao hay Mỹ Cảnh nói cho bọn này rõ ?

Rõ ràng Thy bị các bạn tố khổ, bởi vì nàng không hề có một cảm tình riêng tư nào cả, nàng về quê lần này là vì chữ hiếu, cha nàng đã quá bát tuần, nàng phải lo trước chỗ yên nghỉ cho cha sau này…Bỗng một giọng ngâm trầm ấm nhè nhẹ cất lên : “ Ta đã đi qua nửa cuộc đời, giờ đây còn lại phút đơn côi, xin đem một nửa đời còn lại, chia xẻ cùng ai những ngậm ngùi”…

Thy đỏ mặt ngượng ngùng nhìn Yên Linh, bài thơ lại là đề tài cho các bạn chọc ghẹo nàng, ăn miếng, trả miếng, Thy không vừa : “ Ai có gan chia xẻ, cứ ra đây, đừng hối hận” –  Yên Linh đẩy bạn ra đối diện với Thy, một nét mặt hoàn toàn xa lạ đối với nàng ! Thy bối rối phút giây khi người đàn ông lên tiếng :

–           Thưa cô, xin cô thứ lỗi, thật tình tôi có hơi đường đột vì lẽ chưa một lần quen biết cô, không hiểu vì sao khi nhận được tập thơ cô gởi về cho các bạn để thực hiện cuốn băng thơ, tôi tò mò đọc và ray rứt khôn nguôi, thương cho một kiếp tài hoa bạc phận, ước gì tôi được chia xẻ với cô…

Thy không biết phải trả lời thế nào cho phải, bởi hai mươi năm sống cô đơn đã khiến trái tim nàng nguội lạnh, chữ tình đối với Thy là một tai họa gớm ghê ! nàng chỉ biết cảm ơn người đàn ông vài câu rồi ân cần chia tay các bạn, henï ngày hôm sau trở lên Sài Gòn mời tất cả quý vị đi nhà hàng Năm Sao rồi tha hồ mà chọc phá, nàng phải về Vũng Tàu ngay vì cha già đang mong đợi !

Trên xa lộ mênh mang, hồn nàng mơ hồ bay bổng, nàng còn gì ngoài thân xác tủi hờn và bộ óc vô ngôn ? nàng chỉ muốn sống cho hết cuộc đời còn lại, trả cho hết nợ trần gian mà nàng đã vay mượn từ muôn kiếp trước…xung quanh nàng biết mấy bạn bè tốt phước, chúng chẳng có nhan sắc, chẳng học hành bao nhiêu lại chẳng phải gia đình nho giáo vậy mà trời lại ân sũng họ, cho họ một cuộc sống sang giàu hạnh phúc, chồng tận tụy cưng chiều ! Tất cả là định mệnh, đã là định mệnh thì không có gì thay đổi được…Có lẽ tôi sinh ra bởi một vì sao xấu, dù tâm tôi lúc nào cũng hướng thiện và làm điều phước thiện, xin hãy hiểu cho tôi, tha thứ cho tôi hỡi người bạn vừa biết mặt, vừa trao gởi cảm tình cho tôi – Bởi vì trước mắt tôi bây giờ là một màn đêm dày đặc, ưu phiền chán ngán đã mọc tràn trề trên mắt môi tôi, tôi chỉ muốn thu hình lại trong chiếc vỏ sò nhỏ bé kia để quên đi và quên đi tất cả…đối với tôi, hơn nửa đời người, một hình tượng tình yêu đúng nghĩa, chưa bao giờ có được trong tôi, tôi đã tìm qua năm dài tháng rộng vẫn bay xa, thì với phút giây gặp gỡ nào có nghĩa lý gì ? Ai hiểu cho tôi, một nội tâm sâu thẳm dật dờ, tôi chỉ muốn sống như một thiên đàng huyền ảo, đừng có loài người, đừng có yêu thương, để tôi chỉ biết yêu hoa, yêu gió, yêu trăng để tôi khỏi phải làm đau lòng ai đó…

Tiếng thắng xe làm Thy bừng tỉnh, đã về đến nhà nàng, một mái ấm thân thương đã cho nàng biết bao kỷ niệm – Thy xem đồng hồ, đã 3 giờ sáng – Đèn trong nhà bật sáng lên, cha nàng khập khểnh bước vội ra sân để đón nàng, mái tóc cha bạc trắng, đôi mắt cha long lanh đôi dòng lệ, cha ôm chầm lấy Thy trong đôi tay gầy guộc khẳng khiu – Thy ôm cha trong nghẹn ngào : “ Cha khỏe chứ, con nhớ cha nhiều lắm” ! rồi không đợi ông trả lời nàng tháo vội chiếc nón nỉ đang đội trên đầu và chiếc gậy màu xanh mua ở Mỹ đem về tặng cha, nàng lại mở ví ra, một chiếc nhẫn vàng, một chiếc nhẫn hột kiểu Mỹ, một chiếc đồng hồ mặt vàng dây vàng…tất cả Thy đặt vào tay cha rồi quỳ xuống bên ông thỏ thẻ : Cha ơi, về gặp cha con mừng lắm, tuy rằng cha gầy ốm hơn năm ngoái nhiều…Đôi mắt cha sâu hẵn và lờ đờ không tinh anh như trước, đôi chân khập khểnh dò từng bước một – Thy dìu cha đi nghỉ còn nàng thì đau lòng không thể nào dỗ giấc được nên lặng lẽ ra trước hiên nhà ngồi suy nghĩ miên man ! nàng nhớ rất rõ những hình ảnh thuở đương thời oanh liệt của cha, những hình ảnh cha nàng du học nước ngoài, những tấm ảnh cha làm cầu thủ cho đội banh nước Pháp, những mảnh bằng tuyên dương, khen ngợi…Ôi ! Còn đâu thời vàng son ấy ? Cha nàng bây giờ như ngọn đèn trước gió, không biết tắt lúc nào ! Càng suy nghĩ Thy càng khổ tâm, ba anh em nàng đều ở Mỹ, bỏ lại mình cha ở lại Việt Nam với đứa con gái của nàng trong hoàn cảnh trơ trọi lẻ loi không bà con thân tộc, ngày cha trăm tuổi biết lấy ai đỡ đần hữu sự ?

Nghĩ đến viễn ảnh đó tự nhiên nước mắt Thy trào ra, nàng hiểu anh em nàng không thể về kịp để lo cho cha giờ phút quan trọng này ! Năm xưa lúc mẹ qua đời chính nàng là người gần gũi mẹ trong giờ phút lâm chung, nàng chu toàn mọi sự việc cần thiết nên cũng đỡ bứt rứt lương tâm, tuy rằng nỗi đau chứng kiến người thân yêu trong giờ phút cuối cùng đã khiến nàng tê tái tim gan tưởng không chịu đựng nổi !!!

–           Mẹ ơi, khuya quá rồi sao mẹ không đi ngủ ? khí hậu bên nầy mẹ chưa quen coi chừng cảm đó ! Thy choàng tỉnh vội vàng đứng dậy theo con gái vào phòng nằm nghỉ sau hai ngày vất vả trên đường bay đã làm cơ thể dường như rã rời…

 

Tiếng gà gáy vang vang khiến nàng thức giấc…một cảm nhận ngọt ngào của quê hương mà bao năm nàng không được đón nhận, những tiếng chó sủa về khuya tru dài từng đợt, những đêm trăng sáng tụ tập kẻ đàn người hát vang dậy một góc phố, những buổi đi xem cải lương về lũ lượt từng đoàn người náo nhiệt trên đường lộ…Những ngày cuối tuần du khách tấp nập, xe vào thành phố như mắc cửi, giao thông bế tắc hàng giờ ! Nàng ao ước được sống mãi với những khung cảnh đó, được bơi lội trong vùng thương yêu đó, bởi vì nơi đất khách quê người, nơi chốn tạm dung kia nó cô đơn và tẻ nhạt vô cùng !

                                 “ Chốn nầy tình nghĩa có còn không ?

                                    Nghe pháo xuân sang quặn thắt lòng

                                    Hai chữ đồng hương sao ái ngại

                                    Nhìn nhau mặt lạnh tựa trời đông”!

Vì biết nơi đất Mỹ tuổi già sẽ cô độc đến thế nào nên anh em nàng không làm giấy bão lãnh cha qua Mỹ, mặc dù cha có thừa điều kiện để đi vì trước đây cha làm cố vấn phi trường, quản lý hàng ngàn viên phi công Hoa Kỳ và còn giữ rất nhiều hình ảnh công tác chung với họ – Nhưng để cha già gò bó chốn quê nhà, không thụ hưởng được những nếp sống văn minh tân tiến của xứ người là điều mà anh em nàng ray rứt lương tâm không ít cho nên cuộc sống ly hương càng thêm buồn bã !

Bây giờ mọi việc đã trễ tràng, cha không còn đủ sức khỏe để xuất cảnh nữa, chỉ nội chuyện đi chích ngừa, đi khám sức khỏe cũng có thể làm cha đứt hơi rồi đừng nói chi ngồi hai ngày đêm miệt mài trên phi cơ với độ cao lộn ruột…

Nói sao hết nỗi trắc ẩn trong lòng, Thy thở dài chán nản, nếu ngày trước đừng cản anh trai nàng chuyện bão lãnh mẹ cha thì chắc gì mẹ nàng phải chết oan uổng tại quê nhà, người đồng hương sao lại có những kẻ xấu xa ích kỷ, hàng xóm láng giềng mà cư xử chẳng nghĩa nhân, không giúp người lúc nguy nan kêu cứu ? Mẹ ơi…mùa trăng nầy là đã mười chín mùa trăng xa cách mẹ, mỗi lần con về quê hương thổn thức trong con càng dâng cao, còn đâu bóng dáng mẹ hiền chiều chiều phe phẩy chiếc quạt ngồi cạnh gốc cột đèn điện trước cửa nhà chờ con ?! Mất mẹ là mất cả bầu trời dịu ngọt, là mất cả niềm tin lẽ sống của riêng con…Mùa Vu Lan nầy lại thêm một lần nức nở cài cho mình cành hoa trắng trên ngực áo để nghe giọt buồn ngậm đắng bờ môi !!!

