Cao Anh Nguyệt : THI SĨ HỒNG HÀ VỚI TẬP THƠ GIẤC MỘNG VỪA

THI SĨ HỒNG HÀ VỚI TẬP THƠ GIẤC MỘNG VỪA

Đọc những trang thơ trong “Giấc mộng vừa” của HỒNG HÀ chợt nghĩ đến một điều, đã là mộng sao lại còn ngại ngùng, mộng có bao giờ là thực sao không cứ thả mộng vào thơ cho mọi ràng buộc trở thành vô nghĩa, mọi quy tắc chỉ là phù phiếm để được thỏa thích sống với thế giới mà mọi thứ phải hóa thành thơ. Phải chăng tác giả chỉ mong điều thực trong mộng nên chỉ mơ “Giấc mộng vừa”, tuy nhiên cái ranh giới cuối cùng để dừng lại là sự vừa đủ cũng là một cách sống, vì biết đâu chỉ một giấc mơ khiêm tốn mà mấy ai đạt đựợc dù có đi trọn cả kiếp người. Đọc thơ Hồng Hà để thấy man mác và thấp thoáng đâu đó nỗi cô đơn thầm lặng, thấp thoáng trong thơ nỗi muộn phiền, ray rứt trong thơ nỗi buồn mênh mang về một tình yêu đã quá xa xôi. Lại vẫn là tình yêu, đề tài cả thiên niên kỷ của thế gian, nhưng đã trót vương mang với cõi tình, chết nửa đời nhau vẫn là một ám ảnh cô miên.
Ai làm chết nửa đời tôi

Nửa đời hiu quạnh, nửa đời tịch liêu
Phải không cái gọi tình yêu
Lao xao mặt sóng, phong rêu đáy hồ
……………………………………….
Ai làm chết nửa đời mơ
Nửa đời vụng dại, vần thơ còn mềm
…………………………………………..
Ai làm chết nửa đời nhau
Nửa đầu bất hạnh, nửa sau nát lòng

Câu hỏi đặt ra như một lời than oán về tình yêu, cuối cùng chỉ là hoài niệm khi nhạt nhòa khi cay đắng, để rồi cô đơn không chỉ thấp thoáng như một sự điểm trang của nỗi buồn mà thật da diết, tiếng thơ bây giờ gần như ai oán khi đối diện là sự câm lặng của thinh không. Tiếng thơ bây giờ không chỉ là nỗi xao xuyến trên những âm từ. Đây chính là lúc mà thi sĩ gửi gắm tất cả sự câm lặng của cô đơn, dấu hiệu của một dồn nén nội tâm u uẩn, e rằng nỗi đau thương cô lẻ này đến cả nghìn thu…..

Một mình, một bóng, một tôi
Một da diết vắng, một trời cô đơn
Một lặng câm giữa tủi hờn
Bốn bên tĩnh lặng buồn hơn nỗi buồn

Thế nhưng tình yêu trong thơ Hồng Hà lại vẫn không thể bước ra khỏi quy luật của định mệnh, tình yêu lại vẫn có chất đam mê, say đắm như còn tinh khôi. Khắc khoải gọi tên ai đó, ai đó có biết mình được gọi tên, phải chăng trong âu yếm có pha lẫn trách hờn, trong mong chờ đã biết không bao giờ gặp gỡ và cả trong chung thủy vốn biết rằng sẽ đổi thay. Hãy nghe một người thơ gọi một người…thương?

Đằng ấy ơi, đằng ấy à
Cớ sao đằng ấy bắt ta buồn lòng
Để rồi cứ đợi cứ mong
Chờ ngày đằng ấy đến trong tình đầy …

Đằng ấy ơi đằng ấy này
Cớ sao đằng ấy cứ hay làm tàng
Đục trong, thương ghét làng nhàng
Ấy ơi ta biết rõ ràng lắm cơ

Đằng ấy ơi, đằng ấy nờ
Ta đâu ngu ngốc dại khờ lắm đâu
Đời thường cũng lắm bể dâu
Biết đâu rồi lại hát câu nợ đời

Đằng ấy này, đằng ấy ơi
Đổi thay, thay đổi ngàn khơi ấy mà
Đằng ấy ơi, đằng ấy là
Là duyên là nợ là ta … là mình !!!

Cái say đắm của Hồng Hà trong thơ không cuồng nhiệt nhưng thắm đượm một chút lãng mạn, xa vời. Ngôn tự trong thơ cho dù là một lời trách cứ vẫn nhẹ nhàng, êm ái và màu sắc của thơ vẫn xanh ngát mượt mà để thấy sự vững chải trong cách nhìn của tác giả về tình yêu vẫn là sự mơ ước muốn vượt thoát, bay bỗng và thăng hoa. Một lời nhắn gởi cho ai đó, tìm một tri kỷ, tri âm trong thơ hay trong đời, trong mộng hay thực. Mộng lớn đã mang thì mong gì một chút tình riêng lẻ. Sự lựa chọn đôi khi thật xót xa…. Thái độ lựa chọn ở đây không phải là sự từ chối mà thái độ lựa chọn mang tính cố hữu, ngần ngại và đã bước ra ngoài định luật muôn thuở của những lời yêu…thường tình. Thôi đành vậy thôi…
Nặng tình non nước, lỡ tình ta

Nghiệp dấn thân cũng lắm nhục vinh
Quên ăn mất ngủ, cũng không tình
Khó khăn, sóng gió ai giúp sức
Buồn vui, yêu ghét, chịu riêng mình
Xưa bạn Bá Nha có Tử Kỳ
Mất Kỳ, Nha gác nghiệp Cầm Thi
Thời nay đâu dễ nên tri kỷ
Cùng mộng Đào viên, một hướng đi

Ta hiểu lòng nhau, dẫu nhạt nhòa
Lúc mềm, lúc ngọt, lúc rất xa
Khi nhớ, khi quên, khi tình tự
Nặng tình non nước…lỡ tình ta!!!

Thiên nhiên muôn đời vẫn làm choáng ngợp hồn thi sĩ, Hồng Hà cũng không thể làm ngơ trước những mời gọi tuyệt vời ấy để hồn thơ đi vào không gian vời vợi của gió trăng tự tình, của biển lạnh lung linh.Tuyệt vời thay khi chỉ một mình đắm chìm miên man trong cái tĩnh mịch của đất trời, chỉ những phút giây ấy con người thi sĩ mới tuyệt đối tự do, tuyệt đối say đắm và hòa quyện vào cái mông mênh ngàn đời của thiên nhiên. Ta đứng giữa biển trời, giây phút ấy tuyệt đối ta mới là ta, không màu mè, không giả dối, ta buông mình thỏa thích nói lời tự tình với biển với trăng. Lời thơ như thoát ra từ con tim, biển với ta đối mặt , ta muốn hỏi người cuộc đời này có còn hạnh phúc không? Những phút giây thần thánh ấy như thấy mình lạc vào chiêm bao nhưng lại sợ cái mong manh của giấc chiêm bao…
Ngắm sông nước, ngắm trời xanh biển rộng

Tự hỏi lòng hạnh phúc có còn không?
…………………………
Biển ơi hãy giữ giùm ta
Thắm xanh của nước, ngọc ngà của trăng
Lung linh soi bóng chị Hằng
Se se biển lạnh gió trăng tự tình
Lặng yên ngắm dáng em xinh
Vòng tay xiết mạnh sợ mình chiêm bao
Mai rày dẫu có ra sao
Em ơi xin nhớ tình trao biển này!!!

Đã có những tháng ngày êm đềm và đầy ắp những kỷ niệm đẹp đẻ về một quá khứ mà khi nhớ lại chắc hẳn tác giả vẫn còn tiếc nuối..Nhìn biển này thương kỷ niệm ngày qua
Ta yêu lắm hoàng hôn trên biển cả
Quá khứ đã quá xa vời và tương lai vẫn còn đầy trăn trở, một lần nữa tác giả đã phải thốt lên
Tiếng sóng xô ray rứt giữa đôi bờ

