Dòng thơ thi sĩ Nguyễn Đông Giang

TUYỂN TẬP THƠ VÔ LƯỢNG TÌNH SẦU
Xin click vào dấu
(Bookmark) để mở PDF file
Vô LượngTình Sầu, sau khi mở PDF file click vào dấu Bookmark một lần nữa
để quí vị có mục lục theo từng bài thơ muốn đọc.



Quỳnh Hương : Đón Ánh Trăng Mơ
ĐÓN ÁNH TRĂNG MƠ
Em chính là trăng của thế nhân
Chiều lên nắng xuống đẹp vô ngần
Mầu trăng tỏa sáng phương trời nhớ
Soi thấu lòng ta mấy độ xuân.
Yêu trăng xây mộng ý thành thơ
E ấp tình trăng dáng đợi chờ
Ta mãi say mơ trời diễm tuyệt
Thôn Đoài lơ lững bóng trăng mơ
Chao ơi! Nguyệt đẹp vầng trăng thẹn
Ta mãi chờ em nửa kiếp người
Nhớ thuở bên đồi trăng trải lụa
Trên dòng sông hẹn ngắm mây trôi
Đêm nay trang trọng thềm khuê tú
Đón ánh trăng rằm vọng cố nhân
Ta ôm bóng nguyệt nghiêng trời mộng
Ý vị trào dâng đến vạn lần.
Trăng ngự hồn ta tự thuở nào
Vàng trăng trải mộng đẹp làm sao
Trong ta hiển hiện mầu nhung nhớ
Trăng nước muôn đời thương mến nhau.
HOÀNG ÁNH NGUYỆT
(21-04-2007)

ĐỜI MÀU HỒNG (1)
(Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (1) của Thi sĩ Thế Nhân)
Niềm vui có bạn tâm giao
Xoá bao ẩn ức gió gào qua song
Cuộc đời như mớ bòng bong
Thoáng buồn giây phút chìm trong luân hồi
Ta về đổ nắng ra phơi
Đổ trăng ra đếm đổ lời ra đong
Đổ bao vướng vít trong lòng
Giúp ta lấp được khoảng không bên trời
Giá ta là áng mây trôi
Dần tan trong gió mà thôi muộn phiền
Chẳng mong lắm của nhiều tiền
Chỉ mong hạnh phúc triền miên vui cười
Là ta thì thật khổ chưa
Ước ao sao được cho vừa lòng ai
Vui lên ta cứ mơ say
Làm thơ xướng họa cùng ai đôi dòng
Cười lên nắng xế dòm song
Đời xinh như mộng thỏa lòng ước mơ
Thi nhân xin chớ hững hờ
Cùng ta múa bút những lời thơ yêu.
Hoàng Ánh Nguyệt
(4/4/09)
ĐỜI MÀU HỒNG (2)
(Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (2) của Thi sĩ Thế Nhân)
Họa thơ ý thắm tình nồng
Tràn dâng kỷ niệm bên dòng Phố Giang
Cùng anh đi vớt nắng vàng
Chiều xuân én liệng Phố Giang êm đềm
Cầu Gành, múc ánh trăng đêm
Đổ vào giếng ngọc vang lên tiếng cười
Màu hồng ý thắm xuân tươi
Nhớ năm tháng cũ đầy vơi ân tình
Gíá ta là giọt nuớc xanh
Mà tan trong nắng để thành hạt mưa
Trở về đồi mộng trăng xưa
Tình thơ ý nhạn nắng mưa thắm nồng
Niềm riêng chan chứa trong lòng
Càng vui càng thấy màu hồng vấn vương
Cùng quê tình nghĩa thân thương
Mong ngày hội ngộ đồng hương chan hòa
Vườn Quỳnh vịnh nguyệt ngắm hoa
Xoá bao phiền muộn kịp hòa vào thơ
Hoàng Ánh Nguyệt
( 24-04-09 )
Dòng Thơ Nhật Quang : NỢ NON SÔNG
Xin quí vị đọc những bài thơ dưới đây, thì biết mình là người nhạy cảm (sensitive) hay vô cảm (insensitive). NQ
NỢ NON SÔNG
Ra đi chưa thoát nợ non sông,
Thương phế thư theo gởi chất chồng:
Phế liệt cơ hàn nơi chõng nát,
Binh mù sờ soạn giữa lều không.
Đứt gân xiêu vẹo, thù khinh ghét,
Cụt gối bò lê, bạn chẳng trông.
Tủi nhục quê hương thân nặng gánh,
Từng chung lửa đạn có tâm đồng?
****
Người ngay nào quịt nợ non sông,
Phúc đức mừng ta hưởng chất chồng:
Chinh chiến vạn ngày bom đạn tránh,
Viễn trình muôn dặm biển trời thông.
Mỗi trăm đô nhịn chưa nghèo bớt,
Triệu tám đồng vô giúp nổi nông.
Binh phế khổ đau, luôn nhớ giúp,
Bạn cùng chiến tuyến mãi chờ trông.
Nhật Quang
NGHĨA NỢ NON SÔNG
Ra đi còn thiếu nợ non sông?