                                    Hương khói thân thương làm ấm lại

                                    Bao nhiêu kỷ niệm tháng ngày qua

                                    Dáng mẹ thân yêu giờ đã khuất

                                    Còn đây đơn lẻ bóng cha già!…

Trước mộ phần của mẹ, Thy quỳ mọp nghẹn ngào – Mười chín năm dài mẹ ngủ yên dưới lòng đất lạnh, đêm đêm chỉ có tiếng côn trùng rả rích than van trong màn sương u tịch thê lương của nghĩa trang vắng lặng…còn có ai để cận kề an ủi hay chỉ là những hồn hoang câm lặng dưới đáy mộ sâu ? Nàng quỳ như thế rất lâu và quên cả không gian quanh nàng – Trăng rằm đã lên cao qua đỉnh núi, Thy ngước mắt nhìn trăng qua đôi dòng lệ âm thầm, không còn một bóng người trong nghĩa trang nhưng nàng không thấy sợ – Tâm linh cho nàng biết mẹ luôn luôn phù hộ cho nàng trước bao tai biến, đã bao nhiêu lần nàng nằm mộng thấy mẹ về, oằn trên vai mẹ những bao bột nặng nề, hai bên còn có hai tên mặt mày hung tợn kềm kẹp mẹ, những lúc như thế nàng khóc ngất chạy theo mẹ thì bị hai tên côn đồ xô nàng té sấp, giựt mình tỉnh giấc…thì ra là trong giấc chiêm bao – Một lần nàng chạy chiếc xe Dream chở bé Thanh là đứa cháu gái kêu bằng dì và bé Vân là con gái nàng, đến khúc đường lộ lớn với tốc độ 80 cây số một giờ, một đàn bò thình lình từ trong đường băng ngang qua lộ, Thy quýnh quáng đạp thắng không được vì gót giày cao mắc vào cây ngang chỗ để chân mà bé Thanh cũng để chân chung với Thy nên không cách nào kéo gót giày lên kịp, Thy chỉ kịp kêu mẹ cứu nàng vì đã sát vào thân con bò đang băng qua lộ ! Nếu không được mẹ cứu giúp tức thời qua tai nạn thì cả 3 người chẳng ai còn mạng sống với tốc độ chạy rất nhanh trên đường lộ tráng nhựa – nghĩ đến tai nạn này Thy rùng mình, ớn óc , cái chết qua đường tơ kẻ tóc…nhưng có lẽ ngày đó là ngày đại nạn không thể nào tránh hẵn được, nên khi để Vân ở nhà Thy cùng cô cháu tiếp tục đi Sài Gòn, lên tới Hàng Xanh người đông như kiến, tránh một hàng người đi bộ giăng ngang đường Thy đã tông vào hông một chiếc xe hơi, hai dì cháu ngã vật trên đường tay chân mặt mày trầy trụa, chiếc xe Dream bể đèn bể bửng nằm còn quay bánh chênh vênh trước những đoàn xe qua lại vùn vụt – hai dì cháu phải vào bệnh viện băng bó, chiếc xe phải mướn xe xích lô máy chở đi đến tiệm sửa, thay đèn thay bửng, tút lại màu sơn những chổ trầy tốn hết gần 2 triệu đồng VN – Trên đường trở về nhà xa khoảng 120 cây số, hai dì cháu cứ suýt xoa lẩm bẩm  : Đúng là ngày xui tận mạng, không chết thì cũng bị thương, nhưng thà bị thương, bị tốn tiền còn hơn bỏ mạng ngoài xa lộ…

Năm sau, 1990 chờ đợi hoài cũng chưa thấy được xuất cảnh, Thy mua một chiếc xe tốc hành màu trắng chạy chở khách hàng ngày Vũng Tàu – Sài Gòn, ngày đầu tiên mua xe Thy đã gặp nạn – trong nhà và hàng xóm ai cũng bảo : năm nay sao Thái Bạch không được xài bất cứ cái gì màu trắng, tại sao mua xe màu trắng vậy ? Mua xe ở Phú Lâm, người chủ xe lái xe về Vũng Tàu giao tận nhà cho Thy và cà số xe để trở về Sài Gòn làm giấy tờ cho Thy đóng thuế trước bạ – vì còn một số thuốc lá 555 và hàng hoá thuốc tây Thy chưa kịp lấy xong hàng nên nàng đã lấy chiếc xe Dream chở chú Hiền chủ xe hơi về Phú Lâm, tiện thể lấy hàng mua chở về bằng xe Dream cho qua các trạm dễ dàng hơn – Trên đường về Sài Gòn, khi đi ngang Xã Hiền Hòa còn cách Long Thành chừng 7 cây số, trời đã tối Thy thấy trước mặt một bóng người to lớn chạy băng qua đường, với tốc độ đường trường và mở đèn cốt nàng không thể thắng kịp, chỉ còn nước lạng tránh mà thôi – Người đi bộ ấy đã đập nguyên chiếc mặt vào mặt Thy đến độ bể nát cái kiếng đổi màu Thy đang đeo trên mắt, những ngón chân người ấy bị bánh xe sau cán lên giựt người ấy té ngữa giữa lộ, máu ra ướt cả một vũng…xe của Thy thì lảo đảo thêm khoảng 10 mét nữa rồi ngã rầm bên lộ phải, chú Hiền và Thy văng ra khỏi xe – Khi hoàn hồn dựng xe lên Thy mới biết là đã tông vào một người đàn bà rất to con và là bà bầu gánh hát đang lưu diễn tại xã nầy – Mọi người xúm lại lấy xe Honda phụ nhau chở bà gấp đến bệnh viện Long Thành, trong lúc ấy hai người cháu của bà một trai một gái cũng là diễn viên của đoàn hát cầm cây chạy ra toan đánh Thy và chú Hiền, còn các con của bà thì đã chở bà đi nhà thương – Thy khóc và năn nỉ rằng tai nạn rủi ro chứ nàng đâu muốn, hai người trẻ tuổi ấy dường như cũng thấy thương hại nên không nỡ xuống tay đánh nàng – Công an đến bằng một chiếc xe Zeep lùn và Thy bị làm biên bản tại chỗ xãy ra tai nạn…Công an cho phép Thy lấy chiếc xe Dream chạy lên bệnh viện xem tình hình người thọ nạn, còn Hiền bị giữ lại làm con tin. Thy không còn tinh thần để lái xe nên hai người trẻ kia đồng ý lái và chở 3 lên bệnh viện – Thy lo gửi xe, hai người trẻ kia chạy vào bệnh viện và nhắc Thy : “ Cô coi chừng, lỡ thím cháu có mệnh hệ gì, con của bả sẽ ra đánh cô chết, tụi nầy mà chạy ra là cô chạy gấp nhé” Thy điếng cả người, gửi xe vừa xong chưa kịp bước theo vào bệnh viện thì nghe tiếng chân chạy thình thịch của một đám người, hai người trẻ kia chạy trước, ba người chạy theo sau – hai người trẻ kia la lên “ chạy mau cô ơi, bả chết rồi, tụi nó đánh cô chết đó” Thy quýnh quáng không kịp đề nổ máy xe mà cứ dẫn chạy nhanh theo hai người trẻ kia, tim nàng đánh thình thịch vì quá sợ hãi, cậu thanh niên cầm lấy xe đề máy, Thy và cô gái phóng nhanh lên xe thoát được ba người đang chạy theo sau ! Về đến chỗ lập biên bản, Công An hình sự giam giữ chiếc xe Dream của Thy và mời nàng lên xe Zeep chở về quận Long Thành, lúc đó là 9 giờ đêm năm 1990 – Thy bị giam lỏng trong chỗ làm việc hộ khẩu hộ tịch – ban ngày họ cho Thy tự do đi ra ngoài, ban chiều và tối khi hết giờ làm việc họ cho Thy vào phòng nghỉ và ngủ đêm trong đó để chờ thụ lý hồ sơ xét xử – Đêm đầu tiên nằm trên chiếc giường nhỏ, cửa sổ hư không có cánh cửa, Thy run bắn cả người, cứ liên tưởng đến người chết do mình gây ra rồi tưởng tượng họ báo oán, họ kéo chân nên không hề chợp mắt, tinh thần rã rời, sức lực cũng tàn lụn, nàng không ngờ có một ngày nàng đã giết người ! Nàng đã cướp đi mạng sống của một con người…nàng khấn lầm thầm “ bà ơi, xin bà tha tội cho tôi, trăm ngàn lần xin bà tha tội cho tôi” nàng chỉ nói thầm trong bụng vì tưởng như nói ra tiếng bà ấy sẽ nghe, nàng sợ quá, nàng sợ đến run cầm cập giữa đêm khuya lặng ngắt như tờ, một nơi xa lạ không thấy một bóng người trực đêm, trời ơi, mẹ ơi xin mẹ phù hộ cho con bình tỉnh thoát qua đêm nay, xin mẹ cứu lấy con trong tai nạn giết người này – con sợ quá mẹ ơi, xin mẹ linh thiêng cứu con, cứu con mẹ ơi…Thy đã khóc rấm rức hơn ba tiếng đồng hồ, thời gian đối với nàng bây giờ là phép nhiệm mầu, nàng cầu mong trời mau sáng cho nàng qua khỏi đêm dài khủng hoảng kinh khiếp này.

