Quang Thiên : Ngoại Tình

Chính Đào Huy Thông đã có dịp xử dụng loại thuốc độc bí ẩn, nhưng cho tới khi hiện diện trước tòa và sau khi bị kết án, anh mới tự giác nhận tội, cho rằng mình tự dưng trở thành phạm nhân là do vận xui mà thôi. Lúc đứng trước vành móng ngựa, nghĩ tới việc đã làm, anh lẩm bẩm: “Thật toàn hảo, thuốc đã không để lại vết tích, chẳng sai tí nào.”

Hồ sơ tư pháp cho biết Thông dính líu vào một chuyện tình và không ngờ âm mưu của anh đã sai dự tính để cuối cùng lãnh bản án đại hình được miễn giảm, tức chín năm tù giam theo luật pháp hiện hành. Tuy vậy, Thông được trả tự do chỉ sau ba năm thọ án. Trong thời gian ở tù, anh bị một bạn đồng khám đâm suýt chết bằng lưỡi dao tự chế tại công xưỡng trong nhà giam, nơi hai người cùng làm việc. Ông này hối hận vì đã dùng búa hạ sát vợ và ba đứa con, nhưng rất tức giận khi cứ nghe mãi câu chuyện âm mưu tàn nhẫn của Thông. Sau đó, phạm nhân giết người bằng búa được chuyển tới Biên Hòa. Tại đấy, ông ta lại quấy rầy các y sĩ với những lời đau khổ về gia đình đã mất.

Vào thời kỳ vụ án xảy ra, Thông sắp được ba mươi mốt tuổi và đang là nhân viên có hạng đại diện cho công ty ĐPN, chuyên cung cấp dụng cụ y khoa, tại thị xã Đàlạt. Ai cũng công nhận anh thực sự là tay thương mại có tài. Các y sĩ và nhân viên hóa chất làm việc chung đều nễ phục Thông về vốn kiến thức y khoa.

Nụ cười thân thiện và sự hiểu biết của Thông đã khiến nhiều khách hàng tin anh là y sĩ. Có tin đồn cho rằng những rắc rối bí ẩn trong gia đình đã ngăn cản anh lấy nốt mấy kỳ thi cuối để được tốt nghiệp. Dư luận khác lại nói anh bị hỏng hai lần thi dự bị y khoa nên bỏ cuộc, hoặc ông cụ thân sinh của Thông, một phụ tá quản lý ngân hàng, đã nghe ai đó xúi giục, bảo cho anh tiếp tục học chỉ phí tiền, căn cứ vào câu chuyện ông cụ mắng Thông: “Người ta bảo con thiếu thực hành, đó là chuyện ở trường trước kia, bây giờ cũng vậy. Bố không hiểu con thích hợp với thứ gì hả Thông, hay là con chỉ có thể đi quét đường?

Về phần mình, Thông thành thật cho biết chính ông cụ muốn cậu con trở thành y sĩ và Thông nghĩ anh không đến nổi phải đi quét đường. Như vậy khuynh hướng ưa thích của anh nghiêng về ngành nào? Có thể là báo chí, nhưng chắc chắn không phải các ngành liên hệ tới giờ giấc đều đặn trong văn phòng hoặc làm việc chăm chút như bác sĩ giải phẩu. Thông đã thử hoạt động sáu, bảy nghề trong nhiều năm, ngay sau khi bỏ cuộc ngành y khoa, nhưng rốt cuộc đều thất bại cho tới khi được cơ hội thử làm việc một thời gian với ĐPN. Không ngờ tại đây anh thành công ngay từ bước đầu và cho tới lúc xảy ra án mạng, anh đã cộng tác tại công ty này được mười năm. Thông thường phải công tác xa nhà anh ở Đà Lạt, thuộc tỉnh Tuyên Đức. Ngoài thời gian đi đây đó chào hàng cho công ty, mỗi năm Thông làm việc bốn tuần lễ tại các phòng thí nghiệm ở ngoại ô thị xã Nha Trang, nơi chuyên thử nghiệm các loại thuốc mới và bốn tuần lễ khác tham dự những cuộc họp bàn về các trọng điểm thương mại và thị trường đáng chú ý. Thông thích có mặt vào các dịp nầy để chứng tỏ khả năng mình và để được cấp trên tán dương.

Đào Huy Thông thành hôn với Dương Hồng Vân chỉ một thời gian ngắn sau khi tìm được việc làm tại công ty ĐPN. Vân trước kia là bạn gái học cùng trường trung học Văn Khoa với anh. Cha nàng là người có ảnh hưởng ngầm trong thành phố. Ông ta lúc nào cũng đội chiếc nón phớt nỉ đắc tiền mỗi khi lái Mecedes từ biệt thự rộng lớn ở đường Trần Bình Trọng lên phố, ngoại trừ những ngày chiếc xế nầy nằm ở bên ngoài câu lạc bộ đánh golf trên Đồi Cù ở Hồ Xuân Hương. Bà vợ ông ta lái chiếc xe nhỏ hơn, hiệu Peugeot 403.

Sau khi được Dương Hồng Vân nhận lời thành hôn, Thông thưa với bố thì ông cụ bảo: “Gia đình họ có tới hai chiếc xe, tốt đấy, cậu đã chọn đúng chỗ để cưới vợ.” Còn bà mẹ thì nháy mắt với con trai, tỏ ý chức mừng và cho rằng định mệnh đã xui khiến Thông gặp được con gái nhà họ Dương. Hồng Vân cũng như Thông, đều là con một. Thực ra cuộc hôn nhân được thành tựu là do Thông biết điều khiển định mệnh. Sau lần đầu tiên may mắn được gặp lại Vân tại vũ trường khách sạn Duy Tân, Thông linh cảm nàng thuộc về anh. Từ đó, anh tán tỉnh nàng với tất cả nghệ thuật. Vào thời kỳ này, anh hai mươi tuổi và tự thấy đã tới lúc thích hợp để lập gia đình. Hồng Vân ở vào tình trạng như vậy vì tính ra nàng lớn hơn anh chàng đang ve vản mình tới hai tuổi. Vân là thiếu nữ tính tình ôn hòa, giản dị và về cơ thể, nàng có vẻ mập mạp. Do đó, nhìn vóc dáng bên ngoài thì không có mấy chàng chịu theo, nhưng bù đắp lại, nhờ gia đình Hồng Vân đi Mercedes và xe Peugeot, đồng thời thuộc thành phần có máu mặt trong thành phố. Đám cưới Vân và Thông được tổ chức rình rang tại giáo đường Thánh Nicola, kèm với bữa tiệc thết đãi hai trăm thực khách tại nhà hàng Palace sang trọng nhất Đàlạt. Sau đó, chính ông Dương Đình Phúc chi tiền cho mọi phí khoảng để con gái và chàng rễ tới thủ đô ánh sáng Paris hưởng tuần trăng mật. Trước những lời tỏ vẻ ái ngại của Thông, ông khoác tay, nói:

– Đừng khách sáo, bây giờ con là người trong gia đình ta rồi!

Tuy nhiên, về sau, Thông mới nhận thấy làm con rễ gia đình nhà họ Dương chẳng hưởng lợi lộc gì như anh vẫn tưởng và ngay cả không đúng như anh dự tính. Hai năm sau, ông già vợ qua đời bất ngờ ngay tại sân đánh golf vì bệnh tim thì chiếc nón ông vẫn đội, tượng trưng cho sự sang trọng, bị thiên hạ dèm pha là một hình thức lừa dối và điều này có lẽ đúng, bởi bất cứ thứ gì ông Dương Đình Phúc sở hữu trong thị xã đều không quan trọng hoặc chẳng đạt lợi nhuận bao nhiêu. Lúc còn sinh tiền, ông đã sống vượt quá mức thu thực sự. Do đó, sau khi ông lìa đời, ngôi biệt thự phải bán và lẽ dĩ nhiên chiếc Mercedes cũng ra đi, xe Peugeot được đổi lấy chiếc Renault bé hơn. Cuối cùng, bà góa phụ phải dọn đến ở trong một ngôi nhà nhỏ thấp ở đường Hoàng Diệu. Với hoàn cảnh gia sản như vậy, Thông và Vân không được thừa hưởng thứ gì cả.

Kết cuộc, chỉ đúng được điều Hồng Vân nói là hai người còn có nhau. Cũng may, vào giai đoạn này, nghề nghiệp của Thông tại công ty ĐPN đang thăng tiến. Nhờ vậy, đôi vợ chồng son sống dưới một mái nhà xinh xắn nối vách với hàng xóm tại khu chung cư giáp ranh Đồi Cù, có lối kiến trúc cùng trang trí giống nhau như đúc, cũng một khuôn vườn nhỏ ở trước và đàng sau nhà được một khoảnh đất lớn hơn.

Cuộc hôn nhơn tính đã khá lâu, nhưng chàng và nàng vẫn chẳng có con. Đối với sự kiện nầy, Vân có chút buồn phiền, nhưng Thông lại ngầm hài lòng. Anh là người thận trọng và tính toán nên cho rằng có con là phải chịu cả một vấn đề tốn kém trong khi vợ chồng anh không thể kham nổi. Hồng Vân dường như có khả năng đọc được những gì chồng tưởng nghĩ trong thâm tâm nên sau khi đề nghị Thông đến bác sĩ cắt ống dẫn tinh để ngăn ngừa khỏi có con, nàng kết luận:

– Bằng lòng đi! Anh tự biết không muốn có con mà!

Khó xử với lời nói của vợ, anh đính chánh: – Chưa hẳn anh không muốn có con, mà chính vì sự tốn kém, nếu sanh con. Anh đã tính hết, kể cả chi phí hàng năm em đã xài từ chương mục ngân hàng.

– Em hiểu rồi! Thôi, có con hay không cũng chẳng quan trọng. Thực ra em chỉ muốn tụi mình được hạnh phúc, vậy thôi.

Trên phương diện thực hành, không cần Hồng Vân phải đề nghị, vì chính Thông đã tự ý đến bác sĩ làm việc ngừa thai, như vậy, anh thấy yên tâm hơn.

Gia đình hai vợ chồng phải chi khá nhiều vì ông cụ thân sinh của Thông và bà mẹ góa của Hồng Vân vẫn thường đến nhà con ăn trưa và tối đều đặn vào mỗi ngày Chúa nhật. Trong khi đó, hai vợ chồng còn phải dành tiền du hí tại vũ trường địa phương; ngoài ra phải giao du với xã hội. Chính trong những cơ hội thù tiếp bạn bè, Vân được dịp trổ tài nội trợ. Nàng tỏ ra chi dụng rất khéo léo số tiền do chồng phân phát mỗi tháng đến đổi ông cụ Đào phải khen con dâu nức nở.

Đời sống lứa đôi càng kéo dài, Thông nhận thấy thân thể vợ càng mập, không còn hấp dẫn, nên thỉnh thoảng anh vụng trộm du hí vào những lúc được dịp. Trong công ty y dược phẩm ĐPN, Thông là tay bán hàng thành công, nên khoảng không gian hoạt động của anh cũng mở rộng. Do đó anh phải đi giao dịch xa và vắng nhà một hai đêm là chuyện thường. Vào những dịp nầy, mỗi tối anh thường tìm đến các quán rượu để tán tỉnh những người đàn bà lạc lỏng tại đó. Thông biết chắc những lần giải quyết sinh lý vụng trộm này không thể gây sứt mẻ chuyện hôn nhân gia đình giữa anh với vợ. Hơn nữa anh cũng không mấy quan tâm vì thấy Hồng Vân có vẻ thông cảm cho chồng.

Có một đêm, nằm bên cạnh Thông, nàng bất ngờ hỏi:

– Trước kia anh muốn cưới em chỉ vì tiền thôi, phải không?

Thông cười thầm với câu hỏi của vợ vì anh chẳng nhận được đồng xu nào từ gia đình nàng. Anh chưa kịp đáp, nàng tiếp lời: – Để em nói cách khác. Anh hy vọng là sau khi lấy chồng ba sẽ cung cấp hoặc tìm cho em một việc làm xứng đáng và cuối cùng khi chết ông sẽ để cho em chút ít gia tài phải không?

– Em suy luận như vậy cũng được, nhưng không đúng hẳn, mặc dù anh từng có chút ý tưởng đó ở trong đầu.

– Nhưng dù sao, cuộc sống tụi mình bây giờ cũng chẳng đến nổi tệ phải không?

Thông không trả lời dứt khoát. Anh hôn vợ và nói:

– Cuộc sống của tụi mình hiện nay cũng tuyệt diệu đấy!

– Anh dùng chữ tuyệt diệu không đúng lắm. Phải nói mọi sự đều êm xuôi. Anh xử sự rất tốt, chúng ta có nhiều bạn hữu và em thích làm việc nội trợ.

Thông cắt ngang để khen vợ có tài quáng xuyến ngân sách gia đình, nhà cửa, nhưng Hồng Vân chưa muốn ngừng: – Anh đừng ngắt ngang câu chuyện, để em nói. Em chỉ buồn một diều là anh không thích đàn bà mập trong khi những biến đổi trong cơ thể đã làm em ngày càng to lớn. Em đã đọc đủ mọi loại sách mà vẫn chưa có cách giải quyết. Anh đi làm công việc của anh, em lo bổn phận của mình. Em nhớ trước kia anh thường tặng hoa và dầu thơm cho em. Bây giờ không còn nữa, nhưng em không trách, vì anh phải làm việc nhiều hơn đến nổi phải xa nhà ban đêm. Em muốn anh rõ là những lúc vắng em, anh đã làm gì em đều biết hết, nhưng đừng bận tâm, em chỉ nói vậy thôi.

Đối với những lời Vân phân trần, nhiều lúc Thông muốn tâm sự với vợ, nhưng thấy bất tiện, sợ gây ngộ nhận vì khó thể hiểu nhau thấu đáo; tuy vậy, không phủ nhận những gì nàng vừa nói, anh hỏi: – Như thế, em có thể chịu được sao?

Nàng trả lời, ánh mắt ngời sáng:

– Bởi vì anh là chồng em, người đàn ông đẹp trai nhất em từng được gặp, chỉ có vậy.

Vào giai đoạn này, Thông cũng phát tướng thật. Thời còn thanh niên, tính tình anh non dại và bất định, nhưng đến tuổi trung niên, làm việc thành công, khiến tự tin nên bao nhiêu năm qua sắc diện anh đã thay đổi tươi nhuận theo cách hoạt động làm ăn đang lên. Nhiều lúc soi gương, Thông thấy mình diển trai như tài tử điện ảnh. Nhất là khi gội rửa sạch sẽ, cạo râu thường xuyên, với mái tóc được cắt tỉa đúng kiểu và ăn mặc sang trọng, trông anh càng giống tài tử, phảng phất dáng nét của Trần Quang. Nhiều lúc Thông lại nghĩ mình có thể thuộc loại thời trang cổ điển. Thực ra anh cũng không muốn mình trẻ như thanh niên để tóc dài mặc quần jean, vì mặc dù mới ba mươi, mái tóc đen rậm của anh đã bắt đầu điểm bạc ở hai bên thái dương. Gương mặt bây giờ trông gầy như lúc mới cưới vợ, làm sắc diện anh trông rất rõ nét. Thông tự biết khuyết điểm của mình ở giọng nói với cái miệng không có khuôn mẫu và thiếu tự mãn trong cách thức tỉa bộ râu mỏng. Tuy vậy, nhìn toàn diện thì không thể phủ nhận anh đẹp trai, do đó, đối với phụ nữ, Thông là người có nhiều nét quyến rủ.

Một hay hai hôm sau đêm nói chuyện với vợ, Thông mua hoa cho Vân và tuần sau anh mua tặng nàng một chai Magical Night, loại dầu thơm đặc biệt gây nhiều cảm hứng cho cuộc tình của hai người trong tuần trăng mật trước kia. Đối với quà tặng và vẻ ưu ái của chồng, Hồng Vân chỉ cười mỉm cám ơn và nựng nhẹ ở cằm Thông. Cử chỉ của nàng khiến anh có ý nghĩ phải chăng một người mang lọ dầu thơm gợi tình về nhà để chỉ được vợ vuốt ve như đối xử với đứa bé? Tuy nhiên, Thông chẳng quan tâm lắm vì anh vui thích với việc làm của mình và chiêm ngưỡng vẻ mặt thích thú của vợ, mặc dù anh không đam mê mấy trong tình yêu đối với Vân, nhưng nếu hỏi có là người đàn ông được mãn nguyện với hạnh phúc gia đình không thì anh sẵn sàng trả lời có.

Thời gian sau đó, khoảng một năm trước khi xảy ra án mạng, Thông được dịp quen biết Ngọc Yến. Nàng sinh trưởng ở Sàigòn nhưng làm vợ Trương Mãn Du, nhà thầu xây cất, cũng ở ngay tại thị xã Đàlạt. Chồng nàng có chiếc cổ khá lớn và giọng nói oang oang như thứ tiếng phát ra từ máy phóng thanh. Thông gặp Yến khi anh tình cờ ngồi ăn tối bên cạnh nàng tại câu lạc bộ trên Đồi Cù Hồ Xuân Hương, và ngay từ đầu, hai người đã thấy có cảm tình với nhau. Thông ngạc nhiên vì những lời nàng mở đầu câu chuyện làm quen: – Từng trông thấy anh nhiều lần ở những buổi khiêu vũ, anh biết tôi nảy sinh ý tưởng gì trong đầu không? Tôi nghĩ là một ngày nào đó sẽ được dịp ngồi bên anh và tôi sẽ nói thẳng.

– Nói gì?

– Nói anh là người đàn ông có sức quyến rủ nhất trong vũ trường khách sạn Duy Tân. Tôi nói rồi đó!

Chớp đôi mắt đen láy nhìn Thông một lúc, nàng tiếp lời: – Tôi biết Hồng Vân, vợ anh, đôi lần trong các cuộc họp mặt. Bà ấy dễ thương đấy, nhưng hình như anh không có thì giờ dành cho vợ. Vân nói anh thuộc típ người lúc nào cũng bận rộn.

Thông thổ lộ công việc làm của mình với người đàn bà mới quen và không quên nhấn mạnh, chỉ cần một thời gian ngắn nữa, nghề nghiệp được thăng tiến, anh sẽ giữ một chức vụ quan trọng trong ban quản trị công ty ĐPN. Cuối cùng, anh hỏi:- Còn chồng của chị?

– Người đàn ông có cái cổ lớn nhất, ngồi ở bàn bên cạnh kia. Ông ta chỉ nghĩ tới một thứ…

Ngừng giây lát như để tìm lời, Yến nói tiếp: – Tiền, mặc dù ông ta đã có rất nhiều.

Dứt lời, Yến quay mặt nhìn thẳng người đối diện. Bấy giờ Thông mới quan sát rõ người đàn bà. Da mặt nàng trắng muốt, ánh mắt thu hút, đa tình. Phía mặt bên kia nổi rõ dấu bớt son bẩm sinh khá lớn, chạy dài từ xương gò má lên tới thái dương. Môi nàng điểm nụ cười và thình lình bỏ mặc Thông, Yến quay sang phía khác nói chuyện với người đàn bà bên cạnh. Thái độ của Yến làm anh băn khoăn, không hiểu nàng có ý gì?

Về nhà, Thông giả vờ vô tình hỏi dò vợ về Yến. Qua lời Vân, anh được biết Yến gặp chồng nàng, lão Du, do những lần tiếp xúc trong thời gian nàng là nhân viên giao dịch với khách ở chi nhánh Đông Nam Á Ngân Hàng tại Đàlạt. Mấy tháng sau, hai người cưới nhau. Cả hai đều tái giá.

Hồng Vân nói tiếp: – Mấy bà già ở đây cho rằng cô ta nhận lấy lão Du vì tiền. Điều này có thể đúng, vì Yến nhỏ tuổi hơn ông ta nhiều. Sau đó, thiên hạ đồn cô ta điều khiển ông chồng làm việc nầy việc nọ. Em nghĩ có thể người ta dèm pha vì ganh tị. Anh thử đoán Ngọc Yến bao nhiêu tuổi? Ba mươi phải không?

– Anh đâu nghĩ tới chuyện đó

– Cô ta trực tính, thích nói thẳng điều mình nghĩ. Anh đối phó với Ngọc Yến như thế nào?

– Đại khái thôi, thực ra anh không thích đàn bà bạo dạn như cô ta.

– Em biết anh chỉ muốn người hiền dịu, không thích tranh cãi.

Dứt lời, Hồng Vân nhìn chồng mĩm cười. Thông nghĩ vợ nói đúng, nhưng hơi bực mình nên anh nói ngược. Sự thực, Thông ngày càng cảm thấy phiền vì sự kiện Vân hầu như luôn luôn đọc được các ý nghĩ trong đầu anh.

Đào Huy Thông là người thận trọng. Anh không làm bất cứ điều gì có thể gây tổn thương cho đời sống hôn nhân với Hồng Vân, cũng như cho công việc làm ăn và những gì anh cho là vai trò xã hội của mình. Do đó, anh chỉ thầm lén giao du xác thịt với những người đàn bà khác ở nơi rất xa nhà. Nhiều lúc Thông liên tưởng tới Hoàng Ngọc Yến và ánh mắt đa tình nàng dành cho mình. Ước muốn của anh phải chờ đến dịp khác tại nhà hàng Shanghai ở khu Hòa Bình. Thông và nàng đã cùng ăn trưa, không còn ngại ngùng như lần gặp gỡ trước. Anh mạnh dạn dọ hỏi nàng vì sao lại đi ăn riêng rẻ.