Đừng tưởng an vui, vội bốc đồng.
Chiến hữu tật nguyền trong đói lạnh,
Cố tình ngoảnh mặt, thẹn buồn không?
Nghĩa cả quê hương cùng sống chết.
Người đi may mắn, kẻ quê trông.
Thế gian một thoáng rồi tan biến,
Thương xót chia nhau chút mặn nồng.
Xứ người nghèo bịnh khỏi lo chi,
Vị kỷ, bần keo chẳng đúng gì,
Chắc bóp nhiều thêm, rồi cũng thế,
Phế thương, tự nhớ giúp thường đi.
Lắm mồm, quịt nợ đáng khinh khi,
Nợ nghĩa non sông, chẳng thể lỳ.
Sòng phẳng phân minh, đời phước hạnh.
Mai ngày thanh thản bước tiên qui.
Nhật Quang.
THƯ THƯƠNG PHẾ BINH
Quê nhà thương phế gởi thư sang,
Cảm cảnh non sông, lụy ứa tràn.
Chiến sĩ cụt giò, mông lếch đất,
Anh hùng đui mắt, gậy quờ quang.
Mẹ nghèo quá vãng, lều tan mái,
Vợ đói dông rồi, bếp lạnh hoang.
Tủy sống đạn vương nằm liệt chiếu.
Bạn, thù, dạ sắt nỡ khoe khoang.
Nhật Quang HP.
CHÁN PHÈO
Cuộc thế từng qua thấy chán phèo,
Đủ trò, nhiều đám chết ngu theo:
Mác Lê ảo vọng xui cuồng ác,
Mao Cáo tàn hung khiến đói nghèo.
Vô Thượng lừa mê ban nước thải
Sư mang đại vũ lọng tàn đeo .
Ngón nghề cường bịp chung là nhất,
Lớn nhỏ triều đình hổ, cáo, heo.
Nhật Quang.
THƯ THƯƠNG PHẾ BINH
Thư quê thương phế kêu gào,
Đã cùng chiến tuyến nở nào làm ngơ.
Bao năm khổ nhục đến giờ,
Hoài trông chiến hữu bên bờ chát chua.
Tiền đem cờ bạc mãi thua,
Diễu đời, dối đạo, chẳng mua được gì.
Phật nào độ chẳng từ bi,
Chúa nào cho kẻ tiện ti thiên đường.
Lắm rượu gan, thận, nảo thương,
Hút thuốc hại phổi sớm bương nhị tì.
Thức ngon ăn lắm phát phì,
Chi bằng nhiều ít độ trì thương binh.
Trước đây chiến sĩ phe mình,
Xông pha lửa đạn, hy sinh cuộc đời.
Trẻ già hào phóng nên chơi,
Bỏ thói bủn xỉn tiếng đời cười chê.
Thiên thu rồi cũng ra về,
Của tiền chắc bóp, khó bề mang theo.
Ta no, thương phế đói nghèo,
Miếng cơm, manh áo, xẻ seo chân tình.
Cũng thời một kiếp nhân sinh,
Đui què liệt cụt thay mình khổ đau.
Tuy ta chẳng mấy sang giàu,
Ấm no, lành lặn, đủ màu thảnh thơi.
Đoái thương chia chút lộc trời,
Nghĩa tình, nhân đạo cho đời đẹp vui.
NhatQuang HP.
TÌNH NGHĨA CHỊ EM
Em đây thương tật rả rời,
Một đô chị giúp, vui dời mươi hôm.
Chị ơi em đói khô mồm,
Cho em chút đỉnh tiền còm cháo rau.
Thân em đui cụt liệt đau,
Chẳng kiếm ăn được, trông mau qua ngày.
Phước trời , mừng chị vận may,
Thoát nơi tù ngục đọa đày thế gian.
Chị đi xe gấm xênh xang,
Giữa thù em chịu muôn vàn đắng cay.
Chiến trường em mất chân tay,
Em hư dôi mắt, lê càng liệt suy,
Em vì Đất Nước chị đi,
Chị khoe áo gấm làm chi xứ người.
Xứ người giàu có mười mươi,
Chị khoe cho lắm chúng cười chị thôi.
Bao năm khổ nhục lắm rồi,
Chị cố chơi nổi, vang trời tiếng hơn.
Rắn rồng mồng đỏ chị sơn,
Cho em tiền đó, em ơn chị nhiều.
Thoáng qua đời đã về chiều,
Thương em giữa cảnh tiêu điều tối tăm.
Nhật Quang.
CHỐN NƯƠNG THÂN
Tây phương, Úc, Mỹ giúp thương ta,
Đùm bọc cưu mang trẻ lẫn già.
Bất nghĩa cố giàu, đua nhũng lạm,
Lắm tay nghề nghiệp tính công ma.
Giấy tờ giả mạo chúng trưng ra,
Tín dụng, tiền vô đặt số ma,
Bịp thuốc, buôn nhà, vay nợ lớn,
Lừa tiền chính phủ sống xa hoa.
Đứa buôn ma túy, đứa buôn người,
Đứa gạt ngân hàng phá sản gia.
Luật hở moi thêm bày dối giả,
Trở cờ giúp Cộng vớt dollars.
Cơm Mỹ mòn răng, khen nịnh Cộng
Hãy về luôn sống, chúng đang mong.
Việt Kiều yêu nước nguồn lao động,
Mãi ở chi đây khuấy cộng đồng.
Đá, đồng, đồ sắt bước văn minh,
Nay tới đồ gian đễu thịnh hành,
Trở tráo, ác tham tràn khắp chốn.
Trăm điều chẳng thật, vốn lưu manh.
Xuân nầy mong mỏi khắp gần xa,
Nhàng nhẹ an vui sống trẻ già.
Đây chốn nương thân xin chớ phản,
Chung lòng bồi đắp đẹp thêm ra.
Nhật Quang.
ĐỒNG VỒ
QuảngNgãi MiềnTrung có chú Đồng
Ký dâng các đão biển thềm đông,
Trả ơn bom súng quân Tàu giúp.
Phá nát non sông hiến giặc hồng.
Tây Tạng nay đây sắp xứ mình,
Tiến trình nước Việt bước điêu linh.
Công lao tiên tổ đâu còn nữa,
Muôn thuở hồn mang nỗi bất bình.
Nhật Quang.
Nguyễn thành Bửu: TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY
TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY
Cảm tác sau khi đọc lá thơ đầy nước mắt của một cô gái đang sống dật dờ tại thị xã Cần Thơ
Lúc mà các bác chưa có vô đâyCháu chưa có mặt trên đất nước nàyMá cháu còn đi đến trường mỗi sángĐúng tuổi trăng tròn, đôi má hây hây.Kể từ sau ngày các bác vô đâyÔng Ngoại bỗng nhiên bị bắt, tù đàyBà Ngoại nhớ chồng rưng rưng mỗi tốiMá cháu ưu sầu đánh mất thơ ngây. Hai năm sau ngày các bác vô đâyMột sáng mùa Đông sương trắng giăng đầyCác bác đến nhà, lưng đeo súng đạnBắt Má đi làm thủy lợi miền Tây.Một tháng đi làm thủy lợi miền TâyMá về ốm o, thân xác hao gầyMá ôm Ngoại khóc, thì thầm kể lể :– Cán bộ hiếp con, có lúc cả bầy !Rồi cháu ra đời không Ba, có MáNgoại vừa nằm xuống nên Má trắng tayBán buôn tảo tần Má nuôi cháu lớnDù không biết rằng Ba cháu là ai !Mười tám năm sau ngày bác vô đâyTài sản, cửa nhà không cánh mà bayMá cháu qua đời sau cơn bạo bệnhCòn gì bán nữa ? – Ngoài thân cháu đây ? Gần hai mươi năm sau ngày bác vôCháu mười sáu tuổi thân xác héo khôVậy mà phải bán, lấy tiền mua gạoTính ra sáng chiều – chỉ khoảng một tô !
Nguyễn thành Bửu
(04/1995)
CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ ( Tháng 6/ 1975 ) Ta sẽ kể em nghe về tháng hạ Một ngày xưa ta buộc phải lên rừng Bỏ thành thị, bỏ gia đình…tất cả Hành trang buồn, tủi nhục cõng trên lưng. Đầu đội trời chói chang, lê chân đất Cạnh bên ta rổn rảng những xích xiềng Bạn đồng hành chung chiếc còng, khóa chặc Ta trở về thời Trung Cổ đêm đen. Kìa những trại giăng giăng dây thép rỉ Những hào sâu nhọn hoắc vạt tầm vông Tường đá dựng che mảng trời âm ỉ Nòng đại liên lấp ló lổ đen ngòm. Ta đến đó cùng anh em thất trận Chốn giam cầm thừa bẩn thỉu hôi tanh Lòng ngơ ngác như sau cơn địa chấn Song sắt tù khép lại tuổi xuân xanh. Bọn cai ngục ác tâm và hung bạo Đày đọa ta, " tù cải tạo " nhọc nhằn Lao động khổ sai, tả tơi manh áo Cơn đói hoành hành, chẳng có cái ăn. Từ hạ ấy, từng thu, đông xám ngắt Nhiều năm dư dưới cùm xích tơi bời Anh em ta, những người xưa biến dạng Xem hình hài như một lũ ma trơi. Ôi còn đâu ? dáng phương phi ngạo nghễ Nếp nhung y, trán thẳng, nét kiêu hùng Con người giờ đây ngang hàng giun dế Chỉ còn trái tim, đóm lửa rưng rưng… Nhiều bạn ta đã tàn hơi lực kiệt Đành xuôi tay, thần chết dẫn ra đi Ta cúi đầu thì thầm lời thương tiếc Nỗi ngậm ngùi đau xé phút lâm ly. Từ hạ ấy, quê hương trùm tang tóc Lũ vô thần dày xéo dãy non sông Khắp thành thị, thôn quê đầy gian tặc Ta bắt đầu lạc bước kiếp lưu vong. *** Chuyện tháng hạ ngày xưa ta đã kể Bài học này, em có nhớ hay không? DƯƠNG QUÂNDương Quân : CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ
