NNS, Sơn Nguyễn : Thơ, Văn, nhạc

Chúc Thân Hữu lại một ngày mới Yên Bình & Hạnh Phúc.
Trang Thơ Nhạc ngày hôm nay:
1.Nhạc:
157-NNS-Tôi Vẫn Nhớ.pps
Nhạc sĩ: Ngân Giang
Ca sĩ: Như Quỳnh & Thế Sơn
2.Bài đọc:
Con Cháu Tiên Rồng
 
3.Thơ:
Tình Thân,
Kính.
NNS
……………………………………………………………………….. 
 Bài đọc:

con cháu tiên rồng

Người Trung Hoa tự coi là con Trời, người Nhật tự coi là con cháu của Mặt Trời, người Việt nam ta tự coi mình là con cháu Tiên Rồng. Dân tộc nào cũng có tự ái riêng và đều muốn tự gán cho mình một dòng dõi cao quí. Những huyền sử đó có thể coi là ý thức cộng đồng đầu tiên. Mỗi dân tộc cần có một niềm tự hào nào đó để tự duy trì. Bài học đầu tiên mà ta có thể rút ra từ huyền sử đó là muốn trường tồn và tiến lên ta luôn luôn cần có thêm những lý do mới để tự hào. Từ đó ta có thể tự đặt cho mình câu hỏi: Hiện nay ta có lý do nào để tự hào không? Nếu có là ta đang tiếp tục củng cố dân tộc, nếu không là ta đang làm hao mòn vốn cũ.
Niềm tự hào con cháu tiên rồng, hiểu theo nghĩa một huyền thoại thống hợp gắn bó chúng ta với nhau, có cái lợi là làm ta hãnh diện muốn tiếp tục làm người Việt, nhưng bù lại nó có thể cho chúng ta cái cảm tưởng rằng chúng ta là một giống nòi thuần nhất và làm ta quên mất thực sự ta là ai, và đó mới là điều quan trọng. Cứ theo huyền sử thì tổ nước ta là Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân, con cháu của vua Thần Nông bên Tàu. Nước gốc của chúng ta là Xích Quỷ bao gồm cả một vùng đất rộng lớn của Trung Quốc, từ phía Nam sông Dương Tử và một phần nhỏ hơn nhiều là miền Bắc nước ta bây giờ. Sự tích kế tiếp là Sùng Lãm lấy bà Âu Cơ đẻ ra một trăm con, sau đó hai người chia tay nhau, mỗi người giữ năm mươi con. Âu Cơ ở lại núi, còn Sùng Lãm đem năm mươi con xuống vùng bể Nam Hải. Sau đó Sùng Lãm phong cho người con trưởng lên làm vua nước Văn Lang, tức là miền Bắc nước ta. Nước Văn Lang sau này được mở rộng thành nước Việt nam ngày nay.
Như vậy, cũng phải tương đối hóa dòng dõi con ròng cháu tiên của chúng ta. Thực ra như vậy, theo huyền sử của chính chúng ta, thì người Hoa Nam mới là con rồng cháu tiên, còn chúng ta chỉ là một hệ phái của con rồng cháu tiên được lai giống với người địa phương. Chúng ta ít con rồng cháu tiên hơn người Trung Hoa ở phía Nam sông Dương Tử. Và chúng ta lai con rồng cháu tiên chắc không nhiều, bởi vì giữa Hoa Nam và nước ta núi non hiểm trở, người đi dân xuống miền Nam không có bao nhiêu. Chính vì thế mà dù bị hơn một ngàn năm Bắc thuộc, chịu hoàn toàn ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa mà chúng ta tiếp thu một cách nồng nhiệt và say mê, chúng ta vẫn có tiếng nói riêng, nếp sống riêng. Như Nguyễn Trãi nói: Lãnh thổ có núi ngăn chia, phong tục Bắc Nam khác nhau Có nhà dân tộc học còn quả quyết người Việt nam thuộc chủng tộc Mã Lai – ấn Độ. Như thế đủ biết cái thành tố con rồng cháu tiên trong huyết thống của chúng ta không có bao nhiêu.
Nhưng cái huyền sử con rồng cháu tiên không phải là không có cơ sở thuần lý. Nó nói lên một nét dậm trong quá trình hình thành của nước ta, đó là cuộc Nam Tiến đã khai sinh ra nước ta và vẫn còn tiếp tục cho tới cuối thế kỷ 18. Đất nước Việt nam được thành lập ban đau do hậu quả của cuộc Nam Tiến của người Trung Hoa và sau đó của chính người Việt. Nước Trung Hoa hình thành tại vùng đất giữa sông Hoàng Hà và sông Dương Tử, rồi vì người càng ngày càng đông, một phong trào di dân tìm đất mới về phương Nam đã xuất hiện. Chuyện Lạc Long Quân đem năm mươi con xuống vùng bề Nam Hải có thể coi là một đợt di dân, tương tự như Nguyễn Hoàng đem dân vào miền Trung sau này.
Cuộc Nam Tiến của người Trung Hoa đến Quảng Đông, Quảng Tây thì khựng lại vì gặp bức tường núi dầy gần 100 cây số. Chỉ có một số ít người vượt được núi, hợp với thổ dân mà tạo ra nước Văn Lang.
Người Việt nam ta có lẽ vì chỉ coi huyền sử như chuyện hoang đường hoàn toàn nên ít suy nghĩ về quá trình lập quốc của mình. Không thiếu gì trí thức lẫn lộn các giống Việt ở miền Nam Trung Hoa, sống trong nhiều nước nhỏ gọi là Bách Việt, với người Việt nam. Triết gia Kim Định coi người Việt nam là người Bách Việt, ông cho Nho Giáo là một phát minh của người Việt chứ không phải của người Tàu. Trong thập niên 1960, các trí thức và sinh viên Việt nam mở một loạt lớp học dạy miễn phí cho các học sinh trung học nghèo tại Sài Gòn. Cố gắng đáng ca tụng này được biết dưới danh hiệu Trung Tâm Bách Việt. Nhưng nếu người Bách Việt không phải người Trung Hoa thì ai là người Trung Hoa? Chúng ta cũng có mang huyết thống Bách Việt trong người, nhưng yếu tố đó chỉ là một phần nhỏ thôi. Ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng của Trung Hoa lên nước ta quan trọng gấp bội yếu tố huyết thống.
Nước Văn Lang được thành lập do pha trộn của một số nhỏ người Hoa Nam với một số đông người bản xứ, và cả những sắc dân từ quần đảo Nam Dương. Chúng ta có thể quả quyết là về nhân chủng yếu tố địa phương đã mạnh hơn bởi vì sau cả ngàn năm dưới sự thống trị của người phương Bắc trong đó chữ Nho vừa được độc quyền vừa được tôn vinh, người Việt vẫn giữ được và không những thế còn phát triển được và cải thiện được ngôn ngữ riêng của mình. Sau này, nhất là từ thế kỷ 15 trở đi, khi nước Văn Lang dần dần mở rộng về phía Nam, chúng ta đã tiếp nhận nhiều yếu tố huyết thống khác, kể cả một đợt di dân mới bằng đường biền của người Trung Hoa vào thẳng miền Nam Việt nam.
Nước Việt nam ta vì vậy là một quốc gia biến đỗi không ngừng do những đóng góp đất đai và chủng tộc mới. Sự thay đổi không ngừng đó, thể hiện ngay trong quốc hiểu của ta: Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam, Tượng Quận, Giao Châu, Vạn Xuân, Đại Cò Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Việt nam, Đại Nam. Sự thay đổi đó khiến chúng ta nhiều khi lẫn lộn tên nước mình. Sách Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện rõ ràng coi Nam Hải là tên nước ta, mặc dầu đó chỉ là tên của tỉnh Quảng Đông bên Trung Quốc vào thời Bắc thuộc. Ngay cả tên Việt nam ngày nay thực ra cũng rất mới. Vua Gia Long sau khi thống nhất đất nước muốn đặt quốc hiểu là Nam Việt nhưng vì nhà Thanh không cho, sợ lẫn lộn với nước Nam Việt của Triệu Đà gom cả Quảng Đông và Quảng Tây, nên đã chọn quốc hiệu là Việt nam. Nhưng sau đó 18 năm, khi vua Gia Long chết, vua Minh Mạng lại bỏ tên Việt Nam và đổi thành Đại Nam. Khi người Pháp đô hộ nước ta, hai tiếng Việt nam cũng không xuất hiện trở lại, nước ta bị chia làm Cochinchine, An nam, Tonkin. Đảng cộng sản lúc mới thành lập cũng không dùng chữ Việt nam, họ tự gọi là Đông Dương Cộng Sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng. Việt nam Quốc Dân Đảng là chính đảng đầu tiên sử dụng trở lại hai tiếng Việt nam. Hai tiếng Việt nam đã trở thành thiêng liêng khi 13 liệt sĩ Việt nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài tại Yên Bái ngày 17- 6-1930 hô to: Việt nam muôn năm!. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa, rồi ba năm sau Bảo Đại cho ra đời Quốc Gia Việt nam. Như thế tên Việt nam đã trở thành linh thiêng từ 1930 và mới trở thành chính thức từ 1945 trở di.
Chúng ta không ý thức được sự năng động trong quá trình lập quốc của mình nên đã cố bắt chước nơi người Tàu một quan niệm quốc gia cứng ngắc. Đất nước Việt nam được coi như là đất của một sắc tộc sắc tộc Kinh. Văn hóa của ta là văn hóa của người Kinh. Đạo đức của ta là đạo đức của người Kinh. Pháp luật của ta là pháp luật của người Kinh. Lịch sử của ta cũng chỉ là lịch sử của người Kinh. Tất cả đều là của người Kinh, các sắc tộc khác hoàn toàn bị bỏ qua.
Trong khi khái niệm người Kinh tự nó cũng rất mơ hồ. Nó cũng chỉ là một sự hòa trộn của nhiều chủng tộc. Nó chỉ là tập thể của những người chịu ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa mà thôi, trong khi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa càng ngày càng yếu đi trước ảnh hưởng của văn hóa phương Tây.
Tại sao, những Phạm Hùng, Chế Bồng Nga lại không được coi là các vị vua của Việt nam?
Tôi không phải là một nhà sử học và cũng không phải là một nhà dân tộc học nên hoàn toàn không dám có tham vọng đưa ra một luận thuyết mới về nguồn gốc và sự hình thành của nước ta. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh về hai đặc điểm quan trọng nhất của dân tộc Việt nam.
Đặc điểm thứ nhất là chúng ta không phải là một quốc gia thuần nhất, mà là một quốc gia đa nguyên về bản chất. Vì thế chúng ta cần một ý thức quốc gia riêng: Quốc gia Việt nam không thể được định nghĩa như một chủng tộc mà cần được quan niệm như là sự chấp nhận chia sẻ một tương lai chung.
Đặc điểm thứ hai là dù có lịch sử tương đối dài, chúng ta trên thực tế là một quốc gia rất mới. Cả một nửa lãnh thổ, và một phần đáng kể dân chúng, chỉ mới hội nhập từ bốn thế kỷ nay, nhiều vùng chỉ từ một thế kỷ nay. Cho nên chúng ta không thể thủ cựu, trái lại phải năng động, liên tục thích nghi và đổi mới bởi vì sự nghiệp mở nước vẫn chưa thế coi là đã xong hẳn.
NGK
……………………………………………………………
Thơ: 
Hoàng Lộc