Hương biển mặn thấm sâu lòng trăn trở

Vừa qua là những nét đẹp trong thơ của Hồng Hà, tập thơ “Giấc Mộng Vừa” ra mắt đã gây được sự chú ý của khách yêu thơ tuy nhiên vẫn chưa biết cô muốn gọi mình là Thi sĩ hay là bác sĩ. THI SĨ HỒNG HÀ cũng chính là BÁC SĨ ALISA HÀ VŨ (Doctor of Chiropractic). Có lẽ nghề của Hồng Hà là chữa bệnh nhưng nghiệp của Hồng Hà là làm thơ. Với vài dòng giới thiệu trong tập thơ tác giả cho biết tên thật: Vũ Hồng Hà, bút hiệu: Hồng Hà, Thu Hoài. Tốt nghiệp Sư Phạm Văn- Nha Trang – Việt Nam. Tốt nghiệp Bác Sĩ chỉnh hình Palmer West, California. Hiện cư ngụ và làm việc tại San Jose, California. Văn phòng của Bác Sĩ Alisa Hà Vũ tọa lạc tại số 4130 B Monterey Road San Jose, CA 95111.
Hồng Hà hiện sinh hoạt thơ văn trong các thi văn đoàn Lạc Việt, Cội Nguồn.Tập thơ “Giấc Mộng Vừa” đã được ra mắt tại San Jose ngày 03 tháng 01 năm 2009, trong một khung cảnh ấm cúng với hơn 200 khách mời chọn lọc và được cho là một buổi ra mắt sách rất thành công. Xét về nghệ thuật Giấc Mộng Vừa với hơn 80 bài thơ gồm đủ thể loại như: Thơ tự do, thơ bảy chữ, thơ lục bát, thơ tám chữ và thơ Đường luật v…v…Vần điệu khá chuẩn. Ý thơ dồi dào, phong phú, hồn thơ đậm chất trữ tình, lãng mạn. Thi sĩ Hồng Hà tâm sự dù đang sống trên đất Mỹ nhưng cô không phải là một phụ nữ sống theo thời đại cô chỉ muốn đưa hết tâm sự vào thơ, vui buồn với thơ. Xem thơ như người bạn đồng hành, chung thủy nên Hồng Hà đã gửi gắm hết tâm tình mình vào Giấc mộng Vừa, tác phẩm đầu tay và hy vọng rằng thơ Hồng Hà sẽ đi vào lòng người đọc chân thành và giản dị như điều mà tác giả muốn giải bày.Tập thơ có phần phụ bản đẹp và một số bài thơ đã được phổ nhạc. Bìa sách trình bày thanh nhã, nền tím nhạt với một đoá hồng nhung duy nhất bên cạnh tên của tập thơ. Không biết có phải đây là một ẩn ý của tác giả chăng? Một hoa hồng đỏ: đồng nghĩa với một lời tỏ tình mà có lẽ bất cứ con tim nào cũng chờ mong được đón nhận và quả thật đa số các bài thơ của Hồng Hà đều là thơ tình. Không gian trong thơ Hồng Hà nhẹ nhàng và êm đềm, đâu đó là nỗi khắc khoải nhưng chỉ vời vợi, man mác dù có đôi lúc đi tới tận cùng của một nỗi đau, nhưng không thể hiện niềm thống khổ, tuyệt vọng, trái lại thơ Hồng Hà đôi khi còn nguyên vẹn những kỷ niệm trong sáng của thế giới đơn sơ không dấu ấn thời gian, nhưng người đọc thơ có thể thấm và cảm được sự cô đơn miệt mài của kiếp nhân sinh. Trong hạnh phúc đã là chia ly, trong gắn bó vẫn là sự cô lẻ ngàn đời. Một câu nói vẫn thường được nhắc đến: kêu lên cô đơn để thấy mình
không còn cô đơn nữa, nhưng ở đây trong thế giới của văn thơ , điều tồn tại chính là sự đối diện với riêng một mình và chỉ duy nhất một mình mà thôi. Đọc thơ Hồng Hà để nhìn thấy hình ảnh của sự đơn độc, trống vắng, những khoảng lặng của cô đơn nhưng cũng chính điều đó dễ bắt gặp một sự đồng cảm, vì thật ra con người vốn gần gũi với sự cô đơn, bởi những giây phút cô đơn là những phút giây được trở về với chính bản ngã của mình, cô đơn chính là cơ hội để con người có thể tìm kiếm những suy tư của mình, nếu quan niệm mọi niềm vui chỉ là tạm thời, ngắn ngủi tất cả rồi sẽ rơi vào mênh mông, vô tận thì chỉ có trong thế giới của thơ văn mới đưa con người trở về với suy tư, về với cái đìu hiu, não nề trong cõi nhân gian. Cái riêng một mình ta, ai cũng bắt gặp hầu hết trong thơ, nhưng len lõi trong thơ vẫn là sự im lặng cô quạnh, kể cả thơ Hồng Hà cũng không ra ngoài quy luật ấy.
Nếu biết tình yêu là nhớ thương

Làm sao giữ mãi được mùi hương
Hương yêu, hương nhớ, hương hờn dỗi
Để mỗi lần xa thêm vấn vương

Nếu biết tình yêu là xót xa
Làm sao giữ được nét ngọc ngà
Để maĩ thiên thu còn quyến rũ
Để mỗi đêm vê` nhớ thiết tha

Nếu biết tình yêu lắm khổ đau
Làm sao giữ được nét duyên đầu
Làm sao cùng nhắc chung kỷ niệm
Để mãi trong lòng ta có nhau

Nếu biết tình yêu như nước trôi
Làm sao giữ được đừng chia phôi
Làm sao hòa nước tan thành máu
Để nước muôn đời trong tim tôi !!!

Trong lời tựa Hồng Hà đã nói làm thơ chỉ là một sự ngẫu hứng tình cờ để giải tỏa những áp lực trong đời sống, bởi thế thơ Hồng Hà thể hiện trọn vẹn những nỗi muộn phiền, bất hạnh trong đời sống, những ray rứt, khổ đau cho một cuộc tình và cả niềm hân hoan hạnh phúc. Kể cả những phút giây thơ mộng, say đắm khi hòa quyện với thiên nhiên, có lẽ đó là những tố chất để thơ Hồng Hà làm rung động cõi lòng, thơ đã len lõi vào tận cùng cô đơn của mỗi con người. Chắc không ai dám khẳng định sự thành công của một người làm thơ, cũng như không nên phân chất một mùi hương, nói theo một cách nào đó là tìm thấy đồng cảm bằng chính sự rung động gợi mở từ thơ thì thơ của Hồng Hà đã làm được điều ấy…Hy vọng trong những ngày sắp tới khách yêu thơ sẽ lại được đón nhận những áng thơ lãng mạn, trử tình, ấm áp tình người của nữ thi sĩ Hồng Hà
Cũng trong lời tựa Thi sĩ Hồng Hà đã viết: cuộc đời như giấc mộng…….Giấc Mộng Vừa là ước muốn thực khi “Mất đủ để hân hoan cái được” và mong mõi một ngày sẽ “Đủ an nhiên để giã biệt cõi đời” . Cái ước mơ khiêm tốn đó của tác giả cũng chính là cái ước mơ của nhân sinh. Dù là huyễn mộng cũng chỉ xin được Giấc Mộng Vừa mặc dù lắm khi ta vẫn thường nhầm lẫn giữa mộng và thực, bởi vốn dĩ cái ranh giới giữa mộng và thực đã rất mong manh. Dù đang ở giữa đời xin hãy cứ bước vào mộng để nghe người thơ của Giấc Mộng Vừa mang những vần thơ tìm bến mộng……!!!!

Cao Ánh Nguyệt




Phim Công Giáo

Phim Công Giáo

 
http://gxdaminh.net/phim-anh-tu-lieu/phim-cong-giao.html

banner-phimconggiao

1 Ben Hur
2 Bông huệ ngoài đồng
3 Câu Chuyện Chúa Giáng Sinh (The Nativity Story)
4 Câu chuyện Giáng sinh Walt Disney
5 Câu chuyện người nữ tu
6 Chân phước Têrêsa Calcutta
7 Chúa Giêsu Giáng Sinh (Phim hoạt hình)
8 Công vụ tông đồ (Hoạt hình, trọn bộ)
9 Cộng đoàn Taizé – Pháp
10 Cuộc khổ nạn Chúa Giêsu (The Passion Of The Christ)
11 Cuộc Đời Chúa Cứu Thế (theo Luca)
12 Fatima : Lịch Sử và Sứ Điệp (trọn bộ 60 phút)
13 Fatima : Phép lạ Đức Mẹ Fatima (105 phút)
14 Fatima : Sự Tích Đức Mẹ hiện ra (tóm lược)
15 Giai Điệu Hạnh Phúc
16 Giáo Điểm Trên Cao
17 Lộ Đức : Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ
18 Lộ Đức và thánh nữ Bernadette (10 phút)
19 Lộ Đức và Thánh Nữ Bernadette (120 phút)
20 Luther và Cải cách thế kỷ XVI
21 Mùa Giáng Sinh Tuyệt Diệu
22 Mười Điều Răn
23 Mười Điều Răn 3D (Trọn bộ 10 tập)
24 Người Nữ Tu Hát : Soeur Sourire OP
25 Nhạc cảnh : Giêsu Kitô Siêu Sao
26 Những ngày cuối thành Pompei (trọn bộ)
27 Quo Vadis, Domine (Thầy Đi Đâu ?)
28 Samson và Dalila
29 Satan Không Bao Giờ Ngủ
30 Tấm áo choàng của Chúa
31 Thánh Martin de Porres – Tấm Lòng Nhân Ái
32 Thánh Nữ Faustina
33 Thánh nữ Jeanne d’Arc
34 Thánh Phanxicô Assis (Anh Mặt Trời, Chị Mặt Trăng)
35 Tình yêu và hận thù (sứ vụ truyền giáo)
36 Tổng giám mục Rômêrô : Chứng nhân thời đại
37 Từ Karol Wojtyla đến giáo hoàng Gioan Phaolo II
38 Tướng cướp Barabbas
39 Vị Đạo Sĩ Thứ Tư
40 Vua Muôn Vua
41 Đại Lễ Tuyên Thánh Tử Đạo Việt Nam
42 ĐHY Nguyễn Văn Thuận : Di Sản Tinh Thần (toàn bộ)
43 ĐHY Nguyễn Văn Thuận : Thập Đại Thành Công
44 ĐHY Nguyễn Văn Thuận : Đời Tù Đày
45 ĐHY Nguyễn Văn Thuận : “Đường Hy Vọng”
46 Đức Gioan Phaolô II – Lễ An Táng
47 Đức Gioan Phaolô II : các chuyến tông du Âu Châu
48 Đức Gioan Phaolô II : Cảm nhận về người Cha
49 Đức Gioan Phaolô II : Cuộc đời và giáo huấn
50 Đức Gioan Phaolô II, cuộc đời giáo huấn
51 Đức Mẹ thánh du Việt Nam 1965
Lady of Guadalupe Pilgrimage in Mexico

Lady of Guadalupe Pilgrimage in Mexico
May 6, 2011
by PhuongLieu Ma
Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 2

Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 2
May 7, 2011
by PhuongLieu Ma

Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 3

Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 3
May 7, 2011
by PhuongLieu Ma

Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 4

Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 4
May 8, 2011
by PhuongLieu Ma

Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 5

Lady of Guadalupe Pilgrimage – Part 5
May 8, 2011
by PhuongLieu Ma

HÀNH HƯƠNG

ÐỨC MẸ GUADALUPE TẠI MEXICO

 

 

San Jose (Ý Dân):  30 giáo dân Việt Nam từ các tiểu bang California, Minnesota, Philadelphia, New  York và Ohio đã tham dự cuộc hành hương Ðức Mẹ Guadalupe tại Mexico City, thủ đô của Mễ Tây Cơ  trong thời gian 1 tuần lễ từ ngày 30-4-2011 đến ngày 5-5-2011 vừa qua.

Phái đoàn hành hương gồm có : linh mục Hoàng Tiến Ðoàn, thuộc dòng Tên, thầy phó tế Vũ Hiến cùng hiền thê là chị Vũ Ngọc, cụ bà  Nguyễn Thị Tươi 79 tuổi, các anh chị Trần Huy & Nguyễn Thị Thanh,  Tống Ðức Quảng & Ðàm Thị Việt,  Nguyễn Vạn Bình & Mã Phương Liễu, Phạm Thái & Nguyễn Thị Kim Thanh,  Phạm Văn Lộc & Chu Thị Liên, Phạm Văn Bình & Phạm Thị Hợp, Nguyễn Bá Tòng & Trương Thị Thu Hà,  Nguyễn Hữu Tắc & Nguyễn Minh Trân,  Dương Phúc Minh & Vũ Thu Hằng,  Nguyễn Hữu Phước & Nguyễn Thúy Anh cùng bé Nguyễn Thiên Ân Katharine 4 tháng cùng các chị Mã Phương Mai, Hồ Thị Tâm, Ðinh Hoa Michelle, Douglas Jacqueline và Nguyễn Thị Lan.

            Phái đoàn hành hương đã được hai hướng dẫn viên người Mễ là các ông Ricardo và Arturo đưa đến các địa điểm hành hương và đã giải thích mọi điều một cách thật chu đáo.

            Vào sáng chủ nhật ngày 1-5-2011, phái đoàn đã đến Vương Cung Thánh Ðường Guadalupe. Vì rơi vào ngày phong chân phước cho cố Ðức Giáo Hoàng John Paul II, nên ngoài việc thăm viếng cầu nguyện Ðức Mẹ Guadalupe đã có hàng chục ngàn giáo dân đã đến tham dự các thánh lễ tại đây. Ðược biết, Vương Cung Thánh Ðường nầy được hoàn thành vào năm 1976 với chi phí là 70 triệu mỹ kim có sức chứa 10 ngàn người. Mỗi ngày đều có các thánh lễ cách nhau 1 giờ từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối và không có thánh lễ từ 12 giờ trưa đến 2 giờ trưa. Bên cạnh đấy có thánh đường cũ được hoàn thành vào năm 1709 nay đã bị nghiêng và các nhà nguyện đã được xây vào năm 1531 trong một quảng trường thật rộng.

             Ðược biết câu chuyện về Ðức Mẹ Guadalupe như sau:

            Vào sáng thứ bảy ngày 9-12-1531 khi ông Juan Diego, một nông phu thuộc thổ dân da đỏ Artez đang đi bộ trên một đoạn đường dài 15 miles đến nhà thờ Santiago ở Mexico city để dự thánh lễ. Khi ông đến ngọn đồi Tepeyac thì ông thấy Ðức Mẹ hiện ra và nói với ông:

            – Hỡi con yêu dấu của Ta. Ta muốn con biết rằng chính Ta là Mẹ Thiên Chúa và ta muốn con nghe cho rõ. Ta có một sứ mệnh muốn trao cho con: Ta muốn xây một ngôi nhà thờ ngay tại đây, để Ta có thể tỏ lòng yêu thương cho tất cả các con cái của Ta như con, những người da đỏ. Con hãy lên đường đến Đức Cha của xứ Mễ Tây Cơ và nói cho ngài biết rằng chính Ta đã truyền cho con lệnh này. Nói cho ngài hay rằng Ta muốn có một ngôi nhà thờ xây lên tại đây ngay lập tức. Hãy nói cho ngài biết tất cả những gì con thấy và nghe được hôm nay.

            Nhưng khi ông Juan Diego đến gặp Giám Mục Zumarraga để trình bày mọi việc thì không ai tin những lời của ông. Ông bước đi trên đường về với từng bước chân nặng nề và mỏi mệt. Khi Juan đến gần ngọn đồi Tepeyac thì trời đã xế chiều và mặt trời gần lặn.

Trên ngọn đồi Tepeyac, Đức Mẹ đã có đó và đang đứng đợi Juan. Juan Diego quì xuống và nức nở:

            – Lạy Bà là Mẹ Thiên Chúa, con không xứng đáng với sứ mệnh này. Con đã không hoàn thành những gì Đức Mẹ muốn. Con biết là Đức Giám Mục đã không tin lời con. Nhưng ngài có nói con là hãy trở lại một lần khác và có thể Ngài sẽ suy nghĩ kỷ hơn về việc này.

Juan Diego ngưng một lúc rồi lại tiếp tục thổn thức:

          – Lạy Đức Mẹ Nhân Từ, sao Người không giao sứ mệnh này cho một kẻ xứng đáng hơn con, cho một kẻ quyền quí hoặc cao sang mà nhiều người sẽ nghe theo, thay vì con chỉ là một người tầm thường ngu dốt…

        Đức Mẹ nghiêng đầu im lặng lắng nghe Juan và cuối cùng Người nói:

          – Hỡi con yêu dấu của ta, ta có rất nhiều sứ giả mà ta có thể giao phó công việc, nhưng con chính là người ta cần và muốn chọn để giao phó sứ mệnh này. Con sẽ làm được những gì ta muốn. Con hãy trở về nhà con nghỉ ngơi hôm nay. Tuy nhiên ngày mai con phải trở lại tòa Giám Mục và nói cho người biết rằng ta ra lệnh cho Ngài xây một ngôi nhà thờ cho ta ngay trên ngọn đồi này.

Juan hứa sẽ làm theo lời dạy của Đức Mẹ. Ông còn nói thêm:

           – Vâng, con chắc chắn lần này sẽ thành công. Xin Đức Mẹ đợi con đây và con sẽ đem tin mừng về cho Đức Mẹ.

 Hôm sau là ngày 10-12-1531 và là Chúa Nhật. Juan thức dậy thật sớm và đến nhà thờ Santiago dự thánh lễ. Vừa thấy Juan Diego, Đức Tổng Giám Mục lên tiếng:

             – Tại sao con trở lại mau thế? Không phải ta đã nói với con là ta cần có một thời gian ít nhất là một vài ngày để ta suy nghĩ cho kỹ càng hay sao?

Tuy nhiên, Đức Giám Mục vẫn tra hỏi Juan Diego kỷ càng và tường tận lần nữa. Juan Diego cảm thấy chứa chan hy vọng vì ông thấy Đức Giám Mục rất ân cần và ghi chép cẩn thận những lời ông tường thuật. Nhưng rồi người thông dịch viên bảo Juan Diego:

            – Đức Giám Mục nói rằng ngài không thể làm theo lời yêu cầu của ông được. Người nói rằng anh phải trở về nơi anh nói có Đức Mẹ hiện ra và xin Người một dấu hiệu, dấu hiệu này có thể chứng tỏ Người thật là Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa và việc xây nhà thờ thật sự là ý muốn của Người.

Sau khi Juan Diego ra về, Đức Giám Mục cho hai người hầu tín cẩn đi theo. Hai người này là gốc dân da đỏ. Sau khi Juan rẽ một khúc quanh qua con cầu nhỏ thì họ không còn theo kịp được nữa.Juan Diego không nghi ngờ và mảy may hay biết có người đi theo. Ông trở lại ngọn đồi Tepeyac quen thuộc và một lần nữa tường thuật tất cả cho Đức Mẹ. Đức Mẹ mỉm cười và cảm ơn Juan vì sự trung thành và kiên nhẫn của ông. Đức Mẹ bảo Juan Diego hãy trở lại sáng hôm sau ngay tại nơi này. Người nói rằng Người sẽ đợi Juan và cho ông một dấu hiệu để đem đến cho Đức Tổng Giám Mục.

            Juan Diego về tới nhà thì thấy mọi người xôn xao chờ đợi. Juan Diego có người bác tên Juan Bernardino đang bị bệnh nặng. Có một vị cao niên trong làng mách với Juan Diego về một loại dược thảo hiếm trong rừng, có thể làm hạ cơn sốt mau chóng. Sáng sớm, Juan Diego quyết tâm đi tìm thuốc chữa cho ông bác yêu quí. Trong tâm trí Juan lúc đó chỉ có hình ảnh tiều tụy của ông bác nên anh ta quên bẵng mất lời hẹn với Đức Mẹ, cho tới khi anh ta tiến gần tới ngọn đồi Tepeyac.

Juan Diego phân vân và cuối cùng tự nhủ rằng mình sẽ đi tìm thuốc cho bác xong sẽ trở về gặp Đức Mẹ để thi hành công tác kia cũng không muộn. Juan còn nghĩ rằng Đức Mẹ sẽ thông cảm cho hành động của ông. Nghĩ thế nên Juan đi rẽ qua một con đường khác để tránh băng qua ngọn đồi như thường lệ.Tuy nhiên vừa bước qua con đường mòn, Juan đã nhìn thấy Đức Mẹ.

Đức Mẹ đứng giữa vầng hào quang rực rỡ, bên dưới có thiên thần nâng đỡ và hai cánh thiên thần cũng tràn rực ánh sáng. Lần này Đức Mẹ không ở trên cao mà xuống gần thấp trên con đường nhỏ để gặp tận mặt Juan.Juan Diego quì phục xuống mặt đất và sợ hãi lấy tấm khăn quàng che lên đầu.

Tuy nhiên với một giọng nói trìu mến, Đức Mẹ hỏi Juan:

– Con đang đi đâu đấy, con yêu dấu của Ta?

Juan hối hận nói:

– Xin Đức Mẹ đừng giận con, và Juan kể đầu đuôi về người bác đang lâm trọng bệnh.

Đức Mẹ lắng nghe và ôn tồn hỏi Juan:

             – Con có thể tin là Ta bỏ rơi một kẻ mà Ta đã yêu quí thế sao, nhất là kẻ đó đang làm một công việc rất là quan trọng cho Ta? Con đừng bận tâm về người bác của con nữa. Ông ta sẽ không chết vì cơn sốt này đâu. Hiện tại ông ta đã khỏi hẳn rồi! Juan thật sự tin lời Đức Mẹ với tất cả tấm lòng và hăng hái nói qua việc xin Đức Mẹ cho dấu hiệu đem đến Đức Giám Mục để ông có thể lên đường ngay.