Một tuần sau ngày bị giam lỏng trong trại công an Long Thành, Thy không tài nào ngủ được, cứ nghĩ đến ngày bị đưa ra xét xử và một hình phạt khắt khe dành cho một tội phạm như nàng…Sự tưởng tượng mông lung trong ghê sợ đã khiến tâm hồn Thy mệt nhoài trong vô thức. Nàng cầu xin ở cõi siêu nhiên giúp nàng xóa tan đi những ám ảnh nặng nề trong tâm trí để có một chút bình yên vỗ về giấc ngủ muộn màng ! Nào ngờ  từ trong vô thức siêu nhiên, niềm tin kia đã trở thành hiện thực đưa đẩy sự việc khó khăn gian nan thành may mắn bất ngờ… Trong cuộc đời trải bao gian truân khốn khó của kiếp nhân sinh Thy chưa bao giờ phải bị bắt vì bất cứ một nguyên nhân nào, lần đầu tiên trong cuộc đời nàng đã phải bị giam lỏng, phải thụ lý hồ sơ án lệnh và…lần duy nhất trong đời nàng đã vô tình giết hại một mạng người, không biết tai họa nàng gây ra sẽ đem đến hậu quả vay trả như thế nào trong tương lai ? Thy đau đớn mang vào tâm hồn mình một bản án giết người, nó ám ảnh nàng suốt mười mấy năm qua, đêm đêm Thy vẫn âm thầm cầu nguyện bà tha tội cho nàng, hàng năm Thy không quên ghi tên bà vào danh sách thân nhân đã mất để nhờ quý thầy đọc kinh cầu siêu cho bà – Nàng vẫn nhớ sau ngày xét xử vụ án chết người do nàng gây ra, Vinh đã dùng xe hơi của đội điều tra chở nàng và con gái nàng đến nhà nạn nhân – Thy mua trái cây, nhang thơm vào cúng trước di ảnh của bà, trái tim Thy như muốn ngừng đập khi nhìn lên di ảnh bà đang trừng trừng nhìn Thy tức giận…Bà ơi, xin bà một vạn lần tha thứ cho tôi, tôi nào muốn cướp đi mạng sống của bà, tai nạn ngoài ý muốn, một tai nạn đã làm tôi bỏ ngủ bỏ ăn hối hận dập dồn bao nhiêu năm trời, tôi không ngờ có ngày tôi phải mang bản án sát nhân…Bà ơi, giờ này chắc bà đã tha thứ cho tôi, bà đã lặng yên miên viễn, còn tôi thao thức dày vò tâm não mười mấy năm qua, tôi biết bà hiển linh để đọc những dòng tâm bút này của tôi, và bà sẽ mĩm cười mà tha thứ cho tôi – tôi tin như thế – tôi tin mẹ tôi cũng như bà, những tâm linh đầy lòng nhân ái, tôi phải tin như thế để tôi được sống bình yên dù cũng có đôi giây tôi chợt nghĩ, hay là…bà ấy chết rồi, bà ấy đã ở một thế giới khác, bà hận thù mình mà không làm sao được đấy thôi ! Thy buông tiếng thở dài não nuột, nhìn ngôi mộ mẹ lần nữa để từ tạ rồi âm thầm gạt lệ dẫn xe ra khỏi nghĩa trang lặng ngắt âm u – bên ngoài, trăng đã lên cao, thấp thoáng bên sườn đồi những cành hoa rực rỡ sắc màu lấp loáng trong màn sương đêm, một ngọn gió nhẹ mát như nhung hôn vào những bông hoa đang lã lướt gọi mời và ánh trăng đang ngọt ngào cười với gió, vầng trăng kia vẫn muôn đời là chứng nhân trong vũ trụ – Còn gì huyền hoặc liêu trai hơn chuyện tình giữa hoa và gió hôn nhau, nàng trăng thẹn thuồng đỏ mặt chứng kiến trong đêm khuya tỉnh mịch giữa núi đồi hoang vu…

Nguyễn Phan Ngọc An – Mùa Vu Lan 2009




Trần Mộng Tú : LỜI CÁM ƠN RIÊNG

LỜI CÁM ƠN RIÊNG

 

             TRẦN MỘNG TÚ

Cuối năm 1976, tôi lập gia đình được ba tháng, theo chồng từ nam California về nhà cha mẹ chồng ăn mừng lễ Giáng Sinh, cũng là dịp để cha mẹ chồng tôi giới thiệu cô dâu mới với làng xóm của hai cụ. Một cô con dâu Việt Nam, không phải chỉ là điều ngạc nhiên cho làng xóm mà còn cho cả dòng họ bên chồng tôi nữa. Vì chẳng bao giờ họ nghĩ con, cháu họ lại lập gia đình với một người ở cái nước xa lạ đó.

 

Sau tiệc ở nhà, chúng tôi đi chào các cô, chú ở những thành phố gần Helena, Montana. Cha chồng tôi là con trưởng, cụ có một em trai và bốn em gái. Cô Ruth ở gần nhất, nên chúng tôi lái xe đến chào trước.

 

Lần đầu tiên đến thăm cô Ruth đã để lại trong lòng tôi một nỗi buồn bã không bao giờ quên được. Đến hơn ba mươi năm sau, mỗi lần tháng Tư về, ngoài niềm đau của vết thương quốc nạn bị khơi lại, tôi còn bị hình ảnh của cô Ruth ngày hôm đó, hiện ra cùng một lúc, làm vết thương của tôi nhức nhối thêm.

 

Hôm đó, cô Ruth đón chúng tôi ngay trước cửa nhà, ngôi nhà của cô ở trong một khu trại táo, không lớn lắm; chồng tôi nói, chú mất, cô bán dần đi trang trại, vì không lo xuể. Cô lúc đó gần sáu mươi, là một phụ nữ nhỏ bé so với người Mỹ, cô nhanh nhẹn và vui tính, cặp mắt sáng. Cô đem mứt táo do cô làm ra mời chúng tôi, xong cô nói chuyện về công việc trồng táo, hái táo và bán đi. Trước kia cô chú có cả ngàn mẫu, càng về già, càng bán bớt đi. Bây giờ không còn chú, cô nói, sẽ bán nốt trại này trong vòng năm năm, vì cô không đủ sức trông. Các con cô cũng chán làm việc trong trại táo rồi, họ bỏ đi làm xa ở những thành phố lớn hơn.

 

   “Hai cháu nếm món bánh táo này, còn mứt táo, cô đóng hũ nhiều lắm, chốc nữa nhớ   mang

     về một vài hũ.”

 

Tôi vừa ăn mứt táo, vừa ngắm cái dáng cô nhanh nhẹn, đi qua, đi lại, mang nước, mang bánh cho chúng tôi. Tôi đang nhâm nhi thưởng thức hương vị cây nhà, táo vườn, thì cô đem đến trước mặt tôi một tờ giấy khá to, gấp làm bốn, trải ra trước mặt tôi. Tôi nhìn xuống, đó là tấm bản đồ Viêt Nam.

 

Cô nhìn tôi, hỏi:

    “Chỉ cho cô Đà Nẵng ở đâu, cách Sài Gòn chỗ cháu ở bao xa?”

 

 Tôi chưa nghĩ ra tại sao cô lại có tấm bản đồ Việt Nam, tại sao cô muốn biết hai địa điểm này cách nhau bao xa? Tôi ngước nhìn chồng tôi, tôi thấy anh ngồi im, và anh tránh cặp mắt tôi. Tôi cúi xuống tấm bản đồ, tìm vị trí Đà Nẵng- Sài Gòn, chỉ cho cô. Cô nói rất nhẹ, nhưng tôi nghe rõ từng tiếng một.

 

    “Michael nó chết ở đây, Đà Nẵng.”

 

 Cô nói xong, gấp tấm bản đồ lại, mang vào buồng trong. Tôi nghe như có một tảng đá đè lên ngực mình, miếng bánh táo trong cổ họng tôi nghẹn cứng, tôi không nuốt được nữa, cuống họng của tôi như bị co lại. Tôi cầm ly nước, uống vội một ngụm, để cho miếng bánh trôi xuống, tôi thở hắt ra, tôi ứa nước mắt.

 

Cô Ruth trở ra với tấm hình của Michael mặc quân phục. Một thanh niên rất trẻ, có khuôn mặt thanh mảnh và cặp mắt sáng của mẹ. (Sau này tôi được biết Michael chết lúc 19 tuổi)

Cô Ruth nói:

“Chúng tôi chẳng biết gì về Việt Nam cả, chỉ biết đó là một nước nhỏ ở vùng Đông Nam     Á đang có chiến tranh, và nước Mỹ đang gửi quân sang giúp. Con trai tôi vừa học xong trung học. Người ta bốc thăm trúng tên nó, thế là nó đi, thế là nó chết. Nó đi rất tình cờ và chết rất tình cờ.”