tại gia

 

thôi, kinh kệ sớm chiều
tự giải đời oan nghiệt
em ơi – buồn hiu hiu
thất tình, ghê gớm thiệt

(tay háo sắc vô chùa
chỉ e lòng Phật mệt !)

7-10

 

tháng bảy

 
 
 
em chung tình đến mấy cũng bằng không
ngày cũng hết và đèn lên phố thị
tôi cũng phải bật đời tôi đứng nhớ
nghe mái hồn gió rạp suốt mười phương

tháng bảy buồn không có nắng trôi ngang
em áo mỏng hiên đời kia lững thững
tôi không thể thêm một lần bắt bóng
nên trăng xưa cũng nhất định không về

em chung tình đến thế để làm chi
mùa con gái đã qua rồi, đã biệt
rồi tháng bảy có một ngày, chỉ một
mâm cơm tôi ai thắp nến, hai hàng…


4-7-2010
 

cũng rất bình thường


 
em cũng bình thường như thiên hạ
nhỏ, lo đi học – lớn, đi làm
ôi em cũng chỉ là con gái
phải lấy chồng và phải có con

em bình thường như mọi giai nhân
vì chút tài hoa mà gian truân
có khi duyên số là như thế
em đụng nỗi buồn rất phải chăng

cũng chẳng có gì là lớn chuyện
khi năm ba đứa chết vì em
và lẽ nào phải sinh chuyện lớn
khi có lần, tôi mất trái tim

tôi cũng bình thường hơn thiên hạ
là tôi bỗng chốc rất ngu khờ
em cũng bình thường khi khác lạ
đã từng một phút hoá nàng thơ….

7-2010
 

Hoàng Lộc
…………………………………………………………………….
Kính.
NNS



Phạm Hoài Việt : Miệng như loài Sản tin sao được?

Hoài Bắc thân mến

Chú đã nhận được hai bài thơ của Bắc. Xuất sắc. Anh Chinh Nguyên sẽ đưa lên net của VTLV.
Mong rằng Bắc sẽ cùng anh em trong Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt làm việc và sáng tác.
Tặng Bắc hai câu:

Đàn Ngang em viết theo chân bố

Đi quét bụi trần, sạch thế gian

 

Chúc bắc mạnh khỏe an vui.

Thân ái/ĐA

 

—————————————————————–

Kính thưa bác,
Cháu xin gởi bác hai bài thơ này, cả hai đều liên quan đến những vấn đề nhức nhối đang xảy ra ở VN. Bài đầu về vụ 2 cháu học sinh bị hiếp dâm ở Hà Giang nhờ Đảng chó mà lại thành kẻ có tội. Bài thứ hai về vấn đề lũ khốn nạn lợi dụng con rùa già hồ Gươm để kiếm chác và hướng dư luận khỏi sự quan tâm đến những phong trào dân chủ đang diễn ra khắp nơi. Mong được bác chỉ giáo thêm, cháu sẽ gởi tiếp nữa những bài thơ khác nếu bác không chê.

Kính,

Cháu Phạm Hoài Bắc

—————————————

Tô hô, Xương xẩu nghe mà… 

 

Thày Xương nói với Thúy, Hằng:

"Muốn xin điểm tốt, đừng găng mới thành"

Vui xong, chợt nhớ Quan anh

Phone ngay đầu tỉnh, gái lành, đại ca

Nghe lời mời qúa thiết thaBị cáo Sầm Đức Xương cùng hai cô học trò tại phiên xử ngày 10/3. Source VNexpress

Tô hô tít mắt: “Gởi qua đi mà”

Quan chơi xong chợt nhớ ra:

“ Phone em, anh giữ lỡ ra anh cần”

Thúy, Hằng chưa hết bần thần

Thày Xương lại bảo: “ Thày cần các em,

Chiều thêm mấy chục quan thèm,

Hai em điểm tốt,  lại thêm tí tiền.