               – Con yêu dấu của ta, Đức Mẹ trả lời, con hãy lên ngay giữa ngọn đồi nơi ta đến với con lần đầu tiên. Con hãy cắt lấy những đóa hoa hồng mà con tìm thấy ở đó. Hãy bỏ tất cả vào tấm khăn quàng của con và mang về lại đây cho ta. Ta sẽ nói cho con biết những gì con cần phải nói và làm.

Tuy biết trên ngọn đồi khô cằn kia chưa bao giờ nở hoa hồng, nhất là vào ngay giữa mùa Đông lạnh lẽo của tháng Mười Hai, Juan Diego vẫn chạy ngay lên đồi. Và trên đó, Juan Diego thấy một vườn hồng tuyệt đẹp chưa từng thấy. Đó là một giống hoa hồng sang trọng không bao giờ mọc giữa nơi hoang dã.Juan Diego lựa hái những đóa hoa lớn nhất và đẹp nhất, cẩn thận đặt trong tấm áo quàng và mang về lại chỗ Đức Mẹ đang đứng đợi. Đức Mẹ đưa tay gom lấy những đóa hoa Juan mang về rồi tự tay sắp xếp từng đóa hoa, túm lại trong tấm khăn quàng, và bảo:

             – Đây là dấu hiệu Đức Giáo Mục muốn. Con hãy mau đi đến trình lên ngài. Đừng mở khăn cho bất cứ ai thấy, ngoại trừ Đức  Giám Mục. Khi thấy dấu hiệu này thì ngài sẽ cho xây ngôi nhà thờ như ý ta muốn.

             Và lần thứ ba, Juan Diego lên đường đi đến tòa Giám Mục. Nhưng khác hơn mọi lần, kỳ này Juan Diego không chạy nhanh như những lần trước mà cẩn thận tránh làm động đến các đóa hoa đã được sắp xếp cẩn thận.

Khi ông gặp Đức Giám Mục. Không chần chờ, Juan Diego nói ngay:

            – Thưa ngài, con có dấu hiệu mà ngài muốn.

Juan mở rộng tấm khăn ra và các đóa hoa hồng rực rỡ tuôn xuống phủ đầy tấm thảm dưới chân mình. Một tiếng la lớn thoát ra từ miệng Đức Giám Mục. Chính ngài cũng như những người khác đang có mặt trong căn phòng liền quì phục xuống. Đức Giám Mục quì gối, tay dang rộng và thành kính thốt lên:

            – Kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà…

           Juan Diego đứng ngơ ngác, trên cổ còn khoác tấm khăn quàng trống rỗng. Đột nhiên Juan nhận thức được rằng lúc đó mọi người chẳng ai để ý tới những đóa hoa hồng rực rỡ kia, mà tất cả đang nhìn đăm đăm vào tấm khăn quàng của mình. Juan cúi đầu nhìn xuống tấm khăn đang phủ dài trước mình và thấy tấm khăn bằng vải xương rồng thô sơ nay đã biến đổi thành một bức tranh cực kì sống động, in hình Đức Mẹ tuyệt diễm như Juan Diego đã thấy trong những lần vừa qua trên đồi Tepeyac.

           – Xin Đức Mẹ tha lỗi cho lòng nghi ngờ của con.

Đức Giám Mục vừa nói vừa đưa tay tháo gỡ tấm khăn quàng của Juan và kính cẩn nâng cao trước mặt. Một đoàn kiệu lập tức được thành lập với Đức Giám Mục đi đầu giơ cao bức hình Đức Mẹ. Tất cả mọi người trong tòa nhà và cả dân chúng đang đợi ngoài sân nối đuôi nhau đi theo Đức Giám Mục vào ngôi nhà nguyện riêng của Người. Đức Giám Mục cung kính đặt tấm tranh vải lên bàn thờ và quì xuống cầu nguyện.

            Sau đó Đức Giám Mục mời Juan Diego vào phòng riêng nói chuyện rất lâu với ông. Ngài cẩn thận ghi xuống từng chi tiết theo lời Juan thuật lại, từ lần đầu tiên Đức Mẹ hiện ra với ông cho tới lúc bấy giờ. Ngài hỏi và ghi rõ ràng nơi chốn mà Đức Mẹ muốn xây cất ngôi nhà thờ.

Kế tiếp, Đức Giám Mục cho một phái đoàn đi theo Juan Diego về nhà để coi thử ông bác của Juan có thật sự lành bệnh không. Khi đến nơi, mọi người thấy ông bác khỏe mạnh cười nói giữa đám dân làng hớn hở bao quanh. Chính ông ta cũng có những tin mừng và đang loan báo cho mọi người biết.

Ông ta kể lại rằng trong lúc ông gần lìa đời thì Đức Mẹ hiện đến bên ông, một Đức Mẹ mà theo ông diễn tả thì giống như đấng đã hiện ra với Juan Diego và y như bức hình đang nằm trên bàn thờ của Đức Giám Mục. Ông ta còn trao thêm một sứ mệnh từ Đức Mẹ: ngôi nhà thờ phải xây cất đúng như chỗ Đức Mẹ chỉ định trên ngọn đồi Tepeyac. Đức Mẹ muốn mọi người biết đến mình với danh hiệu Đức Mẹ Maria Guadalupe. Chữ Guadalupe có nghĩa là “Kẻ đạp lên đầu rắn”. Ý nguyện của Đức Mẹ là để cho mọi người hiểu lòng yêu mến của Người với những người con bản xứ.

Chỉ trong một thời gian ngắn, một ngôi nhà nguyện bằng đất đã được dựng lên dưới chân đồi Tepeyac. Bức tranh phép lạ được treo tại đó. Người ta cũng xây một căn nhà nhỏ bên cạnh cho Juan Diego cư ngụ. Ông đã trải qua suốt cuộc đời còn lại của mình tại đó để săn sóc ngôi nhà nguyện. Juan Diego qua đời năm 1548, hưởng thọ 74 tuổi. Theo giáo sử ghi lại thì chỉ trong khoảng thời gian mười mấy năm, từ lúc Đức Mẹ hiện ra với Juan Diego đến lúc ông ta mất đi, có gần 9 triệu dân da đỏ xin vào đạo Công Giáo.

Vào ngày 26-12-1531, một thổ dân da đỏ bị tên bắn chết, nhưng khi được đem đến trước hình Ðức Mẹ Guadalupe cầu nguyện thì đã được cứu sống.

Vào ngày 14-11-1921 một kẻ phá hoại đã đặt bom trong chậu hoa ngay dưới chân hình của Ðức Mẹ Guadalupe. Bom nổ làm nhà thờ bị thiệt hại nặng, cây thánh giá để gần đấy bị cong hiện còn để trong Vương Cung Thánh Ðường, nhưng tấm hình Ðức Mẹ và tấm kính của khung hình vẫn nguyên vẹn.

Một trong những phép lạ vẫn còn tiếp diễn đến nay là bức hình Ðức Mẹ Guadalupe in lên trên một tấm vải thô sơ làm từ sợi cây xương rồng, mà bình thường thì tan rã trong 10 năm tới nay vẫn còn nguyên vẹn. Gần đây nhất các nhà chuyên khoa về nhãn quang đã rọi lớn bức hình và chứng minh trong tròng mắt của Ðức Mẹ Guadalupe in lên khăn có hình phản ảnh những người có mặt trong căn phòng của Ðức Giám Mục khi Ðức Mẹ hiện ra.

Ðức Mẹ Guadalupe đã hiện ra với ông Juan Diego 4 lần.Hiện nay Vương Cung Thánh Ðường Guadalupe đã đón tiếp khoảng 20 triệu giáo dân hành hương mỗi năm.

Tiếp theo những ngày sau đó, phái đoàn hành hương đã lần lượt viếng thăm The Floating Gardens of Xochimilco; nhà thờ chánh tòa của thủ đô Mexico có cây thánh giá đen; Kim tự Tháp của mặt trời và mặt trăng; thành phố Puebla với các khu thương mãi sấm uất và nhà thờ Ðức Mẹ Mân Côi, thành phố Ocotlan với nhà thờ Ðức Mẹ Ocotlan mà Ðức Mẹ đã hiện ra với ông Juan Diego Bernadino và ban cho dân chúng một giếng nước vào năm 1541 dùng để chữa bệnh dịch hạch thời bấy giờ; thành phố Cuernavaca được mệnh danh là thành phố của ngàn hoa; thành phố Taxco, thành phố sản xuất các thủ công nghệ bằng bạc và viếng thăm nhà thờ Santa Prisca.

Mỗi ngày phái đoàn đều được dự thánh lễ do linh mục Hoàng Tiến Ðoàn cử hành tại các nhà thờ mà phái đoàn viếng thăm.Vào mỗi tối, các thành viên của phái đoàn đã họp nhau tại phòng họp của khách sạn để cầu nguyện và phát biểu những cảm nghĩ của mình.

Chị Thúy Anh đến từ Philadelphia cho biết chị đã ao ước được nhìn tận mắt hình ảnh Ðức Mẹ Guadalupe   thì nay chị mới được toại nguyện.Chị cám ơn Ðức Mẹ đã ban cho chị một mái gia đình hạnh phúc với đứa con ngoan và người chồng tốt.

Chị Mã Phương Mai cho biết chị là một tân tòng nhưng rất may mắn đã được đi hành hương viếng thăm Ðức Mẹ Lộ Ðức, Ðức Mẹ Fatima và nay là Ðức Mẹ Guadalupe. Chị cảm ơn những hồng ân mà Ðức Mẹ đã ban cho chị.

Ông Nguyễn Vạn Bình cho biết Ðức Mẹ Guadalupe đã hiện ra tại Mễ Tây Cơ với sứ điệp “Kẻ Ðạp Lên Ðầu Rắn” nhằm kêu gọi mọi người nên lánh xa mọi sự dữ. Tại Pháp có Ðức Mẹ Lộ Ðức với sứ điệp “Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Tại Bồ Ðào Nha có Ðức Mẹ Fatima với sứ điệp “Ăn Năn Tội và lần chuỗi Mân Côi”; tại VN có Ðức Mẹ La Vang đã cứu chữa các giáo dân bị bách hại.Theo ông Bình thì Ðức Mẹ hiện ra vào dịp có các biến cố lớn xảy ra và hiện ra với những em bé, kẻ bình dân. Vì thế, theo ông Bình  mỗi người, trong cương vị của mình đều có thể loan tin mừng của Chúa và Mẹ Maria đến mọi người.Ông cũng đã so sánh là hãy nhìn vào các bà mẹ của chính mỗi người, mỗi khi các con xin điều gì các bà mẹ ít khi từ chối. Ðức Mẹ Maria nhân từ chắc chắn cũng sẽ không từ chối những điều mà các con cái của Ðức Mẹ cầu xin. Ông Bình tin rằng: Hãy xin thì được.Gỏ cửa thì cánh cửa của Ðức Mẹ sẽ mở.

Chị Mã Phương Liễu đã nhắc lại ba điều mà chị đã cầu xin với Ðức Mẹ Fatima ở Bình Triệu trước đây đều đã được Ðức Mẹ nhận lời.Chị cho biết trong chuyến hành hương nầy chi cầu xin cho bà soeur, bà xếp, người bạn học đang bị bệnh ung thư và cầu xin cho Mẹ mình được mau bình phục.

Ông Trần Huy cho biết hành hương là món qùa đến với ông và cám ơn mọi người đã có lời cầu nguyện cho hiền thê của ông là chị Thanh không may bị bệnh khi mới đến Mễ, nhưng sau 2 ngày cầu nguyện thì chị Thanh đã được lành bệnh.

Chị Hoa cho biết qua chuyến hành hương nầy đã khiến cho chị thay đổi tư tưởng.Trước đây chị rất e ngại mỗi khi đề cập đến tôn giáo , thì nay chị đã có đủ can đảm để truyền bá những tin mừng của Chúa và Mẹ Maria đến mọi người.

Chị Lan cho biết chuyến hành hương đã cho chị đức tin mạnh mẽ hơn. Nhìn hành động của ông Juan Diego phải lặn lội đi bộ 15 miles để dự thánh lễ, thì nay chị phải cố gắng không đi dự thánh lễ trể nữa.Chị cũng cho biết nhìn cây thánh giá đen tại nhà thờ chánh tòa ở Mexico city, hình ảnh Chúa vì cứu cho một vị linh mục không bị nhiễm độc chết, mà cây thánh giá và tượng Chúa đã đổi màu từ trắng sang đen càng làm cho chị thấy tình thương của Thiên Chúa đối với con cái của Ngài thật vô bờ.

Ông Phạm Lộc cho biết nhìn thấy hình ảnh Cây Thánh Giá đen mà ông phải tự hứa với lòng mình phải sống tử tế hơn. Ông cũng cho biết khi cùng vợ leo được lên đỉnh của Kim Tự Tháp với 236 bậc thang thì ông nhận thấy rằng mình phải tự động viên cho chính  mình và động viên cho cả những người xung quanh để sống cuộc đời nên thánh.

Bạn trẻ Minh cho biết anh đã nhận được nhiều hồng ân trong chuyến hành hương nầy.Anh cho biết khi phái đoàn đến Vương Cung Thánh Ðường Guadalupe, anh ước mong được nhìn thấy hình Ðức Mẹ thật lâu, nhưng vì thang máy đi qúa mau và vì phải đi theo phái đoàn nên anh đã tận dụng thời gian để chạy tới chạy lui để nhìn thấy hình Ðức Mẹ 3 lần. Anh đã cầu xin Ðức Mẹ để anh khỏi bệnh đau lưng và mong có được đứa con sau 8 năm đã lập gia đình. Anh cũng mong mua được tấm ảnh Ðức Mẹ ôm cố Ðức Giáo Hoàng John Paul II thì anh đã được toại nguyện, khi anh là người may mắn mua được bức ảnh cuối cùng nầy. Anh cảm thấy cám ơn Ðức Mẹ và đã giúp anh tăng thêm đức tin.

Chị Nguyễn Minh Trân cho biết nhìn qua hình ảnh cây thánh giá đen đã cho thấy Chúa nhận lãnh hết mọi tội lỗi , đau khổ của nhân loại.Chị hứa sẽ sống đạo đức hơn để không phụ lòng thương xót của Chúa.

Ông Tống Ðức Quảng cho biết trước khi Ðức Mẹ Guadalupe hiện ra, nhiều người tại Mễ ít ai biết được Chúa.Họ thờ nhiều thần và giết hại lẫn nhau. Nhưng từ khi Ðức Mẹ hiện ra thì dân Mễ đã có 90 % là công Giáo. Họ nay đã là những người ngoan đạo và rất chân thật.

            Ông Phạm Văn Bình cho rằng nhìn Kim Tự Tháp được xây cất rất kiên cố nhưng nay cũng phải hư hại và phải tu bổ. Ông cho rằng mọi vật chất sẽ tàn lụi, chỉ có những gì thuộc về thiêng liêng mới tồn tài lâu dài.

            Ông Nguyễn Bá Tòng cho rằng qua chuyến hành hương, ông đã tăng thêm đức tin và nhận chân rằng cần phải tha thứ, yêu thương mọi người hơn.

            Linh mục Hoàng Tiến Ðoàn cho biết khi vào Vương Cung Thánh Ðường Guadalupe, cha rất xúc động khi nhìn vào bức ảnh của Ðức Giáo Hoàng John Paul II.  Ðức Giáo Hoàng như đang nhìn cha mĩm cười. Cha cầu xin cố Ðức Giáo Hoàng John Paul II  và Ðức Mẹ Guadalupe ban cho cha được nhiều nghị lực, đức tin để cha xứng đáng là một linh mục thánh thiện. Cha cầu nguyện cho một người bạn đang bị ung thư chờ chết và ban sức khoẻ cho bố mẹ của cha. Cha xin Ðức Mẹ Guadalupe hãy ban cho cha một dấu chỉ nhận lời cầu nguyện của cha.. Cha cho biết rất thích tấm ảnh Ðức Mẹ ôm cố Ðức Giáo Hoàng John Paul II vào lòng, nhưng cha cố tìm mấy ngày nay mà không có. Sau khi rời nhà thờ để lên xe bus ra phi trường thì đột nhiên, cha lại thấy lù lù một phụ nữ Mễ đang bày bán nhiều tấm hình nầy trên lề đường .

            Thầy phó tế Vũ Hiến cho biết khi nhìn thấy tượng cố Ðức Giáo Hoàng John Paul II giơ tay chỉ vào Vương Cung Thánh Ðường Guadalupe là hàm ý bảo các con hãy đến với Ðức Mẹ. Theo thầy Hiến thì cuộc sống của các tu sĩ phải đương đầu với nhiều cám dỗ về tiền tài, quyền lực, xác thịt v.v.. Ông cũng nêu lên trường hợp một linh mục mà ông biết nguyên là giáo sư tại đại chủng viện thì nay đã xuất tu.Ông Hiến kêu gọi mọi người hãy cầu xin cho giáo hội và cho các tu sĩ.    

            Qủa thật cuộc hành hương Ðức Mẹ Guadelupe là một cuộc hành hương giá trị và ý nghĩa. Nó đã ít nhiều mang lại cho các thành viên của phái đoàn thêm đức tin, sự bình an, lòng kính yêu đối với Thiên Chúa, Ðức Mẹ Maria và nâng cao lòng yêu mến đối với mọi người /. 

 
Nguyen Van Binh
Ban Nguyet San Ý Dân
 



Phan Ni Tấn – Amai B’lan, Nước Mắt Của Rừng

Phan Ni Tấn – Amai B’lan, Nước Mắt Của Rừng

(*)

Người Jrai đã từng là chủ vùng đất này (tên Gia Lai đọc từ chữ “Jrai” mà ra). Tổ tiên họ đã sống và đã chết ở đây. Họ có cách sống và văn hóa của riêng họ… Trên đầu họ là bầu trời tự do. Dưới chân họ là đất rừng linh thiêng. Họ sống như thế biết bao thế hệ. Mọi chuyện cứ diễn ra như thuở ban đầu cho tới khi người Kinh tới.”

Ảnh Trần Thị Trung Thu

(*) Nước Mắt Của Rừng. Bút Ký của Amai B’Lan.Tựa: Phan Ni Tấn.Nhân Ảnh Xuất Bản. Bìa và tranh: Khánh Trường.Trình Bày: Lê Hân & Tạ Quốc Quang.Copyright @ 2013 by Trung Thu. ISBN: 978-0-9811982-9-3.Ấn phí và bưu phí 15 M.K. Sách có thể đặt mua theo địa chỉ sau:

Mr. Lê Hân

375 Destino Circle,San Jose, CA 95133

U.S.A or han.le3359@gmail.com

 

 

 

LGT: Phan Ni Tấn, hiện ở Canada. Cách đây vài năm, HLC có nghe, thích và giới thiệu nhạc phẩm của anh. "Giọt thánh thót mừng", dường như thế! Hôm nay, anh, rất "dễ thương", gửi cho HLC bài này với câu nói cũng thật dễ thương " cho đóng góp vào web của Lan Chi nhé".
Đây là kỷ niệm của anh với nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Đọc rất thú vị. HLC sẽ xây một nhà nhỏ cho anh trong web HLC để ai đến thăm nhà HLC thì thăm anh luôn, khỏi phải đi xa.
HLC
 
 
 

BỐ SỸ VÀ CÔ ÚT

Tùy bút Phan Ni Tấn

 

Khoảng giữa năm 1979 tôi đến thăm gia đình nhà văn Doãn Quốc Sỹ nhà ở trong một con hẻm đường Thành Thái, Sài Gòn mới biết bố Sỹ đang ở tù cải tạo trên cao nguyên Gia Rai. Ba mươi ba năm sau, ngồi bình thản dưới mái nhà bình thường của tôi ở Canada, bố Sỹ nhíu mày, cặp mắt xa xăm nhìn vào quá khứ  như lục lại từng trang đời thê thiết, kể: " Năm 76 chúng đến trường Sư Phạm gởi giấy yêu cầu tôi đến Phường trình diện học tập bốn hôm rồi về, nhưng kỳ thực sau đó chúng bắt tôi đưa lên trại Gia Trung mãi trên cao nguyên Gia Rai. Trại này nằm sâu trong một cánh rừng giữa Pleiku – Kontum. Sở dĩ gọi là Gia Trung là vì trại nằm cạnh con suối người Thượng gọi là I-a I-ung, mình nói trại ra là Gia Trung. Chúng giam tôi từ năm 76 đến năm 80 thì được thả về…"

nhà văn Doãn Quốc Sỹ (Toronto 27/7/2012)

"Năm nay bố Sỹ của em gần 90 tuổi rồi, nhưng anh xem, cách ăn mặc vẫn còn gọn gàng, tươm tất lắm. Càng già bố Sỹ càng hiền lành, dễ dãi, đôi lúc ngây thơ như trẻ con", cô Doãn Hương, con gái út của nhà văn cười nhe chiếc răng khểnh nói với tôi thế. 