 

Tôi ngồi im như một phiến đá nhỏ, tôi không biết phải nói gì. Nhìn mặt cô khi nói về cái chết của con với một giọng bình thản, xa vắng, không thấy có xúc động, không thấy có nước mắt trong đó, tôi bỗng rùng mình. Hình như cái đau của cô đã bị đông đặc lại, trong cô chỉ còn sự oán trách. Sự oán trách bây giờ tìm được đúng đối tượng, mang ra giải bầy. Cô chỉ nói có mấy câu mà tôi có cảm tưởng như cô đang trách móc, hay kết tội tôi. Tôi, một cô gái tỵ nạn đến từ cái nước con cô bị tử trận, rồi lại lấy cháu cô. Bây giờ đến trình diện cô. Chẳng biết cô có nghĩ: cả con lẫn cháu cô đều hệ lụy vì Việt Nam không? Chắc cô có tấm bản đồ này lâu rồi, cô đã thuộc lòng điểm nào là Sài Gòn, điểm nào là Đà Nẵng, cô mang ra hỏi tôi chỉ với mục đích cho tôi biết cái mất mát to lớn của cô trên đất nước tôi. Cô muốn tôi chịu trách nhiệm một phần nào về nỗi thống khổ cô mang vác bao nhiêu năm nay. Tôi ra về với một trái tim nặng trĩu ngàn cân và hai môi ngậm kín.

 

Tôi đã đến Hoa Thịnh Đốn đã đọc tên của Michael, đã đặt tay lên vầng trán lạnh của anh, nói thì thầm lời cảm tạ. Giống như thân nhân của các người lính Mỹ khác, các con tôi đã lấy giấy bóng than (carbon paper) tô lên tên anh, đem về nhà.

 

Cứ mỗi lần đến tháng Tư, những hình ảnh đau thương mở ra từng đoạn. Đọc những bài viết, và nhìn lại những hình ảnh về những người lính đã hy sinh trong cuộc chiến, tôi thấy trong đó có thấp thoáng tấm hình xuân trẻ của Michael cùng lúc với đôi mắt sáng và lạnh của cô Ruth nhìn tôi khi nói câu: “His death was sudden!”

 

Hơn ba mươi năm lập gia đình, chúng tôi rất nhiều lần đến thăm cô, khi cô bán nốt trại táo ở Montana rồi mua một căn nhà nhỏ ở Lake Chelan, Washington cho gần với con gái, chúng tôi thăm cô thường xuyên hơn. Trong thâm tâm tôi, tôi nghĩ, tôi có nợ cô một món nợ, cô không đòi trực tiếp và tôi vẫn trả cô gián tiếp. Tôi rủ chồng đến thăm cô, quan tâm đến cô nhiều hơn các cô chú khác. Mỗi lần đến, tôi mang theo một món quà nho nhỏ, chúng tôi mời cô đi ăn trưa, cô vẫn nhanh nhẹn, vui vẻ. Cô không hỏi tôi về Đà Nẵng nữa, không nói về Michael nữa. Tấm hình của Michael bây giờ cô mang ra phòng khách, không cất trong phòng ngủ của cô như lần đầu tiên tôi tới thăm cô. Cặp mắt cô vẫn sáng, nhưng ánh mắt cô nhìn tôi đã mỗi lần thăm là một lần dịu xuống. Tôi đoán cô không còn oán hận nước Việt Nam đã cướp mất người con trai cô, và cô thiếu  nữ Việt Nam đã lấy cháu cô nữa. Cô “tha” cho tôi rồi. Phải chăng cô đã hiểu cả ba chúng tôi: Cô, Michael và tôi đều chỉ là nạn nhân của chiến tranh.

 

Khi cô tám mươi tuổi, con cháu tổ chức cho cô cái lễ thượng thọ vào một mùa hè ngay trên bờ hồ của Lake Chelan, chúng tôi có đến dự. Cô mặc một cái áo có in hình tất cả con cháu ở sau lưng áo, nhưng phía trước ngực thì in hình Michael. Người con này, luôn luôn ở trong trái tim người mẹ, bà vẫn ôm cậu trước ngực mình.

 

Khi nào bạn có đến chiêm ngắm bức tường đá đen ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, có khắc tên gần sáu mươi ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh cho cuộc chiến Việt Nam, bạn thấy tên Michael Keys, thì đó chính là con của cô Ruth, em họ chúng tôi. Xin bạn hãy đặt tay lên vầng trán lạnh của Michael, cho anh một lời cám ơn riêng.

 

Trần Mộng Tú

Tháng Tư, 2010

 




Diệu Nga : Những Giọt Lệ Hồng

Mẹ tôi không muốn di cư sang Mỹ ở tuổi sáu mươi. “Già rồi, sang bên ấy chỉ ăn bám vợ chồng chúng mày!”. Bà nói khăng khăng như thế nhưng con gái xuống nước năn nỉ ỉ ôi, bà lại xiêu lòng. Ờ, nó nói cũng phải, mình qua bên ấy giữ cháu ngoại cũng vui, lại đỡ nhớ, khỏi phải chờ mong.  

Mình ở đây nó phải gửi tiền về cấp dưỡng, tốn kém lắm chớ chẳng không!” Dì tôi cười, nói như lẩy: “Nợ đòi rồi đấy, cứ sang mà trả cho xong!” Nghe mẹ kể lại lời dì, tôi cảm thấy hơi áy náy. Quả thật tôi cần mẹ không chỉ thuần túy vì tình cảm.
 
Tôi cầu cứu bà sang để chăn bầy cháu bốn đứa. Dạo này buôn bán ể ẩm, tôi không kham nỗi tiền giữ trẻ, cũng không thể tiếp tế đều đặn cho mẹ nên rước bà qua là nhứt cử lưỡng tiện… Căn nhà ba phòng của vợ chồng tôi, bề ngoài trông cũng khang trang với cây cảnh chung quanh và cửa garage tự động nhưng thật ra chỉ rộng 1100 sf. Trừ phòng ngủ chánh tương đối rộng rãi, hai phòng còn lại vuông vức, nhỏ xíu xiu.
 
Đất ở San Francisco là đất vàng. Căn nhà cũ kỷ năm mươi tuổi này trị giá chừng sáu chục ngàn nhưng lô đất 4000 sf của nó giá hơn bốn trăm, dù là nằm ở vùng ngoại ô xa tít. Thành ra cứ rán giữ, rán nắm dù mệt muốn hụt hơi.
 
Cửa tiệm fast food bán cho nhân viên các hãng xưởng gần đây cũng theo đà lay-off mà đi xuống. Đến đầu tháng là chúng tôi điên đầu với đủ thứ tiền phải thanh toán. Tư trang sắm từ những năm phồn thịnh buôn may bán đắt lặng lẽ nuối đuôi nhau đi hết, vào nằm im nơi các tiệm cầm đồ.
 
 Chúng tôi không hề nghĩ đến giải pháp bán nhà vì đó là gia tài duy nhất, cũng là mối kinh doanh không sợ lỗ vốn; vả lại bây giờ đi mướn một apartment tồi tàn đủ chỗ chứa sáu người, giá thuê hàng tháng còn mắc hơn số tiền trả góp nhà.
 
Trong tình thế kiệt quệ này, nếu có mẹ tôi lo cho tụi nhỏ, đưa đón đi học, quán xuyến việc nhà, tôi sẽ rảnh rang hơn để đi làm thêm lặt vặt buổi sáng, trưa về phụ tiệm ăn với chồng tôi. Buổi tối chúng tôi sẽ đi clean các tiệm ăn, chợ búa. Chịu khó một thời gian hi vọng kinh tế sẽ phục hồi trở lại.
 
Mọi người đã hăm hở đón chào thiên niên kỷ mới, ai ngờ nó bắt đầu bằng sự xuống dốc! Mẹ sang Mỹ vào mùa Thu. Trời khá lạnh đối với mẹ vì chưa quen nhưng màu xanh của biển trời đã thu hút mẹ. Lũ cháu xúm xít lấy bà vì ngày thường không ai gần gũi chúng cả. Chúng xổ tiếng Anh líu lo, thậm chí cô bé út mới bốn tuổi cũng không rành tiếng Việt. Bà cười dễ dãi: “Sẽ có cuộc trao đổi nhé! Bà dạy các cháu nói tiếng Việt, các cháu dạy cho bà nói tiếng Anh.” Thấy mẹ vui, tôi an lòng.
 
Thế là bên cạnh cái giường hai tầng của hai cô bé gái là tấm nệm của bà ngoại. Ban đêm, ba bà cháu nói chuyện rì rầm; có khi hai cậu trai cũng gõ cửa xin vào để được hưởng không khí đầm ầm bên bà ngoại rất hiền và rất vui. Mẹ như bà tiên có chiếc đũa thần đã biến căn nhà bừa bãi đầy phiền muộn của chúng tôi thành một tổ ấm ngăn nấp, sạch sẽ và đầy tiếng cười.
 
Trước kia, chúng tôi chỉ dùng những thức ăn ế ẩm từ cửa hàng, lắm khi nuốt chẳng trôi. Mẹ bảo cứ bỏ thịt bỏ rau và tủ lạnh cho bà. Thế là mỗi chiều về gia đình tôi được quây quần chung quanh bàn ăn có cơm canh nóng hổi, hương vị ngọt ngào.
 
Chỉ sau và tháng, các con tôi khỏe mạnh ra, lễ phép ra và biết phụ giúp công việc lặt vặt trong nhà. Hai cậu con trai lớn, bà phân công lo vườn tược cây kiểng: “Thằng Hùng mười hai tuổi, lớn rồi, lo chăm sóc các cây lớn, tỉa lá, bón phận, Hậu cũng mười tuổi rồi, thay vì ôm máy chơi game, có thể phụ anh quét sân, tưới nước.” Bà hiền lành nhưng nói gì các cháu cũng nghe. Chúng không còn là những đứa bé “vô tích sự” như thuở trước.
 