Về lớp, tìm bạn nào hiền

Đang cần lên điểm báo liền thày nghe”

Thúy, Hằng, trên búa dưới đe

Thôi thì nhắm mắt ta nghe lời thày

Tiếng đồn râm rỉ đó đây

Làng trên, xóm dưới bắt tay ta cùng

Kiện thưa bọn chó đến cùng

Lời khai rành rọt tên từng các quan

Tô, Xương, ôi biết cơ man

Công an nghe cũng ruột gan rối bời

Biên bản thôi cứ như lời

Quan trên đã dạy, rồi đời hai em

Tòa khi xử cũng chả thèm

Luật sư? Tòa cũng có xem ra gì

Luặt rằng, tòa phán như ri

Quan trên sai sót cũng vì vô tâm

Còn ông Xương xử mười năm

Thúy, Hằng tội thế, bảy năm là vừa

Phép nhà, luật nước Đảng đưa

Tòa khuyên các cháu đừng thưa với trình

Công, tội đâu đó phân minh

Tô hô cười mỉm, chỉ mình là khôn

Ông tù, cả lũ mật L…ồn

Ông khai ráo rạo, liệu hồn nghe chưa.

 

Cứ thế Luật pháp dạ thưa

Bọn Trâu, lũ chó chẳng chừa điều chi

Anh Ba cũng chỉ mím chi

“Kỷ luật? Tôi  quyết thực thi chữ ĐỪNG”

 

Miệng như loài Sản tin sao được?

 

Tặng chú NBG và tất cả những ai còn HÊN được sống dưới triều VỆ SẢN

 

Kể từ chuyện của Người Buôn Gió

"Miệng như loài Sản"(1) được nhỏ to

Làng trên, thậm thụt khuyên nhau nhịn

Xóm dưới, thầm thi bớt cỗ to.

 

Báo Sản cùng hùa rao trăm họ

"Cụ Rùa linh vật phải chăm lo"

Quan trên họp tiệc lăng xăng cãi

Rùa dưới gục đầu khúng khắng ho.

 

Dễ đến mươi năm lên phương án

Tiền tiêu tính kể cũng trăm ngàn (đô)

Giáo sư, tiến sĩ, no anh ách

Dân giã, Cụ Rùa, đói cơ man.

 

Lòng hồ, lòng lợn hay lòng họ

Tiền tiệc, tiền bùn, hoặc tiền show

Lệnh rằng Cụ cũng trong qui hoạch

Tính sao Quan phải nhận tiền đô

 

Chuyện rằng: trăm họ cơm thôi…nhịn

Thuyết kể: thân rùa ghẻ chẳng…yên

Sản quan lại họp, ta lo "KẾ"

Báo triều cứ hót,  dân hét "ĐIÊN".

 

(1) Câu này được copy lại từ bài viết " Miệng như…loài Sản" của Nguời Buôn Gió được đăng trên web Dân Luận




MẤT NƯỚC, MẤT ĐẢNG

MẤT NƯỚC, MẤT ĐẢNG

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Trung Quốc muốn cải thiện bang giao với Mỹ nên đã phái Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đến Washington để chuẩn bị cho cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và TT Barack Obama vào tháng tới khi họ Hồ đến viếng thăm Mỹ. Nhưng xui xẻo làm sao, vào lúc họ Dương đến Mỹ, giữa chính phủ Mỹ và chính quyền Cộng sản Bắc Kinh lại xảy ra hai chuyện rắc rối lớn. Trước hết là vào dịp kỷ niệm 50 năm nổi dậy của dân chúng Tây Tạng đưa đến vụ đàn áp đẫm máu của Trung Cộng, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma phải chạy qua Ấn Độ. Vụ thứ hai nghiêm trọng hơn là 5 chiến hạm Trung Cộng vây chặn và hăm dọa một tàu Hải quân Mỹ trong vùng biển ở phía Nam đảo Hải Nam ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam, phía Tây quần đảo Hoàng Sa, tức bên trong hải phận Việt Nam nơi Bắc Kinh vẫn tự nhận là lãnh thổ và lãnh hải của họ.
Vụ đàn áp Tây Tạng đã khiến Bộ Ngoại giao Mỹ ngay từ tuần trước lên tiếng nhắc nhở Bắc Kinh rằng Mỹ vẫn quan tâm đến những vụ Trung Cộng vi phạm nhân quyền. Nhưng trước mắt vẫn là việc chiến hạm của Trung Cộng bao vây và hăm dọa chiếc tầu của Hải quân Mỹ. Tầu này, có tên là Impeccable vốn là tầu không võ trang. Mỹ nói tầu này chỉ có nhiệm vụ thăm dò các hoạt động của tầu ngầm dưới biển (ngụ ý của Trung Cộng) và quả quyết tầu Mỹ hoạt động trong vùng biển quốc tế. Còn Bắc Kinh cãi lại, nói đó là vùng biển của họ. Vậy tại sao tầu Mỹ dù không võ trang lại đến phía nơi gần Hoàng Sa để thăm dò? Các giới chức bộ Quốc phòng Mỹ nói vì vùng đó là nơi có tranh cãi về quyền hải phận nên Mỹ phải quan tâm và sẽ tiếp tục làm nữa, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh. Đến tuần này vẫn không có việc gì đáng tiếc xẩy ra, nhưng vụ cãi cọ gay go đã tạo ra một một đám mây u ám trước khi họ Hồ đến Mỹ. Xét ra muốn cải thiện bang giao với Mỹ cũng không phải chuyện dễ.
Ở đây chúng tôi muốn nhìn đến khía cạnh của Việt Nam vì đó hiển nhiên là hải phận của nước này. Vậy chế độ Cộng sản Hà nội nói sao? Năm xưa khi chỉ mới chiếm được mảnh đất miền Bắc, chính quyền Cộng sản chưa vững chắc, Phạm Văn Đồng đã ký công văn mặc nhiên nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của "người anh em phương Bắc". Nhưng về sau khi đã chiếm đươc cả miền Nam, Cộng sản Hà Nội đã "đổi mới" để mở cửa đón đô-la, bằng cách công khai nói các đảo nhỏ đó là của Việt Nam. Khi sự rắc rối về vụ tầu Impeccable của Mỹ xẩy ra tuần trước, theo tin đài BBC, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Hà nội tuyên bố: "Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hành động của các bên liên quan đến vụ này mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp lý". Phía Bắc Kinh, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, trong một cuộc họp báo thường kỳ tuyên bố: "Các đảo Hoàng Nham (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo này và và bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Câu này hiển nhiên ám chỉ lời tuyên bố của Hà Nội, kèm theo một sự hăm dọa trắng trợn.
Thế nhưng chính Bắc Kinh đã có một tham vọng quá lớn đi ngược lại luật lệ quốc tế về vùng biển. Với các nước ở ven biển ngoài lãnh hải thường lệ, các nước đó còn được hưởng một vùng kinh tế đặc biệt khai thác tài nguyên dưới biển, chạy dọc theo bờ biển với chiều rộng là 200 hải lý. Nếu nước nào có thềm lục địa xa hơn nữa, vùng khai thác tài nguyên cũng xa hơn. Tài nguyên ở đây là những mỏ dầu mỏ khí nằm ở dưới đáy biển. Có lẽ vì thế mà tầu Impeccable của Mỹ cần phải thăm dò khá kỹ hơn về khoản này và còn thăm dò nhiều nơi khác ở Nam Hải. Khi có "hơi hám vàng đen" ai mà chẳng mê, chờ đến lúc thấy rồi là tranh dành nhau và đánh nhau chí mạng. Mỹ phải đo lường trước để tránh hậu họa, sợ cũng giống như lò lửa ở như Trung Đông.
Hãy nhìn bản đồ do Bắc Kinh ấn hành, đường lãnh hải Trung Quốc tự nhận ở Nam Hải  bắt đầu từ dưới đảo Hải Nam chạm cả vào đường vạch của vùng kinh tế đặc biệt Việt Nam, từ đó kéo dài xuống phía Nam theo dọc đường hình chữ S của hải phận Việt Nam thu gọn nhóm đảo Hoàng Sa vào hải phận Trung Quốc, rồi chạy xuống đến gần Mã Lai Á, bao trùm cả nhóm đảo Trường Sa, kế đó chạy vòng lên bám sát hải phận Phi Luật Tân đến gần hải phận Đài Loan. Như vậy là tất cả miền Đông của Nam Hải đều thuộc Trung Quốc của mấy anh Tầu Cộng. Và họ còn cao ngạo nói "bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Nhưng người ta cũng nhìn thấy rõ lời tuyên bố của Bắc Kinh chỉ là lời của một phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, rõ rệt để chọi lại lời của Hà Nội cũng do phát ngôn nhân bộ Ngoại giao nói ra. Tóm lại đây chỉ là lời mấy anh Bắc Kinh dằn mặt mấy anh Hà Nội.
Trong c&aacut
e;c cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đã có câu loan truyền về tình hình rất thực tế mà mấy anh lãnh đạo CSVN đã lâm phải từ lâu. Đó là câu: "Đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng". Cố nhiên nếu đi với Mỹ, mấy anh lãnh đạo Cộng sản Việt Nam làm sao còn giữ được đảng. Một khi đã mở của rước tư bản vào nhà, đảng Cộng sản chỉ còn cái vỏ như cái thùng rỗng, đánh thì kêu lớn nhưng bên trong chẳng còn cái gì. Rồi đến khi dân trí lên cao, tuổi trẻ nhìn ra thế giới bên ngoài và đòi hỏi, cái thùng rỗng chẳng bao lâu sẽ bị liệng bỏ nốt. Nếu đi với Tầu thì mất nước, vậy còn giữ được đảng chăng? Hãy quên đi cái ảo tưởng đó.
Mất nước là vì nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa sẽ không còn, mà biến thành một chư hầu của Nhân dân Trung Quốc, y hệt các chư hầu của Liên Sô trước đây. Dù vậy vẫn còn đảng của mấy anh lãnh đạo Hà Nội chăng? Cái ảo tưởng này còn lớn hơn và nguy hiểm hơn nữa. Lúc đó đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn cái tên, thực tế nó sẽ là một chi bộ của Trung ương đảng Trung Cộng.

