Chinh Nguyên : Những Vết Chân Di

Ghi Chú: Link dưới có rất nhiều sách Việt, Hoa, Anh, Pháp… Bấm vào link và các tabs để tìm theo tác giả, thể lọai ,…

 
                                            http://vietmessenge r.com/books/ ?author=list

———————————————————————————————–

Những Vết Chân Di

Buổi sáng sớm có nắng thu luồn qua song cửa sổ, cành rung nhẹ theo gío, và vài chiếc lá vàng lơ lửng trên không. Tôi chợt gõ trên keyboard bài thơ ngẫu cảm thu hoài:

Thu về sao để tình rơi rụng
Sắc úa vàng bay đổ xuống đồi
Nắng sớm còn hong duyên cỏ biếc
Lòng thu.. tuổi hạc nhớ xa xôi.

Thu mấy độ đau sầu viễn xứ…?
Sợi tóc bay trơ trụi nỗi buồn
Trời xanh thẳm vắng mây xao động
Ai nhớ đây…! Sao có lệ tuôn….?

Tôi đang định viết tiếp, bỗng có tiếng báo động của PC nhắc nhở có điện thư, lòng tôi tự nhiên bồi hồi, và quyết định bỏ ngang bài thơ dang dở viết để mở e-mail đọc:

Thân chào các bạn.
Chiều nay CHS Mai Thu Tung là em gái bạn Mai Tiến Thành phone cho vợ chồng chúng tôi, báo tin MAI TIẾN THÀNH ĐÃ VĨNH VIỄN RA ĐI sau thời gian lâm trọng bệnh.
Xin thông báo đến toàn thể gia đình TH BMT tin thật buồn này.
Mai Thu Tung cho biết các bạn có thể đến viếng Thành tại nhà quàn #3 Peek Family Home Funeral Bolsa st. Wesminster, CA vào ngày Chúa nhật 12/10/08 (cuối tuần này).

THIỆP-MAI

Lòng tôi tự nhiên chùng lại và nhớ lại những kỷ niệm mấy chục năm qua từ thời đệ thất Trung Học Nguyễn Trường Tộ, ngôi trường trung học đầu tiên của tỉnh Ban Mê Thuột lấy dẫy nhà Micola hai lầu, và ngăn ra làm lớp học bên cạnh công viên trước cửa biệt dinh Bảo Đại. Chính vì thế mỗi lần giờ ra chơi là chúng tôi quây quần bên gốc phượng già trên thảm cỏ xanh, và nhường cho nữ sinh ngồi chật ghế công viên. Cũng vì những cây phượng già trổ bông khi hè về đã làm tôi thốt ra hai câu thơ khi còn đệ ngũ trên con đường tôi gọi là đường Phượng Mơ có hai dẫy phượng trồng hai bên đường bên cạnh Công Viên ở giữa hai vườn cà phê của Ông Huấn, lối đi xuống suối Buri (Mourier) :

Ô kìa hoa phượng tan thành máu
Nhỏ xuống hồn tôi chết một đời…!

Đời có những đổi thay, nên chúng tôi đã phải chuyển trường sau khi trường mới đã xây dựng xong trên đường Hùng Vương và đổi tên thành Trung Học Ban Mê Thuột, bên suối nhà đèn và cách con suối có đồi bắp xanh mỗi mùa mưa lũ.

Ven suối phía bên trường có con đường mòn vào buôn (làng) Ale B của người thiểu số Radê, dọc theo đường mòn có nhưng dây leo của hoa trinh nữ .

Những lúc hai đứa tôi thơ thẩn trên đường mòn, dong chơi trước giờ học bên cạnh những bờ lau sậy bên suối, Thành thường nói với tôi :
– Loài hoa này nhìn thật đẹp với màu tím buồn, tròn tròn dễ thương như viên bi. Nhưng nếu thò tay hái, gai sẽ đâm vào bàn tay, lá tự nhiên cụp lại như cô gái trong lớp mình hay mắc cỡ thẹn thùng. Khi mày cẩn thật nhẹ nhàng luồn tay qua những dây gai của nó để hái được bông, và cũng cẩn thận rút tay ra thì nó đã nát trong tay mày rồi, vì hoa quá mềm và yếu ớt. chỉ ngắm mà mà không hái được….!

– Mày cũng có tâm hồn thơ thẩn..!
– Thơ cái quái gì, tao thấy sao nói vậy, mà chính tao đã bị gai của nó cắn rồi !

Mai Tiến Thành bạo dạn, ngổ ngáo hơn tôi trong những lần bên những bạn gái cùng lớp, hơn nữa Thành có dáng đẹp trai, trắng trẻo ăn nói có duyên, nên được nhiều bạn gái cùng lớp thich truyện trò, cho nên bên cạnh Thành lúc nào cũng vang tiếng cười con gái, họ cười quên cả dáng dấp e lệ thẹn thùng bản tánh nữ sinh. Xong lớp đệ Tứ, có lần tôi hỏi Thành :

– Mày có yêu cô bé nào trong nhóm bạn bè không vậy ?
– Yêu cái con khỉ gì…! Nhiều quá, tụi nó vây quanh tao là vì vui thôi, tao chẳng để ý ai cả. Tụi mình lớn lên là sẽ vào quân đội… chiến tranh mày hiểu không …!

Thành nhìn tôi :

– Còn mày ? Mày phải nói… Nếu không tao cướp mất đào của mày ráng chịu đó nghe…

Tôi yên lặng mở cuốn sách việt văn, trong đó đầy thơ tôi viết trong các phần bỏ trống , và có ép một cành nhỏ hoa bằng lăng Diễm Diễm đã hái bên bờ suối Buri (Mourier), nhưng không nói cho Thành Biết chủ của cành hoa bằng lăng ép là ai. Vi` tôi cũng chẳng biết ý nghĩa của sự cho tặng , và tình nàng Diễm Diễm ra sao, tôi chỉ nhận với tuổi học trò mơ mộng thế thôi. Dưới cành hoa bằng lăng ép khô có bài thơ mà tôi chỉ còn nhớ hai câu :

Bằng lăng tím em tặng anh bên suối
Phải tình em hay là nỗi khổ dau…!

Sau mùa hè đệ tam, tôi bỏ trường vào dòng tu, Thành ở lại Ban Mê và chúng tôi không gặp nhau cho tới khi gặp lại nhau, là khi tôi và Thành đã trở thành hai chàng lính chiến tuổi đời hơn 25 với bộ đồ đầy bụi đường. Tôi được biết Thành là phóng viên chiến trường của quân đo&a
grave;n hai, còn tôi đời lính thành phố của Sư Đoàn Hai Không Quân tại Nha Trang.

Ngày đó tôi hỏi Thành :

– Tao gặp chị Điệp của mày, và thấy con mày mang về cho chị Điệp nuôi. Bộ mày và cô giáo nhà văn của mày yêu nhau thật sao? Mày là học trò còn bà ta là cô giáo của mày!

Thành ôm chiếc máy quay phim, chúng tôi đi bên nhau vào cổng Phi Long Nha Trang. Thành dừng lại nhìn tôi :

– Sao mày biết chuyện này?
– Mẹ khỉ, Chị Điệp nói và chị đưa cho tao cuốn sách mày viết giải oan cho người yêu của mày.