Thật ra chúng không đến nỗi tệ nhưng vợ chồng tôi quần quật với công ăn việc làm, không có thì giờ dạy dỗ, chỉ vẽ. Bảo làm chuyện gì, chúng thực hiện qua loa lấy có, rầy mãi phát mệt thành ra không thèm sai biểu nữa, tự mình làm chóng xong mà vừa ý hơn. Con Hoa hãnh diện khoe với mẹ: “Bà dạy con nấu cơm. Con biết lặt rau, rửa chén, lại biết tráng trứng nữa cơ!” Tôi hôn con, thầm cám ơn mẹ đã cho gia đình tôi cơ hội để sống có hạnh phúc thay vì cứ mãi rầy rà, cãi vả, gây ó nhau trong một căn nhà bề bộn, dơ bẩn.
 
Mẹ vốn là một Phật tử thuần thành. Thỉnh thoảng bà giảng dạy cho tôi về đạo lý: “Hạnh phúc không phải là món quà từ đâu đến, không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng thể do phúc đức mà được. Mình phải biết cách sống, biết cách hợp tác xây dựng thì mới có hạnh phúc.” Thuở ấy, đầu óc tôi quá dầy đặc với những con số để có thể hiểu lời mẹ khuyên, vả lại cũng không có thì giờ… Thôi thì để mẹ lo giùm.
 
Mỗi chiều về nhìn các con ngoan, được ăn bữa cơm tối ngon, đối với tôi đã là đủ rồi. Tôi bận rộn với nợ nần đến nỗi không mấy khi chú ý đến tâm tình của mẹ. Bây giờ kiểm điểm lại mới nhớ rằng tôi ít hỏi thăm về sự buồn vui của bà. Thay đổi môi trường sống, bà bỏ lại sau lưng biết bao nhiêu thứ: chị em, họ hàng, lối xóm, sư ông, bằng hữu… Đôi khi, mắt mẹ thoáng buồn. Tôi chỉ hỏi qua loa: “Mẹ có mệt không?” Chao ôi, rõ tệ, miệng hỏi mà lòng vái thầm: “Mẹ đừng ngã bệnh, khổ con!” Là con một nên cách suy nghĩ của tôi thường ích kỷ như thế. Cái gì cũng qui về mình, cho mình thôi!
 
Thắm thoát, mẹ ở với chúng tôi đã được một năm rồi. Gia đình thì ổn thỏa nhưng tình trạng tài chánh càng ngày càng bết bát mặc dù vợ chồng tôi bỏ sức lao động gấp đôi. Giao kèo mướn cửa tiệm sắp hết hạn mà chẳng tìm được người sang lại. Không ký thêm thì mất tiệm, mất luôn năm mươi ngàn bỏ ra sang tiệm trước kia, nhưng tiếp tục thì ngày càng thua lỗ, chẳng kham được nữa. Chuyện gì đến, phải đến.
 
Tháng sau đó, vợ chồng tôi lủi thủi dọn đồ về trả lại cửa hàng cho người ta sau mười năm làm chủ. Bây giờ hóa ra là kẻ làm công, lại làm những nghề linh tinh quét dọn. Tủi thân mà tức số phận mình. Mẹ an ủi: “Thôi, như thế đỡ lo con ạ. Tinh thần căng thẳng quá có khi phát dại, hóa cuồng! Trong cái dở có cái hay là thế!” Chúng tôi lợi dụng thời gian tương đối rảnh rang này để sửa chữa căn nhà hư dột. Anh Thắng chịu khó và khéo tay nên cái gì cũng tự làm được, đỡ tốn tiền mướn thợ.
 
Một hôm anh leo lên mái nhà để lợp lại mấy miếng ngói bể. Sơ ý thế nào chẳng rõ, anh trợt chân té xuống bất tỉnh. Chỉ có mình mẹ ở nhà! Bà bình tĩnh gọi 911, vắn tắt vài câu tiếng Anh: “He falls down from the roof. He stops breathing!” Và rành rọt đọc địa chỉ, số phone nhà cho họ. Ai ngờ bà âm thầm học chữ Anh mau đến thế! Bà đã cứu mạng chồng tôi! Thắng bị gãy chân và dập ống quyển. Phải nằm tại chỗ từ năm đến sáu tháng.
 
Tình cảnh này đưa mẹ tôi vào môi trường mới. Bà tự nguyện thế chỗ cho chồng tôi để quét dọn, lau chùi các cửa tiệm hầu phụ giúp tôi về tài chánh. Mẹ hăng hái trong công việc. Tôi đoán rằng ở nhà mãi mẹ cũng buồn, nay được ra ngoài bà cảm thấy vui hơn. Bà có những người bạn mới: cô thâu ngân vui tính, bà lão phụ trách hàng rau cải, chú “Thoòng” chuyên khuân vác.
 
Mẹ hòa mình với họ, với cuộc sống của những người lao động tay chân. Đâu ai biết rằng trước 1975, mẹ là giáo sự dạy Pháp văn tại một trường công lập lớn ở Sài Gòn. Các con tôi biết hoàn cảnh bi đát của gia đình nên mỗi đứa một tay, cùng nhau lo chuyện nhà. Mẹ tôi hài lòng thấy các cháu tự ý thức được trách nhiệm, biết thương mẹ thương cha. Ngày anh Thắng trở lại công việc, tôi xin mẹ ở nhà nghỉ ngơi.
 
Mẹ nói: “Con ơi, ra ngoài cũng vui, lại kiếm được đồng tiền. Từ ngày đi Mỹ đến nay đã gần hai năm, mẹ chưa gửi tiền về giúp các em, các cháu bên ấy. Tụi nó nghèo lắm mà chẳng có cách kiếm ra tiền cho kịp đà leo thang của vật giá. Bên này kiếm tiền dễ hơn. Có tiền, mẹ lại có phương tiện cúng dường, bố thí…” Tôi im lặng nghẹn ngào, chợt nhớ rằng mẹ chưa hề hỏi tôi một đồng xu nào và tôi quên bẵng rằng mẹ cũng có nhu cầu tiêu xài.
 
Trên thế gian này, không có nhân viên nào làm việc cật lực mà không đòi hỏi thù lao như thế! Vô tình, tôi đã “đòi nợ” mẹ tôi một cách tận tình. Dì tôi cũng có lý khi bà mỉa mai tôi. Trong lúc tôi đăm chiêu, mẹ nhẹ nhàng tiếp: “Mẹ đã xin được chân rửa chén trong nhà hàng. Rửa bằng máy chả cực nhọc gì!” “Trời đất ơi, rửa chén, cần sức lực của người đàn ông Mễ mới kham nỗi. Nồi niêu son chảo to như cột đình, nặng như búa tạ, làm sao mẹ nhấc cho nổi!” Tôi xuống giọng tiếp: “Mẹ nhìn lại mẹ xem. Tay mẹ gầy yếu, lưng mẹ đã cong, bước đi không còn nhanh nhẹn. Dù họ cần người, mướn tạm, vài hôm cũng cho nghỉ việc thôi!” Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ mẹ.
 
Bà già thật rồi, cái già đến nhanh quá. So với hồi mới qua, bà như tăng thêm năm, bảy tuổi. Mẹ tôi cúi đầu xuống thấp. Hình như bà cố giấu giọt lệ vừa ứa ra. Tôi nhẹ nâng cầm mẹ lên và nhìn sâu vào đôi cửa sổ tâm hồn ấy.
 
Trời ơi, mắt mẹ đã kéo mây! Đôi mắt bồ câu đen láy ngày nào từng làm điên đảo các chàng trai cùng trang lứa, cột chân ba tôi vào tổ ấm gia đình, giờ đã một phần ngả màu đục lờ như nước gạo vo. Tóc mẹ trắng bơ phờ, đuôi mắt nhăn như rẻ quạt, vầng trán sạm đen vết đồi mồi…
 
Tôi mủi lòng xót xa. Hai mẹ con ôm nhau, nước mắt người này thấm ướt vai áo người kia. Tôi nhỏ nhẹ: “Con không dám trái ý mẹ, nhưng mẹ rán chờ. Con hứa sẽ tìm công việc nhẹ nhàng hợp với mẹ hơn, mẹ nhé! Vong hồn ba mà biết mẹ cực khổ thế này chắc khó siêu.” Trời cũng thương tình. Đâu chừng một tháng sau thì bà lão làm rau cải xin nghỉ việc về hưu. Mẹ tôi trở thành “bà cụ hàng rau”. Danh xưng và chức vụ gắn liền với mẹ tôi từ đấy. Vậy mà bà vui.
 
Mỗi tháng bà lãnh được hơn ngàn bạc. Phân nửa số tiền, bà gửi về Việt Nam: phần cúng dường, phần bố thí, phần giúp đỡ các em, các cháu. Số còn lại, bà dành dụm mấy kỳ lương, đưa tôi hơn ngàn bạc. “Mẹ thấy người ta dựng phòng trong garage cũng tiện lắm. Nếu chồng con không phiền, con lấy tiền này nhờ nó mua vật liệu, che tạm cho mẹ một căn phòng nhỏ. Con Hoa, con út bắt đầu lớn, tụi nó cần sự riêng tư. Mẹ cũng vậy, có phòng riêng mẹ sẽ dựng kệ thờ Phật, mỗi ngày mẹ có thể lễ bái, tụng kinh, niệm Phật…”
 
Chồng tôi nghe kể lại, vui vẻ đáp: “Chuyện nhỏ! Mẹ muốn gì anh cũng xin vâng, nói chi việc ấy!” Từ đấy, mẹ lộ vẻ hoan hỉ lắm. Sáng tối hai thời, ít khi nào bà bỏ lỡ công phu. Bà như một người đạt được mục tiêu cho đời mình, không có gì để ưu tư, khắc khoải.
 