Còn các anh lãnh đạo đảng Cộng sản VN hiện nay, may lắm là được cho về hưu đuổi gà, nuôi heo, tiền của bị lột sạch băng, bọn bành trướng Bắc Kinh không quên thái độ của mấy đồng chí Việt Nam khi các đồng chí có quyền trong tay. Còn nếu không may, các đồng chí có thể còn mất cả chỗ đội nón. Bởi vậy chớ dại ôm lấy đảng mà bỏ nước.




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: TRÁCH NHIỆM LIÊN HIỆP QUỐC

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: TRÁCH NHIỆM LIÊN HIỆP QUỐC

Hội Ðồng Bảo An LHQ năm nay họp có một điểm đặc biệt. Ðó là cuộc họp Thượng đỉnh. Kể từ khi LHQ thành lập năm 1945, đây là lần thứ 5 HÐBA họp trên cấp tối cao như vậy. TT Obama là vị Tổng Thống Mỹ đầu tiên ngồi ghế chủ tọa cuộc họp này, ông đã tuyên bố “dự thảo nghị quyết đã được đồng thanh chấp thuận”. Từ tuần trước báo chí đã loan nội dung nghị quyết này nhằm “loại bỏ vũ khí hạt nhân trên thế giới”. Nga, Trung Quốc và các nước đang phát triển tán thành bản nghị quyết do Mỹ chủ trương, tạo ra một thế mạnh và một sự yểm trợ toàn cầu. Bản nghị quyết kêu gọi tăng cường nỗ lực ngăn ngừa sự lan tràn của vũ khí hạt nhân, khích lệ giải giới và “tiết giảm hiểm họa khủng bố hạt nhân”.

Sau cuộc bầu phiếu, TT Obama tuyên bố: “Bản nghị quyết lịch sử chúng ta vừa chấp thuận đã nêu cao sự gắn bó của chúng ta đối với mục tiêu là một thế giới không có bom hạt nhân và cũng tạo ra sự thỏa hiệp của Hội Ðồng Bảo An về một khuôn khổ hành động để làm giảm bớt hiểm họa hạt nhân khi chúng ta tiến đến mục tiêu đó”. Obama còn nói: “Chỉ một vũ khí hạt nhân nổ ở một thành phố lớn trên thế giới cũng đủ gây ra một sự phá hoại lớn lao”. Ông cho biết một nỗ lực toàn cầu sẽ nhằm “khóa chặt lại mọi vật liệu hạt nhân trong 4 năm”. Ông nhấn mạnh: “Nỗ lực toàn cầu không phân biệt một nước riêng nào. Luật quốc tế không phải là một sự hứa hẹn rỗng không, hiệp ước quốc tế cần phải được thi hành. Chúng tôi giã từ cuộc họp này với một ý chí cương quyết gia tăng”.

Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-moon hoan nghênh các nhà lãnh đạo quốc gia đã tới dự phiên họp thượng đỉnh Hội Ðồng Bảo An về vũ khí hạt nhân và nói “Ðây là giờ phút lịch sử, khởi đầu cho một tương lai mới của thế giới”. Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev nói mục tiêu chung của chúng ta là “cởi mở vấn đề những nút rối” giữa những quốc gia tìm kiếm sự giải giới và chống lan tràn vũ khí nguyên tử. Trước cuộc họp HÐBA, trong phiên họp chung của các nước hội viên LHQ, với các hàng ghế đầy chật người tại Ðại sảnh đường, TT Obama đã hô hào các nhà lãnh đạo thế giới hãy kề vai tiếp sức để gánh những gánh nặng quốc tế khẩn trương, ông hứa sẽ có một sự hợp tác mới của Mỹ, Nhưng Obama cũng nhẹ nhàng nhắc nhở các nước khác không còn có thể chỉ trích Mỹ là nước cậy sức mạnh của mình để tự tung tự tác, trong khi các nước đó vẫn đòi hỏi Mỹ cứu nguy những mối họa chung của Thế giới.

Obama nói: “Những ai thường chỉ trích Mỹ một mình tự tung tự tác, nay không thể đứng ngoài mà chờ nước Mỹ một mình giải quyết các vấn đề của cả thế giới. Bây giờ là lúc tất cả chúng ta phải gánh vác phần trách nhiệm của mình để có một giải pháp chung trước những thử thách trên toàn cầu”. Ông hứa nước Mỹ sẽ tiến tới “một thời đại mới căn cứ trên quyền lợi chung và sự kính trọng lẫn nhau”. Obama đặc biệt muốn nói đến các nhà lãnh đạo thế giới trước đây đã từng dùng các cuộc họp quốc tế để nặng lời lên án nước Mỹ. Ông nói “hầu như có một sự bài Mỹ rộng lớn” đã bao trùm cả thế giới dưới thời vị tiền nhiệm của ông là TT George W. Bush. Và TT Obama nói tiếp: “Ðiều đó không thể biện minh cho thái độ chỉ biết khoanh tay ngồi nhìn mà không chịu làm gì cả”.

Vậy bây giờ có chuyện gì cần phải làm ngay? Hôm thứ Năm HÐBA chấp thuận nghị quyết “loại trừ vũ khí hạt nhân” của TT Obama, thì hôm sau thứ Sáu các nhà ngoại giao và giới chức Tình báo Tây phương bỗng tiết lộ tin “Iran có một trung tâm bí mật, trung tâm thứ hai, thanh lọc chất Uranium, ở thành phố Thánh Hồi giáo Qom, trong một vùng núi non hiểm trở”. Lập tức TT Obama, Thủ tướng Anh Gordon Brown và Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy tố cáo Iran có một trung tâm bí mật mà các thanh sát viên quốc tế không biết. Khối Liên hiệp Âu châu cũng lên án gắt gao. Thấy bị rơi vào bẫy của LHQ và cả Tây Âu khiến kế hoạch mật làm bom bị “dính chấu” không còn rồ máy được nữa, hôm Thứ bẩy vừa qua Iran đành phải tuyên bố chấp nhận cho các thanh sát của Cơ quan Nguyên tử năng LHQ được đến nhà máy này để điều tra.

Nhưng đến Chủ nhật, Iran lại có một trò chơi chiến tranh khác để hù dọa thiên hạ. Iran phóng thí nghiệm 3 loại phi đạn tầm ngắn, Fateh (120 dậm), Tonda (93 dậm) và Zelzal (130 dậm). Một ngày sau, tức Thứ hai tuần này theo đài TV nhà nước Iran, bộ Tư lệnh Vệ Binh Cách Mạng, lực lượng quân sự mạnh nhất của Iran, đã phóng thử thành công hai loại phi đạn tầm trung mới được nâng cấp, Shahab-3 và Saijil. Cả hai đều là loại phi đạn hai tầng có thể phóng đầu đạn xa đến 1,200 dậm, tức là đặt Israel, các căn cứ của Mỹ ở Trung Ðông và một phần của Âu châu vào tầm bắn của phi đạn Iran. Không thể hù dọa bằng bom nguyên tử vì bị LHQ xiết chặt, bây giờ Lãnh tụ quân sự Iran cầm quyền trong bóng tối chơi trò chiến tranh mới. Liệu nó có làm ai sợ không?

Về bom nguyên tử, theo sự ước lượng của Mỹ, Iran phải mất từ 1 đến 5 năm nữa mới chế tạo được một quả bom, mặc dù các giới chức tình báo tin rằng các nhà lãnh đạo Iran chưa quyết định chế tạo bom nguyên tử. Ðiều này cũng có lý vì trên thực tế chỉ cần một đầu đạn nguyên tử Iran bắn vào Israel hay một căn cứ quân sự Mỹ, lập tức Thủ đô Teheran hay cả nước Iran sẽ lãnh đòn trả đũa bằng những vũ khí nguyên tử mạnh gấp 10 lần hơn. Không ông Iran nào dám chơi trò đùa dai đến độ đó. Vậy Iran bắn phi đạn để làm gì?

Mục tiêu chính của Vệ Binh Cách Mạng Iran vẫn luẩn quẩn nằm trong mối lo sợ bị mất quyền hành tối cao trong nội bộ. Theo Thông tấn bán chính thức Fars của Iran, tướng Abdollah Araqi, tư lệnh cao cấp của Vệ Binh Cách Mạng tuyên bố: “Các phi đạn của Iran có thể bắn đến bất cứ nơi nào đã hăm dọa Iran”. Phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Iran Hasan Qashqavi nói “các cuộc thí nghiệm phi đạn không liên hệ gì đến sự căng thẳng về vụ trung tâm thanh lọc Uranium ở ngầm sâu dưới đất đã được công bố mới đây”.

Mặt khác, theo nguồn tin AP, vụ trung tâm hạt nhân của Iran mới bị phát giác đã khiến có một cuộc họp cấp bách vào thứ Năm tuần này ở Geneva giữa Iran và 6 nước lớn để tìm cách chấm dứt ngay chương trình vũ khí hạt nhân của Iran. Savier Solana, người cầm đầu ngành Ngoại vụ của Liên hiệp Âu châu, nói ông rất quan ngại các vụ thí nghiệm phi đạn của Iran. Cuộc họp cấp bách tuần này ở Geneva sẽ nằm trong “một bối cảnh mới”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói bà không tin trong cuộc họp sắp tới Iran sẽ có thể thuyết phục Mỹ và các đại cường khác trên thế giới là chương trình hạt nhân của Iran chỉ có mục tiêu hòa bình. Xét ra Iran đã bị đưa vào trò hát xiệc mới rồi.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Vi Anh : Cộng Sản Sợ Internet, Blog


Cộng Sản Sợ Internet, Blog

(03/10/2012) (Xem: 1870)
Tác giả : Vi Anh

Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đều sợ Internet, sợ blog chánh trị do xa lộ thông tin tòan cầu Internet chuyển tải.
 Tin mới đây của thông tấn xã Pháp AFP, lợi dụng được một trục trặc kỹ thuật của búc tường lửa do  CS Trung Cộng bố thiết để ngăn chặn không cho người dân Trung Quốc tham khảo các trang mạng không hợp ý chế độ, rất nhiều người dân TQ đã bất ngờ vào được trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama, để lại những lời bình luận về chua cay về tình trạng nhân quyền và tự do tại Trung Quốc. Đọc rất thấm thía, “nghe sao ngậm đắng nuốt cay thế nào.”

Như lời ca của hai bài hát của Việt Khang “Anh Là Ai, Việt Nam Tôi Đâu” đang làm rúng động lòng người dân Việt ở hải ngọai khiến cả một trăm bốn mươi mấy ngàn người Mỹ gốc Việt ký thỉnh nguyện thư gởi vào trang web We the People của Phủ Tổng Thống Mỹ, yêu cầu TT Obama áp lực CS Hà nội thả tù chánh trị và không mở rộng giao thương với chế độ CS Hà nội nếu không cải thiện nhân quyền.

Những người dân TQ đã bất ngờ vào được trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã có  những lời đau đớn của  phận người dân Trung Hoa là một dân tộc có một trong vài nền văn minh lớn cỗ đại – văn minh Sông Hòang Hà — lâu đờì  nhưng còn tồn tại tới ngày nay. Thuở xưa khi  người Âu châu còn sống trong rừng, chưa có quốc gia đô thị thì người Trung Hoa đã có đường sá, lữ quán, triều đình, triều cương, triều nghi rồi.

Nhưng trong thời CS thống trị nước Trung Hoa trong nửa thế kỷ, thì người Trung Hoa một dân tộc của một nền văn minh tốt đẹp và ảnh hưởng lớn ở Á châu, lại nói trong trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama, như vầy nè. «Nhiều người không hiểu vì sao có đông đảo người Trung Quốc muốn qua Mỹ định cư. Chúng tôi ao ước có được nền dân chủ và quyền tự do mà nhân dân Mỹ được hưởng ». «Chúng tôi không phải là dân man di mọi rợ, chúng tôi chỉ đơn thuần là một dân tộc bị bóp nghẹt». Có người yêu cầu Tổng thống Mỹ «hãy qua giải phóng Trung Quốc».

Cũng trong khỏang thời gian ểm tường lửa của CS ở Trung Quốc bị trục trặc kỹ thuật, thì đàn em CS VN thô bạo siết an ninh mạng mạnh hơn nữa, chặt hơn nữa. Tin đài VOA  của Mỹ cho biết chỉ trong vài tháng qua, có tới 9 nhà báo và 33 blogger bị bắt giam. Ông Phil Robertson thuộc Tổ chức Human Rights Watch nhận định Hà nội cảm thấy bị đe dọa vì các công dân Việt Nam gia tăng sử dụng mạng internet. Số người Việt Nam sử dụng Internet  tăng nhiều. Năm 2000, chưa tới 1% dân số truy cập được internet. 10 năm sau, con số ấy đã tăng vọt lên tới 27%, và có phần chắc sẽ tăng cao hơn nữa ngay tại thời điểm này. Thêm vào đó điện thọai cầm tay bây giờ như một máy computers di động, gởi tin, hình nhanh như ánh sáng. Công an trấn áp dân thì trong nháy mắt hình ảnh có trên mạng, loan truyền khắp nơi trên thế giới. VN dân số 86 triệu nhưng có tới 111 triệu điện thoại cầm tay chánh thức ghi danh sử dụng. Đó là chưa nói những người gọi điện thọai bằng thẻ, rất kín đáo, khó cho nhà cầm quyền kiếm sóat, điều mà đài Á châu Tự do của Mỹ khéo léo khuyên khán thính giả trong nước VN gọi vào đài nên sử dụng “vừa rẻ vừa thuân tiện”. 