– Những lần lão Du có việc xa nhà, em lười nấu nên đi ăn tiệm. Còn anh? Em được biết anh cũng thường xa nhà phải không?

– Tôi hay đi đây đi đó vì nhu cầu chào hàng tại các địa phương khác. Ngày mai tôi lại có việc phải đi Nha Trang và Qui Nhơn, xa Đàlạt khoảng vài hôm.

Nghe Thông nói, Yến lẩm bẩm, cho rằng anh may mắn. Bất chợt một ý nghĩ thoáng nhanh trong thâm tâm Thông. Hôm sau anh gọi điện thoại cho Yến, đề nghị tiển anh khỏi thị xã vài cây số. Thông mời nàng ăn tối tại khách sạn Palace, nơi nàng có thể lái xe đến, nhưng đủ xa để tránh ánh mắt tò mò của những người quen biết.

Ngọc Yến trút hết phần chai bia còn lại vào ly và nói:- Em cứ nghĩ anh không bao giờ mời em.

Thông để ý men rượu làm dấu bớt ở mặt nàng trở nên đỏ như vệt son. Đối với anh, lúc này vết bớt như có mãnh lực làm da mặt Yến trông hấp dẫn hơn.

Đêm hôm sau, không ăn tối, cả hai đưa nhau vào thẳng gian phòng Thông đã lấy trước với tên và họ Nguyễn Văn quen thuộc của đa số dân Việt. Trước và sau cuộc mây mưa, Ngọc Yến tâm sự rất nhiều. Nàng cho biết đã chán ngấy ông chồng thô lổ, chán thị xã Đàlạt nhỏ bé cũng như chán các vấn đề chính trị tại địa phương. Thông cũng phụ họa với nàng, cho rằng anh không thích cuộc sống ở đây, nhưng thâm tâm nghĩ khác.

Để nguyên thân hình lõa thể, Ngọc Yến rời khỏi giường đi thẳng vào phòng tắm. Thông nằm nghĩ ngợi mông lung và mơ hồ nghe tiếng nước chảy vội vàng. Một lúc lâu nàng bước ra, hỏi:

– Anh vẫn hay vụng trộm kiểu này trước đây, phải không?

Thông nhấn mạnh: – Không hẳn vậy!

Vẻ đam mê và thèm khát tình ái của Ngọc Yến rất lạ đối với anh, nhưng Thông không muốn hỏi thêm về cuộc đời nàng vì sợ những gì phải nghe. Nhiều lúc, trước tính bạo dạn, sẵng sàng cởi mở của Yến, anh bất chợt thấy không được thoải mái vì có mặc cảm tội lỗi đối với vợ ở nhà. Tuy vậy, anh cảm ơn Yến đã cho mình một đêm yêu đương nồng thắm không thể tưởng và trong thâm tâm, anh thầm ước còn được lần thứ hai. Thình lình, tiếng Ngọc Yến lôi Thông trở về thực tại. Nàng hỏi: – Còn Vân, anh tính sao? Anh sẽ kể mọi sự cho vợ nghe chứ?

Nhìn nàng với vẻ sững sốt, Thông đáp:

– Tuyệt đối không bao giờ. Em cũng chớ có ý định như vậy nhé!

– Kể với chồng em hả? Anh nghĩ em khùng hay sao? Hắn sẽ phủi tay sung sướng nếu biết em có mối tình khác. Để em nói sự thực anh nghe, chồng em sẽ không than phiền, vì ông ta có hàng tá bồ bịch; em từng bắt được thư đám con gái gửi ở trong túi áo của hắn. Do đó, em phải giữ kín để dành cho được một nửa tài sản của lão Du chứ.

Dứt lời, môi nàng mím lại với vẻ hằn học và máu giận như dồn lên mặt làm vết bớt trở thành đỏ ửng.

Trong mấy tháng kế tiếp, Ngọc Yến còn nhiều dịp đến khách sạn để ân ái với Thông. Có những lúc lão Du ở nhà, nàng đành phải thoái thác cuộc hẹn với tình nhân. Những lần như vậy, tuy cảm thấy rất khó chịu nhưng Thông không hề có ý tưởng tìm đàn bà khác thay thế Yến và trong thời gian tiếp nối, hai người ngày càng tiến sâu vào cuộc tình bằng tất cả đam mê.

Đôi lúc Thông cảm thấy ái ngại vì tình trạng thân thiết giữa Yến với Vân. Đã hai lần trở về nhà sau cuộc viễn du xa mà Ngọc Yến đã hẹn ngủ với anh tại khách sạn, Thông thấy nàng ngồi trong phòng khách chuyện vãn với vợ mình.

Nhiều lúc, Hồng Vân nói với chồng:

– Em rất thích Yến. Cô ấy biết nhiều thứ, có lẽ vì là dân Sàigòn.

– Nếu anh là em, anh không tiếp xúc với cô ta nhiều.

Thông phản đối vợ với luận điệu yếu ớt và gượng gạo đến nổi Vân phải nghi ngờ, kể lể về tai tiếng của chồng. Tuy nhiên, như nàng từng biết, anh không bao giờ cãi vã ồn ào, ngay cả anh cũng chẳng màng nói lớn tiếng. Nếu lỡ có vài lời khắc bạc thì hôm sau anh lại tặng hoa cho vợ. Với món quà như vậy, Vân nhận hoa và chỉ khẽ nựng trên cằm chồng.

Có một đêm tại khách sạn Palace, Yến cho Thông biết nàng đã ly thân với chồng, lão Trương Mãn Du. Dứt lời, Yến cười lớn tiếng, nhìn ánh mắt nửa tin nửa ngờ của người tình, rồi nói:

– Thôi đi, anh đừng nhìn em với điệu bộ như vậy. Em nói thật đấy! Nhưng anh chớ lo, ông ta không biết tên anh đâu. Em đã nói với anh, em đầu tư trên sản nghiệp của Trương Mãn Du và cuộc ly thân này đã do cả đôi bên thỏa thuận. Cuộc dàn xếp giữa em với chồng rất êm thắm bởi vì ông ta muốn cưới một trong mấy cô bồ sau khi ly dị em. Tuy vậy, giai đoạn này chưa xảy ra. Thông à, anh là người tình có vóc dáng đẹp nhất mà em được gặp. Hãy đến đây với em!

Ngập ngừng giây lát, Thông lên tiếng: – Em tính rời khỏi Đàlạt?

– Đúng vậy, em đã nhắm một chỗ ở mới trong vùng Thủ Đức.

– Như thế chúng mình phải dứt tình hay sao?

– Em đâu nói vậy.

Tuy được Ngọc yến trấn an, thâm tâm Thông vẫn nghĩ điều anh hoài nghi có thể xảy ra. Đến cư trú ở Thủ Đức, nàng rất dễ gặp lại những người bạn đầu môi chót lưỡi tại thành phố Sàigòn, những kẻ nàng từng giao thiệp trước kia hoặc những thành phần tương tự và nàng sẽ chóng quên anh. Thông thấy nao núng khi liên tưởng tới cuộc sống thiếu vắng Yến, Nghĩ đến sự kiện sẽ mất nàng, anh đã rất thực tâm khi dùng mấy chữ “không chịu đựng nổi”.

Ngọc yến nhìn chăm chú người yêu một lúc như cố tìm hiểu tâm trạng Thông xong dịu dàng nói: – Dường như anh và em không thể rời nhau được nữa, phải không? Chúng ta cảm thấy buồn sầu khi phải chia xa. Tuy nhiên anh vẫn có thể đến thủ đô thăm em và em sẽ lái xe tới khách sạn gặp anh. Em cũng đã đam mê với cuộc tình của chúng mình.

Chờ Ngọc yến dứt lời, Thông nói quả quyết:

– Chúng ta không mất nhau mà sẽ sống đời với nhau.

– Vậy Vân, anh tính sao? Em không muốn phá hoại hạnh phúc của bạn, làm chị ấy đau khổ. Dù sao Vân vẫn đối xử thân tình với em.

– Anh sẽ trình bày, thuyết phục nàng hiểu. Thực ra Hồng Vân cũng chẳng cần gì ở anh.

– Anh đang nói gàn đấy! Anh biết rõ mình hơn ai hết. Đối với em, anh chỉ là tình nhân, nhưng với Vân anh là người chồng. Tự hỏi lòng, em cũng không rõ đã thực tâm yêu anh hay chưa. Đúng ra em chỉ thích kiểu tình tự hoang đàng của chúng ta hiện tại thôi.

Ngưng giây lát, Ngọc yến nắm tay Thông đặt chỗ vết bớt son ở mặt nàng và tiếp lời:

– Dấu vết này, một ngày nào đó sẽ làm anh nhàm chán em nếu cứ phải nhìn nó hàng ngày.

Trước ý tưởng bi quan của Ngọc yến, Thông phản đối và cho rằng từ ngày quen nhau, anh chưa bao giờ bận tâm tới vết bớt đỏ đó. Thế nhưng yến nói, giọng buồn bã:

– Em vẫn biết anh có thể là người tình đam mê của em nếu vợ anh không còn đó. Nhiều lúc em cũng muốn có anh ở mãi bên mình, nhưng em mất hy vọng, vì anh đã thuộc về Hồng Vân.

Nghe người yêu bộc bạch tâm tư, Thông nhận thấy nàng hữu lý. Sau đó, anh trở về gia đình với tâm trạng rối bời. Hồng Vân quan sát chồng một lúc, xong nàng lên tiếng:

– Anh bâng khuâng vì Ngọc Yến phải không? Em cũng nhớ cô ấy lắm!

– Em hàm ý gì vậy?

– Em đã biết chuyện giữa anh với cô ấy, nhưng không phải do Yến kể đâu, cô ấy chẳng tiết lộ gì cả. Em đã hiểu rõ tâm ý của anh ngay sau khi anh nêu những câu hỏi trong bữa ăn tối hôm nọ.

– Em thắc mắc gì không?

– Có chứ! Sao em không bận tâm được?

Hồng Vân bỗng ngừng nói, ngước mắt nhìn chồng; Thông thấy rõ nét mặt mập tròn của vợ và cái nọng hiện rõ ở dưới cằm nàng. Tuy nhiên, không chú ý tới ánh mắt chồng, nàng điềm nhiên tiếp lời: – Tuy nhiên nhận thấy những lần vụng trộm tình ái với Yến giúp anh thoải mái nên em đành im lặng chịu đựng. Ngoài ra em từng chứng kiến nhiều cuộc hôn nhân đầm ấm ban đầu, nhưng rốt cuộc cũng đưa đến đời sống ngoại tình.

*    *    *

S

au khi Thông hoàn tất lần quan sát các phòng thí nghiệm ở ngoại ô thị xã, Ngọc Yến chưa rời khỏi Đàlạt. Tuy nhiên, nàng đã dọn ra khỏi ngôi biệt thự xinh đẹp của lão Trương Mãn Du; trong khi đó, chỗ dự định tại Thủ Đức vẫn còn dằng co vì giá cả thuê mướn chưa ngã ngũ. Trước tình cảnh của bạn, Hồng Vân đề nghị nàng đến ở tạm tại gian phòng trống trong nhà, nhưng ý tốt của vợ làm Thông ngỡ ngàng và anh phản đối. Vì vậy, Ngọc Yến phải về ở tạm trong nhà cô cháu của chồng. Tại đây, hàng ngày nàng được thuận tiện đến chuyện vản với Hồng Vân.

Lái xe một mình xuống đèo Ngoạn Mục trên đường đi Nha Trang, Thông nghĩ ngợi rất nhiều về tình huống phức tạp của mình. Anh tự thấy khó xử và có ý tưởng muốn xa lìa vợ. Thông đã đặt hết lẽ sống vào Ngọc Yến nhưng vô vọng vì không có phương cách nào để giữ được mối liên hệ vĩnh cữu với nàng nếu Vân còn hiện diện. Thông nhận thấy, dù muốn dù không, anh phải chấp nhận sự hiện hữu lâu dài của Vân trong cuộc đời mình. Ý tưởng về cái chết của Hồng Vân nếu do anh chủ động, điều anh bất đắc dĩ phải nghĩ đến, Thông thực lòng không dám thực hành. Nếu bắt buộc phải có hành động bội bạc… Đang nghĩ, anh lập tức gạt bỏ ý tưởng manh nha trong đầu, vì sợ những toan tính ngông cuồng sẽ tiến tới độ nguy hiểm. Sự kiện mà về sau bị đưa ra ánh sáng, Thông buồn rầu thú nhận chính Nguyễn Đình Tuân, một người bạn thân, đã giúp anh thành kẻ sát nhân.

Tuân là nhà hóa học nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu. Ông tự cho mình là luật khi giữ chức vụ trưởng phần hành trách nhiệm phạm vi phòng thí nghiệm trong công ty. Tại đây, tất cả những sáng kiến đăng trên các loại báo khoa học ở khắp thế giới đều được đem thử nghiệm. Đa số loại tin nầy đều vượt quá giai đoạn thực hành, nhưng đối với Tuân, ông vẫn đạt được giải thưởng nhờ tài chế biến một sản phẩm hay một kỹ thuật hiện hữu để sau đó tung ra thị trường và rất thành công…Hóa học gia Nguyễn Đình Tuân có dáng vóc thấp nhỏ, với ánh mắt vui nhộn sau đôi kính cận gọng mạ vàng. Ông uống rượu như hủ chìm và sống độc thân vì sợ đàn bà kềm chế. Tuân và Thông trở thành đôi bạn tâm đầu ý hợp ngay sau lần gặp gỡ đầu tiên và từ đó, hai người thường đi du hí với nhau ở thị xã Nha Trang.

Trong lần viếng nầy, như thường lệ, Thông đảo quanh các phòng thí nghiệm, kể cả bên trong khu cấm địa của Tuân. Anh đàm đạo với các khoa học gia và nhân viên kỹ thuật về vấn đề thử nghiệm cùng những sáng chế trong nội vi công ty. Đến trung tâm của Tuân, Thông được bạn tiếp đón niềm nỡ và chỉ cho xem đủ loại hợp chất hóa học đang sủi bọt trong các loại bình tròn, cổ cong và những giống chuột lớn, bé, đã được chích thí nghiệm với nhiều loại thuốc làm chúng bị biến tính thành hiền lành hoặc hung dữ. Ngoài ra còn các loại dược phẩm đang được nghiên cứu để bào chế loại thuốc chữa lành các chứng nhiễm độc ở da hay trị lành bá bệnh, nhưng vẫn còn đặc tính gây phản ứng phụ. Tại đầu cuối gian phòng rộng lớn còn sắp nhiều lọ nhỏ và chai chứa các loại sản phẩm đầy hứa hẹn cho các cuộc thí nghiệm qui mô khác. Một số lớn cho thấy có những biến chứng trái với ý muốn, nhưng may mắn vẫn còn một hay hai loại dược phẩm hiệu nghiệm để tung ra thị trường.

Với đôi mắt mở rộng hầu như không nháy trong lúc nói chuyện, Tuân giới thiệu với bạn tất cả mọi thứ với giọng đầy triển vọng, làm Thông cũng hăng say tìm hiểu và lắng nghe một cách thích thú. Cuối cùng, Tuân vói tay nắm lấy chiếc lọ khá lớn, chứa một chất lỏng có màu đục và một chai khác nhỏ hơn đựng dung dịch màu vàng nhạt. Lúc Tuân nâng cao chai lớn, Thông để ý miếng nhãn nhỏ ghi mấy chữ noscan, và ông bạn lên tiếng, giải thích:

– Chất kỳ diệu này rất hứa hẹn, đây là sản phẩm cách mạng. Anh biết, hiện nay phụ nữ mang thai đều phải qua máy dò để biết vị thế thai nhi nằm trong bụng ra sao v.v.. Tuy nhiên giới y sĩ sản phụ khoa cho rằng nếu kết quả không rõ, tất phải dò lại lần thứ hai và như vậy, bà mẹ lẫn thai nhi sẽ bị ảnh hưởng tai hại. Do đó, chất noscan này được sử dụng để hóa giải nguy hiểm. Chỉ cần một liều lượng vừa đủ, mấy tấm phim quang tuyến sẽ cho thấy ảnh rõ như khắc hình vào đấy.

– Nếu thế thì còn bị trở ngại gì?

Tuân nhìn Thông với vẻ mặt khôi hài, bàu chữa:

– Tôi đâu cho là bị trở ngại. Thực ra chỉ còn chút khó khăn nhỏ phải điều chỉnh thôi.

– Thứ gì chứa trong chai kia?

Vừa nói, Thông vừa chỉ chai nhỏ dán nhãn vọn vẹn hai chữ NX.

Trước câu hỏi tò mò của bạn, Tuân nói như thì thầm: – Thuốc độc nguyên chất đấy! Tôi được đọc bài của một khoa học gia người Đức viết về dịch chất lấy từ loại cây beloa mọc trong rừng nhiệt đới xứ Ba-Tây. Tại địa phương, người da đỏ dùng trộn với bùn để trị các vết thương cùng những chỗ đau nhức trên cơ thể và cho là thần dược có thể chữa lành mọi thứ bệnh dưới ánh mặt trời. Tôi không thể cho bạn biết từ đâu tôi đã có được thứ dung dịch nầy, nhưng đây là dịch chất cây beloa thứ thiệt. Loại độc dược thuần chất này đặc biệt không màu, không mùi vị. Phải sử dụng bao tay cao su khi làm việc, vì chỉ cần thấm một ít vào khăn tay ngửi hoặc chỉ cần nhỏ vài giọt lên da, nạn nhân sẽ chết tức khắc mà không bị cảm giác đau đớn gì cả, không gây triệu chứng cũng như không để lại dấu tích, chỉ có việc mất mạng mà thôi.

Dứt lời, Tuân cười lớn tiếng với tất cả sản khoái trong lúc Thông tỏ vẻ hoài nghi:

– Như vậy thì đâu có hữu ích, và để dùng vào việc gì chứ?

– À, đấy là trở ngại nội bộ cần điều chỉnh. Cậu nên biết, chính dịch chất beloa có khả năng làm cho phim quang tuyến chụp rõ hình ảnh, hiểu chưa? Tụi này đang tìm cách loại trừ độc tính trong dung dịch để có thể sử dụng hiệu quả hơn. Chúng ta không thể trộn với bùn như dân da đỏ đã làm chỉ vì muốn giữ nguyên dạng dung dịch lỏng. Tôi thử pha với rất nhiều chất, tỉ như đây: noscan 7, chất hỗn hợp thứ bảy và cũng đã thí nghiệm sáu loại pha chế trước đây trên các loại chuột, thỏ, bọ.

– Kết quả ra sao?

– Chúng không sống nổi! Khó khăn nằm ở điểm này đấy! Tuy vậy, vẫn còn đủ dung dịch noscan để pha chế. Thôi, tạm ngưng ngang đây đi, đừng hỏi dài dòng nữa. Tối nay tụi mình hẹn gặp nhau ngoài phố được chứ? Tôi đã sắp xếp mọi thứ để đãi cậu.

Sau bữa cơm tối, Tuân đến tìm Thông tại khách sạn. Hai người rủ nhau đi nhậu và tán gẩu. Tiếp đến, Tuân giới thiệu hai cô “gái tài tử” với bạn, nhưng Thông khước từ cơ hội vui chơi vì không muốn mang mặc cảm tội lỗi với Ngọc Yến, điều mà anh không bao giờ nghĩ đến khi lén vợ anh, để vụng trộm với các phụ nữ khác. Anh lịch sự chi tiền đãi bạn và xin lỗi cáo từ xong đơn độc trở về phòng trọ.

Suốt đêm hôm ấy, Thông không thể nào chợp mắt. Anh suy nghĩ rất nhiều về sự kiện Vân vẫn còn hiện hữu bên cạnh cuộc đời của mình. Cuối cùng trong đầu óc anh nảy sinh ý tưởng việc gì cũng có thể làm được nếu quyết tâm. Vân đã biết Yến hiện diện trong trái tim anh và chịu đựng sự kiện chồng lén lút ngoại tình. Liên tưởng tới câu nói của vợ: “Cuộc hôn nhân nào dù đẹp cách mấy rồi cũng đi đến tình trạng phải chịu đựng mọi thứ”, Thông nhận thức được thực trạng anh sẽ mãi mãi là người chồng ngoại tình nếu cuộc sống với nàng càng kéo dài và theo năm tháng, anh sẽ chán ngấy vì thực tế vợ anh ngày càng mập béo, da thịt nở phồng như chiếc ghế nệm. Tệ hại hơn nữa, Hồng Vân từng chứng tỏ với Thông nàng có khả năng đọc biết ý nghĩ của anh nhưng vẫn cứ phải câm lặng chịu đựng những buồn phiền chồng chất.

Càng ngẫm nghĩ, Thông càng thấy nỗi bực bội vô cớ tràn ngập trong lòng. Sâu trong tiềm thức, anh nghe văng vẳng những lời Ngọc yến nói: “Nếu Vân không còn, em sẽ mãi mãi ở bên anh.” Tự dưng thấy lòng xao xuyến khó tả, Thông lẩm bẩm, thầm sửa lại câu nói của người yêu: “Anh cũng mong được có em mãi mãi.” Tuy nhiên, qua những ý nghĩ trong đầu, thành thật xét lòng mình, Thông nhận thấy có lẽ anh chẳng bao giờ nảy sinh ý tưởng bội bạc với vợ để được sống cùng người yêu nếu không gặp Tuân, không được nghe nói tới chất noscan và không thấy chai nhỏ đựng chất NX.

Gặp Tuân vào buổi tối, Thông vờ hỏi thêm đôi câu có vẻ ngẩu nhiên trong lúc cùng bạn chờ hai cô gái làng chơi đến. Qua câu chuyện, Tuân tỏ ra thích thú, cho bạn biết nhiều chi tiết về những khám phá trong lĩnh vực hóa chất. Ông ta nói thao thao bất tuyệt, nhưng Thông chỉ tưởng nghĩ đến loại thuốc độc thực tiển của bạn rất thích hợp với mục đích toan tính. Anh hài lòng với công dụng giết người êm thắm, chẳng để lại dấu vết của thuốc vì anh không muốn Hồng Vân bị đau đớn và hành động tàn nhẫn của anh bị phác giác. Nguyễn Đình Tuân còn cho biết, trong các cuộc thử nghiệm, thỏ và bọ đã ngã lăn ra chết nhẹ nhàng vì tim ngừng đập.

Thông suy tính phương cách làm sao để vợ anh qua đời tự nhiên như bị chứng tim hành. Bản tính vốn cẩn trọng, anh không muốn sơ suất để lộ một điểm nhỏ nhặt nào khiến người ta có thể phác giác được. Thông thấy chẳng nên dại dột nghĩ đến chuyện thực hành nếu mưu định chưa có kế hoạch chu đáo. Tuy nhiên, anh cảm thấy rất tự tin khi những điểm làm anh lo âu được giải tỏa. Nếu Tuân nói đúng sự thật, không ba hoa quá đáng thì anh chẳng thể thất bại và không ai biết được việc làm ám muội của anh… Bây giờ vấn đề quan trọng là làm sao đánh cắp thuốc độc mà Tuân không hay biết. Tuy suy tính như vậy, nhưng một lần nữa, Thông tự nhủ lòng, nếu không có cơ hội thực hiện ý định, anh sẽ xem như đấy là điềm báo dấu hiệu bất lợi và sẽ gạt bỏ mọi mưu toan, không tính chuyện thực hành nữa. Sau đó, Thông mua một chai lọ nhỏ để chứa độc dược, một ống dẫn và cặp găng tay an toàn.

Cuối cùng, vấn đề khó khăn nhất bỗng dưng được giải quyết một cách dễ dàng y như định mệnh đã an bài. Thông luôn luôn lưu lại ở các phòng thí nghiệm ba hôm và mỗi ngày anh đến viếng trung tâm của Tuân để đấu láo. Vào ngày cuối, trong lúc người phụ tá mải ở thư viện bên cạnh để lục lọi một số hồ sơ, còn Tuân được gọi đi tiếp nhận điện thoại, và chỉ mình Thông hiện diện trong phòng thí nghiệm. Anh chú ý chiếc chai nhỏ đựng thuốc độc NX đang chứa đầy tới ba phần tư. Mang găng tay vào, Thông cẩn thận rót khoảng hơn một phân bề cao cột chất lỏng chứa bên trong vào chiếc lọ nhỏ của mình. Hoàn tất công việc đánh cắp chỉ trong mấy giây đồng hồ, anh mừng thầm nhận thấy tay không bị vấy chất độc.

Thời gian sau đó, hầu như số mạng đã đưa đẩy Thông tiến tới. Anh vẫn tự nhủ nếu có gì đáng ngờ trong thời gian dự tính, anh nhất định sẽ gạt bỏ ý định ám muội của mình. Nhưng khi về đến nơi, Thông thấy Ngọc Yến đã dọn đến trọ ở gian phòng trống trong nhà mình và được biết việc nàng muớn nhà ở Thủ Đức vẫn còn rắc rối, trong khi đó nàng lại có chuyện xích mích với đứa cháu. Vì vậy, Ngọc Yến quyết định nhận lời bạn mời, tới nhà Vân tạm trú.

Vừa thấy mặt chồng, Hồng Vân nói với giọng chân tình đến độ làm Thông ngỡ ngàng và bất mãn trong lúc Ngọc Yến nhướng đôi mắt đen nháy, thích thú nhìn thái độ anh phản ứng.

– Anh à! Rốt cuộc Yến là người trong gia đình mình!

Giới hạn chịu đựng của Thông đã tràn đầy vào đêm thứ hai sau khi anh về với vợ. Đang nằm bên cạnh chồng, Vân chợt nói:

– Nếu anh muốn, cứ vào ngủ với Yến, em không thắc mắc gì đâu.

Cảm thấy khó chịu trước lời đề nghị đột ngột của vợ, anh đáp: – Không bao giờ! Yến là bạn em và là khách trọ trong nhà mình, sao em lại có ý tưởng như vậy?

– Em thấy ở nhà nào cũng vậy, có khác gì đâu?

Thông lắc đầu bực bội vì không thể giải thích nổi. Tình yêu của anh đối với Ngọc Yến rất lãng mạn và đầy tính chất đam mê, nhưng việc ngoại tình với người đàn bà khác được vợ biết và tán thành ngay trong nhà, đối với anh là điều không thể chấp nhận. Do đó, những lời xúi bẩy không nhằm lúc của Hồng Vân đã vô tình phá tan ý tưởng ngần ngại của anh trong việc muốn ám hại vợ. Thông thầm nghĩ số phận của Vân đã được định đoạt.

Thấy vợ đã dùng hết lọ nước hoa Magical Night, Thông mua ngay chai khác và trước khi trao nàng, anh kín đáo mở nút, thận trọng trút loại dịch chất NX giết người từ chiếc lọ bé nhỏ vào đấy. Khi nhận lọ dầu thơm từ tay chồng, Hồng Vân nở nụ cười nhẹ nhàng như thầm cảm ơn Thông đã dành cho mình những đêm ái ân hạnh phúc bên nhau.

Hôm sau, trước khi ra đi, Thông nói những lời mà anh thầm nghĩ đã dối trá với vợ qua mấy câu ân cần dặn dò nàng nên dùng dầu thơm trước hoặc ngay ngày anh trở về, để nếu nàng xiêu lòng thì anh và Ngọc Yến sẽ thấy ngay kết quả. Thông hy vọng những lời dịu ngọt sẽ giải quyết được “vấn đề” và với thâm ý, tốt nhất anh nên vắng nhà vào giai đoạn này. Tuy vậy, anh vẫn băn khoăn, chỉ sợ Nguyễn Đình Tuân nói sai và anh sẽ rất khổ tâm nếu chất độc hành Vân đau đớn.

Vào buổi tối thứ ba trong bốn ngày công tác, Đào Huy Thông không ngạc nhiên khi được thông báo thám tử Đinh Trọng đang chờ gặp dưới lầu khách sạn. Anh chuẩn bị để phô diễn vẻ mặt ngạc nhiên và đau khổ của mình khi nghe tin Hồng Vân qua đời, đồng thời soạn sẵn những lời cần đối đáp như: “Thật không ngờ, Vân vẫn mạnh khỏe khi tôi rời khỏi nhà”, hoặc “À, tôi nhớ ra rồi! Nàng thường than phiền bị đau nhức ở hệ thống tiêu hóa.” Nhưng Thông không bao giờ được dịp ứng dụng các câu nói anh sắp đặt. Bằng đôi mắt sắc bén chuyên nghiệp, viên thám tử với với người phụ tá đứng cạnh, đã lên tiếng ngay khi vừa trông thấy anh:

– Ông là Đào Huy Thông? Tôi có trát tòa bắt giữ anh về tội cố ý giết bà Hoàng Ngọc yến.

Nghe những lời người thám tử nói, mặt Thông biến sắc tái nhợt. Anh ngây người, há hốc miệng lộ vẻ ngạc nhiên tột cùng. vì không thể nào đoán nổi vì sao âm mưu của mình lại xảy ra trái ngược như vậy? Đầu óc tuy băn khoăn, anh vẫn cố khai thác viên thám tử để khám phá những điều cần biết, do đâu anh bị kết tội âm mưu đầu độc Yến mà thực lòng anh không hề chủ tâm.

– Đừng vờ nữa ông Thông. Ông biết rõ là thuốc độc được pha trong lọ nước hoa Magiacal Night mà.

Anh ngoan cố hỏi vặn: – Chính ông đủ khả năng tách rời thuốc độc ra?

Viên thám tử cười mỉm, tỏ thái độ không được vui, đáp:

– Chúng tôi biết xuất xứ loại thuốc độc ông xử dụng. Ông đã rót một ít chất độc thực vật tên NX lấy từ phòng thí nghiệm tại công ty ông làm việc và trút vào lọ nước hoa để tặng vợ.

– Tôi không chấp nhận lời cáo buộc của ông, và xin cho biết, ông đủ khả năng tách rời chất độc khỏi lọ nước hoa hay sao?

Trước câu hỏi của Thông, viên thám tử lặng thinh không trả lời khiến anh nghĩ thầm Tuân nói đúng, chất độc không thể nào phác giác được, nên nhấn mạnh:

– Nếu không, sao ông biết trong chai có độc dược?

– Có gì khó đâu! Chúng tôi áp dụng cách thực tiển nhất là lấy một lượng nhỏ chất lỏng trong lọ dầu thơm cho vào thức ăn của chuột và thấy chúng ngã lăn ra chết trong vòng nửa giờ.

Thông đuối lý trước lời giải thích xác đáng của người thám tử và anh ân hận đã không có mặt ngay tại chỗ kịp lúc để phi tang, lấy chai trút bỏ hết dung dịch dầu thơm còn lại bên trong.

Viên thám tử tiếp tục giải thích: – Đến lúc chúng tôi liên lạc với bạn anh ở phòng thí nghiệm, ông Nguyễn Đình Tuân xác nhận nguyên nhân làm cho chuột chết là do một loại thuốc độc đặc biệt. Vì vậy, ông ta soát lại chai dịch chất NX và cho biết mực chất lỏng đã xuống thấp hơn trước, chứng tỏ có người rót trộm.

Lời giải thích của viên thám tử đã rõ, nhưng Thông vẫn muốn hỏi cho biết do đâu ông ta có thể nghi ngờ được tất cả mọi sự, nhưng cuối cùng, anh nói: – Tôi xác nhận có tặng vợ tôi, chai dầu thơm Magiacal Night, nhưng không hề đưa cho cô Ngọc Yến.

– Chúng tôi biết, đáng lý ra nạn nhân phải là vợ anh chứ không phải Hoàng Ngọc Yến

– Vậy thì sao?

– Bà Dương Hồng Vân nghĩ ông đùa một cách quái ác và khai ông đã kín đáo tư tình với cô Yến. Ông xác nhận điều này chứ? Ông không nhận cũng được, vì chúng tôi đã có đầy đủ chứng cớ sau khi kiểm soát các khách sạn mà hai người từng lui tới hẹn hò. Lọ dầu chính là để cho vợ ông, nhưng bà lại trao cho bạn và bảo rằng dầu thơm không chắc đúng loại Magical Night bà ưa thích. Cô Ngọc Yến bật cười rồi mở ra ngửi thử, xong xức vài giọt trên tay và trên mặt. Sau đó chỉ được vài phút, cô ta ngã vật xuống và không đầy một giờ đồng hồ thì tắt thở.

Nghe đến đây, Thông sực nhớ vợ mình có thể đã nghi ngờ ngay từ đầu. Anh quên mất nàng có biệt tài thấu hiểu được tâm ý của chồng một cách kỳ lạ. Do đó, có lẽ lính tính báo cho biết chồng muốn hại mình nên đã trao chai dầu thơm cho Yến thử chăng? Anh hỏi: – Rồi sau đó?

– Vợ anh gọi y sĩ ngay, nhưng khi ông ta đến nơi, nạn nhân đã lìa đời vì chứng tim bất ngờ ngưng hoạt động. Cái chết của cô Ngọc Yến có thể được xem rất tự nhiên nếu không có điểm đáng lưu ý mà vợ anh phác giác ra khiến chúng tôi được gọi tới điều tra, để từ đó tìm được mấu chốt dẫn đến anh ở đây. Đúng như thế đấy!

– Đúng như thế là sao?

Viên thám tử mỉm cười, đáp: – Tôi được biết ông Tuân không những chỉ tiết lộ với ông về công dụng của độc dược NX cực mạnh như thế nào mà còn nói đấy là loại chất đáng chú ý?

– Ông ta có nói, nhưng rồi sao? Vợ tôi đã tìm thấy gì?

– Đáng lẽ vợ anh chẳng phác giác được gì, nhưng vì cô Ngọc Yến thoa dầu thơm ở gần chỗ có dấu bớt son khá lớn ở một bên mặt và khi cô ta chết, vợ anh chợt để ý là trong vòng một hay hai phút sau, dấu bớt son bỗng dưng biến mất, không còn dấu vết gì cả.

QUANG THIỆN




Lại Nguyên Ân: Phan Khôi, sưu tầm và giới thiệu.

Lại Nguyên Ân sưu tầm và giới thiệu.

 

 

Nhắc đến Phan Khôi, người ta thường nói đến tính cách “Quảng Nam hay cãi” biểu lộ cực kỳ rõ rệt nơi con người ông. Song nét đặc trưng riêng biệt của “tính cách Phan Khôi” lại là nét này: ông hầu như không thể nói dối, không biết nói dối. Có khá nhiều người mang tính cách “hay cãi” của người xứ Quảng, nhưng họ vẫn không đủ bản lĩnh để có thể thật thà như Phan Khôi. Sự trung thực trong tính cách Phan Khôi có thể khiến ông gặp bất lợi trong những cảnh ngộ nhất định, song rốt cuộc, đây vẫn tỏ rõ là một tính cách hay. Chẳng hạn, ở đoạn tự truyện của Phan Khôi mà tôi mới tìm thấy và giới thiệu lại dưới đây, chính là tính cách trung thực đã khiến Phan Khôi có thể nói thật về phương diện sinh hoạt cá nhân thường ngày của mình, điều mà nhiều người thường tìm cách che đậy hoặc lảng tránh.  

 

Xin giới thiệu với bạn đọc đoạn tự truyện này; nhân 50 năm ngày ông mất, chúng ta đọc để nhớ tới Phan Khôi

L.N.Â.

—–

 

ÍT NHIỀU “LÃNG MẠN”

Tự truyện của Phan Khôi

 

Tôi toan viết ra những chuyện dưới đây mà lấy làm lúng túng về cái đầu đề. Nhân nhớ lại khoảng năm 1932 ở Sài Gòn, một hôm vào lúc chín giờ tối, tôi đến một khách sạn tây ở đường phố Catinat thăm một ông bạn cũ ở Bắc mới vào, bắt tay nhau, ông ấy nhìn tôi, vừa cười vừa nói cùng tôi bằng cái giọng đùa bỡn thân mật rằng: “A, huynh ông! Biệt nhau thế mà đã sáu, bảy năm rồi! Xem ra huynh ông không được đẫy bằng hồi ở Hà Nội. Thảo nào người ta nói “ngài” ở đây sanh hoạt một cách lãng mạn lắm thì phải!”

 

Với câu ấy, bấy giờ tôi cũng cười xề xề như chẳng quan tâm đến rồi bắt sang chuyện khác; nhưng khi về đến nhà, nằm một mình, tôi đâm ra nghĩ ngợi.

 

Ông ấy nói mình sanh hoạt lãng mạn, lãng mạn là nghĩa thế nào? Romantique chăng? Chỉ về sanh hoạt kia mà, hẳn là không phải. Nhằm rồi, đây người ta muốn bới sự chơi bời phóng đãng của mình mà người ta không nỡ nói trắng ra, nên dùng cái danh từ “lãng mạn” chớ gì?

 

Nhớ lại mẩu chuyện ấy rồi, tôi không còn phải lúng túng nữa mà lấy ngay hai chữ “lãng mạn” làm đầu đề cho bài nầy. Vả lại cái đời của tôi cũng không phải lãng mạn suốt cả đời; muốn nói cho đúng, đừng bớt mà cũng đừng thêm, tôi phải hạn chế bằng hai chữ “ít nhiều” ở trên nó.

 

***

 

Tôi sanh ra trong một gia đình mà ở đó có cho đến hai cái gương cho tôi về sự “sống ở đời”. Hai cái gương, mỗi cái lại là một cực đoan. Tôi là người trực tiếp chịu ảnh hưởng cả hai thì bảo sao cái thái độ sống của tôi chẳng có khi thay đổi, đương là chiều này day qua chiều khác? Hai cái gương và hai cái cực đoan ấy, một là cha tôi, một là ông tôi.

 

Cha tôi, một kiếp người là một sự cẩn thận. Sau khi đậu phó bảng, làm thuộc viên ở Kinh vài năm, đi ra làm tri phủ một năm rồi cáo xin về, ở nhà cho đến chết. Thấy nói thôi không làm quan nữa là tại sợ mà không dám làm, chứ không có ý gì khác. Người chẳng có cái thị hiếu gì ngoài sự đọc sách. Không cần phải nói không uống rượu, không đánh bạc… Đến vợ, năm 39 tuổi, đứt dây đờn lần thứ hai, người ở vậy cho tới 73 tuổi thì xuống mồ.

 

Ông tôi sanh vào đời Minh Mạng, đậu hồi Thiệu Trị, làm quan hồi Tự Đức, mất hồi Thành Thái, nghĩa là đã “hạ lớp” rồi, cha tôi mới “ra”, cho nên cái sự khác nhau của hai người cũng có lẽ là vì hoàn cảnh.

 

Nghe kẻ lớn kể chuyện lại thì ông tôi trong thời trai trẻ thật đã đủ điều. Giỏi cả nghề côn quyền nữa. Vào giữa thưở thuốc bị cấm nghiêm lắm, mà nửa đêm, tại nhà cô Án Đạt, hoa khôi đất Kinh đô buổi ấy, người đã lấy sức một mình đánh để thoát thân với năm mươi lính trấn phủ, chúng đến vây nhà mượn cớ bắt “ngật yên” mà thực ra thì để hạ kẻ tình địch của ông quan trên mình.

 

Tôi lớn lên thì thấy ông tôi mỗi ngày uống chè tàu hai bận: sớm mai và chiều. Chè ô-long, ve độc ẩm, pha theo một phương pháp; tôi phải có học qua mấy bận, sau mới pha hầu ông tôi được. Cơm thì ăn ba bữa, thỉnh thoảng có uống rượu, uống vào bữa trưa. Độ một tháng hay nửa tháng, gọi người mang “bàn đèn” đến, hút chừng mấy điếu vào buổi tối.

 

Ông tôi có ghiền mất ba năm hồi ở Thái Nguyên. Nhưng khi định về hưu, xuống Hà Nội uống thuốc cai rồi mới về, bấy giờ người vừa sáu mươi tuổi.

 

Tôi có lần bưng tráp đi hầu ông tôi tới chơi một nhà quen thân trong làng. Tưởng chơi gì, té ra là đánh me: người cùng dăm ba ông nữa ngồi vây lấy một chú khách hốt cái.

 

Những chuyện tôi kể đó, tôi thấy vào hồi ông tôi 75 tuổi cho tới 80. Đến năm 84 tuổi người qua đời.

 

Kể cả thê và thiếp, ông tôi già lại, còn bốn bà cả thảy. Cô con gái út sanh vào năm ông tôi 65 tuổi, do bà thứ tư.

 

Chỉ bấy nhiêu đó đã thấy ông tôi là người khoáng đạt, không câu kiễm, thái độ khác hẳn với cha tôi. Tuy vậy ông tôi lại là người cương trực, công bình, cần kiệm và nhứt là có trật tự: giữa xã hội An Nam , tôi chưa hề thấy có người thứ hai đủ các đức tánh tốt ấy tuy đến nay tôi đã ngoài năm mươi tuổi.

 

Có lẽ bởi tôi ở gần cha nhiều hơn, nên thưở thanh niên tôi đã ăn ở theo khuôn rập của người. Năm 16 tuổi, tôi có bị khủng hoảng về tinh thần mất một độ, chỉ một độ thôi, tôi lại được kéo trở vào khuôn.

 

Sau tôi tu tỉnh lấy mình thì cơn khủng hoảng nầy đã gieo giống ở tôi từ hai năm trước. Bấy giờ chúng tôi đang sùng sục đọc sử Tấn ở trường học, thấy trong đó có những tay danh sĩ khoáng đạt như Trúc Lâm thất hiền thì đem lòng hâm mộ. Hai năm sau, học trường khác, nhưng lại gặp bạn cũ, trong đó có một anh lớn tuổi hơn tôi, là kẻ đứng đầu sự hâm mộ năm trên. Anh ấy giảng cho chúng tôi nghe: cuộc đời là vô vị cả, muốn cho hữu vị, chỉ có rượu và thơ. Rồi rủ nhau thực hành: uống rượu và ngâm thơ. Thơ toàn là bố láo chẳng ra câu kẹo gì, mà rượu thì có một đêm đã làm tôi say bất tỉnh. Hay được, ở nhà gọi về mắng cho một trận, từ đó tôi hối ngộ không hề tái phạm cho đến bốn năm sau.

 

Năm 20 tuổi đi thi khoa bính ngọ Thành Thái năm thứ 18, hôm xem bảng và phúc hạch, thấy không có tên, tôi mua rượu uống một mình. Uống đến nỗi từ trường thi trở về, đi ngang qua cửa Ngọ Môn mà không nhìn thấy, như có nói trong một bài tự truyện trước.

 

Đậu tú tài về ở nhà cho đến đầu năm 1908 đi Hà Nội, cả cái thời gian ấy thật tôi đã dẫn mình đi trong con đường rất có quy củ. Không phải nói quá, lúc đó tôi có ý lấy một thân kiêm cả hào kiệt và thánh hiền.

 

Qua đầu năm sau, tôi cũng còn chưa đổi ý và cứ răn can các bạn cọng nạn vì giải buồn đi theo những thú yên hoa trà tửu.

Song chẳng bao lâu, không biết có vì một cớ gì đó hay không vì cớ gì cả, tôi đâm ra chơi bời còn hơn các bạn của tôi. Tôi cùng hai “đồng chí” nhờ đó, bê tha đủ đường. Tôi uống rượu đã nổi tiếng là vô địch. Có một lần say từ chiều hôm nay đến chiều hôm sau mới tỉnh. Lúc tỉnh, tôi nghĩ chỉ còn có một nước tự tử, vì xấu hổ quá, không thể mở mắt trông thấy ai nữa. Nhưng, để cho khỏi chết, tôi trùm mền phủ đầu nằm luôn một đêm một ngày nữa mới dậy. Trong lúc đó, tôi tự lập luật cho mình rằng từ nay về sau, uống mấy thì uống nhưng đừng say.

 

Nói tóm lại, ở tù ba năm mà non hai năm sau là cái thời gian tôi chơi bốc trời. Đến nỗi cha tôi viết thơ cho tôi thốt ra những lời tuyệt vọng: “Thành gia chi tử vị sanh, phá gia chi tử dĩ chí”, cùng là “Lập thân nhứt bại vạn sự ngõa giải”. Thế mà lạ, năm 25 tuổi tôi được thả về một cái là trở nên ngoan ngoãn: chịu mang cái xác bằng báu triệu đi ngồi lớp nhì ở trường Thầy Dòng Huế.

 

Có vợ có con rồi tôi cũng còn dốc lòng ăn ở theo gương cha tôi. Năm 1918 ở Hà Nội làm trợ bút tạp chí Nam phong mỗi tháng 30 đồng bạc mà tôi cũng thừa tiền gửi về nhà, dầu chẳng được mấy nỗi.   

 

Năm sau, ở Sài Gòn nửa năm như một cô trinh nữ, tôi chẳng hề biết cái thành phố ấy có những nơi tiêu khiển nào. Rồi trở ra Hà Nội ở cho đến cuối năm 1925, khoảng nầy kiếm khá tiền hơn trước, tôi có gởi về mua được ít ruộng.

 

Từ 1920 đến 1925 ở Hà Nội, tuy vẫn đứng đắn nhưng tôi cũng có “mở mang” hơn xưa. Lâu lâu rủ anh em đi hút một vài điếu (chữ quelques pipes là chữ tôi bày ra mà ngày nay ở Hà Nội đang lưu hành) và tập đánh trống nhà trò. Còn sự đi chơi vì cần dùng như lần đi với ông Tản Đà có nói trong bài kỷ niệm ông ấy thì tôi coi là sự thường, không kể.

 

Hết thảy cái mùi lãng mạn (đây tôi bắt đầu dùng chữ lãng mạn theo nghĩa riêng nó như trên) tôi cho chỉ có hát nhà trò là thú nhứt, mà thú là vì cái đánh trống. Cho nên tôi đi hát là để nghe hát và đánh trống chớ không vì cô đào. Tôi đánh trống không là hay, vì nghe đàn chưa thạo lắm, nhưng tự thấy tiếng trống của mình có một vẻ riêng, cũng như chữ viết của tôi không là tốt mà có một vẻ riêng, tôi không muốn bỏ đi mà theo ai cả dầu họ hơn tôi mấy cũng mặc.   

 

Về nha phiến, đầu năm 1926 tôi 40 tuổi, quyết định không chơi với nó nữa. Vì nghĩ rằng lúc còn trẻ, sức mạnh, đủ mà kình lại nó, tuy hút không sợ ghiền, nhưng đến có tuổi rồi phải tuyệt đi. Vì vậy, có một dạo lâu lắm, ở Sài Gòn, cùng anh em nằm nói chuyện quanh bàn đèn cả đêm mà tôi không hề.

 

Người ta đến lúc đổ đốn, chơi hoang toàng, thì hay kiếm cái cớ để nấp mình dưới nó mà chống lại vật nghị. Trong sách, khi phê bình các danh sĩ say sưa đời xưa, nhiều người hay nói: “Tiên sanh chi ý bất tại tửu”, hay là: “Hữu sở thác nhi đào”, cùng một ý ấy. Thế thì tôi, trong khi đổi ý, từ cái nhân sanh quan nầy bước qua cái nhân sanh quan khác cũng dùng cái ngón ấy chăng? Việc của tôi, tôi không sao biết được. Tôi chỉ thuật mà không để lời phán đoán.

 

Vào khoảng 1930 – 1931, tôi thả theo sự tự do của thị dục, không gìn giữ gì nữa, nhứt là với nha phiến. Lúc đó tôi ở Sài Gòn, viết một lúc ba tờ báo, thường không có giờ rảnh, hễ rảnh là đi giết thì giờ, không chịu luận đêm ngày.

 

Từ tôi ở ngoài lâu, tôi năng nhớ tới ông tôi. Một lần đi ngang Nha Trang, tôi phải ở lại mấy hôm để đi đến tỉnh thành Khánh Hòa vào thăm dinh Án sát là nơi ông tôi từng ở bảy, tám mươi năm về trước. Ông tôi có một bức di dong chụp trước khi mất một năm đến bấy giờ lu lờ cả, tôi đem thuê ông Đặng Văn Ký ở Đa Kao vẽ lại giống y như hệt. Bức vẽ ấy thường treo ở trên chỗ tôi ngồi viết, khi viết cạn từ, vừa nhìn lên vừa nghĩ.

 

Tôi thấy sống như cái đời ông tôi mới là sống. Từ đó, trên triết học, tôi cẩn thận ở sự định nghĩa ba chữ “nhân sanh quan” và phân biệt nhứt ở chỗ: nhân sanh quan không phải là nhân tử quan. Theo cái chủ nghĩa cấm dục là làm cho con người ta chết đi, chứ không nói được là sống, dầu còn có cử động.

 

Khổng Tử đến năm 70 tuổi thì “tòng tâm sở dục bất du củ” nghĩa là “theo chỗ muốn của lòng, chẳng vượt ra ngoài khuôn phép”. Lại, về sự uống rượu, ngài không có hạn lượng, không nhứt định uống mấy chung có chừng, cứ giữ cho không say đến bậy bạ là được (Duy tửu vô lượng bất cập loạn). Hiệp hai điều đó lại, tôi thấy ra Khổng Tử giá đời ngài đã có thuốc phiện thì ngài hoặc cũng có hút, miễn chẳng đến ghiền hay ghiền mà chẳng đến làm hư thân danh mình cùng để lụy cho vợ con.

 

Xin ai đọc tôi chớ hiểu lầm cái đoạn tôi mới vừa nói đó. Tôi không có ý dùng ngụy biện để kéo một bậc đại thánh vào với tôi trong cái chỗ mà người ta kêu bằng “trụy lạc”. Tôi chỉ muốn nói người ta ở đời, đời có cái gì, hưởng thọ cái ấy thì sự sống có đầy đủ hơn là cái gì cũng không dám hưởng thọ.

 

Năm 45 tuổi tôi “thiệt thọ”. Sau hơn một năm, tôi bỗng bỏ không hút trong tám tháng. Bấy giờ cha tôi thấy vậy, hình như cũng có tin rằng tôi vẫn đủ sức buông bắt thuốc phiện như ông tôi. Thật ra thì trong tám tháng ấy tôi không có việc làm; thất nghiệp chơi với “nàng” thì bất tiện lắm. Chứ khi ra Hà Nội có việc làm rồi, tôi lại chơi.

 

Ai đã mắc vào thú nầy rồi thì thường là chừa các thú khác. Nhưng tôi hơi tham hơn họ một chút. Lần ở Hà Nội nầy, tôi đi nhà trò nhiều hơn cả mấy lần trước, rốt lại đến lấy một cô làm vợ nhỏ, bây giờ vẫn còn ở với tôi đẻ được đứa con trai. Có lẽ đó là cái kết quả và cũng là cái kết luận của cuộc sanh hoạt lãng mạn của tôi vậy.

 

Từ năm mươi tuổi đến nay tôi không còn lãng mạn nữa, dầu còn có sức cũng không, vì nghĩ phải để phần mọi sự đời cho kẻ khác. Nói thế hình như hiện nay tôi lại bỏ thuốc phiện rồi. Không, không phải thế, thứ đó bây giờ đã là một sự cần hằng ngày cho tôi; không còn chơi gì nữa nên không thể kể là lãng mạn được.

 

Thuốc phiện gần nay lên giá, nhiều người làm ra không đủ hút. Trong anh em có người khuyên tôi cũng nên bỏ đi. Mỗi khi đáp lại lời khuyên ấy, tôi nói rằng: “Bảo tôi bỏ à? Thế thì trước kia tôi hút làm gì?” – Lời ấy thật quả là lời của kẻ tự bạo tự khí nếu nó lọt vào tai ông nào như ông Mạnh Tử. Nhưng riêng với tôi, nó là chơn lý, “chơn” đến trăm phần trăm.

 

Tôi nghĩ cái đời của tôi sống để làm gì? Chẳng phải đến bây giờ mà từ trước đến nay tôi sống để làm gì? Viết báo ư? Ngôn luận ư? Trứ thuật ư? Thì cứ hút đi rồi mà viết, mà ngôn luận, mà trứ thuật; cái nầy nó chẳng hề phương hại đến cái kia thì việc gì mà phải bỏ? Còn về tiền bạc, theo tôi, cái đó chẳng thành vấn đề.

 

Cho đi rằng tôi bây giờ không còn là người ghiền đi, lại cho đi rằng từ trước đến nay tôi không hề là người ghiền nữa, thì tôi cũng chỉ là một anh viết báo, một nhà ngôn luận, một tay trứ thuật mà là An Nam tất cả, tôi có hơn gì là tôi đâu?

Có, tôi có khỏi mang tiếng ghiền, nhưng tôi có ích gì cho ai đâu? Thế thì bảo tôi bỏ nó làm gì?

 

***

 

Nói vậy thì nói, chứ đối với cái thái độ ở đời của hai người, cũng không phải tôi cho ông tôi là phải, cha tôi là trái. Chẳng qua sau bao nhiêu lâu nhìn rõ thế sự, tôi thích cái nầy hơn mà chọn lấy và không thích cái kia mà bỏ đi, thế thôi. Nhưng thế nào mặc dầu, cái sự sống bao hàm của ông tôi, tôi vẫn coi như biển, thì cái sự sống cô cao của cha tôi, tôi cũng coi như núi vậy.

 

Người ta phải có tu dưỡng hồi bình nhựt thế nào để cho đến khi cái thái độ mình tỏ ra, hoặc là bao hàm, hoặc là cô cao, đều không phải bởi cố ý. Một có sự cố ý thì phải thành ra giả dối, thậm chí mình giả dối lấy mình: con người ấy mới thật là “trụy lạc”. Tôi sợ cho cái trụy lạc ấy lắm. Chứ còn ghiền á phiện hay mê cô đào mà bị người ta gia cho cái tiếng “trụy lạc” thì tôi không sợ. Không sợ mặc tôi, cái tiếng ấy thế nào cũng không khỏi.

 

Cái đêm trước khi tôi đi Sài Gòn chuyến nầy, vợ tôi nằm một mình nói cằn rằn: “Nói chơi thì chơi, không mắc cái gì hết, mà rồi cái gì cũng mắc hết!”  Tôi nghe mà làm thinh. Tôi biết bà nó (vợ tôi có cháu nội cháu ngoại rồi) nói thế là nói tôi chứ nói ai? 

 

                                                                                                PHAN KHÔI

Dân báo, Sài Gòn, số Tết Nhâm ngọ 1942

 




Hướng Dương : BỐ TÔI

BỐ TÔI                                               
 
 Tác Giả : Hướng Dương
 
Không vừa ý thì đi tìm gái mười tám cho nó hầu hạ, để cho tôi yên thân

Ngày bố tôi sắp về hưu, lúc ấy ông gần sáu mươi lăm tuổi, tôi thấy ông có thái độ lạ lùng, không là con người ông vẫn là lúc trước. Ông đã thay đổi không những về tính nết mà cả về cách cư xử và hành động. Nói cách khác, ông đã trở thành một con người khác lạ trong gia đình. Ông càng ngày càng ít nói và cuối cùng gần như không còn nói một câu nào suốt ngày, chỉ trả lời vắn tắt “có” hay “ không” khi chúng tôi hỏi, và nhiều khi im lặng không trả lời khi câu hỏi bắt ông phải nói ra một câu dài. Đối với mẹ tôi, ông càng không nói, chỉ lầm lầm lì lì.

Ông vốn là một người nóng tính, hay cau có gắt gỏng, hơi một tí là la hét um sùm. Bây giờ ông chỉ suốt ngày yên lặng, không để ý tới ai, như thể ông chỉ còn sống cho mình ông. Có lẽ vì ông không còn giao tiếp với mẹ tôi nhiều nữa nên ít còn cọ sát, ít đụng chạm. Những vụ to tiếng thường xuyên đối với mẹ tôi đã mất hẳn, vì ông không còn nói gì với bà nữa, ông chỉ còn là một sự hiện diện trong nhà, có cũng như không.

Ông cũng đã cả đời tỏ ra là một người khó tính, luôn luôn đòi hỏi sự tuyệt mỹ, đòi hỏi cái tối đa, cái nhất, không hẳn là chỉ đối với mẹ tôi và chúng tôi mà ngay cả đối với chính ông nữa. Ông ít khi bằng lòng liền với những công việc chúng tôi làm, ông thường hay phê bình chỉ trích, đôi khi bắt chúng tôi sửa hay làm lại. Chúng tôi thấy ở nơi ông một con người khó hợp với, khó sống cùng vì thế!

Nhưng ông lại là một con ngưòi nhiều tình cảm, ông sống cả đời vì chúng tôi, ông thương chúng tôi hơn cả chính ông, ông làm cái gì cũng vì người khác, kể cả những người không ruột thịt máu mủ. Ông lo lắng từng tí cho chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi đã trường thành và đã có gia đình riêng. Ngày ông có các cháu nội, ông dành bao nhiêu thì giờ rảnh chơi với chúng, đùa nghịch với chúng như một đứa bé con, ông cũng giỡn, cũng cười, cũng chơi như chúng, coi chúng như những đứa bạn nhỏ của mình. Ấy thế mà bỗng nhiên ông đã thay đổi hoàn toàn, ông không còn thân thiết với ai trong nhà nữa. Dường như ông chỉ còn sống cho bản thân ông, ông chỉ còn nghĩ đến ông, không còn ai xung quanh ông là quan trọng nữa. Ngay cả các cháu nội, ông cũng không còn bồng bế, nô đùa với chúng, ông đã quên chúng, ông không xa lánh nhưng không còn gần gũi như xưa.

Nhưng cái khác lạ rõ ràng nhất là sự đối xử của ông đối với mẹ tôi. Ngày xưa ông thương yêu mẹ tôi biết là chừng nào. Ông sống vì bà, ông cố gắng, hy sinh vì bà. Ông đã từng chăm sóc cho bà như chăm sóc cho một người tình, lúc nào cũng muốn có bà bên cạnh. Nhưng mối tình nóng hổi ấy đã phai nhạt với năm tháng, một phần bởi vì mẹ tôi không hiểu rằng có ông là một cái gì quí mà trời cho, bà luôn luôn coi việc có ông như là một sự đương nhiên, bà không gây dựng hay tìm cách nuôi dưỡng cho mối tình tiếp tục nẩy nở hay ít ra là không suy tàn. Vì thế mà dần dần giữa hai người không còn sự thắm thiết của thuở xưa nữa, không còn sự cảm thông, sự hiểu biết nhau, không còn mối tương quan thắm thiết giữa hai người bạn đời, trái lại chỉ còn sự cay đắng, sự chống đối, sự bất đồng, và có thể nói gần như là sự hận thù. Vì vậy mà mẹ tôi coi sự thể ông đã thôi không giao tiếp với bà nữa như là một điều may mắn, bà khỏi bận tâm, khỏi suy nghĩ, và nhất là khỏi phải đối phó với những khó khăn mà, bà nói do ông gây ra.

Sau ngày ông về hưu, ông lại còn lạ lụng hơn nữa. Ông cứ suốt ngày ngồi trong phòng đọc sách, viết văn, hay suy tư. Ông hay ngồi hàng giờ với một ly rượu và bao thuốc nghĩ ngợi, tôi không hiểu ông nghĩ gì, cái gì làm cho ông bận tâm khi mà ông đã về hưởng tuổi già, khi đáng lý ra ông phải được hưởng sự thanh thản của tâm hồn? Tôi không dám hỏi ông, mặc dầu những lần tôi về thăm nhà cùng đứa con ba tuổi, tôi không thấy ông vui, ông chỉ ra ôm đứa cháu, hôn nó một cái rồi lại đi vào trong phòng riêng của ông. Tôi có cảm tưởng ông sống trong một thế giới cô lập của riêng ông, ông không còn màng tới những gì xẩy ra bên ngoài căn phòng đó, ông đã bị lôi cuốn vào một thế giới của ảo tưởng, của tiềm năng, ông sống với những mơ ước mà ông đã không thực hiện được trong cuộc đời mình.

Thế rồi một hôm, khi không ai để ý đến ông, ông đã ra đi, ông đã biến mất để cho đến khi đứa cháu nội vào gọi ông ra ăn cơm chiều thì cả nhà mới hay ông không còn ở đó nữa, ông đã đi rồi. Tôi vào trong phòng ông lục lọi xem ông có mang thứ gì theo hay không, thì thấy ông chỉ đi người không, ông đã mặc bộ đồ khi ông còn đi làm. Trên bàn có tờ giấy nhỏ xíu, trên đó ông viết: "Tôi đi rồi tôi sẽ về, không có gì phải lo lắng cả. Đừng đi tìm tôi vô ích."

Và đúng như lời ông dặn dò, chúng tôi không đi tìm ông. Mẹ tôi chẳng tỏ vẻ lo lắng gì cả. Bà nói:

-Để cho bố chúng mày đi chơi cho sướng cái thân. Ở với tao ông thấy khổ, tao cho ông ấy đi ở với gái trẻ, đi chán ông ấy sẽ về!

Cái sai lầm ở mẹ tôi là ở chỗ ấy. Bà nói cứ để cho bố tôi đi, nhưng rồi ở nhà ai lo công việc trong nhà? Mặc dù bố tôi có vẻ bất thường nhưng ông vẫn là người quyết định mọi việc, ông vẫn lo giải quyết những vấn đề khó khăn như vấn đề tiền bạc, vấn đề sửa sang nhà cửa, và nhất là khi phải đối phó với người ngoài. Nay ông đi rồi thì mẹ tôi đâu có biết phải làm những công việc ấy? Tôi sẽ phải đứng ra thế ông, nhưng nay tôi đã có gia đình riêng, tôi lo thân tôi chưa xong, nhiều khi còn phải hỏi ý kiến bố tôi thì làm sao bây giờ?

Vả lại có ông ở nhà thì mẹ tôi còn lo dọn dẹp nhà cửa, đi chợ đi búa về làm cơn cho ông ăn. Nay ông đi vắng mẹ tôi, vốn dĩ lười, cứ để nhà bừa bộn, không lau chùi nên nhà bếp nhà tắm bẩn như hủi. Trong phòng ngủ quần áo mặc rổi mẹ tôi chất đống, chẳng buốn treo lên mà cũng chẳng đem đi giặt. Phòng khách phòng ăn ôi đủ thứ la liệt, sách báo, kẹo bánh, đồ dùng xài xong vẫn vứt đó, chén trà, cốc nước uống xong không buồn dọn, có khi để đó vài ba ngày, một tuần. Đồ đi mua về vứt ngay cửa ra vào có khi cả mấy tuần không đem cất. Mỗi khi về nhà thăm mẹ tôi, hai vợ chồng tôi phải dọn dẹp cho bớt ghê mắt, riêng tôi chỉ sợ bố tôi về bất tử thì lại có chuyện.

Mẹ tôi hay cãi lại ông làm ông nổi giận đập phá đùng đùng. Bà có tật hay dựng đứng câu chuyện lên rồi đổ lên đầu bố tôi, làm cho bố tôi phát điên lên thì mới thôi. Hơn nữa, mẹ tôi là dân Hà Đông, bà có cách nói xéo, làm người nghe rất khó chịu. Bố tôi ghét cái tính xấu đó của bà nhưng chẳng làm được gì. Bố tôi nói càng về già mẹ tôi càng có nhiều hành động làm cho bố tôi bực bội. Tối đến bà thức có khi đến hai giờ sáng chỉ để ngồi xem báo hay xem truyền hình. Bố tôi dục đi ngủ bà cứ lờ đi. Sáng ra bà không dậy nổi, bố tôi chuẩn bị bữa ăn sáng xong, bà cũng chưa chịu dậy, đến khi bố tôi ăn xong bà mới ra ngồi ăn. Cơm tối cũng vậy, mẹ tôi đi làm tan sở không về liền, bố tôi chờ không được dành dọn cơm lên ngồi ăn, ăn nửa chừng thì bà về. Bố tôi ăn xong đi nơi khác, mẹ tôi ngồi ăn, cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa xong, bà cứ ngồi một mình chậm rãi ăn, lúc nào muốn thôi thì thôi.

Nay bố tôi đi rồi thì mẹ tôi chẳng còn đối tượng để mà chống đối nữa, bà dành toàn thì giờ đọc báo hay coi truyền hình. Bà có thể ngồi đọc báo hoặc coi truyền hình hai ba tiếng đồng hồ, quên ăn quên ngủ. Tin tức gì bà cũng thuộc nằm lòng. Bà cứ kể đi kể lại những gì bà học được, nhiều khi người nghe phải nhắc là bà đã nói hai ba lần rồi thì bà mới thôi kể. Bà cũng có thể ôm điện thoại nói chuyện với bạn bè hết giờ này sang giờ khác. Còn nói đến việc đi mua bán thì có khi mẹ tôi đi không còn biết giờ về. Bà đi đến đâu cũng xem hết thứ này đến thứ kia nhưng không mua, bà chỉ thích xem để mà xem, để mà biết. Cái gì bán ở đâu bà đều biết, nói đến cái gì bà cũng hay.

Có một điều là mẹ tôi hay nói nhưng không bao giờ làm. Bà muốn cái gì thì cứ nói lên cho bố tôi nghe, rồi nếu ông không làm thì bà than, bà trách. Bà nói bảo làm không làm để bây giờ như thế này, như thế kia. Mà khi bà không bằng lòng một chuyện gì thì bà cứ nói tới nói lui, có khi cả hai ba năm sau bà vẫn còn lôi chuyện cũ ra mà nói. Bố tôi đến khổ vì bà, nhưng ông cho đó là vì bà già, bà thay đổi tính nết, bà khó chịu cũng như tất cả những người đàn bà khác khi về già. Khi bố tôi góp ý với bà thì bà nói với bố tôi:
-Không vừa ý thì đi tìm gái mười tám cho nó hầu hạ, để cho tôi yên thân.

Tôi không hiểu trong đầu bà nghĩ gì mà lại nói thế, nhưng tôi biết bà cũng không sung sướng gì. Câu nói đó thể hiện một sự bất mản cùng cực. Có một điều tôi thấy lạ là thay vì đạp đổ, tại sao bà không chịu có một thái độ xây dựng? Tâm lý người đàn bà vào cái tuổi trên năm mươi hẳn là rất phức tạp, tôi không hiểu được những biến chuyển sinh tâm lý xẩy ra nơi họ. Tôi nghe nói là chính những người đàn bà đó cũng không hay biết rằng họ đã thay đổi, họ đã khác xưa, và vì thế họ khăng cho rằng họ vẫn thế, lỗi là do những người khác chứ không phải tại họ.

Tôi nghĩ bố tôi đã chán cái cảnh cơm không ngọt canh không bùi, ông đã không chịu nổi cái uơng ngạnh của mẹ tôi, ông muốn sống những ngày còn lại trong yên bình, và vì thế ông đã rút lui vào cái thế giới của riêng ông, vào giữa bốn bức tường của căn phòng làm việc mà xưa kia ông không thích vào. Nhưng như thế cũng không mang lại cho ông niềm sung sướng, vì ai sướng khi chỉ sống trong môi trường chết, môi trường im lìm, không tiếng nói, tiếng cười? Ai có thể ngày đêm chìm đắm trong sự u mê, sự day dứt của nội tâm? Tôi biết ông đang bị giằng co giữa bổn phận và hạnh phúc cá nhân. Ông đã không chịu ly dị vì còn con cái, còn các cháu của ông mà ông thương yêu vô ngần. Mẹ tôi đã bao lần nói thẳng vào mặt ông: 
-Sao ông không ly dị tôi cái quách đi cho rồi? Để mà còn đi tìm gái tơ mà hưởng đời chứ? Ông còn tiếc cái gì nữa?

Tôi không biết bà có thực sự muốn thế không, nhưng tôi thấy bố tôi chỉ cắn răng lại để khỏi nói câu gì, vì tôi biết nếu đổ thêm dầu vào lửa tất nó sẽ bùng lên và không còn cứu chữa được nữa.

Ngày bố tôi ra đi, chúng tôi tưởng ông đi đâu chơi một hai ngày. Nhưng cả tháng trôi qua chúng tôi không thấy về, tôi cũng hơi lo lắng. Tôi gọi điện thoại đến các bác, các chú, bạn bè của ông thì không ai biết ông đi đâu, ông không hề thổ lộ kế hoạch của ông cho ai hết. Họ cũng ngạc nhiên về hành động này và không ngờ bố tôi lại có thể làm cái chuyện bất thường như thế. Nhưng tôi thì không ngạc nhiên chút nào. Ngày ông còn trẻ ông đã làm nhiều chuyện ngông cuồng. Đang đi làm yên bình ở sở này, ông vì bất bình một chuyện gì, ông xin nghỉ và sang làm một sở khác. Trong cuộc đời ông, ông đã thay đổi việc làm như chong chóng, ông đã không làm một công việc gì quá năm năm. Ông tuyên bố làm lâu một nơi chán, ông thấy cần thiết phải thay đổi. May mà ông là người có chí, ông luôn luôn trau dồi kiến thức, và ông có khả năng trí tuệ phi thường, không có một công việc gì mà ông không làm cho bằng được. Cuộc đời ông đã có những lúc khổ cùng cực, ông đã phải làm những công việc nặng nhọc hay thật tầm thường để tạm sống. Ông có tinh thần đấu tranh phi thường, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào ông cũng cố vươn lên để thoát khỏi sự cơ cực. Ông rất tự hào về những thành quả ông gặt hái được trong cuộc đời. Tất nhiên tôi rất hãnh diện về con người phấn đấu của ông, tôi rất muốn giống ông và ông đã là gương sáng dẫn đường cho tôi đi. Chính vì tôi nhìn vào ông, noi gương ông, mà cũng đã thành công nhanh chóng và tiến lên trong sự nghiệp của mình.

Và như thế bố tôi đi đâu, không ai biết, cho đến một hôm chúng tôi nhận được một tấm thiệp ông gởi về đề tên Bé Mai, đứa con gái đầu lòng của em tôi, sanh ra khi ông không có nhà. Tấm thiệp mang những giòng chữ nắn nót của ông như sau:
 
Cháu Mai thương yêu của Ông Nội,
Ông rất tiếc khi cháu ra đời ông không có mặt để bồng cháu ngay từ khi mới lọt lòng mẹ. Vì hoàn cảnh đặc biệt ông không thể về ngay thăm cháu, nhưng khi nào ông về thì ông hứa sẽ không quên có quà cho Bé Mai của ông.
Ông hôn cháu và yêu cháu vô cùng.

Nhìn con dấu bưu điện chúng tôi ngạc nhiên thấy rằng ông đã gởi nó từ một tiểu bang xa xôi cách chúng tôi cả mấy ngàn dặm. Thì ra ông đã quyết định ra đi thật xa, đi như thể đi trốn cái nơi đã làm cho ông buồn khổ, đi để mà quên lãng, đi để không còn gì gắn bó với một dĩ vãng đau thương.

Thành phố ông đang ở cũng là một thành phố lớn, nơi đó cũng có nhiều ngưới Việt sinh sống. Tôi chưa bao giờ đặt chân đến nơi đấy nhưng tôi nghe nói nơi đó sinh hoạt của cộng đồng cũng cao, cũng có nhiều người làm ăn buôn bán nhộn nhịp, và nhiều khu cũng sầm uất không khác gì nơi tôi đang ở.

Trong khi chúng tôi rất xúc động khi nhận thiệp ông gởi về thì mẹ tôi vẫn dửng dưng như không. Bà cũng chẳng buồn cầm đến lá thơ mà cũng chẳng hỏi xem bố tôi đã viết những gì trong ấy. Tôi lấy làm lạ sao mà mẹ tôi lại có thể dứt tình với bố tôi như vậy. Tôi muốn tìm hiểu xem bố tôi đi xa như thế để sống với ai, không phải vì tôi tò mò hay muốn tìm cách kết tội ông, mà là vì tôi thương ông. Tôi thương bố tôi vì tôi biết chẳng đặng đừng bố tôi mới phải ra đi như thế, tôi biết rằng xa các con cháu ông nhớ lắm và cũng khổ sở không ít. Và tôi định tâm một ngày nào gần đây tôi sẽ xin nghỉ một tuần lễ để đi tìm ông.

Tôi chưa kịp đi thì bố tôi về. Ông về vào lúc đêm tối khi mẹ tôi đã đi ngủ, ông lẳng lặng mở cửa vào nhà, rồi vào phòng ông nghỉ. Sáng hôm sau khi mà mẹ tôi còn ngủ thì ông đã thức dậy pha trà uống và ngồi đọc báo ở ngoài phòng khách. Nghe tiếng động mẹ tôi tỉnh dậy và thấy ông, bà rất ngạc nhiên. Ông đi như vậy là gần ba tháng trời, ra đi ông không nói cho ai hay mà về cũng chẳng báo trước. Mẹ tôi nói:
-Tôi tưởng ông đi luôn rồi chứ! Sao lại còn về? Tôi tưởng ông đi cho sướng cái thân thì còn về nhà làm gì cho khổ thêm cả tôi nữa?

Bố tôi cứ im lặng chẳng nói câu gì. Mẹ tôi nói thêm:
-Nó bòn hết của rồi nó đuổi ông đi chứ gì. Bây giờ lại về lấy thêm tiền mang đi nuôi nó chứ gì?

Cáu quá bố tôi nói lại:
-Bà xem tôi có lấy đồng xu nào mang đi không nào? Bà đừng có ăn nói hồ đồ. Đừng có làm cho tôi điên tiết lên. Khôn hồn thì để cho tôi yên! 
 
Mẹ tôi vừa đi xuống bếp vừa nói:
-Ông không có tiền thì nó ăn bả gì mà nó nuôi ông?

Thế là bố tôi đập bàn một cái rầm, rồi nói:
-Đã bảo câm cha nó cái miệng lại mà không chịu câm.

Bố tôi đi vào phòng của ông đóng xầm cửa lại. Thế là ông lại trở về với cái thế giới của ông, trong cái thế giới đó không có người vợ oái oăm, khó chịu mà ông nay ghét thậm tệ.

Chiếu thứ bẩy nghe tin bố tôi về, hai anh em tôi mừng rỡ, định tổ chức đi ăn cơm chiều cho cả gia đình. Em tôi bế bé Mai về ra mắt ông nội, ông mừng hết sức, ông ẵm bé, ông hôn, ông không chịu rời đứa cháu cưng của ông. Ông về ông đã mua cho cháu ông một tấm lắc đeo tay bằng vàng tây, ông lấy ra đeo cho cháu rồi bắt chụp cho ông cả chục tấm ảnh ông bồng bé Mai của ông. Thấy ông vui sướng, chúng tôi mừng quá chừng, mẹ tôi tức tối nói:
-Sao ông không đẻ một bé Mai của ông mà ôm mà thương yêu? Lấy một con vợ mười tám tuổi thì nó đẻ cho chứ có khó gì?

Thế là bố tôi giận, không đi ăn cơm chiều nữa, ông nói ông “không đi ăn với con mẹ khó chịu đó”. Ông bảo mẹ tôi là việt cộng, chuyên môn phá hoại, cứ đến lúc cả gia đình vui vẻ thì bà phải làm một cái gì để phá, để chọc giận bố tôi, làm cả nhà hết vui vẻ. Mẹ tôi chẳng cần có bố tôi đi, bà nói tỉnh bơ:
-Bố mày dỗi, để cho ông ấy ở nhà. Mình đi mình cứ đi!

Chúng tôi đành đi mua đồ ăn về nhà, bố tôi không còn hứng, ông ăn hai ba miếng rồi bồng bé Mai vào trong phòng ngồi ôm cháu. Mẹ tôi ngồi ăn vui vẻ như không có chuyện gì, trong khi chúng tôi thì rầu thối ruột.

Những ngày ông ở nhà, chiều nào ông cũng đến thăm các cháu nội, nhất là cháu bé gái bé bỏng của ông. Nhưng vì ở nhà không được vui, hai tuần sau ông lại ra đi, ông đi mà không nói trước với ai, tự dưng ông biến mất, không để lại một vết tích gì.

Thế rồi mỗi tháng ông biên thơ về cho các cháu, ông hỏi thăm, nói chuyện này nọ, và thơ nào ông cũng nói ông nhớ chúng nó, nhất là bé Mai của ông. Ông muốn chúng tôi gởi hình các cháu cho ông và ông cho một hộp thơ để chúng tôi gởi tới đó.

Sáu tháng trôi qua, không thấy ông về thăm nhà, chúng tôi sốt ruột, tôi bèn xin nghỉ một tuần đi tìm ông. Tôi nghĩ tôi biết thành phố nơi ông ở, tôi chỉ cần đi hỏi thăm thì sẽ tìm được ra ông, nhưng tôi đã lầm. Năm ngày trời tôi đi khắp các khu phố có người Việt làm ăn buôn bán hỏi thăm, không ai biết và không ai nhận ra người trong tấm hình của bố tôi mà tôi đưa cho xem. Ban ngày tôi đi mỏi cả chân, chiều tối về khách sạn, tôi điện thoại cho những người quen biết ông hiện đang ở vùng này để xem bố tôi có liên lạc với ai không, thì cũng không ai biết tin gì vì ông không hề tiếp xúc với họ. Thật là một chuyện lạ lùng, như thể ông muốn giấu hết tất cả mọi người về sự hiện diện của ông ở nơi đây.

Đến tối hôm thứ sáu, khi tôi đã thất vọng tưởng phải bay về tay không, thì bố tôi gọi điện thoại đến khách sạn hỏi tôi. Ông nói ông được biết tôi đi tìm ông nên ông muốn gặp tôi nói chuyện. Ông hẹn sáng thứ bẩy hai bố con đi ăn sáng gặp nhau, vì chiều tôi đã lên máy bay trở về. Ông cho nơi hẹn và giờ hẹn rồi thôi không nói gì hơn nữa.

Đêm hôm ấy tôi trằn trọc không ngủ được. Tôi không hiểu tại sao ông biết tôi đến đây đi tìm ông mà ông gọi? Tại sao ông lại chọn nơi này mà đến ở? Ông sống với ai nơi đây? Thật là những điều bí hiểm.

Sáng hôm sau tôi đến nơi hẹn sớm cả nửa tiếng đồng hồ vì tôi muốn xem ông tới bằng cách nào và với ai. Đúng giờ hẹn tôi thấy một chiếc xe hơi loại sang đậu lại cách nơi đây vài trăm thước và tôi thấy ông bước xuống. Ông mặc một bộ đồ mà tôi chưa thấy bao giờ, trông rất lịch sự, ông bước rất khoan thai, vẻ mặt tươi tỉnh, không ủ rũ như khi ở nhà. Cái gì làm ông thay đổi như vậy, tôi tự hỏi. Tôi thấy ông đẩy cánh cửa tiệm ăn, nhìn một vòng, thấy tôi, ông cười và tiến tới. Ông nói:
-Làm gì mà con phải đi tìm bố vậy? Thư thả rồi bố về chứ gì?
-Con muốn sang đây thăm bố và xem bố sống làm sao. Ở nhà chúng con hơi lo…
-Sao phải lo? Bố sống ở đâu chẳng được? Thôi con đã đến đây thì để bố kể hết chuyện cho con nghe. Con lớn rồi chẳng có gì mà phải giấu con nữa.

Người hầu bàn đến, chúng tôi gọi phở và cà phê đen. Bố tôi hỏi chuyện ở nhà ra sao, tôi nói mọi chuyện vẫn bình thường, các cháu nhớ ông lắm, chúng cứ hỏi ông đâu. Nghe nói vậy vẻ mặt bố tôi hơi thay đổi, phảng phất một nỗi buồn, tôi biết ông cũng nhớ các cháu ông lắm.

Phở mang ra, chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện. Tôi hỏi:
-Bố ở đây với ai? Ăn uống làm sao?
Ông ngừng ăn, tay vẫn còn cấm hai chiếc đũa, nhìn tôi như muốn xem tôi có ẩn ý gì không. Ông ăn thêm vài ba gắp rồi đẩy bát phở sang một bên, cho đường vào cà phê uống. Ông nói:
-Bố ở với một người bạn quen từ lâu lắm rồi, con không biết bà ấy. Bố quen từ trước khi lấy mẹ con.
-Bố tìm bà ấy hả bố?
-Không, tình cờ bố gặp lại. Đã gần bốn mươi năm trôi qua. Bố không nhận ra bà ta nhưng bà nhận ra bố. Thật là một chuyện lạ lùng!
-Bố gặp hồi nào?
-Cách đây năm năm, ở Paris, tại nhà một người bạn chung của hai người.
-Sau đó bố vẫn tiếp tục liên lạc?
-Thỉnh thoảng, bố nói chuyện điện thoại thôi. Lúc sau này bố buồn thì tâm sự nhiều hơn. Bà ấy góa chồng đã hơn mười năm nay rồi, có một đứa con gái nay cũng bằng tuổi con. Bà làm ăn buốn bán nên khá gỉa, nhà cửa rộng mà không có ai ở, chỉ có hai mẹ con nên mời bố sang chơi.
-Thế rồi bố ở luôn ?
-Không bố đâu có tính ở luôn? Ở nhà lúc nào tinh thần cũng căng thẳng, làm sao bố chịu mãi cho được. Bố bị suy nhược thần kinh vì thế. Ở đây thoải mái, bố thấy dễ thở, bố bớt u sầu, không còn buồn bực. Bố ở tạm một thời gian cho khỏe lại…
-Con thấy bố có khá hơn ở nhà, bố bình thường hơn trước, con mừng lắm. Nhưng ở như thế mãi sao tiện?
-Người ta mời bố, chứ bố có xin đâu? Nhà cửa rộng thênh thang để không, không ai chăm nom, bố làm quản gia, người ta còn mừng. Nói thế chứ bà ta thương bố, thấy bố buồn khổ, muốn giúp. Bố không thấy có gì phiền hà…
-Cơm nước thì sao hả bố?
-Ở chung nhà thì ăn chung chứ có gì đâu? Bố ăn đâu có bao nhiêu?
-Bố có góp tiền hàng tháng không?
-Bà ấy đâu chịu lấy? Bà nói, bố đến ở là vui cửa vui nhà, bố không phải lo lắng gì cả. Tiền mà làm gì hả con?
-Thế còn tiền máy bay đi về?
-Con Thủy nó mua cho bố. Quần áo bố mặc cũng vậy, nó thương bố lắm! Mỗi lần bố về nhà, cả hai mẹ con cứ thấp thỏm, chỉ sợ bố không qua nữa!
-Vì vậy mà lâu quá bố không về nhà?
-Có lẽ vậy. Không có vé máy bay thì làm sao về? Mà về đến nhà là lại có chuyện, bố không muốn về nữa! Mẹ con đâu còn thương bố nữa?
-Bà ấy thương bố nhiều lắm phải không?
-Không biết, nhưng ở đây không bao giờ có một vấn đề gì để buốn phiền!
-Bố thích ở đây hơn?
-Không hẳn là thế! Hoàn cảnh bó buộc. Bố đâu còn cách lưạ chọn nào khác? Xa con và các cháu, bố nhớ lắm chứ!
-Con biết! Thôi con nghĩ thế này cũng được. Bố cần có cuộc sống riêng của bố, con không dám nói gì.
-Con về cứ coi như không tìm ra bố. Chớ có nói gì với ai. Cái này là bí mật giữa hai bố con mình.
-Thưa bố vâng!

Chưa bao giờ bố tôi lại tâm sự với tôi như thế! Tôi nghĩ ông cảm thấy thoải mái hơn sau khi cho tôi biết những gì ẩn náu trong lòng ông từ nhiều năm nay. Sau khi ông đã chia sẻ nỗi lòng của ông với tôi, ông không còn phải chịu cái gánh nặng ấy một mình. Tôi thấy hình như ông thở ra khoan khoái, và ông ra về vui vẻ. Ông ôm vai tôi, chúng tôi ra cửa, ông leo lên chiếc xe vẫn chờ từ nãy giờ nơi đó, tôi về khách sạn để chuẩn bị ra phi trường.

Những lần sau ông về, ông ở nhà hai vợ chồng tôi, ông vui chơi với các cháu nội, nhưng về được một tuần, ông lại sốt ruột đòi ra đi. Tôi hiểu ông nên không dám nói gì. Chỉ có các cháu nhỏ, chúng cứ nhao nhao “Ông nội đừng đi! Ông nội đừng đi!” làm ông chảy nước mắt mỗi khi ra đi.

Tôi cũng một năm hai lần lấy cớ đi họp, sang thăm ông vài ba ngày. Chúng tôi chỉ gặp nhau ở nơi công cộng, ông không bao giờ cho tôi biết nơi ông ở, càng không cho tôi biết ngươì đàn bà bí mật mà ông ở nhờ.

Cứ như thế được mười năm trời. Rồi một hôm ông về, ông ốm nặng đòi tôi đưa vào nhà thương. Mới vào hôm trước hôm sau thì ông qua đời. Những lần tôi vào với ông vào những giờ chót ông sắp ra đi, tôi thấy hai người đàn bà, một người lớn tuổi như mẹ tôi, ăn mặc sang trọng, ngồi nơi chiếc cửa sổ cách phòng bố tôi nằm chừng mươi thước. Trông họ nghiêm trang và có vẻ buồn rầu lắm. Tôi biết ngay đó là Thủy và mẹ chị, người đã nuôi dưỡng chăm sóc bố tôi hơn mười năm qua.

Những ngày xác bố tôi quàn ở chùa, tôi thấy suốt ngày bóng dáng hai người đàn bà ấy lảng vảng ở sân chùa, người mẹ cầm chiếc khăn tay lau mắt. Tôi lấy làm xót xa cho bà, vì bố tôi chết, mẹ tôi không buồn, không khóc mà bà thì đau đớn sụt sùi. Và bà lại không được khóc công khai! Thật là một sự bất công, nhưng làm sao được? Định mệnh đã an bài như thế! Ngày xưa bố tôi đã bỏ người con gái ấy để lấy mẹ tôi. Thế mà một đời, người ấy vẫn thương vẫn muốn làm sao cho bố tôi bớt khổ. Công lao ấy tôi ghi trong lòng mãi mãi.
 
 Tác Giả : Hướng Dương
 
Không vừa ý thì đi tìm gái mười tám cho nó hầu hạ, để cho tôi yên thân
Ngày bố tôi sắp về hưu, lúc ấy ông gần sáu mươi lăm tuổi, tôi thấy ông có thái độ lạ lùng, không là con người ông vẫn là lúc trước. Ông đã thay đổi không những về tính nết mà cả về cách cư xử và hành động. Nói cách khác, ông đã trở thành một con người khác lạ trong gia đình. Ông càng ngày càng ít nói và cuối cùng gần như không còn nói một câu nào suốt ngày, chỉ trả lời vắn tắt “có” hay “ không” khi chúng tôi hỏi, và nhiều khi im lặng không trả lời khi câu hỏi bắt ông phải nói ra một câu dài. Đối với mẹ tôi, ông càng không nói, chỉ lầm lầm lì lì.

Ông vốn là một người nóng tính, hay cau có gắt gỏng, hơi một tí là la hét um sùm. Bây giờ ông chỉ suốt ngày yên lặng, không để ý tới ai, như thể ông chỉ còn sống cho mình ông. Có lẽ vì ông không còn giao tiếp với mẹ tôi nhiều nữa nên ít còn cọ sát, ít đụng chạm. Những vụ to tiếng thường xuyên đối với mẹ tôi đã mất hẳn, vì ông không còn nói gì với bà nữa, ông chỉ còn là một sự hiện diện trong nhà, có cũng như không.

Ông cũng đã cả đời tỏ ra là một người khó tính, luôn luôn đòi hỏi sự tuyệt mỹ, đòi hỏi cái tối đa, cái nhất, không hẳn là chỉ đối với mẹ tôi và chúng tôi mà ngay cả đối với chính ông nữa. Ông ít khi bằng lòng liền với những công việc chúng tôi làm, ông thường hay phê bình chỉ trích, đôi khi bắt chúng tôi sửa hay làm lại. Chúng tôi thấy ở nơi ông một con người khó hợp với, khó sống cùng vì thế!

Nhưng ông lại là một con ngưòi nhiều tình cảm, ông sống cả đời vì chúng tôi, ông thương chúng tôi hơn cả chính ông, ông làm cái gì cũng vì người khác, kể cả những người không ruột thịt máu mủ. Ông lo lắng từng tí cho chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi đã trường thành và đã có gia đình riêng. Ngày ông có các cháu nội, ông dành bao nhiêu thì giờ rảnh chơi với chúng, đùa nghịch với chúng như một đứa bé con, ông cũng giỡn, cũng cười, cũng chơi như chúng, coi chúng như những đứa bạn nhỏ của mình. Ấy thế mà bỗng nhiên ông đã thay đổi hoàn toàn, ông không còn thân thiết với ai trong nhà nữa. Dường như ông chỉ còn sống cho bản thân ông, ông chỉ còn nghĩ đến ông, không còn ai xung quanh ông là quan trọng nữa. Ngay cả các cháu nội, ông cũng không còn bồng bế, nô đùa với chúng, ông đã quên chúng, ông không xa lánh nhưng không còn gần gũi như xưa.

Nhưng cái khác lạ rõ ràng nhất là sự đối xử của ông đối với mẹ tôi. Ngày xưa ông thương yêu mẹ tôi biết là chừng nào. Ông sống vì bà, ông cố gắng, hy sinh vì bà. Ông đã từng chăm sóc cho bà như chăm sóc cho một người tình, lúc nào cũng muốn có bà bên cạnh. Nhưng mối tình nóng hổi ấy đã phai nhạt với năm tháng, một phần bởi vì mẹ tôi không hiểu rằng có ông là một cái gì quí mà trời cho, bà luôn luôn coi việc có ông như là một sự đương nhiên, bà không gây dựng hay tìm cách nuôi dưỡng cho mối tình tiếp tục nẩy nở hay ít ra là không suy tàn. Vì thế mà dần dần giữa hai người không còn sự thắm thiết của thuở xưa nữa, không còn sự cảm thông, sự hiểu biết nhau, không còn mối tương quan thắm thiết giữa hai người bạn đời, trái lại chỉ còn sự cay đắng, sự chống đối, sự bất đồng, và có thể nói gần như là sự hận thù. Vì vậy mà mẹ tôi coi sự thể ông đã thôi không giao tiếp với bà nữa như là một điều may mắn, bà khỏi bận tâm, khỏi suy nghĩ, và nhất là khỏi phải đối phó với những khó khăn mà, bà nói do ông gây ra.

Sau ngày ông về hưu, ông lại còn lạ lụng hơn nữa. Ông cứ suốt ngày ngồi trong phòng đọc sách, viết văn, hay suy tư. Ông hay ngồi hàng giờ với một ly rượu và bao thuốc nghĩ ngợi, tôi không hiểu ông nghĩ gì, cái gì làm cho ông bận tâm khi mà ông đã về hưởng tuổi già, khi đáng lý ra ông phải được hưởng sự thanh thản của tâm hồn? Tôi không dám hỏi ông, mặc dầu những lần tôi về thăm nhà cùng đứa con ba tuổi, tôi không thấy ông vui, ông chỉ ra ôm đứa cháu, hôn nó một cái rồi lại đi vào trong phòng riêng của ông. Tôi có cảm tưởng ông sống trong một thế giới cô lập của riêng ông, ông không còn màng tới những gì xẩy ra bên ngoài căn phòng đó, ông đã bị lôi cuốn vào một thế giới của ảo tưởng, của tiềm năng, ông sống với những mơ ước mà ông đã không thực hiện được trong cuộc đời mình.

Thế rồi một hôm, khi không ai để ý đến ông, ông đã ra đi, ông đã biến mất để cho đến khi đứa cháu nội vào gọi ông ra ăn cơm chiều thì cả nhà mới hay ông không còn ở đó nữa, ông đã đi rồi. Tôi vào trong phòng ông lục lọi xem ông có mang thứ gì theo hay không, thì thấy ông chỉ đi người không, ông đã mặc bộ đồ khi ông còn đi làm. Trên bàn có tờ giấy nhỏ xíu, trên đó ông viết: "Tôi đi rồi tôi sẽ về, không có gì phải lo lắng cả. Đừng đi tìm tôi vô ích."

Và đúng như lời ông dặn dò, chúng tôi không đi tìm ông. Mẹ tôi chẳng tỏ vẻ lo lắng gì cả. Bà nói:

-Để cho bố chúng mày đi chơi cho sướng cái thân. Ở với tao ông thấy khổ, tao cho ông ấy đi ở với gái trẻ, đi chán ông ấy sẽ về!

Cái sai lầm ở mẹ tôi là ở chỗ ấy. Bà nói cứ để cho bố tôi đi, nhưng rồi ở nhà ai lo công việc trong nhà? Mặc dù bố tôi có vẻ bất thường nhưng ông vẫn là người quyết định mọi việc, ông vẫn lo giải quyết những vấn đề khó khăn như vấn đề tiền bạc, vấn đề sửa sang nhà cửa, và nhất là khi phải đối phó với người ngoài. Nay ông đi rồi thì mẹ tôi đâu có biết phải làm những công việc ấy? Tôi sẽ phải đứng ra thế ông, nhưng nay tôi đã có gia đình riêng, tôi lo thân tôi chưa xong, nhiều khi còn phải hỏi ý kiến bố tôi thì làm sao bây giờ?

Vả lại có ông ở nhà thì mẹ tôi còn lo dọn dẹp nhà cửa, đi chợ đi búa về làm cơn cho ông ăn. Nay ông đi vắng mẹ tôi, vốn dĩ lười, cứ để nhà bừa bộn, không lau chùi nên nhà bếp nhà tắm bẩn như hủi. Trong phòng ngủ quần áo mặc rổi mẹ tôi chất đống, chẳng buốn treo lên mà cũng chẳng đem đi giặt. Phòng khách phòng ăn ôi đủ thứ la liệt, sách báo, kẹo bánh, đồ dùng xài xong vẫn vứt đó, chén trà, cốc nước uống xong không buồn dọn, có khi để đó vài ba ngày, một tuần. Đồ đi mua về vứt ngay cửa ra vào có khi cả mấy tuần không đem cất. Mỗi khi về nhà thăm mẹ tôi, hai vợ chồng tôi phải dọn dẹp cho bớt ghê mắt, riêng tôi chỉ sợ bố tôi về bất tử thì lại có chuyện.

Mẹ tôi hay cãi lại ông làm ông nổi giận đập phá đùng đùng. Bà có tật hay dựng đứng câu chuyện lên rồi đổ lên đầu bố tôi, làm cho bố tôi phát điên lên thì mới thôi. Hơn nữa, mẹ tôi là dân Hà Đông, bà có cách nói xéo, làm người nghe rất khó chịu. Bố tôi ghét cái tính xấu đó của bà nhưng chẳng làm được gì. Bố tôi nói càng về già mẹ tôi càng có nhiều hành động làm cho bố tôi bực bội. Tối đến bà thức có khi đến hai giờ sáng chỉ để ngồi xem báo hay xem truyền hình. Bố tôi dục đi ngủ bà cứ lờ đi. Sáng ra bà không dậy nổi, bố tôi chuẩn bị bữa ăn sáng xong, bà cũng chưa chịu dậy, đến khi bố tôi ăn xong bà mới ra ngồi ăn. Cơm tối cũng vậy, mẹ tôi đi làm tan sở không về liền, bố tôi chờ không được dành dọn cơm lên ngồi ăn, ăn nửa chừng thì bà về. Bố tôi ăn xong đi nơi khác, mẹ tôi ngồi ăn, cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa xong, bà cứ ngồi một mình chậm rãi ăn, lúc nào muốn thôi thì thôi.

Nay bố tôi đi rồi thì mẹ tôi chẳng còn đối tượng để mà chống đối nữa, bà dành toàn thì giờ đọc báo hay coi truyền hình. Bà có thể ngồi đọc báo hoặc coi truyền hình hai ba tiếng đồng hồ, quên ăn quên ngủ. Tin tức gì bà cũng thuộc nằm lòng. Bà cứ kể đi kể lại những gì bà học được, nhiều khi người nghe phải nhắc là bà đã nói hai ba lần rồi thì bà mới thôi kể. Bà cũng có thể ôm điện thoại nói chuyện với bạn bè hết giờ này sang giờ khác. Còn nói đến việc đi mua bán thì có khi mẹ tôi đi không còn biết giờ về. Bà đi đến đâu cũng xem hết thứ này đến thứ kia nhưng không mua, bà chỉ thích xem để mà xem, để mà biết. Cái gì bán ở đâu bà đều biết, nói đến cái gì bà cũng hay.

Có một điều là mẹ tôi hay nói nhưng không bao giờ làm. Bà muốn cái gì thì cứ nói lên cho bố tôi nghe, rồi nếu ông không làm thì bà than, bà trách. Bà nói bảo làm không làm để bây giờ như thế này, như thế kia. Mà khi bà không bằng lòng một chuyện gì thì bà cứ nói tới nói lui, có khi cả hai ba năm sau bà vẫn còn lôi chuyện cũ ra mà nói. Bố tôi đến khổ vì bà, nhưng ông cho đó là vì bà già, bà thay đổi tính nết, bà khó chịu cũng như tất cả những người đàn bà khác khi về già. Khi bố tôi góp ý với bà thì bà nói với bố tôi:
-Không vừa ý thì đi tìm gái mười tám cho nó hầu hạ, để cho tôi yên thân.

Tôi không hiểu trong đầu bà nghĩ gì mà lại nói thế, nhưng tôi biết bà cũng không sung sướng gì. Câu nói đó thể hiện một sự bất mản cùng cực. Có một điều tôi thấy lạ là thay vì đạp đổ, tại sao bà không chịu có một thái độ xây dựng? Tâm lý người đàn bà vào cái tuổi trên năm mươi hẳn là rất phức tạp, tôi không hiểu được những biến chuyển sinh tâm lý xẩy ra nơi họ. Tôi nghe nói là chính những người đàn bà đó cũng không hay biết rằng họ đã thay đổi, họ đã khác xưa, và vì thế họ khăng cho rằng họ vẫn thế, lỗi là do những người khác chứ không phải tại họ.

Tôi nghĩ bố tôi đã chán cái cảnh cơm không ngọt canh không bùi, ông đã không chịu nổi cái uơng ngạnh của mẹ tôi, ông muốn sống những ngày còn lại trong yên bình, và vì thế ông đã rút lui vào cái thế giới của riêng ông, vào giữa bốn bức tường của căn phòng làm việc mà xưa kia ông không thích vào. Nhưng như thế cũng không mang lại cho ông niềm sung sướng, vì ai sướng khi chỉ sống trong môi trường chết, môi trường im lìm, không tiếng nói, tiếng cười? Ai có thể ngày đêm chìm đắm trong sự u mê, sự day dứt của nội tâm? Tôi biết ông đang bị giằng co giữa bổn phận và hạnh phúc cá nhân. Ông đã không chịu ly dị vì còn con cái, còn các cháu của ông mà ông thương yêu vô ngần. Mẹ tôi đã bao lần nói thẳng vào mặt ông: 
-Sao ông không ly dị tôi cái quách đi cho rồi? Để mà còn đi tìm gái tơ mà hưởng đời chứ? Ông còn tiếc cái gì nữa?

Tôi không biết bà có thực sự muốn thế không, nhưng tôi thấy bố tôi chỉ cắn răng lại để khỏi nói câu gì, vì tôi biết nếu đổ thêm dầu vào lửa tất nó sẽ bùng lên và không còn cứu chữa được nữa.

Ngày bố tôi ra đi, chúng tôi tưởng ông đi đâu chơi một hai ngày. Nhưng cả tháng trôi qua chúng tôi không thấy về, tôi cũng hơi lo lắng. Tôi gọi điện thoại đến các bác, các chú, bạn bè của ông thì không ai biết ông đi đâu, ông không hề thổ lộ kế hoạch của ông cho ai hết. Họ cũng ngạc nhiên về hành động này và không ngờ bố tôi lại có thể làm cái chuyện bất thường như thế. Nhưng tôi thì không ngạc nhiên chút nào. Ngày ông còn trẻ ông đã làm nhiều chuyện ngông cuồng. Đang đi làm yên bình ở sở này, ông vì bất bình một chuyện gì, ông xin nghỉ và sang làm một sở khác. Trong cuộc đời ông, ông đã thay đổi việc làm như chong chóng, ông đã không làm một công việc gì quá năm năm. Ông tuyên bố làm lâu một nơi chán, ông thấy cần thiết phải thay đổi. May mà ông là người có chí, ông luôn luôn trau dồi kiến thức, và ông có khả năng trí tuệ phi thường, không có một công việc gì mà ông không làm cho bằng được. Cuộc đời ông đã có những lúc khổ cùng cực, ông đã phải làm những công việc nặng nhọc hay thật tầm thường để tạm sống. Ông có tinh thần đấu tranh phi thường, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào ông cũng cố vươn lên để thoát khỏi sự cơ cực. Ông rất tự hào về những thành quả ông gặt hái được trong cuộc đời. Tất nhiên tôi rất hãnh diện về con người phấn đấu của ông, tôi rất muốn giống ông và ông đã là gương sáng dẫn đường cho tôi đi. Chính vì tôi nhìn vào ông, noi gương ông, mà cũng đã thành công nhanh chóng và tiến lên trong sự nghiệp của mình.

Và như thế bố tôi đi đâu, không ai biết, cho đến một hôm chúng tôi nhận được một tấm thiệp ông gởi về đề tên Bé Mai, đứa con gái đầu lòng của em tôi, sanh ra khi ông không có nhà. Tấm thiệp mang những giòng chữ nắn nót của ông như sau:
 
Cháu Mai thương yêu của Ông Nội,
Ông rất tiếc khi cháu ra đời ông không có mặt để bồng cháu ngay từ khi mới lọt lòng mẹ. Vì hoàn cảnh đặc biệt ông không thể về ngay thăm cháu, nhưng khi nào ông về thì ông hứa sẽ không quên có quà cho Bé Mai của ông.
Ông hôn cháu và yêu cháu vô cùng.

Nhìn con dấu bưu điện chúng tôi ngạc nhiên thấy rằng ông đã gởi nó từ một tiểu bang xa xôi cách chúng tôi cả mấy ngàn dặm. Thì ra ông đã quyết định ra đi thật xa, đi như thể đi trốn cái nơi đã làm cho ông buồn khổ, đi để mà quên lãng, đi để không còn gì gắn bó với một dĩ vãng đau thương.

Thành phố ông đang ở cũng là một thành phố lớn, nơi đó cũng có nhiều ngưới Việt sinh sống. Tôi chưa bao giờ đặt chân đến nơi đấy nhưng tôi nghe nói nơi đó sinh hoạt của cộng đồng cũng cao, cũng có nhiều người làm ăn buôn bán nhộn nhịp, và nhiều khu cũng sầm uất không khác gì nơi tôi đang ở.

Trong khi chúng tôi rất xúc động khi nhận thiệp ông gởi về thì mẹ tôi vẫn dửng dưng như không. Bà cũng chẳng buồn cầm đến lá thơ mà cũng chẳng hỏi xem bố tôi đã viết những gì trong ấy. Tôi lấy làm lạ sao mà mẹ tôi lại có thể dứt tình với bố tôi như vậy. Tôi muốn tìm hiểu xem bố tôi đi xa như thế để sống với ai, không phải vì tôi tò mò hay muốn tìm cách kết tội ông, mà là vì tôi thương ông. Tôi thương bố tôi vì tôi biết chẳng đặng đừng bố tôi mới phải ra đi như thế, tôi biết rằng xa các con cháu ông nhớ lắm và cũng khổ sở không ít. Và tôi định tâm một ngày nào gần đây tôi sẽ xin nghỉ một tuần lễ để đi tìm ông.

Tôi chưa kịp đi thì bố tôi về. Ông về vào lúc đêm tối khi mẹ tôi đã đi ngủ, ông lẳng lặng mở cửa vào nhà, rồi vào phòng ông nghỉ. Sáng hôm sau khi mà mẹ tôi còn ngủ thì ông đã thức dậy pha trà uống và ngồi đọc báo ở ngoài phòng khách. Nghe tiếng động mẹ tôi tỉnh dậy và thấy ông, bà rất ngạc nhiên. Ông đi như vậy là gần ba tháng trời, ra đi ông không nói cho ai hay mà về cũng chẳng báo trước. Mẹ tôi nói:
-Tôi tưởng ông đi luôn rồi chứ! Sao lại còn về? Tôi tưởng ông đi cho sướng cái thân thì còn về nhà làm gì cho khổ thêm cả tôi nữa?

Bố tôi cứ im lặng chẳng nói câu gì. Mẹ tôi nói thêm:
-Nó bòn hết của rồi nó đuổi ông đi chứ gì. Bây giờ lại về lấy thêm tiền mang đi nuôi nó chứ gì?

Cáu quá bố tôi nói lại:
-Bà xem tôi có lấy đồng xu nào mang đi không nào? Bà đừng có ăn nói hồ đồ. Đừng có làm cho tôi điên tiết lên. Khôn hồn thì để cho tôi yên! 
 
Mẹ tôi vừa đi xuống bếp vừa nói:
-Ông không có tiền thì nó ăn bả gì mà nó nuôi ông?

Thế là bố tôi đập bàn một cái rầm, rồi nói:
-Đã bảo câm cha nó cái miệng lại mà không chịu câm.

Bố tôi đi vào phòng của ông đóng xầm cửa lại. Thế là ông lại trở về với cái thế giới của ông, trong cái thế giới đó không có người vợ oái oăm, khó chịu mà ông nay ghét thậm tệ.

Chiếu thứ bẩy nghe tin bố tôi về, hai anh em tôi mừng rỡ, định tổ chức đi ăn cơm chiều cho cả gia đình. Em tôi bế bé Mai về ra mắt ông nội, ông mừng hết sức, ông ẵm bé, ông hôn, ông không chịu rời đứa cháu cưng của ông. Ông về ông đã mua cho cháu ông một tấm lắc đeo tay bằng vàng tây, ông lấy ra đeo cho cháu rồi bắt chụp cho ông cả chục tấm ảnh ông bồng bé Mai của ông. Thấy ông vui sướng, chúng tôi mừng quá chừng, mẹ tôi tức tối nói:
-Sao ông không đẻ một bé Mai của ông mà ôm mà thương yêu? Lấy một con vợ mười tám tuổi thì nó đẻ cho chứ có khó gì?

Thế là bố tôi giận, không đi ăn cơm chiều nữa, ông nói ông “không đi ăn với con mẹ khó chịu đó”. Ông bảo mẹ tôi là việt cộng, chuyên môn phá hoại, cứ đến lúc cả gia đình vui vẻ thì bà phải làm một cái gì để phá, để chọc giận bố tôi, làm cả nhà hết vui vẻ. Mẹ tôi chẳng cần có bố tôi đi, bà nói tỉnh bơ:
-Bố mày dỗi, để cho ông ấy ở nhà. Mình đi mình cứ đi!

Chúng tôi đành đi mua đồ ăn về nhà, bố tôi không còn hứng, ông ăn hai ba miếng rồi bồng bé Mai vào trong phòng ngồi ôm cháu. Mẹ tôi ngồi ăn vui vẻ như không có chuyện gì, trong khi chúng tôi thì rầu thối ruột.

Những ngày ông ở nhà, chiều nào ông cũng đến thăm các cháu nội, nhất là cháu bé gái bé bỏng của ông. Nhưng vì ở nhà không được vui, hai tuần sau ông lại ra đi, ông đi mà không nói trước với ai, tự dưng ông biến mất, không để lại một vết tích gì.

Thế rồi mỗi tháng ông biên thơ về cho các cháu, ông hỏi thăm, nói chuyện này nọ, và thơ nào ông cũng nói ông nhớ chúng nó, nhất là bé Mai của ông. Ông muốn chúng tôi gởi hình các cháu cho ông và ông cho một hộp thơ để chúng tôi gởi tới đó.

Sáu tháng trôi qua, không thấy ông về thăm nhà, chúng tôi sốt ruột, tôi bèn xin nghỉ một tuần đi tìm ông. Tôi nghĩ tôi biết thành phố nơi ông ở, tôi chỉ cần đi hỏi thăm thì sẽ tìm được ra ông, nhưng tôi đã lầm. Năm ngày trời tôi đi khắp các khu phố có người Việt làm ăn buôn bán hỏi thăm, không ai biết và không ai nhận ra người trong tấm hình của bố tôi mà tôi đưa cho xem. Ban ngày tôi đi mỏi cả chân, chiều tối về khách sạn, tôi điện thoại cho những người quen biết ông hiện đang ở vùng này để xem bố tôi có liên lạc với ai không, thì cũng không ai biết tin gì vì ông không hề tiếp xúc với họ. Thật là một chuyện lạ lùng, như thể ông muốn giấu hết tất cả mọi người về sự hiện diện của ông ở nơi đây.

Đến tối hôm thứ sáu, khi tôi đã thất vọng tưởng phải bay về tay không, thì bố tôi gọi điện thoại đến khách sạn hỏi tôi. Ông nói ông được biết tôi đi tìm ông nên ông muốn gặp tôi nói chuyện. Ông hẹn sáng thứ bẩy hai bố con đi ăn sáng gặp nhau, vì chiều tôi đã lên máy bay trở về. Ông cho nơi hẹn và giờ hẹn rồi thôi không nói gì hơn nữa.

Đêm hôm ấy tôi trằn trọc không ngủ được. Tôi không hiểu tại sao ông biết tôi đến đây đi tìm ông mà ông gọi? Tại sao ông lại chọn nơi này mà đến ở? Ông sống với ai nơi đây? Thật là những điều bí hiểm.

Sáng hôm sau tôi đến nơi hẹn sớm cả nửa tiếng đồng hồ vì tôi muốn xem ông tới bằng cách nào và với ai. Đúng giờ hẹn tôi thấy một chiếc xe hơi loại sang đậu lại cách nơi đây vài trăm thước và tôi thấy ông bước xuống. Ông mặc một bộ đồ mà tôi chưa thấy bao giờ, trông rất lịch sự, ông bước rất khoan thai, vẻ mặt tươi tỉnh, không ủ rũ như khi ở nhà. Cái gì làm ông thay đổi như vậy, tôi tự hỏi. Tôi thấy ông đẩy cánh cửa tiệm ăn, nhìn một vòng, thấy tôi, ông cười và tiến tới. Ông nói:
-Làm gì mà con phải đi tìm bố vậy? Thư thả rồi bố về chứ gì?
-Con muốn sang đây thăm bố và xem bố sống làm sao. Ở nhà chúng con hơi lo…
-Sao phải lo? Bố sống ở đâu chẳng được? Thôi con đã đến đây thì để bố kể hết chuyện cho con nghe. Con lớn rồi chẳng có gì mà phải giấu con nữa.

Người hầu bàn đến, chúng tôi gọi phở và cà phê đen. Bố tôi hỏi chuyện ở nhà ra sao, tôi nói mọi chuyện vẫn bình thường, các cháu nhớ ông lắm, chúng cứ hỏi ông đâu. Nghe nói vậy vẻ mặt bố tôi hơi thay đổi, phảng phất một nỗi buồn, tôi biết ông cũng nhớ các cháu ông lắm.

Phở mang ra, chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện. Tôi hỏi:
-Bố ở đây với ai? Ăn uống làm sao?
Ông ngừng ăn, tay vẫn còn cấm hai chiếc đũa, nhìn tôi như muốn xem tôi có ẩn ý gì không. Ông ăn thêm vài ba gắp rồi đẩy bát phở sang một bên, cho đường vào cà phê uống. Ông nói:
-Bố ở với một người bạn quen từ lâu lắm rồi, con không biết bà ấy. Bố quen từ trước khi lấy mẹ con.
-Bố tìm bà ấy hả bố?
-Không, tình cờ bố gặp lại. Đã gần bốn mươi năm trôi qua. Bố không nhận ra bà ta nhưng bà nhận ra bố. Thật là một chuyện lạ lùng!
-Bố gặp hồi nào?
-Cách đây năm năm, ở Paris, tại nhà một người bạn chung của hai người.
-Sau đó bố vẫn tiếp tục liên lạc?
-Thỉnh thoảng, bố nói chuyện điện thoại thôi. Lúc sau này bố buồn thì tâm sự nhiều hơn. Bà ấy góa chồng đã hơn mười năm nay rồi, có một đứa con gái nay cũng bằng tuổi con. Bà làm ăn buốn bán nên khá gỉa, nhà cửa rộng mà không có ai ở, chỉ có hai mẹ con nên mời bố sang chơi.
-Thế rồi bố ở luôn ?
-Không bố đâu có tính ở luôn? Ở nhà lúc nào tinh thần cũng căng thẳng, làm sao bố chịu mãi cho được. Bố bị suy nhược thần kinh vì thế. Ở đây thoải mái, bố thấy dễ thở, bố bớt u sầu, không còn buồn bực. Bố ở tạm một thời gian cho khỏe lại…
-Con thấy bố có khá hơn ở nhà, bố bình thường hơn trước, con mừng lắm. Nhưng ở như thế mãi sao tiện?
-Người ta mời bố, chứ bố có xin đâu? Nhà cửa rộng thênh thang để không, không ai chăm nom, bố làm quản gia, người ta còn mừng. Nói thế chứ bà ta thương bố, thấy bố buồn khổ, muốn giúp. Bố không thấy có gì phiền hà…
-Cơm nước thì sao hả bố?
-Ở chung nhà thì ăn chung chứ có gì đâu? Bố ăn đâu có bao nhiêu?
-Bố có góp tiền hàng tháng không?
-Bà ấy đâu chịu lấy? Bà nói, bố đến ở là vui cửa vui nhà, bố không phải lo lắng gì cả. Tiền mà làm gì hả con?
-Thế còn tiền máy bay đi về?
-Con Thủy nó mua cho bố. Quần áo bố mặc cũng vậy, nó thương bố lắm! Mỗi lần bố về nhà, cả hai mẹ con cứ thấp thỏm, chỉ sợ bố không qua nữa!
-Vì vậy mà lâu quá bố không về nhà?
-Có lẽ vậy. Không có vé máy bay thì làm sao về? Mà về đến nhà là lại có chuyện, bố không muốn về nữa! Mẹ con đâu còn thương bố nữa?
-Bà ấy thương bố nhiều lắm phải không?
-Không biết, nhưng ở đây không bao giờ có một vấn đề gì để buốn phiền!
-Bố thích ở đây hơn?
-Không hẳn là thế! Hoàn cảnh bó buộc. Bố đâu còn cách lưạ chọn nào khác? Xa con và các cháu, bố nhớ lắm chứ!
-Con biết! Thôi con nghĩ thế này cũng được. Bố cần có cuộc sống riêng của bố, con không dám nói gì.
-Con về cứ coi như không tìm ra bố. Chớ có nói gì với ai. Cái này là bí mật giữa hai bố con mình.
-Thưa bố vâng!

Chưa bao giờ bố tôi lại tâm sự với tôi như thế! Tôi nghĩ ông cảm thấy thoải mái hơn sau khi cho tôi biết những gì ẩn náu trong lòng ông từ nhiều năm nay. Sau khi ông đã chia sẻ nỗi lòng của ông với tôi, ông không còn phải chịu cái gánh nặng ấy một mình. Tôi thấy hình như ông thở ra khoan khoái, và ông ra về vui vẻ. Ông ôm vai tôi, chúng tôi ra cửa, ông leo lên chiếc xe vẫn chờ từ nãy giờ nơi đó, tôi về khách sạn để chuẩn bị ra phi trường.

Những lần sau ông về, ông ở nhà hai vợ chồng tôi, ông vui chơi với các cháu nội, nhưng về được một tuần, ông lại sốt ruột đòi ra đi. Tôi hiểu ông nên không dám nói gì. Chỉ có các cháu nhỏ, chúng cứ nhao nhao “Ông nội đừng đi! Ông nội đừng đi!” làm ông chảy nước mắt mỗi khi ra đi.

Tôi cũng một năm hai lần lấy cớ đi họp, sang thăm ông vài ba ngày. Chúng tôi chỉ gặp nhau ở nơi công cộng, ông không bao giờ cho tôi biết nơi ông ở, càng không cho tôi biết ngươì đàn bà bí mật mà ông ở nhờ.

Cứ như thế được mười năm trời. Rồi một hôm ông về, ông ốm nặng đòi tôi đưa vào nhà thương. Mới vào hôm trước hôm sau thì ông qua đời. Những lần tôi vào với ông vào những giờ chót ông sắp ra đi, tôi thấy hai người đàn bà, một người lớn tuổi như mẹ tôi, ăn mặc sang trọng, ngồi nơi chiếc cửa sổ cách phòng bố tôi nằm chừng mươi thước. Trông họ nghiêm trang và có vẻ buồn rầu lắm. Tôi biết ngay đó là Thủy và mẹ chị, người đã nuôi dưỡng chăm sóc bố tôi hơn mười năm qua.

Những ngày xác bố tôi quàn ở chùa, tôi thấy suốt ngày bóng dáng hai người đàn bà ấy lảng vảng ở sân chùa, người mẹ cầm chiếc khăn tay lau mắt. Tôi lấy làm xót xa cho bà, vì bố tôi chết, mẹ tôi không buồn, không khóc mà bà thì đau đớn sụt sùi. Và bà lại không được khóc công khai! Thật là một sự bất công, nhưng làm sao được? Định mệnh đã an bài như thế! Ngày xưa bố tôi đã bỏ người con gái ấy để lấy mẹ tôi. Thế mà một đời, người ấy vẫn thương vẫn muốn làm sao cho bố tôi bớt khổ. Công lao ấy tôi ghi trong lòng mãi mãi.




Đầu Xuân Bàn Chuyện Dịch Thơ.

Mac Giao — van hoa Viet bi VC tan pha
Thursday, November 20, 2008 12:23 PM
KÍNH NHỜ PHỔ BIẾN CHO VIỆTNAM
ĐẦU XUÂN
LẠI BÀN CHUYỆN DỊCH THƠ
MẶC GIAO
Đầu năm 2007, tôi có cho đăng trong Giai Phẩm Xuân Đinh Hợi Việt Nam xuất bản tại San Jose bài “Đầu Xuân Bàn Chuyện Dịch Thơ”. Xuân năm nay tôi lại xin bàn tiếp về cùng đề tài. Trong bài này, tôi sẽ diễn dịch và chứng minh thêm là thơ rất khó dịch từ ngôn ngữ nọ sang ngôn ngữ kia, bởi vì mỗi ngôn ngữ có nét đặc thù và cái hay riêng. Nếu dịch đúng từng chữ, người đọc chưa chắc hiểu. Nếu dịch kiểu giải thích cho rõ ý thì lời dịch sẽ hết là thơ. Làm sao lột được ý của những câu thơ Kiều của Nguyễn Du
tiếc thay một đoá trà mi
con ong đã tỏ đường đi lối về
Đọc hai câu dịch sau đây, liệu người ngoại quốc có hiểu Nguyễn Du nói gì không và có cảm thấy mấy câu thơ này hay như chúng ta cảm không?
Alas! The devilish bee, with his suckling spout,
Through that camellia went his way in and out
(Lê Cao Phan dịch)
Một câu Kiều khác cũng trong hoàn cảnh tương tự
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung
She thought, “Had I known that deep I should lower
I’d better have let him pick my prime flower”
(Lê Cao Phan dịch)
Tôi xin chứng minh thêm lập luận này bằng một thí dụ khác: Vũ Hoàng Chương là người hay dùng điển tích. Bài thơ sau đây của ông có những chữ khi dịch sang ngoại ngữ vẫn phải để nguyên tiếng Việt, ai hiểu thì hiểu, không hiểu thì đọc chú thích bên dưới. Nếu không đọc thì làm sao biết được sự tích “Châu về Hợp Phố” và câu thơ “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự” của Trương Kế?
XUÂN BÁO NỬA ĐÊM
Bên trời vẳng báo xuân sang
Giữa khi Hợp Phố mơ màng về châu
Gác nằm hiu quạnh bấy lâu
Nửa đêm chợt nổi cái sầu Cô Tô
LE PRINTEMPS S’ANNONCE À MINUIT
De l’horizon accourt la nouvelle: “le printemps vient”
Et à ce moment Hợp Phố rêve au retour de ses perles précieuse
Là-haut, je m’entends, depuis longtemps solitaire
Il est minuit et toute la mélancolie de Cô Tô me pénètre
(Simone Kuhnen De La Coeuillerie dịch)
Dịch ý, dịch lời đã khó như vậy, nhưng còn một thứ khó hơn là dịch tứ thơ. Tứ thơ là một cái gì rất khó định nghiã. Nó là một ý, một lời làm cho người đọc sững sờ thích thú. Nó xác định câu đó là một câu thơ, không phải văn xuôi
Muôn mầu chen dự lễ đăng quang
Biển nước xanh lơ biển cát vàng
Hoa tím buông lơi sườn cỏ biếc
Ôi rừng trinh bạch đảo hồng hoang
(Vũ Hoàng Chương)
A myriad of colours jostled, attending my Coronation-day
Water-sea’s navy blue mixed up with sand-sea’s golden
Hanging on green grassed slopes, bunches of purple flowers swayed
O! white-virgin jungles! Rosy-deserted islands!
(Nguyễn Khang dịch)
Cái hay của bốn câu thơ trên vừa ở ý (ngày đầu con người được sinh ra để làm chủ vũ trụ), vừa ở lời, vừa ở hình ảnh. Những câu thơ dịch đã lột được ý của tác giả và đã nhấn mạnh những mầu sắc làm nên một bức tranh hài hòa. Tuy nhiên những ý và lời tạo nên tứ thơ thì khó dịch nổi. Chẳng hạn “buông lơi” được dịch là “swayed” có nghiã lúc lắc, đung đưa. Khó có chữ nào khác dịch hay hơn.
Nhưng qủa tình không diễn tả được hết ý tứ về những chùm hoa tím buông lơi, buông thả một cách hững hờ, như thể muốn quyến rũ người ngắm. Cũng vậy, tiếng kép “hồng hoang” không chỉ có nghiã là “hoang vắng hồng” (rosy-deserted) , nhưng diễn tả thuở khai thiên lập địa, lúc con người vừa được sinh ra và vừa khám phá ra vũ trụ. Đó là những tứ thơ cả lời lẫn ý, khó dịch vô cùng.
Vì dịch sát nghiã khó hay và khó hiểu, nên các dịch giả thơ (tôi không nói văn xuôi) thường dựa vào ý thơ để “tái sáng tác” bài thơ bằng một ngôn ngữ khác. Như vậy may ra mới có một bài thơ dịch hay. Có thể nói dịch giả cũng là người “đồng sáng tác”. Tôi xin dẫn chứng vài thí dụ
TĨNH DẠ TỨ CỦA LÝ BẠCH
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
Tôi dịch sát nghiã như sau:
Đầu giường trăng sáng tỏ
Mặt đất như mờ sương
Ngửng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương
Nhà văn Toàn Phong đã “sáng tác” một bài dịch khác với những chữ thêm vào cho bài thơ du dương hơn:
Đầu giường trăng sáng như gương
Tưởng như mặt đất dãi sương mịt mùng
Ngửng đầu trăng sáng trên không
Cúi đầu luống những trạnh lòng nhớ quê
Hai câu thơ của Thôi Hộ
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Nếu dịch sát nghiã “Không biết mặt người đã đi đến chốn nào? Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ” thì nghe chẳng có chất thơ chút nào. Phải nhờ đến thiên tài Nguyễn Du “sáng tác lại” thì hai câu thơ dịch mới thật có hồn
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Vì dịch thơ khó như thế nên ông Võ Phiến mới phát biểu một câu rất chí lý: “Cái gọi là thơ” thì dịch được, “cái thật là thơ” thì không dịch được” (Võ Phiến, Đàm Thoại, tr 268. Văn Mới, Hoa Kỳ 2000).
Nói về trường hợp thơ chữ Hán được dịch sang thơ chữ Việt, chúng ta thấy những câu dịch có vẻ thoải mái hơn, dễ lột được cái hay của câu thơ chữ Hán hơn. Sở dĩ vậy là vì trước hết các văn nhân thi bá Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc hàng ngàn năm. Những thể thơ và điển tích Trung Hoa đã trở thành thông thường đối với người làm thơ và đọc thơ Việt Nam.
Thứ đến, các cụ ta lại khôn ngoan biến tiếng Hán thành tiếng Hán Việt để vừa bảo tồn tiếng Việt (Thí dụ tiếng Quan Thoại nói ‘Chúng Hỏa Min Quơ’, các cụ đổi thành ‘Trung Hoa Dân Quốc’), vừa cho tiếng Hán năm âm bậc tương đương với nặng, sắc huyền, hỏi, ngã của tiếng Việt. Nhờ thế, nhiều khi chúng ta đọc những câu thơ tiếng Hán, dù không hiểu nghiã, vẫn thấy rất hay. Đôi khi thơ dịch sang tiếng Việt còn hay hơn nguyên tác. Thí dụ:
Cổ bề thanh động tràng thành nguyệt
Phong hỏa ảnh chiếu cam tuyền vân
(Đặng Trần Côn)
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Những câu dịch sau đây mới thật tuyệt diệu:
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch thượng tang, mạch thượng tang,
Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường
(Đặng Trần Côn)
(Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy)
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Dịch thơ chữ Hán của tác giả người Hoa, dịch thơ chữ Hán của tác giả người Việt như tác phẩm Chinh Phụ Ngâm vừa trích dẫn trên đây, các cụ còn dịch thơ chữ Hán của chính mình sang tiếng Việt. Như vậy là các cụ sáng tác hai lần. Chúng ta hãy đọc những câu thơ tự dịch của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Có những bài chúng ta không ngờ là cụ sáng tác bằng hai thứ tiếng
Hữu thời xuất kinh lộ
Không sơn văn lạc tuyền
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo
Hữu tửu vị thùy mãi
Bất mãi phi vô tiền
Hữu thi vị thùy tả
Bất tả phi vô tiên
Trần phồn tháp bất hạ
Bá Nha cầm diệc nhiên
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo chẳng viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa?
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia muốn gảy, ngẩn ngơ tiếng đàn
Từ thơ ngũ ngôn chữ Hán, cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã chuyển thành thơ song thất lục bát Việt Nam rất tài tình.
Dịch thơ là một việc hao tâm tổn trí. Tôi chỉ đưa vài nhận xét và không dám phê bình ai. Muốn có một bài thơ dịch hay, người dịch phải thông hiểu cả hai ngôn ngữ, phải biết xử dụng ngôn ngữ dịch một cách thành thạo, phải có tâm hồn đồng điệu với tác giả và phải biết cộng tác với tác giả để tái sáng tác bài thơ. Vì vậy chúng ta đừng mong độc giả ngoại quốc mê thơ Kiều khi đọc bản dịch như chúng ta mê khi đọc bản quốc văn.
DỊCH THƠ THỜI ĐẠI
Ở phần trên, tôi đã góp ý thêm về việc dịch thơ của các thi hào nổi tiếng, với những vần thơ văn hoa, chải chuốt, thuộc giòng thơ cổ điển. Tiếp theo đây, tôi xin nói về việc dịch thơ của thời đại mới, với những vần thơ mới. Việc dịch thơ thời đại mới có hai đặc điểm: Một là chỉ chú trọng dịch cho xát nghiã, lột được ý câu thơ, không cần hoa hoè hoa sói. Hai là việc dịch thơ đôi khi trở thành một trò chơi giải trí với những ý và lời rất ngộ nghĩnh, gây nhiều thú vị.
Thơ thời đại được dịch nhiều nhất là thơ có tính đấu tranh. Thí dụ thơ của Nguyễn Chí Thiện được Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ và in thành tập dầy 550 trang có tựa đề “HOA ĐỊA NGỤC – THE FLOWERS OF HELL” Chúng ta hãy đọc vài bài cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh
TÔI IM LẶNG
Tôi im lặng khi kẻ thù hành hạ
Sắt thép đưa vào, đau đớn hôn mê
Câu chuyện anh hùng để trẻ con nghe
Tôi im lặng chỉ vì tôi tự nhủ:
Có ai đi rừng gặp loài dã thú
Lại mở mồm kêu xin chúng thương tha?
I KEEP SHUT
I keep shut my mouth when tortured by enemy
He may resort to iron & steel create unbearable pain
I still keep my mouth shut – leaving tales of heroism
To children – only because I told myself:
Can one imagine running into wild beasts in the forest
And swoop down to plead with them for one’s life?
TRONG BÓNG ĐÊM
Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lớp người đói rét
Phục sẵn những đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử
IN THE NIGHT
In this stifling night
There lies in wait a sun
Unspoken suffering
Hides nothing but thunder and lighting
In the starved and shivering millions
Are thousand armies
When a new era comes
All will go off like an atom bomb
BÁC HỒ RỒI LẠI
Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác mầu hồng
Nước da các cháu nhi đồng mầu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò!
UNCLE HO AND NOW UNCLE TON
Uncle Ho and now we have Uncle Ton
Both are fond of embracing our kids
The uncles’ complexion is rose-tinted
But the children’s in fact is pale blue
In between the uncles’ arse-like flat faces
Red scarves fly around thin-necked skinnies
Bài thơ cuối đã trở thành ca dao mới, không ngờ lại là thơ của Nguyễn Chí Thiện. Bản dịch Anh ngữ của Nguyễn Ngọc Bích cũng rất tới. “Mặt bành bành” mà dịch thành “arse-like flat faces” (mặt bẹt như mông) thì hết chỗ chê.
Đặc tính thứ hai của thơ dịch thời đại là tính khôi hài. Cũng ông Võ Phiến đã phát giác ra những câu thơ nửa tiếng Việt nửa tiếng Triều Châu của đồng bào Việt gốc Hoa vùng Bạc Liêu:
Chờ anh em mãn kiếp chờ
Chờ cho ến xại vượt bờ khùi ui
(Chờ cho rau muống vượt bờ nở bông)
Chim kêu ngồ ố, láng dài
A hia xủa bố, a mùi ùm chai
(Anh đi lấy vợ, em rày chẳng hay)
Những câu lục bát giao lưu ngôn ngữ này làm tôi nhớ tới một câu thơ một bà me Tây gửi cho ông chồng đã về Pháp
Từ khi “toa kít-tê dơ”
“Bon nơ” cũng lắm, “man lơ” cũng nhiều
( “Toa kít-tê dơ”: Toi quitter je: anh rời bỏ em. “Bon nơ”: Bonheur: hạnh phúc. “Man lơ”: đau khổ, bất hạnh)
Thời buổi này, khi người ta muốn tống khứ những uẩn ức ra khỏi lòng, người ta hay trao đổi với nhau những điều gọi là khôn ngoan, nhưng thật ra là than thân trách phận bằng một giọng cố làm ra vẻ tếu để giảm bớt sự bi thảm. Cách đây 3 năm, 2004, tôi có nhận được một “message” của Vũ Thư Nguyên in lại Mười Điều về Hôn Nhân bằng Anh ngữ, bên cạnh có dịch sang Việt ngữ bằng thơ lục bát. Tôi không biết ai là tác giả của những bài dịch này. Tôi thấy hay và đã đóng góp với anh em bằng cách hiệu đính lại một số câu, chữ cho xát nghiã. Thí dụ những câu sau đây:
Marriage and love are purely matter of chemistry
That is why wife treats husband like toxic waste
Hôn nhân cùng với ái tình
Như hai hóa chất rập rình hút nhau
Thế nên bà vợ về sau
Coi chồng như chất độc mầu da cam
A man is incomplete until he is married
After that, he is finished
Đàn ông không vợ chưa hùng
Vợ rồi là kể… cáo chung cuộc đời
Cuối cùng là một truyện kể thêm chưa ai chịu dịch. Tôi đánh liều dịch đại. Xin các bà các cô đừng hỏi tội tôi. Tôi chỉ là người dịch tài tử, không chuyên nghiệp, nhất là không phải tác giả của truyện này:
A long married couple came upon a wishing well.
The wife leaned over, made a wish and threw in a penny.
The husband decided to make a wish too.
But he leaned over too much, fell into the well, and drowned.
The wife was stunned for a moment
but then smiled: “ IT REALLY WORKS!”
Một đôi đã lấy nhau lâu
Đứng trên miệng giếng nguyện cầu nỗi riêng
Bà cầu và ném đồng tiền
Ông nghiêng mình khấn, ngã liền giếng sâu
Bàng hoàng một thoáng chẳng lâu
Bà cười tủm tỉm: “TA CẦU ĐƯỢC NGAY!”
Dịch thơ là để giới thiệu với người ngoại quốc văn chương của nước mình. Trong hoàn cảnh hiện nay chúng ta lại càng cần dịch nhiều hơn cho những người trẻ Việt Nam sống ở nước ngoài có thể đọc và hiểu về văn học quê hương. Tôi không có chuyên môn dịch thuật, chỉ chú tâm sưu tầm những bài đã được các vị khác dịch để giới thiệu những nét hay đẹp của thơ Việt Nam. Trong thời buổi giao lưu đủ thứ, giao lưu văn hóa phải được đặt lên hàng quan trọng. Chúng ta cần biết người và cũng cần người biết chúng ta. Chính vì vậy mà tại Nhật, cũng như tại nhiều quốc gia tiến bộ khác, số sách ngoại quốc dịch sang tiếng Nhật được xuất bản mỗi năm cũng ngang ngửa như số sách viết bằng tiếng Nhật.
Nói chuyện dịch thơ nhân buổi đầu xuân cũng là để tìm lại chút hương xưa, để đưa hồn về với những mùa xuân đã đi qua trong mộng tưởng. Nơi đất khách quê người, xuân vẫn về nhưng chúng ta không có cảnh xuân quê hương, không được hưởng không khí xuân, tình cảm xuân như khi còn ở quê nhà. Trong khi đó, nhìn về quê hương, ta thấy đa số đồng bào cũng đón xuân theo kiểu “Vui là vui gượng kẻo là”. Chúng ta ở “bên trời lận đận” cũng chỉ còn biết nâng chén rượu cay, ngâm câu thơ của cụ Tiên Điền để chia sẻ nỗi niềm với nàng Kiều
Mặc người mây Sở mưa Tần
Những mình nào có biết xuân là gì
Offrait-elle aux clients les délices entières,
Nul désir ne venait pour ses joies printanières
(Lê Cao Phan dịch)
SÁCH THAM KHẢO
– Communion Cảm Thông, Vũ Hoàng Chương, Sài Gòn 1960. Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ.
– Tâm Tình Người Đẹp, Vũ Hoàng Chương, Editions Nguyễn Khang, Sài Gòn 1961.
– Chinh Phụ Ngâm và tâm thức lãng mạng của kẻ lưu đầy, Lê Tuyên, Văn Nghệ tái bản tại Hoa Kỳ, 1988.
– Histoire de Kieu, bản dịch Pháp ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994, .
– The Story of Kieu, bản dịch Anh ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Văn Nghệ, TP HCM, 1996.
– Hoa Địa Ngục – The Flowers of Hell, thơ Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ. Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 1996.