Mùa Đông năm ấy, thời tiết hơi khác thường. Ban ngày ấm áp xen kẽ với những đêm buốt giá mà nhiệt độ đôi khi hạ thấp đến không ngờ. Vợ chồng tôi mời mẹ tạm trở về phòng cũ vài ba tháng, ngoài garage lạnh quá dễ sinh bịnh. Mẹ nói: “Ở chỗ này quen rồi, dời đi khó ngủ.” “Mẹ nhớ vặn heat cho đủ ấm nhé!” “Ờ, tao biết mà!” Ngờ đâu mẹ đã không qua khỏi mùa Đông! Buổi sáng chẳng thấy mẹ dậy sửa soạn để đi làm, tôi bảo “đứa nào ra đánh thức bà dậy, nhanh lên kẻo trễ!”
 
Con Hoa quấn mền đẩy cửa bước ra garage miệng kêu léo nhéo. “Ngoại ơi, ngoại à…” Không có tiếng trả lời… Nọ bật đèn, tiến đến cạnh giường: ngoại quấn hai cái mền kín mít, nằm im ỉm. Nó lắc chân ngoại, bà chẳng đáp. Nó lôi cái mền xuống: mặt bà xám xịt, lạnh ngắt, đôi mắt khép hờ… “Mẹ ơi, mẹ! sao kỳ vầy nè!” Cả nhà đổ xô ra. Chồng tôi đạo Chúa, vội làm dấu thánh giá…
 
Tôi xỉu ngay tại chỗ khi loáng thoáng nghe thằng Hùng la lên: “Sao bà không mở heat?” Cuộc điều tra của cảnh sát quấy rầy chúng tôi một thời gian, cuối cùng họ kết luận: “Bà cụ không thường mở heat; cái máy mua hai tháng về trước còn mới tinh chưa hề được sử dụng!” Tôi như người mất hồn trong đám tang của mẹ. Sự hối hận như lưỡi dao có răng, nó cưa xé lòng tôi.
 
Trái tim tôi cơ hồ rỏ máu thành những giọt lệ hồng. Bạn bè khuyên tôi nên đến chùa xin cúng thất, thiết lễ cầu siêu cho bà. Tôi chẳng thể nói năng chi cùng vị sư ở chùa, chỉ biết dập đầu lạy cầu cứu với đôi mắt sưng húp. Chồng tôi bình tĩnh hơn, anh buồn bã kể đầu đuôi tự sự. Câu chuyện khiến thầy thương tâm, thầy thường an ủi, khuyên giải sau những thời lễ cúng. Khi thấy tôi bắt đầu trở lại bình thường, thầy dành cho gia đình chúng tôi một thời pháp thoại.
 
Thầy giảng về lý vô thường, khổ, không. Các con tôi tỏ ra thích thú với sự thật giản dị và sâu sắc này, chúng đòi được học giáo lý đạo Phật thay vì đi nhà thờ với ba. Riêng tôi, tôi nhớ mãi câu kết luận của thầy trong buổi nói chuyện ấy: “Con người ta sở dĩ đau khổ triền miên là tại mình muốn nắm giữ! Cái gì cũng khư khư ôm chặt. Làm sao giữ mãi được vì bản chất của chúng là vô thường, là không. Hãy buông bỏ hết đi, chừng nào bỏ được, chừng ấy mới có chân hạnh phúc!”
 
Phải rồi, nếu chúng tôi không bám chặt vào căn nhà thì mẹ tôi đã không phải vất vả đến thế, không đến nỗi chết cóng ngoài garage. Và gia đình tôi không lụy đến mức này. Tôi thỏ thẻ bàn với chồng: “Anh à, căn nhà này mình không giữ nỗi thì bán nó đi. Em tính rồi, sau khi thanh toán hết nợ nần mình cũng còn vài trăm ngàn. Dọn sang Texas, nhà cửa rẻ hơn, mình có thể tậu căn khác hoặc là giữ làm vốn, tính chuyện làm ăn…” ” Ờ nhỉ, hồi đó sao mình ngu quá, cứ ôm lấy nó mà cắm cổ đi cày trả nợ. Liệu giữ không được thì sớm buông đi…
 
Nhờ ông thầy giảng dạy, mình mới sáng mắt ra!” Sau khi dọn sang Texas, trước khi bắt tay vào công ăn việc làm, tôi đến quì dưới chân sư ông kể lể hết sự tình, xin sám hối thì lòng tôi mới có thể yên. Sư ông trầm ngâm và yên lặng nghe tôi vừa khóc rấm rức vừa kể về mẹ tôi, đệ tử mà người rất quí mến. Sư ông không hề cắt ngang bằng những câu hỏi. Người không phê phán gì, chỉ để yên cho tôi khóc, khóc oà vỡ như cái đập nước bị ngăn chận, nay có người tháo ra…
 
Mãi một lúc lâu lắm sau đó, sư ông mới dạy: “Người mẹ nào cũng có trái tim Bồ Tát. Mẹ con hành Bồ Tát đạo ngay trong gia đình trước khi mở rộng ra trong cuộc sống với mọi người. Con hãy hảnh diện có bà mẹ như thế! Con sẽ không cảm thấy hối hận ray rứt nữa nếu con biết đi theo hướng đi của mẹ con, biết xả bỏ cái tôi vị kỷ để lo cho người chung quanh.”
 
Tôi sụp xuống đảnh lễ người đã chỉ cho tôi tháo mở cái gút dây kết mối ân hận trong tôi. Tôi trở về Texas với sự bình yên và tâm nguyện cao cả… Nhưng khi mùa Vu Lan về, cầm hoa trắng trên tay, tôi không thể ngăn được những giọt lệ hồng phát xuất từ trái tim tôi… Than ôi! Khi tôi biết nghĩ tới mẹ, biết giá trị của trái tim bồ tát, biết thương mẹ thì bà đã không còn nữa trên đời…
 
Diêu Nga



NNS, Sơn Nguyễn : NHẤT KHOẢNH TRUNG HƯNG

Mới sáng vào làm việc, mở mail đã thấy ngay Bài Phú Chữ Hán của Ông Chú gởi, bảo đọc đi… Chú ơi, Chú cứ tưởng Cháu "hay chữ" lắm sao…?
Thôi (thì) cũng chuyển cho Thân Hữu đọc, vì là một bài Phú hay về Lịch sử (có thể cho các Bác lớn tuổi giữ làm tài liệu…).
 
 

Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn

玄溪鄭國還手筆

 

壹頃中興

(參會獨韻賦)

迴想

多少黃金歷史;

多麼倖面雲仍.

黎後時期如此;

中興階斷特徵.

癸巳年張阜王有化州侵犯 明屬時期确立;

壬戌月重光鄧容東海殉節陳朝制度告終.

勞役恨人人掘起;

亡國讎眾眾衝鋒.

太元紅衣党農民人群義聚;

清化藍嶽山豪長劍搠旗張.

平吳完畢;

              保越興隆.

不幸哉

愛州處避難昭宋光紹;

北山鑵懸首統元恭皇.

東都城內莫登庸僭權攛位;

岑下省鄰黎維絢上殿中興.

乙巳年降將楊執壹毒葯命亡上父;

戊申歲賢婿鄭太師掃莫扶弼黎王.

又榮光哉

丞於君德;

倀有臣忠.

至拾年方殘酷戰爭箑歌勝利;

近參世紀太平安樂建設盛強.

百越江山累培廣面;

貉鴻文獻開展多方.

戰略弘深南北東西皈壹帶;

智謀淵博士農工賈發千疆.

紀綱曲折不容內亂無雙今古;

政体新奇沒有外侵獨壹亞東.

興業不求高名天子;

侑民永守大節棟涼.

二百四拾玖年常哥盛治;

七萬五陸餘日空境刀鎗.

拾壹鄭代義忠護國;

拾陸黎朝強旺安邦.

廉正上表;

賢才宣揚!

秤其硌種;

秤其鴻宗!

榮焉甚豪傑!

榮焉甚英雄!

有偈雲

天機變幻寔無窮,

國運敗衰倘盛強.

可以英雄生世局,

雖然世局造英雄!

 

NHẤT KHOẢNH TRUNG HƯNG

(Tam hội độc vận phú)

 

HỒI TƯỞNG

Đa thiểu hoàng kim lịch sử,

Đa ma hãnh diện vân nhưng.

Lê hậu thời kỳ như thử;

Trung hưng giai đoạn đặc trưng.

Quý Tỵ niên Trương Phụ, Vương Hữu – Hóa Châu xâm phạm, Minh thuộc thời kỳ xác lập;

Nhâm Tuất nguyệt Trùng quang, Đặng Dung Đông Hải tuẫn tiết, Trần triều chế độ cáo chung.

Lao dịch hận, nhân dân quật khởi;

Vong quốc thù, chúng chúng xung phong!

Thái Nguyên “Hồng Y” Đảng, nông dân nhân quần nghĩa tụ;

Thanh Hóa Lam Nhạc sơn, hào trưởng kiếm sóc kỳ trương.

Lê Lợi thừa cơ xuất binh, thập niên kháng chiến;

Vương Thông thất thế bại trận, nhất đán quy hàng.

Bình Ngô hoàn tất; – Bảo Việt hưng long.

 

BẤT HẠNH TAI!

Ái châu xứ tị nạn, Chiêu Tông – Quang Thiệu;

Bắc Sơn quán huyền thủ, Thống Nguyên – Cung Hoàng.

Đông Đô thành nội, Mạc Đăng Dung tiếm quyền thoán vị;

Sầm Hạ tỉnh lân, Lê Duy Huyến thượng điện trung hưng.

Ất tị niên hàng tướng Dương Chấp Nhất, độc dược mệnh vong thượng phụ;

Mậu Thân tuế hiền tế Trịnh Thái Sư tảo Mạc phù bật lê vương.

 

HỰU VINH QUANG TAI!

Thừa ư quân đức, Trương hữu thần trung.

Chí thập niên phương tàn khốc chiến tranh, âu ca thắng lơị;

Cận tam thế kỷ thái bình an lạc, kiến thiết thịnh cường.

Bách Việt giang sơn lũy bồi quảng diện;

Lạc Hồng văn hiến khai triển đa phương.

Chiến lược hoằng thâm, nam bắc đông tây quy nhất đới,

Trí mưu uyên bác, sĩ nông công cổ phát thiên cương.

Kỷ cương khúc triết bất dung nội loạn, vô song kim cổ;

Chính thể tân kỳ một hữu ngoại xâm, độc nhất Á Đông.

Hưng nghiệp bất cầu cao danh thiên tử;

Hựu dân vĩnh thủ, đại tiết đống lương.

Nhị bách tứ thập cửu niên thường ca thịnh trị;

Thất vạn ngũ lục dư nhật không cảnh đao thương.

Thập nhất Trịnh đại nghĩa trung hộ quốc;

Thập lục Lê triều cường vượng an bang.

Liêm chính thượng biểu;

Hiền tài tuyên dương;

Xứng kỳ lạc chủng;

Xứng kỳ hồng tông!

Vinh yên – Thậm hào kiệt!

Vinh yên  – thậm anh hùng!

 

HỮU KỆ VÂN

Thiên cơ biến ảo thực vô cùng

Quốc vận bại suy thảng thịnh cường

Khả dĩ anh hùng sinh thế cục

Tuy nhiên, thế cục tạo anh hùng?

 

PHÚ

MỘT THOÁNG TRUNG HƯNG

(bài phú ba đoạn một vần)

 

HỒI TƯỞNG LẠI

Bao nhiêu nét son lịch sử; – bấy nhiêu hãnh diện giống dòng,

Tiêu biểu thời kỳ Lê hậu; – Đặc trưng giai đoạn Trung hưng.

Năm Quý Tỵ Trương Phụ, Vương Hữu xâm phạm Hóa Châu, Minh thuộc thời kỳ xác lập ;

Tháng Nhâm Tuất Trùng Quang, Đặng Dung tuẫn tiết biển Đông, Trần triều chế độ cáo chung.

Ôm hận khổ sai lao dịch, người người quật khởi;

Mang thù mất nước nhà tan, chúng chúng xung phong.

Đất Thái Nguyên đảng “Áo Đỏ” nông dân khí hào nghĩa tụ;

Miền Thanh Hóa núi Lam Sơn hào trưởng kiếm tuốt cờ dương.

Thừa cơ Lê Lợi xuất quân, mười năm kháng chiến;

Thất thế Vương Thông bại trận, một sớm quy hàng;

Công cuộc bình Ngô trọn vẹn; – sự nghiệp giữ nước rỡ ràng.

 

BẤT HẠNH THAY!

Đất Thanh Hóa ẩn thân Quang Thiệu;

Quán bắc Sơn phơi xác Cung Hoàng.

Tại Đông Đô, Mạc Đăng dung chiếm quyền cướp ngôi báu,

Ở Sầm Hạ, Lê Duy Huyến dấy nghiệp tiếp Trung hưng.

Năm Ất Tỵ hàng tướng Dương Chấp Nhất dùng thuốc độc giết ngầm Thượng phụ;

Năm Mậu Thân rể qúy Trịnh Thái sư mang trí lực phò ta Lê vương.

 

VÀ VINH QUANG THAY!

Do vua nhiều đức tốt; – nhờ tôi gắng tận trung;

Tròn một chục năm chiến tranh tàn khốc, khải hoàn thắng lợi;

Gần ba thế kỷ yên hưởng thái bình, vun đắp thịnh cường.

          Giang san Bách Việt ngày càng nới rộng; – Văn hóa Lạc Hồng rộn bước

        mở mang.

Chiến lược sâu xa, Nam Bắc Đông Tây quy thành một mối;

Trí mưu uyên bác, sĩ nông công cố sải cánh muôn phương.

Kỷ cương rờ rỡ, chẳng dung tha nội loạn, khôn tìm nơi kim cổ;

Chính thể lạ lùng, không gợn bóng ngoại xâm, chưa thấy chốn Á Đông .

Dương nghiệp đâu cần ngôi Thiên tử; – giúp dân mãi hưởng tiếng Trung hưng;

Hơn hai trăm năm chỉ còn thái thịnh; – gần tám vạn ngày không cảnh máu xương!

Mười một đời Chúa Trịnh trung quân hộ quốc;

Mười sau triều vua Lê Trung hưng vượng an bang.

Đức liêm chính giữ gìn tôn trọng; – Kẻ hiền tài ưu ái biểu dương;

Xứng danh con Lạc! – Xứng danh cháu Hồng!

Vinh thay thực là hào kiệt; – Vinh thay thực là anh hùng!

 

CÓ KỆ RẰNG:

Máy trời đóng mở thực khôn cùng

Vận nước khi suy lúc thịnh cường

Chẳng nhẽ anh hùng sinh thế cục?

Mà là thế cục tạo anh hùng?….

 
Chia sẻ cùng Thân Hữu một Nhạc phẩm hay:
159-NNS-Mộng Lành.pps
Nhạc: Hoàng Trọng
Ca sĩ: Loan Châu
 
Bài viết:
Đoạn Trường Tân Thanh
 
Tình Thân,
Kính,
NNS
…………………………………………………………………….
Đoạn Trường Tân Thanh

Khi Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều để về quê sau một thời gian say sưa ân ái, Nguyễn Du tả cảnh chia tay bằng hai câu thơ bất hủ:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.

