Hoài Thương : Bóng Em.

Bóng Em

  • Em quay đời ngõ khác 
    Bóng mất hút chân tường
    Bóng cùng em từ thuở
    Lang thang mọi nẽo đường.

    Bóng xiêu dài nghiêng đổ
    Tan từng dấu chân mưa
    Em mượt mà áo lụa
    Mềm sợi nắng ban trưa.

    Chân bước dài bước ngắn
    Bóng níu em ngập ngừng
    Em vô tình lơ đễnh
    Để buồn bóng rưng rưng.

    Bóng đổ chồng lên bóng
    Sợ lỡ mất đời nhau
    Em mĩm cười với bóng
    Chắc gì không thấy đau ?

    Em trượt dài bóng vỡ
    Khâu trăm vết chưa lành
    Bõ quên một lời hẹn
    Lỡ mất tình trăm năm

    Hoài Thương – HTTA !




  • Trần Văn Sơn : Thương Về Quê Nghèo

    Niềm Tin Ngày Về

    Trôi theo thời cuộc đứng nhìn..
    Dòng sông ý hệ giật mình thoát ra,
    Dừng đây, Ai đợi cùng Ta?
    Nghiệm bao chiến loạn, cửa nhà nát tan!
    Xưa Dòng Lạc Việt huy hoàng!
    Hùng Vương mười tám đời trang Sử Vàng!
    Loa Thành Thần Nỏ vinh quang!
    Trưng Vương, Triệu Ẩu hiên ngang đuổi thù!
    Tiên Hoàng Đinh Sử thiên thu!
    Lam Sơn áo vải diệt thù quân Minh!
    Nhân tài Thường Kiệt anh minh!
     Hàn Thuyên sáng tạo chữ mình tiếng Nôm!
     Hịch Văn Tướng Sĩ gọi hồn!
    Đằng Giang phá trận mồ chôn Giặc Tầu!
    Giang sơn lịch sử dài lâu..
    Quang Trung Vạn Kiếp đã hầu khó quên!
    Chấp tranh quyền lực liên miên..
    Người Dân đói khổ, ba Miền đau thương!
    Bao nhiêu kẻ đã tha hương?
    Bao nhiêu kẻ đã lên đường vào Lao?
    Thượng Đế ơi! Công Thức nào?
    Giải cho Bài Toán khát khao
    Ngày Về? Thoát ra Ý Hệ nhiêu khê?
     Bỏ đi cuồng tín, tìm về định tâm,
    Nhiều Quốc Gia sẽ từ tâm,
    Đừng tranh quyền nữa, giúp Dân thanh bình,
    Ở đây ai cũng hi sinh,
    Chung lưng vật chất, Quê mình hồi sinh,
    Lắng tai nghe tiếng anh linh?
    Tổ tiên Hồng Lạc hiển minh phù trì,
    Niềm Tin ký hiệu tiên tri,
    Họp nhau đoàn kết sợ gì tương lai?
    Nước Non ơi, những Anh Tài,
    Về đây chung sức, góp tài kinh luân,
    Ở đây Ta chỉ dừng chân,
    Đừng quên Quê Mẹ vong thân, lạc loài,
    Niềm Tin Ta gửi cùng Ai?
     Ngày Về Ta viết nên Bài Thơ xanh!

    Trần Văn Sơn 1987



    Bài Thơ Nghịch Lý

    Ta về ta tắm ao ta,
    Dầu trong dầu đục ao nhà vẫn hơn, (*)
    Dù ao ô nhiềm môi trường,
    Ăn bo bo sống cơm nhường Ủy viên,
    Vào tù những mấy thập niên,
    Ra tù vẫn cảm ơn liền Đảng ta,
    Nhìn trông nấm mộ Mẹ già,
    Chết đi tức tủi vì Nhà tịch thu,
    Vườn rau héo hắt vì nghèo,
    Nhưng công ơn Bác vẫn cao hơn mình,
    Từ nay đừng nói chữ Tình,
    Tình ta gắn chặt một mình Đảng thôi,
    Xóm trên, xóm dưới, Làng ơi!
    Nghe sao đứt ruột một đời quanh co?
    Hãy về sống với Tự Do,
    Dù là bánh vẽ thật to, thật buồn!

    Trần Văn Sơn
    Năm 2000
    (*) ca dao VN

    Trong Áng Sương

    Mờ Bước ra khỏi đám sương mờ,
    Đường trong sáng hẳn, nguồn thơ rộn ràng,
    Bạn ơn xin hãy lên đàng,
    Chân trời mở rộng những hàng mây xanh!
    Mình vào đây họp tuổi xanh,
    Vào đây góp gió, xếp cành một cây,
    Cây Việt hùng vĩ vươn đầy,
    Hoa tươi xanh lá, quả đầy năm châu!
    Ngon như trái chím ươm mầu,
    Tưới hồn nhân loại, cùng nhau vui cười!

     Trần Văn Sơn
    1993

    Cánh Hạc Bay Xa

    Trùng khơi cánh hạc bay xa..
    Biển xanh mầu nhớ, hoàng hoa dáng chiều,
    Mềm vai xoảy cánh cô liêu,
    Ngàn con sóng bạc gợi yêu tình buồn!
    Xa rồi một giải quê hưoơng,
    Chinh y tiếp nối bụi đường phiêu lưu..
    Chiều nay trong gió đìu hiu,
    Ta nghe tiếng nhạc tiêu điều trên không,
    Phương xa Núi Tản, Sông Hồng..
    Mây u buồn phủ, nước mênh mông sầu!
    Thuyền ơi rời bến về đâu?
    Hay theo cánh hạc ôm sầu bay xa?

    Trần Văn Sơn 1975

    Bên Dòng Xuân Vắng

    1980

    Em biết em là người Việt Nam,
    Em từ đất Mẹ rất hiên ngang,
    Vượt biên và vượt bao triều sóng,
    Xây đắp tương lai sẽ ngỡ ngàng!
    Em biết thời gian đi rất nhanh,
    Bao người cơm áo muốn yên lành,
    Quên đi những tháng ngày bất hạnh!
    Và lãng sao rồi lửa đấu tranh!
    Em biết biệt ly là nhớ thương,
    Đời bên hai ngoại khó vô thường,
    Dấn thân sương gió, xây đời mới,
    Ước vọng hồn quê, bao vấn vương!
    Em biết gia tài đẹp Lạc Long!
     Mối yêu thương canh cánh bên lòng!
     Chỉ chờ ánh sáng tràn hi vọng,
    Trên khắp quê hương toả nắng hồng!
    Em biết sẽ về với cố hương,
    Chỉ cần vạn lý mở con đường,
    Thênh thang đại lộ tình nhân bản!
    Mái lá quê nghèo toả khói vương!
     Em biết Nguồn xưa, Văn Hoá yêu!
    Mẹ em ru mãi điệu ca dao!
    Từ lúc em còn mang tấm bé!
     Đồng cạn, đồng sâu, rất ngọt ngào!
    Em biết diều quê sáo sẽ dao,
    Cổng trường phượng vĩ đón em vào,
    Thấy xưa bạn cũ vòng tay mở!
    Lòng thoải mái lòng bao khát khao!

    Trần Văn Sơn
    1993




    Hôm đó, nhập đoàn người bỏ chạy,
    Có cả tôi và nhiều nhóm rất thân,
    Quốc lộ cao nguyên những làn khói đạn,
    Kẻ nội thù đã sắp kéo đến gần!
    Một giải cao nguyên đang thời trù phú,
    Đất hứa hoa mầu, sản vật rất nhiều,
     Những cánh đồng hoa, tưng bừng rực rỡ,
    Tôi không ngờ, bỗng một phút cô liêu!
    Những thân xác của bao người xấu số,
    La liệt nằm trên quốc lộ về Nam!
    Bọn cướp đường tìm đàn bà hãm hiếp!
    Thu hết tiền và trang sức, tham lam!
    Giờ ly loạn, những tâm hồn non dại,
    Mồ côi cha và mẹ đứng bơ vơ!
    Đàn quạ lượn trên bầu trời xám xịt,
    Mùi thây hôi, lũ hắc điểu mong chờ!
    Nhìn thấy biển, hi vọng mừng tâm óc!
    Thuyển phong ba nhỏ bé giữa đại dương,
    Theo lớp sóng triều hoàng hôn đỏ rực,
     Trôi theo dòng, lòng dồn dập đau thương!
    Tôi cập bến, một ngày nơi hoang đảo,
    Đoàn di dân may vừa đựơc cứu rồi!
    Đây lữ khách đã xa tầm tay với,
    Không thời gian và hi vọng con người!
    Rời quê Mẹ, tôi đi vào xứ lạ,
    Gặp đồng hương qúy hoá tựa kho tàng!
    Cô đơn vẫn theo giao mùa, thay lá,
    Và tình quê mỗi lúc một hoang mang!
    Đây vật chất chiếm linh hồn tôi gọn,
    Thoát không ra khỏi cám dỗ tầm thường!
    Những khắc khoải và nhu cầu hành hạ,
    Nhìn trời xanh mơ tưởng đến con đường!
     Giải đường xa dẫn ta về Quê cũ?
    Mối tình quê tha thiết vẫn du hồn!
    Dù đất Mẹ gông cùm trong Quái Vật,
    Ta chờ mong hàng vạn cánh tay vươn!
    Tôi ghé lại những chiều trong quán nhỏ,
    Tìm đồng hương để tâm sự nỗi niềm,
     Song cô độc vì không cùng qũy đạo!
    Sự giầu sang lôi kéo họ triền miên!
    Đây xe cộ chập chùng vào phố xá,
    Những ánh đèn kiêu ngạo với đêm đen,
    Dây tiếng nhạc êm đềm, dòng thác lũ,
    Kiếp di dân mang căn cước ươn hèn!
    Nơi cố quốc có mong chờ gió mới?
    Ngọn sóng triều vẫn chờ đợi thuyền xưa?
    Ta lữ khách hoang tàn trong cảnh lạ!
    Gói hành trang như cảm thấy dư thừa!
    Trong giọng nói như ươm nhiều ú ớ,
    Của bạn, tôi, của những đứa con tôi!
    Ôi ngôn ngữ đã xa lòng Đất Mẹ!
    Ta ngồi đây chỉ thấy tiếc thương thôi!
    Tôi im lặng đi về khu phố nhỏ,
    Trời về khuya hồn khắc khoảI, bàng hoàng!
    Bữa cơm tốI dang chờ tôi xum họp,
    Và ngày mai lạii tiếp tục đi lám!
    Ôi khác vọng khó tìm môi sinh mới,
    Dòng đời trôi, ta khó cản cuồng lưu,
    Vọng bến xưa, thuyền không còn chờ đợi!
    Ta ngồi đây nhìn con xoáy đời trôi!
    Nung ý chí cho ngập lòng khao khát,
    Bạn đường ơi, xin hãy đợi sang mùa,
    Làn gió lạ thổi mang nhiều tươi mát,
    Ta lên đường xây dựng cố hương xua!


    Trần Văn Sơn
    1993

     

     

    Vết Hằn Tâm Tưởng

    Tặng các bạn HO, VNCH

    Thương Về Quê Nghèo

     



     

    Ta im lặng đứng bên dòng sông vắng,
    Ngọn cuồng lưu như sắp sửa tan sao?
    Mây đã lộ một khoảng trời xanh nhỏ,
     Nhưng lòng ta khắc khoải vẫn dâng cao!
    Ta đã sống ở một miền hoang dã,
    Rừng năm xưa, nghe báo hú, hổ gầm,
    Nghe tức tủi khi giao mùa thay lá!
    Thương cuộc đời loài sinh vật sơn lâm!
    Những lối mòn ta đi vế quen thuộc,
    Vết hằn đau, đau nhói tận tâm tư..
    Ta nhập cuộc vào lúc dòng tan tác!
    Cuốn ta đi trong lờp sóng đòn thù!
    Không nắm được một khúc cành khô héo,
    Để lao mình theo con xoáy dập dồn..
    Cuối một đoạn thời gian dài day dứt,
    Xác thân nào rời rạc nỗi cô đơn!
    Hồn xây dựng trên phạm trù điên loan,
    Mắt ta cay theo dòng lệ khô cằn!
    Bao tiếc nuối trong lòng người lữ thứ,
     Để dừng đây ôm chặt nỗi đau hằn!
    Thân trầm tích lắng xuống dần đáy mộ,
    Mà linh hồn còn lơ lửng trên cao..
     Vầng tinh tú chuyển mình trong vũ trụ?
     Hút ta vảo một giải lụa trăng sao!
    Ta im lặng đứng nhìn dòng sông vắng..
    Đếm thời gian ghi chép cả không gian,
    Đây có phải bến bờ, thuyền viễn xứ?
    Hay hải hành chờ vượt sóng hiên ngang?

    Trần Văn Sơn
    1993

    Hoang Mang

    Trông cánh nhạn hoài mơ Trời Việt..
    Kiếp tha hương, tư tưởng hao gầy,
    Quê xưa, ngày cũ còn đây,
    Buồn dâng đau nhói tháng ngày trôi đi..

    Tuổi xuân đã xa dần ý đẹp!
    Sức hăng say như đã mỏi mòn,
    Thương về gấm vóc vàng son,
    Nơi quê hương cũ, tưởng còn nằm mơ!

    Hay ta đã lạc loài trôi nổi?
    Cuối không gian, băng giá con tim!
    Hồn hoang như vẫn đi tìm..
    Ngàn cơn khắc khoải đắm chìm thân ta!

    Trên biển cả bao người đã chết?
    Chốn lao tù, nhiểu kẻ thương đau!
    Còn ta, lạc bước về đâu?
    Phong ba ngọn sóng bạc đầu ngoài khơi..

    Ươm sức sống, chờ thời cơ mới..
    Hay mài gươm dưới ánh trăng đêm?
    Ngựa ơi, tạm gác vó thiêng,
    Đợi ta uống cạn “Cơn điên hận thù”!

    Trần Văn Sơn 1980




    NNS, Sơn Nguyễn : Tạp ghi thơ, văn, nhạc

    Kính Thân Hữu Quí Mến,
    Lại đến Thứ 6 rồi.
    Hôm nay, NNS đi xuống School of Dentistry khám răng định kỳ, chỉ vội vàng gởi trang Thơ Nhạc cho Thân Hữu, với lời Chúc:
    Cuối Tuần đến với Thân Hữu thật Vui vẻ.
    1.Nhạc:
    Thao Thức Vì Em.
    Nhạc sĩ: Lam Phương
    Ca sĩ: Như Quỳnh & Trường Vũ.
    2.Bài đọc
    Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân
    Phạm Tín An Ninh
    3.Thơ:
    • Hà Thượng Nhân
    Tình Thân.
    Kính.
    NNS
    ……………………………………………………………………………………
    Thơ:
    Hà Thượng Nhân
     
    Mưa Buồn Long Giao

    Trời có điều chi buồn
    Mà trời mưa mãi thế
    Cây cỏ có chi buồn
    Mà cây cỏ đẫm lệ

    Mà cỏ cây lệ tuôn …
    Anh nhớ em từng phút
    Anh thương con từng giây
    Chim nào không có cánh

    Cánh nào không thèm bay
    Người nào không có lòng
    Lòng nào không ngất ngây
    Gửi làm sao nỗi nhớ

    Trao làm sao niềm thương ?
    Nhớ thương như trời đất
    Trời đất vốn vô thường
    Ngày xưa chim hồng hộc

    Vượt chín tầng mây cao
    Ngày xưa khắp năm châu
    Bước chân coi nhỏ hẹp
    Bây giờ giữa Long Giao

    Ngồi nghe mưa sùi sụt
    Cuộc đời như chiêm bao
    Có hay chăng ngõ cụt
    Anh châm điếu thuốc lào

    Mình say, mình say sao ?

    (Chú thích: Long Giao, là căn cứ cũ của QL/VNCH, thuộc Long Khánh. Sau 30/4/1975, SQ/QLVNCH bị tạm tập trung ở đó, phân loại để đưa đi cái trại cải tạo).

    ………………………………………………

    Mơ Hồ

    Sắp sửa thu rồi người nhớ không ?
    Ta về nghe gió thổi đầy sông
    Nghe dường mây trắng trong thơ cổ
    Phơ phất bay như ngọn cỏ bồng

     

    Cỏ đã vàng theo những bước chân
    Môi son đã nhạt vẻ ân cần
    Nhìn sâu đáy mắt hồ Than Thở
    Tưởng vẫn ngày xưa, vẫn cố nhân

     

    Người cố nhân ư ? Ta muốn hỏi
    Ồ ly rượu ấy một mình say
    Trong say ta thấy lung linh nắng
    Tóc xõa bờ thon chặt nắm tay

     

    Ta gối tay nằm biết nhớ ai
    Nhớ đồng lúa chín, nhớ sông dài ?
    Phải rồi, ta nhớ, hình như nhớ
    Một mảnh trăng non lá trúc cài.

    ……………………………………………………………

    Hà Thượng Nhân với bài thơ : TRĂNG THU

    Năm 1935 tôi được ông Nguyễn Tiến Lãng, chuyên viết văn Pháp hỏi: ………..“Cậu có muốn đi dự hội thơ không?” . Tôi mừng quá liền thưa ngay : rất muốn . Trung Thu năm đó tôi theo ông lên Vỹ Dạ. Biệt thự của nhà thơ Ưng Bình. Tôi đi theo chứ không được mời nên không có chỗ ngồi . Khách toàn vào hạng trung, lão niên , hầu hết đều mặc quốc phục và đeo bài ngà. Ðầu đề bài thơ hôm đó là Trăng Thu, nhưng có một điều cấm kỵ : trong bài tuyệt đối không được dùng chữ Trăng cũng như chữ Thu .bài thơ của tôi như sau:

    Sương mỏng manh canh vắng lặng tờ
    Buồn xưa náo động mấy vần thơ
    Rưng rưng mắt lệ chàng mong nhớ
    Phơi phới mây xa thiếp hững hờ
    Bến quạnh lau già người chểnh mảng
    Rượu tàn canh vắng khách bơ vơ
    Lầu cao ai đó mây rèm tím
    Hồn lẻ đêm nay có thẫn thờ

    Ðến tháng chín ngày Rằm hội thơ lại họp để tuyên bố kết quả. Lần ấy tôi cũng bất ngờ trúng giải . khi gọi đến tên thì thấy một cậu học trò đi lên đầu tóc cắt ngắn húi carê . Cụ Ưng Bình vừa thoạt thấy hơi ngỡ ngàng . Bỗng cụ đọc :

    Trăm mặt thẹn thua chàng trẻ tuổi
    Một bài cũng đủ gọi thi ông

    Tôi nhanh nhẩu vội đáp ngay :