Hơn nữa, các cuộc nổi dậy ở các nước Á rập, đa số người dân dùng tiến bộ khoa học kỹ thuật Tin Học để loan truyền tin tức và nghị luận cũng như vận động, huy động biểu tình lật đổ độc tài. Nên Ông Robertson nói  những gì xảy ra trong thế giới Ả rập đã gây rất nhiều quan tâm cho nhà cầm  quyền VNCS nên họ siết mạnh Internet.

CS siết thô bạo Internet và blog vì sợ Internet và blog giải thóat con người ra khỏi vòng kềm kẹp của chế độ.

Nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ. Đảng Nhà Nước CS Hà nội có công an đông như kiến cỏ trang bị tận răng, cái gì cũng dám làm dù phi pháp, phi nhân nhứt. CS Hà nội cũng  có hàng ngàn “báo đài” làm cái loa tuyên truyền cho Đảng Nhà Nước. Nhưng CS Hà Nội thua  lực lượng  bloggers chánh trị của người dân, được tiến bộ khoa học tin học yểm trợ, giúp cho một vũ khí êm nhưng rất thấm trong việc chống độc tài, làm CS bị tự “diễn biến hòa bình” thành  diễn biến không còn hòa bình nữa, như vụ kỹ sư Đòan văn Vươn dùng súng và mìn tự chế bảo vệ tài sản mình khi công an đến cướp chế.

Vì blog nguy hại cho nhà cầm quyền CS độc tài, nên CS thường xuyên đánh phá blog, kiểm soát Internet. Đặc biệt trước đại hội Đảng  CSVN vào tháng 1 năm 2011, vì sợ blog khui thâm cung bí sử, những bế bối, đấu đá nhau thúi cả Đảng Nhà Nước, CS Hà nội  mở chiến dịch đánh phá blog khốc liệt..

CS sợ blog vì trong đấu tranh chánh trị trường kỳ có những thứ êm mà thấm đau lắm, chẳng những ê ẩm cả mình mẫy mà còn bầm gan tím ruột, lồng phổi trụy tim  nhà cầm quyền nữa. Nó ép phê hơn bạo động và võ lực thường là chuyện xảy ra sau cùng kết thúc của cuộc đấu tranh.

Nên CS mở chiền dịch đánh phá blog khốc liệt. Cơ quan chuyên môn an ninh mạng SecureWorks, ở thành phố Atlanta, Hoa Kỳ, đã từng tố cáo vũ khì CS xài là virus tin học có tên là Vecebot. Nó đã phá  hơn 10 ngàn máy tính kết nối vào các diễn đàn trên mạng phê bình, chỉ trích Đảng CSVN.

Thoạt kỳ thủy, blog trên phương diện khoa học, kỹ thuật  tin học chỉ là những trang nhựt ký trên mạng Internet. Những người dân yêu nước thương dân, những nhà báo có đức nghiệp, có trách nhiệm với độc giả đồng bào và có lương tâm Việt với nước nhà VN đã biến phát minh khoa học của thời đại là blog thành blog chánh trị, thành khẩu thần công nã vào  chế độ độc tài CS.

Những người viết blog chánh trị đó đã dùng tình yêu nước, thương dân, hận cái nhục do nhà cầm quyền gây ra cho quốc gia dân tộc làm thuốc nổ. Loại thuốc nổ bằng tinh thần quốc gia, tình tự dân tộc, tình yêu  Tổ quốc, quê hương, tánh ghét kẻ mạnh hiếp yếu, tình thần kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng, tạo thành sức xuyên phá tuy êm mà rất thấm cho đảng và nhà cầm quyền CS. Nhờ những đức tính đó mà người Việt trong 4000 năm lịch sử đã chống chọi, đánh đuổi giặc Tàu 1000 năm, đã chiến thắng đội quân Tàu Nguyên Mông sừng sõ nhứt đã chiếm cả Á Châu và Đông Âu.

CS Hà nội sợ Internet,  blog vì càng ngày càng nhiều người viết blog chánh trị. Nhiều tổ chức theo dõi báo chí toàn cầu như Phóng Viên Không Biên Giới bản doanh ở Pháp và Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo CPJ ở New York và người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung và ở hải ngoại nhận thấy càng ngày càng có nhiều những người Việt, nhà báo, trí thức, đấu tranh, trẻ già, suốt từ Bắc chí Nam viết blog chính trị va blog chánh trị tràn ra hải ngoại VN. Theo tìm hiểu mới dây của trang mạng xã hội Facebook, việc viết blog đã phát triển rất nhanh tại Việt Nam kể từ 2005. Hiện có tới 24 triệu người dùng internet.

CS Hà nội phải cầu viện “Anh Cả Đỏ TC” giúp kiểm soát internet, xa lộ chuyên chở những phát minh thông tin nghi luận trong đó có blog giải thoát con người ra khỏi ách độc tài. Các cơ quan an ninh của CS Hà nội đã học, đã nhờ sự giúp đỡ của TC để đối phó mặt với những đe dọa đến từ các nhà ly khai dùng internet. Trước đây, họ cố gắng ngăn chặn truy cập, giờ đây, họ tìm cách đánh sập các website.

Nhưng CS Hà nội bắt một blogger thì hai ba người xông tới. CS Hà nợi chận nẻo này thì blogger quay sang nẻo khác, mới hơn. Xu thế thời đại và tiến bộ khoa học kỹ thuật đứng về phía dân blog, giải toả con người khỏi vòng kềm toả và tuyên truyền giả dối  của độc tài./.

Ý KIẾN ĐỘC GIẢ (3)
 Được gửi bởi Ba D (Guest) vào 03/10/2012

Nghĩ mà tức thật ! Mình là TT của 3 triệu đảng viên và là "đầy tớ " của 85 triệu dân VN , xin vào Tòa Bạch Ốc thì họ lại cho mình đi cửa hậu…Còn chúng nó chỉ là nhóm nhỏ mà có đến 148 ngàn người xin vào, họ lại cho cả 200 người mang cờ xí rợp trời vào khắp nơi từTòa Bạch Ốc và Quốc Hội mà vào cửa chính những 2 ngày cơ ! Rõ là nhân quyền ! Internet lợi hại đến thế này cơ ! Các đ/c công an đâu?(ủa sao mà hô có ít vậy?) bắn hết " in- tờ- nết "cho tui! 
 Được gửi bởi Lối Mòn (Guest) vào 03/10/2012

Cộng sản sợ internet là phải rồi.Cũng như quỷ xứ mà sợ Trơì ,Phật vậy thôi.
 Được gửi bởi Việt (Guest) vào 03/10/2012


Đúng vậy Vi Anh ! 
CSVN sợ Internet, Blog ! Nếu hàng trăm ngàn Việt Kiều chống Cộng đã về Việt Nam mà trực diện với chính quyền CSVN…có lẽ họ sẽ càng sợ hơn ! Nhưng rất tiếc là mới chỉ có vài người dám nói, dám làm !



Chúc Anh : Chấp nhận lẫn nhau trong cuộc sống

Chấp nhận lẫn nhau trong cuộc sống

   

            Chiến tranh lạnh giữa thế giới tư bản và thế giới cộng sản đã kéo dài hơn hai chục năm về trước, và rồi chỉ cần bốn con người ở địa vị khác nhau (ĐGH Gioan Phaolô II, Tổng Thống Ronald Reagan, Bà Thủ Tướng Thatcher, và Tổng Bí Thư Cộng Sản Gorbachov) chấp nhận cùng nhau trao đổi cái nhìn của mình về thế giới, cố gắng hiểu nhau, tha thứ cho nhau, như vậy đã đủ để làm cho khối cộng sản Đông Âu sụp đổ, và chiến tranh lạnh kết thúc.

