Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy : Về việc phát hành bộ phim tài liệu Đại Họa Mất Nước
Về việc phát hành bộ phim tài liệu Đại Họa Mất Nước
Tiếp theo Thông Báo Phát Hành ngày 10 tháng 11 năm 2010, cuốn phim Đại Họa Mất Nước đã ra mắt lần đầu tiên tại Úc châu:
Tại Sydney, tiểu bang New South Wales ngày 14-11-2010, và tại Melbourne, tiểu bang Victoria, ngày 21-11-2010. Sẽ tiếp tục lần lượt ra mắt tại Canada, các tiểu bang Hoa Kỳ và Âu Châu
Hôm nay chúng tôi chính thức phổ biến trên Youtube cuốn phim Đại Họa Mất Nước (gồm 8 chapter), sau khi đã sửa chửa vài chi tiết về kỷ thuật.
Trân trọng cám ơn và kính nhờ Quý Vị giúp phổ biến trên mọi phương tiện truyền thông.
Ban Truyền Thông
Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy
Chu Lynh (Phụ trách kỷ thuật)
Xin bấm vào các link dưới đây:
Chapter-1/8: http://www.youtube.com/watch?v=JQwicWxsRB8
Chapter-2/8: http://www.youtube.com/watch?v=tNVG-lqJnDg
Chapter-3/8: http://www.youtube.com/watch?v=YLnqNJssvHY
Chapter-4/8: http://www.youtube.com/watch?v=O29v7zjUUzs
Chapter-5/8: http://www.youtube.com/watch?v=XpbRLRzE1S4
Chapter-6/8: http://www.youtube.com/watch?v=uTzkoZoO_IE
Chapter-7/8: http://www.youtube.com/watch?v=yLaaU26NWh0
Chapter-8/8: http://www.youtube.com/watch?v=jm3Un1Kbb3Y
Nghe Nhạc DIEU HUONG (30 bài )
Nghe Nhạc ÐÃNG KHANH (24 bài)
Nghe Nhạc NGO THỤY MIEN (45 bài)
Nghe Nhạc PHU QUANG (25 bài)
Nghe Nhạc TRAN TIEN (21 bài)
Nghe Nhạc TRINH CONG SON (62 bài)
Nghe Nhạc TU CONG PHUNG (61 bài )
Nghe Nhaòc Guitar VO THUONG (40 bài )
Nghe Nhạc MÙA THU (47 bài)
Nghe Nhạc Pho TýÌ Thõ (46 bài)
Nghe Nhạc GIÁNH SINH (44 bài)
Nghe Nhạc XUÂN (28 bài )
Nghe Nhạc Việt Nam (63 bài )
Nghe Nhạc PHÁP (33 bài)
Nghe Nhạc MỸ (152 bài)
Nghe Nhạc SPANISH (32 bài)
Nghe Nhạc HÒA TẤU (59 bài )
Nghe Nhạc Tiền Chiến Vần A, B, C, D (71 bài )
Nghe Nhạc Tiền Chiến Vần E, G, H, K, L (60 bài )
Nghe Nhạc Tièn Chiến Vần M, N (77 bài)
Nghe Nhạc Tiền Chiến Vần O, P, Q, R, S, T, V, X, Y (85 bài)
Nghe Nhạc Tiền Chiến – Quê Hương (88 bài )
Nghe Nhạc Vũ Trường (30 bài)
May 12, 2013 ngày nhớ mẹ : MẸ ƠI…!

Xin mời quí vị đọc truyện ngắn : MẸ TÔI… linh dưới :
http://www.vantholacviet.com/news-2198/50/Tac-Gia/Chinh-Nguyen–Me-Toi–trich-trong-tuyen-tap-Me-Toi.html
Kính dâng mẹ và dì Chúc.
Con viết ra một đoạn đời nhọc nhằn của mẹ và dì.
THƯ GỞI MẸ
Kèm trong thư nét bút đã đổ xiêu
Để mẹ biết đời con đà vàng úa
Như bóng mây, lá đổ cuốn muôn chiều.
Thư con viết chẳng có gì đáng nói
Chỉ vài câu lệ đã nhỏ tan loang
Trên trang giấy chỉ còn vài nét chữ
Tên mẹ yêu trong dòng viết lệch hàng.
Con vẫn nhớ ngày ra đi mẹ tiễn
Giữa sương chiều phủ ngập cả núi đồi
Mẹ quay về con nhìn theo dạ xót
Nhưng cũng đành bỏ mẹ lại thân côi.
Vắng con rồi mái tranh còn hay đổ ?
Dậu trước nhà vẫn đứng hay bìm leo ?
Luống sắn, khoai bây giờ ai cầm cuốc ?
Để vun trồng cho mẹ khỏi đói nghèo .. !
Thân con đã lạc loài trên bến lạ
Mấy chục mùa tuyết đổ lá thu rơi
Hồn khắc khoải nhìn mây bay chiều vắng
Lệ ứa tan trong khóe mắt không lời.
Chiều hôm nay mưa nhiều cây rụng lá
Đổ xuống thềm như ngày tháng mưa xưa
Con gọi mẹ âm thầm trong tâm tưởng
Nhớ thu nào cơm nắm, mẹ tiễn đưa.
CHINH NGUYÊN
MẸ ƠI
Cám ơn anh cánh lan rừng
Tưởng như 16 tuổi mừng mẹ yêu
Tiếc rằng đêm lạnh sương nhiều
Tóc pha màu xám muối tiêu nửa đời
————————————–
Gọi người, thuyền đã ra khơi
Buông tay mẹ cũng rã rời phiến đau
Mẹ đi non nước vẫn sầu
Quê hương con bỏ giữa cầu oan khiên
Bên kia những khối buồn phiền
Bên này một chuỗi nỗi niềm thương mong
Mẹ ơi con có một lòng
Cắt ra mấy đoạn đốt trông đường về
Con đường mộng cũ chân đê
Nước sông Hồng đỏ vỗ về mạ non
Đêm trăng tiếng hát ví von
Giữa dòng sóng nhịp tình tròn mê say
……………………………………………
Từ đây đã mất xuân đầy….!
Đời con mộng vỡ thu vầy lá bay (vầy vò)
Mẹ ơi… sao mắt con cay…????
Chinh Nguyên
MẸ ….
Lặng lẽ sương mờ tiếng thông reo
Tưởng như tiếng mẹ gọi bay theo
Bước bước lệ rơi đồi gió hú
Chân buồn lững thững xuống chân đèo
Mất mẹ đời con buồn lữ thứ
Cũng đành một kiếp sống buông trôi
Ngoảng lại mẹ ơi mờ tầm mắt
Cách biển bờ xa chỉ mộng thôi
Mẹ ơi… Mẹ mất anh em mất
Đứa ở chân mây, đứa góc đồi
Đứa ôm tình nghĩa mong gói lại
Đúa xé tan hoang bạc lạnh môi
Thôi Mẹ, xá chi đời dâu bể
Mong gì ấm lại bóng mẹ xưa
Xuân vui ngày cũ, xuân mừng tủi
Đừng buồn nghe mẹ, bóng sông mưa
Banmêthuột, ngày giỗ đầu của mẹ. Jan.7, 2011.
Chinh Nguyên.
VIỆT NAM MỘT CÕI…
N.S. Khôi Nguyên phổ nhạc: Đất Ấm Quê Nhà
Phi xứ nửa đời chân lạc bước
Lệ buồn rơi mãi dưới sương trăng
Hỏi ai dạ xót đêm canh vắng,
Có nghe tiếng gọi xoáy hồn chăng !
Thương quá mẹ ơi đây xứ lạ,
Quê người con tủi nhớ hoài mong,
Về ôm chân mẹ tha hồ khóc,
Đất ấm quê xưa thỏa tấm lòng.
Xuân nào cũng đến với chờ trông,
Giọt nắng không tươi thiếu ánh hồng,
Gió mang lạnh gía… lòng thiếu vắng
Nhớ quá mẹ ơi… pháo rượu nồng…!
Nuốt hận chúng con họp ở đây,
Đứa còn, đứa mất, đứa chân mây,
Đời sầu thương phận loài rong biển…!
Thấm rượu, lời buồn trải đắng cay.
Đã mấy xuân qua trên đất khách
Mẹ buồn, con vẫn khóc tìm về,
Việt-Nam một cõi mơ xuân mộng…
Nhớ nhớ… thương thương tủi gọi quê…!
Chiều buồn San Jose Jan. 07, 2004
ĐỜI TA VẪN THẾ…
Rồi đời cũng phôi pha…!
Thời gian như bóng trăng tà,
Mơ về nơi ấy sương giăng lạnh,
Chỉ có hồn ta nói với ta.
Một khối tình đã qua,
Nhìn nhau lệ nhỏ sông Hà,
Hai bờ ngăn cách ta, em đợi..
Ai hỏi tình ai đã xót xa…!
Mẹ ta giờ ngóng trông,
Đứa con lưu lạc, phiêu bồng,
Ngày đêm lệ nhỏ thương con trẻ,
Đứng mãi, chờ hoài ở phía Đông.
Mãi mãi mẹ chờ ta,
Em đứng đợi bến Ngân Hà,
Đời ta vẫn thế thân tầm gởi…!
Xuân này ta khóc mặc xuân qua…!
San Jose Jan. 8, 2004.
NHỚ MẸ
Chiều muộn, mẹ ơi chim vịt kêu
Buồn rơi… sương xuống cảnh tiêu điều
Ba đi, mẹ ở âm dương cách
Mái nát nhà xiêu, đổ lá chiều
Sầu đắng lệ tràn vương gốc ổi
Tuổi đời mẹ cõng bước xiêu xiêu
Thành người sữa ngọt con khôn lớn
Một thoáng con đi mẹ quạnh hiu
San Jose Aug. 10, 2004
NỘI, NGOẠI
Chợt thóang ngủ say mộng đã về
Nắng tàn óng ánh nước vờn đê
Gío man mác thổi lau xô dạt
Sóng lúa rì rào bóng dáng quê
Nội ơi ! sao nội đứng chờ ai…?
Viễn xứ, cha con xác lạc loài
Chôn trên đất khách bên đồi vắng
Nằm xuống không yên nhắc nội hoài…!
Ngoại ơi ! Cây khế đã đơm bông !
Trồng khế, mẹ con tuổi má hồng
Bây giờ khế vẫn hoa màu tím
Tuổi mẹ thông gìa mãi nhớ trông…!
Bây giờ nội ngoại đã xa rồi
con bỏ quê đi tựa lá trôi
Trên dòng sông đục đưa ra biển
Xứ lạ… tình quê lệ mặn môi
Xa quê từ đó, xa dần mãi
Làm thân lữ khách bước chân hoang
Đêm thâu thức giấc nhìn sương phủ
Ly rượu trên tay nến lệ loang
San Jose Aug. 12, 2004.
MỘNG TÀN
Thế mới biết tuổi già và bệnh tật
Muốn trèo non nhưng chỉ mộng ngu ngơ
Muốn vá trời nhưng chỉ là thằng khờ
Muốn hô lớn nhưng chẳng còn hơi sức
Ngồi nhìn thẳng tôi tìm về một cõi
Ở phía Đông mẹ mắt giõi biển khơi
Đợi tôi về trong gió gào biển động
Nhưng thuyền tôi sóng đập nát một đời
Nhắm mắt lại nhìn hồn tôi lay động
Xót cho đời nửa kiếp đã buông trôi
Thương cho mẹ thân còng còn đứng đợi
Nhưng tôi đi… đi mãi mẹ thân côi.
Mở mắt dại thế giới quay vần vũ
Đời đảo điên dâu bể bánh xe quay
Kiếp sống buồn mang hận thù chất lớp
Mẹ già tôi than thở khóc từng ngày.
Cố ngồi đây với ước mong và mộng mị
Khi đứng lên ngã qụy mộng vút bay
Tôi chới với thét người thân cấp cứu
Mở mắt ra giường bệnh nước mắt cay.
Đời là thế phù du xoay một kiếp
Tóc phai sương tay gậy chống trên đường
Thân già yếu mà tưởng mình kiện tráng
Gục xuống đời khóc mãi hận tha phương.
San Jose Aug. 30, 2004.
GIỌT NỔI GIỌT CHÌM
Thơ là mật ngọt của chung
Hỏi chi gốc rễ góc mùng người ta
Tên người đã gọi là Hoa
Kèm theo Trần Thủy tiên sa đó nà…!
Giọt thơ khóc mẹ xót xa
Rơi trên tơ phím ngón ngà rưng rưng
Lời thơ nốt nhạc ngập ngừng
Rung trong nỗi nhớ cháy bừng lửa tim
Chín cây chuối rụng trăng im
Sầu loang đáy nước hồn tìm hư không
Bây giờ ai nhớ ai mong…!
Mẹ còn thấp thoáng biển đông đứng chờ
Một bầy con dại ngu ngơ
Thoát ra cửa biển đâu ngờ biệt ly
Từ nay vạn kiếp phân kỳ
Thân trôi bến lạ hồn ghì núi sông
Mẹ về cửa phật vẫn mong
Cầu cho đất nước khỏi vòng oan khiên
Thôi ?ành nhân quả hai miền
Tình con, lòng mẹ rốn liền liên tâm
Hỏi ai, ai gởi khúc ngâm…!
Hát lời lòng mẹ âm thầm trong im..
Lệ mưa giọt nổi giọt chìm…!
San Jose Jan. 11, 2005
10 ân sủng của MẸ…
Ân thứ nhất — mang nặng
Ân thứ hai — đẻ đau
Ân thứ ba — quên mình
Ân thứ tư — ngặm đắng nuốt cay
Ân thứ năm — chăm miếng ăn giấc ngủ
Ân thứ sáu — nuôi con bằng sữa mẹ
Ân thứ bảy — thức trắng thâu đêm
Ân thứ tám — nhớ khi con xa nhà
Ân thứ chín — lo lắng sức khỏe cho con
Ân thứ mười — yêu thương và hy sinh
Phương Lan, Tác phẩm MỘT PHIÊN GÁC ĐÊM, giải ba văn VTLV 2015

Link bài ca Lạc Việt.
https://www.facebook.com/
Vedio link ngày trao giải VTLV 2015:
https://www.youtube.com/watch?v=4vsdPFCtoyQ&feature=youtu.be
https://www.youtube.com/watch?v=k0QHUDV-chU&feature=youtu.be
Tác phẩm : “Một phiên gác đêm”
Tác Giả Phương Lan
Quý Ban Tổ Chức kính mến
Tôi rất hoan nghênh việc làm ý nghĩa của VTLV.. Chúc anh và toàn ban VTLV sức khoẻ và thành công.
Tác giả Phương Lan của 35 audio đọc truyện và 7 cuốn sách , do nhà sách Tự Lực ở Orange County – California phát hành:
1- Tiếng dương cầm ( truyện dài )
2- Còn chờ một kiếp sau
3- Anh mới biết yêu lần đầu
4- Bốn mươi năm cuộc tình
5- Tiếng đàn xưa
6- Lấy chồng xa
7- Nửa đường đứt gánh ( truyện dài sắp phát hành)
—————————————————————–
MỘT PHIÊN GÁC ĐÊM (Giải ba văn)
Truyện của Phương Lan
Đêm đã khuya, đường vắng không một bóng người. Chiếc xe tuần tiễu của cảnh sát chạy chầm chậm quanh thành phố một vòng, rồi đổi hướng đi, dọc theo bờ biển. Không thấy có gì khác lạ, viên cảnh sát dừng lại, cho xe tấp xe vào lề đường và bước xuống đi bộ. Đêm nay ông có nhiệm vụ đi tuần tra an ninh ở khu vực này. Đây là khu bãi sau Vũng Tàu, một vùng biển rất đẹp, bãi cát sạch và nước biển xanh trong. Vào mùa hè, thiên hạ ra đây nghỉ mát đông lắm, nhưng ít ai dám bơi ra xa, vì nơi đây có sóng lớn nguy hiểm. Một lá cờ màu đen vẽ hình sọ người với hai khúc xương chéo nhau, để cảnh báo du khách, thế mà vẫn có những người bất chấp hiểm nguy, cứ liều lĩnh bơi ra thật xa để chơi trò nhảy sóng, hoặc trượt ván nuớc. Đã xảy ra nhiều vụ chết đuối, nên người ta dựng một chòi canh để quan sát, và báo động cho toán cứu cấp trên cái tầu đậu ở ngoài khơi, để kịp thời cứu những người đang bị sóng cuốn.
Chòi cao độ bốn, năm mét, lên chòi phải dùng thang. Chòi xây trên một cái sàn bằng xi măng chống bởi bốn cái cột cũng bằng xi măng trông vững chắc, nhưng cái chòi lại nhỏ xíu, giống như một túp lều nhỏ, diện tích chưa tới bốn mét vuông, vừa đủ cho một người ngồi thoải mái để nhìn ra xa, dùng ống nhòm quan sát. Chòi có mái che nắng làm bằng tôn, phủ một lớp sơn màu nâu , xung quanh là bốn bức vách gỗ chỉ cao tới ngực, phía trên tứ bề đều để hở. Một trong bốn bức vách để chừa một khoảng trống nhỏ làm cửa ra vào, duới chân cửa là một cái thang bằng sắt có tay vịn, nối liền với mặt đất. Bây giờ đang là mùa đông, không ai đi tắm biển vào thời tiết lạnh như thế này, nên chòi bỏ không.
Viên cảnh sát nhìn đồng hồ, đã hơn 11 giờ khuya, đang giờ giới nghiêm. Thành phố thời chiến tranh im lìm như thành phố chết, ngoài đường không một bóng người, những bóng điện đường toả ánh sáng vàng vọt càng tăng thêm vẻ thê lương. Xa xa, biển đang gầm thét, sóng lớn ầm ầm xô vào bờ, gió ào ạt đem theo hơi nước càng làm không khí thêm lạnh lẽo. Tay cầm cây đèn pin, ông bước những bước thong thả dọc theo bãi vắng. Ngang qua cái chòi, ông dừng lại, châm một điếu thuốc. Khói thuốc làm ông cảm thấy ấm hơn, ông nhìn bóng mình đổ dài trên bãi cát, rồi lại nhìn ra ngoài khơi. Biển cả mênh mông bây giờ trông giống như một khối đen khổng lồ đang dập dềnh lên xuống, nước triều lên làm mặt biển như bị nâng cao. Thiên nhiên về đêm đầy vẻ bí hiểm và đe dọa.
Ông nghĩ giờ này mà được chui vào chăn ấm thì sướng biết mấy. Rồi ông lại tặc lưỡi nhủ thầm, cũng chỉ còn hơn một tháng nữa là mình sẽ đổi qua làm ca ngày, thôi ráng chịu khó thêm một thời gian ngắn nữa. Ở đồn cảnh sát này, người ta chia phiên làm đêm, mỗi người phải làm ca đêm hai tháng, sau đó đến lượt người khác.
Năm nay, thời tiết mùa đông có vẻ khắc nghiệt hơn mọi năm. Ông quấn lại cái khăn quàng cổ cho bớt lạnh, thì bỗng nghe có tiếng trẻ khóc, tiếng khóc yếu ớt nghe như tiếng mèo kêu, chỉ vài giây rồi im bặt. Thoạt đầu ông cứ tưởng mình nghe lầm, có lẽ chỉ là tiếng gió. Nghe ngóng một hồi, không thấy động tĩnh gì thêm, ông rụi tắt điếu thuốc rồi lại tiếp tục nhiệm vụ tuần tra. Nhưng khi ông vừa dợm cất bước thì tiếng khóc lại cất lên, lần này rõ hơn, đó là tiếng khóc của một đứa bé sơ sanh chừng vài tháng tuổi. Ông nhìn quanh quất, không thấy ai cả, ông rợn người nghĩ đến chuyện ma quỉ.
– Hừ, có lẽ nào…
Như để trả lời, tiếng khóc lại vang lên ngằn ngặt, xen lẫn trong tiếng khóc là những tiếng nói ngắt quãng như xoa dịu, hay dỗ dành chẳng biết, nhưng rõ ràng là tiếng người. Ông định hướng và thấy những tiếng động đó phát ra từ phía cái chòi canh. Vội vàng đề cao cảnh giác, ông đặt tay lên báng súng, thận trọng bước tới. Khi còn cách cái chòi chừng vài thước, ông dừng lại quan sát. Chòi cao ngang cột điện, nên ánh đèn soi vào bên trong, cái chòi cũng sáng như có đèn. Ông nhìn thấy rõ có người đang ngồi gần cửa. Theo thói quen nghề nghiệp, ông lùi lại mấy bước, cất tiếng hô dõng dạc, ra lệnh:
– Cảnh sát đây! Những người ở trên đó hãy xuống hết!
Không có tiếng trả lời, cả tiếng trẻ khóc cũng im bặt dường như đang bị bịt miệng. Chờ thêm vài phút vẫn không thấy động tĩnh, ông dùng cán cây đèn bấm gõ mạnh vào cái thang sắt, nói lớn hơn:
– Tôi lập lại, đây là cảnh sát! Ra lệnh những người trên chòi phải xuống hết, nếu không tôi sẽ bắn.
– Ấy chớ, đừng bắn! Tôi xuống ngay đây, ông cảnh sát.
Tiếng một người phụ nữ kêu lên hốt hoảng. Tiếp theo là những tiếng khua động lịch kịch, và từ trên khung cửa, một người đàn bà xuất hiện, một tay bế đứa bé, tay kia vịn thang, run rẩy leo xuống. Ông sửng sốt nhận ra đó là một cô gái rất trẻ, chỉ chừng 17, 18 tuổi, trên khuôn mặt hốc hác, đôi mắt mệt mỏi vì thiếu ngủ đang mở to đầy vẻ sợ hãi. Cô ta mặc một cái áo lính đã cũ và bẩn thỉu, chân đi đôi dép nhựa, dáng nghèo khổ, lam lũ nhưng không có vẻ bất lương. Xuống tới mặt đất, cô ta ôm vội ôm chặt đứa bé vào lòng để che cho nó khỏi lạnh. Ông hỏi:
– Trên kia còn ai nữa không?
Bấy giờ cô ta mới ngẩng lên, thấy trước mặt mình là viên cảnh sát già, tóc bạc hoa dâm, trông có vẻ hiền lành, cô yên tâm và giọng đã hết run:
– Dạ không! Chỉ có mình cháu và đứa bé.
– Để tôi kiểm chứng lại đã.
Ông nói và leo lên thang, tới lưng chừng, ông bật đèn pin, lia chùm ánh sáng rà một vòng khắp căn chòi nhỏ để kiểm soát. Không thấy có dấu hiệu gì khả nghi, ông đi xuống và dịu giọng hỏi:
– Con ai thế? không phải cô bắt cóc nó để đòi tiền chuộc đấy chứ?
– Dạ cháu đâu dám. Đứa bé này là con của cháu.
– Có gì chứng minh không?
– Cháu sẽ cho nó bú, chắc nó cũng đang đói.
Vừa nói, cô ta vừa vạch áo sửa soạn cho con bú. Ông vội vã xua tay:
– Thôi khỏi, để lát nữa đi, tôi tin cô. Bây giờ cho tôi coi thẻ kiểm tra.
– Thưa ông cảnh sát, cháu mới 17, chưa đến tuổi lấy thẻ kiểm tra.
Nhìn khuôn mặt non choẹt của đứa con gái, ông cau mày thở dài:
– Hừm! mới 17 tuổi mà đã bụi đời, bỏ nhà đi hoang?
– Thưa ông, cháu đâu có bỏ nhà đi…
– Nếu vậy tại sao cô lại ở đây giờ này? Cô có gia đình không? nhà cửa, cha mẹ cô đâu?
Cô gái cúi đầu buồn bã, ngần ngại một hồi, rồi mới bắt đầu kể:
– Má cháu mất rồi, cháu ở với cha và mẹ ghẻ. Ba cháu làm nghề đi biển, lâu lâu mới về nhà, ỏng chẳng bao giờ để ý đến cháu, phó mặc cháu cho mẹ kế muốn đối xử với cháu ra sao cũng kệ. Cháu học hết tiểu học thì phải ở nhà giữ em và làm việc nhà cho mẹ ghẻ cháu rảnh rang đi đánh bài. Cách đây mấy tháng, ba cháu bị tai nạn, hôm đó bão lớn lắm, ghe đánh cá của ba cháu bị lật, ba cháu bị sóng cuốn đi mất tích. Mẹ ghẻ cháu nói vận đen là tại cháu, bà không muốn chứa đứa con gái chửa hoang ở trong nhà xui xẻo, nên đuổi cháu đi…
– Thì ra là vậy, thế cô không có chồng à?
Cô gái cúi mặt dấu vẻ xấu hổ, ngượng ngùng, một lúc mới lí nhí nói:
– Cháu có bạn trai, tụi cháu thương nhau, nhưng không có tiền làm đám cưới.
– Cha đứa nhỏ đâu rồi? anh ta phải có trách nhiệm chứ?
– Anh ấy thương cháu lắm, nhưng chưa có điều kiện đem cháu theo. Anh Bình là lính, đang đi hành quân.
– Cơ khổ, chưa có điều kiện lập gia đình mà lại để cho có con, tệ quá. Thế gia đình anh ta có biết việc này không? họ khoanh tay làm ngơ à?
– Anh Bình mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thuở nhỏ, anh sống trong viện mồ côi, lớn lên đi lính nhảy dù, bây giờ là hạ sĩ nhất. Bình không có bà con thân thuộc nào hết."
Viên cảnh sát thấy lòng se lại, cô gái này lâm vào đường cùng rồi, không biết nên giúp cô ta bằng cách nào? Nghĩ ngợi một hồi, ông thở dài:
– Tội cho cô quá, nhưng cô không thể ở đây được. Tôi sẽ đưa cô vào viện tế bần, ở đó họ nuôi cơm, và có chỗ trú cho hai mẹ con.
– Lậy ông đừng làm vậy, cháu chết mất.
– Sao thế? vì lẽ gì cô không muốn vào đó? Cho dù viện tế bần chẳng phải là một nơi sung sướng,
thoải mái, nhưng ít nhất cô cũng có cơm ăn, và không phải ở ngoài trời những đêm lạnh như thế này.
– Cháu còn tiền ăn. Trước khi theo đơn vị đi hành quân, Bình cho cháu một số tiền, và hẹn tết này về phép sẽ lo cho mẹ con cháu. Từ giờ đến tết cũng chỉ còn chưa tới một tháng nữa…
Thấy ông làm thinh, cô năn nỉ:
– Tiền anh ấy cho, cháu nhín nhút cũng còn lại chút ít, nhưng không đủ để mướn nhà. Xin ông cho cháu ở tạm đây ban đêm thôi, ban ngày cháu sẽ làm bất cứ việc gì người ta mướn để kiếm tiền nuô
;i con, trong khi chờ ba nó về.
– Nhưng ở đây lạnh lắm, cô và đứa bé sẽ bị ốm mất.
– Đỡ hơn là ở ngoài trời, vì dù sao mẹ con cháu cũng có được cái mái che, và bốn bức vách tuy thấp nhưng cũng chắn gió được phần nào, nếu nằm ngay xuống sàn. "
Ông cau mày, hoàn cảnh cô gái này đáng thương quá, nhưng ông không thể làm sai nguyên tắc. Buồn bã, ông lắc đầu:
– Không được đâu, đây không phải là chỗ trú cho những người vô gia cư. Địa điểm này thuộc khu vực an ninh do tôi phụ trách, nếu có ai báo cáo có người ở lậu nơi đây, thì tôi sẽ bị khiển trách vì không làm tròn nhiệm vụ.
Cô ta oà lên khóc:
– Cháu không muốn ông bị rắc rối, nhưng quả thật cháu không biết phải làm thế nào… Bình không biết là cha cháu mới chết, và cháu bị đuổi ra khỏi nhà. Nếu cháu bị bắt vô viện tế bần thì anh ấy làm sao kiếm được cháu? Bình hẹn khi về phép sẽ tới đây tìm mẹ con cháu, vì truớc kia tụi cháu vẫn hẹn hò ở chỗ này. Ngày nào cháu cũng bồng con ra đây chờ…
Viên cảnh sát chợt thấy tim xao động, ông nhìn người mẹ trẻ đang ôm con đứng co ro trong gió lạnh, với vẻ thương cảm. Ông bối rối không biết phải hành động như thế nào? Hơn ba mươi năm tận tụy trong nghề cảnh sát, ông được tiếng là một người có tinh thần trách nhiệm, làm việc đúng nguyên tắc. Chưa bao giờ ông gặp một trường hợp khó xử như lần này. Đúng lý ra thì ông phải đưa cô ta về bót, và chắc chắn cô ả sẽ bị tống vào viện tế bần cùng chung với đủ mọi hạng người cặn bã của xã hội: những tên lưu manh, du thủ du thực, những gái điếm ăn sương, những tên ghiền ma tuý, lưu manh, bụi đời… Viện tế bần tiếng là trạm cứu tế, nhưng thật sự chỉ là một trại giam lỏng, điều kiện sinh sống rất tồi tệ, luật lệ lại khắt khe nên chẳng ai muốn vô, những người vô gia cư vẫn thích ở bên ngoài, cho dù có bị đói khát. Làm vậy thì ông không nỡ, nhưng nếu làm ngơ cho cô ta ở trong cái chòi này là bất hợp pháp.
Ông thừ người suy nghĩ, giữa lương tâm và chức nghiệp, ông không biết phải nghe theo bên nào. Cô gái này có vẻ lương thiện và ngây thơ rất đáng thương, cô ta chỉ có một hoài bão nhỏ là đợi người tình về, anh ta sẽ có kế hoạch để lo cho mẹ con cô. Một mối tình nghèo thật cảm động, và những lời van xin của cô làm ông mủi lòng, nên ông cứ đứng đó mà suy nghĩ, đắn đo cân nhắc mãi. Sau cùng lòng trắc ẩn đã thắng, ông nghĩ thầm cũng chỉ còn hơn ba tuần nữa, thôi thì hãy cho cô ta một cơ hội, biết đâu… Còn việc làm sai nguyên tắc, ta sẽ giải thích với cấp trên sau. Đứng thẳng người lên, ông nói:
– Thôi được, tôi sẽ lờ đi cho cô, cô có thể ở đây cho tới hết ngày mùng 3 Tết. Đó là tất cả những gì tôi có thể giúp cô trong quyền hạn của tôi, sau đó tôi sẽ không nhân nhượng với cô nữa.
– Cháu cũng chỉ xin có thế, cám ơn ông ngàn lần.
Vừa nói cô ta vừa quì xuống, chắp tay lạy như tế sao. Ông bất nhẫn quay đi, nói:
– Đứng lên đi! đừng làm thế. Cô có thể ở tạm lúc ban đêm, nhưng ban ngày cô phải rời khỏi đây trước khi trời sáng, kẻo mọi người qua lại sẽ thấy.
– Dạ! cháu hứa sẽ ra đi thật sớm, cháu cũng giữ sạch sẽ, không xả rác và không để lại dấu vết gì, ông yên tâm.
– Thôi bây giờ hai mẹ con lên chòi đi nghỉ đi.
Nghĩ ngợi làm sao, ông cởi cái khăn len trên cổ, đưa cho cô ta:
– Ở đây gió máy, cô hãy dùng tạm cái khăn quàng của tôi quấn cho cháu bé, đừng để nó bị lạnh.
Rồi ông ra xe, lái tới một khách sạn đang xây cất ở gần đó, đi vòng ra phía sau, chỗ người ta để những vật liệu phế thải, ông tìm được mấy miếng giấy carton lớn. Quay trở lại cái chòi, ông đưa cho cô gái:
– Cô lấy mấy tấm bìa cứng này, che lên chỗ trống để chắn gió. Nhớ dẹp đi khi trời sáng, đừng để người ta thấy.
Đứa bé bỗng ré lên khóc làm ông giật mình, nghĩ ngợi một lúc, ông lục trong túi áo, lấy hết số tiền lẻ đưa cho cô ta:
– Cầm đi, mai mua sữa cho đứa nhỏ, đừng để nó đói tội nghiệp.
Nói xong, không cần nghe cô ta cám ơn, ông bỏ đi, lòng nửa vui, nửa buồn nhưng nhẹ nhàng thanh thản vô cùng. Từ đó, mỗi khi đi tuần ở khu vực này lúc ban đêm, ông vẫn nhìn thấy bóng hai mẹ con người đàn bà khốn khổ trong cái chòi bỏ hoang.
* * *
Một tuần trước tết nguyên đán, viên cảnh sát được nghỉ phép, ông đưa cả gia đình về quê vợ ở Bạc Liêu để ăn tết. Khi trở lại, ông không thấy hai mẹ con họ đâu nữa, căn chòi bỏ trống, mọi vật vẫn y như cũ. Cô ta đã giữ lời hứa, ra đi không một lời từ giã. Ông băn khoăn không biết số phận hai mẹ con họ ra sao? trôi nổi về đâu? Ông bồi hồi thương cảm một lúc rồi quay bước, ông phải tiếp tục nhiệm vụ.
Thời gian qua, mọi việc chìm vào quên lãng, cho tới ba tháng sau, ông nhận được một bức thư gởi về ty cảnh sát Vũng Tàu, một bức thư rất đặc biệt, không có tên người nhận, ngoài phong bì chỉ đề có dòng chữ " Gởi người cảnh sát tuần tiễu khu bãi sau trong khoảng thời gian trước Tết." gởi về ty cảnh sát Vũng Tàu, vậy mà cũng tới tay ông. Tò mò, ông mở phong bì, một lá thơ rơi ra:
"Trại gia binh Long Bình ngày..tháng.. năm 1969
Thưa ông cảnh sát
Cháu rất ân hận đã sơ ý không hỏi để biết tên ông, ân nhân của gia đình cháu. Chắc ông còn nhớ người thiếu phụ trẻ với đứa con nhỏ ông gặp trong cái chòi hoang ở bãi sau Vũng Tàu, cách đây vài tháng? chính là cháu đó. Nhờ lòng nhân của ông, mẹ con cháu đã sống sót qua mùa đông. Chồng cháu đã về kịp lúc để lo cho mẹ con cháu. Anh Bình đã xin được một căn nhà ở trong trại gia binh và đón mẹ con cháu về, căn nhà tuy nhỏ nhưng rất ấm cúng.
Trước khi rời khỏi nơi đây, vợ chồng cháu có đi tìm ông để từ giã, nhưng không được gặp, cầu mong thư này sẽ tới được tay ông, để ông được biết một tin vui về hai mẹ con cháu. Anh Bình và cháu mới làm hôn thú, và khai sanh cho đứa nhỏ. Bây giờ cuộc sống của vợ chồng cháu đã tạm thời ổn định, Bình có lương hạ sĩ, được thêm tiền trợ cấp vợ con, còn cháu buôn bán lặt vặt phụ thêm, nên cũng đủ sống. Gia đình cháu có được ngày nay, một phần cũng là nhờ ông đã cho cháu một cơ hội.
Cháu rất mong được gặp lại ông, một người cảnh sát rất nhân từ, tốt bụng. Khi nào có dịp đi ngang qua trại gia binh ở dưới chân đồi Long Bình, cách Biên Hoà chừng một cây số, xin mời ông ghé chơi, nhà chúng cháu ở dãy H, nhà số 32, cho vợ chồng cháu được nói một lời tri ân. Cầu xin Phật trời phù hộ cho ông và gia đình ông được mọi điều tốt lành.
Kính thư
Nguyễn Thị Nhiên và chồng là Đỗ An Bình"
Đọc xong lá thư, viên cảnh sát mỉm cười cảm động, không ngờ hành một vi nhân đạo nhỏ nhoi, không đáng gì lại có thể cứu vãn cuộc tình của hai người trẻ tuổi đáng thương. Ông nhủ thầm, bây giờ ta có thể yên tâm về họ, nhưng còn ta, danh dự của một người cảnh sát không cho phép ta nói dối, không thể cứ dấu nhẹm mãi chuyện này. Bổn phận của ta là phải báo cáo hết sự thật, rồi tới đâu thì tới, cho dù có bị khiển trách hay bị hình phạt nào chăng nữa, ta vẫn không buồn vì đã làm được một việc đúng với lương tâm. Nghĩ vậy, ông mạnh dạn cầm lá thư tới sở cảnh sát, xin gặp ông trưởng phòng. Chậm rãi ông kể lại hết sự việc, nghe xong, ông trưởng phòng tên Hoà cười ha hả, vỗ vai bạn mà rằng:
– Nếu cậu cứ lờ đi không nói thì cũng chẳng ai biết, nhưng mà cậu đã tự ý khai ra… Hà hà! cũng tốt thôi, nhưng đã biết cậu vi phạm nội qui, thì tôi không thể không phạt cậu. Vì tinh thần tự giác, có thể cậu sẽ được hưởng trường hợp giảm khinh nếu báo cáo đúng hạn, đàng này để tới bây giờ là quá trễ. Tôi phạt cậu phải gác đêm hai tuần liền, bắt đầu từ thứ hai tới, thế cho một viên cảnh sát được nghỉ phép vì vợ đẻ. Thế nào? có kêu ca oan ức gì không?
Ông lắc đầu, cười ngượng nghịu:
– Nếu đem lên bàn cân, thì hai tuần lễ phạt chắc chắn sẽ nhẹ hơn cái lá thư này nhiều.
– Tôi cũng nghĩ thế.
Cả hai cùng cười xoà, họ bắt tay nhau từ giã. Rời khỏi văn phòng, ông bước những bước nhẹ tênh trên hè phố. Ông phóng tầm mắt nhìn ra xa xa, cảnh vật hôm nay sao đẹp quá, chim chóc ca hót ríu rít, gió xôn xao và hoa cỏ dường như xanh tươi hơn mọi ngày. Mùa xuân đã về trên khắp nơi, thành phố biển dường như sinh động hẳn lên với những tiếng sóng rạt rào từ ngoài khơi xô vào bờ tung bọt trắng xoá, tiếng sóng nghe như tiếng reo vui, hay lòng ông đang vui? Ông nghĩ về đôi vợ chồng trẻ nọ, về cái gia đình nhỏ bé của họ và mỉm cười, thấy lòng ấm áp lạ thường.
PHƯƠNG LAN
ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ
ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ
Nguyễn Phan Ngọc An : VẦNG TRĂNG VU LAN
VẦNG TRĂNG VU LAN
Tâm Bút Nguyễn Phan Ngọc An
Trời về khuya khí hậu mát mẻ, cảnh vật im lìm ngoài tiếng động cơ hạ cánh, bởi vậy Thy thích du lịch Việt Nam vào thời điểm này…nàng khoan khoái thở một hơi dài nhẹ nhõm, mừng đã thoát được cái ghế tội tình kia !
Nàng nhớ lại hơn hai mươi giờ ngồi một chỗ mà nổi ga gà, cũng may mắn là Thy không bao giờ say sóng. Ngày xưa khi mới lập gia đình, đất nước tràn ngập chiến tranh, đường xá bị giật mìn hư hỏng, nàng chỉ toàn đi phi cơ đủ loại từ phi cơ tải thương H20, phi cơ du lịch Secna, phi cơ đưa thư Hauter cho đến loại C130 chở hàng chục chiến xa và mấy trăm con người nên với chiếc Boing 747 này nàng thấy rất bình thường như lái xe trên Freeway vậy thôi…
Phi cơ ngừng hẵn, từng đoàn người xách hành lý lần lượt ra khỏi phi cơ, trong lòng Thy rộn lên một niềm vui khôn tả…chỉ một khắc nữa thôi, sau khi làm thủ tục nàng sẽ được gặp đứa con gái thân yêu của nàng.
– Kìa, Thy đã về !
Một giọng nói quen thuộc khiến Thy quay nhanh lại, nàng không khỏi ngạc nhiên khi đón nàng không chỉ con gái nàng mà còn có cả một số bạn bè của nàng nữa…Thy ríu rít :
– Chào các anh, các chị, rất vui mừng khi được các anh, các chị hy sinh giấc mơ hoa để đi đón Thy, vạn hạnh, vạn hạnh.
– Thôi đi cô bé ! quà Mỹ đâu bày ra hối lộ ngay đi, người ta năn nỉ hụt hơi tụi này mới chịu đưa đi đón đó chứ dễ gì nửa đêm khiêng được lũ này ra khỏi nhà!
Thy ngạc nhiên trố mắt ra định hỏi thì Hồng Vân đã cướp lời anh Bảo Cường : Người ta trồng cây si đến độ quên ăn mất ngủ, về rồi phải tính sao đây ? nhà hàng Năm Sao hay Mỹ Cảnh nói cho bọn này rõ ?
Rõ ràng Thy bị các bạn tố khổ, bởi vì nàng không hề có một cảm tình riêng tư nào cả, nàng về quê lần này là vì chữ hiếu, cha nàng đã quá bát tuần, nàng phải lo trước chỗ yên nghỉ cho cha sau này…Bỗng một giọng ngâm trầm ấm nhè nhẹ cất lên : “ Ta đã đi qua nửa cuộc đời, giờ đây còn lại phút đơn côi, xin đem một nửa đời còn lại, chia xẻ cùng ai những ngậm ngùi”…
Thy đỏ mặt ngượng ngùng nhìn Yên Linh, bài thơ lại là đề tài cho các bạn chọc ghẹo nàng, ăn miếng, trả miếng, Thy không vừa : “ Ai có gan chia xẻ, cứ ra đây, đừng hối hận” – Yên Linh đẩy bạn ra đối diện với Thy, một nét mặt hoàn toàn xa lạ đối với nàng ! Thy bối rối phút giây khi người đàn ông lên tiếng :
– Thưa cô, xin cô thứ lỗi, thật tình tôi có hơi đường đột vì lẽ chưa một lần quen biết cô, không hiểu vì sao khi nhận được tập thơ cô gởi về cho các bạn để thực hiện cuốn băng thơ, tôi tò mò đọc và ray rứt khôn nguôi, thương cho một kiếp tài hoa bạc phận, ước gì tôi được chia xẻ với cô…
Thy không biết phải trả lời thế nào cho phải, bởi hai mươi năm sống cô đơn đã khiến trái tim nàng nguội lạnh, chữ tình đối với Thy là một tai họa gớm ghê ! nàng chỉ biết cảm ơn người đàn ông vài câu rồi ân cần chia tay các bạn, henï ngày hôm sau trở lên Sài Gòn mời tất cả quý vị đi nhà hàng Năm Sao rồi tha hồ mà chọc phá, nàng phải về Vũng Tàu ngay vì cha già đang mong đợi !
Trên xa lộ mênh mang, hồn nàng mơ hồ bay bổng, nàng còn gì ngoài thân xác tủi hờn và bộ óc vô ngôn ? nàng chỉ muốn sống cho hết cuộc đời còn lại, trả cho hết nợ trần gian mà nàng đã vay mượn từ muôn kiếp trước…xung quanh nàng biết mấy bạn bè tốt phước, chúng chẳng có nhan sắc, chẳng học hành bao nhiêu lại chẳng phải gia đình nho giáo vậy mà trời lại ân sũng họ, cho họ một cuộc sống sang giàu hạnh phúc, chồng tận tụy cưng chiều ! Tất cả là định mệnh, đã là định mệnh thì không có gì thay đổi được…Có lẽ tôi sinh ra bởi một vì sao xấu, dù tâm tôi lúc nào cũng hướng thiện và làm điều phước thiện, xin hãy hiểu cho tôi, tha thứ cho tôi hỡi người bạn vừa biết mặt, vừa trao gởi cảm tình cho tôi – Bởi vì trước mắt tôi bây giờ là một màn đêm dày đặc, ưu phiền chán ngán đã mọc tràn trề trên mắt môi tôi, tôi chỉ muốn thu hình lại trong chiếc vỏ sò nhỏ bé kia để quên đi và quên đi tất cả…đối với tôi, hơn nửa đời người, một hình tượng tình yêu đúng nghĩa, chưa bao giờ có được trong tôi, tôi đã tìm qua năm dài tháng rộng vẫn bay xa, thì với phút giây gặp gỡ nào có nghĩa lý gì ? Ai hiểu cho tôi, một nội tâm sâu thẳm dật dờ, tôi chỉ muốn sống như một thiên đàng huyền ảo, đừng có loài người, đừng có yêu thương, để tôi chỉ biết yêu hoa, yêu gió, yêu trăng để tôi khỏi phải làm đau lòng ai đó…
Tiếng thắng xe làm Thy bừng tỉnh, đã về đến nhà nàng, một mái ấm thân thương đã cho nàng biết bao kỷ niệm – Thy xem đồng hồ, đã 3 giờ sáng – Đèn trong nhà bật sáng lên, cha nàng khập khểnh bước vội ra sân để đón nàng, mái tóc cha bạc trắng, đôi mắt cha long lanh đôi dòng lệ, cha ôm chầm lấy Thy trong đôi tay gầy guộc khẳng khiu – Thy ôm cha trong nghẹn ngào : “ Cha khỏe chứ, con nhớ cha nhiều lắm” ! rồi không đợi ông trả lời nàng tháo vội chiếc nón nỉ đang đội trên đầu và chiếc gậy màu xanh mua ở Mỹ đem về tặng cha, nàng lại mở ví ra, một chiếc nhẫn vàng, một chiếc nhẫn hột kiểu Mỹ, một chiếc đồng hồ mặt vàng dây vàng…tất cả Thy đặt vào tay cha rồi quỳ xuống bên ông thỏ thẻ : Cha ơi, về gặp cha con mừng lắm, tuy rằng cha gầy ốm hơn năm ngoái nhiều…Đôi mắt cha sâu hẵn và lờ đờ không tinh anh như trước, đôi chân khập khểnh dò từng bước một – Thy dìu cha đi nghỉ còn nàng thì đau lòng không thể nào dỗ giấc được nên lặng lẽ ra trước hiên nhà ngồi suy nghĩ miên man ! nàng nhớ rất rõ những hình ảnh thuở đương thời oanh liệt của cha, những hình ảnh cha nàng du học nước ngoài, những tấm ảnh cha làm cầu thủ cho đội banh nước Pháp, những mảnh bằng tuyên dương, khen ngợi…Ôi ! Còn đâu thời vàng son ấy ? Cha nàng bây giờ như ngọn đèn trước gió, không biết tắt lúc nào ! Càng suy nghĩ Thy càng khổ tâm, ba anh em nàng đều ở Mỹ, bỏ lại mình cha ở lại Việt Nam với đứa con gái của nàng trong hoàn cảnh trơ trọi lẻ loi không bà con thân tộc, ngày cha trăm tuổi biết lấy ai đỡ đần hữu sự ?
Nghĩ đến viễn ảnh đó tự nhiên nước mắt Thy trào ra, nàng hiểu anh em nàng không thể về kịp để lo cho cha giờ phút quan trọng này ! Năm xưa lúc mẹ qua đời chính nàng là người gần gũi mẹ trong giờ phút lâm chung, nàng chu toàn mọi sự việc cần thiết nên cũng đỡ bứt rứt lương tâm, tuy rằng nỗi đau chứng kiến người thân yêu trong giờ phút cuối cùng đã khiến nàng tê tái tim gan tưởng không chịu đựng nổi !!!
– Mẹ ơi, khuya quá rồi sao mẹ không đi ngủ ? khí hậu bên nầy mẹ chưa quen coi chừng cảm đó ! Thy choàng tỉnh vội vàng đứng dậy theo con gái vào phòng nằm nghỉ sau hai ngày vất vả trên đường bay đã làm cơ thể dường như rã rời…
Tiếng gà gáy vang vang khiến nàng thức giấc…một cảm nhận ngọt ngào của quê hương mà bao năm nàng không được đón nhận, những tiếng chó sủa về khuya tru dài từng đợt, những đêm trăng sáng tụ tập kẻ đàn người hát vang dậy một góc phố, những buổi đi xem cải lương về lũ lượt từng đoàn người náo nhiệt trên đường lộ…Những ngày cuối tuần du khách tấp nập, xe vào thành phố như mắc cửi, giao thông bế tắc hàng giờ ! Nàng ao ước được sống mãi với những khung cảnh đó, được bơi lội trong vùng thương yêu đó, bởi vì nơi đất khách quê người, nơi chốn tạm dung kia nó cô đơn và tẻ nhạt vô cùng !
“ Chốn nầy tình nghĩa có còn không ?
Nghe pháo xuân sang quặn thắt lòng
Hai chữ đồng hương sao ái ngại
Nhìn nhau mặt lạnh tựa trời đông”!
Vì biết nơi đất Mỹ tuổi già sẽ cô độc đến thế nào nên anh em nàng không làm giấy bão lãnh cha qua Mỹ, mặc dù cha có thừa điều kiện để đi vì trước đây cha làm cố vấn phi trường, quản lý hàng ngàn viên phi công Hoa Kỳ và còn giữ rất nhiều hình ảnh công tác chung với họ – Nhưng để cha già gò bó chốn quê nhà, không thụ hưởng được những nếp sống văn minh tân tiến của xứ người là điều mà anh em nàng ray rứt lương tâm không ít cho nên cuộc sống ly hương càng thêm buồn bã !
Bây giờ mọi việc đã trễ tràng, cha không còn đủ sức khỏe để xuất cảnh nữa, chỉ nội chuyện đi chích ngừa, đi khám sức khỏe cũng có thể làm cha đứt hơi rồi đừng nói chi ngồi hai ngày đêm miệt mài trên phi cơ với độ cao lộn ruột…
Nói sao hết nỗi trắc ẩn trong lòng, Thy thở dài chán nản, nếu ngày trước đừng cản anh trai nàng chuyện bão lãnh mẹ cha thì chắc gì mẹ nàng phải chết oan uổng tại quê nhà, người đồng hương sao lại có những kẻ xấu xa ích kỷ, hàng xóm láng giềng mà cư xử chẳng nghĩa nhân, không giúp người lúc nguy nan kêu cứu ? Mẹ ơi…mùa trăng nầy là đã mười chín mùa trăng xa cách mẹ, mỗi lần con về quê hương thổn thức trong con càng dâng cao, còn đâu bóng dáng mẹ hiền chiều chiều phe phẩy chiếc quạt ngồi cạnh gốc cột đèn điện trước cửa nhà chờ con ?! Mất mẹ là mất cả bầu trời dịu ngọt, là mất cả niềm tin lẽ sống của riêng con…Mùa Vu Lan nầy lại thêm một lần nức nở cài cho mình cành hoa trắng trên ngực áo để nghe giọt buồn ngậm đắng bờ môi !!!
Hương khói thân thương làm ấm lại
Bao nhiêu kỷ niệm tháng ngày qua
Dáng mẹ thân yêu giờ đã khuất
Còn đây đơn lẻ bóng cha già!…
Trước mộ phần của mẹ, Thy quỳ mọp nghẹn ngào – Mười chín năm dài mẹ ngủ yên dưới lòng đất lạnh, đêm đêm chỉ có tiếng côn trùng rả rích than van trong màn sương u tịch thê lương của nghĩa trang vắng lặng…còn có ai để cận kề an ủi hay chỉ là những hồn hoang câm lặng dưới đáy mộ sâu ? Nàng quỳ như thế rất lâu và quên cả không gian quanh nàng – Trăng rằm đã lên cao qua đỉnh núi, Thy ngước mắt nhìn trăng qua đôi dòng lệ âm thầm, không còn một bóng người trong nghĩa trang nhưng nàng không thấy sợ – Tâm linh cho nàng biết mẹ luôn luôn phù hộ cho nàng trước bao tai biến, đã bao nhiêu lần nàng nằm mộng thấy mẹ về, oằn trên vai mẹ những bao bột nặng nề, hai bên còn có hai tên mặt mày hung tợn kềm kẹp mẹ, những lúc như thế nàng khóc ngất chạy theo mẹ thì bị hai tên côn đồ xô nàng té sấp, giựt mình tỉnh giấc…thì ra là trong giấc chiêm bao – Một lần nàng chạy chiếc xe Dream chở bé Thanh là đứa cháu gái kêu bằng dì và bé Vân là con gái nàng, đến khúc đường lộ lớn với tốc độ 80 cây số một giờ, một đàn bò thình lình từ trong đường băng ngang qua lộ, Thy quýnh quáng đạp thắng không được vì gót giày cao mắc vào cây ngang chỗ để chân mà bé Thanh cũng để chân chung với Thy nên không cách nào kéo gót giày lên kịp, Thy chỉ kịp kêu mẹ cứu nàng vì đã sát vào thân con bò đang băng qua lộ ! Nếu không được mẹ cứu giúp tức thời qua tai nạn thì cả 3 người chẳng ai còn mạng sống với tốc độ chạy rất nhanh trên đường lộ tráng nhựa – nghĩ đến tai nạn này Thy rùng mình, ớn óc , cái chết qua đường tơ kẻ tóc…nhưng có lẽ ngày đó là ngày đại nạn không thể nào tránh hẵn được, nên khi để Vân ở nhà Thy cùng cô cháu tiếp tục đi Sài Gòn, lên tới Hàng Xanh người đông như kiến, tránh một hàng người đi bộ giăng ngang đường Thy đã tông vào hông một chiếc xe hơi, hai dì cháu ngã vật trên đường tay chân mặt mày trầy trụa, chiếc xe Dream bể đèn bể bửng nằm còn quay bánh chênh vênh trước những đoàn xe qua lại vùn vụt – hai dì cháu phải vào bệnh viện băng bó, chiếc xe phải mướn xe xích lô máy chở đi đến tiệm sửa, thay đèn thay bửng, tút lại màu sơn những chổ trầy tốn hết gần 2 triệu đồng VN – Trên đường trở về nhà xa khoảng 120 cây số, hai dì cháu cứ suýt xoa lẩm bẩm : Đúng là ngày xui tận mạng, không chết thì cũng bị thương, nhưng thà bị thương, bị tốn tiền còn hơn bỏ mạng ngoài xa lộ…
Năm sau, 1990 chờ đợi hoài cũng chưa thấy được xuất cảnh, Thy mua một chiếc xe tốc hành màu trắng chạy chở khách hàng ngày Vũng Tàu – Sài Gòn, ngày đầu tiên mua xe Thy đã gặp nạn – trong nhà và hàng xóm ai cũng bảo : năm nay sao Thái Bạch không được xài bất cứ cái gì màu trắng, tại sao mua xe màu trắng vậy ? Mua xe ở Phú Lâm, người chủ xe lái xe về Vũng Tàu giao tận nhà cho Thy và cà số xe để trở về Sài Gòn làm giấy tờ cho Thy đóng thuế trước bạ – vì còn một số thuốc lá 555 và hàng hoá thuốc tây Thy chưa kịp lấy xong hàng nên nàng đã lấy chiếc xe Dream chở chú Hiền chủ xe hơi về Phú Lâm, tiện thể lấy hàng mua chở về bằng xe Dream cho qua các trạm dễ dàng hơn – Trên đường về Sài Gòn, khi đi ngang Xã Hiền Hòa còn cách Long Thành chừng 7 cây số, trời đã tối Thy thấy trước mặt một bóng người to lớn chạy băng qua đường, với tốc độ đường trường và mở đèn cốt nàng không thể thắng kịp, chỉ còn nước lạng tránh mà thôi – Người đi bộ ấy đã đập nguyên chiếc mặt vào mặt Thy đến độ bể nát cái kiếng đổi màu Thy đang đeo