Thành dừng lại nhìn tôi thêm lần nữa, hỏi :

– Bà Điệp đưa cuốn gì cho mày, tao viết hai cuốn lận. Mà mày cũng tò mò chuyện của tao!
– Chị Điệp đưa cho tao cuốn Tiếng Nói Học Trò.
– Hồi mày học đệ nhất trên Đà Lạt, mà cũng yêu thương kinh khủng quá xá,
Tình yêu mà viết thành sách nổi tiếng là tuyệt rồi. Đến nỗi nàng viết ra Cuốn Vòng Tay Học Trò, ghê gớm thật…!
– Ồ… Chúng tao yêu nhau … Đâu có tội gì phải không mày! Tình mà! Tụi đạo đức rởm, bàn tán xôn xao, nên tao phải viết thôi…!

Sau lần gặp đó tôi không còn gặp lại Thành. Năm 1975 tôi cứ tưởng mất người bạn này, tuy nhiên chúng tôi lại có dịp may gặp nhau tại miền Nam Cali. Trong dịp Hội đồng hương Ban Mê Thuột, anh Nguyễn Văn Như chủ tịch tổ chức năm 2003. Vừa gặp mặt Thành đã ôm lấy tôi hỏi dồn dập:

– Tao nghe tụi bạn nói mày còn sống ở Bắc Cali. Không có số điện thoại nên chịu thua. Tao cứ tưởng mày đi đoong rồi ? Nghe đâu mày về Kiểm Báo Ban Mê Thuột tại phi trường L19? Phi trường L19 bị nặng lắm, tụi nó pháo liên miên cả nửa tháng, mà mày con nguyên vẹn lại qua Mỹ là phép lạ !

Tôi dẫn nó tới bàn ngồi :
– Đúng , đó là phép lạ… Nhưng tao đâu có đụng CS trong năm 1975 …!
Ông Hoàng Bá Mỹ gởi tao về Bộ Tư Lệnh KQ Sài Gòn học tháng 2/1975 thì đầu thánh 3/1975 nó đánh Ban Mê Thuọt. Tao ở Sài Gòn và chạy qua đây có một cái quần xà lỏn…!
– Ông Mỹ chồng của Bích, Tiệm may Thông Đạt?
– Đúng.
– Ấy mày cũng lại nhờ vía đàn bà. Bích học lớp với tụi mình ngày xưa.
– Tao cũng chẳng biết Bích có nói gì với chồng hay không…! Tuy nhiên tao đi học là bắt buộc, vì tao không muốn đi học lúc đó..! Số phận…!

Năm 2006. Tôi đến nhà quàn tại Nam Cali. tiễn đưa cha của Thành lần cuối . Tôi gặp lại chị Điệp vẫn mang dáng dấp của nét đẹp ngày xưa,. Trong khi tôi và chị Điệp đang nói chuyện về việc gia đình và các con chị. Thành tới kéo tôi ra chỗ ít người . Hai đứa tôi nói chuyện đời người ngắn ngủi, nói về tình trạng bệnh của cha Thành và cuộc sống của ông trước vào sau 1975.

Thành bỗng nói :
– Hêy… Mày hồi này viết lại rồi sao? Tao bỏ luôn rồi… mệt lắm…! Mày để cái hình trong cuốn truyện ngắn Mẹ Tôi của mày coi “bụi” lắm…!
Tôi tâm sự :
– Tao nghỉ việc rồi,..! Thời giờ dư không biết làm gì, sẵn có tí máu văn nghệ nên viết lại cho vui. Bạn bè chúng mình đâu còn mấy đứa. Mẹ kiếp tụi mình sẽ rụng dần…!

Tháng 04/2008, tôi gọi phone cho Thành, hai đứa tôi ôm phone cả tiếng với đủ mọi chuyện trên trời dưới đất. Thành than mệt và có bệnh, có thể đi sớm hơn tôi. Tôi hỏi Thành Bệnh gì… nhưng Thành không nói, tôi chỉ nghe đầu giây bên kia tiếng thở dài…!

Tôi không ngờ cuộc điện đàm hôm đó đã là lần cuối hai đứa gặp nhau trên đường giây điện thoại. Tôi súc động nhận tin buồn từ người bạn thân báo một người bạn thân ra đi vĩnh viễn bất ngờ, tôi viết cho Ngọc Thiệp :

Cám ơn Thiệp và chị Bảo Trân đã cho tin buồn này.

Thiệp ơi : Mày cho tao chung với các bạn bè về mọi sự chi phí tiễn thằng bạn vàng Mai Tiến Thành vào cõi hư vô.
Mày làm ơn chuyển lời tao chia buồn cùng gia đình Thành, Mai Thu Tùng và chị Điệp,chị của Thành.

Đời nó thế là yên thân mày nhỉ
Còn chúng mình toan tính nữa mà chi…!
Vung tay lém viên cuội vào hồ nước
Mặt nước loang sóng nhẹ tiếc xuân thì..

KHÓC BẠN MAI TIẾN THÀNH

Mày đã ra đi không trở lại
Tao buồn dứng ngó là thu rơi
Lá nào nương gió bay lên mãi
Còn lá nào đây giữa cuộc đời

Thấm thoát tuổi xuân+ giữa lọan trời
Bút nghiên bỏ lại để dong chơi
Mang vào tay súng, đùa bom dạn
Nửa kiếp tàn phai như lá rơi…

Chợt thoáng không ngờ đã biệt ly
Quê hương bỏ lại mày ra đi
Tháng Tư phone gọi, hôm nay mất…!
Bạn đếm đốt tay khóc phân kỳ.

Xứ lạ quê hương mày ngủ yên
Còn tao mang nặng nỗi buồn phiền
Lặng thinh nhìn lá bay trong nắng
Nắng tím chiều phai, tủi mộng điên

Thôi nhé tình yêu và tất cả
Hồn thiêng nợ sạch , nhớ quay về
Việt Nam một cõi trong mê loạn
Tao, mày sẽ gặp chốn ch&ac
irc;n quê…!

Viết khóc bạn Mai Tiến Thành,

Để nhớ lại Ban Mê thời Trung học Nguyễn Trường Tộ

Chinh Nguyên
San Jose Oct. 12/2008




Kiều Oanh : Bầu Sữa Mẹ

BẦU  SỮA MẸ

Bầu sữa mẹ, nuôi con khôn lớn

Tháng năm dài, chồng chất ngất cao

Vòng tay Mẹ bao la biển rộng

Đưa con vào tuổi mộng trăng sao

 

Bầu sữa Mẹ, ngọt ngào tinh khiết

Thật ngọt bùi, thơm ngát mẹ ơi!

Mẹ ôm con, trao lời tha thiết

Hé môi cười, con trẻ mừng vui

 

Bầu sữa Mẹ, tuôn trào mấy độ

Mẹ dầm mưa, dãi nắng một thời

Ôi quằn quại, đôi vai nặng chĩu

Buổi cơm chiều, chăm chút đàn con

 

Bầu sữa Mẹ, gió mưa thay đổi

Con lớn khôn, sữa mẹ cạn rồi

Chiều nắng Hạ, phong sương mấy độ

Mẹ bây giờ khoảnh khắc xa xôi

 

Gió mưa tuôn đôi dòng thương cảm

Nhìn Mẹ yêu, đau xót ngậm ngùi

Ôi dáng xưa, nay còn đâu nữa?

Biết đâu tìm dáng Mẹ xa vời

 

Con chẳng biết nói sao cho hết

Biết cùng ai chia sẻ nỗi niềm?

Nơi đất khách, mùa Xuân trên bến

Nắng Xuân tươi, mắt Mẹ muộn phiền

 

Xuân đi qua, rồi Xuân lại đến

Đếm tuổi Xuân thương xót Mẹ hiền…..

