Đầu Xuân Bàn Chuyện Dịch Thơ.

Mac Giao — van hoa Viet bi VC tan pha
Thursday, November 20, 2008 12:23 PM
KÍNH NHỜ PHỔ BIẾN CHO VIỆTNAM
ĐẦU XUÂN
LẠI BÀN CHUYỆN DỊCH THƠ
MẶC GIAO
Đầu năm 2007, tôi có cho đăng trong Giai Phẩm Xuân Đinh Hợi Việt Nam xuất bản tại San Jose bài “Đầu Xuân Bàn Chuyện Dịch Thơ”. Xuân năm nay tôi lại xin bàn tiếp về cùng đề tài. Trong bài này, tôi sẽ diễn dịch và chứng minh thêm là thơ rất khó dịch từ ngôn ngữ nọ sang ngôn ngữ kia, bởi vì mỗi ngôn ngữ có nét đặc thù và cái hay riêng. Nếu dịch đúng từng chữ, người đọc chưa chắc hiểu. Nếu dịch kiểu giải thích cho rõ ý thì lời dịch sẽ hết là thơ. Làm sao lột được ý của những câu thơ Kiều của Nguyễn Du
tiếc thay một đoá trà mi
con ong đã tỏ đường đi lối về
Đọc hai câu dịch sau đây, liệu người ngoại quốc có hiểu Nguyễn Du nói gì không và có cảm thấy mấy câu thơ này hay như chúng ta cảm không?
Alas! The devilish bee, with his suckling spout,
Through that camellia went his way in and out
(Lê Cao Phan dịch)
Một câu Kiều khác cũng trong hoàn cảnh tương tự
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung
She thought, “Had I known that deep I should lower
I’d better have let him pick my prime flower”
(Lê Cao Phan dịch)
Tôi xin chứng minh thêm lập luận này bằng một thí dụ khác: Vũ Hoàng Chương là người hay dùng điển tích. Bài thơ sau đây của ông có những chữ khi dịch sang ngoại ngữ vẫn phải để nguyên tiếng Việt, ai hiểu thì hiểu, không hiểu thì đọc chú thích bên dưới. Nếu không đọc thì làm sao biết được sự tích “Châu về Hợp Phố” và câu thơ “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự” của Trương Kế?
XUÂN BÁO NỬA ĐÊM
Bên trời vẳng báo xuân sang
Giữa khi Hợp Phố mơ màng về châu
Gác nằm hiu quạnh bấy lâu
Nửa đêm chợt nổi cái sầu Cô Tô
LE PRINTEMPS S’ANNONCE À MINUIT
De l’horizon accourt la nouvelle: “le printemps vient”
Et à ce moment Hợp Phố rêve au retour de ses perles précieuse
Là-haut, je m’entends, depuis longtemps solitaire
Il est minuit et toute la mélancolie de Cô Tô me pénètre
(Simone Kuhnen De La Coeuillerie dịch)
Dịch ý, dịch lời đã khó như vậy, nhưng còn một thứ khó hơn là dịch tứ thơ. Tứ thơ là một cái gì rất khó định nghiã. Nó là một ý, một lời làm cho người đọc sững sờ thích thú. Nó xác định câu đó là một câu thơ, không phải văn xuôi
Muôn mầu chen dự lễ đăng quang
Biển nước xanh lơ biển cát vàng
Hoa tím buông lơi sườn cỏ biếc
Ôi rừng trinh bạch đảo hồng hoang
(Vũ Hoàng Chương)
A myriad of colours jostled, attending my Coronation-day
Water-sea’s navy blue mixed up with sand-sea’s golden
Hanging on green grassed slopes, bunches of purple flowers swayed
O! white-virgin jungles! Rosy-deserted islands!
(Nguyễn Khang dịch)
Cái hay của bốn câu thơ trên vừa ở ý (ngày đầu con người được sinh ra để làm chủ vũ trụ), vừa ở lời, vừa ở hình ảnh. Những câu thơ dịch đã lột được ý của tác giả và đã nhấn mạnh những mầu sắc làm nên một bức tranh hài hòa. Tuy nhiên những ý và lời tạo nên tứ thơ thì khó dịch nổi. Chẳng hạn “buông lơi” được dịch là “swayed” có nghiã lúc lắc, đung đưa. Khó có chữ nào khác dịch hay hơn.
Nhưng qủa tình không diễn tả được hết ý tứ về những chùm hoa tím buông lơi, buông thả một cách hững hờ, như thể muốn quyến rũ người ngắm. Cũng vậy, tiếng kép “hồng hoang” không chỉ có nghiã là “hoang vắng hồng” (rosy-deserted) , nhưng diễn tả thuở khai thiên lập địa, lúc con người vừa được sinh ra và vừa khám phá ra vũ trụ. Đó là những tứ thơ cả lời lẫn ý, khó dịch vô cùng.
Vì dịch sát nghiã khó hay và khó hiểu, nên các dịch giả thơ (tôi không nói văn xuôi) thường dựa vào ý thơ để “tái sáng tác” bài thơ bằng một ngôn ngữ khác. Như vậy may ra mới có một bài thơ dịch hay. Có thể nói dịch giả cũng là người “đồng sáng tác”. Tôi xin dẫn chứng vài thí dụ
TĨNH DẠ TỨ CỦA LÝ BẠCH
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
Tôi dịch sát nghiã như sau:
Đầu giường trăng sáng tỏ
Mặt đất như mờ sương
Ngửng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương
Nhà văn Toàn Phong đã “sáng tác” một bài dịch khác với những chữ thêm vào cho bài thơ du dương hơn:
Đầu giường trăng sáng như gương
Tưởng như mặt đất dãi sương mịt mùng
Ngửng đầu trăng sáng trên không
Cúi đầu luống những trạnh lòng nhớ quê
Hai câu thơ của Thôi Hộ
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Nếu dịch sát nghiã “Không biết mặt người đã đi đến chốn nào? Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ” thì nghe chẳng có chất thơ chút nào. Phải nhờ đến thiên tài Nguyễn Du “sáng tác lại” thì hai câu thơ dịch mới thật có hồn
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Vì dịch thơ khó như thế nên ông Võ Phiến mới phát biểu một câu rất chí lý: “Cái gọi là thơ” thì dịch được, “cái thật là thơ” thì không dịch được” (Võ Phiến, Đàm Thoại, tr 268. Văn Mới, Hoa Kỳ 2000).