Dòng thơ thi sĩ Nguyễn Đông Giang

 

 

 

 

TUYỂN TẬP THƠ VÔ LƯỢNG TÌNH SẦU 

 

Xin click vào dấu  (Bookmark) để mở PDF file

 Vô LượngTình Sầu, sau khi mở PDF file click vào dấu Bookmark một lần nữa

để quí vị có mục lục theo từng bài thơ muốn đọc. 

 

B Ỏ    Đ Ấ T     
       . Mến tặng những tấm lòng VN tha hương – ndg
                     
 
Xa nước bao năm , còn nhớ nhà
Tim còn nồng ấm , bài Quốc ca   
Còn sống lưu vong , ta còn hát
Nghìn trùng sông núi gọi . Thiết tha
 
               Bỏ đất ra đi đầu đã bạc
               Đêm mơ , ta về lại quê nhà    
              Giơ tay ôm trọn, trời đất cũ
              Nỗi lòng Tây tạng . Nỗi lòng ta !
                                                                                                                           
Bỏ quê ! nghĩ đến buồn nát dạ     
Ừ thôi ! quê mất , còn đâu nhà
Em về làm vợ , anh bộ đội
Ta không buồn , sao lại xót xa !
 
              Bỏ đất xa quê, đời sông chợ
              Mất trắng em , chưa mất chỗ về
            Nơi ra đời , oe oe tiếng khóc   
             Hồn ta ở đó , hởi ! cố quê
 
Ba mấy năm trời , mây qua cửa
Ta tưởng đâu quên , chuyện nhớ nhà
Ta tưởng thời gian , nhòa tất cả
Sao nhòa cố thổ, trong tim ta
 
Quê xa , những người muôn năm cũ
Sống chết , hồn treo ở bên trời ?
Bên nầy buồn vui , lòng ta ai biết
Giọng khàn đêm gọi . Cố hương ơi !
 
    Cali 04122007 – NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 ——————————————————————————————- 
 
 
CHIỀU TRONG QUÁN RƯỢU QUE Â NHÀ
                          *những ngày ra tù CS,sau 1975-ndg
 
 
Chiều có ta ngồi , trong quán rượu
Uống một mình , đợi kẻ đi xa
Rượu chẳng ấm , được lòng kẻ đợi
Ta không buồn , sao lại thở ra
 
 
          Cắn miếng cá khô , uống ly rượu thuốc
          Ta đi đâu , hay trở về nhà
          Nồi cơm nguội , vợ ta đang đợi
          Có thế mà , nghĩ mãi không ra
 
 
Ta uống rượu , vâng ta uống rượu
Có ai cười , có ai cũng như ta
Vắng bạn hữu , mời cô cốc rượu
Hãy vui lòng , cùng gã ba hoa
 
 
          Đời có thế , phải không cô bán rượu ?
          Ta có gì , để gọi điêu ngoa
          Đời đã hỏng , hỏng thêm tí nữa
          Đâu có gì , để gọi bê tha .
 
 
                   NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 LỜI  CHO THỊ LỘ
                  -Kính tặng: N/V Nam Dao,nhân đọc Con mắt xanh”-ndg    
 
 
 
Ta là Nguyễn Trãi , em Thị Lộ                                             
Đêm nồng tình đượm , giữa trăng sao                         
Thu tàn , lá rụng , đời huyễn mộng                            
Ngồi sát vào em , sát nữa vào  
                  
 
Những chiếc lá , trên mặt hồ rụng                       Tình yêu Tổ quốc là như vậy
Đong đưa bay , mờ mịt thế gian                          Còn em Thị Lộ , ta nghĩ sao      
 Đêm nằm nghe mưa , trời ơi ! lạnh                     Em ơi ! hạnh phúc trong cái nhỏ
Ta sợ , buồn ơi ! ta mất nàng                               Thế, yêu một người là thế nào ?
         
                                                                                   
Nhác thấy hình hài em , ở đó                         Là thế nào ư ! ai biết được ù
Vành môi cong, trầu quét, viền hồng             Trải ta , lòng trải trắng mây xa                     
Em nhìn lên, vòm cây cúi xuống                    Lộ ơi ! ngồi sát ôm ta lại           
Em buồn, ngấn nước, lệ tràn sông                Ta là em , em cũng là ta .
        
                                                                                   NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
            Áo em tứ thân , màu biển biếc 
             Một thoáng ấp e , đủ mịt mù                     
             Ừ nhỉ , ta tiếc đời hữu hạn
             Bao giờ , xây đắp cái nghìn thu !
 
 
Em là Thị Lộ, hay ai khác
Chỉ có em, còn lại đời ta
Non sông xã tắc , yêu thì dễ
Yêu người như em, khó như là
 
 
             Tình yêu Tổ quốc , sao trừu tượng
             Được gạn lọc qua , chữ Thánh hiền       
             Ta say mê , không còn ý thức
             Đã không còn sao lại thiêng liêng ?
 
 
————————————————————–
 
 
 NGƯỜI CÀ CHỚN
                                  *   Thân tặng : -LTE bạn tù CS sau 1975
                                                  -Mai xuân Châu , Nguyễn phúc sông Hương – ndg
 
 
 
 
Ta hay gọi bạn , người cà chớn
Biệt tăm , tưởng bạnõ chết lâu rồi
Không ngờ lặn lội , qua tìm tớù
Không ngờ vác xác , tìm nhà thơ
 
Xin lỗi , gọi bạn người cà chớn
Ta nhập tâm , tên ấy mất rồi
Không thể gọi bạn , tên nào khác
Nên cứ yên lòng , một cái tên
 
Như ta yên lòng , bạn còn sống
Lâu nay , tưởng bạnõ gục trong tù
Lâu nay , tưởng bạn theo việt cộng
Ta buồn… chuyện đá nát vàng phai !
 
Ta xúc động , thật tình xúc động
Gặp người , nhớ bạn cũ … lệ rơi
Một thời sống chết , trên chiến địa
Đạn bom không chết , chết trong tù
 
Thoát tù nhỏ , vướng vào tù lớn
Ta lưu vong , trên quê hương mình
Không cà chớn , cũng thành cà chớn
Không bỏ quê , đành phải bỏ quê
 
              Đất tròn , gặp lại người cà chớn
             Cuối nẽo đường mây , cuối cuộc đời !
           Cõi người mù mịt , tăm hơi cá
             Vậy màø vác xác , về thăm tôi …
 
              Cali 2009 – NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
       
 
 
 
 
 
 
 
 
 NHỮNG CÂU THƠ MỘT THỦA QUÊ NHÀ 
 
 
 
 
Những câu thơ – một thủa quê nhà
Anh đọc lại những ngày lạc xứ
Ra đi – ngàn dâu – dặm lữ
Thơ buồn – nhật nguyệt cũng buồn theo
 
          Những câu thơ – anh viết cho em
          Lẽo đẽo theo anh những ngày dong ruổi
          Bến nước vô cùng – đâu là chặng cuối
          Bao giờ trở lại cố hương
 
Biết bao giờ trở lại cố hương
Biển nước mang mang – đoạn đành ngoái lại
Đâu là quê hương – mây mờ quan ải
Chỉ biết lòng mình – ruột thắt quặn đau
 
          Những câu thơ đầy ắp thương yêu
          Anh đã viết dành riêng cho Mẹ
          Chiến tranh về lấy đi tuổi trẻ
          Mẹ già – con Mẹ cũng già theo
 
Thưở quê nhà – qua đò đi học
Mẹ bới khoai – cho con lót lòng
Con qua sông – kiếm đôi ba chữ
Sau nầy – đở khổ tấm than
 
          Những câu thơ – một thời xa xưa
          Viết chẳng hết muôn vàn kỷ niệm
           Non nước nghìn trùng – anh còn dâu biển
          Em chẳng lấy chồng ở vậy làm chi
 
Những câu thơ – một đời yêu nhau
Anh đọc lại những ngày lạc xứ
Lưu vong hề – cùn chân lữ thứ
Anh tiếc hoài – chẳng ở với em .    
 
NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 
 
WESTMINSTER , NGÀY ANH VỀ
                                           *Tặng những chiếc áo dài VN ở quê người – NĐG
 
 
 
 
Lòng mừng , về thăm Westminster                                              
Đi trên Bolsa , vàng rực phốù cờ                                                   
Áo dài Việt Nam , bay trên đất lạ                                                
Cuối tháng Tư buồn , anh viết bài thơ                                          
 
            Áo dài em bay , tiếc ngày tháng cũ
            Còn nhớ không em , xưa buổi lên đường                                     
            Em mang Tổ quốc , đi vượt biển
            Thơ , vẫn vô cùng , nhớ quá quê hương
 
Về đây gặp , những bạn bè xưa
Đời tù tội , nhiều năm chung đủ
Người thù người , cắt tình máu mủ
Đủ rồi , anh bỏ đất sang sông
 
            Anh tin rằng , như có cố hương
           Theo chúng ta , những ngày lạc bước
            Ngày tháng này , của bao năm trước
            Sài gòn cờ bay , rộn rã tấm lòng                                       
 
Em có tình , có nghĩa với non sông
Nên mới gặp , anh đem lòng cảm mến
Nước Mỹ , những ngày anh mới đến
Nhìn lá cờ bay , nước mắt chảy dài
 
             Thành phố anh về , đã có bóng em
             Con đường Bolsa , đầy dấu chân mình
             Tiếng nói tiếng cười , người lên kẻ xuống
             Hơi hám quê nhà , ấm buổi nhục vinh
 
Lòng mừng , về thăm Westminster
Thành phố tháng Tư , đẹp những áo dàiø
Trong nỗi vui buồn , anh xin quên hết
Quên cả chính mình , đời đã tàn phai
 
  
NGUYỄN ĐÔNG GIANG 



Quỳnh Hương : Đón Ánh Trăng Mơ

ĐÓN ÁNH TRĂNG MƠ

 

Em chính là trăng của thế nhân

Chiều lên nắng xuống đẹp vô ngần

Mầu trăng tỏa sáng phương trời nhớ

Soi thấu lòng ta mấy độ xuân.

 

Yêu trăng xây mộng ý thành thơ

E ấp tình trăng dáng đợi chờ

Ta mãi say mơ trời diễm tuyệt

Thôn Đoài lơ lững bóng trăng mơ

 

Chao ơi! Nguyệt đẹp vầng trăng thẹn

Ta mãi chờ em nửa kiếp người

Nhớ thuở bên đồi trăng trải lụa

Trên dòng sông hẹn ngắm mây trôi

 

Đêm nay trang trọng thềm khuê tú

Đón ánh trăng rằm vọng cố nhân

Ta ôm bóng nguyệt nghiêng trời mộng

Ý vị trào dâng đến vạn lần.

 

Trăng ngự hồn ta tự thuở nào

Vàng trăng trải mộng đẹp làm sao

Trong ta hiển hiện mầu nhung nhớ

Trăng nước muôn đời thương mến nhau.

 

                 HOÀNG ÁNH NGUYỆT

                               (21-04-2007)

 

 

 

 

ĐỜI MÀU HỒNG (1)

    (Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (1) của Thi sĩ Thế Nhân)

 

Niềm vui có bạn tâm giao

Xoá bao ẩn ức gió gào qua song

Cuộc đời như mớ bòng bong

Thoáng  buồn giây phút chìm trong luân hồi

Ta về đổ nắng ra phơi

Đổ trăng ra đếm đổ lời ra đong

Đổ bao vướng vít trong lòng

Giúp ta lấp được khoảng không bên trời

Giá ta là áng mây trôi

Dần tan trong gió mà thôi muộn phiền

Chẳng mong lắm của nhiều tiền

Chỉ mong hạnh phúc triền miên vui cười

Là ta thì thật khổ chưa

Ước ao sao được cho vừa lòng ai

Vui lên ta cứ mơ say

Làm thơ xướng họa cùng ai đôi dòng

Cười lên nắng xế dòm song

Đời xinh như mộng thỏa lòng ước mơ

Thi nhân xin chớ hững hờ

Cùng ta múa bút những lời thơ yêu.  

         Hoàng Ánh Nguyệt
(4/4/09)

                                                                                                                                                                               

ĐỜI MÀU HỒNG (2)

 (Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (2) của Thi sĩ Thế Nhân)

 

                      Họa thơ ý thắm tình nồng

                      Tràn dâng kỷ niệm bên dòng Phố Giang

 

Cùng anh đi vớt nắng vàng

Chiều xuân én liệng Phố Giang êm đềm

Cầu Gành,  múc ánh trăng đêm

Đổ vào giếng ngọc vang lên tiếng cười

 

Màu hồng ý thắm xuân tươi

Nhớ năm tháng cũ đầy vơi ân tình

Gíá ta là giọt nuớc xanh

Mà tan trong nắng để thành hạt mưa

 

Trở về đồi mộng trăng xưa

Tình thơ ý nhạn nắng mưa thắm nồng

Niềm riêng chan chứa trong lòng

Càng vui càng thấy màu hồng vấn vương

 

Cùng quê tình nghĩa thân thương

Mong ngày hội ngộ đồng hương chan hòa

Vườn Quỳnh vịnh nguyệt ngắm hoa

Xoá bao phiền muộn kịp hòa vào thơ

                          Hoàng Ánh Nguyệt

                                ( 24-04-09 )