Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Lê Văn

 

Thăng trầm quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung qua ảnh

–

(VnMedia) – Năm 1971, đoàn đại biểu bóng bàn Mỹ đến thăm Trung Quốc, mở ra cánh cửa đi lại giữa hai nước. Ngày 1/1/1979, Trung Quốc và Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Trải qua 30 năm, quan hệ Trung-Mỹ đã trở thành một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất, giàu sức sống nhất. Tuy vậy, mối quan hệ này đã trải qua không ít thăng trầm.

Lãnh đạo hai nước từ"nhiều năm khó gặp mặt một lần" đến hiện nay đi lại mật thiết. Cuộc đối thoại chiến lược hai nước từ không đến có, hiện nay đã xây dựng hơn 60 cơ chế hợp tác đối thoại. Kim ngạch thương mại hai chiều trong 30 năm đã tăng hơn 120 lần, hai bên đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của nhau. Sự đi lại giữa nhân dân hai nước bắt đầu từ số không, phát triển đến hiện nay mỗi ngày có hơn 5.000 người đi lại giữa hai bờ Thái Bình Dương.

Sau đây là chùm ảnh mối quan hệ giữa Mỹ-Trung Quốc 30 năm qua:

 ảnh minh họa

Sau khi đến Trung Quốc hôm 16/11 trong khuôn khổ chuyến công du Châu Á đầu tiên trên cương vị ông chủ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng mối quan hệ Mỹ-Trung “không phải không có những bất đồng và khó khăn. Tuy nhiên, hai nước không nên là đối thủ của nhau”.  Bức ảnh chụp Tổng thống Obama đang từ máy bay xuống sân bay ở thành phố Thượng Hải.

 ảnh minh họa

Đầu những năm 1970, Mỹ muốn tìm đến tới Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô và giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam. Vì thế, sau màn “ngoại giao bóng bàn” năm 1971 tại Bắc Kinh, Henry Kisinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, đã thực hiện các chuyến công cán bí mật tới Bắc Kinh. Các nhà chiến lược của hai nước lần đầu tiên gặp mặt để bàn về các vấn đề thế giới. Ảnh chụp đội tuyển bóng bàn Mỹ đến thực hiện màn"ngoại giao bóng bàn" tại Trung Quốc. 

 ảnh minh họa

 Năm sau, Richard Nixon đến thăm chính thức CHND Trung Hoa và ký Thông cáo chung Thượng Hải 1972, đặt khuôn khổ đầu tiên cho quan hệ chiến lược Mỹ-Trung. Trong ảnh, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang đón tiếp Tổng thống Richard Nixon.

 ảnh minh họa

Năm 1974-1975, khi Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang cầm quyền, ông George H. W. Bush (Bush cha) được bổ nhiệm đến Bắc Kinh làm Đại sứ (ảnh trái). Đến tháng 2/1989, ông này đã trở lại Quảng trường Thiên An Môn với tư cách là Tổng thống Mỹ (ảnh phải)

 ảnh minh họa

Năm 1997: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đến Mỹ, Đây là chuyến thăm đầu tiên của một người đứng đầu nhà nước Trung Quốc trong suốt hơn 1 thập kỷ.

 ảnh minh họa

 Đáp lại chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Giang Trạch Dân, năm 1998, Tổng thống Mỹ khi đó là Bill Clinton  sang thăm chính thức Trung Quốc. Trong ảnh, Tổng thống Bill Clinton cũng vợ và con gái thăm Vạn Lý Trường Thành.

 ảnh minh họa

Tháng 5/1999, tên lửa của NATO bắn trúng Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade trong cuộc chiến Serbia. Vụ việc này khiến người Trung Quốc nổi giận, biểu tình và ném đá vào Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh.

 ảnh minh họa

Mối quan hệ giữa hai nước càng trở nên xấu đi sau khi một máy bay do thám của Mỹ va chạm với một máy bay của Trung Quốc ở đảo Hải Nam năm 2001. Phi công người Trung Quốc đã thiệt mạng trong vụ này trong khi phi hành đoàn Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ. Trung Quốc chỉ thả tự do cho những người này sau khi Tổng thống Mỹ khi đó là George W.Bush nói lời xin lỗi.

 ảnh minh họa

Tháng 12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và Tổng thống G. Bush trao cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc vĩnh viễn, mở ra giai đoạn bùng nổ quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính giữa hai nước.

 ảnh minh họa

Ảnh trên ghi lại hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama sau bài phát biểu trước các sinh viên Trung Quốc tại Thượng Hải. Tại đây, Tổng thống Obama tuyên bố ông không tìm cách ngăn cản sự vươn lên của Trung Quốc đồng thời kêu gọi cần có sự cân bằng thương mại đôi bên.

Đan Khanh – (Tổng hợp)

 

“> 

Các tin mới khác:




Nhạc Sĩ Ngọc Loan : Từ thuở tôi mất em

00000001.jpg

 

Từ thuở tôi mất em

 Lâm văn Sang

Nhạc sĩ Ngọc Loan vừa tung ra dĩa CD số 5, mang tên “từ thuở tôi mất em”. CD gồm 11 tình khúc được “chọn lọc” trong chiều hướng “tạo thành những âm thanh mới và đẹp” gửi đến cho mọi người. (*)

Giống như dĩa CD đầu tay, (ra mắt cách nay bao nhiêu năm, dĩa CD không in năm tháng) “nhớ gì không em” được gọi một cách đơn giản, “tình khúc ngọc loan”, dĩa CD mới này cũng nằm trong tiêu chuẩn “tình khúc” đó.

Một người nhạc sĩ viết tình khúc và xuất bản tới tập thứ 5, Ngọc Loan chắc hẳn có nhiều điều để nói và hơn thế nữa, không bao giờ nói hết điều mình muốn nói. Người nhạc sĩ viết tình khúc cũng như nhà thơ làm thơ tình, họ có bao giờ chấm dứt điều muốn nói? Hay chấm dứt điều muốn nói, đã được nói? Có phải nói là lập lại điều đã nói, một cách nào đó? Hay nói là mang đến một thứ ánh sáng mới, soi rọi lại điều đã nói? Xuất bản tới tập thứ 5, tác giả dường như không có vẻ gì sẽ ngừng lại ở đó.