Nói về trường hợp thơ chữ Hán được dịch sang thơ chữ Việt, chúng ta thấy những câu dịch có vẻ thoải mái hơn, dễ lột được cái hay của câu thơ chữ Hán hơn. Sở dĩ vậy là vì trước hết các văn nhân thi bá Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc hàng ngàn năm. Những thể thơ và điển tích Trung Hoa đã trở thành thông thường đối với người làm thơ và đọc thơ Việt Nam.
Thứ đến, các cụ ta lại khôn ngoan biến tiếng Hán thành tiếng Hán Việt để vừa bảo tồn tiếng Việt (Thí dụ tiếng Quan Thoại nói ‘Chúng Hỏa Min Quơ’, các cụ đổi thành ‘Trung Hoa Dân Quốc’), vừa cho tiếng Hán năm âm bậc tương đương với nặng, sắc huyền, hỏi, ngã của tiếng Việt. Nhờ thế, nhiều khi chúng ta đọc những câu thơ tiếng Hán, dù không hiểu nghiã, vẫn thấy rất hay. Đôi khi thơ dịch sang tiếng Việt còn hay hơn nguyên tác. Thí dụ:
Cổ bề thanh động tràng thành nguyệt
Phong hỏa ảnh chiếu cam tuyền vân
(Đặng Trần Côn)
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Những câu dịch sau đây mới thật tuyệt diệu:
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch thượng tang, mạch thượng tang,
Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường
(Đặng Trần Côn)
(Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy)
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
(Đoàn Thị Điểm dịch)
Dịch thơ chữ Hán của tác giả người Hoa, dịch thơ chữ Hán của tác giả người Việt như tác phẩm Chinh Phụ Ngâm vừa trích dẫn trên đây, các cụ còn dịch thơ chữ Hán của chính mình sang tiếng Việt. Như vậy là các cụ sáng tác hai lần. Chúng ta hãy đọc những câu thơ tự dịch của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Có những bài chúng ta không ngờ là cụ sáng tác bằng hai thứ tiếng
Hữu thời xuất kinh lộ
Không sơn văn lạc tuyền
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo
Hữu tửu vị thùy mãi
Bất mãi phi vô tiền
Hữu thi vị thùy tả
Bất tả phi vô tiên
Trần phồn tháp bất hạ
Bá Nha cầm diệc nhiên
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo chẳng viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa?
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia muốn gảy, ngẩn ngơ tiếng đàn
Từ thơ ngũ ngôn chữ Hán, cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã chuyển thành thơ song thất lục bát Việt Nam rất tài tình.
Dịch thơ là một việc hao tâm tổn trí. Tôi chỉ đưa vài nhận xét và không dám phê bình ai. Muốn có một bài thơ dịch hay, người dịch phải thông hiểu cả hai ngôn ngữ, phải biết xử dụng ngôn ngữ dịch một cách thành thạo, phải có tâm hồn đồng điệu với tác giả và phải biết cộng tác với tác giả để tái sáng tác bài thơ. Vì vậy chúng ta đừng mong độc giả ngoại quốc mê thơ Kiều khi đọc bản dịch như chúng ta mê khi đọc bản quốc văn.
DỊCH THƠ THỜI ĐẠI
Ở phần trên, tôi đã góp ý thêm về việc dịch thơ của các thi hào nổi tiếng, với những vần thơ văn hoa, chải chuốt, thuộc giòng thơ cổ điển. Tiếp theo đây, tôi xin nói về việc dịch thơ của thời đại mới, với những vần thơ mới. Việc dịch thơ thời đại mới có hai đặc điểm: Một là chỉ chú trọng dịch cho xát nghiã, lột được ý câu thơ, không cần hoa hoè hoa sói. Hai là việc dịch thơ đôi khi trở thành một trò chơi giải trí với những ý và lời rất ngộ nghĩnh, gây nhiều thú vị.
Thơ thời đại được dịch nhiều nhất là thơ có tính đấu tranh. Thí dụ thơ của Nguyễn Chí Thiện được Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ và in thành tập dầy 550 trang có tựa đề “HOA ĐỊA NGỤC – THE FLOWERS OF HELL” Chúng ta hãy đọc vài bài cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh
TÔI IM LẶNG
Tôi im lặng khi kẻ thù hành hạ
Sắt thép đưa vào, đau đớn hôn mê
Câu chuyện anh hùng để trẻ con nghe
Tôi im lặng chỉ vì tôi tự nhủ:
Có ai đi rừng gặp loài dã thú
Lại mở mồm kêu xin chúng thương tha?
I KEEP SHUT
I keep shut my mouth when tortured by enemy
He may resort to iron & steel create unbearable pain
I still keep my mouth shut – leaving tales of heroism
To children – only because I told myself:
Can one imagine running into wild beasts in the forest
And swoop down to plead with them for one’s life?
TRONG BÓNG ĐÊM
Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lớp người đói rét
Phục sẵn những đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử
IN THE NIGHT
In this stifling night
There lies in wait a sun
Unspoken suffering
Hides nothing but thunder and lighting
In the starved and shivering millions
Are thousand armies
When a new era comes
All will go off like an atom bomb
BÁC HỒ RỒI LẠI
Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác mầu hồng
Nước da các cháu nhi đồng mầu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò!
UNCLE HO AND NOW UNCLE TON
Uncle Ho and now we have Uncle Ton
Both are fond of embracing our kids