 

 

 

Cho Ngày Từ Mẫu May 9

Kiều Oanh Trịnh, VA 2010

 




Wilbert Rideau : KẺ TỬ TỘI THẤT HỌC TRỞ THÀNH MỘT CÂY BÚT LỪNG DANH

 

 

◘ PHAN BÁ THỤY DƯƠNG 

Wilbert Rideau : KẺ TỬ TỘI THẤT HỌC
TRỞ THÀNH MỘT CÂY BÚT LỪNG DANH

 

“Tương lai mỗi tội nhân là một vị thánh.

Quá khứ mỗi vị thánh là một tội nhân.”

Saint Augustine

 

 

Không phải kẻ nào mang án tử hình cũng hoàn toàn tuyệt vọng, mất đi niềm tin về sự sống còn của mình. Thảm trạng cùng nhục cảnh tù đày nhiều lúc lại là môi trường, cơ hội tốt để con người có thể phát huy, ghi lại những suy tư, những khổ ải, gian truân mà họ đã kinh qua, chiêm nghiệm… Tác phẩm của những kẻ khổ nạn này thường được người đọc ưu ái đón nhận và nhiều khi được xem, liệt vào hàng kiệt tác trong các lãnh vực báo chí, văn học, chính trị… 

Chỉ mới vài ba thập niên trở lại đây thôi, người ta lại có dịp được hiểu biết thêm những danh tài mới. Chẳng hạn như Jack Henry Abbott – tác giả mấy cuốn sách đắc giá: My Return và In The Belly Of The Beast: Letters From Prison thuộc loại best-seller toàn cầu. Theo tin của các giới báo chí, truyền thông và viên chức cải huấn trại Wende Correctional Faculty thuộc New York loan báo thì nhà văn da đen này đã treo cổ tự vận trong phòng giam cấm cố, biệt lập của mình vào buổi sáng chủ nhật ngày 10 tháng 2 năm 2002 khi vừa 58 tuổi. Chẳng hạn một nhân vật lừng lẫy khác là Eldridge Cleaver nguyên chủ bút tạp chí Remparts, tác giả tập Soul on Fire [Linh Hồn Lửa] và nhất là tác phẩm thời danh Soul on Ice [Linh Hồn Băng Giá]. EC là một tay hùng biện giỏi và đã từng gây nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, ồn ào trong giới ủng hộ và phản đối. Đã có thời ông làm ủy viên Thông Tin cho đảng Black

◘ ảnh Wilbert Rideau

 

Panther và năm 1968 EC cũng đã từng đứng ra tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ dưới màu cờ của đảng Peace and  
Freedom. Ông ta còn là một nhà tranh đấu chủ trương bạo động và đã làm nhiều giới lảnh đạo hành pháp, tư pháp nhức đầu. Khi cố Tổng Thống Reagan còn là Thống Đốc tiểu bang California, có lần ông đã tuyên bố một cách giận dữ – khi được biết vài trường đại học và nhất là University of California tại Berkeley mời Cleaver giảng thuyết cho sinh viên của họ: “Nếu để cho EC dạy dỗ con em chúng ta, coi chừng có ngày bọn chúng trở về nhà cắt cổ chúng ta vào ban đêm.”  

Nghe nói vào cuối thập niên 60 Eldrige còn ngang nhiên thách đố ông Ronald Reagan cùng chơi trò sanh tử tay đôi theo kiểu cao bồi miền Tây và dành cho thống đốc quyền tự ý chọn vũ khí giao đấu. Liều lĩnh, chơi bạo như thế có lẽ vì EC biết rõ Reagan, trước khi bước chân vào lãnh vực chính trị ông ta đã từng là tài tử đóng phim Western. 

Eldrige đã mất đi vào ngày 1 tháng 5 năm 1998 tại Pomona Valley Hospital ở ngoại ô Los Angeles, chấm dứt một cuộc sống đầy sôi nổi, sóng gió, vì chứng ung thư nhiếp hộ tuyến, hưởng thọ 62 tuổi. Ông còn được nhiều người truyền tụng xem như là hậu thân, hiện thân của Malcom X.

Ngoài ra, chỉ kể riêng từ trại Louisina State Penetentiary [khu cải huấn Angola] trong nhiều năm qua người ta đã có cơ hội biết thêm về những người-tử-tội-trở-thành-nhà-báo như Billy W. Sinclear, Ron Wikberg, Tommy Mason… Ba người này đều do WR đưa về tờ Angolite. Đặc biệt là trường hợp Wilbert Rideau kẻ được rất nhiều người ủng hộ và tên tuổi lừng danh nhất.  

Cuộc đời của WR mang nhiều sắc thái đặc thù, đầy hấp lực và là một tấm gương trong sáng cho nhân loại trên hoàn vũ. Nhờ những nỗ lực vươn mình hướng thiện không ngừng mà ông, từ một kẻ sát nhân, mang án tử hình, bị thất học, trong thời gian chờ ngày lên đoạn đầu đài đã chịu khó tự học, đọc sách để trở thành một nhà báo, nhà văn được vô số giải thưởng cao quý và sự nể trọng, ưu ái của mọi giới, mọi người. 

Vào tháng 3 năm 1993 tạp chí Life đã vinh danh WR là: “tù nhân hoàn lương được phục hồi danh dự nhất nước Mỹ”. Đó cũng là câu nói mà những người gần gũi Wilbert, các bạn tù, nhân viên giám sát, cũng như viên chức cải huấn thường miêu tả, phát biểu khi đề cập về ông. 

Chính Edwin Edwards vị Thống đốc tiểu bang Louisiana cũng tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 17-6-1986 rằng: “Nếu có quyền hành xử riêng theo niềm tin của mình, tôi đã ký lệnh phóng thích WR. Tôi đồng ý với những người nói rằng ông ta đã được phục hồi danh dự.”


● NHỮNG NGÀY CÙNG KHỔ.

 

WR sanh ngày 13 tháng 2 năm 1942 trong một gia đình nghèo, bất ổn tại xóm Lawtell thuộc tiểu bang Louisiana – nơi năm vừa qua đã bị cơn bão Katrina tàn phá dữ dội. Tháng trước lại bị thêm nạn hạn hán và nhà chức trách ở đây hiện đang cố gắng phục hồi, lôi kéo cư dân trở lại. Mới đây, người ta lại vừa tổ chức tại New Orleans Fairgrounds Race Course một chương trình đại nhạc hội quan trọng về nhạc Jazz, Blues, Rap, Zydeco… liên tục trong 2 cuối tuần, gồm 6 ngày. Cuộc trình diễn đã bắt đầu vào ngày thứ sáu 28-04-06 và vừa chấm dứt vào đêm chúa nhật 07-05-06, với những ca nhạc sĩ thượng thặng như Bob Dylan, Dr. John, Bruce Springsteen, Ani DiFranco, Peter Seeger, Keith Urban, Paul Simon, Irma Thomas, Pete Fountain, Lionel Richie… 

Khi ông lên 6 thì theo cha mẹ di chuyển về khu Lake Charles – Jim Crow South ở miền Tây Nam Louisiana, chỗ tiếp cận với ranh giới miền Đông tiểu bang Texas. Đó là một thị trấn phát triển và khai thác dầu khí với nhiều sòng bài, nằm trong khu vực được gọi là vùng “Deep South”. Nơi đây vấn đề kỳ thị chủng tộc, màu da đã được định hình, đậm nét cố hữu. Tính chất phân biệt này đã hoàn toàn chia cách cuộc sống xã hội và nếp sinh hoạt văn hóa, dân sinh… của người da trắng và da màu. 