Tuy già yếu, hom hem như thế, lãng đãng đến thế nhưng khi nói về tình hình đất nước, về vận mệnh dân tộc, về nghiệp dĩ văn chương… Bố trở nên linh hoạt lạ thường.

Nói đến nhà văn Doãn Quốc Sỹ lâu nay người ta thường nghĩ đến hình ảnh của một kẻ sĩ thời đại. Ông là hội tụ của trí tuệ và tình thương, của niềm tin và ước vọng. Bằng một hành động lịch sử, trong lao tù ông đã từng lẫm liệt, khẳng khái chống lại những gì đi ngược với công cuộc tranh đấu cho hòa bình đất nước và nguyện vọng của nhân dân miền Nam. Cuộc đời và con người của kẻ sĩ là như vậy. Có điều con người bất khuất này, dù được người đời ngưỡng mộ và vinh danh cũng chẳng hề làm ông biến dạng đi chút nào. Xưa sao tôi không biết nhưng nay trước mặt tôi, bố Sỹ của tôi vẫn bình thường, giản dị, gần gũi, hồn nhiên như bất cứ ông già nào tôi có thể gặp ở ngoài đời. Cái vẻ đẹp thật kỳ lạ của tâm hồn ấy tỏa rạng lên cả con người ông, ánh lên đôi mắt cười dễ dãi, gương mặt xương xương nhưng phúc hậu. Chính những tinh chất óng ánh đó đã kết hợp thành chân dung con người kẻ sĩ.

nhà văn Doãn Quốc Sỹ và PNT

Chúng tôi ngồi nói chuyện tương đắt với nhau được một lúc thì bố Sỹ ngồi thẳng người, gương mặt kẻ sĩ miền Nam tươi tắn hẳn ra, Bố kể: " Năm 84 đến năm 92 tôi tiếp tục viết gởi tác phẩm qua Pháp cho nhà xuất bản Lá Bối của thầy Nhất Hạnh in và phổ biến ở hải ngoại. Cộng sản tinh ranh lắm, luôn luôn rình rập, theo dõi từng cử chỉ hành động của tôi. Biết thế nhưng tôi vẫn điềm tĩnh. Khi đến bắt tôi lần thứ hai chúng đưa ra những bản photocopy  chụp tất cả những gì tôi viết gởi ra nước ngoài làm bằng cớ để buộc tội. Trong tù, chúng ép tôi nếu ký giấy thú nhận tội trạng tôi sẽ được khoan hồng nhưng tôi quyết liệt khước từ tất cả (Bố nhấn mạnh). Bởi vì tôi luôn quan niệm rằng yêu nước không phải là một cái tội. Cuối cùng trước tòa, chúng ghép tôi vào tội phản động, là một trong mười tên biệt kích văn hóa đã lén lút gởi tài liệu ra nước ngoài tiếp tay với bọn phản động nhằm chống phá Cách Mạng và chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, phán xong chúng kêu án tôi 10 năm tù. Trải qua những năm tháng lao nhọc trong lao tù, cứ đến những ngày lễ lộc, Tết nhất cũng như những lần sinh nhật của Hồ Chí Minh thì chúng ra cái điều khoan hồng giảm án. Cứ thế, trừ những lần được giảm án cho đến hết hạn tù thì tôi ở tù mất 8 năm rưỡi, cộng với 4 năm tù lần trước vị chi là 12 năm rưỡi tôi bị Cộng sản giam cầm". 

Kể đến đây Bố như trút bớt phần tâm sự. Hớp một hớp trà, giọng trở nên trào lộng, Bố tiếp: " Trước ngày mãn hạn tù chúng chuyển tôi đến trại K3 Xuân Lộc. Trại này nằm dưới chân núi Chứa Chan. Nghe thì lãng mạn lắm, chứa chan lắm, nhưng sống trong cảnh tù tội thì Chứa Chan có khác nào Chán Chưa".

Rồi Bố sang sảng đọc thơ: "Nam Nhâm nữ Quí thì sang. Nhược bằng ngược lại gian nan nhiều bề".

Ý nói Bố sinh nhằm mạng nữ Quí nên phải chịu khổ đến hơn 12 năm tù.Chưa hết. Dính dáng tới văn chương thi phú vốn đã ăn sâu trong cuộc sống và bản chất, bố Sỹ thật sự hưng phấn. Bố nói thật hay:

– Cụ Tú Mỡ, bố vợ tôi sanh được 8 người con được Cụ đặt tên theo thứ tự vần: "Năm trai ba gái tám tên. Trung Hiền Thảo Dũng Hùng Chuyên Vỹ Cường". Vợ chồng chúng tôi cũng thế, có tám con – Bố tiếp luôn: " Bốn trai bốn gái tám tên. Thanh Khánh Liên Thái Vinh (liền) Hưng Hiển Hương".

Câu lục bát "phá cách" này làm Bố Sỹ gượng nhẹ cười nói Bố phải thêm chữ  "liền" ở câu bát cho đồng vận với chữ "tên" ở câu lục…

Lắng nghe "ông già" kể chuyện tù, chuyện gia đình thơ thới như kể chuyện cổ tích khiến tôi vừa phục lăn vừa thương Bố quá chừng. Chính thái độ và hành động của một nhà hoạt động chính trị, một kẻ sĩ miền Nam, một người yêu nước, một nhà văn, nhà giáo khẳng khái trước tòa, bất khuất trong lao tù đã làm lay động tận cùng lương tâm những người trí thức trong và ngoài nước.

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn viết về nghĩa khí của ông qua bài thơ "Tinh Thần Và Bạo Lực":

Công an có cây súng

Bắn hoài không chết ai

Thì sĩ còn ngòi bút

Điểm mặt kẻ vô loài

 

Công an có cây súng

Nện tới tấp tơi bời

Đánh không sờn không ngã

 Giam sao được lòng người

 

Quỷ vương trăm lần chết

Khuyển ưng rụng một bầy

Thở tràn như nước chảy

Như sóng bủa trùng vây

 

Công an hết đường chạy

Vòng đai khép chặt rồi

Trong mỗi lời mỗi chữ

Nghìn gươm phục rạng ngời

 

Công an có cây súng

Bắn hoài không chết ai

Thi sĩ còn ngòi bút

Điểm mặt kẻ vô loài

 

Cong an có cây súng

Cây súng và nhà tù

Thi sĩ còn ngòi bút

Máu chảy hoài thiên thu

 

 

 

 

 

               Út Hương, bố Sỹ, Hồng Thư và Ngự Cầm (Toronto 27/7/2012)

 

 

Bố Sỹ qua Canada ghé nhà tôi tuần rồi có cô út Hương của Bố theo kèm . Cũng trong dịp này bố Sỹ trao cho tôi tập thơ Lục Bát Tùy Bút của Doãn Quốc Vinh gởi tặng. Đây là tập thơ đầu tay của Vinh do Doãn Gia vừa xuất bản sau cuốn "Bác Trai, Bác Gái" của nhà văn Doãn Quốc Sỹ in năm 2011 tại California, Hoa Kỳ. Bố nói: "Trong tám đứa con chỉ có thằng Vinh là vướng vô ngiệp văn chương như tôi. Ngoài làm thơ nó còn biết vẽ vời nữa". Tội nghiệp cô út, lâu nay cũng muốn "vướng" vô nghiệp văn lắm nhưng "mỗi lần cầm bút hay ngồi trước máy là chữ nghĩa nó trốn đi đâu biệt dạng, anh Tấn ơi!".

 

Cũng trong năm 1979, ở bên nhà cô út và tôi có một chút kỷ niệm dễ thương để nhớ. Số là cô Liên, chị cô út biết rõ tình cảnh lang thang đầu đường xó chợ của tôi nên sau cái đêm văn nghệ hát chui với một số anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn, vợ chồng cô thương tình kéo tôi về nhà nghỉ qua đêm.  

 

Sống lang thang bờ bụi lâu ngày, một hôm nhờ lòng nhân ái mà tôi có một chỗ êm ái để nghỉ lưng, dù chi một đêm thôi cũng không còn gì hạnh phúc hơn. Nửa đêm nằm một mình trong phòng khách vắng lặng, trên bộ sofa màu đỏ, tôi ngẫm nghĩ và  nhận ra một điều: Có lẽ nhờ những mớ tai ương lâu nay tôi gánh chịu mà cái hạnh phúc an bình và hài lòng mình nhận được nó có giá trị tột đỉnh như thế nào. Hé mắt nhìn ra ngoài đời kia với biết bao viễn ly điên đảo mộng tưởng trong khi ở đây, trong căn nhà này, không có gió máy, không có nắng mưa, không có muỗi mồng, chỉ có sự che chở và tình thương của con người đối với con người. Đêm đó tôi ngủ một lèo thẳng thừng mà không hề bị trở giấc.