The uncles’ complexion is rose-tinted
But the children’s in fact is pale blue
In between the uncles’ arse-like flat faces
Red scarves fly around thin-necked skinnies
Bài thơ cuối đã trở thành ca dao mới, không ngờ lại là thơ của Nguyễn Chí Thiện. Bản dịch Anh ngữ của Nguyễn Ngọc Bích cũng rất tới. “Mặt bành bành” mà dịch thành “arse-like flat faces” (mặt bẹt như mông) thì hết chỗ chê.
Đặc tính thứ hai của thơ dịch thời đại là tính khôi hài. Cũng ông Võ Phiến đã phát giác ra những câu thơ nửa tiếng Việt nửa tiếng Triều Châu của đồng bào Việt gốc Hoa vùng Bạc Liêu:
Chờ anh em mãn kiếp chờ
Chờ cho ến xại vượt bờ khùi ui
(Chờ cho rau muống vượt bờ nở bông)
Chim kêu ngồ ố, láng dài
A hia xủa bố, a mùi ùm chai
(Anh đi lấy vợ, em rày chẳng hay)
Những câu lục bát giao lưu ngôn ngữ này làm tôi nhớ tới một câu thơ một bà me Tây gửi cho ông chồng đã về Pháp
Từ khi “toa kít-tê dơ”
“Bon nơ” cũng lắm, “man lơ” cũng nhiều
( “Toa kít-tê dơ”: Toi quitter je: anh rời bỏ em. “Bon nơ”: Bonheur: hạnh phúc. “Man lơ”: đau khổ, bất hạnh)
Thời buổi này, khi người ta muốn tống khứ những uẩn ức ra khỏi lòng, người ta hay trao đổi với nhau những điều gọi là khôn ngoan, nhưng thật ra là than thân trách phận bằng một giọng cố làm ra vẻ tếu để giảm bớt sự bi thảm. Cách đây 3 năm, 2004, tôi có nhận được một “message” của Vũ Thư Nguyên in lại Mười Điều về Hôn Nhân bằng Anh ngữ, bên cạnh có dịch sang Việt ngữ bằng thơ lục bát. Tôi không biết ai là tác giả của những bài dịch này. Tôi thấy hay và đã đóng góp với anh em bằng cách hiệu đính lại một số câu, chữ cho xát nghiã. Thí dụ những câu sau đây:
Marriage and love are purely matter of chemistry
That is why wife treats husband like toxic waste
Hôn nhân cùng với ái tình
Như hai hóa chất rập rình hút nhau
Thế nên bà vợ về sau
Coi chồng như chất độc mầu da cam
A man is incomplete until he is married
After that, he is finished
Đàn ông không vợ chưa hùng
Vợ rồi là kể… cáo chung cuộc đời
Cuối cùng là một truyện kể thêm chưa ai chịu dịch. Tôi đánh liều dịch đại. Xin các bà các cô đừng hỏi tội tôi. Tôi chỉ là người dịch tài tử, không chuyên nghiệp, nhất là không phải tác giả của truyện này:
A long married couple came upon a wishing well.
The wife leaned over, made a wish and threw in a penny.
The husband decided to make a wish too.
But he leaned over too much, fell into the well, and drowned.
The wife was stunned for a moment
but then smiled: “ IT REALLY WORKS!”
Một đôi đã lấy nhau lâu
Đứng trên miệng giếng nguyện cầu nỗi riêng
Bà cầu và ném đồng tiền
Ông nghiêng mình khấn, ngã liền giếng sâu
Bàng hoàng một thoáng chẳng lâu
Bà cười tủm tỉm: “TA CẦU ĐƯỢC NGAY!”
Dịch thơ là để giới thiệu với người ngoại quốc văn chương của nước mình. Trong hoàn cảnh hiện nay chúng ta lại càng cần dịch nhiều hơn cho những người trẻ Việt Nam sống ở nước ngoài có thể đọc và hiểu về văn học quê hương. Tôi không có chuyên môn dịch thuật, chỉ chú tâm sưu tầm những bài đã được các vị khác dịch để giới thiệu những nét hay đẹp của thơ Việt Nam. Trong thời buổi giao lưu đủ thứ, giao lưu văn hóa phải được đặt lên hàng quan trọng. Chúng ta cần biết người và cũng cần người biết chúng ta. Chính vì vậy mà tại Nhật, cũng như tại nhiều quốc gia tiến bộ khác, số sách ngoại quốc dịch sang tiếng Nhật được xuất bản mỗi năm cũng ngang ngửa như số sách viết bằng tiếng Nhật.
Nói chuyện dịch thơ nhân buổi đầu xuân cũng là để tìm lại chút hương xưa, để đưa hồn về với những mùa xuân đã đi qua trong mộng tưởng. Nơi đất khách quê người, xuân vẫn về nhưng chúng ta không có cảnh xuân quê hương, không được hưởng không khí xuân, tình cảm xuân như khi còn ở quê nhà. Trong khi đó, nhìn về quê hương, ta thấy đa số đồng bào cũng đón xuân theo kiểu “Vui là vui gượng kẻo là”. Chúng ta ở “bên trời lận đận” cũng chỉ còn biết nâng chén rượu cay, ngâm câu thơ của cụ Tiên Điền để chia sẻ nỗi niềm với nàng Kiều
Mặc người mây Sở mưa Tần
Những mình nào có biết xuân là gì
Offrait-elle aux clients les délices entières,
Nul désir ne venait pour ses joies printanières
(Lê Cao Phan dịch)
SÁCH THAM KHẢO
– Communion Cảm Thông, Vũ Hoàng Chương, Sài Gòn 1960. Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ.
– Tâm Tình Người Đẹp, Vũ Hoàng Chương, Editions Nguyễn Khang, Sài Gòn 1961.
– Chinh Phụ Ngâm và tâm thức lãng mạng của kẻ lưu đầy, Lê Tuyên, Văn Nghệ tái bản tại Hoa Kỳ, 1988.
– Histoire de Kieu, bản dịch Pháp ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994, .
– The Story of Kieu, bản dịch Anh ngữ của Lê Cao Phan, Nhà xuất bản Văn Nghệ, TP HCM, 1996.
– Hoa Địa Ngục – The Flowers of Hell, thơ Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Ngọc Bích dịch sang Anh ngữ. Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 1996.



Dòng thơ thi sĩ Nguyễn Đông Giang

 

 

 

 

TUYỂN TẬP THƠ VÔ LƯỢNG TÌNH SẦU 

 

Xin click vào dấu  (Bookmark) để mở PDF file

 Vô LượngTình Sầu, sau khi mở PDF file click vào dấu Bookmark một lần nữa

để quí vị có mục lục theo từng bài thơ muốn đọc. 

 

B Ỏ    Đ Ấ T     
       . Mến tặng những tấm lòng VN tha hương – ndg
                     
 
Xa nước bao năm , còn nhớ nhà
Tim còn nồng ấm , bài Quốc ca   
Còn sống lưu vong , ta còn hát
Nghìn trùng sông núi gọi . Thiết tha
 
               Bỏ đất ra đi đầu đã bạc
               Đêm mơ , ta về lại quê nhà    
              Giơ tay ôm trọn, trời đất cũ
              Nỗi lòng Tây tạng . Nỗi lòng ta !
                                                                                                                           
Bỏ quê ! nghĩ đến buồn nát dạ     
Ừ thôi ! quê mất , còn đâu nhà
Em về làm vợ , anh bộ đội
Ta không buồn , sao lại xót xa !
 
              Bỏ đất xa quê, đời sông chợ
              Mất trắng em , chưa mất chỗ về
            Nơi ra đời , oe oe tiếng khóc   
             Hồn ta ở đó , hởi ! cố quê
 
Ba mấy năm trời , mây qua cửa
Ta tưởng đâu quên , chuyện nhớ nhà
Ta tưởng thời gian , nhòa tất cả
Sao nhòa cố thổ, trong tim ta
 
Quê xa , những người muôn năm cũ
Sống chết , hồn treo ở bên trời ?
Bên nầy buồn vui , lòng ta ai biết
Giọng khàn đêm gọi . Cố hương ơi !
 
    Cali 04122007 – NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 ——————————————————————————————- 
 
 
CHIỀU TRONG QUÁN RƯỢU QUE Â NHÀ
                          *những ngày ra tù CS,sau 1975-ndg
 
 
Chiều có ta ngồi , trong quán rượu
Uống một mình , đợi kẻ đi xa
Rượu chẳng ấm , được lòng kẻ đợi
Ta không buồn , sao lại thở ra
 
 
          Cắn miếng cá khô , uống ly rượu thuốc
          Ta đi đâu , hay trở về nhà
          Nồi cơm nguội , vợ ta đang đợi
          Có thế mà , nghĩ mãi không ra
 
 
Ta uống rượu , vâng ta uống rượu
Có ai cười , có ai cũng như ta
Vắng bạn hữu , mời cô cốc rượu
Hãy vui lòng , cùng gã ba hoa
 
 
          Đời có thế , phải không cô bán rượu ?
          Ta có gì , để gọi điêu ngoa
          Đời đã hỏng , hỏng thêm tí nữa
          Đâu có gì , để gọi bê tha .
 
 
                   NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 LỜI  CHO THỊ LỘ
                  -Kính tặng: N/V Nam Dao,nhân đọc Con mắt xanh”-ndg    
 
 
 
Ta là Nguyễn Trãi , em Thị Lộ                                             
Đêm nồng tình đượm , giữa trăng sao                         
Thu tàn , lá rụng , đời huyễn mộng                            
Ngồi sát vào em , sát nữa vào  
                  
 
Những chiếc lá , trên mặt hồ rụng                       Tình yêu Tổ quốc là như vậy
Đong đưa bay , mờ mịt thế gian                          Còn em Thị Lộ , ta nghĩ sao      
 Đêm nằm nghe mưa , trời ơi ! lạnh                     Em ơi ! hạnh phúc trong cái nhỏ
Ta sợ , buồn ơi ! ta mất nàng                               Thế, yêu một người là thế nào ?
         
                                                                                   
Nhác thấy hình hài em , ở đó                         Là thế nào ư ! ai biết được ù
Vành môi cong, trầu quét, viền hồng             Trải ta , lòng trải trắng mây xa                     
Em nhìn lên, vòm cây cúi xuống                    Lộ ơi ! ngồi sát ôm ta lại           
Em buồn, ngấn nước, lệ tràn sông                Ta là em , em cũng là ta .
        
                                                                                   NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
            Áo em tứ thân , màu biển biếc 
             Một thoáng ấp e , đủ mịt mù                     
             Ừ nhỉ , ta tiếc đời hữu hạn
             Bao giờ , xây đắp cái nghìn thu !
 
 
Em là Thị Lộ, hay ai khác
Chỉ có em, còn lại đời ta
Non sông xã tắc , yêu thì dễ
Yêu người như em, khó như là
 
 
             Tình yêu Tổ quốc , sao trừu tượng
             Được gạn lọc qua , chữ Thánh hiền       
             Ta say mê , không còn ý thức
             Đã không còn sao lại thiêng liêng ?
 
 
————————————————————–
 
 
 NGƯỜI CÀ CHỚN
                                  *   Thân tặng : -LTE bạn tù CS sau 1975
                                                  -Mai xuân Châu , Nguyễn phúc sông Hương – ndg
 
 
 
 
Ta hay gọi bạn , người cà chớn
Biệt tăm , tưởng bạnõ chết lâu rồi
Không ngờ lặn lội , qua tìm tớù
Không ngờ vác xác , tìm nhà thơ
 
Xin lỗi , gọi bạn người cà chớn
Ta nhập tâm , tên ấy mất rồi
Không thể gọi bạn , tên nào khác
Nên cứ yên lòng , một cái tên
 
Như ta yên lòng , bạn còn sống
Lâu nay , tưởng bạnõ gục trong tù
Lâu nay , tưởng bạn theo việt cộng
Ta buồn… chuyện đá nát vàng phai !
 
Ta xúc động , thật tình xúc động
Gặp người , nhớ bạn cũ … lệ rơi
Một thời sống chết , trên chiến địa
Đạn bom không chết , chết trong tù
 
Thoát tù nhỏ , vướng vào tù lớn
Ta lưu vong , trên quê hương mình
Không cà chớn , cũng thành cà chớn
Không bỏ quê , đành phải bỏ quê
 
              Đất tròn , gặp lại người cà chớn
             Cuối nẽo đường mây , cuối cuộc đời !
           Cõi người mù mịt , tăm hơi cá
             Vậy màø vác xác , về thăm tôi …
 
              Cali 2009 – NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
       
 
 
 
 
 
 
 
 
 NHỮNG CÂU THƠ MỘT THỦA QUÊ NHÀ 
 
 
 
 
Những câu thơ – một thủa quê nhà
Anh đọc lại những ngày lạc xứ
Ra đi – ngàn dâu – dặm lữ
Thơ buồn – nhật nguyệt cũng buồn theo
 
          Những câu thơ – anh viết cho em
          Lẽo đẽo theo anh những ngày dong ruổi
          Bến nước vô cùng – đâu là chặng cuối
          Bao giờ trở lại cố hương
 
Biết bao giờ trở lại cố hương
Biển nước mang mang – đoạn đành ngoái lại
Đâu là quê hương – mây mờ quan ải
Chỉ biết lòng mình – ruột thắt quặn đau
 
          Những câu thơ đầy ắp thương yêu
          Anh đã viết dành riêng cho Mẹ
          Chiến tranh về lấy đi tuổi trẻ
          Mẹ già – con Mẹ cũng già theo
 
Thưở quê nhà – qua đò đi học
Mẹ bới khoai – cho con lót lòng
Con qua sông – kiếm đôi ba chữ
Sau nầy – đở khổ tấm than
 
          Những câu thơ – một thời xa xưa
          Viết chẳng hết muôn vàn kỷ niệm
           Non nước nghìn trùng – anh còn dâu biển
          Em chẳng lấy chồng ở vậy làm chi
 
Những câu thơ – một đời yêu nhau
Anh đọc lại những ngày lạc xứ
Lưu vong hề – cùn chân lữ thứ
Anh tiếc hoài – chẳng ở với em .    
 
NGUYỄN ĐÔNG GIANG 
 
 
 
 
 
WESTMINSTER , NGÀY ANH VỀ
                                           *Tặng những chiếc áo dài VN ở quê người – NĐG
 
 
 
 
Lòng mừng , về thăm Westminster                                              
Đi trên Bolsa , vàng rực phốù cờ                                                   
Áo dài Việt Nam , bay trên đất lạ                                                
Cuối tháng Tư buồn , anh viết bài thơ                                          
 
            Áo dài em bay , tiếc ngày tháng cũ
            Còn nhớ không em , xưa buổi lên đường                                     
            Em mang Tổ quốc , đi vượt biển
            Thơ , vẫn vô cùng , nhớ quá quê hương
 
Về đây gặp , những bạn bè xưa
Đời tù tội , nhiều năm chung đủ
Người thù người , cắt tình máu mủ
Đủ rồi , anh bỏ đất sang sông
 
            Anh tin rằng , như có cố hương
           Theo chúng ta , những ngày lạc bước
            Ngày tháng này , của bao năm trước
            Sài gòn cờ bay , rộn rã tấm lòng                                       
 
Em có tình , có nghĩa với non sông
Nên mới gặp , anh đem lòng cảm mến
Nước Mỹ , những ngày anh mới đến
Nhìn lá cờ bay , nước mắt chảy dài
 
             Thành phố anh về , đã có bóng em
             Con đường Bolsa , đầy dấu chân mình
             Tiếng nói tiếng cười , người lên kẻ xuống
             Hơi hám quê nhà , ấm buổi nhục vinh
 
Lòng mừng , về thăm Westminster
Thành phố tháng Tư , đẹp những áo dàiø
Trong nỗi vui buồn , anh xin quên hết
Quên cả chính mình , đời đã tàn phai
 
  
NGUYỄN ĐÔNG GIANG 



Quỳnh Hương : Đón Ánh Trăng Mơ

ĐÓN ÁNH TRĂNG MƠ

 

Em chính là trăng của thế nhân

Chiều lên nắng xuống đẹp vô ngần

Mầu trăng tỏa sáng phương trời nhớ

Soi thấu lòng ta mấy độ xuân.

 

Yêu trăng xây mộng ý thành thơ

E ấp tình trăng dáng đợi chờ

Ta mãi say mơ trời diễm tuyệt

Thôn Đoài lơ lững bóng trăng mơ

 

Chao ơi! Nguyệt đẹp vầng trăng thẹn

Ta mãi chờ em nửa kiếp người

Nhớ thuở bên đồi trăng trải lụa

Trên dòng sông hẹn ngắm mây trôi

 

Đêm nay trang trọng thềm khuê tú

Đón ánh trăng rằm vọng cố nhân

Ta ôm bóng nguyệt nghiêng trời mộng

Ý vị trào dâng đến vạn lần.

 

Trăng ngự hồn ta tự thuở nào

Vàng trăng trải mộng đẹp làm sao

Trong ta hiển hiện mầu nhung nhớ

Trăng nước muôn đời thương mến nhau.

 

                 HOÀNG ÁNH NGUYỆT

                               (21-04-2007)

 

 

 

 

ĐỜI MÀU HỒNG (1)

    (Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (1) của Thi sĩ Thế Nhân)

 

Niềm vui có bạn tâm giao

Xoá bao ẩn ức gió gào qua song

Cuộc đời như mớ bòng bong

Thoáng  buồn giây phút chìm trong luân hồi

Ta về đổ nắng ra phơi

Đổ trăng ra đếm đổ lời ra đong

Đổ bao vướng vít trong lòng

Giúp ta lấp được khoảng không bên trời

Giá ta là áng mây trôi

Dần tan trong gió mà thôi muộn phiền

Chẳng mong lắm của nhiều tiền

Chỉ mong hạnh phúc triền miên vui cười

Là ta thì thật khổ chưa

Ước ao sao được cho vừa lòng ai

Vui lên ta cứ mơ say

Làm thơ xướng họa cùng ai đôi dòng

Cười lên nắng xế dòm song

Đời xinh như mộng thỏa lòng ước mơ

Thi nhân xin chớ hững hờ

Cùng ta múa bút những lời thơ yêu.  

         Hoàng Ánh Nguyệt
(4/4/09)

                                                                                                                                                                               

ĐỜI MÀU HỒNG (2)

 (Họa lại bài thơ Đời Màu Hồng (2) của Thi sĩ Thế Nhân)

 

                      Họa thơ ý thắm tình nồng

                      Tràn dâng kỷ niệm bên dòng Phố Giang

 

Cùng anh đi vớt nắng vàng

Chiều xuân én liệng Phố Giang êm đềm

Cầu Gành,  múc ánh trăng đêm

Đổ vào giếng ngọc vang lên tiếng cười

 

Màu hồng ý thắm xuân tươi

Nhớ năm tháng cũ đầy vơi ân tình

Gíá ta là giọt nuớc xanh

Mà tan trong nắng để thành hạt mưa

 

Trở về đồi mộng trăng xưa

Tình thơ ý nhạn nắng mưa thắm nồng

Niềm riêng chan chứa trong lòng

Càng vui càng thấy màu hồng vấn vương

 

Cùng quê tình nghĩa thân thương

Mong ngày hội ngộ đồng hương chan hòa

Vườn Quỳnh vịnh nguyệt ngắm hoa

Xoá bao phiền muộn kịp hòa vào thơ

                          Hoàng Ánh Nguyệt

                                ( 24-04-09 )

 

 




Dòng Thơ Nhật Quang : NỢ NON SÔNG

Xin quí vị đọc những bài thơ dưới đây, thì biết mình là người nhạy cảm (sensitive) hay vô cảm (insensitive). NQ

 

NỢ NON SÔNG

Ra đi chưa thoát nợ non sông,

Thương phế thư theo gởi chất chồng:

Phế liệt cơ hàn nơi chõng nát,

Binh mù sờ soạn giữa lều không.

Đứt gân xiêu vẹo, thù khinh ghét,

Cụt gối bò lê, bạn chẳng trông.

Tủi nhục quê hương thân nặng gánh,

Từng chung lửa đạn có tâm đồng?

        ****

Người ngay nào quịt nợ non sông,

Phúc đức mừng ta hưởng chất chồng:

Chinh chiến vạn ngày bom đạn tránh,

Viễn trình muôn dặm biển trời thông.

Mỗi trăm đô nhịn chưa nghèo bớt,

Triệu tám đồng vô giúp nổi nông.

Binh phế khổ đau, luôn nhớ giúp,

Bạn cùng chiến tuyến mãi chờ trông.

Nhật Quang

 

NGHĨA NỢ NON SÔNG

Ra đi còn thiếu nợ non sông?

Đừng tưởng an vui, vội bốc đồng.

Chiến hữu tật nguyền trong đói lạnh,

Cố tình ngoảnh mặt, thẹn buồn không?

 

Nghĩa cả quê hương cùng sống chết.

Người đi may mắn, kẻ quê trông.

Thế gian một thoáng rồi tan biến,

Thương xót chia nhau chút mặn nồng.

 

Xứ người nghèo bịnh khỏi lo chi,

Vị kỷ, bần keo chẳng đúng gì,

Chắc bóp nhiều thêm, rồi cũng thế,

Phế thương, tự nhớ giúp thường đi.

 

Lắm mồm, quịt nợ đáng khinh khi,

Nợ nghĩa non sông, chẳng thể lỳ.

Sòng phẳng phân minh, đời phước hạnh.
Mai ngày thanh thản bước tiên qui.

Nhật Quang.

 

THƯ THƯƠNG PHẾ BINH

Quê nhà thương phế gởi thư sang,

Cảm cảnh non sông, lụy  ứa  tràn.

Chiến sĩ cụt giò, mông lếch đất,

Anh hùng đui mắt, gậy quờ quang.

Mẹ nghèo quá vãng, lều tan mái,

Vợ đói dông rồi,  bếp lạnh hoang.

Tủy sống đạn vương nằm liệt chiếu.

Bạn, thù, dạ sắt  nỡ  khoe khoang.

Nhật Quang HP.

 

CHÁN PHÈO

Cuộc thế từng qua thấy chán phèo,   

Đủ trò, nhiều đám chết ngu theo:      

Mác Lê ảo vọng xui cuồng ác,            

Mao Cáo tàn hung khiến đói nghèo.  

Vô Thượng lừa mê ban nước thải      

Sư  mang  đại  vũ  lọng  tàn  đeo          .    

Ngón nghề cường bịp chung là nhất,

Lớn nhỏ triều đình hổ, cáo, heo.       

Nhật Quang. 

 

THƯ THƯƠNG PHẾ BINH

Thư quê thương phế kêu gào,

Đã cùng chiến tuyến nở nào làm ngơ.

Bao năm khổ nhục đến giờ,

Hoài trông chiến hữu bên bờ chát chua.

Tiền đem cờ bạc mãi thua,

Diễu đời, dối đạo, chẳng mua được gì.

Phật nào độ chẳng từ bi,

Chúa nào cho kẻ tiện ti thiên đường.

Lắm rượu gan, thận, nảo thương,

Hút thuốc hại phổi sớm bương nhị tì.

Thức ngon ăn lắm phát phì,

Chi bằng nhiều ít độ trì thương binh.

Trước đây chiến sĩ phe mình,

Xông pha lửa đạn, hy sinh cuộc đời.

 

Trẻ già hào phóng nên chơi,

Bỏ thói bủn xỉn tiếng đời cười chê.

Thiên thu rồi cũng ra về,

Của tiền chắc bóp, khó bề mang theo.

Ta no, thương phế đói nghèo,

Miếng cơm, manh áo, xẻ seo chân tình.

Cũng thời một kiếp nhân sinh,

Đui què liệt cụt thay mình khổ đau.
Tuy ta chẳng mấy sang giàu,

Ấm no, lành lặn, đủ màu thảnh thơi.

Đoái thương chia chút lộc trời,

Nghĩa tình, nhân đạo cho đời đẹp vui.
NhatQuang HP.

 

TÌNH NGHĨA CHỊ EM

Em đây thương tật rả rời,

Một đô chị giúp, vui dời mươi hôm.

Chị ơi em đói khô mồm,

Cho em chút đỉnh tiền còm cháo rau.

Thân em đui cụt liệt đau,

Chẳng kiếm ăn được, trông mau qua ngày.

Phước trời , mừng chị vận may,

Thoát nơi tù ngục đọa đày thế gian.

Chị đi xe gấm xênh xang,

Giữa thù em chịu muôn vàn đắng cay.

Chiến trường em mất chân tay,

Em hư dôi mắt, lê càng liệt suy,

Em vì Đất Nước chị đi,

Chị khoe áo gấm làm chi xứ người.

Xứ người giàu có mười mươi,

Chị khoe cho lắm chúng cười chị thôi.

Bao năm khổ nhục lắm rồi,

Chị cố chơi nổi, vang trời tiếng hơn.

Rắn rồng mồng đỏ chị sơn,

Cho em tiền đó, em ơn chị nhiều.

Thoáng qua đời đã về chiều,

Thương em giữa cảnh tiêu điều tối tăm.

Nhật Quang.

 

CHỐN NƯƠNG THÂN

Tây phương, Úc, Mỹ giúp thương ta,

Đùm bọc cưu mang trẻ  lẫn  già.

Bất nghĩa cố giàu, đua nhũng lạm,

Lắm tay nghề nghiệp tính công ma.

 

Giấy tờ giả mạo chúng trưng ra,

Tín dụng, tiền vô đặt số ma,

Bịp thuốc, buôn nhà, vay nợ lớn,

Lừa tiền chính phủ sống xa hoa.

 

Đứa buôn ma túy, đứa buôn người,

Đứa gạt ngân hàng phá sản gia.

Luật hở moi thêm bày dối giả,

Trở cờ giúp Cộng vớt dollars.

 

Cơm Mỹ mòn răng, khen nịnh Cộng

Hãy về luôn sống, chúng đang mong.

Việt Kiều yêu nước nguồn lao động,

Mãi ở chi đây khuấy cộng đồng.

 

Đá, đồng, đồ sắt bước văn minh,

Nay tới đồ gian đễu thịnh hành,

Trở tráo, ác tham tràn khắp chốn.

Trăm điều chẳng thật, vốn lưu manh.

 

Xuân nầy mong mỏi khắp gần xa,

Nhàng nhẹ an vui sống trẻ già.

Đây chốn nương thân xin chớ phản,

Chung lòng bồi đắp đẹp thêm ra.

Nhật Quang.

 

ĐỒNG VỒ

QuảngNgãi MiềnTrung có chú Đồng

Ký dâng các đão biển thềm đông,

Trả ơn bom súng quân Tàu giúp.

Phá nát non sông hiến giặc hồng.

 

Tây Tạng nay đây sắp xứ mình,
Tiến trình nước Việt bước điêu linh.
Công lao tiên tổ đâu còn nữa,
Muôn thuở hồn mang nỗi bất bình.
Nhật Quang
.




Nguyễn thành Bửu: TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY

TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY

Cảm tác sau khi đọc lá thơ đầy nước mắt của một cô gái đang sống dật dờ  tại thị xã Cần Thơ
 

Lúc mà các bác chưa có vô đâyCháu chưa có mặt trên đất nước nàyMá cháu còn đi đến trường mỗi sángĐúng tuổi trăng tròn, đôi má hây hây.Kể từ sau ngày các bác vô đâyÔng Ngoại bỗng nhiên bị bắt, tù đàyBà Ngoại nhớ chồng rưng rưng mỗi tốiMá cháu ưu sầu đánh mất thơ ngây. Hai năm sau ngày các bác vô đâyMột sáng mùa Đông sương trắng giăng đầyCác bác đến nhà, lưng đeo súng đạnBắt Má đi làm thủy lợi miền Tây.Một tháng đi làm thủy lợi miền TâyMá về ốm o, thân xác hao gầyMá ôm Ngoại khóc, thì thầm kể lể :– Cán bộ hiếp con, có lúc cả bầy !Rồi cháu ra đời không Ba, có MáNgoại vừa nằm xuống nên Má trắng tayBán buôn tảo tần Má nuôi cháu lớnDù không biết rằng Ba cháu là ai !Mười tám năm sau ngày bác vô đâyTài sản, cửa nhà không cánh mà bayMá cháu qua đời sau cơn bạo bệnhCòn gì bán nữa ? – Ngoài thân cháu đây ? Gần hai mươi năm sau ngày bác vôCháu mười sáu tuổi thân xác héo khôVậy mà phải bán, lấy tiền mua gạoTính ra sáng chiều – chỉ khoảng một tô !

Nguyễn thành Bửu 
(04/1995)

Dương Quân : CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ

CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ

                   ( Tháng 6/ 1975 )

 

 

   Ta sẽ kể em nghe về tháng hạ

   Một ngày xưa ta buộc phải lên rừng

   Bỏ thành thị, bỏ gia đình…tất cả

   Hành trang buồn, tủi nhục cõng trên lưng.

 

   Đầu đội trời chói chang, lê chân đất

   Cạnh bên ta rổn rảng những xích xiềng

   Bạn đồng hành chung chiếc còng, khóa chặc

   Ta trở về thời Trung Cổ đêm đen.

 

   Kìa những trại giăng giăng dây thép rỉ

   Những hào sâu nhọn hoắc vạt tầm vông

   Tường đá dựng che mảng trời âm ỉ

   Nòng đại liên lấp ló lổ đen ngòm.

 

   Ta đến đó cùng anh em thất trận

   Chốn giam cầm thừa bẩn thỉu hôi tanh

   Lòng ngơ ngác như sau cơn địa chấn

   Song sắt tù khép lại tuổi  xuân xanh.

 

   Bọn cai ngục ác tâm và hung bạo

   Đày đọa ta, " tù cải tạo " nhọc nhằn

   Lao động khổ sai, tả tơi manh áo

   Cơn đói hoành hành, chẳng có cái ăn.

 

   Từ hạ ấy, từng thu, đông xám ngắt

   Nhiều năm dư dưới cùm xích tơi bời

   Anh em ta, những người xưa biến dạng

   Xem hình hài như một lũ ma trơi.

 

   Ôi còn đâu ? dáng phương phi ngạo nghễ

   Nếp nhung y, trán thẳng, nét kiêu hùng

   Con người giờ đây ngang hàng giun dế

   Chỉ còn trái tim, đóm lửa rưng rưng…

 

   Nhiều bạn ta đã tàn hơi lực kiệt

   Đành xuôi tay, thần chết dẫn ra đi

   Ta cúi đầu thì thầm lời thương tiếc

   Nỗi ngậm ngùi đau xé phút lâm ly.

 

   Từ hạ ấy, quê hương trùm tang tóc

   Lũ vô thần dày xéo dãy non sông

   Khắp thành thị, thôn quê đầy gian tặc

   Ta bắt đầu lạc bước kiếp lưu vong.

 

               ***

   Chuyện tháng hạ ngày xưa ta đã kể

   Bài học này, em có nhớ hay không?

 

 

              DƯƠNG QUÂN