Ký giả Ray I. Broussarf của tờ News Banner tại Covington – Louisina, trước đây trong một bài báo lên tiếng yêu cầu trả tự do cho WR đã viết: “Nếu quí vị chưa từng sống trong vùng Cực Nam vào thời kỳ quyền bình đẳng, chưa được thực thi thì quý vị không thể nào hiểu rỏ miền Nam và chắc chắn là quí vị không biết gì về Louisiana trong giai đoạn đó… Tôi đã từng nhìn kỹ vào mắt của những người da đen khi thấy bọn thanh niên da trắng to con ra lệnh cho họ đi xuống xếp hàng đằng sau, ngồi vào phía chót xe bus, hay đuổi họ ra khỏi cửa các quán cà phê, các quày hàng tiệm ăn chỉ dành riêng cho người da trắng. Quý vị có thể nhận thấy rõ ràng được những ánh mắt của người bị hạ nhục kia chứa đầy sự phẫn uất, thù ghét.”   

Nhà báo Broussart là một trong những người da trắng luôn ủng hộ việc xin phóng thích WR sau khi nhận ra các nỗ lực hoàn thiện, hướng thiện đáng khen qua những hoạt động xây dựng tích cực của người tử tội này.  

Khi còn thơ ấu Wilbert đã theo học tại Second Ward Elementary School một trường tiểu học dành riêng cho người da đen và là một học sinh giỏi, thông minh, linh hoạt, yêu thích khoa học. Có lúc cậu bé nhút nhát này đã mơ ước mai sau sẽ trở thành một nhà du hành vũ trụ, giống như nhân vật anh hùng Flash Gordon luôn luôn bay bổng, ngao du trên không, được miêu tả trong các tập sách truyện vẽ bằng tranh. 

Gia đình WR vốn nghèo khó – nghèo khó hơn cả mức độ thiếu kém của những người khác trong cộng đồng người cùng màu da. Đời sống gia đình lại càng tụt dốc, tồi tệ hơn sau khi cha mẹ ông ly dị. Wilbert sống với mẹ và thức ăn trưa mỗi ngày đi học của cậu học trò ốm yếu, cơ hàn này chỉ là một củ khoai lang lạnh ngắt. Nhiều khi Wilbert phải vất ném đi vì cảm thấy ngán ngẩm, xấu hổ. Mặc cảm thua thiệt cùng bản chất rụt rè, vụng về khi giao tiếp, thân cận, đã làm WR càng ngày càng xa lánh, mất đi các bạn cùng trường.  

Sau khi lên lớp 8 thì WR được chuyển về trường W.O Boston Colored HS. Từ đó ông bắt đầu biết trốn học để đi chơi xúc xắc với bọn trẻ lêu lổng bên những ngôi mộ bị phá hoại, cỏ mọc um tùm trong khu nghĩa trang trước mặt nhà ông. Cuối cùng ông bỏ học. Khi ấy ông vừa mới 13 tuổi. Nhờ khai gian là đã 16 nên Wilberg xin được việc dọn dẹp, lau chùi cho một tiệm tạp hoá của người da trắng với tiền lương dưới mức tối thiểu. Sau đó xin được những công việc bán thời gian khác, thông thường một ngày làm 2, 3 nơi, nhưng cũng chỉ là công việc thấp kém như ban ngày thì cầm chổi quét dọn, ban đêm thì đẩy xe cút kít. Bị hắt hủi và kỳ thị nhiều lần khiến WR cảm thấy chán đời và tự ghét thân phận thân mình hơn. 

Năm 1990 ông đã kể lại với cô Anne Butler một cây bút tại Louisiana: “Sau khi nhìn qua sự phân biệt giữa chúng tôi và họ, có lúc tôi đã phát hiện và khẳng định rằng cuộc đời chỉ mang ý nghĩa hễ là người da trắng là có tất cả và đó là phương thức mà người ta đang áp dụng, hành xử. Tôi không chấp nhận sự việc này. Sự việc đó phi lý, không thể dung dưỡng được. Tôi cần sự thay đổi, tôi muốn có điều kiện tốt đẹp hơn… và thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng, mất niềm tin
mà tôi đã gánh chịu.”
 Đó hẳn là cảm nghĩ mà ông và đã thừa hưởng từ những người lớn tuổi trong cộng đồng da đen. 

Tuy những công việc bấp bênh, bị khinh bạc kia chẳng cải thiện được cuộc sống bao nhiêu nhưng với số tiền kiếm được $35 mổi tuần cũng giúp WR phần nào trên lộ trình kết giao bằng hữu mới, qua các cuộc uống rượu “gin” hay trong hội trường bài bạc, cá độ… Môi trường xấu này đã vô hình chung dẫn dắt WR vào ngõ cụt. Cho đến ngày 16-2-1961 lúc vừa 19 tuổi Rideau đã liều lĩnh dùng súng lục cướp chi nhánh ngân hàng Gulf National tại thị trấn Lake Charles.  

Khi bị phát hiện, để thoát thân WR đã bắt cóc ông giám đốc và 2 nữ nhân viên ngân hàng làm con tin. Cả 3 đều là người da trắng. Trên đường đào tẩu, khi ra tới vùng ngoại ô thì cô Julia Ferguson cho xe chạy chậm lại và họ tìm cách trốn thoát. Kêu dừng lại không được, Wilbert đã nã hết 6 viên đạn và làm 3 người bị thương. Khi Julia gượng đứng dậy thì WR dùng dao đâm vào ngực cô.  

Theo lời tường thuật của cảnh sát thì cô này gượng dậy để xin tha mạng. Còn theo lời khai của Wilbert thì ông dự tính sau khi đến nơi có thể thoát thân ông sẽ thả họ về an toàn. Việc giết cô Julia chỉ là hành động thiếu suy nghĩ trong lúc lo sợ, bối rối. 


● BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG SÁNG TRONG BÓNG TỐI LAO LUNG.
 

Bị buộc tội cố sát và kết án tử hình 3 lần vào các năm 1961, 1964, 1970, với các bồi thẩm đoàn toàn người da trắng. Nhưng các phán quyết trên đều lần lượt bị các Toà Thượng Thẩm, Toà Phá Án liên bang tiêu hủy bởi vì các tiến trình xử án này đều bị xem là bất hợp lệ, sai lầm, thiếu vô tư. Sau đó không lâu, vào năm 1972 Toà Thượng Thẩm lại tuyên bố hình phạt tử hình là vi hiến. Nhờ vậy WR thoát chết, trở thành tù nhân chung thân khổ sai và năm 1973 ông được đưa ra khỏi khu biệt lập dành cho những người chờ ngày ra pháp trường thọ lệnh hành quyết.

Theo lời nhận định của ông qua bài Why Prisons Don’t Work thì năm 1962 ông cùng với 30 kẻ sát nhân khác bị chuyển sang trại Louisina State Penitentiary để chờ bị xử tử hoặc thọ án chung thân cấm cố. Tuy gương mặt của những người phạm tội này có sự khác biệt nhưng họ đều có chung nhiều điểm tương đồng: thiếu tay nghề, thất học, bốc đồng và đã từng làm những việc nông nổi, hồ đồ, thậm chí ngu xuẩn. Họ là những người đã từng thất bại, từ chối hay không thích ứng, hội nhập được với xã hội bên ngoài.