Kẻ ra đi, người còn bịn rịn nắm áo giữ lại, đến lúc biệt ly mới ngỡ ngàng nhận ra là mùa thu đã đến từ lúc nào không hay, lá vàng đã phủ đầy lối đi. Thì ra đôi uyên ương đã quá say sưa đến quên cả thời gian.
Nhưng vần thơ trác tuyệt như vậy đầy rẫy trong truyện Kiều. Thiên tài của Nguyễn Du là đã vừa viết truyện vừa sáng tác ra ngôn ngữ để viết. Và những sáng lạo ngôn ngữ của ông quả là tuyệt vời. Nhưng cụm từ của ông đã trở thành những thành tố quan trọng của tiếng Việt. Sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, rạch đôi sơn hà, hàng thần lơ láo, đội trời đạp đất, tài tử giai nhân, sở khanh, v.v… Kiến thức về văn học của tôi không có bao nhiêu, nhưng tôi cũng đã đọc khá nhiều tác giả lớn bằng tiếng Pháp và tiếng Anh và nhiều truyện Tàu. Tôi chưa hề thấy một nhà văn nào sáng tạo ra ngôn ngữ nhiều như Nguyễn Du.
Những về một khía cạnh khác, truyện Kiều lại đem đến cho tôi một tâm sự chua chát. Đoạn Trường Tân Thanh là tên của một tiểu thuyết vô danh của một tác giả vô danh bên Trung Quốc, Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du đã giữ nguyên tên tác phẩm và, theo một số nhà nghiên cứu văn học, cũng giữ nguyên cả cốt truyện, kể cả những chi tiết ngớ ngẩn như hồn ma Đạm Tiên, Từ Hải chết đứng, Thuý Kiều chết đi sống lại và gặp vãi Giác Duyên… Ông cũng giữ nguyên cái triết lý tài mệnh tương đố bi quan và rẻ tiền. Nói chung, Nguyễn Du không có cảm hứng và tư tưởng của chính mình mà chỉ hòa nhịp theo cảm hứng của một tác giả tầm thường của Trung Quốc và đi theo mạch tư tưởng rất tầm thường của người này. Nguyễn Du là khuôn mặt văn học lớn nhất và cao nhất của nước ta cho tới ngày nay, cho nên nhưng thiếu sót của ông càng đáng tủi hổ cho chúng ta hơn là nơi những tác giả khác. Hình như không có câu thơ nào trong Cung Oán Ngâm Khúc mà lại không có một điển tích văn hóa hay lịch sử Trung Hoa và quyết nhiên không có một qui chiếu Việt nam nào cả. Chinh Phụ Ngâm là tác phẩm hoàn toàn của người Việt nam, bản chữ Nho của Đặng Trần Côn cũng như bản chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm, nhưng đó lại là một truyện Tàu, bối cảnh và các nhân vật của nó đều là Trung Hoa. Tâm hồn của người chiến sĩ lên đường được diễn tả qua hai câu thơ:
Săn lâu lan rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Nhưng sự Phục Ba là sự gì? Đó là việc tướng nhà Hán Mã Viện, có tước Phục Ba Tướng Quân, đem quân đánh bại Hai Bà Trưng, dẹp cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên của Việt nam, và đặt ách đô hộ một ngàn năm trên nước ta. Một sự kiện như vậy mà lại gây hứng khởi trong lòng hai danh sĩ xuất sắc bậc nhất của nước ta đủ chứng tỏ cảm hứng của sĩ phu Việt nam vào thời đó đều chỉ hoàn toàn là vay mượn.
Trong thế kỷ 19 thơ văn Việt nam đã làm một bước nhảy vọt vĩ đại cả về phẩm lẫn lượng. Bước nhảy vọt này đã được tiếp nối và tăng cường trong thế kỷ 20 với sự bành trướng của chữ quốc ngữ, thơ mới và tiểu thuyết theo kiểu phương Tây. Cũng trong thế kỷ 20 mà chúng ta bắt đầu làm quen với văn nghị luận và biên khảo. Nhưng chúng ta vẫn chưa có một tác phẩm nào lớn, có tầm vóc quốc tế. Cảm hứng vụn vặt, đam mê chốc lát – di sản của một nền văn hóa nhàn dư – đã chỉ đẻ ra những tác phẩm nhỏ, hoặc họa hiếm lắm là trung bình như trường hợp truyện Kiều. Chúng ta thiếu óc sáng tạo và thiếu sự dài hơi. Tại sao?
Không phải chúng ta thiếu tài năng. Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, v.v… đều đáng được coi là những thiên tài của ngôn ngữ.
Không phải chúng ta thiếu đề tài và chất liệu. Mười lăm thế kỷ đấu tranh với thiên nhiên để khai mở đồng bằng sông Hòng, đấu tranh với ngoại bang, vua quan và sĩ phu để giữ gìn căn cước. Cả một cuộc nam tiến vĩ đại kéo dài bảy thế kỷ trong đó những tấm áo nâu đã dắt dìu nhau vào tới Cà Mau. Hơn một trăm năm Trịnh – Nguyễn phân tranh, ba mươi năm tranh hùng Nguyễn ánh – Tây Sơn; cuộc xâm lăng của người Pháp và gần một thế kỷ Pháp thuộc mang theo một cuộc đụng độ dữ dội chưa từng có giữa hai thế giới và hai nền văn hóa khác hẳn nhau. Thế rồi cuộc chiến đấu giành độc lập, cuộc can thiệp của Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc kéo dài hai mươi năm, nhưng cuộc di tản lịch sử đem người Bắc vào Nam và đem người Việt trải rộng ra khắp thế giới, v. v… Biết bao đổi thay bị hùng tráng lệ, biết bao đau khổ, mừng vui, tình nghĩa, phản trắc. Tất cả những đảo lộn dồn dập đó, nhất là trong hơn bốn thế kỷ gần đây, đã có thể cũng cấp đề tài cho những tác phẩm tầm cỡ lớn hơn Chiến Tranh và
Hòa Bình, Anh em Karamazov, Les Hommes de Bonne Volonté, Les Thibault, Gon withthe Wind, Grapes of Wrath, A Farewell to Arms… Chúng ta không sáng tác được vì chúng ta thiếu tầm nhìn và cách nhìn để thấy được cái vĩ đại ngay chung quanh chúng ta. Chúng ta thiếu tư tưởng.
Sự thiếu tư tưởng của chúng ta là quá rõ rệt. Chúng ta không có một đóng góp nào cho tư tưởng thế giới đã đành nhưng chúng ta cũng không nhận thức được về chính mình. Việc du nhập một cách cuồng tín chủ nghĩa cộng sản vào Việt nam, cũng như sự kéo dài dai dẳng của nó, và của lập trường chống cộng, tố giác một cách phũ phàng sự yếu kém về tư tưởng của chúng ta. Hiện tượng Kim Dung trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 mới thực là kỳ quái? Truyện kiếm hiệp của Kim Dung chỉ có giá trị tương đương với một bộ truyện giải trí nhi đồng, một bộ truyện bằng tranh hay một phim hoạt họa. Nó không dựa trên một sự thực nào, không có một giá trị văn học nào mà cũng không chuyên chở một tư tưởng nào, hay một nhãn quan nào về cuộc sống và thế giới. Nó chỉ có cái khác với các bộ sách kiếm hiệp cổ điền ở chỗ nó tương đối hóa tất cả, pha trộn thiện ác, chính tà. Hình như nó cũng có tham vọng qua các nhân vật và phe phái phản ảnh phần nào thế tranh hùng trên thế giới. Nhưng nó trình bày một cách ngây ngô hời hợt. Và nhất là nó hoàn toàn không có giá trị văn học. Vậy mà cả miền Nam say mê, ngay cả các trí thức được coi là lớn cũng bỏ công nghiên cứu và bàn luận. Tôi cũng có đọc một số truyện nổi tiếng nhất của Kim Dung với mục đích phân tích tâm lý của trí thức miền Nam lúc đó. Thể thực là tôi rất thất vọng, thất vọng về truyện Kim Dung thì ít, vì dầu sao nó cũng có giá trị giải trí, nhưng thất vọng lớn về sự thấp kém bi đát của trí thức miền Nam lúc đó. Thiếu tư tưởng và cảm hứng thì dĩ nhiên ta không thể sáng tạo mà phải đi vay mượn của nước ngoài. Nhưng có những bộ môn nghệ thuật trong đó chúng ta bắt buộc phải sáng tạo, phải có cảm hứng của chính mình, dựa trên những chất liệu quanh mình, chẳng hạn như hội họa, điêu khắc và, ở một mức độ bớt gay gắt hơn, ca múa. Chúng ta yếu trong những bộ môn này là lẽ dĩ nhiên. Điều đáng buồn là, ngoại trừ thơ văn, những sáng tạo ít ỏi của chúng ta cho đến dầu thế kỷ 20 này, dù là hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa, v.v… đều không do những phần tử Sĩ phu mà do Dân gian.
Điều cũng đáng buồn là hầu hết những người lỗi lạc nhất của chúng ta, những Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, v. v… Đều nhờ đã từng đi sứ hay xuất ngoại và học hỏi được ở nước ngoài. Như thế phải nói ngay rằng nền giáo dục của chúng ta không đào tạo ra được nhân tài. Cái gì đã giam hãm trí tuệ Việt nam, không cho nó vượt thoát, sáng tạo và bay bổng?
Giải thích đầu tiên là do lịch sử nước ta. Chúng ta không phải là một dân tộc tự do. Trong hai ngàn năm sau công nguyên, nghĩa là gần như trọn chiều dài lịch sử đích thực của chúng ta, chúng ta đã bị ngoại thuộc hơn một ngàn năm, chúng ta đã phải chịu đựng những cuộc chiến thảm khốc trong phần lớn thời gian còn lại; ưu tư phải dành cho sự sống còn thay vì cho suy nghĩ và sáng tạo. Các chế độ tự chủ của ta chẳng qua cũng chỉ là những bạo quyền bản xứ. Chúng ta không có tự do. Và một con người không có tự do thì cũng không thể có óc sáng tạo.
Giải thích thứ hai là do địa lý. Nước ta được dựng lên từ châu thổ sông Hồng. Các công trình thủy lợi, đắp đê ngăn nước, đào kênh dẫn nước là chuyện sinh tử của xã hội. Chúng ta cần những chế độ bạo ngược áp đặt những hy sinh tàn nhẫn để chống cự với thiên nhiên cho sự sống sót của tập thể. Đó là số phận nô lệ chung trong quá trình hình thành của mọi dân tộc sống quanh những con sông lớn, với lưu lượng thay đổi đột ngột. Sau hàng ngàn năm bị chà đạp và hành hạ như thế, chúng ta hấp thụ bản chất nô lệ cộng thêm với cuộc sống nông dân cơ cực phải vật lộn với đất để lấy từ đất ra miềng ăn cho từng ngày. Kết quả là chúng không biết nhìn xa và sáng tạo. Cái địa lý đã nuôi ta cũng đồng thời để lại cho chúng ta những tì vết. Vậy thì để vươn lên chúng ta phải thắng được di sản lịch sử và địa lý đó. Các tiến bộ kỹ thuật đã giải tỏa chúng ta khỏi ách nô lệ của đê điều. Còn lại là di sản tâm lý do quá khứ để lại. Chúng ta cần một quyết tâm sống như những con người tự do và xây dựng đất nước trên tự do, bởi vì chỉ có những con người tự do mới có khả năng sáng tạo.
Lịch sử và địa lý không giải thích tất cả. Còn những yếu tố khác mà chúng ta có lẽ đã chấp nhận do hoàn cảnh lịch sử và địa lý, nhưng với thời gian chúng đã đóng một vai trò còn quan trọng hơn…
NGK
………………………………………………….
Thơ:

Tứ Ngâm Tận Tuyệt

 

Thương mà biết nói sao cho hết?

Lậy Chúa!  Cho con giữ được lòng!

Cát bụi dẫu mờ con mắt lệ

Trời còn có buổi vẫn xanh trong!

 

Lê Hành Khuyên

…………………………………………………………………

CHIỀU MỘT MÌNH

ta một mình chiều nay
lòng hững hờ như gió
cuốn hút những phai tàn
trong hồn sầu bỏ ngỏ

ta một mình chiều nay
chất chồng bao nỗi nhớ
chẳng biết sẽ về đâu
cuộc tình nào cũng lỡ

chiều ơi, chiều trôi mau
như dòng sông ra biển
đổ muôn nhánh muộn màng
nên lòng đầy hiu quạnh

vẫn mình ta chiều nay
đọc lại tờ thư cũ
nghe muôn tiếng rộn ràng
trong tim nào héo úa

buổi chiều sẽ tàn phai
trên từng ô vuông nhỏ
ôi đời mình thoáng bay
đong đưa bằng nỗi nhớ

thôi thì ta chiều nay
ngồi ngắm mình cô quạnh
em có về nữa không ?
mộ vàng ai đă lạnh


 

TRIỀU HOA ĐẠI

……………………………………….

trời cũng buồn
 
 
không ngờ đến vậy người ơi
đã đau như thể cả đời chưa đau
hỏi thăm mây trắng ngang đầu

thì ra thuở ấy trời cao cũng buồn


7- 2010

 
hoàng lộc
……………………………………………………………
 
Kính.
NNS