trên mắt, những ngón chân người ấy bị bánh xe sau cán lên giựt người ấy té ngữa giữa lộ, máu ra ướt cả một vũng…xe của Thy thì lảo đảo thêm khoảng 10 mét nữa rồi ngã rầm bên lộ phải, chú Hiền và Thy văng ra khỏi xe – Khi hoàn hồn dựng xe lên Thy mới biết là đã tông vào một người đàn bà rất to con và là bà bầu gánh hát đang lưu diễn tại xã nầy – Mọi người xúm lại lấy xe Honda phụ nhau chở bà gấp đến bệnh viện Long Thành, trong lúc ấy hai người cháu của bà một trai một gái cũng là diễn viên của đoàn hát cầm cây chạy ra toan đánh Thy và chú Hiền, còn các con của bà thì đã chở bà đi nhà thương – Thy khóc và năn nỉ rằng tai nạn rủi ro chứ nàng đâu muốn, hai người trẻ tuổi ấy dường như cũng thấy thương hại nên không nỡ xuống tay đánh nàng – Công an đến bằng một chiếc xe Zeep lùn và Thy bị làm biên bản tại chỗ xãy ra tai nạn…Công an cho phép Thy lấy chiếc xe Dream chạy lên bệnh viện xem tình hình người thọ nạn, còn Hiền bị giữ lại làm con tin. Thy không còn tinh thần để lái xe nên hai người trẻ kia đồng ý lái và chở 3 lên bệnh viện – Thy lo gửi xe, hai người trẻ kia chạy vào bệnh viện và nhắc Thy : “ Cô coi chừng, lỡ thím cháu có mệnh hệ gì, con của bả sẽ ra đánh cô chết, tụi nầy mà chạy ra là cô chạy gấp nhé” Thy điếng cả người, gửi xe vừa xong chưa kịp bước theo vào bệnh viện thì nghe tiếng chân chạy thình thịch của một đám người, hai người trẻ kia chạy trước, ba người chạy theo sau – hai người trẻ kia la lên “ chạy mau cô ơi, bả chết rồi, tụi nó đánh cô chết đó” Thy quýnh quáng không kịp đề nổ máy xe mà cứ dẫn chạy nhanh theo hai người trẻ kia, tim nàng đánh thình thịch vì quá sợ hãi, cậu thanh niên cầm lấy xe đề máy, Thy và cô gái phóng nhanh lên xe thoát được ba người đang chạy theo sau ! Về đến chỗ lập biên bản, Công An hình sự giam giữ chiếc xe Dream của Thy và mời nàng lên xe Zeep chở về quận Long Thành, lúc đó là 9 giờ đêm năm 1990 – Thy bị giam lỏng trong chỗ làm việc hộ khẩu hộ tịch – ban ngày họ cho Thy tự do đi ra ngoài, ban chiều và tối khi hết giờ làm việc họ cho Thy vào phòng nghỉ và ngủ đêm trong đó để chờ thụ lý hồ sơ xét xử – Đêm đầu tiên nằm trên chiếc giường nhỏ, cửa sổ hư không có cánh cửa, Thy run bắn cả người, cứ liên tưởng đến người chết do mình gây ra rồi tưởng tượng họ báo oán, họ kéo chân nên không hề chợp mắt, tinh thần rã rời, sức lực cũng tàn lụn, nàng không ngờ có một ngày nàng đã giết người ! Nàng đã cướp đi mạng sống của một con người…nàng khấn lầm thầm “ bà ơi, xin bà tha tội cho tôi, trăm ngàn lần xin bà tha tội cho tôi” nàng chỉ nói thầm trong bụng vì tưởng như nói ra tiếng bà ấy sẽ nghe, nàng sợ quá, nàng sợ đến run cầm cập giữa đêm khuya lặng ngắt như tờ, một nơi xa lạ không thấy một bóng người trực đêm, trời ơi, mẹ ơi xin mẹ phù hộ cho con bình tỉnh thoát qua đêm nay, xin mẹ cứu lấy con trong tai nạn giết người này – con sợ quá mẹ ơi, xin mẹ linh thiêng cứu con, cứu con mẹ ơi…Thy đã khóc rấm rức hơn ba tiếng đồng hồ, thời gian đối với nàng bây giờ là phép nhiệm mầu, nàng cầu mong trời mau sáng cho nàng qua khỏi đêm dài khủng hoảng kinh khiếp này.
Một tuần sau ngày bị giam lỏng trong trại công an Long Thành, Thy không tài nào ngủ được, cứ nghĩ đến ngày bị đưa ra xét xử và một hình phạt khắt khe dành cho một tội phạm như nàng…Sự tưởng tượng mông lung trong ghê sợ đã khiến tâm hồn Thy mệt nhoài trong vô thức. Nàng cầu xin ở cõi siêu nhiên giúp nàng xóa tan đi những ám ảnh nặng nề trong tâm trí để có một chút bình yên vỗ về giấc ngủ muộn màng ! Nào ngờ từ trong vô thức siêu nhiên, niềm tin kia đã trở thành hiện thực đưa đẩy sự việc khó khăn gian nan thành may mắn bất ngờ… Trong cuộc đời trải bao gian truân khốn khó của kiếp nhân sinh Thy chưa bao giờ phải bị bắt vì bất cứ một nguyên nhân nào, lần đầu tiên trong cuộc đời nàng đã phải bị giam lỏng, phải thụ lý hồ sơ án lệnh và…lần duy nhất trong đời nàng đã vô tình giết hại một mạng người, không biết tai họa nàng gây ra sẽ đem đến hậu quả vay trả như thế nào trong tương lai ? Thy đau đớn mang vào tâm hồn mình một bản án giết người, nó ám ảnh nàng suốt mười mấy năm qua, đêm đêm Thy vẫn âm thầm cầu nguyện bà tha tội cho nàng, hàng năm Thy không quên ghi tên bà vào danh sách thân nhân đã mất để nhờ quý thầy đọc kinh cầu siêu cho bà – Nàng vẫn nhớ sau ngày xét xử vụ án chết người do nàng gây ra, Vinh đã dùng xe hơi của đội điều tra chở nàng và con gái nàng đến nhà nạn nhân – Thy mua trái cây, nhang thơm vào cúng trước di ảnh của bà, trái tim Thy như muốn ngừng đập khi nhìn lên di ảnh bà đang trừng trừng nhìn Thy tức giận…Bà ơi, xin bà một vạn lần tha thứ cho tôi, tôi nào muốn cướp đi mạng sống của bà, tai nạn ngoài ý muốn, một tai nạn đã làm tôi bỏ ngủ bỏ ăn hối hận dập dồn bao nhiêu năm trời, tôi không ngờ có ngày tôi phải mang bản án sát nhân…Bà ơi, giờ này chắc bà đã tha thứ cho tôi, bà đã lặng yên miên viễn, còn tôi thao thức dày vò tâm não mười mấy năm qua, tôi biết bà hiển linh để đọc những dòng tâm bút này của tôi, và bà sẽ mĩm cười mà tha thứ cho tôi – tôi tin như thế – tôi tin mẹ tôi cũng như bà, những tâm linh đầy lòng nhân ái, tôi phải tin như thế để tôi được sống bình yên dù cũng có đôi giây tôi chợt nghĩ, hay là…bà ấy chết rồi, bà ấy đã ở một thế giới khác, bà hận thù mình mà không làm sao được đấy thôi ! Thy buông tiếng thở dài não nuột, nhìn ngôi mộ mẹ lần nữa để từ tạ rồi âm thầm gạt lệ dẫn xe ra khỏi nghĩa trang lặng ngắt âm u – bên ngoài, trăng đã lên cao, thấp thoáng bên sườn đồi những cành hoa rực rỡ sắc màu lấp loáng trong màn sương đêm, một ngọn gió nhẹ mát như nhung hôn vào những bông hoa đang lã lướt gọi mời và ánh trăng đang ngọt ngào cười với gió, vầng trăng kia vẫn muôn đời là chứng nhân trong vũ trụ – Còn gì huyền hoặc liêu trai hơn chuyện tình giữa hoa và gió hôn nhau, nàng trăng thẹn thuồng đỏ mặt chứng kiến trong đêm khuya tỉnh mịch giữa núi đồi hoang vu…
Nguyễn Phan Ngọc An – Mùa Vu Lan 2009