Sáng hôm sau vừa thức dậy tôi gặp ngay cô út ít trong nhà xẹt tới hồn nhiên dương mắt tò mò nhìn tôi một cái rồi te rẹt xuống bếp mất dạng. Ngoài đường hẻm tiếng người ồn ào qua lại, có cả tiếng trẻ con nô đùa trong xóm. Đã đến lúc mình phải nói lời cảm ơn và chào từ biệt Doãn Gia để tiếp tục lao thân vào nơi vô định. Tôi ra đi lần đó đến nay đã ba mươi ba năm dâu bể mà lòng tôi vẫn âm thầm chịu ơn Doãn Gia, đặc biệt là đôi con mắt đen láy, mở to của cô út dù một thoáng thôi tôi vẫn cảm nhận được cái đẹp hồn nhiên và hồn hậu của cô út mà cho đến tận ngày nay ánh mắt đó vẫn không hề chịu tắt trong tôi.

Năm 2009, ở Canada tôi mừng được tin cô út Hương sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Sau rất nhiều năm bịn rịn với quê nhà, cuối cùng vì gia đình Bố Mẹ, vì anh chị em, vì tương lai cô đành bỏ xứ, bỏ bè bỏ bạn mà đi; cô bỏ cả bài thơ "C ô Út Lìa  Quê"  của Lão Nho đọc lên nghe buồn buồn:

A ha!

Lấy vòng kim cô riệt đôi chân xinh xắn lại

Không cho nó chạy khỏi quê nhà

Không cho nó chạy khỏi quê nhà

 

Chao ôi! Nửa chừng câu thiên lý

Lại mọc ra vó ngựa đường xa

Nhịp nhàng nhịp vấp dây bịn rịn

Làm sao hốt lại giọt lệ nhòa

 

Thôi thì bỏ xứ mà đi trớt

Có nhớ cũng đành mượn bờ môi

Khóc lên một tiếng

Ơi, một tiếng

Một tiếng dài như kiếp mây trôi

 

Thiên lý chạy vòng nửa trái đất

Đói lòng ăn chút bụi quê nhà

Hớp miếng gió quê cay trồng mắt

Hột lệ nào khóc miết không ra.

 

Vậy đó. Vậy mà ba mươi ba năm vèo qua như một giấc mộng. Cô út đã chạy việt dã nửa vòng trái đất để ngày nay hai anh em lại mừng tri ngộ nơi xứ người. Trước mặt tôi là bố Sỹ, ngồi cạnh là út Hương, cách tôi có vài gang tay, nhưng khoảng trống giữa chúng tôi là ba mươi ba năm dâu bể. Tôi nhìn gương mặt út Hương. Vẫn đôi mắt mở to ra đó, nhưng giữa sự rắn rỏi, đậm chắc vẫn pha thêm cái nét trẻ trung, rạo rực, nồng nàn, Rõ ràng út Hương bây giờ ra chiều chững chạc hơn, nhanh nhẹn và tự nhiên hơn. Chính sự gần gũi, thân thiện của cô út, ngoài đôi mắt ngày xưa ấy bây giờ tôi lại được nhận thêm tiếng cười nói dòn dã trên đôi môi tươi tắn để lộ chiếc răng khểnh ra. Cái khểnh của chiếc răng lộ ra mỗi khi cô cười tôi thấy nó giống như cái lõi hoa màu sữa bị mắc kẹt giữa hàm răng trắng ngà, chắc nịch rất có duyên.

 

Không ai biết trước được đường đi nước bước của đời mình. Hôm nay út Hương rắn rỏi mà mềm mại ngồi đây, vậy mà ngày mai ngày mốt hay sang năm, cô lại hớn hở bay qua Hòa Lan lên xe hoa theo chồng về dinh không chừng.  

Hê hê!!!

 

PHAN NI TẤN

 

 

 




Khánh Hà : 2 CD Rót Rượu Cho Dòng Sông và Về Nhánh Sông

Khánh Hà : 2 CD Rót Rượu Cho Dòng Sông và Về Nhánh

Sông Gầy Soi Bóng Ta .

Chiều Chúa nhật May 17, 2015 là buổi chiều Văn Hóa của San Jose Bắc Cali. Chỉ trong một buổi chiều đã có hơn bốn địa điểm tổ chức ra mắt CD, Sách và ca nhạc miễn phí để xin chữ ký v..v…
Tôi cố gắng đi dự được ba nơi, đầu tiên ghé nơi ra mắt sách của nhà văn Huy Phương và Võ Hương An tại học khu East Side đường Capitol Ave, sau đó về thư viện Tully số 880 tully rd, San Jose CA 95111 để dự ra mắt hai (3&4) CD Rót Rượu Cho Dòng Sông và Về Nhánh Sông Gâỳ Soi Bóng Ta của Nghệ Sĩ Khánh Hà. Trong hai CD ngâm thơ của Nghệ Sĩ Khánh Hà có thơ của những thi sĩ : Hà Thượng Nhân, Vũ Hối, Trần Ngọc Tú, Tô Thụy Yên, Huệ Thu, Trần Trung Tá, Cung Diễm..v..v.. 
Sau nghi lễ chào quốc kỳ MC Hoàng Tuấn mời nhà văn/biên khảo Diệu Tần giời thiệu về Nghệ Sĩ Khánh Hà, Tiếp Theo là thi sĩ Cung Diễm nói về hai CD Rót Rượu Cho Dòng Sông và Về Nhánh Sông Gâỳ Soi Bóng Ta, Thi Sĩ Hoài Việt chúc mửng buổi ra mắt hai CD của nghệ Sĩ Khánh Hà thành công, và nhà văn thi sĩ Chinh Nguyên chủ tịch Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt nói cảm nghĩ về nghệ thuật ca ngâm trong thơ :
"Thơ viết đúng niêm luật, gói ghém được tâm trạng, hoàn cảnh của thi sĩ, và có hơi nhạc quyện trong thơ đã là hay, nhưng thơ phải được ngâm lên với chất giọng lôi cuốn truyền cảm của nghệ sĩ lột tả được toàn vẹn ý trong thơ mới là tuyệt tác. Tôi mong ước rằng chúng ta nên giữ được một trong bốn thú thanh tao của người xưa (Cầm, Kỳ, Thi, Họa) này tại hải ngoại hầu bảo tốn được cái hay, cái đẹp của văn hóa Việt ở hải ngoại, đừng để mất đi…"
Sau lời cám ơn của Nghệ Sĩ Khánh Hà, và tiếp theo là lời ngâm của Nghệ sĩ Khánh Hà với bài Tống Biệt của cố thi sĩ thời tiến chiến Thâm Tâm và văn nghệ phụ diễn của nghệ sĩ Đan Hùng và Nguyệt Thanh, Lệ Hằng và nhóm ca vũ mặc y phục người thượng của vùng Cao Nguyên Trung Phần.
Đối với nghệ sĩ Khánh Hà buổi ra mắt CD của chị kể như quá thành công với hơn hai trăm quan khách tới dự mặc dù có quá nhiều nơi sinh hoạt văn hóa cùng một buổi chiều, lại cùng giờ. Trong các quan khách tới dự đa số là văn nghệ sĩ, những khuôn mặt quen biết với cộng đồng và giới văn hóa thường gặp : Các nhà thơ Dương Huệ Anh, Chu Toàn Chung, Cung Diễm, Huệ Thu, Mai Hoài Thu, Nguyễn Bá Trạc (Phần Lan), Mạc Phương Đình, Mạc Lan Đình….
Người viết vội vã đi thêm một địa chỉ khác tại tư gia của nhà thơ Hoa Hướng Dương.

Xin chúc quý vị vui và an bình.




Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà
 
 
 
 
 
  
 Nguyễn thị Thảo An
 

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.
 

Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
 

Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
 

Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá.  Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.
 

Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.
 
Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.
 

Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả… cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.
 

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.
 

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.
 

Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá.  Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
 

Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.

Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.
 

Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.
 

Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính 

 

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.

Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.
 

Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
 

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?
 
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
 

Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
 

Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?
 

Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
 
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.
 

Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không?  Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?
 

Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
 

Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu.  Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc?  Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
 

Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.
 

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự.  Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
 

Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
 
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
 

Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.
 

Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.
 

Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.
 

Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình.  Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã.  Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian.  Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:

 

 

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên)
 
Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương.  Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?
 

Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
 

Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.
 

Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.
 

Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.
 

Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.
 

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.
 

Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã  xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

 

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà…. Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ 
như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, 
thì dân tộc ta mới mong có được những
truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai….
 
 
Nguyễn thị Thảo An

 
 




NGUYỄN KHẮP NƠI :NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI.

 

NGUYỄN KHẮP NƠI

Viết theo lời kể của một cư dân Quận Dĩ An,

Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,

Viết cho những người Lính, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn và dân chúng của Quận Dĩ An xưa.

Kính tặng  Ông Quận Dĩ An – Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng – Trung Tá Nguyễn Minh Châu. 

Để tưởng nhớ Chú Ba Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An.

Nói về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa, nếu đi đường trong (đường ngoài là đường xa lộ Saigòn Biên Hòa), chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.

Mặc dù ở khoảng giữa Saigòn Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, nem Thủ Đức, buởi Biên Hòa . . . .

Dĩ An chỉ là một quận thuộc về . . . miền quê, không có bất cứ một thứ gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sàigòn.

Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ, bót cảnh sát, ga xe lửa . . . Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền  quê rồi đó, với những cánh đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn sơ.

Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có  . . . Việt Cộng.

Sau hiệp định Geneve 1954, phân chia đất nước làm hai miền: Miền Bắc theo Cộng Sản, còn miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp.  Khi Pháp rút về nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Bọn Việt Cộng ở miền Nam, một số tập kết về miền Bắc , số còn lại rút gân rút cốt thay hình đổi dạng, nằm vùng chờ cơ hội.

Tổng Thống Ngô lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh trật tự cho miền Nam Tự Do, ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình thường, dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó qua hai đợt di cư của người miền Bắc vào Nam: Năm 1954 và năm 1975.

Dân Di cư miền Bắc, được tập trung sinh sống ở khu Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp . . .  gần Biên Hòa, và đương nhiên là gần Dĩ An.

Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.

Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:

“Rê Su Ma, nạy chúa tôi”

Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”

Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”

Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy xé làm hai: Một đồng xé làm hai thành hai tờ Năm Cắc. Những đứa nhỏ Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi dỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo tụi tôi cả. Má tôi và những người chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những người Bắc Kỳ chụi khó làm việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.    

 Tôi được má kể lại là, lâu lâu , chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ lắm, thái bình thịnh trị lắm.

Vào thời gian xẩy ra đảo chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc đảo chánh kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhỉều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi nhớ: Mỗi lần chiếu bóng,  Việt Cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc đang mải mê xem phim chống bệnh tật: Máu đỏ và máu xanh trong cơ thể chống lại vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:

“Đùng”

Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm đám anh em tụi tôi không được  đi xem hát nữa.   

 Qua một thời gian vài năm không đi  coi hát ở chợ nữa, có một bữa, mấy đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:

“Có ông Quận mới về, ổng . . . sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về thẩy lựu đạn nữa, đi coi hát được rồi.”

Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má tôi không biết chuyện này.

Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt thấy có một chiếc “Xe Díp” chạy trờ tới, có một ông mặc đồ rằn ri nhà binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt con nít của tôi, thì ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết ông đó là ai, cứ mở bự con mắt ra mà dòm ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích thú:

-“Đó, ông Quận Dĩ An mới về đó!”

-“Ông Quận đó . . . sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết trơn rồi.”

-“Ổng là lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!”

-“Ổng tên gì vậy?”

-“Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết ổng tên gì!”   

Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà trung thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng ngón tay, ăn có mùi lá dứa.

Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày ngoài giờ học và nhưng giờ chạy chơi với bạn bè, tôi đều phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến.

Có người kể:

“Tối qua, ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám dề kêu đi đắp mô nữa”

Cũng có người nói:

“Tối bữa trước, thằng Năm con ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn đường ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã đặng giết. May phước, ông Tám có thằng nghĩa quân  xách súng đi theo, bắn trả lại rồi chạy thục mạng ra tới Xã ở luôn đó, mấy bữa rồi cũng không dám về nhà.”

Một ông già bán xạp đã thật là vui vẻ nói lớn:

“Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô rồi. Nhớ lại hồi đó, tối bị lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!”

Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người trong Hội Đồng Xã. Nhà hàng xóm gần nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo Quốc Gia, dân chúng có khi biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.      

Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được ông Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi, tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn, đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn   bị bắn chết, máu chẩy đầy mình. Lính nghĩa quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa. 

Có người léo xéo nói với nhau: “Xác đó là thằng . . . Tám (không phải là tên thật), con của Sáu Lô đó”

Có người làm gan, tới hỏi anh nghĩa quân đứng gác:

“Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi”

Anh nghĩa quân trả lời:

“Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng tối qua đó, ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn, cũng để đó đặng cho bà con biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày bị chết thảm như cái đám này đó!”

Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp ông nữa, nhưng nghe dân chúng nói rất nhiều về những điều ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt Cộng lắm.

Vì thế, dân chúng mới đặt cho ông cái tên:

“Ông Quận Sát Cộng”

Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gỉ? rồi. Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục ông, và lâu lâu vẫn suy nghĩ: Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà ông có thể đi hành quân phá hầm việt cộng hoài hoài như vậy được?

Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc quần áo đen, đội nón rộng vành, mang ba lô tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ mặc đồ bà ba đen và quấn khăn rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái nón của họ, hơi giống cái nón tai bèo của đám du kích. Nhưng khi thấy họ mang ba lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết chỉ có lính Cộng Hòa mới mang ba lô mà thôi. Khi một chú ăn xong, kêu tính tiền, tôi làm gan, hỏi chú là lính gì mà lại mặt đồ đen.

Chú này cỏn trẻ lắm, nhe răng cười trả lời tôi:

“Tụi tui là lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây”

(Xin gọi tắt là XDNT)

Nghe anh trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần đó thôi nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học. Chừng vài tháng sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:

“Lính XDNT được lắm, họ hổng giống lính Cộng Hòa, họ ở luôn trong ấp của mình đó, mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám Cái (không phải là tên thật) cấy lúa đó!”

“Bàn ngày, đám XDNT này đi vòng vòng giúp bà con, ban đêm họ xách súng đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháu cho mấy chú đó ăn cho no đặng làm việc đó!”

Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở luôn ở trong làng, trong xã chung với dân. Theo suy nghĩ nông cạn của tôi, tôi cho rằng: Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân, muốn diệt trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những người lính XDNT này thì mới tìm ra chúng mà đánh thôi. Từ đó, tôi lại có thêm cảm tình với lính XDNT và thêm cảm tình với ông Quận Dĩ An.

Tói tuổi thi tú tài, tôi lo học nhưng cũng thích thơ TTK, Hữu Loan, Hồ Zếnh ,và cũng thích đọc “The Exodus” “Chiến Tranh và Hòa Bình”. . .

Một bữa, tôi đang đọc  cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một ông khách lạ mặc quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, ông nhìn tôi ngạc nhiên:

“Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!”

Tôi trả lời ông:

“Cháu đọc cho biết Việt Cộng là như thế nào?”

Lâu lâu ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen rồi ,tôi mới biết ông là Cuộc Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An. Có bữa, tôi cắc cớ hỏi ông:

Chú Ba, có khi nào chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta giống như bọn VC tra tấn dân, giống như trong . . . Trại Đầm Đùn, hay không?”

Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:

“Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám VC là do CSĐB hoặc là ANQĐ phụ trách, chứ không phải là nhiệm vụ của chú.”

Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với ông. Ông kêu tôi là “Con gái” và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sàigòn, ông đi làm bằng xe Vespa (hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh Sát. Người ta kêu ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của ông.

Tháng Tư 1975, ngày đen tối của VNCH đã đến! Mấy ngày trước đó, thấy tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.

Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn.

Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp gác súng súng chờ bàn giao.

Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này đông lắm. Rồi còn những người lính XDNT nữa, họ còn đang ở chung với bà con trong Xã, Ấp, còn chú Ba Cảnh Sát, còn ông Quận TQLC Sát Cộng nữa, họ sẽ ra sao?

Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?

Ngay lúc đó, chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết sức là chú không mặc bộ quần áo cảnh sát thường ngày, mà chú mặc bộ đồ mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời. Chú nói với mẹ tôi:

“Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu hàng rồi, nhưng tôi đâu có thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh đầu hàng, tôi đã tập họp tất cả cảnh sát trong Cuộc lại dể  làm lễ chào quốc kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi, chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.”

Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:

“Đầu hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao chú không thay quần áo thường mà lại mặc đại lễ như vầy, lỡ . . . có chuyện gì thì sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy cho chú bận nhe!”

Chú Ba cười chua chát, trả lời:

“Lần cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc đại lễ chứ!”     

Tôi ái ngại nhìn chú, hỏi thêm:

-“Chú Ba đi về cùng với anh em cảnh sát hay về chung với ông Quận? Về chung chắc là an toàn hơn đó”

-“Anh em cảnh sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về, còn chú, chú đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay chú cũng về bằng xe riêng. Ông Quận vừa nói chuyện với chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những người lính nào ở Sàigòn.”

-“Chú Ba, còn cây cờ của mình, sao chú không gỡ xuống, để . . . người ta xé đi thì tội nghiệp cho lá cờ lắm”

-“Chú Ba chỉ có nhiệm vụ thượng kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Quân Đội không dậy chú cuốn cờ bỏ đi, và chú cũng không thể làm chuyện đó được. Trước khi về, chú đã đứng nghiêm chào lá cờ lần chót rồi.

Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Rồi chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.

Ngoài đường, tôi thoáng thấy những thanh niên mang băng tay đỏ, cầm súng chạy lăng xăng.

Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sàigòn, má nói tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.

Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sàigòn.

Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ về phía Sàigòn. Những chiếc xe tăng cắm cở Xanh dương và đỏ chạy rầm rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sàigòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.

Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, một người lính mặc đại lễ mầu trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng. Tôi thảng thốt kêu lên:

“Chú Ba Cảnh Sát!”

Tôi muốn dừng lại, xem có phải thật sự là chú Ba hay không?

Chú còn sống hay đã bị bắn chết?

Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở lính Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không thể nào ngừng lại.

Tôi bật khóc, nhìn chú Ba một lần chót rồi rung rẩy chạy xe đi.

Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì một đám những tên đeo băng tay đỏ, những tên đội nón tai bèo, đã kéo lá cờ VNCH xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại lá cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám đá cá lăn dưa cầm súng chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận chú Ba hết sức, tại sao không kéo lá cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám người này xé nát.

Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú:

“Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Tôi không giận chú Ba nữa, và nghĩ rằng, chú Ba đã làm đúng!

Chú Ba ơi, trong đầu óc chú bây giờ, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không chú?

Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này rất quen thuộc với người dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở thành khác hẳn:

Họ quấn  khăn rằn, đội nón tai bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.

Bà con đi chợ nói với nhau:

“Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị báo chí nói lung tung là bắt dân vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ . . .”

Một thời gian ngắn sau đó, những người Bắc Kỳ lại xuất hiện, chúng tôi kêu họ là “Bắc Kỳ 75”. Những Bắc Kỳ này láu cá và hỗn láo vô cùng, khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa. Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội nón cối, đ chân đất, luôn miệng chửi thề. Khi nói chuyện, họ xưng ông xưng cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:

“Ông báo công an, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ!”

Mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới ông Quận TQLC Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát. Tôi đã kể cho chồng con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết? Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những người hùng này hay không? Lâu quá rồi, hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.

Mỗi lần đi ngang những đài tưởn g niệm chiến sĩ VNCH, tôi đều cầu nguyện cho họ.

Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới biết ông Quận Trưởng Dĩ An , ông Quận TQLC Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn Minh Châu, ông còn sống, đang ở bên Mỹ. Tôi mừng qua, kêu chồng tôi:
“Anh ơi, ông “Guậng . . . Ông Guậng Dĩ Ang nè, ổng còn sống, ổng diếc báo nè!

Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằng ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông, em nói mà!”

Chúc mừng ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.

Cám ơn ông Quận, đã gìn giữ an ninh trong quận, đã sát cộng, để những người dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới ngày 30 tháng Tư.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

NGUYỄN KHẮP NƠI.