Cảm thấy ân hận về tội lỗi của mình, Wilberg bắt đầu miệt mài tự học và đọc sách. Ông đọc một cách say mê các sách về tôn giáo, thánh kinh mà luật lệ nhà giam cho phép cũng như những thể loại, đề mục khác bị cấm. Qua sách vở cũng như sự thân cận, trợ giúp của những người trong trại tù, ông thấy xã hội, đời sống quanh ông đầy dẫy những nhân vật anh hùng và người tốt bụng. Trường hợp kề cận bên ông nhất là những nhân viên cải huấn – những người có nhiệm vụ canh chừng ông, cải tạo ông, lại là người thường lén lút cung cấp sách vở bị cấm đoán cho ông trau dồi kinh sử và mở mang kiến thức. Tưởng cũng cần nói thêm là những người tạo dựng con đường thăng tiến cho Wilbert ở đây đều là người da trắng. Điều này đã giúp Wilbert thay đổi hẳn nhãn quan của mình. Có lẽ đối với ông, đó là một dấu mốc quan trọng, mới mẻ. Ông nhìn cuộc đời và con người bằng một lăng kính trong sáng hơn. Những ý niệm vẩn đục, mơ hồ cũ đã hoàn toàn tan tác theo sương khói.

Sau một thời gian tự học hỏi, ông thấy hứng thú trong việc sáng tác và bắt đầu viết. Khởi đầu bằng cách viết thư giúp các bạn tù, rồi những bài nhận định, phân tích về tội phạm, hình luật thành một cuốn sách dày và bản thảo một tập truyện dài mà ông hy vọng người ta có thể tìm thấy, lưu truyền sau khi ông bị xử giảo.

Dần dần nhờ được giao dịch thư từ với thế giới bên ngoài và sự hướng dẫn thường xuyên của Clover Swann – một biên tập viên trẻ của một nhà xuất bản ở New York, ông trở nên hăng say sáng tác, cống hiến những nhận xét, suy luận của mình về thế giới tội phạm trong những bức tường, trong những hàng rào kiên cố. Tiếng nói của ông càng ngày càng được người ta quan tâm, tiếp nhận. Nhờ vậy Wilbert cũng tìm thấy cho riêng mình một niềm hứng khởi, hy vọng mới.

Nhiều nguồn tin cho biết trong suốt 44 năm trong trại giam ông luôn giúp đỡ các bạn tù khác và tuân thủ luật lệ, qui điều nghiêm ngặt và cũng chưa bao giờ bị sai phạm. Công việc nào ban quản huấn trao cho, nhờ cậy, cho dù khó khăn, gian nan Wilbert Rideau đều hoàn thành mỹ mãn, xuất sắc, chẳng hề so đo, từ chối.

Năm 1973 ông xin cộng tác với tờ Angolite nhưng bị khước từ vì Ban Biên Tập và nhân viên của báo này đều là người da trắng và chỉ dành cho người da trắng. Không nản chí ông đứng ra qui tụ nhiếu người da đen khác để tự thành lập tờ The Lifer với chủ trương phục vụ giới mang án tù chung thân. Năm sau đó ông bắt đầu viết hàng tuần mục The Jungle.

Năm 1975 Toà án liên bang ra lệnh cải cách, cải thiện toàn bộ thể chế nhà tù tại trại cải tạo Angola và mở rộng quyền bình đẳng cho tất cả tội phạm. Vị quản thủ trại – ông Paul Murray Henderson, trước khi đi đã vội vả ủy nhiệm tờ Angolite cho Wilbert Rideau. Ông Paul Phelps – người kế thừa chức vụ, bèn hợp thức hoá việc bổ nhiệm ấy, đồng thời còn thoả thuận để WR được toàn quyền điều hành tờ báo đúng theo tiêu chuẩn áp dụng cho giới báo chí của thế giới tự do bên ngoài. WR có thể viết, cho đăng bất cứ chuyện gì, ngay cả tố giác các sai trái, lạm quyền, bất công… trong trại, miễn là ông có chứng cớ trung thực.

Sau khi nắm tờ Angolite, Wilbert đã đưa Billy W. Sinclair, Tommy Mason – người cùng chủ trương tờ Lifer về với ông. Họ đã nhanh chóng biến bản tin tức quay bằng ronéo thành một tạp chí có giá trị và khá hoàn mỹ. Ngay năm sau, tờ Angolite đã đoạt nhiều giải thưởng toàn quốc. WR đã chính tay tuyển chọn các biên tập viên, văn nghệ sĩ cho tờ báo… Nhiều người khác trong bộ biên tập cũng đã thu hoạch được những giải thưởng quan trọng. Đồng thời tờ Angolite còn được giới truyền thông trên thế giới tự do ca ngợi, đánh giá cao. Bỉnh bút của ông là Ron Wikberg – người cùng viết cuốn Rage and Survival Behind Bars với ông, được xem là người có công trong việc khiến nhà tù hủy bỏ việc xử giảo tử tội bằng ghế điện để thay thế bằng phương pháp tiêm độc dược để giảm trừ sự đau đớn, kinh hoàng, qua bài The Horror Show.

Tiếng nói của ông càng ngày càng được thế giới bên ngoài tán thưởng. Cho đến cuối thập niên 70 WR đã trở thành một diễn giả xuất sắc về lãnh vực tội phạm và báo chí. Ông thường được mời thuyết trình, nói chuyện tại các trường đại học, trên các đài truyền thanh, truyền hình khắp nơi. Trong nhiều lần xuất hiện trên chương trình Nightline ABC-TV, có lần ông đã cùng ngồi bàn luận với vị chánh thẩm Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ là Warren Burger về những vấn đề lịch sử. Liên tục 2 năm 1989 và 1990 ông đã bay về Washington DC để thuyết trình trước cuộc họp thường niên của American Society of Newspapers Editors. Ông và Ron cũng đã từng cộng tác với giáo sư Burk Foster của University of Louisiana năm 1991 để viết cuốn sách giáo khoa về tài phán tội phạm và quyển này được áp dụng cho đến ngày nay. Kể từ 1974 về sau ông thường xuyên công tác với tiểu bang, với giới tư pháp, các trường học, các cơ sở, đoàn thể công, tư… về việc cải tiến chế độ lao tù, tạo công ích cho xã hội, những chương trình ngăn chặn việc học sinh bỏ học… Để có thể dành nhiều thời gian hơn cho công cuộc nghiên cứu và những hoạt động xây dựng, năm 1995 WR đã từ chức, nhường tờ Angolite cho các trợ thủ của mình.

Với những hoạt động, đóng góp tích cực, không ngừng như vậy ông đã được trao tặng vô số giải thưởng và tuyên dương danh dự của các giới chức hành pháp, tư pháp, hiệp hội báo chí, luật gia, truyền thông, truyền hình…Trong số đó đáng kể nhất là:

– Giải Silver Gavel của Hội Luật gia Mỹ năm 1980. WR là tù nhân đầu tiên được vinh dự cao quí này trong suốt lịch sử hơn 100 năm của A.B.A.        

– Giải George Polk 1980 của trường đại học Long Island. WR cũng là tù nhân đầu tiên được L.I.U trao tặng. 14 năm sau ông lại được trường đại học này trao giải một lần nữa qua truyện In For Life – ABC New’s Day One.

– Merit for Oustanding Service to the City of New Orleans 1989 do Thị trưởng N.O trao tặng. Thêm một lần nữa, WR lại là tù nhân duy nhất từ trước đến nay được vinh dự nhân lảnh bằng tưởng lục này.