    Bảy bước dám thua Tào Thực trước
    Một lời xin gửi tạ tôn ông

    Bấy giờ trong hội nghị có cụ Kỉnh Chỉ là Bác sĩ mà cũng là thi sĩ . Sau này cụ làm tổng trưởng y tế trong chính phủ Trần Văn Hữu hay Nguyễn Văn Tâm, tôi không nhớ rõ . Cụ Kỉnh Chỉ nói lớn : “Tào Thực thất bộ thành thi, cháu không chịu thua à ?Kiêu ngạo nhỉ !Tào Thực phải bảy bước mới thành thi, cháu chỉ cớ một bước đã thành thi, thế thì cháu nói đúng. Nhưng cháu à : “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài” . Khi đi qua cụ Kỉnh Chỉ, tôi khoanh tay cúi đầu , thưa khẽ để cụ nghe : “cháu xin vâng lời dạy bảo của cụ . Ðó cũng là lý do, tuy đã viết rất nhiều thơ , hàng mấy chục tập, tôi vẫn không chịu xuất bản dù có dư điều kiện .
    Bây giờ đọc lại bài thơ tôi mới thấy mình không công bằng. Ngày ấy vì nghe chuyện tình của một đàn anh mà hạ một câu :

    Phơi phới mây xa thiếp hững hờ

    Nay tôi xin sửa lại là :

    Phơi phới mây xa thiếp đợi chờ

    Cụ Kỉnh Chỉ có người con trai là trung tá Phan Văn Cẩm là học trò của tôi năm đệ ngũ , hiện giờ ở Santa Ana. Khi tôi ra tù gặp Cẩm . Anh mời tôi ghé nhà vì hôm ấy là ngày húy nhật cụ . Tôi đến, khi vái lạy cụ ở bàn thờ thì cả nhà lạy lại để đáp lễ trong đó vài người ở vào tuổi cha chú tôi . Tôi cảm động lắm có viết một bài thơ để lại, hiện gia đình cụ Kỉnh chỉ còn cất giữ .

    Người phụ trách quán thơ Trà Sơn có đọc cuốn sách của Tôn Nữ Hỷ Khương , nhà thơ con gái cụ Ưng Bình có nhắc đến giai thoại này nên hỏi tôi . Tôi xin thuật lại và hết lòng xin lỗi những lời ngạo mạn của mình lúc vào tuổi “ ăn chưa no lo chưa tới”

    Hà Thượng Nhân
    San Jose 12 01 2008

    ……………………………………………………………………

    Bài đọc:

    RỪNG KHÓC GIỮA MÙA XUÂN
    Phạm Tín An Ninh

    (Phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ)
     
    Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư ở Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào những ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong “Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm cho tôi đau đớn, khốn khổ gần cả một đời.
    Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo tôi sau những buổi tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp từ thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính biệt động quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa mới trải qua khói lửa Mậu Thân.
    Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ những khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.
    Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên, Lê Cao Nguyên. Anh về phép thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, và đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một “lỗ tai nhỏ” như ba nó.
    Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh trong quân y viện. Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần VC pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau, khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì. Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau.
    Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là “ may còn có anh đời còn dễ thương”. Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ!
    Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, chồng tôi hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ, chỉ mang theo những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ.
    Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe. Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng giã từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chũng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là một số đơn vị Biệt Động Quân được chỉ định đi sau, ngăn chận địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một cuộc hành quân triệt thoái.
    Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch quá đông, và bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh: Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và rất nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn. Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con sông nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt quá, tôi ngủ vùi một giấc, thức dậy thì trời vừa sáng. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp. Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn bè trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch. Vừa rời đoàn người vài phút thì đạn pháo thi nhau rót xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn. Trong nhóm chúng tôi cũng đã có một số người chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính biệt động một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: “Đạp lên mà đi!” Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa!
    Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi. Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt. Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp. Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung đến cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tội nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh đang tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và không ngờ đó lại là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi. Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối cùng tôi chứng kiến những người lính biệt động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét “Biệt Động Quân Sát” vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác.Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.
    Tiếp tục di chuyển chừng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo tất cả chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi bàng hoàng nhìn thấy mấy người lính biệt động quân nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc. Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nữa thì chúng tôi bị một đám khá đông VC chặn lại. Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẳn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát tháo với cái giọng rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).
    Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn. Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc.
    Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc. Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà săn sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh lộ 7.
    Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người còn vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản, mới được cho vào trại. Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ một sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi được gặp anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người Thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số ngôi mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi, mà cho cả nhà chồng.
    Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà. Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.
    Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyên vào thân cây. Và lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành một thứ âm thanh não nùng, xé ruột.
    Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Tháng 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương và một đứa em trai của tôi được đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước (chị đã về quê trên vùng Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.
    Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây đúng vào giữa mùa Xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.
    Con đường Tỉnh lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc lộ 25. Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương, còn có cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn “cải biên” thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn được mang tên “thị xã”. Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban quân nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thoại.
    Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xăm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xăm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:
    Từ phen chiếc lá lìa rừng
    Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây
    Rõ ràng hoa rụng hương bay
    Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi
    Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với giá rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M’dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới hơn 20 cây số.
    Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.
    Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc của người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là một anh đàn ông Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi. Khi anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo.Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sóng mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái tóc màu nâu sậm như màu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi kịp nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba nó, tôi cúi xuống để nhìn kỹ vào tai anh người Thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra rồi nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi bảo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước. Tôi kéo chị ra xa, nói vào tai chị:
    – Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?
    Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:
    – Thằng Nguyên? Chẳng lẽ là thằng cu Nguyên?
    Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:
    – Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?
    Anh người Thượng lắc đầu:
    – Tao là thằng Ksor Tlang,
    Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nữa, rồi buột miệng:
    – Mày bắt cái con gà nhiều tiền quá!
    Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người tai mắt ở đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút, hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ.
    Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi với anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.
    – Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?
    – Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H’lum, mẹ tôi tên H’Nu.
    – Có anh em không?
    – Không.
    – Anh có nhớ ngày sinh không?
    – Không
    (Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ tìm khai sinh sau)
    – Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?
    – Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.
    – Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết vì sao mà có cái sẹo này không?
    (Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)
    – Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.
    Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi:
    – Cha mẹ anh đang ở đâu?
    – Buôn Ban Ma Dek.
    (Gã công an nhìn tôi, bảo Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)
    – Anh ở chung với cha mẹ anh?
    – Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.
    – Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.
    Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo là chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi hộ chúng tôi bảy cái xe ôm.
    Cha mẹ của anh bán gà đã khá già, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của gã công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.
    Ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực:
    – Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lếch vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé. Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.
    – Rồi xác người lính ấy ở đâu? Tôi hỏi.
    Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:
    – Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.
    Chúng tôi theo hai người công an dìu ông già đi về phía khu rừng.
    Tôi khóc ngất khi nhìn thấy nấm mồ thấp lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng quỳ xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.
    Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông già mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksor Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà già, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp tiền bạc cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông già một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể sống xa rừng cũng như loài cá không thể sống mà không có nước.
    Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi dự định xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng trong nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao nhiêu đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảng phất ở quanh đây.Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi cùng hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.
    Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó. Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền 200 đô la. Bằng đúng số tiền mà tôi đã trả công cho hai gã công an!
    Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều, tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó quỳ bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình. Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông Trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày chỉ vừa lên bốn tuổi.
    Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?

    Phạm Tín An Ninh

    ……………………………………………………………………….

    Good Weekend.

    Kính.

    NNS 




    Phan Ni Tấn : NGUYỄN ĐỨC QUANG, NGƯỜI YÊU TÔI BỆNH

    NGUYỄN ĐỨC QUANG, NGƯỜI YÊU TÔI BỆNH

    A ha! Ê hê!

    Sáng nay nghe tin người bạn già của tôi

    Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa bị đứt mạch máo não

    nằm mê mang như cây đàn vừa đứt một dây trầm

     

    Sáng nay chính câu thơ tôi thả bay trong nắng

    hỏi tôi còn nhớ từng ngày xưa

    Ừ thì nhớ người du ca muôn thuở

    người du ca của mọi người, của cả nắng và mưa

     

    Trời sinh anh ra đôi chân lặn lội

    đi tác động khắp nẻo quê hương

    bản du ca mở ra những con đường đất

    gọi người về sống với yêu thương

     

    Trời sinh anh ra một đôi môi hát

    tiếng hát bay xa đến tận lòng người

    nhìn vào câu ca đã trông thấy phố

    thấy cả nông thôn nhà máy vươn mình

     

    Câu anh hát mọi người cùng hát

    hy vọng vẫn vươn lên như khói lan xa

    hát khúc du ca mắt người thắp lửa

    sáng trong lòng cứ mãi hắt ra

     

    Đẹp đến nỗi em bé đánh giày bên hè phố cũng biết hát

    chị bán lạc soong nghe cũng nở môi cười

    anh xích lô hát bằng đôi chân chở khách

    chị nông dân thắm tháp khúc tình người

     

    Đẹp đến nỗi cây lúa thở ra khói trắng

    cũng biết kêu và hát ngêu ngao

    em rót câu ca chị gặt khúc hát

    người gọi người dựng một phong trào

     

    Đứng cạnh người nghệ sĩ du ca

    ôm cây đàn cùng cất cao tiếng hát

    câu thơ tôi ngày xưa cũng trôi theo dòng nhạc

    trái tim xanh thắp lửa niềm tin

     

    Sáng nay lục lại ngày thơm trang bản thảo

    thấy dòng đời lặng lẽ trôi qua

    thấy máu nhỏ xuống nền bệnh viện

    loan thành tin người nằm bệnh phương xa

     