Vấn đề không phải là tác giả sẽ ngừng ở đâu hay bắt đầu lại thế nào mà là cô sẽ tiếp tục viết ra sao. Làm sao người ta có thể biết được điều này nếu không biết được tác giả thực hiện tác phẩm này (hay trước đây) ra sao. “Chất liệu” của tác phẩm đến từ “đời sống hợp cùng những cảm nhận trong thiên nhiên” đã tạo ra “những ý tưởng” giúp tác giả tạo ra những nhạc phẩm này. Nguyễn Du viết khi xưa, “Lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ngày xưa có thể Nguyễn Du chỉ đi từ chỗ “lòng buồn” để thấy cảnh vật chung quanh cũng buồn. Ngày nay Ngọc Loan, ngược lại, có thể cảm nhận từ cái buồn của cảnh vật đến cái buồn của nhân thế. Cô tâm sự trước “Một buổi chiều bên bờ sông vắng của thành phố Antioch, dòng sông nước phẳng lặng, trời mưa ướt át trên một thành phố cũ & buồn…” để cô viết thành bài “chiều bên sông vắng” (Diệu Hiền hát) có những câu: “Nước vẫn trôi, trái tim vẫn buồn. Nắng vẫn cứ rơi, lòng người vẫn nặng nề.” Nhưng không phải chỉ có buồn. “Những giọt mưa rơi xuống trên ngọn cỏ xanh . . . Tất cả mọi thứ chung quanh đều trở nên xanh tươi, mới mẻ sau cơn mưa . . . Trời đất hình như vui hơn, muộn phiền hình như giảm bớt đi…” là điều cô cảm nhận để viết thành bài “mưa rơi” (Hồ Trung Dũng ca) có những câu: “Trong đất trời, một niềm vui mới đã sang. Trong tim người, một niềm tin mới tái sinh. Cho tim ta hy vọng bình yên mới. Trong ngày mai tươi sáng hơn. An vui kiếp người.” Người theo cảnh hay cảnh theo người? Cảnh trước người sau hay người trước cảnh sau? Tại sao ta chỉ tin theo tư tưởng một chiều? Tại sao ta cứ phải tin rằng một phải sâu sắc hơn hai hay ngược lại hai phải thấp hèn hơn một? Ở đây, Ngọc Loan có mới hơn Nguyễn Du? Nếu không mới, ít nhất cô cũng khác hơn Nguyễn Du.

Nhạc gắn liền với người viết nhạc. Điều này còn có nghĩa nhạc bắt đầu bằng hiện tại; hiện tại ngay từ qua cách mô tả quá khứ hay một quá khứ kéo dài cho tới hiện tại (như nhạc phẩm “từ thuở tôi mất em” do Hồ Trung Dũng trình bày). Nhạc phẩm trở thành quá khứ (cách khác, cổ điển) khi nó (may mắn) còn sống (còn được hát) cho tới một hiện tại nào đó trong tương lai. Ước mơ của người viết nhạc (nhạc phẩm) là ước mơ nằm trong giới hạn (ngược chiều) từ hiện tại cho tới quá khứ đó. Làm cách nào người ta có thể biết (chắc) nhạc phẩm nào lọt vào danh sách “may mắn” kia nếu người ta không sống ở tương lai? Người ta chỉ có thể biết một số tiêu chuẩn “mới” được ứng dụng trong một số nhạc phẩm trong dĩa CD này có thể sẽ còn được ứng dụng trong tương lai (bởi nhạc sĩ khác), chẳng hạn như phần kết của nhạc phẩm sẽ là phần điệp khúc (đoạn giữa của nhạc phẩm) hơn là đoạn kết bình thường (người ta vẫn viết, nghe cho tới nay). Ở Ngọc Loan, bài “bỏ lại” (do Hồ Trung Dũng ca) là cái kết thúc bằng điệp khúc giữa này.

Người không nghe nhạc thường xuyên thật khó theo dõi giọng ca nào đang lên, đang được ăn khách nhất bây giờ ở Việt Nam hay hải ngoại. Tôi tin Ngọc Loan là người sành sỏi về điều này hơn ai (tôi) hết. CD “từ thuở tôi mất em” mang đến lần này các ca sĩ như: Diệu Hiền, Hồ Trung Dũng, Lan Phương, Xuân Phú, Hạ Trâm, Mỹ Lệ. Tôi không biết (chưa nghe) một giọng ca nào trong số này, ngoại trừ Mỹ Lệ đã có mặt trong CD “tìm trong nỗi nhớ.” Tôi chỉ biết Hồ Trung Dũng hát 5 trong số 11 nhạc phẩm trong CD này, hình anh lại ở bìa ngoài của CD, anh phải là giọng ca sáng giá bây giờ, trong nước. Tôi không biết gì hết về Hồ Trung Dũng (bao nhiêu tuổi, đi hát bao lâu rồi…) tôi chỉ biết anh hát chững chạc như một người đứng tuổi. 

Người ta có thể nói gì hơn nữa qua CD “từ thuở tôi mất em” này? Bài “chiều  bên sông vắng” tác giả đưa ra một câu hỏi lưng chừng “ta về phương nao.” Bài “ngày tháng vẫn qua đây” (Hồ Trung Dũng ca) tác giả hỏi lại lần nữa “mai biết về phương nao.” Bài “về đâu” (Mỹ Lệ hát) tác giả liên tục hỏi, trước hết “Về đâu người ơi?” và sau nữa “Một ngày sẽ đi về đâu?”. Một cách nào đó, những câu hỏi không cần đến câu trả lời là một nửa của câu hỏi. Người đặt câu hỏi (tác giả) có khi hỏi người, có khi hỏi thời gian. Người hỏi như nói chuyện cùng hư vô như một họa sĩ nói chuyện bằng tranh trừu tượng. Câu chuyện được nói (câu hỏi được hỏi) có khi không mang ý nghĩa nào cả, có khi mang trong tim cả đất và cả trời.

Khi giới thiệu dĩa CD mới, tác giả đã chuẩn bị một chương trình ca nhạc được tổ chức tại Santa Clara Convention Center vào ngày Chủ Nhật, ngày 30 tháng Chín, lúc 4 giờ chiều. Chương trình mang tên “tình khúc Lê Uyên Phương, Ngọc Loan.”

Lê Uyên xuất hiện lần này ở San Jose với tình khúc của Phương, và một số khác là nhạc Phạm Duy. Ngọc Loan sẽ có mặt với những ca khúc mới nhất (trong CD “từ thuở tôi mất em” dĩ nhiên) và một số nhạc phẩm đắc ý nhất của tác giả trong các CD trước.

Góp mặt trong chương trình có ca sĩ Thanh Hà, và Trần Thu Hà. Mọi người đều biết họ là giọng ca như thế nào ở hải ngoại. Ngoài ra còn có các ca sĩ khác như Gia Huy, Nguyên Khang, Anh Tuấn. Gia Huy là ca sĩ gần đây vẫn hay hát nhạc Ngọc Loan. Anh cũng ra dĩa CD “Tình yêu & Kỷ niệm 6” mang tên “trong tôi có những” gồn 12 nhạc phẩm của Ngọc Loan.

Chương trình còn mang tới ba MC: Khổng Trọng Hinh, Thụy Dung và Vân Khanh.

 Ghi chú:

(*) Những trích dẫn trong bài rút ra từ trong CD “từ thuở tôi mất em” này.




TỰU TRƯỜNG (Chinh Nguyên)

  
San Jose dường như đã bắt đầu vào thu, nắng không còn gay gắt, gió nhẹ mang hơi lạnh vào buổi sáng sớm, chiều muộn. Hàng cây trên đường Tully chợt như không còn mầu xanh lá non để sẵn sàng cho một cuộc chia lìa giữa cành và lá.
Hôm nay Augus 23, 2006 tôi dậy sớm hơn mọi ngày để sửa soạn đưa đứa cháu ngoại gái đi học, Tú tên Việt, Jennifer tên Mỹ, tuy nhiên tôi thích gọi Bé Tú hơn là Jennifer, bởi tiếng Việt gần gũi và ấm áp đối với tôi hơn, Bé Tú cũng thích cái tên Việt của nó. 
 Bé Tú sinh tại Mỹ nhưng rất rành tiếng Việt kể cả tiếng lóng ưa dùng trong gia đình. Bé có thể quay 180 độ từ tiếng Anh qua tiếng Việt và ngược lại một cách dễ dàng, không ngọng như những đứa trẻ Việt khác sanh tại My. Bé Tú như cá trong biển lớn trên quê hương tạm dung của cha mẹ chúng, và lớn lên như một công dân của một dân tộc hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, đất Mỹ.
Đôi khi vợ tôi, Mỹ Thanh vui vẻ để Bé Tú sửa phát âm cho đúng với giọng tiếng nói Anh, và sau mỗi lần chỉ cách phát âm Bé Tú quay qua nói tiếng Việt với bà ngoại:
–     Bà ngoại phải tập nói hoài chữ con vừa chỉ thì mới nói đúng giọng Anh được đó nghe.
–     Bà già rồi! Bà nói tiếng Anh, Mỹ họ hiểu là O.K. rồi !
–     Nhưng có những chữ họ sẽ không hiểu bà ngoại muốn nói gì ! 
Vì phát âm của bà ngoại không đúng.
Tôi nhìn Bé Tú nhỏ nhoi so với những đứa trẻ cùng tuổi kéo túi sách một cách nặng nhọc bỏ vào xe. Tôi xoa đầu Bé Tú:
–     Mấy bạn con có biết con bao nhiêu tuổi không ?
–     Dạ không, tụi nó nói con nhẩy cóc hai lớp. Bé Tú cười nhìn tôi trả lời, và hỏi lại tôi :
–     Nhưng con đâu có nhẩy cóc phải không ngoại ?
Tôi vừa gật đầu vùa trả lời :
–     Đúng rồi, tại vì thân thể con nhỏ nen bạn con nói vậy thôi mà. Hôm nay ông sẽ đưa con tới trường, con sẽ vào lớp học khác và sẽ không gặp nhóm bạn cũ trọc ghẹo con nữa.
Bé Tú lắc đầu:
–     Chúng nó cũng lên lớp như con, con tránh tụi nó đâu có được. Tốt hơn con đương đầu với tụi nó, ngoại đừng lo…!
    Chỉ khi nào con học trường khác hay đổi qua Sernior High Shool.
–     Ồ! Con không ngại là con nhỏ bé hơn bạn con phải không?
–     Dạ không. Nhiều bạn con thích con lắm đó.
–     Hột kim cương đâu có lớn, nhưng giá trị bạc ngàn trở lên phải không con ?
–     Dạ. Ngoại nói đúng ! Con nhỏ bé nhưng con học giỏi hơn tụi nó. Trong lớp con không bao giờ đứng thứ ba.
–     Ông biết mà, phải học giỏi nghe con, nhất là không được nói tiếng Anh khi ở nhà với bà và mẹ con nghe. Con là người Việt phải biết nói tiếng Việt mới là người có quốc gia. Con sanh ở Mỹ, là công dân Mỹ, học mọi thứ ở nước Mỹ, và sẽ có thể con thành công ở Mỹ, nhưng phải nhớ chắc chắn là Mỹ không phải là quê hương của con. Ông không kỳ thị, nhưng đó là thực thể trong sự hiểu biết học hỏi của con sau này.
–     Da. Con biết con là người Việt Nam mà. Cô giáo dạy tiếng Việt cho con ở trường Văn Lang cũng nói vậy mà.
–     Đúng. Con là cháu của ông, chắc chắn con là người Việt Nam rồi.
Này nhé, mắt con nâu, mũi con tẹt, tóc con đen, dù con có nói tiếng Mỹ giỏi, nhưng có ai nói con là người Mỹ đâu ! Phải không ?
Bé Tú gật đầu
–     Mấy đứa bạn Mỹ của con, tụi nó nói con không phải dân Mỹ. Con
    cãi với tụi nó, con sanh ở Mỹ, nên con là dân Mỹ. Nhưng chúng
    đều lắc đầu và nói : Nhưng mày không phải là chính gốc dân Mỹ,
    mày khác với tụi tao, tụi tao da trắng tóc hung, còn mày da vàng.
    Con noí tụi nó kỳ thị, nhưng tụi nó nói không phải, chúng nó chỉ muốn
    nói ra sự thật mà thôi.
Tôi gật đầu nói với Bé Tú.
–     Bạn của con nói không sai. Có một truyện ông đọc lâu rồi trên nhật báo Mercury San Jose, do một người đàn bà trẻ Nhật sanh tại Mỹ, có PhD viết với một cái tựa "Người không có quốc gia" .
Bé Tú nhìn tôi hỏi .
–     Truyện viết thế nào hả ngoại ? Chắc hay lắm há ?
–     Cô người Nhật có bằng PhD viết đại ý rằng cô ta là thế hệ thứ tư của một gia đình thuần túy Nhật Bản nhưng sinh tại Mỹ, có nghĩa là cô ta đã đương nhiên là dân Mỹ về nội tâm, vì lối suy nghĩ và cách ăn mặc cũng như cung cách nói chuyện của cô ta đều phát sinh ra từ xã hội mà cô ta sinh ra, lớn lên như con bây giờ. Nhưng thể xác cô ta hoàn toàn Á Đông, do đó khi cô ta đi làm, dĩ nhiên cô ta phải liên hệ với người xung quanh. Nhưng người Mỹ đã không nghĩ rằng cô ta là người Mỹ, trái lại họ đều ngạc nhiên khi tiếp chuyện với cô ta, và nhìn thấy cách cư xử hoàn toàn Mỹ ở cô ta.
    Cô ta bắt đầu để ý tới những lời nói của những người Mỹ làm việc, Chung và tự hỏi "Mình là người Mỹ hay người Nhật ?". Sau những năm suy nghĩ về nguồn gốc của mình, cô người Nhật này quyết định về Nhật làm ăn, vì cô ta nghĩ rằng, cô ta là người Nhật. Nhưng khi về Nước Nhật, cô ta lại bị sa vào cảnh mà cô ta đã gặp như ở Mỹ, vì chính ?ất nước gốc rễ của cô cũng không chấp nhận cô.
–     Tại sao vật hả ngoại ? Bé Tú ngắt lời tôi.
–     Tại vì cô ta không biết nói tiếng Nhật, chính tiếng mẹ đẻ của cô.
Cô ta cũng không hấp thụ được cái lối sống của xã hội người Nhật, bởi cô ta sinh và lớn lên ở Mỹ. Do đó cô ta bị cô lập ngay trên mảnh đất cội rễ của mình, nên cô ta đành quay trở lại Mỹ và chính cô ta đã nói rằng cô ta là người không có quốc gia. Ở đâu cô ta cũng bị người chung quang nhìn cô ta bằng một sự khác biệt trong ánh mắt.
Bé Tú à, con hiểu những gì ông vưà kể cho con nghe chứ ?
–    Con hiểu. 
Từ nhà tôi tới John Muir Middle School tổng cộng hơn mười miles qua những con đường Rettus Ct quẹo trái Tully nối dài Cutner, vào xa lộ 85 South, thoát ra đường Almedan South và quẹo phải khi gặp đường Branham, qua một ngã tư là sẽ nhìn thấy trường Bé Tú học ở phiá trái.
Tôi lắc đầu nhìn đứa cháu gái bé bỏng kéo chiếc cặp sách có bánh xe tôi đã vừa mua hôm qua theo sau và mạnh dạn nhập bọn với bạn bè to lớn gấp hai hay ba lần.
Bỗng tôi thấy một nhóm đang chơi trên sân cỏ chạy ra vây quanh Bé Tú, cả nhóm vội vã xôn xao quanh Tú với những tiếng chào nhau bằng tiếng Anh.
–     Hey Jennifer, Is he your father ?
–     No, my grand father
–     Oh my God! It is heavy for you now ! You may need your grand father to care your books for next year.
–     Jennifer, what is going on to you. You are look like a little girl.
–     I am a little girl, my grand father said.
–     Please let her alone!
–     Hey, she is little, but her mind was large and smart more than you are..!
     Tôi đứng nhìn những đứa trẻ to lớn hơn Tú, và yên tâm khi thấy Bé Tú hoà nhập với bạn bè cũ, mới một cách hoà nhã. Tôi yên tâm bước ra chỗ đậu xe và lái xe về nhà.
Dọc đường ngồi lái xe, nhưng lòng tôi chợt bùng lên nỗi nhớ của thủa ấu thơ trường làng. Lớp học có một phòng nhưng có đủ mọi trình độ học sinh theo học thày giáo Hồng, và cũng là ông cậu của mẹ tôi.
Mẹ tôi kể rằng : Một buổi sáng sớm, mẹ tôi đưa cho tôi cuốn vở sau khi cho ăn no nê và bú thêm một bên sữa mẹ. Mẹ cõng tôi tới trường thày giáo Hồng, tôi ngồi trên lưng mẹ nũng nịu đòi đủ thứ quà vì cứ tưởng mẹ cõng đi chơi nên mừng lắm, nhưng khi mẹ cõng tới cổng nhà thày Hồng, mẹ bỏ tôi xuống và cầm tay tôi dắt vào sân trường.
Tôi nép sau chân mẹ bước theo tới trưóc mặt thày Hồng đứng trên hiên nhà, trong khi cả phòng học vang tiếng tập đánh vần theo anh trưởng lớp. Tôi ôm chân mẹ nhìn lén thày Hồng vì ông đang cầm cây roi mây trên tay. Sau vài câu chuyện gởi gấm tôi cho thày Hồng, mẹ tôi dẫn tôi vào lớp học và ngồi ở góc phòng.
     Mẹ ngồi học với tôi tới trưa, khi tới giờ chơi, tôi vui vẻ chơi với bạn quên mẹ. Mẹ cũng chỉ chờ có thế, mẹ bỏ tôi lại trên sân trường trốn tôi về nhà. Khi chợt nhớ tới me, tôi hốt hoảng tìm mẹ. tôi khóc lớn gọi mẹ giữa sân nhà thày Hồng, chạy tìm khắp nơi, và không vào lớp sau giờ chơi, mặc dầu thày Hông đã dùng mọi phương pháp từ giỗ ngọt tới răn đe đánh đòn, nhưng tôi vẵn bướng bỉnh không chịu vào lớp.
Sau cùng thày Hồng phải bế tôi vào lớp, tôi vẵn không sợ, và càng khóc lớn tiếng làm cho cả lớp phải chia trí, nên thày Hồng đã nhốt tôi vào buồng ngủ nhà thày.
Ấy vậy, tôi vẫn khóc và đập cửa đòi ra ngoài cho tới khi mệt ngủ thiếp đi trên nền gạch lạnh. Khi mẹ tới đón về và tôi đã nói với mẹ : Nhất định sẽ không đi học nữa..! 
Nhưng sáng nào cũng vậy tôi đều khóc trên lưng mẹ, và mẹ đã kiên nhẫn cõng tôi tới trường dòng dã mấy tháng, dần dẩn tôi quen bạn trong những trò chơi mà thày Hồng dạy, sau đó tôi bằng lòng cho mẹ về nhà, nhưng cứ đến giờ chơi là mẹ lại chạy vội tới ôm lấy tôi, rồi tôi ríu rít chạy theo mẹ vào một góc sân để trốn bạn bè, và vạch vạt áo mẹ bú một hơi no nê, sau giờ chơi mẹ lại tất tả về nhà giúp bà nội làm việc nội trợ gia đình trong khi ba tôi đôi khi đi không tin tức mấy tháng mới về thăm ông bà nội.
     Những gì mẹ tôi kể lại về tôi, tôi đều ghi lòng và thỉnh thoảng hỏi mẹ.
–     Sao ngày đó mẹ làm vậy cho con ?
–     Không làm cho con thì làm cho ai. Mẹ tôi luôn hiền từ nhìn tôi trả lời.
–     Sao mẹ không dắt con đi mà lại cõng ?
–     Dắt, con đâu có đi, hơn nữa phải kéo con mới đi, rồi con khocù lóc om xòm, ông nội con mà biết thì khổ !
–     Tại sao vậy ?
Mẹ tôi thở dài.
–     Ngày xưa không như bây giờ ! Mẹ lấy cha con là phải gánh vác mọi công việc nhà chồng đầu tắt mặt tối từ sáng tới chiều. Nếu gặp mùa lúa chiêm có khi phải thức tới nửa đêm, nhưng sáng vẫn phải thức sớm để đi ra ruộng coi người làm. Đôi khi mẹ phải về ăn cơm ở nhà ngoại.
   Mẹ tôi suy nghĩ vài phút, rồi tiếp :
–    Thời của mẹ, gái phải tam tòng tứ đức, trai phải văn võ song toàn để giúp nước, cứu đời. Ông bà mình dạy như vậy. Bây giờ đã khác xưa rồi… Họ bỏ cả…! Do đó mới có vơj chồng ly dị nhau hàng ngày. Mẹ lấy cha con mấy chục năm tình vợ chồng vẫn thương nhau đầm ấm. Mẹ nhìn thấy các con trong đời sống bây giờ mà mẹ lo quá chừng. Vợ chồng mà ăn ở với nhau như góp gạo nấu cơm chung, chẳng biết chữ hy sinh là gì, và tình nghĩa ra sao cả, rõ chán…!
Những lúc này tôi thường ôm vai mẹ.
–     Mỗi xã hội đều khác nhau mà mẹ ! Bây giờ con người cởi mở tự do. Đem áp dụng vào thời gian của mẹ ai mà chịu nổi !
–     Mẹ thì không học được như các con, nên không muốn cãi lý với con, nhưng tự do quá trớn sẽ loạn đó con à…!
Khi thấy mẹ bắt đầu không vui trong câu chuyện vô tình không chủ đích giữa mẹ con, tôi thường lảng sang chuyện khác.
–     Bộ ông nội khó lắm sao mẹ ?
Mẹ lắc đầu, nói trong từ tốn chậm rãi.
–     Không, ông nội con rất tốt nhưng nghiêm khắc. Ông là tiên chỉ trong làng, hiền lành, thương con, mến cháu. Ông có nuôi vài người tá điền trong nhà để làm ruộng vườn cho ông. Do đó cứ tới bữa ăn chiều là mẹ ngồi đầu nồi lo cơm cho họ, mà họ ăn như hổ đói, mẹ có nấu thêm gạo cũng không vừa bụng họ, nên nhiều lần mẹ nhịn đói cho họ ăn khi thấy gần hết cơm, và thức ăn, nên mẹ thường chạy về ngoại mò cơm nguội. Khi ông biết, ông bắt mẹ nấu hai nồi cơm, lúc đó mẹ mới được ăn no.
     Nhưng sau khi sinh con ra thì ông lo cho mẹ đủ thứ vì cha con đã đi theo kháng chiến, đôi khi đi biệt tăm mấy tháng không về, mẹ cứ tưởng cha con chết bụi bờ nào, chỉ khi cha con ve,à mẹ mới biết cha con còn sống. Con lại là cháu trai đích tôn của ông, nên ông quí lắm. Cái tên của con ông cũng đã nghĩ tới khi mẹ mang thai con. Mẹ đôi khi còn phải thua con trước mặt ông nội của con đó.
–     Xin lỗi mẹ. Con không biết chuyện này. Thật là ngốc tử…! Nhưng có lần nào mẹ thắng con không mẹ..?
–     Người mẹ nào cũng chẳng bao giờ thua con, hay trách con mình! Chẳng qua chỉ vì cái tình mẫu tử mà thôi đó con à…! Nước mắt chảy suôi chứ có bao giờ chảy ngược đâu…! Phải không con ?
    Mẹ tôi nói đúng, nước mắt chảy suôi, cũng như tôi đã chắt chiu nựng nịu Bé Tú, ông cháu thân tình to nhỏ chuyện mỏi miệng, và khi giảng kèm cho Tú những bài toán nhân, chia có số nhớ, và toán đại số phương trình bậc nhất chứa hai ẩn số.
Bây giờ Bé Tú đã học lớp 9, nhưng thân bé bỏng chưa đủ 100 pound và đứng tới ngực ông ngoại.
     Mỹ Thanh thường nhắc tôi “ông phải cài nút an toàn cho cháu và phải kéo cặp sách cho cháu”. Nhưng Bé Tú đã không chịu để tôi giúp, và tự gánh công việc của chính mình một cách vui vẻ. Có lần tôi nâng túi sách của Bé Tú nặng chĩu tay, tôi vội bỏ xuống đất và kéo theo Tú, Bé Tú nhìn tôi lắc đầu:
–     Ông để con kéo. Con kéo được mà.
–     Bà dặn ông giúp cho con.
–     Ngoại ơi.. Ngoại à..! Ngoại lẩm cẩm rồi đó nghe…! Con và ngoại đã có mật đàm chuyện này rồi mà, ngoại quên rồi sao ? Sách của con học, để con lo lấy, lỡ mai mốt con lên đại học ai sẽ ôm sách cho con đây.!
      Từ đó tôi để cho Bé Tú làm gì tùy ý với sách vở của bé và luôn đứng nhìn đứa cháu ngoại nhỏ bé kéo chiếùc xe nặng sách vở tung tăng với bạn bè trưóc giờ học và sau khi tan trường.
     Sáng nay trong khi chở Bé Tú tựu trường ngày đầu của niên khoá,
sau mấy tháng hè, tôi đã kể về bà cố ngoại của Bé Tú, và Bé Tú ngồi yên lặng nghe :
Ngày đó lâu lắm rồi, ngoại đã được bà cố của con theo tới trường mỗi đầu niên khoá kể từ khi học lớp mẫu giáo tới khi ngoại vào đại học, và mỗi lần như vậy bà cố con luôn chỉ nói một câu khi bà cố bỏ tay ông ngoại ra để ông ngoại đi vào sân trường : Cố gắng học nghe con. Ngoan cho mẹ mừng.
Ngoại nghĩ tới bà cố của con nên cũng cố học, tuy nhiên ngoại cũng làm bà cố của con buồn phiền hai lần. Lân thứ nhất ngoại bỏ dòng tu Lasan trở về sống với gia đình, lần thứ hai lệnh gọi quân dịch đã làm bà cố con khóc ngày đêm vì chiến tranh càng ngày càng lan rộng rất thảm khốc tại Việt Nam trước 1975.
Bà cố của con sợ ông ngoại đi lính sẽ chết vì đạn quân thù, mẹ nào mà không thương con phải không ? Nhưng ông ngoại của con đã trốn bà cố, bỏ nhà nhập ngũ vào quân chủng Không Quân không báo cho bà cố của con biết. Sau mấy tháng huấn nhục ông ngoại con mới dám viết thư thăm bà, và mò về thăm bà cố á của con.
Bà ôm ông ngoại vào lòng khóc ròng, nhưng bà cố con cũng la mắng ông ngoại thật nhiều vì hành động không suy nghĩ của ông.
Bây giờ ngoại cũng lấy lời của bà cố nói với con : Cố gắng học nghe con. Ngoan cho ngoại mừng. Ông đã già, tuổi con còn đang vươn lên. Nhớ nghe Bé Tú.
Khi tôi nói câu dặn dò với Bé Tú gần như mẹ tôi nói với tôi, Bé Tú chợt mỉm cười, đôi mắt tròn xoe chớp chớp nhí nhảnh nói với tôi :
–     Bà cố thương ông ngoại quá xá cỡ hả ! Mẹ con chẳng làm vậy đâu…! Mẹ con luôn nói phải ngoan và nghe lời ông ngoại, mẹ sẽ thương mà thôi.
Tôi lắc đầu.
–     Không phải đâu. Mẹ cháu thương cháu lắm đó. Mẹ cháu bận công việc sở , về nhà lại phải lo cơm cho cha cháu, nên đã có ông bà ngoại lo cho cháu rồi.
–     Cháu biết chứ. Cháu thương ông lắm đó nghe. Bà cố có sang Mỹ trở lại không ông ngoại?
–     Không. Tôi lắc đầu.
–     Tại sao vậy ? Vậy là bà cố hết vào Oak Hill thăm ông cố rồi…!
–     Thì đã có ngoại và cháu vào thăm ông cố.
Giọng bé Tú bỗng chùng xuống.
–     Ừ há..! Cháu nhớ ông cố, nhưng ông cố mất rồi…! Bà cố lại về Việt Nam không sang nữa..!
……………………………………………………..
 
Chiều trên xe đón Bé Tú về, Bé Tú thấy tôi khác lạ hơn mọi ngày. Nên mặc tôi suy nghĩ trong khi bé Tú hát nghêu ngao, và huyên thiên kể về những người bạn mới của Bé trong ngày đầu tựu trường, bất chợt bé hỏi tôi.
–     Ông ngoại suy nghĩ gì vậy ? Con cảm thấy ông có chuyện gì đó nghe !
Tôi lắc đầu.
–     Không, ông đâu có gì buồn. Ông chỉ nghĩ rằng ai sẽ đưa đón con về mỗi ngày thay ông trong khi ông về thăm bà cố ngoại của con.
Bé Tú trố mắt nhìn tôi, giọng vui vẻ.
–     Hả ! Ngoại về Việt Nam thăm bà cố ? Nếu ông về Việt Nam thì bà ngoại đưa đón con có gì mà ông phải lo .
–     Bà ngoại con cùng đi với ông.
Bé Tú ngồi xích lại gần tôi, Bé ôm cổ tôi trong khi tôi lái xe, Bé hôn tôi rồi nói.
–     Đâu có sao mà ngoại, con dọn về ở với cha mẹ đợi ông bà qua con lại dọn về ở với ông bà. 
–     Ông biết rồi, nhưng ông nhớ con.
–     Ông cũng nhớ bà cố mà, phải không ?
–     Ừ… Ông nhớ mẹ của ông, bà cố của con, bà đã chịu nhiều buồn phiền đau khổ để nuôi ông và các cô chú của con.
–     Con biết, cố đã kể cho con nghe mà.
–     Nhưng ngoại về Việt Nam lần này ngoại sẽ ở lâu mấy tháng đó nghe, con phải hứa với ông là ngoan, học giỏi khi ông trở lại Mỹ.
Bé Tú cúi mặt có vẻ buồn.
–     Sao ông bà không về Việt Nam vào tháng năm, hay tháng sáu ?
–     Chi vậy ?
–     Thì con đi theo ông bà.
–     Ông cũng định qua năm sẽ cùng con về Việt Nam vào dịp hè, nhưng bà cố vừa gọi điện qua, nên ông phải về ngay.
–     Có chuyện gì sảy ra cho bà cố không ông ?
–     Không có gì cả con à. Bà cố của con 94 rồi nhưng còn minh mẫn và khoẻ, bà nói điện thoại rồi khóc. Bà nhớ ông và muốn nhìn thấy ông ngay.
     Tuy nhiên khi về lần này ông sẽ về làng Thành Lập nơi ông sinh ra,
     Ông sẽ tìm tới những nơi ông đã có nhiều kỷ niệm như ngõ hẻm
     Thăng Long trên đường Bạch Mai, Trường tiểu học Bạch Mai, Xóm chùa
     và bến Phà Đen bên cạnh sông Hồng, vườn hoa Con Cóc và nhất là hồ
     Hoàn Kiếm giữa Hà Nội có mấy con rùa vàng.
–     Sao ông đi nhiều nới quá vậy ? Ông có đủ sức khoẻ để đi không đó ?
Tôi xoa đầu Bé Tú, và vỗ nhẹ lên vai của Bé.
–     Vì đó là quê hương của ông! Quê hương có nhiều đau khổ và nghèo nàn bởi chiến tranh, nhưng ông vẫn luôn thầm nhớ và muốn về khi cuối đời. Nơi đó cũng chính là gốc rễ của con.   Một ngày nào đó ông sẽ đưa con về Việt Nam để nhận giòng họ cho chính con, để con thấy rằng giòng máu của con đã bắt đầu từ đó .
–     Dạ, Bé Tú nhất định sẽ về.
 
    San Jose đã vào chiều, nắng đã nghiêng trên sân cỏ khi tôi đậu xe trên lối xi-măng trước nhà xe và đứng nhìn Bé Tú đang kéo cặp sách vào nhà, sau khi Bé nói : Con cám ơn ngoại.
     Mặt trời đã ngả hẳn về phiá Tây, ánh sáng đang dịu dần vương trên những ngọn cây thông cao với cành lá sum sê hình tháp bên nhà hàng xóm. Tôi sực nghĩ tới đời mình gống như ánh nắng sắp tàn kia, chỉ le lói một khoảng thời gian nào đó rồi sẽ từ từ đi vào đêm, để có ngày mai vươn lên trong bình minh. Ngày mai mặt trời lại bừng lên rực rỡ ở phía Đông. Bé Tú và những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở xứ ngoại sẽ như những tia nắng sớm chiếu về cội nguồn, hoa sẽ bừng nở như mùa xuân trong lòng mọi người Việt. 
 
San Jose, Sept. 26, 2006
 



Chúc Anh : Bước Thầm

BƯỚC THẦM
 
 
Chiều đông mưa bão buốt hồn
Đơn côi chống trả nỗi buồn vắng anh
Lang thang phố thị trơ cành
Sầu rơi ! cay đắng mong manh cuộc tình
Vì đâu duyên kiếp chúng mình ?
Chân mây trời tím bóng hình rẽ đôi
Thuyền em lạc bến chơi vơi
Hồn anh hoang dại sầu đời mất em !
Gởi anh trăng mộng bên thềm
Ngàn thương em đợi sau rèm tình anh .
 
Chúc Anh
 
 
 
NỬA HỒN VỠ TAN   
 
 
Đông sang giá lạnh thân gầy
Sao làm tan vỡ mộng xây tình nồng
Bao năm khắc khoải chờ trông
Bóng anh vẫn biệt mênh mông xa mờ
Nửa hồn tê dại chơ vơ
Nửa hồn theo sóng xô bờ tìm anh
Trăng tàn ngã gục bên cành
Góc trời anh hiểu sao đành lặng im
Để em sầu thảm trong tim
Đời hoa trôi giạt vàng kim hao mòn
Vắng anh ! dáng ngọc héo hon
Tuổi xanh hương nhạt nét son phai hồng
Buồn em phận lẻ gai chông
Ngàn sao nhắn nhủ đau lòng sẻ chia
Rồi đây trời sáng mai kia
Đôi ta muôn kiếp không lìa cành yêu .
 
                                        Chúc Anh
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TÌNH VỠ
 
 
Tình vỡ ! lệ buồn lóng lánh rơi
Âm thầm đan siết nỗi đơn côi
Duyên xưa dang dở đời đôi ngã
Ngỡ mộng tình hương khúc tuyệt vời
 
Con đường nồng ấm ta đi xưa
Hoa lá thì thầm bước vắng thưa
Nhớ dáng hình ta hoa nhạt rũ
Lá vàng sầu rụng úa trong mưa
 
Hải đảo chiều buông vắng bóng thuyền
Hoàng Oanh lặng giấu tiếng vàng uyên
Trăng sao lu nhạt buồn thương tiếc
Nguyện ước đôi mình se kết duyên
 
Anh thấu nghe chăng tiếng cõi lòng
Tâm can thổn thức dưới đèn chong
Đêm sương ly cách tràn nhung nhớ
Thao thức , khuê phòng hé cánh song .
 
Chúc Anh
 
 
                  VÌ ĐÂU ?
Ta cạn tiếng lòng , ngôn ngữ yêu ?
Tơ chùng , ai hiểu nỗi cô liêu
Vì đâu âm điệu cung đàn lạc ?
Để nốt nhạc buồn chết quạnh hiu
 
Anh nói đi anh nguyên cớ nào ?
Tình nồng thắm thiết hóa ly tan
Tình hương say đắm sao hờ hững
Tình vướng mây sầu , khổ biết bao !
 
Anh nỡ quên sao dấu ái ân
Bên dòng thác lũ , thoảng chuông ngân
Long lanh nhẹ vỡ làn sương mỏng
Suối tóc buông rèm ấm quyện thân
 
Trăng mộng , lầu thơ bỗng hão huyền
Hương tàn , em khóc phận thuyền quyên
Trách ai ? Tơ Nguyệt không se kết
Mắt lệ nhạt nhòa…lỡ mối duyên
 
Anh nói đi anh vẫn vẹn tròn
Chiều về đan nắng , bước keo sơn 
Tình phai đâu dễ trong giây khắc
Đời dẫu gian truân vẫn sắt son .
 
Chúc Anh
 

 

 
 
 
 
  
TƯƠNG TƯ
 
 
Em đau khổ ôm nỗi sầu thầm kín
Phương cách nào? anh hỡi , vợi tương tư
Để lòng em đừng mòn mỏi cánh thư
Đừng thi vị chuyện tình yêu không thật
 
Bao kỷ niệm dưới trăng vàng ngây ngất
Anh xóa mờ vơi nhẹ nỗi thương mong
Nếu hương tình còn âm ỷ không ngưng
Anh cố quên để tâm hồn thanh thản
 
Nếu cõi mộng là phù du buồn nản
Lối đi nào dệt hoa gấm thần tiên
Con đường nào đưa em thoát ưu phiền
Đợi kiếp nào cho tan sầu cách biệt ?
 
Sài Gòn 1975
Chúc Anh
 ( Los Angeles )
 
 
 
                                                                           

GỐI MỘNG
 
 
Gió thu vàng thoảng nhẹ
Thầm tưởng ánh mắt trao
Năm xưa trời cuối hạ
Anh nhớ tối muôn sao ?
 
Lá vàng nương gío rơi nhè nhẹ
Chợt tưởng lòng mình sớm vội trao 
Tiếng gọi tơ tình đêm cuối hạ
Tay cầm tay mắt bắt trăng sao
 
Tay đan thêu gối mộng
Môi mềm ấm xa xăm
H??ng nồng nàn cung điệu
Du d??ng ánh trăng rằm
 
Từ đó đêm về ôm tiếc mộng
Lời em trao gọi ở xa xăm
Tiếng cười như thóang trong cung điệu
Nhớ mãi môi em, bóng nguyệt rằm
 
 
Góc trời thu tĩnh lặng
Lấp lánh giọt thu s??ng
Ta gieo đôi vần họa
Hồn say cõi yêu th??ng .
 
Vai anh lạnh thấm đêm thinh lặng
Hơi thở thu phong, bóng trong sương
Nghe như tình khúc thơ vần họa
Nhẩy nhót bên anh tiếng dạ thương.! 
 
 
Chúc Anh



Thi sĩ Đông Anh : Đọc Thơ Trạch Gầm

Đọc Thơ Trạch Gầm

Đọc thơ Trạch. Gầm vang trời đất

Buốt trong lòng bần bật bi thương

Gom đau xót những ngày nước mất

Vào mũi tên hòn đạn chiến trường

 

Anh hẳn biết lính là thống khổ

Là gian truân ra tử vào sinh

Là làm bạn bụi cây ngọn cỏ

Là thịt da luôn đọng nước xình

 

Anh biết lính trong rừng mù mịt

Nhìn đêm đen lòng dạ kiên cường

Tay súng thép ngời lên bất khuất

Sao có ngày nước mất đau thương?

 

Anh viết lên mỏi mòn cải tạo

Những lọc lừa Cộng Sản gian manh

Ngày cáo chồn đêm thành hổ báo

Rút máu xương thể xác dân lành

 

Đọc thơ Trạch uất lên tận óc

Mà sao buồn. Buồn mãi mênh mang…

 

Đông Anh

Tử Ðằng Hoa

 

Tiết đầu Xuân, Tử Ðằng hoa trắng muốt

Ðang phơi mình trong ánh nắng lung linh

Gió mơn man ong bướm đến gieo tình

Muôn cánh hạc đưa nghê thường luân vũ

Hoa đong đưa soi mình trong vũ trụ

Ðang vươn lên cùng tinh tú trời cao

Mây bay theo vờn cơn sóng dạt dào

Cả trời đất cũng lao xao tình tự

Em về đây trải dài trong mộng gió

Uốn thân cong vào cánh cỏ tiên thiên

Cả mình em đang say đắm cơn thiền

Quanh trời đất cùng vui vầy mở hội

Từng cánh hoa đưa em vào bão nổi

Từng hương nồng len lỏi cả châu thân

Em trắng trong chưa vướng chút bụi trần

Bỗng giây phút em bừng bừng khai nhụy

Em về đây từ muôn ngàn thế kỷ                         
Hương hoa này ngào ngạt đến ngàn sau                                                                                Tử Đằng Hoa

Trong bàng hoàng em níu gió qua mau

Ghìm chặt lại và ôm ghì hơi thở

Xác lịm dần mà hồn đang nức nở

Cuồng si này liên tiếp những đài hoa

Tỏa hương thơm trên trần thế chan hòa

Vương mật ngọt theo mây chiều bảng lảng

 

Giòng nhạc tình véo von từ cung quảng

Nhập vào hồn trinh nử “wistaria”

 

Ðông Anh

04/09





SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIÊT KHÁNH CHÍNH LÀ NHÀ VĂN TÙNG KHANH

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIÊT KHÁNH CHÍNH LÀ NHÀ VĂN TÙNG KHANH TÁC GIẢ TRUYỆN NGẮN BÂT HỦ’’ĐÊM NAY VỀ ĐÂU CŨNG ĐƯƠC’’

Sơn Điền Nguyễn Viêt Khanh sinh ngày 2 tháng 10 năn 1921 khi học đai học tại Hànội ông đươc lãnh tu đảng Đai Viêt Trương Tử Anh kêt nạp vào đảng Đai Việt nên  ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhât đảo chánh Pháp ông tham gia cuộc dảo chính này ở Huế ông tới bắt viên khâm sư ngươi Pháp ở Huế tên này ăn nói hỗn hào sao đó Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đã bat tai mấy cái rồi ông cũng quên chuyện này

Sau ngày tòan quốc kháng chiến Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh về Hànội năm 1950 của thế kỷ hai mươi ông tham gia bộ biên tập tuần báo Thanh Niên do nhà báo lừng danh Trần Viêt Sơn làm chủ bút Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh vừa làm phóng viên và vừa làm biên tập viên  cho tuần báo Thanh Niên chính dịp này ômh đã viêt truyện ngắn’’Đêm Nay về Đâu Cũng Đươc’’ ký bút hiêu là Tùng Khanh.và truyện này vừa đăng báo đã đươc giơi thưởng ngọan nghệ thuât chú ý nhà thơ Thanh Tâm Tuyền hồi đó gặp tôi hỏi Tùng Khanh là ai mà viêt truyện ngắn’’Đêm Nay Về Đâu Cũng Đươc’’ tuyêt vời vậy lúc đó tôi chưa biêt Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh chỉ biêt Đăng Đình Hồng[một trong những cây viêt làm công việc chấp bút những ý của nhà văn Lê Văn Trương viêt thành tiểu thuyêt như nhà thơ Tân Sắc chẳng hạn] nên nói bừa có lẽ Tùng Khanh là bút hiệu mới của Đăng Đình Hồng nhưng Thanh Tâm Tutền không chịu nói rằng bút kưc của Đặng Đinh Hồng đâu có thể như Tùng Khanh được.Sau này gặp Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh tôi mới biêt Tùng Khanh chính là Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh và nhân vật chính trong  truyện ngắn’’Đêm Nay Về Đâu Cũng Đươc’’ là nhân vật có thật ở ngòai đơi va truyện ngắn này cốt truyện là chuyện thật đươc tác giả thêm thắt chút ít chi tiêt nhỏ cho linh động

Nằm trong tù với Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh từ trại Cây Mít của Sở Công An Viêt Cộng ở đương Trần Hưng Đao Saigon tới trại Lê văn Duyệt tức đề lao Gia Đinh ở trươc chợ Bà Chiểu Gia Đinh Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh  ăn cùng mâm nằm cùng chiêu với tôi anh tiếr lộ vì cái tát viên khâm sứ Pháp tại triều đình Huế hồi năm 1945  mà năm 1954 anh đã phải nằm trong khám tử hình chờ mang đi bắn ở Saigon liên tục mây tháng trời may nhờ hiệp đinh Genève chia đôi đất nươc đươc Pháp và Viêt Cộng ký kết anh mới thoat chết.Theo lơi kể của Sơn Điền Nguyễn Viêt Khanh thì năm 1950 anh làm báo Thanh Niên một thời gian rồi đươc giơi thiêu làm phóng viên  Viêt Nam Thông Tấn Xã phụ trách phần tiếng Pháp với La Phưong  đi khắp nơi với tấm thẻ nhà báo phóng viên Viêt Nam Thông Tấn Xã Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đươc dùng tòan phi cơ vận tải quân sự của Pháp nhưng khi trận Nasan vả trận Điện Biên Phủ nổ ra phi cơ vận tải quân sự Phápphải dùng hêt cho mât trận nên Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh di chuyển xa phải đi máy bay dân sư.Có việc phải bay vô Saigon ra mua vé máy bay dân sư Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh bị hãng tầu bay dân sư đòi  phải có giây thông hành và giây trú lưu  mới bán vé cho do đó Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh phải tới SởLiêm Phóng Liên Hiệp Pháp làm thủ tục xin giây thông hành và giây trú lưu..Làm thủ tuc xin giấy thông hành và giấy trú lưu  xong Sơn Điên Nguyễn Viêt Khánh vô tư về nhà không ngờ ngay tối hôm đó mật thám pPháp tới vây nhà và đọc lệnh bắt phạm nhân chiến tranh Nguyễn Viêt Khánh.Tới lúc này Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh mới biêt vì anh tát viên khâm sứ Pháp và đã bị viên khâm sư Pháp báo cáo sao đo nên anh bị kêt tội phạm nhân chiến tranh với án tử hình vắng mặt.Biêt Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh bị tai bay vạ gió La Phương và những ngươi bạn của anh đã chay ngươc chạy xuôi lo cho anh nbưng bản án xử vắng măt Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh là bản án của tòa án chiến tranh lo xóa án không đơn giản Sơn Điền Nguyễn Viêt Khanh bị giải vô khám tử hình ở Saigon chờ thi hành án

Theo lời kể của Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh thì cái thời gian nằm khám tử hình mỗi ngày đều thấy bạn cùng tù bị giải ra  trường bắn anh thây cuộc đời thât vô thương lúc này là dịp anh nghiên cưu số tử vi và dượt lại vôn chữ Nho

Chỉ mấy tháng nằm khám tử hình mà Sơn Điền NguyễnViêt Khánh thây dài như mây thế kỷ .Đúng lúc Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh buồn nản nhât thi hiệp định Genève ngưng cuộc chiến tranh Viêt Nam ra đời trong đó có khỏan thả các tôi phạm chiến tranh

Nhờ hiệp đinh Genève năm 1954giải quyêt cuộc chiến tranh Viêt Nam Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đươc ra khỏi khám tử hình trở về cuộc đời tiếp tục làm việc tại Viêt Nam Thông TấnXã.Nhò giỏi tiếng Pháp tiếng Tầu Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh đươc làm phóng viên ngoai giao đi đó đi đây .Tới thời kỳ nhà báo Nguyễn Ngọc Linh làm tổng giám đốc Viêt Nam ThôngTấn Xã mở lớp đao tạo phóng viên và đưa Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh lên làm Tổng Thư Ký Viêt Nam thôngTấn Xã  và làm giảng viên lớp đào tạo phóng viên Viêt Nam Thông Tấn Xã.Sau đó Sơn Điền Nguyễn Viêt KJhánh còn dạy khoa báo chí tại Đai Học Vạn Hanh

Từ cuối năm 1954 tới tháng tư năm 1975 Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh không chỉ làm Viêt Nam Thông Tấn Xã mà còn viêt báo dich tiểu thuyêt.Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh là dich giả tiêu thuyêt Kim Dung người Viêt đâu tiên gặp Kim Dung  và đươc Kim Dung cho đăc quyền dich cuôn Uyên Ương đao

Con người Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh là con ngươi luôn đọc luôn cập nhật hiểu biêt với thời đai vào tù anh lúc nào cũng lạc quan sáng dạy tập thể thao lúc nàoanh em thich nghe truyện kiếm hiệp anh kể cho anh em nghe liền

Anh ở chung với tôi tại trại Lê Văn Duyêt tưc đề lao Gia Đinh đươc sáu tháng bỗng môt bữa đi làm việc về anh nói nhỏ với tôi ràng’’lôi thôi rồi có khả năng mình đi biêt giam sắp xếp đồ cho mình ta chia tay’’.Anh nói với tôi vậy rồi cươi khì,cơm chiều vừa xong thì quản giáo tới kêu Nguyễn Viêt Khánh chuyển trại

Thế là chúng tôi chia tay nhau anh  Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh chiều đó không phải đi biêt giam mà trở lại phòng giam trại Cây Mít ở  sở Công An Saigon đương Trần Hưng Đao Mãi hơn mươi năm sau tôi mới găp lai anh nhờ anh Mai Văn Lễ chỉ cho nhà anh đang ở tại đương Hùynh Mẫn Đạt Chơ Lơn

Trong 10 năm này anh bi đầy lên trai Gia Trung ở Tây Nguyên nhiêu lần bị biêt giam nhưng ra tù anh vẫn cứ  phơi phới như không có chuyện gì xẩy ra vậy anh khoe tôi mời đọc đươc môt lô sách hay thích lắm đời còn nhiều việc phải làm.Anh nói anh sẽ đi đòan tụ với con và sẽ trở lai nghề báo tôi nhắc anh nên viêt những cái như Đêm Nay Về Đâu Cũng Đươc một văn tài như Tùng Khanh bỏ quên uổng lắm

Nhờ Chinh Nguyên môt học trò và nghĩa tử của Sơn Điền Nguyễn Vịêt Khánh tôi liên lạc đươc với anh sác đinh hai điều là ngày sinh và tên cái truyện ngắn đâu tay của anh. Sắp bươc vô tuổi  chín mươi mong Sơn Điền Nguyễn Viêt Khánh trở lai nghề văn nghê tay trái của anh nhưng là tay trái bắt được của trời


HỒ NAM

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIÊT KHÁNH

Anh đã sống và anh đã viêt

Nhưng Tùng Khanh mới là số một

Ngươi ta ai chảng phải chờ chêt

Nhưng tỉnh táo như anh  thât tuyêt

Mình từng trải qua bao nhà tù

Đia ngục trần gian là có thât

Anh vẫn cươi  tiếp tục đọc sách

Cõi nhân gian quá nhiêu  đêm tối

Ta thấp nến  không lời nguyền rủa

Ta cứ đi và ta sẽ tới

Đương còn xa chân ta chưa mỏi

Phải reo trồng mới đươc hái quả

Trời đất này sẽ của cháu con ta

Lên đường nữa ta còn bươc tiếp

Ngày mai nắng sẽ còn bung ra

Như hoa nở cho nhụy thơm bát ngát

Ngày mai mặt trời sẽ xanh biếc

Chốn nhân gian sẽ vang tiếng hát

Và chúng ta sẽ không phải hối tiếc

Đả lên đường và đang bước tiếp

Cho ngày mai ngủ hêt giật mình


VƯƠNG TÂN