– Giải Golden Eagle của CINE 1996 và giải Thurgood Marshall Justice về truyện Final Judgement: The Execution of Antonio James, sản xuất bởi Gabriel Films, Ltd – NY, chiếu trên đài Discovery…

Trong thời kỳ sửa soạn việc tuyển chọn giải Oscar năm 1999 cho cuốn Life Sentences ông là chủ đề trong các bài tường thuật, phỏng vấn trên các đài Good Morning America, CBS, Fox, CNN… trên các báo nội địa Hoa kỳ và các quốc gia khác như Anh, Pháp, Đức, Úc, Hoà Lan, Bỉ… Trong hơn 30 năm qua ông luôn là đề tài chính cho vô số bài viết được quảng bá, lưu truyền khắp nơi.

Ngoài 2 cuốn Life Sentences, ông còn thực hiện nhiều phim tài liệu, tranh ảnh, videotape cho các lớp học… Riêng cuốn phim tài liệu The Farm chẳng những trúng giải trong kỳ đại hội Sundance 1998 mà còn được đề bạt giải Oscar.


● XÂY DỰNG CUỘC ĐỜI MỚI TRONG LỨA TUỔI VỀ CHIỀU

 

Nhờ sự tranh đấu của nhiều lực lượng, hội đoàn hỗ trợ để xin cải danh tội trạng, đặc biệt là sự can thiệp, tiếp tay của NAACP và Educational Fund cùng sự bào chữa của luật sư đắc giá Johnnie Cohran, ông được giảm án và tức khắc được trả tự do ngày 15 tháng 01 năm ngoái vì thời gian ông ở tù đã gấp đôi hình phạt dành cho tội ngộ sát.. Nhiều người cho rằng ông phải nằm khám 44 năm có thể vì ông là một tù nhân đặc biệt và quá nổi tiếng, trong đó có ký giả Mathew W. Jacobs của nhật báo Shreveport, James Gill của tờ Times Picayune, Ray I. Broussard của New Banner…

Trong lúc mọi người cùng tuổi đang hay sắp an hưởng cảnh nhàn hạ trong tuổi hưu trí thì Wilbert mới khởi đầu xây dựng lại cuộc đời. Một tuần lễ sau ngày được phóng thích ông đã phải đi xin thẻ căn cước vì trước đó, khi ông đến phi trường để bay đi Washington xuất hiện trên chương trình Nightline theo lời mời, thì ông bị từ chối vì chưa có thẻ nhận dạng và giấy an sinh xã hội… Tại Nha Lộ Vận ông đã phải trưng dẫn các trang đầu của 3 tờ báo đã đăng hình ông trong các bài tường thuật sau khi WR được phóng thích, ông mới được cấp thẻ nhận dạng đặc biệt [unusual ID] để xử dụng. Ông cũng hy vọng sẽ lấy được bằng lái xe đầu tiên vào mùa Xuân năm nay.

WR cho biết: “Việc trước mắt là tôi cần phải làm ra tiền. Đó là một ưu tiên, kiếm tiền để lo an định tương lai, bỏi vì tôi chỉ còn được vài năm để làm việc.” Vấn đề hội nhập lại với xã hội mới, rộng lớn sau hơn 4 thập niên sống trong những bức tường kiên cố, ở lứa tuổi về chiều như ông hiển nhiên không tránh khỏi nhiều khó khăn, bất tiện. Từ việc phải mua bảo hiểm sức khoẻ, tập lái xe, học cách xử dụng cellphone, thẻ rút tiền… cho đến cả việc học thắt cà vạt đối với ông có khi vẫn còn lúng túng, bỡ ngỡ. Linda LaBranche một chuyên viên nghiên cứu về pháp luật cho Rideau Project tại Đại học Loyola và cũng là bạn thân của ông đã nói: “Việc học lái xe không phải là điều dễ dàng gì đối với một người đã 63 tuổi. Việc ấy sẽ tiến hình một cách chậm chạp.”
Sau khi gặp lại gia đình ông cho biết: “…tôi phải tập làm quen với ý nghĩ được tự do. Tôi phải tập thích ứng với một thế giới tương đối khác biệt với thế giới trước ngày tôi vào tù….”

Kể từ 1997 đến nay Rideau là chủ tịch Angola Human Relations Club – một cơ quan chuyên trợ giúp những người tù già, đau yếu và gia đình họ. Từ việc sắp xếp các cuộc thăm viếng, ủy lạo, cung ứng hoa quả tươi… cho đến việc tẩm liệm, chôn cất những người quá vãng.

WR đang trù định viết sách và muốn chuộc lại lỗi lầm, cũng như làm những việc hữu ích cho đời, cho những người đã bênh vực, đặt kỳ vọng, niềm tin nơi ông bao nhiêu năm qua có thể nhìn thấy. Có nguồn tin cho rằng ngay sau khi ra tù Rideau đã được mời ký một hợp đồng đầu tiên trị giá năm trăm ngàn mỹ kim. Bây giờ, với trình độ cao và nhiều kinh nghiệm, mỗi ngày được tư do đi lại, có nhiều thời giờ nghỉ ngơi, làm những điều mình tâm nguyện hoặc ưa thích,, chắc hẳn là một niềm vui vô bờ cho riêng ông: một-người-về-từ-cõi-chết.

 

Qua những hoạt động liên tục, đóng góp tích cực của mình trong thời gian chờ lên đoạn đầu đài, mà WR đã gíúp việc cải thiện trại cải tạo Louisiana từ một nơi hắc ám nhất, trở thành một nhà tù an toàn nhất.

 

Từ ngày được trả tự do đến nay WR đã nhận thêm nhiều giải thưởng cao quí về tư pháp và nhân quyền. Đồng thời ông đã trở thành một chuyên viên tư vấn đắc giá về tội phạm và về pháp luật. Ông cũng là diển giả thường xuyên cho các cuộc hội nghị và chương trình giáo dục về luật pháp, phạm tội học. Cuốn sách mới nhất của WR là: “In the Place of Justice: A Story of Punishment and Deliverance” do Knogf Pub. Group thuộc nhà xuất bản Random House ấn hành từ 27 tháng 4 năm 2010 vừa rồi. Sách dày 368 trang, bìa cứng với giá US$26.95. 

 

Đây là một cuốn tự truyện được sắp xếp, trình bày theo niên biểu nói về 44 năm ông ngồi tù. Ông đã đưa độc giả từ các dữ kiện khiến ông quyết định cướp ngân hàng Gulf South National bị bắt, bị kết án tử hình 3 lần cho đến những sự đố kỵ, ghanh ghét, rồi giết người rồi được giải án, thoát chết và về các cuộc phỏng vấn… Năm 2007 khi được khuyến khích viết tác phẩm này, ông đã nhận được tài trợ từ G. Sogos Foundation với số tiền là 75 ngàn mỹ kim

 

Sách được nhiều cơ quan truyền thông, báo chí và người đọc ủng hộ, nhiệt tình khen ngợi, nhưng lại bị chính Billy W. Sinclair – hiện là một luật sư, người bạn tù đã cộng sự lâu dài với ông trong thời kỳ khổ ải và được ông đưa về tờ Angolite.  Billy đã phê bình, chê trách, cho rằng Wilbert đã dựng nhiều chuyện không thật để tự ca tụng, đánh bóng mình. Giới ủng hộ WR thì cho rằng đây chỉ là hành vi của một thứ “trâu cột ghét trâu ăn”.

 

PHAN BÁ THỤY DƯƠNG – bổ túc 6/10




Kiều Oanh : Phượng Hồng, Phượng Tím

Phượng Hồng, Phượng Tím

 

Mùa Hạ đang về trên khắp nơi

Bên nầy phượng tim tím cả trời

Bên kia phượng đỏ rơi đầy lối

Xao xuyến bồi hồi giọt lệ rơi

 

Phượng hồng ngày ấy đã sang sông

Bay về bên Hạ một chiều Đông

Nhớ mùa phượng cũ tà áo trắng

Dưới mái hiên trường buồn mênh mông

 

Lần tay đem lại tháng ngày qua

Tóc mai giờ đã hai màu hoa

Nhớ mùa Phượng đỏ phương trời ấy

Lời yêu trao vội, rồi nhạt nhòa

 

Hai màu phượng nở ở hai nơi

Nỗi nhớ miên man giọt buồn rơi

Trùng dương cách trở hai sắc phượng

Phượng hồng, Phượng tim thật xa vời….

 

Kieu Oanh Trinh–June 2010

 

Phượng Tím

 

Ngoài hiên vắng, trên cành phượng tím

Tím Trời chiều, tím cả ngàn mây

Áo em bay đôi tà quấn quít

Chân ngập ngừng, má đỏ hây hây

 

Anh đứng đó, cổng trường thêu nắng

Em thẹn thùng, sợ bạn thấy ngay

Vành nón nghiêng, rụt rè, e thẹn

Bước ngập ngừng, mắt chợt cay cay

 

Anh hỏi nhỏ? Bé làm sao vậy?

Em lắc đầu. Chỉ sợ Mẹ hay

Anh mỉm cười, vỗ về rất nhỏ

Bé đừng lo, anh sẽ tỏ bày

 

Ngày thi tới, hai ta cùng học

Anh dạy em, bài toán phương trình

Em làm bài, anh cứ lặng thinh

Ngồi bất động cứ nhìn em mãi

 

Em phụng phịu, không thèm học tiếp

Bắt đền anh, ngó Bé chi hoài?

Bé nghỉ chơi, không chịu làm bài

Anh phải hứa, không nhìn em nữa…

 

Ngày em thi, anh chờ ngoài cửa

Đợi thi xong, anh vội hỏi ngay

Thấy nụ cười em nở trên môi

Anh sung sướng: "Mừng hơn em đó!"

 

Đã qua rồi, ngày xưa bé nhỏ

Anh và em, đôi ngả đôi đường

Chuyện học trò, còn mãi vấn vương

Ta đã mất: Con đường phượng tím

 

Anh bây giờ, nghìn trùng thăm thẳm

Đã bao năm vật đổi sao dời

Chuyện chúng mình, chỉ có thể thôi

Bao nhung nhớ, mỗi mùa hoa Phượng…

 

Kiều Oanh Trinh, Hè 2010

June 17, 2010

 

Trời Mưa

 

Hôm nay buồn quá ngắm mưa rơi

Giọt mưa tí tách rớt hiên ngoài

Biết gió có hờn, mưa có giận

Trời biết buồn vui, có giống người?

 

Giọt ngắn giọt dài mưa tỉ tê

Sũng ướt đường đi lẫn lối về

Mưa gom bao nỗi buồn nhân thế

Mưa khóc cho đời lắm tái tê

 

Gió có buồn không, có khóc không

Sao gió than van buốt cả lòng

Ai dắt gió về cho mưa lạnh

Phả hồn một nỗi nhớ mênh mông

 

Gom hết gió mưa gửi lại trời

Gửi dòng lệ chảy giọt đầy vơi

Hỏi trời có biết buồn không nhỉ?

Chiều đã xuống rồi , mưa vẫn rơi!

 

Nguyên Nhung

 

Cơn Mưa Buồn

 

Trời bảo, Trời mưa vì buồn thôi

Để người thơ thẩn, ngắm mưa rơi

Trời nào biết giận, biết hờn tủi

Trời chẳng buồn vui, chẳng giống người

 

Cứ để mưa rơi tí tách hoài

Mưa qua phố nhỏ, ướt chân ai

Mưa khóc thương người, sầu vạn cổ

Mưa chẳng hận đời, chỉ ngậm ngùi

 

Mây bay, theo gió thoảng vào mưa

Gió rít bên hiên mái đong đưa

Cơn bão thổi vào mang mưa tới

Ngồi buồn, lặng ngắm gió tơi bời

 

Xin Trời gom hết gió mưa bay

Mang cơn buốt lạnh khỏi nơi này

Để người thôi khóc, thôi buồn tủi

Chiều đã xuống rồi, gió mưa ơi!

 

Kiều Oanh trịnh (họa thơ Trời Mưa của Nguyên Nhung)




Xuân Nhớ Mong


Xuân Nhớ Mong

 

Bánh chưng xanh, rộn ràng câu đối đỏ

Ông đồ ngồi, khoa bút chúc mừng Xuân

Trẻ tung tăng, áo quần vui chợ Tết

Lòng bồi hồi, chợt nhớ rồi bâng khuâng

 

Xuân tha hương, lại thêm mùa Xuân nữa

Đếm thời gian, ba mươi mấy năm trường

Ngày xưa đó, gợi bao niềm tưởng nhớ

Dòng đời trôi, lòng còn mãi vấn vương?

 

Bữa cơm chiều, mẹ già mong ngóng đợi

Mắt nhạt nhòa, giọt lệ nhớ thương con

Nơi xứ xa, con mang đời lữ khách

Kiếp tha hương, buồn nhớ bóng mẹ hiền

 

Nhớ Xuân xưa, mẹ lom khom gói bánh

Lá dong xanh, gói gọn nếp đậu vàng

Bên bếp hồng, đàn con ngồi sưởi ấm

Nghe nhạc Xuân, rộn rã tiếng cười vang

 

Lửa bập bùng, reo vui mừng Xuân mới

Đón Giao Thừa ngồi nấu bánh chờ Xuân

Xóm làng xưa, bây giờ đà thay đổi

Mẹ già nua, biền biệt cõi xa xăm

 

Mái tranh nghèo khói lam tuyền vương tỏa

Quê hương tôi mờ xa tít mịt mùng

Đợi khi nao thanh bình vui trở lại?

Ta cùng nhau về ngắm ánh mai vàng…

 

Kiều Oanh Trịnh, VA 01/20/2011




Phan Ni Tấn: MỘT CHÚT VỚI NGUYỄN ĐỨC QUANG

MỘT CHÚT VỚI NGUYỄN ĐỨC QUANG

Biết nói thế nào về người bạn của tôi đây? Có lẽ bắt đầu bằng một bữa tiệc ở Sài Gòn năm 1968, trong đó có NBX, một người bạn rất ái mộ nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã ví anh thế này: "Nguyễn Đức Quang, một mảnh Quê Hương Ngạo Nghễ". Cách nói đó là một dụng ý nhằm ám chỉ bản hùng ca Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang sáng tác năm 1966. Lúc đó, với tôi, cách xưng tụng dù có chân thành nhưng đầy hoa mỹ này thật tình quá đáng. Nhưng rồi ngày nay,  mới ngày hôm qua thôi, ngay cái ngày 27-03-2011 Nguyễn Đức Quang lìa đời, anh được Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam trao tặng "Bắc Đẩu Bội Tinh", huy chương cao quý nhất của Hướng Đạo Việt Nam. Chưa kể cộng đồng người Việt trên thế giới dường như muốn nói rằng: Nguyễn Đức Quang, anh là một người hữu ích. Thế thì, đối với tài năng của người nghệ sĩ Nguyễn Đức Quang dù lúc đó anh không hề nghĩ mình nổi tiếng hay tài năng, thì sự xưng tụng đầy hoa mỹ như gió thổi qua tai, nghĩ lại không có gì quá đáng. Nguyễn Đức Quang, đó là Quê Hương; là con người của Quê Hương; là văn hóa, là tâm hồn của Quê Hương. Có thể chỉ là một cách gọi tên nhưng thực tế không phải là điều để khước từ.

Sinh năm 1944 tại Sơn Tây, một địa danh có nhiều cây bút nỏi tiếng, Nguyễn Đức Quang theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, sống tại Đà Lạt. Tốt nghiệp Đại Học  Chính Trị Kinh Doanh Đà lạt năm 1968. Thập niên 60- 70, ở khắp các nẻo đường thành phố hầu như bị chìm đắm trong những dòng nhạc ru ngủ ủ ê thì nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lại đi tiên phong theo một hướng khác, con đường khác bằng những bài ca khai phá. Lúc đó có đứng trước một Nguyễn Đức Quang ôm đàn hát mới thấy tất cả nỗi đam mê của người nghệ sĩ này. Anh vốn là một người chừng mực và điềm đạm nhưng trở nên linh động, hoạt bát mỗi khi đề cập đến những đề tài tuổi trẻ, xã hội, đất nước và thân phận con người.

Nổi tiếng với những sáng tác ngợi ca quê hương, kêu gọi tuổi trẻ dấn thân và khuyến khích lòng yêu nước, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là linh hồn của  Ban Trầm Ca được sáng lập năm 1965 tại Đà Lạt. Ngoài Nguyễn Đức Quang còn có các anh Đinh Gia Lập, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Quốc Văn, Hoàng Kim Châu, Trần Trọng Thảo và chị Đỗ Phương Oanh. Ban Trầm Ca chuyên sinh hoạt trong tinh thần thanh niên, hướng đạo với các loại nhạc cộng đồng trong sáng, hùng mạnh, tràn trề tình yêu quê hương và niềm hy vọng nhằm khích lệ lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ tham gia những công tác lành mạnh, hữu ích, phụng sự xã hội, đất nước  và dân tộc.

Sau những lần lưu diễn khắp mọi miền đất nước, Ban Trầm Ca quyết định thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam, đặt trụ sở tại 114 Sương Nguyệt Ánh Sài Gòn. Chủ tịch là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ, Trưởng Xưởng Du Ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành.

Thời kỳ này, Phong Trào Du Ca qui tụ hàng ngàn đoàn viên sinh hoạt thành Nhóm, Toán trên khắp  miền đất nước khởi từ miền Trung đến miền đồng bằng sông Cửu Long như những Toán Du Ca Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Đà Lạt, Tây Ninh, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang v.v… Đi đâu, ở đâu người ta cũng nghe nói đến Phong Trào Du Ca Việt Nam của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.

 (Xin được nói thêm ở đây là có lần Ban Trầm Ca trình diễn tại trụ sở CPS với đông đảo đồng bào, nhất là giới trẻ tham dự,  những bài du ca thắp lửa, hùng mạnh và vạm vỡ đã được tán thưởng bằng những tràng vỗ tay trong suốt buổi trình diễn. Trong dịp này Ban Trầm Ca đã cho trình làng một tập nhạc Trầm Ca, đặc biệt trang ruột, vẽ một cội cây đầy sức sống vươn lên, tỏa ra nhiều nhánh mang ý nghĩa nói về sự vươn lên, lan rộng của Phong Trào Du Ca Việt Nam, như Nguyễn Đức Quang cho biết).

Nhưng rồi cuộc nội chiến ngày càng lan rộng trên một đất nước lầm than, chia cắt. Theo chân nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang đã trở thành quân nhân QLVNCH, tôi cũng vào quân trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ngừng sinh hoạt trong một thời gian dài, sau ngày tốt nghiệp ra trường tôi mới có dịp trở lại với Phong Trào Du Ca. Đời lính rầy đây mai đó, đi tới đâu nghe tiếng hát của đoàn viên Du Ca tôi đều tìm đến tham gia sinh hoạt. Hồi đóng quân ở Ban Mê Thuột mỗi cuối tuần rãnh rỗi tôi đều đến trụ sở Du Ca Lòng Mẹ ca hát hoặc theo chân đoàn trưởng Nguyễn Quyết Thắng và đoàn viên đi tác động ở các thôn xóm, làng mạc xa xăm. Sau  đổi về Nha Trang tôi cũng có dịp sinh hoạt với đoàn Du Ca Thùy Dương do anh Châu Đình Quang làm trưởng đoàn. Suốt 5 năm ở lính, tôi không có cơ hội trở lại Sài Gòn nên không gặp lại nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lần nào.

Rồi nước mất nhà tan, tôi bị bắt đi tù cải tạo đến cuối năm 1978 mới trốn thoát về Sài Gòn sống như phường trôi sông lạc chợ. Nhiều lần tôi lặng lẽ đi qua trụ sở Du Ca trên đường Sương Nguyệt Ánh mà nhớ những ngày xưa ca hát. Lúc đó tôi không biết con chim đầu đàn Nguyễn Đức Quang ở đâu, sống chết ra sao, có thể cũng đi tù như tôi hay đã lưu vong nơi xứ người. Vào thời kỳ này, hầu như người ta sợ hãi mỗi khi gặp nhau, dù là tình cờ; người sợ người, cúi mặt xa nhau, nhà thơ Kim Tuấn có lần đã nói như thế. Cuối năm 1979 tôi vưọt biên đến được bến bờ tự do. Và gặp lại bạn tôi, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.

Nhìn lại một quảng thời gian 37 năm ròng rã, khởi từ năm 1966 đến mùa hè 2003 Nguyễn Đức Quang và tôi mới gặp lại nhau lần thứ nhất nơi đất khách quê người. Hóa ra con đường của những người du ca đến với nhau, ngoài những con đường đất, những còn đường biển, còn đến với nhau bằng… những khúc hát du ca. Thế là say sưa anh hát, tôi hát, chúng tôi và cây đàn cùng hát, hào hứng hát, mê man hát, "thèm" hát những bản du ca thắp lửa ngày xưa.  

Nhưng mà cuộc đời có rất nhiều khoảng cách, có lúc tưởng gần mà thật xa xăm diệu vợi. Cái ngày Nguyễn Đức Quang và tôi mừng rỡ gặp lại nhau, cơn mừng chưa kịp lắng xuống đã vội vã chia tay. Ngày 3 tháng 9, 2006 tại Toronto, Nguyễn Đức Quang và tôi cùng tất cả đồng bào trong hội trường cùng hát những bài hát cộng đồng của anh mà không ai biết đó là buổi sinh hoạt du ca, cũng là lần chia tay cuối cùng giữa hai anh em chúng tôi.

4 giờ sáng ngày 27-03-2011, lúc thành phố Nam California còn ngái ngủ, Nguyễn Đức Quang đã bước ra khỏi cuộc đời này. Anh ngậm ngùi bỏ chúng tôi ở lại, bỏ những bài du ca của anh ở lại. Nhưng tôi vui và tôi biết tất cả chúng ta đều vui, là mừng cho anh được gặp lại chị Minh Thông, người vợ thân yêu của anh, đã đi trước anh gần hai năm trước, đang mở rộng vòng tay đón anh ở bên kia cuộc đời.

PHAN NI TẤN

04/04/2011