Đây hẳn là một “kỳ công của con người, khi con người biết tìm đến nhau, thông cảm cho nhau, chấp nhận lẫn nhau để sống.

            Tuy nhiên, thật rất buồn khi còn thấy trong đời sống xã hội ngày nay, vẫn còn nhiều thứ “chiến tranh nóng…chiến tranh lạnh” ngay cả trong gia đình, đoàn thể.  Những chuyện bất đồng, tranh chấp, cằn nhằn, gấu ó, có khi đi đến chỗ làm sứt mẻ tình bạn, tổn thương tình gia đình giữa những người thân của mình.

            Hôm nay tôi xin chia sẻ một vài tư tưởng về mối tương giao của chúng ta trong xã hội, dưới khía cạnh tâm lý nhân bản.

 

Đa số con người trên trái đất, nếu không thuộc về tôn giáo này thì cũng thuộc tôn giáo khác.  Mà tất cả các tôn giáo đều răn dạy tín đồ của mình phải ăn ở làm sao cho thành người tốt, tốt với mình, tốt với người.  Chung chung, thì người ta luôn được dạy ba điều căn bản để có thể sống một cuộc đời an bình, thanh thản, hạnh phúc về tinh thần, vật  chất cũng như tình cảm.  Đó là:

 

1.  biết thương yêu nhau

                        2.  biết tha thứ cho nhau

                        3.  biết chấp nhận lẫn nhau

  

I.  BIẾT THƯƠNG YÊU NHAU

 

            Ngoài việc thương yêu chính mình (điều này khỏi cần phải nhắc), muốn được sống một cuộc đời có ý nghĩa, còn cần phải biết thương yêu những người xung quanh mình, là những người mà dù muốn dù không, mình cần phải tiếp xúc, quây quần trong cuộc sống hằng ngày.

            Có những người chỉ thích yêu thương người nào giống hệt như mình về cách sống, cách suy nghĩ, cách hành động.  Khi đã thương yêu kiểu này rồi thì nhìn thấy “trái ấu” của người ấy cũng tròn vo, mặc dù ở “hai đầu trái ấu có hai cái sừng nhọn dễ sợ!”

 

            Ai không giống mình thì cho là xấu, không ưa, chỉ trích không tiếc lời.  Thấy người ta xấu ở điểm nào đó, một  lần nào đó, thì  nhìn tất cả con người của kẻ đó chỉ  toàn thấy cái xấu thôi;  chê miết, chê trường kỳ, riết thành thói quen, nhìn mọi người xung quanh cũng thấy toàn là người xấu hết, chẳng có ai tốt lành cả, ngoại trừ mình ra.  Trong cuộc sống hằng ngày, nói ra câu nào, ở đâu, với ai, cũng chỉ thấy toàn là chê bai, ai cũng dở ẹt, cũng sai bét, chẳng ra thể thống gì cả, nhất là khi mình đã “có tuổi”, tóc đã trở thành muối tiêu, hoặc có chút ăn học, hay có chút tiền của…

Sự yêu thương kiểu đó rất nguy hiểm vì đôi khi nó dựa trên một mớ thành kiến mà ta ít khi lưu ý tới.  Vậy thành kiến là gì?

            Theo tâm lý học, thành kiến là một dạng thái hóa của sự phán đoán chủ quan đó thôi.  Khi ta nói:  “Anh Tùng khó thương quá” có nghĩa là gì?  Nếu suy nghĩ  cho kỹ, ta thấy câu này diễn tả một sự “xếp hạng”.  Chúng ta xếp chủ đề “Anh Tùng” vào hạng mà óc đã hiểu rõ là những “người khó thương”.  Vậy thì những người “khó thương” đó là như thế nào chứ?  Nguy hiểm là ở chỗ này:  Việc xếp hạng này có thể rất chủ quan, dựa trên những tiêu chuẩn cá nhân, những cảm giác không nền tảng, có khi từ bên ngoài đưa vào.  Do đó, cần phải cẩn thận, bằng không ta sẽ bị thành kiến ảnh hưởng trong những mối tương giao với người khác trong xã hội, vì ác cảm hay thiện cảm cuối cùng đều xuất thân từ thành kiến mà ra cả, do một cái nhìn rất là chủ quan, có khi độc đoán nữa là khác.

            Cũng không nên lầm lẫn “thương yêu” với “thương hại”.Khi ta thương hại một người nào đó, mặc nhiên ta đứng từ vị trí của người “có cái gì đó” đối xử với người “không có”.  Thông thường, người ta nói:  “Nhìn lên,  mình chẳng bằng ai,  mà nhìn xuống thì không ai bằng mình”.  Thật ra, nhiều khi đây chỉ là một cách để tự an ủi mình, để giúp chấp nhận số phận của mình đó thôi.

            Thế nhưng, có khi từ tư tưởng này, con người có thể đi đến thái độ “thương hại” đối với những người xấu số hơn mình.  Và nếu sự thương hại này lại được chan hòa bởi đức tin, lòng bác ái, nó sẽ dẫn đưa tới sự chia sẻ, hành động yêu thương thật sự.

            Một trong những cái “riêng tư”  mà chúng ta cảm thấy khó mà sẵn sàng chia sẻ với người khác, đó là thời giờ của chúng ta.  Nhiều người chỉ biết hát một điệp khúc trong suốt đời họ thôi: “Tôi bận việc lắm…Không thể đến được…Không thể giúp được…Tôi không có giờ…Tôi còn nhiều việc phải làm..”

 

 

II.   BIẾT THA THỨ CHO NHAU

 

            Không có lòng thương thì khó mà tha thứ cho ai được, bởi vì đã ghét người nào rồi thì có bao giờ thèm nhìn mặt nó nữa đâu?

Thấy “nó”,  nhìn cái mặt, nghe giọng nói của nó, nhìn cách đi, cách đứng là đã thấy ghét rồi.

            Như vậy làm sao mà chấp nhận cho kẻ ấy đứng chung trong cùng một tập thể với mình được?

Còn nói chi đến những người cùng sống chung dưới một mái nhà. Thoát khỏi những tổn thương do mất mát, chán nản, thất vọng, đau buồn vì tình, vì phản bội…Những khó khăn trong cuộc sống.

Làm người, ai mà chẳng có lúc lầm lỗi:  lầm lỗi mình gây nên cho kẻ khác, lầm lỗi kẻ khác gây ra cho mình, vô tình hay cố ý.  Lầm lỗi bao giờ cũng gây nên một vết thương.

Lầm lỗi cần được tha thứ, và vết thương cần được chữa lành.     Nhưng làm sao tha thứ, làm sao chữa lành? Đó là vấn đề.  Nhất là khi sự xúc phạm đến từ những người thân thương, những người mình tin tưởng, những người đáng ra phải đứng về phía mình…thì vết tương lại càng đau đớn, và sự tha thứ trở nên càng khó.

            Làm hòa quả thật không dễ chút nào:  mình có lỗi mà đi làm hòa vốn đã khó, huống chi khi người khác lỗi với mình mà mình lại phải đi bước trước!…Đây là giá rất đắt của tình thương.

            Trong cuộc sống hằng ngày, thái độ, hành động tha thứ mang tính cách quan trọng và bức thiết:  Chẳng ai thoát khỏi những tổn thương do mất mát, chán nản, thất vọng, đau buồn vì tình, vì phản bội…Những khó khăn trong cuộc sống chung đư ợc tìm thấy rất nhiều và ở khắp nơi:  những xung đột giữa vợ chồng, trong gia đình, giữa những người yêu phải chia tay, giữa chủ và thợ, giữa bạn bè, giữa láng giềng, giữa các tập thể.  Một ngày nào đó, tất cả đều cần đến sự tha thứ hầu tái lập hòa bình:  “Hãy trao ban tha thứ, bạn sẽ nhận lại hòa bình” (ĐTC Gioan Phaolo II)

           

            Trong ý niệm về tha thứ, có hai sai lầm lớn phải tránh:

            Sai lầm thứ nhất là sự tha thứ được tác động bởi sợ hãi hay thương hại.  Vladimir Jachelevich, một nhà tâm lý lỗi lạc Liên Xô, đồng hóa tha thứ với hình thức của thủ đoạn tự vệ.  Đới với ông, sự tha thứ giữa con người với nhau được điều khiển bởi sợ trả đũa và sợ bị hủy diệt lẫn nhau. Đang khi đó, triết gia Hy Lạp  Sénèque thấy trong sự “thương hại” động lực chính của tha thứ.  Ông tóm tắt tư tưởng của mình trong công thức này:  “Con hãy tha thứ cho người yếu hơn con vì thương hại nó, và con hãy tha thứ cho người mạnh hơn con vì thương hại con”.  Thật không cao thượng tí nào!

Sai lầm thứ nhì là coi tha thứ như là đặc quyền của Thượng Đế.  “Chỉ một mình Thượng Đế mới có thể tha thứ”.  Đó là công thức không để chỗ cho trách nhiệm của con người.  Người Thiên Chúa giáo thường cầu nguyện:  “Xin Cha tha tội cho chúng con như chúng con cũng thứ tha những lỗi lầm của người khác đối với chúng con.”

            Một nhà thần học trẻ tuổi, Jean Delumeau, khẳng định rằng “sự tha thứ thiết lập gạch nối giữa con người với nhau, và giữa con người với Thượng Đế”.

            Như vậy, tha thứ là một nổ lực vừa nhân bản vừa thiêng liêng, là một hợp tác không những giữa kẻ gây nên xúc phạm và người bị xúc phạm, và còn giữa con người với Thượng Đế.

            Trong lời mời gọi “hãy tha thứ”, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bàn về vài điều kiện cần được thực hiện, đó là “sự thành thật trong đối thoại, sự trưởng thành chấp nhận cá tính của mỗi người.”

 

 III.   BIẾT CHẤP NHẬN LẪN NHAU

 

            Nếu không biết thương yêu thì không bao giờ biết tha thứ. Và một khi đã không biết thương yêu, không biết tha thứ thì tất nhiên không thế nào biết chấp nhận lẫn nhau trong cuộc sống tập thể được.  

            Trong gia đình:  luôn luôn lục đục, xào xáo, cằn nhằn, gó ấu lẫn nhau, biến gia đình từ một “tổ ấm” để vợ chồng, con cái nương tựa, quây quần, sống vui vẻ, hạnh  phúc với nhau, để rồi một ngày nào đó, bùng nổ dữ dội, lắm khi lý do đưa ra chả đáng gì cả!

            Trong tổ chức đoàn thể:  chia bè, chia nhóm, nói hành, nói xấu, vu oan cho nhau, chỉ trích, bêu xấu nhau, tìm cách hạ nhục nhau, chà đạp kẻ khác xuống để mình tiến thân.  Cứ mở đài phát thanh, đọc báo chí, vào internet…thì rõ.  Như vậy làm sao tạo nên sự đoàn kết, tạo nên sức mạnh để phát triển tập thể được?  Trong tim, trong óc mình lúc nào cũng đầy tràn, chật cứng những ganh tị, hiềm khích…thì còn chỗ nào để cho tình thương, sự thông cảm, sự tha thứ, chấp nhận lẫn nhau trú ngụ được?

            Trong đời sống hằng ngày, tương quan giữa con người với con người, cần tôn trọng lẫn nhau, không nên đòi hỏi người khác phải giống y như mình, như vậy là thiếu thực tế, và ngay cả thiếu trưởng thành nữa!

            Vấn đề trọng yếu đối với cá nhân và tập thể là làm sao vừa giữ được chân tính của từng thành phần, đồng thời giúp từng cá nhân hòa nhịp với tập thể, để cá nhân có thể xem mình là “quà tặng” cho tập thể, cũng như tập thể là “quà tặng cho cá nhân”.

            Ngoài ra, sự khác biệt, tính đa dạng trong một tập thể sẽ phong phú hóa tập thể đó, và ngay cho bản thân mình, khi mình trưởng thành nhìn vào thực trạng.

            Có người cho rằng chấp nhận là một thái độ tiêu cực, ta chấp nhận vì không còn con đường nào khác.  Không hẳn như vậy.

            Trước hết, “chấp nhận chính mình” là nhận ra con người thật của mình, duy nhất, không ai thay thế được.  Một người đã được Tạo Hóa hết lòng yêu thương, và đã được tạo dựng trong yêu thương.  Một triết gia Ấn Độ, Rabbi Zusya, trước khi chết, nói với bạn bè mình rằng:  “Khi tôi chết rồi, Thượng Đế sẽ không hỏi tôi tại sao con không giống Napoléon, hoặc giống như Socrate, nhưng Ngài sẽ hỏi tôi:  “Tại sao con không giống hình ảnh con người mà ta đã tạo dựng?”  Ở đây, sự chấp nhận bản thân mình không có gì là tiêu cực cả.  Từ sự chấp nhận bản thân, ta sẽ dễ dàng chấp nhận kẻ khác hơn, vì chính họ cũng như ta là “công trình vĩ đại” của Tạo Hóa.

            Như vậy, chấp nhận hẳn là một hành động tích cực.

            Đối với gia đình, xã hội nhỏ bé gần nhất, cần chấp nhận lẫn nhau để sống.  Chúng ta luôn quan niệm rằng:  gia đình phải là tổ ấm hiệp thông, hiệp thông giữa người chồng và người vợ, giữa cha mẹ và con cái.

            Thế nhưng, trong thực tế, vì quá đề cao tự do cá nhân, nhiều lúc người ta tưởng rằng hai vợ chồng lai hai con người độc lập sống bên cạnh nhau.  Mỗi người có một công việc riêng, tài sản, xe cộ, trương mục riêng, giải trí riêng (chưa kể những cái riêng khác…)

Con cái cũng có cái thế giới và sinh hoạt riêng của chúng…Gia đình hình như bị phân mảnh.

Đây hẳn là ảnh hưởng của một xã hội mà sự riêng tư của cá nhân được xem như quan trọng hàng đầu.  Đối diện với một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt  như vậy, sự hội nhập và thích nghi (kết quả của sự chấp nhận lẫn nhau) rất cần thiết để lập “thế quân bình tâm lý”, hầu có một cái nhìn về xã hội, về gia đình tích cực hơn.

 

            Làm thế nào để lập thế quân bình vừa nói? Bằng cách thích nghi những giá trị truyền thống với hoàn cảnh mới.  Một trong những giá trị truyền thống Việt Nam, đó là tinh thần gia đình.  Gia đình có thể lập thế quân bình của mình qua những sinh hoạt chung cuối tuần, tạo bầu không khí trong những bữa cơm tối gia đình, những buổi cùng nhau mua sắm chung, những giải trí chung…Tất cả những “cái chung” này cũng như những “cái riêng” trên đây cần được tất cả thành phần trong gia đình ngồi lại, cùng nhau tìm cách thông cảm, chấp nhận thực trạng, và nhất là giúp nhau thích nghi với những cái có thể là những trở ngại nhất thời cho đời sống hiệp thông trong gia đình.

 

            Đời sống xã hội hôm nay và nơi đây rõ ràng đang thách thức chúng ta.  Trong chiều hướng đề cao “cá nhân chủ nghĩa”, xã hội này đang dạy con em chúng ta phải biết và tranh đấu cho quyền lợi của mình, dạy phải nghĩ  tới mình trước đã, nhừng nhịn là dại dột, tha thứ là hèn nhát, sống phải hưởng thụ…và dành một chỗ rất hạn hẹp cho Tình Người.

            Chúng ta nghĩ sao về sự thách thức này?