    Nghĩ mà giận anh bạn già thiệt ngặt

    giận mà mong bạn sớm được bình an

    thức dậy lần này chẳng còn ai thèm nghe bạn hát

    mà chính lần này chúng tôi hát  anh nghe

     

    Này huynh trưởng, này bạn già,  bạn lớn

    là người yêu của mọi đồng bào

    đất nước lâm nguy như người lâm trọng bệnh

    tai còn nghe văng vẳng khúc hư hao

     

    Nghe gì đây – khà khà… nghe tôi hát bản du ca cuối cùng:

    Nguyễn Đức Quang,  “người yêu tôi bệnh”

     

    LÃO NGOAN – 15/02/2011

                     
     
     
                                

                        

    M 16

    (khai bút đầu năm)

     

    Vác “Em 16” trên vai
    “Người yêu của lính” duỗi dài an nhiên

    Dây súng thở rất bình yên

    Mặc kệ tre trúc ngã nghiêng ven rừng

     

    Vác “Em 16” trên lưng

    Viên đạn mã tử lừng khừng trốn chui

    Khiến cho cái đỉnh đầu ruồi

    Lỗ châu mai trống gió chùi cánh qua

     

    Vác “Em 16” tà tà

    Súng gươm mà tưởng như là vác em

    Kệ đời nhiều nỗi nhá nhem

    Cái cổ áo bụi chưa thèm gắn lon

     

    Nằm trên ngực trái chon von

    Bản B 1-4-6 còn mới tinh

    Mới như vạt nắng lung linh

    Soi thơm ngọn cỏ cái tình nước non

     

    Vác “Em 16” thon thon

    Cái hồn binh nghiệp đeo tòn teng chơi

    Mộng tôi ngậm đó cầm hơi

    Tuổi tôi trẻ đến xanh ngời trời xanh

     

    Hiên ngang như núi ngon lành

    Tôi chào tôi ưởn ngực phành áo bay.

     

    PHAN  NI TẤN

    Tháng 1-2011

     

     




    Khe Sanh Trong vòng Vây. William Dabney

    Bình Luận
     Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
    Khe Sanh Trong Vòng Vây  WILLIAM DABNEY . Việt Báo Thứ Ba, 3/3/2009, 12:00:00 AM
    Khe Sanh Trong Vòng Vây
    William Dabney
    Lời giới thiệu: Tổng thống Obama vừa nhắc đến Khe Sanh trong bài diễn văn nhậm chức của ông như một chiến tích của nước Mỹ. Khe Sanh không phải là trận đánh có tính quyết định cuộc chiến Việt Nam như Điện Biên Phủ. Nhưng trận Khe Sanh có thể được xem là cuộc đọ sức giữa hoả lực vô giới hạn của Hoa Kỳ và sự bất chấp mức tổn thất sinh mạng bộ đội Bắc Việt của đảng cộng sản Việt Nam. Xin mời độc giả xem một góc độ của trận Khe Sanh qua bài “Under Siege – The Battle of Khe Sanh” của đại Úy William Dabney do Trà Bồng viết lại. Bài được trích từ cuốn The U.S. Marines in Action của  Villard Books New York phát hành năm 1986.
    Người bắn tỉa núp rất kỹ trên sườn đồi um tùm bên kia, khoảng 200 mét về phía bắc nơi chúng tôi đóng quân, là đồi Nam 881 (881S). Anh ta đã nằm ở vị trí thuận lợi đó suốt một tuần qua. Thỉnh thoảng anh ta mới bắn, thường là khi trời nhiều mây và sườn núi không có sương mù bao phủ. Khi anh ta bắn thì chúng tôi chỉ có từ chết tới bị thương. Chỉ cần khoảng 20 phát anh ta đã gây tử thương cho 2 binh sĩ thủy quân lục chiến (TQLC) và làm bị thương năm sáu mạng.
    Anh ta tỏ ra vô cùng kiên nhẫn, luôn luôn đợi lúc các pháo thủ phải ra khỏi giao thông hào để bắn đại bác yểm trợ quân bạn, hoặc khiêng băng ca ra các trực thăng tải thương. Lúc ấy chúng tôi là những mục tiêu rất ngon lành của anh ta. Một đặc tính nữa của anh ta là rất thận trọng. Một ngày quang đãng chúng tôi đã gọi phi cơ dội bom xăng xuống toàn bộ khu vực anh ta đang núp. Nhưng hôm sau, khi trời có mây bao phủ anh ta lại “cắc bùm”, và vẫn cực kỳ chính xác. Anh ta biết rõ khi có mây mù phi cơ không dám oanh tạc một mục tiêu gần chúng tôi như vậy.
    Nhưng rồi cũng có lúc anh sơ xuất. Toán quan sát vẫn luôn dí mắt vào các ống viễn vọng kính cực mạnh hướng về phía anh ta, một hôm chợt thấy một lùm cây lay động. Hôm đó lại là một buổi chiều đứng gió! Biết chắc súng nhỏ không làm gì được vì anh ta núp trong hầm đào sâu vào núi, nên phải dùng súng lớn. Chúng tôi bắn cầm chừng để xác định vị trí, và để anh rút vào hầm, đồng thời cho khiêng khẩu đại bác không giật chống xe tăng qua. Vì cả đồi chỉ có hai khẩu nên phải đặt ở vị trí mà xe tăng của địch có thể tiến vào phía bên kia. Một quả đạn có sức công phá mạnh đã biến căn hầm của anh thành một hố sâu trong đó có đất đá lẫn với xác của anh ta.
    Đồi đối diện khá xa, rừng lại rậm. Quân Bắc Việt di chuyển thoải mái vào ban đêm và trong sương mù, mà chúng tôi thì lại không đủ quân để kiểm soát bên đó. Cho nên chẳng bao lâu đã có một người bắn tỉa khác thay thế. Trong suốt 10 ngày sau đó anh chàng thứ hai này đã gây cho chúng tôi một tử thương và nhiều người khác bị thương. Nhưng rồi chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là lại phải khiêng khẩu không giật 106 ly qua, lại một quả đạn lọt vào hầm để biến nó thành mồ chôn xác người bắn tỉa.
    Chỉ hai ngày sau chuyện bắn tỉa lại tái diễn. Mấy tay pháo binh và cứu thương là những người căng thẳng nhất. Chỉ cần xớ rớ vài giây đồng hồ bên ngoài hầm trú ẩn là lại nghe tiếng cắc bùm khô khan của anh ta. Tệ nhất là những chuyến bay tải thương. Khiêng băng ca đã nặng nhưng nghe tiếng súng là phe ta phải quẳng các thương binh xuống để tìm chổ núp. May thay mấy ngày sau chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là phải vật vã vác khẩu 106 không giật qua phía bên này. Ðang khi điều chỉnh để xác định mục tiêu thì một anh binh nhì nêu lên một nhận xét không giống ai. Anh ta cho rằng suốt một tuần nay tay xạ thủ mới này vẫn bắn đều như tay trước, nhưng chưa hề trúng một ai nên cứ để yên cho hắn sống. Nếu chúng ta loại tay này quân Bắc Việt sẽ có ngay một người khác vào thay, gặp tay bắn giỏi thì khốn cả lũ. Thật có lý! Thế là khẩu 106 không giật được đưa về vị trí cũ.
    Thỉnh thoảng có quân nhân còn phá phách bằng cách vẫy lá cờ đỏ khi nghe tiếng cắc bùm của anh ta. Đó là hiệu kỳ khai hoả trong xạ trường. Nhưng rồi chúng tôi nhận thấy hình như tay này cố ý bắn trật, chứ không phải hắn bắn dở. Không chừng anh ta biết số phận của các tay xạ thủ trước nên cố ý không gây thương vong cho chúng tôi. Ðàng nào thì cấp chỉ huy của anh ta cũng không có cách nào kiểm chứng được kết quả.
    Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng đó là cách suy diễn của chúng tôi. Vì thế, để hỗ trợ cho anh ta chúng tôi ngưng trêu chọc và có khi còn giả bộ trúng đạn. Anh ta tiếp tục ở đó, vẫn bắn đều đặn và vẫn không gây thương vong nào trong suốt thời gian hai tháng còn lại của cuộc vây hãm.
    Đồi 881S là một trong nhiều ngọn đồi khá cao nhìn xuống căn cứ Khe Sanh, là tiền đồn xa nhất nằm phía Tây Bắc của miền Nam Việt Nam. Khe Sanh có một trung đoàn TQLC Mỹ trấn giữ, và đã bị hai sư đoàn Bắc Việt bao vây vào đầu năm 1968. TQLC đóng ở Khe Sanh đã điều nghiên rất kỹ trận Điện Biên Phủ, nơi
    quân Pháp đã bị lực lượng Việt Minh tràn ngập vào năm 1954. Lỗi lầm  quân sự nghiêm trọng nhất của người Pháp là đã để cho Việt Minh có điều kiện mang quá nhiều trọng pháo lên các ngọn đồi xung quanh. Chính hoả lực của trọng pháo đã phá tan hệ thống phòng thủ của Pháp. Từ đó TQLC Hoa Kỳ rút ra bài học then chốt để bảo vệ cứ điểm lòng chảo Khe Sanh là không cho quân Bắc Việt kiểm soát các ngọn đồi quanh vùng.
    Không phải đồi nào cũng là vị trí phòng thủ được, nhưng chúng tôi chạm địch thường xuyên trong cố gắng chiếm giữ những cao điểm có tầm nhìn bao quát. Các điểm này quan sát được cả đường chuyển quân về phía Khe Sanh của Bắc Việt từ hậu cứ của họ ở phía tây nằm trên đất Lào. Trong số các ngọn đồi này không cái nào quan trọng, cheo leo, hiểm trở và trống trải hơn đồi 881S. Đồi có sườn rất dốc, cao khoảng 450 thước so với khu thung lũng bao quanh. Đồi nằm cách căn cứ Khe Sanh khoảng 8 cây số về phía Tây. Nơi này đã từng là một chiến trường đẫm máu cách đây một năm, khi quân trú phòng Bắc Việt quyết định cố thủ. Vào giai đoạn đó chuyện tử thủ đồi 881S của CSBV là một chuyện khó hiểu. Nhưng sau nhiều đợt tấn công với tổn thất nặng nề lực lượng TQLC Hoa Kỳ đã chiếm được nó. Những trận đánh bom và mưa pháo yểm trợ trong các đợt tấn công đã đốt cháy rụi sườn đồi, chỉ để lại toàn hố bom xen kẻ với các hầm bê tông bị phá nát. Các hầm này đã trở thành mồ chôn rất nhiều bộ đội Bắc Việt.
    Đồi 881S nhìn được cả đường số 9, một quốc lộ cũ thời Pháp thuộc. Đường 9 chạy ngoằn ngèo phía tây Khe Sanh qua biên giới Lào, lên tận Tchepone. Theo cách ví von của các tay TQLC trẻ tại Khe Sanh thì đây đích thị là “Indian Country” (tức là “vùng Việt Cộng”) vì hướng nào cũng lúc nhúc địch quân.
    Còn một con đường khác ở phía đông, chạy từ căn cứ Khe Sanh xuống hậu cứ của TQLC ở dọc phía biển, gần khu Phi Quân Sự. Nhưng đường này chạy lòng vòng suốt 24 cây số qua nhiều khe núi hẹp và một số cầu cheo leo nên đã bị quân Bắc Việt cắt đứt từ mấy tháng trước. Đường tiếp tế duy nhất cho căn cứ Khe Sanh và cứ điểm trên các đồi là đường không vận. Phi trường Khe Sanh có phi đạo khá dài được lót bằng những tấm thép ghép lại, nên có một thời gian vận tải cơ C-130 vẫn đáp thường xuyên để tiếp tế thuốc men, thực phẩm và đạn dược. Nhưng sau đó các dàn cao xạ phòng không của Bắc Việt tăng cường quá mạnh, máy bay không đáp được nên phải thả dù để tiếp tế. Nước uống thì có thể lấy từ các con suối, và từ một cái giếng trong căn cứ.
    Các cứ điểm trên đồi xung quanh có diện tích quá nhỏ, chỉ có thể tiếp tế bằng trực thăng. Trực thăng lại không chở được nhiều nên phải tiếp tế thường xuyên. Riêng các đơn vị phòng thủ trên những đỉnh đồi thì không lấy đâu ra nước để uống. Đưa một toán quân xuống các khe suối để lấy nước thì chắc chắn là làm bia bắn tỉa cho quân Bắc Việt đóng đầy xung quanh. Nếu toán lấy nước có người bị thương – một điều gần như chắc chắn – thì phải gửi một toán khá mạnh từ trên đồi xuống tiếp cứu, lực lượng phòng thủ trên đồi sẽ yếu đi một cách đáng kể. Mà nhiệm vụ duy nhất của đơn vị là giữ đồi, cho nên chuyện xuống suối lấy nước là chuyện không thể làm được.
    Chúng tôi được hoả lực yểm trợ vô giới hạn của không quân và pháo binh. Lợi điểm của TQLC là vị trí cố định trên đỉnh đồi, xung quanh là khu oanh kích tự do. Vì thế chạm địch ngoài vòng rào, phía chân đồi là một sai lầm về chiến thuật chỉ làm phức tạp thêm chuyện yểm trợ một cách không cần thiết. Cách đơn giản nhất để thắng trong tình huống này là nằm yên trên đồi. Không quân và pháo binh biết rõ toạ độ, nên chỉ cần gọi pháo binh, B52 hoặc gần hơn thì súng cối 60 ly hoặc súng máy và lựu đạn để tấn công bất cứ dấu hiệu động binh nào của địch.
    Mỗi ngọn đồi có một đơn vị tương đương một đại đội trấn giữ. Tất cả đều thuộc trung đoàn 26 TQLC có trách nhiệm toàn bộ căn cứ Khe Sanh. Đồi 881S là ngọn đồi xa nhất và khó tiếp viện nhất. Ở đó có toàn bộ đại đội “India”, hai trung đội và bộ chỉ huy đại đội “Mike” của tiểu đoàn 3 trung đoàn 26 TQLC trấn đóng. Hoả lực gồm một phân đội với 2 súng cối 81 ly, 2 súng không giật 106 ly và một chi đội pháo binh có 3 đại bác 105 ly. Vào ngày 20 tháng Giêng năm 1968 tôi có tất cả 400 binh sĩ TQLC.
    Tình báo đã tiên đoán từ trước là quân Bắc Việt có ý định tấn công hoặc bao vây Khe Sanh. Vì thế hồi tháng 12 và đầu tháng Giêng tiểu đoàn trú đóng tại căn cứ Khe Sanh đã được tăng viện thêm 3 tiểu đoàn khác, với quân số mỗi tiểu đoàn là 1,000 người. Ngoài ra còn có một tiểu đoàn 300 quân nhân của quân lực VNCH. (Có lẽ đây chính là tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân của đại Úy Hoàng Phổ.) Nếu tính cả các đơn vị hậu cần và tiếp liệu thì lực lượng trú phòng ở Khe Sanh và các đồi lân cận lên tới 6,000 người.
    Dù
    không đụng trận nào đáng kể trước ngày 20 tháng Giêng (1968), nhưng chúng tôi vẫn hành quân rất đều khu vực bao quanh đồi 881S. Vào ngày 18 và 19 chúng tôi có vài cuộc chạm súng lẻ tẻ với Bắc quân ở phía bắc đồi 881S, nơi mà trong các cuộc tuần tra trước đây chúng tôi không gặp gì cả. Vì lo lắng việc quân Bắc Việt có thể đang tập trung lực lượng về phía bắc đồi 881S nên tôi đã xin cấp trên cho mang đại đội India ra thám sát, và nếu cần phá vỡ các vị trí bố phòng của địch.
    Đại đội chúng tôi được trực thăng vận xuống trước vào tờ mờ sáng 20 tháng Giêng. Đang di chuyển một cách chậm chạp và thận trọng qua vùng cây cối rậm rạp, chưa đi được quá 500 thước thì hai trung đội tiền sát bị tấn công. Hoả lực địch rất mạnh chứng tỏ một lực lượng đáng kể đang chờ chúng tôi. Trung đội của Trung uý Richard Fromme ở bên phải đã bị kềm lại, vì nhiều thương vong nên phải chuẩn bị bãi đáp cho trực thăng tải thương rồi mới tiến tới được. Chiếc trực thăng cứu thương vừa sà xuống thì bị trúng đạn phải dạt qua một bên để đáp khẩn cấp xuống một chổ trũng gần đó. Những binh sĩ TQLC trong trung đội dự phòng của Trung úy Michael Thomas lúc đó đang bảo vệ bãi đáp, không cần đợi lệnh đã phóng nhanh xuống khoảng 200 thước về hướng chiếc trực thăng. Cú đột kích bất ngờ làm cho những cán binh CS đang nấp sau trảng tranh hoảng hốt cắm đầu bỏ chạy mất dạng, không kịp bắn lấy một phát súng.
    Cả phi hành đoàn đều bị thương, nhưng đã được kéo ra khỏi máy bay và được TQLC đưa về vị trí phòng thủ. Tất cả những người bị thương sau đó đã được một trực thăng khác bốc đi an toàn.
    Trong khi cạnh sườn bên mặt đang chống đở vất vã như vậy thì trung đội của Trung úy Thomas Brindley bên cánh trái còn tệ hơn. Họ bị kẹt cứng giữa một vùng đất không có chổ nấp, chỉ cách gò chỉ huy của địch chưa tới 200 thước. Đạn địch bắn tới tấp làm họ không cách chi ngóc đầu lên được. Brindley là một sĩ quan rất lỳ. Biết rằng nằm đây chỉ có chết, và không cách nào giữ được vị trí này nếu không có yểm trợ. Thế là chàng kêu một loạt đại bác nhắm vào gò chỉ huy của địch. Lợi dụng đợt trọng pháo Brindley đã sắp xếp lại đội hình, ngay sau quả đại bác cuối cùng chàng đã xung phong chiếm được vùng cao điểm sau khi phải trả giá rất đắt. Nhiều người tử thương, trong đó có Brindley, và rất nhiều người bị thương. Lúc ấy đạn dược còn rất ít, và đơn vị chỉ còn một hạ sĩ chỉ huy.
    Địch lui về phía sau chuẩn tái chiếm cao điểm này, nhưng đã bị diệt sạch nhờ một đợt bom xăng thả gần đến độ lông mày của nhiều quân bạn bị cháy trụi. Tình hình vẫn còn rất bi đát nên tôi để Fromme ở lại lo bên phía phải, tôi mang một trung đội qua giúp cánh trái bên kia đồi, đồng thời di chuyển các thương binh về chổ chờ trực thăng tải thương.
    Chưa qua tới bên kia tôi chợt nhận ra một nhóm thám sát tám người thuộc trung đội Brandley đang bị hoả lực địch áp đảo phía dưới. Nhóm này bị lạc đội hình vì mất phương hướng trong cuộc chạm súng. Thomas đã tình nguyện tiếp cứu, nhưng chưa tiến được quá 20 thước anh đã bị trúng đạn. Ngay tức thì Trung sĩ David Jessup nắm trung đội và tiếp tục mở đường đưa nhóm thám sát và những người bị thương trở lại vị trí một cách khá an toàn.
    Vào lúc này tất cả vị trí địch đã được xác định. Đại đội India xin trọng pháo và phi pháo yểm trợ với hoả lực tối đa để chống đỡ. Nhưng trời cũng bắt đầu sụp tối, và bởi vì sứ mệnh chính của đơn vị là trấn giữ đồi nên đại đội không thể rời xa đồi 881S để truy kích địch. Đại đội India đã bắt tay lại được với đại đội Mike để cùng nhau rút về đồi 881S an toàn dưới sự che chở của trận mưa trọng pháo vào các vị trí địch. So với con số xuất quân lúc sáng chúng tôi đã sụt mất 50 người, vừa chết vừa bị thương.
    Ngay hôm sau, lúc 2 giờ sáng ngày 21 tháng Giêng quân Bắc Việt đã đồng loạt tấn công vào các vị trí ngoại vi quanh căn cứ Khe Sanh. Dưới các đợt tấn công biển người một cứ điểm nhỏ ở làng Khe Sanh, cách vòng đai căn cứ khoảng vài trăm thước, phải di tản. Nhưng các điểm khác đã đánh bật được mọi đợt xung phong. Nhờ pháo binh rót đều đặn vào các khu chuẩn bị dàn trận của Bắc Việt, cũng như các đường tiến quân nên địch đã không khai thác được thế thượng phong lúc khởi đầu. Đồi 881S dù là đồi ở điểm trọng yếu nhất ngoài căn cứ nhưng không bị tấn công trong đợt này. Có lẽ các cuộc chạm súng ngày hôm trước với các toán trinh sát quanh đồi đã đánh tan tố bất ngờ và gây thiệt hại đáng kể khiến họ bỏ kế hoạch tấn công 881S.
    Trong suốt trận đánh từ nửa đêm 21 này các pháo thủ của hai bệ súng cối đã bắn liên tục gần 700 quả ở tầm xa tối đa để ngăn không cho địch chọc thủng vòng đai đồi 861. đồi này nằm về phía đông bắc của 881S. Nòng súng cối nóng tới độ quả đạn chưa chạm kim hoả đã được kích hoạt phóng ra sớm khiến đạn bay lệch đạn đạo quá xa. Phải dùng số nước uống rất hạn chế trong đồn để l&agrave
    ;m nguội ống phóng trước khi xài tiếp. Nhưng rồi hết nước uống, phải dùng tới nước trái cây. Nước trái cây cũng cạn. Cuối cùng lính phải sắp hàng thay nhau dùng nước tiểu để làm nguội nòng súng cối.
    Trận đánh đầu tiên đã chấm dứt. Mọi đơn vị trên các ngọn đồi lo chỉnh đốn hệ thống bố phòng để đón những trận tấn công liên tục có thể bắt đầu bất kỳ lúc nào. Chúng tôi không phải chờ lâu. Hừng đông ngày 22 căn cứ Khe Sanh bị hàng loạt mấy trăm quả đạn pháo và hoả tiển hạng nặng gây thiệt hại dọc theo phi đạo chính và làm nổ tung kho đạn. Đại bác thì gồm có 152 và 130 ly, chính xác một cách chết người, bắn tới từ bên kia biên giới Lào, nằm về hướng tây và tây nam căn cứ Khe Sanh. Thêm vào đó là hoả tiển 122 ly, loại bó thành khối của Nga, bắn đồng loạt, mỗi lần khoảng 30 đến 50 trái từ nhiều hướng khác nhau. Dù là một căn cứ lớn, nhưng loạt pháo kích chưa từng thấy này đã làm tê liệt nhiều phần căn cứ Khe Sanh.
    Riêng đồi 881S, vì đã mất yếu tố bất ngờ và biết chúng tôi sẳn sàng đánh trả nên địch đổi chiến thuật. Quân Bắc Việt quyết định cắt đứt đường tiếp liệu của đồi 881S để buộc chúng tôi phải triệt thoái. Cũng may TQLC chúng tôi có một cơ cấu tổ chức độc nhất vô nhị gọi là “Air-Ground Team”, nếu không thì không chừng quân Bắc Việt đã thành công. (Air-Ground Task Force là một công thức hành động phối hợp giữa TQLC trên không và TQLC trên bộ để hoàn tất một sứ mệnh đã định.)
    Quân Bắc Việt bắt đầu đặt súng cối 120 ly phía tây 881S khoảng 5 cây số. Súng được đặt gọn trong các đường hầm ngắn đào sâu vào vách núi với góc độ cần thiết để tác xạ. Máy bay không thể nào phát hiện vị trí các ổ súng này, và nếu có biết cũng không thể nào làm nó câm họng được, trừ khi thả bom hay bắn trọng pháo lọt đúng ngay vào miệng hầm. Đồi 881S là một mục tiêu cố định, vì thế địch chỉ cần điều chỉnh một hai ly chiều thẳng đứng hay ngang là có thể bắn trúng bất cứ điểm nào trên đồi. Cả tiếng “thụp” khô khan của súng cối cũng chìm mất vào trong lòng núi. Âm thanh của súng cối khai hoả là tiếng kêu rất đục và ngắn, chỉ có những lỗ tai thính lắm mới nghe được. Ấy là trong điều kiện không có gió, không có tiếng bom hay trọng pháo, không có tiếng máy bay… tức là phải yên lặng như tờ. Điều kiện này chẳng mấy khi có được ở Khe Sanh.
    Lúc đầu chúng tôi chỉ cần một trực thăng tiếp tế. Phi công thường yêu cầu chúng tôi phải sẳn sàng trong giao thông hào, đồng loạt bắn tưới lên các hướng núi dày đặc cao xạ phòng không để chặn, trước khi anh ta giảm cao độ để đáp. Nhưng kết quả thật thê thảm. Ngay khi phi công hướng về một điểm đáp, tiền sát của quân Bắc Việt báo ngay vị trí này cho các tay bắn súng cối. Các tay này chỉ tốn vài giây đồng hồ điều chỉnh là họ có thể “đặt” quả đạn vào đúng vị trí họ muốn trên đồi 881S. Họ biết rất chính xác các góc độ vì họ vẫn bắn như thực tập hàng ngày. Trong tiếng ồn của máy bay trực thăng chúng tôi không thể nghe được tiếng súng cối khai hoả, nhưng chúng tôi biết quả đạn chỉ cần 25 giây đồng hồ để bay tới mục tiêu. Chuyện cất hàng xuống và đưa thương binh lên trong vòng 25 giây là chuyện không thể làm được.
    Vào ngày 22 (tháng Giêng) hai loạt súng cối chụp xuống ngay bãi đáp khi người bị thương sau cùng đang được đưa lên trực thăng tải thương. Đúng 22 người, vừa chết vừa bị thương nội trong cú đó, kể cả phi hành đoàn. Chiếc trực thăng hoàn toàn bị phá hủy cùng tất cả lính bị thương trong đó.
    Tới đầu tháng Hai súng cối và hoả lực phòng không liên tục đã làm hai đại đội India và Mike thiệt hại tới 150 TQLC và 6 trực thăng. Nếu kể cả các binh sĩ chết hay bị thương vì bắn tỉa thì mức thiệt hại của chúng tôi là 50%, và không có dấu hiệu nào cho thấy tình hình bi đát này sẽ chấm dứt.
    Với tỷ lệ này thì chẳng bao lâu nữa sẽ không thể giữ được cứ điểm 881S. Quân bổ sung thì thỉnh thoảng lại bị trúng đạn ngay khi chưa kịp rời trực thăng. Lính tráng thì chỉ còn được phần tư bi đông nước uống mỗi ngày. Với khí hậu tại đây thì lượng nước này không thể nào chấp nhận được. Mỗi khi phá được ổ phòng không nào thì lập tức quân Bắc Việt thay thế ngay, cũng nhanh như thay thế các tay bắn tỉa vậy.
    Giải pháp cho tình hình này của chúng tôi là một giải pháp khác thường nhưng có hiệu quả ngay tức thì, và lần nào cũng y như lần nấy. Có lẽ ít quân đội nào trên thế giới có thể làm được. Kế hoạch tiếp vận được tính toán và tập dượt rất kỹ lưỡng, thời gian phải chính xác tuyệt đối để phối hợp lược lượng trên không với dưới đất. Chúng tôi thực hiện chiến thuật “Super Gaggle” – đàn ngỗng siêu hạng – vào một ngày quang đãng giữa tháng Hai.
    Sau khi ra hiệu trước, các khẩu súng cối trên đồi 881S bắn hàng loạt đạn khói trắng về hướng các vị trí s&ua
    cute;ng phòng không mà chúng tôi đã xác định được. Loạt đạn khói vừa chạm đất thì lập tức 4 phản lực cơ tấn công A4 Skyhawk đâm xuống bắn phá các vị trí này theo các trái khói định vị của chúng tôi. Mỗi chiếc Skyhawk đều mang dưới cánh nhiều hoả tiển chống xe tăng hạng nặng (5inch). Tiếp theo ngay lập tức là 4 phi tuần Skyhawk khác mang bom xăng (napalm) xuất hiện nối đuôi nhau tạo một bức tường lửa quanh đồi. Mục đích loạt bom napalm này là tiêu diệt các tay súng vẫn luôn luôn nằm ngữa dưới các hầm cạn quanh vòng đai để bắn vào bụng trực thăng khi phi công sà xuống chuẩn bị đáp. Rồi tới 2 phi tuần Skyhawk rãi hàng ngàn trái bom tí hon đều khắp cạnh sườn thung lũng. Loại bom tí hon này được chỉnh giờ khác nhau để phát nổ lai rai và liên tục trong nhiều phút. Sau đó đồi 881S bắn một loạt đạn trái khói khác về hướng các vị trí phòng không. Nếu họ chưa bị không quân tiêu diệt thì các cột khói phosphorus trắng này sẽ khiến họ không thấy được gì trên bầu trời.
    Súng từ các vị trí địch im tiếng, chỉ còn lác đác vài quả đạn cối rơi lưa thưa. Chắc chắn quân Bắc Việt đang còn núp dưới các hầm cá nhân, nếu họ còn sống, hoặc đã bị chôn vùi dưới vài thước đất đá.
    Lẫn trong khói súng và bụi đất mịt mù có 10 chiếc trực thăng CH-46 của TQLC lù lù xuất hiện. Mỗi chiếc mang theo khoảng một tấn đồ tiếp liệu và đạn dược. Khi các trực thăng CH-46 tới gần đồi 881S thì thêm 4 phi tuần Skyhawk xuất hiện. Mỗi bên 2 chiếc trải thêm một màng khói bên hai cạnh sườn giữa đồi 881S và các vị trí cao xạ phòng không của địch. Mục đích là tạo một giải không gian hẹp cho các trực thăng CH-46 đáp xuống 881S giữa hai bức tường khói.
    Trực thăng cứ theo đội hình năm chiếc lần lượt đáp xuống, bỏ hàng, nối đuôi nhau cất cánh ngay vào giữa hai đám khói. Trong đội hình thứ hai có một chiếc chở các quân nhân bổ sung đồng thời mang người bị thương cũng như tử thương về hậu cứ. Vị trí đáp của chiếc này luôn luôn thay đổi, nhờ đó đạn súng cối của địch không bao giờ rơi trúng một chiếc trực thăng tải quân nào khác.
    Toàn bộ cuộc phối hợp tác chiến và tiếp viện có tên gọi là Super Gaggle này kéo dài không đầy 5 phút, và từ khi màn khói chắn được trải ra cho tới lúc chiếc trực thăng cuối cất cánh không bao giờ quá 30 giây đồng hồ. Hoả lực phòng không của quân Bắc Việt vẫn quét ngang dọc qua đỉnh đồi, nhưng chỉ là bắn bừa với số lượng ít hơn nhiều cho nên không hiệu quả gì. Đạn súng cối vẫn tiếp tục rơi đều cả giờ sau khi tất cả các phi cơ đã rời trận địa, nhưng không làm gì được chúng tôi vì tất cả đã chui xuống hầm. Khoảng một chục tấn hàng tiếp liệu nằm rãi rác khắp nơi. Lực lượng bổ sung đã an vị dưới các giao thông hào, những người lính TQLC bị thương đã rời xa khỏi căn cứ. Thường thì chúng tôi không chịu thiệt hại nào về nhân sự trong các chuyến tiếp quân này.
    Chiến thuật này được điều khiển từ chiếc phản lực TA-4 hai ghế do chính ông phi đoàn trưởng phi đoàn A4 lái, ghế sau là phi đoàn trưởng trực thăng lo việc liên lạc vô tuyến thường xuyên xuống đất với tôi. Tất cả đều là dân TQLC đã từng huấn luyện với nhau, cùng diễn hành, cùng tiệc tùng với nhau nhiều năm trời. Nhờ vậy chúng tôi mới có thể thực hiện một chiến thuật phức tạp đến từng giây từng khắc một cách hoàn hảo.
    Màn đêm vừa phủ xuống là lúc chúng tôi bò ra gom đồ tiếp liệu, vì lúc đó quân Bắc Việt không thấy được các hoạt động của chúng tôi. Kiện hàng nào cũng đầy mảnh đạn súng cối. Sau khi phân phối xong chúng tôi phải vào vị trí ứng chiến. Từ sụp tối đến nửa đêm chúng tôi thay nhau, phân nửa thức phân nửa ngủ. Từ nửa đêm tới sáng chúng tôi ứng chiến 100%.
    Lý do rất đơn giản là ban ngày địch không động binh vì sợ chúng tôi phát hiện, nên phải chờ đến tối. Từ chạng vạng tối mà leo từ chân núi lên, nếu leo giỏi thì sớm lắm cũng phải nửa đêm địch mới tới được vòng đai của chúng tôi. Bọn TQLC chúng tôi vẫn leo hoài nên biết rất rõ. Lúc ấy chúng tôi đã sẵn sàng rồi.
    Đồi 881S không bị tấn công lần nào. Thỉnh thoảng địch có vài hoạt động thăm dò bên ngoài vòng đai. Đây là cơ hội để binh sĩ TQLC chứng minh rằng chúng tôi ném lựu đạn xuống dễ hơn quân Bắc Việt ném lên, và nhất là lựu đạn chúng tôi ném không bao giờ lăn ngược trở lại phía chúng tôi! Để tiết kiệm nước và tránh thương vong chúng tôi làm việc chủ yếu vào ban đêm, ban ngày chỉ tập trung vào việc quan sát. Thương vong tuy vẫn có, nhưng so với trước khi thực hiện chiến thuật Super Gaggle thì nhẹ hơn nhiều vì binh sĩ luôn ở dưới hầm.
    Trong khi hoả lực của quân Bắc Việt giảm đi thì của chúng tôi lại tăng lên. Thời tiết tốt hơn nên ngày nào cũng có phi cơ yểm trợ. Các địa điểm đặt hoả tiễn của địch bị bắn phá thường xuyên. Một chuyện nhỏ nói lên lòng kiên nhẫn và sự tinh mắt của một binh sĩ trẻ, đó là Hạ sĩ Molikau Niuatoa, người Mỹ Samoan. Anh ta
    dùng viễn kính 20x của hải quân đã tình cờ thấy được ánh chớp của đại bác địch khai hoả ở tít chân trời, cách chúng tôi khoảng 15 cây số. Anh ta là người vẫn quan sát ngày này qua tuần nọ, dựa vào tiếng khai hoả của trọng pháo bắn vòng qua đầu chúng tôi hướng tới căn cứ Khe Sanh. Hạ sĩ nhất Robert Arrotta, người hướng dẫn phi cơ oanh kích đã gọi ngay một phi cơ quan sát tới vùng đó, nhưng không ai có thể thấy được chiếc phi cơ ở xa như vậy để hướng dẫn đến mục tiêu.
    Vì sự quan trọng của mấy khẩu đại bác này nên dù chưa xác định được mục tiêu phi công quan sát đã nôn nóng gọi mấy oanh tạc cơ đến. Lượn vòng mãi vẫn chưa có toạ độ, phi cơ quan sát bắn một trái khói trắng để làm chuẩn, nhưng ở đồi 881S không nhìn thấy được cột khói xa như vậy. Rồi tới các oanh tạc cơ sắp phải quay trở về nếu không sẽ bị cạn nhiên liệu. Sốt ruột, phi cơ quan sát đề nghị thả một quả bom 150 ký xuống một mỏm đá để làm dấu, và các quan sát viên ở đồi 881S đã thấy được điểm này. Sau vài lần điều chỉnh viên phi công quan sát cho biết đã xác định được vị trí. Kết quả là 5 khẩu 130 ly do Nga chế tạo bị phá hủy. Loại đại bác này có tầm đạn gần 30 cây số và rất chính xác nên đã gây cho chúng tôi không biết bao nhiêu là tổn thất.
    Vào tháng Ba thì vòng vây quanh Khe Sanh đã nới lỏng. Đại Úy đại đội trưởng Harry Jenkins của đại đội Mike và tôi có thể chơi trò “nhạc trưởng”, dùng máy vô tuyến truyền tin làm gậy điều khiển một dàn đại hoà tấu của bom đạn. Chúng tôi có hoả lực gần như vô giới hạn của trọng pháo và phi pháo, gọi là có ngay để tấn công vào bất cứ cái gì nhúc nhích, bất cứ tiếng động lạ nào, bất cứ mùi nào khả nghi, hay bất cứ điểm nào chúng tôi chỉ linh cảm là có quân Bắc Việt. Âm thanh của giàn nhạc này kéo dài liên tục. Vùng cao nguyên xanh tươi trước đây ba tháng giờ trông chẳng khác nào mặt trăng cháy nám, đầy những hố bom nối liền nhau nằm lẫn với các gốc cây chỏng trơ.
    Cuộc vây hãm không chấm dứt một cách đột ngột. Quân Bắc Việt như từ từ tan biến đi, chỉ để lại vài chốt tử thủ kháng cự một cách vô vọng cho lực lượng tăng viện làm cỏ. Cuộc tấn công toàn diện vào căn cứ Khe Sanh không bao giờ được thực hiện. Một chuyện diễn ra, hình như vào ngày 1 tháng 4, khi quân tiếp viện đã tới, rất có thể là lý do tại sao cuộc tấn công đã không diễn ra.
    Giữa thanh thiên bạch nhật chợt có hai bộ đội Bắc Việt trần truồng chạy về hướng vòng đai của chúng tôi, chân chạy tay vẫy tờ truyền đơn xin gọi là “giấy thông hành” ra đầu thú. Một người bị đồng đội anh ta từ phía sau bắn hạ ngay, người kia ngã xuống ngoài vòng rào. Chúng tôi bắn yểm trợ cho một binh sĩ TQLC bò ra kéo anh ta vào. Anh ta là một người to con, cao gần thước tám, vạm vỡ, trông rất khoẻ mạnh. Chúng tôi bắt đầu hỏi cung anh ta, nhưng bị gián đoạn vì một phản lực cơ của TQLC bay ngang. Anh ta hoàn toàn biến thái, mất tự chủ mọi thứ, từ con mắt tới cơ bắp và dĩ nhiên cả chuyện tiểu và đại tiện. Anh ta run lẩy bẩy và té xụm ngay trong giao thông hào. Một tiếng vỗ tay mạnh sau lưng anh ta cũng gây nên trạng thái kinh hoàng y như vậy.
    Trạng thái tâm lý của người hồi chánh đã bị bại liệt hoàn toàn vì anh ta và đồng đội đã bị hoả lực kinh hồn của chúng tôi vùi dập trong suốt 77 ngày. Những lúc tỉnh táo anh cho biết nhiều đồng đội của anh cũng bị khủng hoảng như vậy. Thế thì họ không đánh lớn vào Khe Sanh được là phải rồi.
    Đại đội India trở về vùng duyên hải với quân số vỏn vẹn có 19 người, so với lúc đến đóng quân ở đồi 881S là 200. Đại đội Mike làm ăn khá hơn đôi chút. Khi dừng chân qua đêm ở một hậu cứ khá an toàn tại Quảng Trị đại đội India mất thêm 6 trong số 19 người còn lại vì một hoả tiễn rớt ngay lều trú quân của họ. Công cuộc phòng thủ cứ điểm Khe Sanh kể như thành công, nhưng với tổn thất rất cao. (Trà Bồng viết lại)



    GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁOTÂM LÝ CHIẾN AFGHA?

    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: TÂM LÝ CHIẾN AFGHA?

    StanleyBản tường trình tóm lược lại có 5 trang, trong đó có câu viết: Nguồn tài nguyên tiếp viện không thể thắng cuộc chiến, nhưng thiếu tiếp viện có thể đưa đến chiến bại. Dù cho đến nay những nỗ lực đáng kể và hy sinh xương máu đã tạo được một vài tiến bộ, nhiều dấu hiệu cho thấy tình hình đang trở thành tồi tệ. Ông Geoff Morrell, Phó Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề thông tin, tuyên bố sự đánh giá tình hình qua tài liệu mật trước khi có quyết định của cấp cao, là nhằm để cung cấp cho TT Obama và ban An ninh Quốc gia của TT những điểm căn bản cho một cuộc thảo luận rất quan trọng về vấn đề hiện nay tình hình Afghanistan như thế nào và phương pháp nào tốt nhất để thực hiện điều chúng ta muốn có ở đó. Trong khi xét tới việc cần tăng thêm quân, tướng McChrystal còn vạch ra rằng cấp bách nhất là phải nghiêm chỉnh xét lại chiến lược chiến thuật. Ông viết Mỹ cần phải có tương tác tốt hơn nữa với người dân Afghanistan, tổ chức tốt hơn nữa với các lực lượng đồng minh NATO. Tướng McChrystal ghi: Chúng ta có mối nguy bị thất bại chiến lược trong khi theo đuổi những thắng lợi chiến thuật đã gây ra thương vong và những thiệt hại không cần thiết lây lan đến những người dân ở bên lề cuộc chiến. Nhìn nhận sự kiên trì bám rễ liều lĩnh của bọn phản loạn Taliban, tướng McChrystal cảnh giác trừ phi Mỹ và đồng minh lấy lại được thế chủ động và đảo ngược lại đà xung kích của bọn phản loạn trong vòng năm tới, nước Mỹ sẽ có thể lâm vào một giai đoạn không còn cách nào tiễu trừ bọn phản loạn được nữa.

    Tờ báo đầu tiên nêu ra những đoạn viết trong bản tường trình mật là tờ Washington Post phát hành sáng thứ Hai, trong đó báo này cho biết đã giữ lại một vài đoạn không loan ra ngoài theo lời yêu cầu của chính phủ. Báo này cũng trích thêm một đoạn như sau: Tướng McChrystal mô tả chính quyền Afghanistan đầy rẫy tham nhũng và một lực lượng quốc tế bị phá hoại bởi những chiến thuật gây phẫn nộ trong dân chúng. Ông cũng bộc lộ rất rõ những chi tiết mới về bọn phiến loạn Taliban, mà ông gọi đó là một kẻ thù có gân cốt ứng cáp và thủ đoạn tinh diệu, biết sử dụng kỹ thuật tuyên truyền hiện đại và đã ngầm xâm nhập các nhà tù, tiếp xúc với tù nhân để tuyển mộ lính của chúng và ngay cả đặt các kế hoạch hành động. Bản tường trình của tướng McChrystal là một trong số các lựa chọn để Bạch Ốc cứu xét. Đề tài này có thể làm gia tăng các cuộc tranh luận với những nhân vật Dân Chủ trong Quốc hội, vì họ đã tỏ ra rất ngần ngại về việc tăng thêm quân cho một cuộc chiến tranh không được lòng dân như cuộc chiến Afghanistan. Tại Quốc hội đang có sự bất đồng giữa hai đảng về chiến tranh này, các Nghị sĩ Cộng hòa yêu cầu phải gia tăng thêm quân Mỹ ở Afghanistan, một cuộc chiến đã sắp qua đến năm thứ 10, trong số có TNS John McCain rất hăng say đòi đánh tới cùng. Trong khi đảng Dân Chủ của TT Obama lại muốn đạp thắng cho chiến tranh chạy chậm lại. Trong các cuộc phỏng vấn mới đây hồi tối chủ nhật vùa qua, Obama nói ông sẽ không để cho chính trị điều khiển các quyết dịnh của ông. Các nhà báo hỏi Obama ông hay các phụ tá của ông có yêu cầu McChrystal rút lại lời xin tăng quân hay không? Tổng Thống Obama nói: Không, không, không, không có chuyện đó. Riêng về hậu quả của cuộc chiến Afghanistan, người ta đã thấy kể từ khi có cuộc chiến này từ 8 năm trước, năm 2009 là năm số thương vong của quân đồng minh lên cao nhất cho đến nay với 350 quân tử trận, trong số này có 197 quân nhân Mỹ. Tính đến tháng 8, năm 2009 là năm chết người nhiều nhất cho quân đội Mỹ. Chính vì thế tướng McChrystal đã phải nói tình hình chiến tranh Afghanistan đang trở thành tồi tệ. Obama không đặt ra một hạn kỳ nhất dịnh nào để đưa thêm quân đến nơi hiểm họa, một khi chưa giải quyết được dứt khoát vấn đề chiến lược. Đô đốc Michael Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham Mưu Trưởng Liên quân, tuần trước nói ông nghĩ rằng tướng McChrystal sẽ yêu cầu gia tăng thêm quân và các dụng cụ chiến tranh trong tương lai gần đây. Trong khi đó Bạch Ốc lại tỏ ra mơ hồ về thời gian bao giờ sẽ có lời thỉnh cầu và nếu có, liệu có làm thỏa mãn lời thỉnh cầu đó không. Đến đây tôi liên tưởng đến một câu chuyện bên lề. Tình cờ làm sao bản tường trình mật của tướng McChrystal lại được tiết lộ vào đúng Ngày Hòa bình Quốc tế của LHQ. Nhân ngày này Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao của Afghanistan tại Thủ đô Kabul, cho biết quân đội Afgha sẽ ngưng mọi cuộc tấn công. Và cũng thật lạ, phía Taliban cũng lên tiếng vì Ngày Hòa Bình đó. Qari Yusuf Ahmadi, nhân vật vẫn được coi là Phát ngôn nhân của Taliban đã tuyên bố: Chúng tôi cũng chỉ ở tư thế phòng thủ như vẫn làm thôi. Cứ điểm (website) chuyên về cứu trợ ReliefWeb loan lời tuyên bố đó và tỏ ý hy vọng Taliban cũng không tấn công. Sự thật câu nói của Taliban có thể có dụng ý muốn nói thêm là: Chúng tôi bình thường không tấn công, chỉ khi nào bị tấn công chúng tôi mới đánh trả. Đòn tâm lý chiến chăng? Hãy chờ xem. Chờ đến bao giờ?

    Sự thật ở Mỹ người ta cũng đang chờ xem đến bao giờ Mỹ quyết định tăng thêm quân. Nhưng TT Obama nói chưa giải quyết được vấn đề chiến lược chiến thuật là chưa có chuyện tăng thêm quân. Rút cuộc đây cũng chỉ là những đòn tâm lý chiến để thăm dò và chờ thời. Trong các cuộc chiến tranh từ cổ chí kim, những đòn tâm lý chiến không phải là chuyện lạ. Gần đây nhất trong Thế chiến II cũng như trong cuộc chiến tranh lạnh vào cuối Thế kỷ 20, và cả trong 9 năm đầu của Thế Kỷ 21 cũng không thiếu gì những đòn tâm lý chiến. Thế nhưng hiện nay nếu Mỹ thấy cần phải xét lại chiến lược chiến thuật như TT Obama đã nói, thiết tưởng cũng nên chờ xem tình thế có thể thay đổi đến độ nào trên thực tế. Liệu có ngừng bắn hay không và cuộc ngừng bắn đó sẽ có những chi tiết như thế nào. Lúc này còn quá sớm để đi đến một kết luận dứt khoát.

    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh