Ngày chiến sĩ trận vong 2021

Giao Chỉ, San Jose.

Nhân ngày tưởng niệm chiến sĩ tại Hoa Kỳ, ghi lại câu chuyện về trận tái chiếm Cổ Thành Quảng trị tôi phải gửi tặng nhiều người. Nhà báo Trùng Dương, tài tử Kiều Chinh và đại tá Ngô văn Định, Đại úy Phan Nhật Nam. Những người còn sống. Đại tá Phạm Văn Chung và chuẩn tướng Trần quốc Lịch những người đã ra đi. Các anh Định, Chung và Lịch cùng khóa võ bị với chúng tôi. Năm 2019 đã hy vọng rằng tháng 4 năm 2020 ghi dấu 45 năm từ khi mất nước 1975 sẽ cùng về San Jose dự quốc hận tại Việt Museum. Cùng ôn lại một thời oanh liệt. Năm 1972 Đại tá Phạm văn Chung Khóa CuongQuyet Đà Lạt lữ đoạn trưởng Mũ Xanh đang giữ vững phòng tuyến trên sông Mỹ Chánh. Tướng Ngô quang Trưởng khóa Cương Quy êt Thủ Đức vừa ra nhận chức quân đoàn 1 để phản công. Ông đã đến ngay Mỹ Chánh và hỏi riêng Phạm Văn Chung.  Giữ được không, ông tương hỏi?  Thưa trung tướng tôi giữ được. Người sinh viên khóa Cương Quyết Đà Lạt bình tĩnh trả lời. Tiếp theo đại tá Trần Quốc Lịch, khóa Cương Quyết Đà Lạt chỉ huy lữ đoàn mũ đỏ vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía núi. Đại tá Ngô Văn Đình, Cương Quyết Đà Lạt vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía biển. Mục tiêu là Cổ Thành. Khi một đơn vị đầu tiên của nhảy dù đã bám được vào tương thành thị trấn thì tai họa chiến tranh đã xảy ra. Phi cơ của phe ta đã thả bom vào đội hình của cả đại đội mụ đỏ. Lính dù bị tổn thất nặng nên ông Trưởng cho lữ đoàn của Trần Quốc Lịch tạm lùi lại để lữ đoàn mũ xanh của Ngô Văn Định lên thay. Trong trận Quảng Trị khóa chúng tôi có mặt một lần 3 đại tá chỉ huy. Viet Museum dự trù xây một tượng đài với 4 trận đánh lịch sử để các bạn cùng khóa về tham dự lễ khánh thành nhưng rồi Covid chặn mất đường về. Phạm văn Chung và Trần quốc lịch đã ra đi. Tháng 3 năm 54 đám thanh niên Bắc Kỳ chúng tôi lên Đà Lạt từ Hà Nội. Đã tình cờ có mặt tại Quảng Trị năm 1972. Cầm quân tham dự trận lịch sử. Nhưng đành lỗi hẹn năm cuối cùng tại San Jose. Xin các bạn đọc câu chuyện dài về cổ th ành Quảng Trị để nhớ về những người không còn nữa. Nhân ngày chiến sĩ trận vong tại Hoa Kỳ.

Ngày chiến sĩ trận vong 2021

Cách đây hơn 150 năm, giữa khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ đang diễn ra, tổng thống Lincoln trong bài diễn văn tại Gettyburg đã nói những tư tưởng đi trước thời đại. Ông nói đại ý rằng những người lính bên này hay bên kia đều là những người yêu nước. Mới đây, tôi có dịp xem trên mạng hình ảnh buổi họp mặt của các gia đình tử sĩ miền Bắc VN hy sinh trong trận Quảng Trị năm 1972. Diễn giả cho chương trình tưởng niệm là đại tá Nguyễn Quý Hải, thời gian đánh Quảng Trị ông là sĩ quan chỉ huy pháo đội Bông Lau. Một diễn giả khác là bác sĩ Lê văn An của Bắc Quân. Ông là bác sĩ duy nhất đã có mặt trong Thành Cổ Quảng Trị và là một trong 11 chiến binh còn sống. Vị bác sĩ này đã tả lại những giây phút đau thương oan nghiệt cuối cùng trong vòng vây thị xã. Câu chuyện nhắc đến các chiến binh còn sống dưới hầm sâu của tòa tỉnh trưởng bị bom đánh xập nhưng không có phương tiện để cấp cứu. Hôm nay, giữa không khí vui tươi trong dịp lễ cuối tuần Hoa Kỳ, dù tưởng niệm chiến sĩ trận vong nhưng với dân Mỹ vẫn là ngày Lễ Hội, tôi xin mở lại câu chuyện cũ về cuộc chiến Quảng Trị. Nửa thế kỷ trước, chúng tôi có dịp ra thăm Quảng Trị sau khi Miền Nam lấy lại được Cổ Thành. Sau 81 ngày ác mộng đã trôi qua. Hàng ngàn chiến binh 2 bên đã chết trong một thị xã bé nhỏ ở miền hỏa tuyến. Hà Nội gọi là Thành Cổ. Sài Gòn gọi là Cổ Thành. Khi miền Bắc có lệnh rút quân, chỉ có 11 chiến binh còn sống để trở về. Chúng tôi có dịp gặp một vài chiến binh cộng sản bị bắt tù binh. Trong số này có em nhỏ vượt qua bờ Nam sông Thạch Hãn nhưng không lọt vào trong Thành Cổ. Em thuộc toán quân bơi lạc vào đơn vị TQLC. Ông bạn tôi, đại tá Cao Tiêu của tổng cục chiến tranh chính trị buồn bã nhìn thằng bé quân đội thù nghịch mà hỏi rằng. Con quê ở đâu. Bao nhiêu tuổi. Thưa ông con quê Thái Bình, 16 tuổi. Sao 16 tuổi đã phải đi bộ đội. Con đi thay cho anh con. Anh con bị què chân. Nhưng nhà nào cũng phải đi. Ông Tiêu thở dài mà nói rằng. Để ông sẽ thu xếp cho con. Quê ông cũng ở Thái Bình. Chúng tôi không bao giờ quên được câu chuyện thẩm vấn tù binh ngày hôm đó. Vì vậy, nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong với không khí lễ hội tưng bừng tại Hoa Kỳ, xin kể lại những chuyện không vui của hai miền Nam Bắc trong chiến tranh. Chuyện từ Đại Lộ kinh Hoàng cho đến 81 ngày trận chiến Quảng Trị. Như vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ đã nói. Trong chiến tranh, những chiến binh của hai bên đã hy sinh đều là những người yêu nước. Từ Hà Nội, anh Ba Lê Duẩn ra lệnh phải giữ Thành Cổ bằng mọi giá. Từ Sài Gòn, Tổng Thống Ng Văn Thiệu ra lệnh phải lấy lại Cổ Thành bằng mọi giá. Quảng Trị là con bài trong canh bạc chính trị tại Paris. Chiến binh hai miền Nam Bắc chết trong thị xã Quảng Trị ai là phe thắng ai là phe bại. Xin bằng hữu cùng tôi đọc lại các tác phẩm viết về Đại Lộ Kinh Hoàng và Mùa hè đỏ lửa của miền Nam. Xin đọc qua Mùa hè Cháy, Mãi mãi tuổi 20 và Một thời hoa lửa của miền Bắc. Những mẩu chuyện như sau:

(1)Ngày Chiến sĩ Trận Vong                                                     

 Người Mỹ tưởng niệm những quân nhân đã hy sinh vì đất nước trong ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong. Ngày quốc lễ này năm nay là Thứ hai 31 tháng 5-2021.  Dù còn giới hạn vì Covid nhưng trên khắp nước tổ chức tưởng niệm các tử sĩ với những cuộc diễn hành, các buổi hoà nhạc nói lên tinh thần yêu nước. Có các cộng đồng khác sẽ đánh dấu ngày này bằng những giây phút suy ngẫm trong tĩnh lặng về những người đã ngã xuống trong khi đang phục vụ trong quân đội. Ngày lễ này từng được gọi là Ngày Vinh Danh được tổ chức tại nghĩa trang Arlington vào năm 1868. Ba năm sau cuộc nội chiến đẫm máu ở Hoa Kỳ gây thiệt mạng cho trên 600.000 người. Nhiều trường học được nghỉ lễ vào 3 ngày cuối tuần này và được xem như ngày khởi đầu không chính thức của mùa nghỉ hè. Nhiều gia đình tổ chức các buổi ăn ngoài trời hay đi đến vùng biển, công viên hoặc cắm trại. Nhân dịp đặc biệt này, năm trước chúng tôi đã phổ biến loạt bài về tổn thất trong chiến tranh. Năm nay xin gửi đến tài liệu ghi nhận được về trận Quảng Trị năm 72 để quý vị đọc trong những ngày nghỉ lễ.

(2) Năm 72 Ở Quảng Trị .

Ghi Chú: Một phần bài này viết năm 1990 phổ biến khắp nơi. Bỗng có một cựu pháo thủ Bắc quân thuộc đoàn pháo Bông Lau gửi email cho tôi báo tin rằng không phải pháo Bông Lau của cộng sản bắn trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Tôi hỏi lại, nếu Bông Lau không bắn thì pháo nào. Không thấy trả lời. Sách của Dương Phục và Thanh Thủy phát hành có đoạn tả về Đại Lộ Kinh Hoàng.

Thời kỳ trước 1975, khi tôi có dịp phụ trách về binh thư tại bộ Tổng Tham Mưu, thường qua bên Phòng Nhì hoặc Trung ương tình báo tìm đọc các sách báo của miền Bắc. Đọc và ghi chép lại, thêm 1 chút nhận xét, nhưng không phê phán. Đôi khi phải tóm lược lại để trình lên hay phổ biến nội bộ nhưng tuyệt đối không viết thêm những lời tuyên truyền hay lên án.

Ngày nay trên đướng đi tìm tài liệu cho trận Quảng Trị, chúng tôi giữ các nguyên tắc đó. Bây giờ xin quý vị cùng chúng tôi tìm hiểu về miền Bắc Việt Nam thời kỳ đầu thập niên 70.

Để chuẩn bị cho trận mùa hè 72, Hà Nội bắt lính từ năm 1970. Sau khi vét hết nông dân, qua năm 1971 tổng động viên toàn bộ nhân lực thành thị. Các học sinh và sinh viên trên 18 tuổi chuẩn bị nhập ngũ hết. Cũng trong thời gian này, Nga và Tàu hoàn toàn đồng ý viện trợ cho Hà Nội đánh Mỹ. Trong lúc Hoa Kỳ rút quân, bên ta Việt Nam hóa chiến tranh thì Nga Sô viện trợ tối đa cho miền Bắc qua Trung Cộng.

(3) Sau trận mùa hè Phan nhật Nam viết cuốn “Mùa hè đỏ lửa” thì 33 năm sau Hà Nội mới cho ra đời 2 cuốn sách viết về Quảng Trị. Đại tá pháo binh quân đội nhân dân Nguyễn Quý Hải ra đời cuốn “Mùa Hè Cháy” ghi lại con đường nhận pháo Nga Sô từ biên giới Tàu đem về Hà Nội đưa vào đến Quảng Bình, rồi qua Quảng Trị trong trận mùa hè. Với số lượng pháo đủ loại và hỏa tiễn, 5 sư đoàn Bắc quân đã được yểm trợ tối đa để tấn công miền Nam trực tiếp qua Bến Hải.

Tất cả đều ghi rõ trong tác phẩm “Mùa Hè Cháy” và chính từ tác phẩm này tôi có thể đối chiếu với tài liệu còn lưu giữ để có được những trang sử gần chính xác về phía Việt Nam Cộng Hòa. Cũng vào năm 2005 một tác phẩm khác của phe cộng sản tựa đề “Một Thời Hoa Lửa” đã ra đời, cũng nói về đề tài Quảng Trị. Bài viết này sẽ ghi lại rất nhiều chi tiết từ Hoa Lửa do các tác giả miền Bắc sáng tác.

(4) “Mãi mãi tuổi 20” Tập hồi ký được Hà Nội nhắc nhở đến nhiều nhất là: “Mãi mãi tuổi 20,” hồi ký của 1 thanh niên tên Nguyễn văn Thạc. Anh là Sinh Viên đại học Tổng hợp Hà Nội. Đi lính binh nhì truyền tin ngày 6-9-1971 và hy sinh tại chiến trường Quảng Trị ngày 30-7-1972, lúc chưa đầy 20 tuổi và chưa đủ 1 năm lính. Anh bị pháo cắt ngang đùi trái, mất máu nhiều quá nên đã chết. Chôn ngay tại mặt trận Quảng Trị. Thạc để lại cuốn nhật ký 260 trang, viết lời cuối vào ngày 27-7-1972. Ba ngày sau tử trận. Tháng 5-1973 tức là gần 1 năm sau, gia đình chưa có tin tức từ đơn vị, nhưng được đồng đội về báo tin. Sau tháng 4-1975 gia đình không có phương tiện đi tìm xác. Phải chờ đến cuối năm 1976 mới có điều kiện đi tìm. Cải táng từ quận Triệu Phong về huyện Từ Liêm, gần Hà nội vào dịp tết 1977. Tôi đã đọc 2 lần 260 trang sách nhưng không tìm được những dữ kiện về trận Quảng Trị. Hồi ký ghi lại 10 tháng trong quân ngũ của 1 thanh niên miền Bắc, nhưng mới vào trận đã bị thương rồi chết. Nội dung là lời lẽ chân thành đơn giản nhưng không có tình tiết hấp dẫn. Tác phẩm này được giới trẻ miếm Bắc tìm đọc vì đã nhắc đi nhắc lại đến tình yêu tuổi học trò với cô bạn học Như Anh. Cô này hiện nay là di dân sống tại Đức quốc. Vì tác phẩm nặng về tình yêu và thiếu quyết tâm nên đã không được phổ biến suốt 33 năm. Phải chờ đợi đến cuối thế kỷ thứ 20, nhạc vàng miền Nam chinh phục hoàn toàn nền văn hóa vô sản thì hồi ký tình yêu của Nguyễn văn Thạc mới được phổ biến và quảng bá mạnh mẽ.

(5) “Một Thời Hoa Lửa” Đây là tên 1 tác phẩm, đồng thời cũng là tên 1 chương trình do đài truyền hình Việt Nam tại Hà Nội và công ty viễn thông quân đội nhân dân phối hợp tổ chức vào ngày 31 tháng 10 năm 2005. Ban tổ chức mời tất cả bộ đội đã tham dự trận Quảng Trị trên 1.000 người về lại Thành Cổ để dự 1 chương trình văn nghệ. Cùng 1 lúc họ tập hợp lối 5.000 sinh viên Hà Nội tại sân trường đại học Khoa học, Xã hội, Nhân văn cùng tham dự. Báo Nhân dân đã ghi lại là vào ngày 6 tháng 9 năm 1971 tại 30 sân trường đại học và cao đẳng, tổng cộng 10.000 sinh viên lên đường nhập ngũ

Như vậy là 50 năm trước đảng cộng sản đã động viên hầu hết các sinh viên miền Bắc để tấn công miền Nam. Có nhiều trường đại học sau đó đóng cửa, các giáo sư cũng đi lính với học trò. Hầu hết có được 4 tháng huấn luyện và đầu năm 1972 tất cả lên đường vào Nam tham dự vào 3 mặt trận. An Lộc, Kontum, và Quảng trị. 70% bộ đội hy sinh hoặc bị thương. Trận Mậu Thân 68 Việt Cộng hy sinh toàn bộ các đơn vị thuộc Mặt trận giải phóng miền Nam và bộ đội tập kết.

Qua đến trận Mùa hè 72 đảng cộng sản Việt Nam hy sinh khối nhân lực trí thức tương lai của miền Bắc. Người có quyết định sắt máu đó là Lê Duẩn.

  Lúc 10 giờ 30 sáng ngày 30/3/72 trung đoàn pháo Bông Lau khai hỏa trận địa pháo vào căn cứ Carroll, Ái tử và Mai Lộc. Ngày 2/4/1972 căn cứ Carroll thất thủ. Sau đó Ái Tử, Mai Lộc rồi Quảng Trị đều rút quân. Một tháng sau, ngày 1 tháng 5-1972 Bắc quân chiếm đóng trên tỉnh Quảng Trị từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh. Sau khi miền Nam rút quân, xác người và di sản chiến tranh vẫn còn trên quốc lộ số 1. Báo chí Sài Gòn ghi lại con đường đã trở thành đại lộ Kinh Hoàng.

Hội nghị hòa đàm Paris bước vào năm thứ 4. Hoa kỳ đơn phương rút quân. Khối cộng sản Nga Sô và Trung Cộng đổ chiến cụ và tiếp viện tối đa vào miền Bắc.

Mở đầu cho giai đoạn thử thách Việt Nam hóa chiến tranh, quân lực Việt Nam Cộng Hòa hành quân Lam Sơn 72. Nam quân vượt sông Mỹ Chánh ngày 28 tháng 6-1972 và kết thúc việc chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị ngày 16 tháng 9-1972. Sau 81 ngày tại một chiến trường khốc liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Báo chí miền Bắc gọi là Cuộc đụng đầu của lịch sử. Hơn 30 năm qua và cho đến ngày nay, Hà Nội luôn luôn nhắc đến chiến tích đã cầm cự được 81 ngày.

Tại viện bảo tàng lịch sử Thành Cổ hiện nay có bảng tưởng niệm với 81 tờ lịch ghi dấu 81 ngày trong cuộc chiến mùa hè 72. Thêm vào đó có 11 tấm phù điêu tiểu sử 11 chiến binh đã có mặt trong Cổ Thành và còn sống đến ngày nay. Mỗi người đều ghi lại cuộc đời sinh viên, nhập ngũ, chiến đấu và trở về. Phù điêu gọi là Dương bản. Còn Âm bản là mộ bia tưởng niệm chung trên 10.000 bộ đội đã hy sinh.

Trong đêm văn nghệ Hoa Lửa 31/10/2005 họ đã dùng 81 nhạc công trong ban hòa tấu để nhắc lại ý nghĩa của 81 ngày lịch sử.

(7) Cổ Thành gian khổ. Cũng theo tài liệu của miền Bắc, tuyển tập Hoa Lửa ghi lại bút ký, bài viết và lời phát biểu của gần 100 nhân vật về trận mùa hè 72. Sách xuất bản năm 2005 ngôn ngữ Hà Nội đã có khác biệt với tài liệu tuyên truyền phổ biến trước và sau 1975. Không còn những lời miệt thị miền Nam. Họ gọi quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tổng thống Nguyễn văn Thiệu, trung tướng Ngô quang Trưởng. Đồng thời qua tài liệu với nội dung mở rộng đã có đề cập đến số tổn thất, thương vong khủng khiếp, nỗi sợ hãi, việc đào ngũ của chiến binh.

Đặc biệt có những chỗ ghi rõ tuổi tân binh có nhiều em dưới 18 tuổi. Các chú lính mới chưa được huấn luyện và cán bộ quân sự đã dạy bắn hay ném lựu đạn lúc còn ở dưới hầm trong Cổ Thành. Họ lùa tất cả đám lính mới qua sông rồi sẽ huấn luyện sau. Cuộc sống của hàng ngàn bộ đội dưới hầm là một thế giới cực kỳ gian khổ. Các hầm đều ngập nước. Không đủ nước uống. Không đủ ăn. Điều kiện vệ sinh hết sức khốn nạn. Người sống ở chung với thương binh và người chết. Trên 20% thương vong khi vượt sông Thạch Hãn. Sau đây là 1 đoạn nguyên văn của cán bộ quân sự viết lại: “Trong 81 ngày đêm đó, trung bình hàng đêm có 1 đại đội tăng cường hơn 100 người vượt sông và cũng từng đó con người đã ra đi không trở về. Máu thịt hòa vào nước sông trôi ra cửa Việt.”

Một chiến binh khác viết về những ngày sau cùng: Đêm 13/9/1972 Hồ Tú Bảo là sinh viên đại học toán, làm trinh sát cho sư đoàn 325 được lệnh qua sông vào tiếp viện. Suốt 2 ngày 13 và 14 tháng 9 không vượt được sông Thạch Hãn, Ngày 15 tháng 9-72 chuẩn bị vượt sông nhưng bến đáp cả 2 bờ Bắc Nam không còn nữa. Trong thành vẫn có súng nổ. Đến ngày 16/9/72 thì Cổ Thành Quảng Trị đã hoàn toàn im tiếng. Chỉ còn những ngọn khói bốc lên.

Đơn vị được lệnh rút về và hiện nay anh lính trinh sát sư đoàn 325 trở thành giáo sư tin học tại đại học Hà nội.

(8) Cờ bay trên Thành Cổ. Phía Việt Nam Cộng Hòa rất hiểu rõ ý nghĩa của việc tái chiếm Cổ Thành để dành thắng lợi trên bàn hội nghị. Phía Hà nội cũng ghi nhận đây là điểm quan trọng nhất. Hòa đàm Paris dự trù tái nhóm ngày 13 tháng 7-1972. Tài liệu của miền Bắc ghi lại rằng:“Tướng Ngô quang Trưởng đôn đốc nhẩy dù phải chiếm bằng được nhà thờ Tri Bưu ngày 12 và sau đó chỉ còn 500 thước đến Cổ Thành thì phải cắm cờ vào ngày 13/7/72. Kết quả quân Dù của VNCH chiếm được Tri Bưu nhưng quân ủy trung ương Hà Nội ra lệnh trung đoàn 48 và 2 tiểu đoàn địa phương, trung đoàn 95 của sư đoàn 325 phải sẵn sàng để chống vụ cắm cờ bằng mọi giá.

Một trang báo dài của đại tá Nguyễn Hải Như, tham mưu trưởng trung đoàn Thạch Hãn đã mô tả về trận quân Dù đánh xong Tri Bưu nhưng thất bại trong việc treo cờ Cổ Thành ngày 13/7/72. Sau trận đánh đẫm máu mà lính mũ đỏ hy sinh rất nhiều. Tài liệu của cộng sản cũng ghi rõ cách đánh rất dũng mãnh của cả 2 binh đoàn nhẩy dù và thủy quân lục chiến trong trận Cổ Thành. Bên Việt Nam Cộng Hòa có lợi thế thay quân. Đánh rồi ra nghỉ. Đưa thương binh tử sĩ ra khỏi trận địa. Trong khi phía miền Bắc không có điều kiện thuận tiện vì thay quân là phải qua sông và thương vong trên sông Thạch Hãn rất cao.

(9) Sau cuộc chiến. Cũng từ tài liệu của miền Bắc ghi lại, trên toàn thể Việt Nam, Quảng Trị là nơi có 2 nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất. Nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Quảng Trị. Phần lớn chiến binh cộng sản tử trận được gom lại chôn tại Quảng Trị. Một số lớn còn thất lạc. Các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa khi qua Mỹ được hỏi về di hài lính Mỹ cũng đã tiết lộ thêm về các mộ phần của bộ đội tại miền Nam do bên ta chôn cất. Phía Hoa Kỳ có chuyển tin tức này cho Hà nội. Tuy nhiên về việc tìm kiếm mộ phần của phía Việt Nam Cộng Hòa trước 75 bao gồm thêm di hài tù tập trung “cải tạo“ hiện vẫn chưa được chính quyền Hà Nội lưu tâm. Gần 45 năm sau tháng 4-1975 dân Việt tỵ nạn đã có cả triệu lần trở về cùng với hàng tỷ mỹ kim gửi quà hàng năm, nhưng vết thương chính trị vẫn còn là gánh nặng nên chưa giải tỏa được con đường vào chốn tâm linh.

Thuần túy trên lãnh vực tâm linh, nghĩa tử nghĩa tận, chỉ có chính quyền Hà Nội mới có thẩm quyền và trách nhiệm tối thiểu đối với di hài chiến sĩ miền Nam.

Với danh nghĩa người Mỹ gốc Việt, với sự cộng tác mạnh mẽ của tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam, việc tìm kiếm tảo mộ di hài chiến binh miền Nam đưa về nguyên quán hay chôn tại Nghĩa trang Biên Hòa với sự bảo quản tối thiểu, không có gì khó khăn.

Hà Nội đã bước vào kỷ nguyên mới, phải ý thức được những điều phải làm trong trách nhiệm với lịch sử dân tộc, theo trào lưu tiến hóa của nền văn minh nhân loại.

(10) Hàn gắn thương đau. Năm 1992, hai mươi năm sau mùa hè 72, Hội VMA (Vietnam Memorial Association) gồm các cựu chiến binh Hoa Kỳ muốn hàn gắn thương đau của Việt Nam hậu chiến. VMA dự trù xây trường học tại các nơi hẻo lánh cả 2 miền Nam Bắc. Ban quản trị họp để tìm 1 địa điểm đầu tiên. 8 ông bà Hoa Kỳ bàn về các địa điểm. Ý kiến rất khác biệt, Cô Kiều Chinh là người Việt duy nhất, đồng sáng lập viên của VMA đã đề nghị ngôi trường đầu tiên sẽxây tại Quảng Trị. Nơi mang vết thương lớn nhất của chiến tranh Việt Nam. Nơi chia cắt 2 miền suốt 21 năm. Toàn thể VMA đều đồng ý chọn đất cho ngôi trường tại Đông Hà coi như món quà của người phụ nữ Việt Nam tỵ nạn cộng sản gửi lại quê hương. Bức thông điệp đẹp đẽ biết dường nào. Năm 1954, cha của cô Kiều Chinh bị Việt cộng bỏ tù không bản án và chết trong tù. Thêm một ngôi trường được xây cất tại làng Mọc, quê hương của ông Nguyễn Cửu, thân phụ của cô Nguyễn thị Chinh, tên thật của tài tử Kiều Chinh. Cô ra đi lúc còn nhỏ 1954 và từ đó không bao giờ thấy được mặt cha. Trong phim “Người tình không chân dung” có đoạn Kiều Chinh quay tại nghĩa trang Biên Hòa cũng vào năm 1972. Một ngày nào đó, cô sẽ lên thăm lại nghĩa trang quân đội miền Nam, nơi có rất nhiều chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị mùa hè 72. Không thiếu bất cứ 1 quân binh chủng nào, không thiếu bất cứ màu cờ sắc áo nào. Kể cả lính Dù chết dưới chiến hào với cờ vàng pha máu và lính thủy quân lục chiến hy sinh trong thành nội 10 ngày sau cùng, chưa thấy được lá cờ bay trên trời xanh của Cổ Thành Quảng Trị. Phía bên kia Bến Hải một thời, có câu chuyện của họ. Bây giờ đến lượt chúng ta phải kể lại câu chuyện của mình. Nếu anh không nói, ai nói. Bây giờ không nói, bao giờ.

(11) Tổn thất chiến tranh. Vì vậy sau khi nghe chuyện bên kia, chúng ta hãy nói chuyện bên này. Rồi mai đây, vào năm 2025, nửa thế kỷ sau cuộc chiến, sử Việt sẽ ghi rằng chiến tranh Việt Nam đã làm chết 2 triệu dân trên khắp các miền đất nước. Riêng tại Quảng Trị, mùa hè năm 1972 cuộc chiến dằng xé điên cuồng đã giết chết 50 ngàn thanh niên của cả hai miền Nam Bắc. Lịch sử sẽ không cần ghi phần tổn thất hay thắng bại của các đơn vị. Sau này những đóa hoa tưởng niệm thả xuống dòng Thạch Hãn hay con sông Bến Hải sẽ cùng trôi ra biển Đông. Thể hiện tấm lòng của thế hệ tương lai gửi chung cho tất cả linh hồn các chiến binh đã hy sinh cho cuộc chiến tương tàn cuối thế kỷ thứ 20 tại Việt Nam.

(12) NHÂN CHỨNG TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG

Khi đi tìm nhân chứng của 1 chiến trường hết sức oan nghiệt và thê lương, hết sức dũng mãnh và hào hùng, tôi vẫn không quên đoạn đường đầy xác người trên quốc lộ số 1. Ngay khi chiến trường còn vương khói súng, cây bút nhẩy dù, đại úy Phan nhật Nam đã viết “Mùa hè đỏ lửa.” Tác phẩm đem vinh quang cho tác giả đồng thời cũng làm khổ ông sau 1975. Nhưng trước sau “Mùa hè đỏ lửa” đã gắn liền vào tên tuổi Phan nhật Nam.

Phải chờ đến 32 năm sau, Hà Nội mới xuất bản cuốn “Mùa hè cháy“ của đại tá pháo binh “Quân đội Nhân dân” viết về trận pháo kích của trung đoàn pháo Bông Lau, trận pháo dã man trên đường di tản của dân Quảng Trị, giết chết hàng ngàn người và làm đoạn đường trên 2 cây sốgiữa con sông Thạch Hãn và Mỹ Chánh trở thành Đại lộ Kinh Hoàng.

Chúng tôi vẫn đi tìm xem ai là người đặt tên cho đoạn đường của trận thảm sát mùa hè năm 72. Có lẽ chỉ trong chiến tranh Việt Nam mới có cái đại lộ mang tước hiệu kinh hoàng.

Anh phóng viên của bộ Thông Tin có mặt tại Quảng Trị nói rằng bác đi hỏi ông Lê Thiệp trên DC. Khi quân ta phản công ở Mỹ Chánh, ông nhà báo Lê Thiệp có đi theo trên quốc lộ 1 qua lối này. Năm 2005 nhân dịp gặp ông Thiệp tại DC, ông nói rằng không biết tay nào đặt cái tên Đại lộ Kinh Hoàng thật hay. Câu chuyện dừng tại đó. Một lần khác, chúng tôi rao lên là muốn tìm gặp những ai đã chạy trên con đường ác độc vào đúng lúc địch pháo kích. Tôi biết có trung tá Lê huy Linh Vũ của Tổng cục Chiến tranh Chính trị là người đã trải qua và đã viết lại thành cuốn sách. Con gái của trung tá Vũ là họa sĩ Hương Alaska có cho phép chúng tôi in lại cuốn này để tặng các bạn. Nhưng ông Vũ nay không còn nữa. Đại tá Hà Mai Việt, tỉnh trưởng Quảng trị thời kỳ 72 đã nói rằng: “Tại ông không lưu tâm đọc sách của tôi. Mở trang này ra mà xem, nhân chứng sống là ông Phan văn Châu. Tôi đã viết rõ từng trường hợp của trận Quảng Trị trong tác phẩm Thép và Máu. Ông nhân chứng này không những chịu đựng trực tiếp trận pháo trên quốc lộ mà còn nằm lại 1 đêm giữa các xác chết.”

Sau cùng nhờ ông Hà mai Việt, chúng tôi đã gặp nhân chứng sống. Trung sĩ Phan văn Châu năm nay 68 tuổi quả thực là 1 người dân tiêu biểu của miền đất Quảng. Qua máy điện thoại, dường như cả một trời tâm sự tuôn tràn. Những hình ảnh quê hương, chiến tranh, loạn lạc, pháo kích, khói lửa, lẫn lộn giữa trận 72 và trận 75.

Nói đến chuyện đất nước biết bao nhiêu địa danh nào là Nhan Biều, Cầu Ga, Ái Tử, Mai Lĩnh, Cầu Dài. Rồi đến biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu rạch nước. Âm thanh đất Quảng của người dân chân chỉ hạt bột, vòng qua quay lại để sau cùng trở về với cái ngày cả gia đình bỏ Nhan Biều mà đi. Ông Châu nói rằng, lúc đó dường như mọi người đã chạy hết. Phan văn Châu là trung sĩ thông dịch viên cho ngành tình báo tại Đà Nẵng đang đi công tác về Ái tử.

Đến khi thiên hạ bỏ chạy hết, thầy thông ngôn trẻ tuổi mặc đồ dân sự cùng 1 đứa cháu, dẫn vợcó bầu với 3 đứa con nhỏ, năm một, sáu, bẩy, tám tuổi. Tất cả vội vàng ra đi bỏ lại phía sau căn nhà mới cất tại Nhan Biều bên bờ Bắc của sông Thạch Hãn.

Vợ con đi trước 1 đoạn với gia đình bà chị. Thằng cháu và ông Châu đi xe gắn máy kéo theo 1 chiếc xe gỗ 2 bánh. Hành trang chất đầy, người kéo, người đẩy chiếc xe qua khỏi cầu Ga, đi được một đoạn dài đến 9 giờ sáng thì pháo nổ ngay trên đường. Con đường đầy người chạy loạn. Cả dân cả lính với đủ mọi thứ xe. Đa số đi bộ vì đường tắc nghẽn nên không thể đi nhanh. Đạn rơi chỗ nào cũng có người chết. Xác bắn tung lên trời. Khói lửa mù mịt. Mạnh ai nấy chạy. Vợ con thất lạc ngay từ lúc đó. Ông Châu nghĩ rằng vợ con có thể đang ở phía trước. Nhưng phía trước hay phía sau thì cũng bị pháo. Khi pháo tạm ngưng thì có người lại tràn ra đi tới. Nhưng phần lớn nằm yên chịu trận. Có nhiều người không chết ở đợt pháo đầu nhưng rồi bị chếtở các đợt pháo sau. Nhiều xác chết trên đường bị pháo đi pháo lại nhiều lần. Bị thương rồi lại bịpháo rồi cũng chết. Biết bao nhiều người cố chạy cho thoát bỏ lại cả gia đình vợ con. Những đứa nhỏ nằm khóc bên xác mẹ. Những em bé sơ sinh bú vú mẹ đã lạnh khô. Có người còn sống thấy đó mà phải bỏ đi. Ông Châu và đứa cháu chạy về phía đông quốc lộ, vùi thây xuống cát mà chịu đựng 1 ngày pháo kích. Đủ loại pháo của cộng sản thay phiên bắn phá suốt một ngày dài. Pháo 122, pháo 130 và pháo 155. Chỉ khi nào có B52 đến thả bom mới thấy địch im tiếng súng được 1 lúc.Toàn thân ông tê liệt dưới trời nắng gắt. Phải bò đến các vũng nước có cả phân trâu và máu người để uống. Khi trời tối dần, tất cả đều im lặng và ghê sợ. Ông Châu và đứa cháu bắt đầu bò quanh lật các xác chết đàn bà và trẻ em lên xem có phải vợ con. Lật một xác phụ nữ mà ông nghĩ rằng người vợ, đầu óc ông mê muội. Thằng cháu còn tỉnh táo nói rằng không phải mợ. Mợcó bụng mà cậu. Mấy người khác còn sống cũng làm như vậy. Tất cả đi tìm xác thân nhân. Nhưng rồi trời tối hẳn, bộ đội Việt Cộng bắt đầu xuất hiện. Chúng tìm đến các xe nhà binh và tìm các quân nhân mặc quân phục bắt đi hết. Cậu cháu ông Châu khai là dân thường nên được lệnh phải nằm yên tại chỗ. Đêm hôm đó, ông Châu thức trắng trên bãi cát đẫm máu của Đại lộ Kinh Hoàng. Hình như có đôi lúc ông cũng thiếp đi. Cũng chẳng còn nhớ rõ. Chung quanh toàn xác chết. Người chết nhiều hơn người sống. Những xác chết cháy như than củi. Ông nghĩ rằng chắc xác vợ con cũng quanh đây. Sáng hôm sau, từ sớm mai những người còn sống đành phải bỏ lại1 cánh đồng xác ở đằng sau để chạy về miền Nam. Đi đến cầu Dài gần sông Mỹ Chánh thì gặp toán tiền sát của thủy quân lục chiến Việt Nam chận lại. Khi biết chắc là không phải quân địch, ông trung úy thủy quân lục chiến phất tay cho qua. Vừa đi khỏi một đoạn đường thì thấy ông sĩ quan bị du kích phía sau bắn sẻ chết ngay tại chổ. Đó là cái chết cuối cùng ông chứng kiến tại Quảng Trị. Tìm xe quá giang về Huế với tâm trạng hết sức não nề. Nhưng rồi phép lạ đầu tiên đến với cuộc đời ông. Ngay tại khu vực tạm cư Phú văn Lâu, thuộc thành phố Huế, ông gặp lại đầy đủ vợ con. Bà vợ bầu đã dẫn 3 đứa con nhỏ đi xuống đường ven biển theo dân địa phương. Đoàn người đi xa quốc lộ nên tránh được pháo kích.

Vợ con dắt díu nhau đi suốt 1 ngày 1 đêm về đến Mỹ Chánh rồi được xe cho bà bầu quá giang về Huế. Hai năm sau người vợ đầu tiên của ông Châu qua đời, sau khi sinh cho ông thêm 3 ngưới con nữa. Cô gái còn nằm trong bụng mẹ trên đại lộ kinh hoàng năm nay đúng 37 tuổi, tốt nghiệp đại học và có gia đình cư ngụ tại miền đông Hoa kỳ.

Những bước chân trần ai trên bãi cát Quảng Trị mùa hè năm 72 của bà mẹ mang bầu không biết có còn vương vấn chút nào trong lòng cô bé nghe pháo kích từ lúc chưa ra đời. Ông Châu nói rằng: Tụi nhỏ chẳng biết gì đâu. Chỉ có đứa lớn nhất năm nay ngoài 40 tuổi là còn nhớ đôi chút. Hỏi rằng thế ông có được bao nhiêu con tất cả. Ông tính nhẩm rồi nói rằng tất cả 10 con. Bà đầu tiên 6 con. Bà thứ hai 3 con. Bà này bỏ tôi đi lấy chồng nên bây giờ vẫn còn ở Việt Nam. Tôi đưa cả 3 cháu đoàn tụ bên này. Bà hiện nay ở với tôi có 1 cháu. Năm nay cháu cũng 24 tuổi rồi. Bà sau này có 1 con riêng. Như vậy là chúng tôi có 11 con. Thế bác có hạnh phúc không. Hạnh phúc chứ. Tất cả là số trời. Ông Châu nói rằng, cái đêm nằm ở đại lộ kinh hoàng, uống nước máu người và phân trâu tôi không bao giờ giờ nghĩ đến có ngày đi Mỹ như bây giờ. Tôi nghĩ rằng bây giờ vợ con chết hết thì mình sẽ ra sao. Làm sao tìm xác. Rồi chôn ở đâu. Hàng trăm xác người chung quanh, biết bao nhiêu xác trẻ con, vợ con tôi đều trong số đó. Không hiểu nó bắn pháo đạn gì quá ác. Tất cả xác chết như than củi chẳng làm sao biết được người nào là người nào.

“Năm 1973 tôi có trở lại, đi qua con đường thấy có đài tưởng niệm, rồi có các mồ chôn tập thể, có mồ chôn riêng rẽ. Lòng tôi hết sức xúc động. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn xúc động. Con cháu tôi thì nhiều nhưng mà làm sao các con hiểu được những gì tôi đã trải qua. Trận 72 quân ta mới lấy lại một nửa Quảng Trị. Đứng bên này dòng Thạch Hãn, bên kia là Nhan Biều, nơi tôi ra đời còn cả ngôi nhà thân yêu. Bên ta đã bị địch chiếm bờ Bắc, chỉ giữ được bờ Nam, đến 75 thì bờNam cũng chẳng còn.”

“Vâng thưa bác, năm nay em 67 tuổi,” ông Châu nói tiếp, “quê ở Nhan Biều, bờ Bắc sông Thạch Hãn, ngay dưới cầu Ga. Nhà em thi vào làm trung sĩ thông dịch viên năm 1966 khóa 11 tại quân đoàn I. Sau 75 em trốn được. Nếu khai thật chắc là bị buộc tội CIA.

Bờ sông Mỹ Chánh và cây cầu mới năm 2009. Mùa hè năm 1972, Nam quân và thường dân đã chạy qua “Đại lộ Kinh hoàng” để rút về phía Nam sông này.

Sau đó em vượt biên rồi đoàn tụ. Trước sau 3 vợ, 11 người con. Bà sau này là bà bền chặt nhất đã sống với nhau 25 năm. Vâng, thưa bác đây chắc chắn là bà sau cùng. Gia đình em rất hạnh phúc. Phần em, dù có bị kinh hoàng nhưng cũng chỉ có 1 ngày 1 đêm. So với người ta có người cả đời kinh hoàng thì nỗi khổ của chúng em có thấm vào đâu.”

Đó là câu chuyện của ông Châu, nhân chứng số 1 của chúng tôi. Tôi hỏi ông Châu câu cuối cùng. “Ông có biết ai đặt tên Đại lộ kinh hoàng.” “Không đâu,” bây giờ ông gọi tôi là cụ. “Cụ với cụHà Mai Việt không biết thì ai mà biết. Nhưng quả thực là kinh hoàng thực đấy các cụ ạ.”




TRÁI MỒNG TƠI – THƠ Xướng Họa CAO MỴ NHÂN + PHƯƠNG HOA + MINH THÚY & Loài Hoa Mắc Cỡ – LÊ TUẤN

TRÁI MỒNG TƠI

Cao Mỵ Nhân

*

Quán đẫm sương thu buồn rỉ rả

Mồng tơi ai nhuộm má môi em

Chiều hoang sắc tím trên tầng lá

Không lỗi lầm sao vẫn lấm lem

*

Anh hỏi thơ xưa anh viết tặng

Giấy vàng mực tím có còn nguyên

Em cười: lời đã dần xa vắng

Nên chữ hình như cũng nhạt thêm

*

Tơ trắng thu vương càng chất ngất

Mùa mưa vãn hạ, chớm heo may

Lá rơi theo gió bay đi mất

Ngõ vắng, hồn thơ bỗng đắm say

*

Nhấm thử mồng tơi, e hoá dại

Tay anh hoen tím cả trang thơ

Thương em ưa chuốc sầu quan tái

Ngay lúc đường quen vẫn đợi chờ …

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

MoMonMongMonMoM

TÍM MỰC MỒNG TƠI

(Kính họa)

*

Ngày xưa bờ giậu xanh rôm rả

Tím ngát chùm chùm ửng má em

Bướm chập chờn đùa vờn nhánh lạ

Nhập nhoè hạt chín mực màu lem

*

Lá tre bút viết lời trao tặng

Tím cả tình yêu nét tím nguyên

Môi mắt ngọt ngào tim rộn lắng

Nụ cười hạnh phúc má hồng thêm

*

Chữ màu tim tím hồn ngây ngất

Xuân đến hạ về lẫn chớm may

Vết mực xưa nhoà buồn chứa chất

Đêm tàn loang loáng giấc mơ say

*

Tình mực mồng tơi thời tuổi dại

Tím còn in đậm sẫm lời thơ

Muốn tìm kỷ niệm nhưng lòng ngại

Biết nửa hồn kia có mãi chờ?

Phương Hoa – MAY 28th 2021

***

GIẬU MỒNG TƠI

*

Nhớ chuyện ngày xưa lòng rộn rả

Vui buồn một thủa sống trong em

Mồng tơi giậu sát tường xanh thắm

Vặt trái đùa chơi mực tím lem

*

Tập vẽ bôi màu trang giấy tặng

Trao người bức ảnh cảnh đào nguyên

Là khơi ý tưởng thời mơ mộng

Có lúc run làm xáo trộn thêm

*

Kỷ niệm êm đềm tim cảm ngất

Sương tàn khoát nhẹ bóng trăng lay

Mồng tơi vẫn mãi khơi nguồn cảm

Góc bể chân trời gối mộng say

*

Khó ngỡ hành trang thời trẻ dại

Tâm hồn vướng víu thả dòng thơ

Soi vùng ký ức câu vần quyện

Chén nguyệt từng đêm rũ rượi chờ

             Minh Thuý (Thành Nội)

                 Tháng 5/30/2021




Văn Thơ Lạc Việt MỪNG LỄ CHIẾN SĨ TRẬN VONG: Lê Văn Hải, Lê Tuấn, Phương Hoa, Minh Thúy, Hoàng Mai Nhất

DƯỚI ĐÂY LÀ hai bài thơ phỏng dịch của Phương Hoa, một bài dịch thể thơ Lục Bát và bài kia thể thơ bảy chữ, từ bài thơ tiếng Anh của thi sĩ John Mccrae: “In Flanders Fields,” bài thơ nổi tiếng được viết trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất bởi Trung tá John McCrae, một bác sĩ người Canada, thường được đọc trong ngày lễ Memorial Day.




Mừng Lễ Phật Đản: ĐI CHÙA – MINH THÚY (Thành Nội)

ĐI CHÙA

            Tôi đi Chùa theo Mẹ từ lúc chưa vào lớp tiểu học, hình như khoảng ba, bốn tuổi thì phải. Hồi đó Mẹ hay đi tụng kinh mỗi tối là ngôi Chùa Tịnh Bình nằm trên đường Tăng Bạt Hổ (thành phố Huế), sau mẹ có duyên quy y chùa Diệu Đế trên đường Bạch Đằng. Những mùa lễ lớn các chú điệu đạp xe vào đưa giấy mời, mẹ cúng dường tịnh tài, tới ngày lễ ghé chợ mua cá đem ra sông phóng sanh.

           Còn nhớ tuổi thơ rất rõ… mỗi lần lên Chùa tôi thường được các cụ xoa đầu nựng má, cho bánh kẹo hoặc quả quýt và khen “cháu giỏi lắm, mẹ ngồi đọc kinh cả tiếng đồng hồ mà cháu ngồi yên không phá phách”, chưa kể được các chú điệu hay các thầy trẻ cho cả bọc bánh In đủ màu sắc (có lẽ lúc nhỏ vì ham quà bánh nên thích theo mẹ chăng?). Khi tuổi thiếu nữ không còn đi theo mẹ nữa, mà thích đi với bạn vào dịp lễ Phật Đản hoặc Vu Lan, lúc đạp xe tới Chùa gần, khi dùng hai chuyến xe Đò lên chùa Từ Đàm, chùa Tường Vân hoặc xa hơn là chùa Thiền Lâm Tự nằm trên núi. Mỗi lần đi cả nhóm ghé vô chợ Đông Ba mua hoa Sen dâng cúng Phật, hôm đó dặn nhau mặc áo dài trắng đàng hoàng nghiêm chỉnh, dù rằng không còn được quà nhưng ngôi Chùa có sức thu hút theo không khí hiền hoà, cảnh vật đầy hoa thơm đủ sắc thật đẹp, nhất là những cây hoa Sứ trước sân Chùa nở hoa trắng toát ra kỳ hương nhẹ nhàng.

            Những năm từ 1980 đến 1984 tôi vào Sài Gòn tìm đường vượt biên, có lúc ở nhà Dung (bạn hàng xóm Huế) thêu hàng, em trai Dung khoảng 13 tuổi  rất hiền lành thường ăn chay nhưng giấu gia đình, ngồi một góc nhai cơm với xì dầu, chị em hợp mạng, em hé môi cho biết mỗi tối lặng lẽ đi Chùa tụng kinh, từ đó sau giờ cơm chiều em nháy mắt tôi đi đúng giờ nhập lễ. 

Vượt biên đến đảo trải qua cuộc hành trình tưởng bỏ mạng nơi biển cả, từ đảo Pulau  Bidong chuyển tiếp qua trại Sungei Besi, hai nơi đều được dựng Chùa, nên mỗi chiều tôi thường lên bám víu lời kinh tiếng kệ cho tâm trí tỉnh lại. Qua Mỹ năm 1985 chân ướt chân ráo đã đi cày sáng mờ sương đến tối trời về đầu tắt mặt tối không còn thời giờ. Một buổi chiều được về sớm, cô em dâu chở tôi tới ngôi Chùa Đức Viên trên San Jose lúc đó Sư Bà Đàm Lựu làm trụ trì, tôi mừng hết lớn vì được ngồi trên xe ngắm màu nắng hai bên đồi của Freeway 680. Được thấy ngôi Chùa lần đầu nơi xứ Mỹ, tiếng trống Bát Nhã, hồi chuông thức tĩnh cho tôi cảm giác bồi hồi về kỷ niệm những ngày theo chân mẹ đi Chùa, tôi cố ngăn không để cảm xúc trào dâng nhưng nước mắt cứ tuôn ra như đứa con trôi sông lạc chợ, lăn lóc bụi thời gian đang trở về bến bình yên tạm thời giây lát. 

Sáu năm sau tôi chuyển job, có được ngày cuối tuần nhưng chỉ thuận khi gặp một công mấy việc mới lên San Jose. Một trưa ghé Chùa thỉnh tượng Phật và tìm quyển Hư Hư Lục của sư cô Như Thủy, quý bác đang đổ bánh xèo dùng trưa, sự niềm nở mở rộng tấm lòng làm chúng tôi khó từ chối lời mời, tôi yêu không khí thanh tịnh, hình ảnh quý bác, quý sư cô ăn nói nhẹ nhàng cùng nụ cười nhân từ hiền hậu tăng sự kính mến của tôi vô cùng. Tuy nhiên đường xá xa xôi nên thỉnh thoảng mới viếng Chùa được, tôi hằng mơ ước giá chi dưới vùng mình sinh sống có được ngôi Chùa.

            Trung Tâm Phật Giáo mọc lên nơi thành phố Hayward năm 1986 nhưng tôi không hề hay biết. Nhận job mới nên tôi dời nhà lên vùng Hayward tiện công ăn việc làm, tình cờ dự đám cưới, ngồi chung bàn nói chuyện, cháu B cho biết có ngôi Chùa nhỏ nằm trên đường Calaroga. Từ đó duyên đến với tôi, mỗi chiều thứ sáu sau giờ làm, lòng tôi hớn hở như bao người vì được “xả trại” nghỉ ngơi hai ngày weekends không bị kim đồng hồ báo thức, mà niềm vui trước nhất là được đi Chùa về tối sẽ ngủ dậy trễ sáng sau. Cuối tuần tôi dành thì giờ một ngày đi chợ, nấu ăn đàng hoàng thịnh soạn so với những ngày đi cày, chủ nhật lên Chùa sinh hoạt có khi cả ngày hoặc nửa ngày theo chương trình sắp xếp của Chùa. 

Thầy Tôi 

Tu hành “hữu xạ tự nhiên hương” 

Dũa đức mài tâm giữa sắc thường

Giảm thiểu rau cà thông mạch lạc

Đơn sơ y áo ngộ am tường

Trì kinh sáng tụng rèn nhân đức

Điểm hạt chiều thiền quán thiện lương

Chúng dẫn, tăng dìu đường chánh pháp 

Danh Thầy Từ Lực sáng vầng dương 

                                MTTN 

             Thầy Từ Lực trụ trì ngôi Trung Tâm Phật Giáo Hayward là người con của xứ sông Hương núi Ngự, Thầy chuyên cần vừa học vừa tu đã tốt nghiệp cử nhân ngành thư viện, mỹ thuật tại San Francisco State University, sau đó tiếp tục theo ban cao học tại California State University Hayward. Thời gian ấy Thầy cũng rất vất vả vì ban ngày đi làm việc trên trường UC Berkeley, tối về hướng dẫn đại chúng tụng kinh vào thứ hai, tư, sáu. Càng ngày việc phật sự càng nhiều, đám tang cần ma chay tụng niệm cầu siêu người chết, những tiểu bang lạnh mời Thầy đi hoằng pháp lưu động, vì bên đó thiếu vắng Thầy. Các bác họp đạo hữu lại vận động mỗi người một tay cố gắng hỗ trợ tài chánh thêm nữa trang trải hàng tháng, và yêu cầu Thầy nghỉ việc giữ gìn sức khỏe, để còn hướng dẫn đại chúng tu tập. Tưởng yên thân thầy trò lo việc tu học, nhưng vài năm sau County gởi giấy về báo địa điểm Chùa không hợp lệ dùng nơi tụ tập đêm ngày, hàng xóm gởi đơn khiếu nại. Cuối cùng đạo hữu cho Chùa mượn trong vòng 5 năm không lấy tiền lời cộng thêm sự cúng dường của tứ chúng. Thầy tìm được địa điểm trên đường Meekland cũng thuộc thành phố Hayward, xem như Chùa Phổ Từ được thành lập từ năm 2000. Công trình xây cất gặp lắm gian nan vất vả, nói như kiểu người phàm thì thầy “làm dâu trăm họ”, nhưng rồi thiện thần hộ pháp che chở, mọi trở ngại từ nội ma, ngoại ma, nội chướng, ngoại chướng của thế gian cũng được túc đắc tiêu diệt.

CHÙA PHỔ TỪ

(Tung hoành trục khoán)

MÁI ấm tâm linh dội trống đồng

CHÙA Từ tĩnh lặng nhẹ ngân chuông

CHE lòng mộ đạo nơi thiền quán

CHỞ dạ mến Thầy chốn tịnh không 

HỒN  đậm pháp môn thường tự tại

DÂN đằm giáo lý cũng thong dong

TỘC hành cuộc sống gieo nhân thiện

NẾP SỐNG MUÔN ĐỜI CỦA TỔ TÔNG

                                                MTTN

Ngày tháng tiếp tục đi qua từng mùa xuân, hạ, thu, đông…Tôi vẫn đều đặn sinh hoạt cùng quý bác, quý anh chị và bạn hữu như tìm về nơi chốn bình an cho tâm hồn, bên cạnh cuộc sống chồng chất nhiều lo âu, trách nhiệm đôi khi nhận chịu áp lực nặng nề đè nén tiếng thở dài.

            Đến Chùa gặp những thiện hữu tri thức, tu tập hạn chế lời nói, họ chỉ thực hành bằng công việc cho tôi học hỏi gương tốt rất nhiều. Nhớ những sáng chủ nhật tới Chùa sớm, có lúc quét lá, có khi vào bếp phụ được việc gì trong lúc chờ đợi chương trình đúng 9 giờ hành lễ. Trước tiên Thầy hướng dẫn đại chúng ngồi thiền kêu gọi tâm trở về tĩnh lặng, tập hít sâu thở ra ý thức sự sống phút hiện tại, sau đó thầy trò tụng niệm kinh cầu an, hoặc nếu có cúng hương linh thì tụng thời kinh Di Đà, kinh Địa Tạng và Chú Vãng Sanh, 10 phút thư giãn hoặc thiền hành trong sân, kế tiếp Thầy ban thời pháp hướng dẫn các pháp của Đức Phật dẫn dắt con đường tươi sáng an lạc, buổi trưa dùng cơm thanh tịnh 

       “Có không còn mất chẳng bận lòng 

       Yêu ghét được thua chẳng mong trông

       Mở rộng tâm ra lòng thanh thản 

       An vui tự tại dạ thong dong”

              Mỗi tháng có ngày tu học từ sáng đến chiều, ngày xưa các cụ gọi là Thọ Bát Quan Trai phải tuân theo các điều lệ nghiêm túc (không đeo nữ trang, không phấn son, không nghe nhạc, chỉ thọ nhận buổi cơm trưa và không được ăn tối). Qua Mỹ cuộc sống bận rộn, thời gian quí báu, Thầy Tự Lực tìm con đường trung dung thích hợp mọi lứa tuổi nên đổi lại “Ngày Tu Học”. Sáng tham thiền, ôn tụng Tam Quy Ngũ Giới và Thập Thiện Giới, hành thiền và nhận thời pháp lời hay ý đẹp của đạo Phật. Thọ chay trước tiên ngồi quán chiếu và hồi hướng công đức tới người trồng ra thực phẩm, người mua về nấu nướng cúng dường cho mình thọ trai. Sau giờ nghỉ ngơi buổi trưa một tiếng, tiếp tục vào chánh điện dưới sự hướng dẫn lạy sám hối 108 lần. Buổi  chiều ra về lái xe nhìn khung cảnh chung quanh thật đẹp, thật bình an, lắng đọng soi lại tâm mình để sửa  đổi, ngẫm trong thời gian qua đã hành được bao nhiêu điều tốt, bao nhiêu việc thiện, bao nhiêu lần nóng giận, và bao nhiêu lần mắc khẩu nghiệp nói điều có thể làm người khác buồn lòng?

              Ban đầu chúng tôi thọ “Tam Quy Ngũ Giới” tại Trung tâm Phật Giáo được Thầy quy y, tháng ăn chay 4 ngày, chỉ từng đó mà khó lắm đấy, gieo lòng sợ hãi của chúng sinh không đạt tới, nhưng nhờ có sự ân cần khéo léo của Thầy rằng :

             – Cố gắng với nội tâm và ý chí nếu đạt được một điều, hai điều cũng là quý, từ đó mỗi ngày rèn luyện, thanh lọc thân tâm  dần thêm.

“Trăm năm trước thì ta chưa gặp

Trăm năm sau biết có gặp lại không?

Cuộc đời sắc sắc , không không

Thôi thì ta hãy hết lòng với nhau”

            Nhờ Thầy dẫn dắt đường đi nước bước nên bà con yên lòng tu tập. Hai năm sau tôi thọ Thập Thiện Giới tại Chùa Quang Nghiêm của Sư Ông Minh Đạt dưới Stockton trong buổi đại lễ, cùng đi cả nhóm đệ tử theo thầy Từ Lực, giới này phải ăn chay tháng 10 ngày. Biết bao nhiêu điều tu tập tôi rớt lên rớt xuống, tập đi tập lại nhưng rất hãnh diện đã thành công điều này. Chiêu dụ người khác theo mình cũng khó, tôi áp dụng tuần hai ngày, tuần ba ngày chay, những ngày còn lại nấu mặn. Nhiều chị bảo “cứ nêm nếm rồi nhổ ra súc miệng sạch hoặc nấu cầm chừng không nếm”, tôi nghĩ phải nấu đàng hoàng mới yên tâm không bị ray rức “bỏ đời theo đạo”, trong khi đang còn bổn phận trách nhiệm, thôi thì đem đạo vào đời, lúc sống cho mình và lúc làm vui lòng người khác.

Mong Trọn Tình Lam

“Thể Sắc Thái” 

Tình lam  đón tuổi  mấy mươi ngoài 

Đã hết xanh đầu thuở trẻ choai

Sắc tím chân trời còn đắm cảnh 

Màu cam vạt nắng vẫn mơ loài

Lời vàng bút ký nào quên được

Ý ngọc thầy trao mãi nhớ hoài 

Máu đỏ thi nhân hoà cảm xúc 

Đen trời nguyệt tỏ gợi thơ ngoai

                                    MTTN

           Đến Chùa khung cảnh luôn tươi sáng, bông hoa nở rộ, chim hót ríu rít từ đầu cổng ra đến vườn lộ thiên Phật Quan Âm, bên cạnh có hòn non bộ. Ngồi yên, lắng lòng thanh tịnh, nghe tiếng chuông Chùa tĩnh thức đánh tan niềm tục lụy trong giây phút hiện tại. Hình ảnh bức tượng chiếu sáng trong tâm, cảm nhận sự nhiệm mầu của những bậc giác ngộ soi đường nở hoa. Gần gũi thấy lối sống quý sư Cô, quý Thầy suốt ngày lo việc Phật sự, bữa ăn đạm bạc, hình ảnh giản dị với bộ nâu sòng không sắc, cuộc sống thật đáng kính phục hơn nữa khi biết một số ra trường với mảnh bằng PHD hoặc Matter khi còn trẻ tuổi, nếu như ở ngoài đời đã kiếm tiền thật nhiều và dễ dàng,  nhưng họ chẳng luyến tiếc để tìm con đường chân lý, hoằng hóa độ sanh thế giới đầy não trượt, buông bỏ vui thú trong cuộc đời giả tạm.

Ánh Sáng Phật Đạo 

Đồng tu tứ chúng hương dâng nguyện 

Thắp dậy niềm tin luyện pháp kinh

Hồi chuông lay động vô minh 

Hành Tứ Diệu Đế tâm bình an vui

Dòng đời vạn biến vùi đau khổ

Bát Nhã chèo thuyền ngộ vực sâu

Trầm luân lắm cảnh bể dâu

Phật đài đánh lễ cúi đầu lắng tan

Thầm xin tuệ đuốc ban mầu nhiệm

Khép cửa tham, sân, nghiệm …Có, Không

Phật đường ánh đạo khai thông 

Hoa bừng, chim hót nắng hồng vươn cao

                                    MTTN

            Đôi khi cũng có những nỗi lo theo sự khốn đốn của các Chùa nói chung, lòng cũng nặng nề khó tả, dẫu biết Chùa chiền mọc lên nhiều thì đất thánh nhiều càng tốt, nhưng chỉ là biết mà không kham hết được đành nhắm mắt tuỳ duyên. Tánh tôi thuộc loại cứng đầu cứng cổ, nhỏ lớn không để những vấn đề dị đoan ảnh hưởng như mua nhà xem phong thủy, coi ngày giờ, cầu xin…Tu hành cũng cần có tinh thần Bi, Trí, Dũng. Quý Thầy nói điều gì thuận thì nhập vào não và duy trì, điều gì không hợp thì quên nhanh, nhất là sau này nhìn những youtube bên VN người dân quá mê tín theo sự hướng dẫn sai lạc của một số Chùa thật là chán nản. Tôi đọc bài Tản Văn Phật Giáo (Đi Chùa để làm gì) của tác giả Mạnh Kim thấy biết bao nhiêu điều xấu làm mờ đi hình ảnh của ngôi Chùa, có đoạn của Albert Einstein từng nói “Chính những người dung thứ hay khuyến khích việc xấu ác đã làm cho thế giới này trở nên nguy hiểm nhiều hơn là những người nhúng tay vào việc ác”, (nói một cách đơn giản hơn thì sự im lặng trước những điều xấu ác cũng chính là đồng loã) 

Một lần em chồng tôi lên Chùa nhờ Thầy cúng giải Sao, thầy Tự Lực nói khéo

– Chị gieo việc thiện nhiều sẽ tiêu trừ hoặc giảm bớt những nghiệp xấu.

Lần nọ trong buổi giảng pháp của Ôn Minh Đạt có người đến xin giúp việc ma chay, coi giờ tốt để chôn cất người mất. Ôn nhẹ nhàng nói: 

– Thầy chỉ truyền thừa sứ mạng Đức Phật giao phó là có nhiệm vụ hộ niệm cho người mất, Thầy không biết xem giờ, khi họ ra đi có chọn được giờ tốt không?

            Đó là những vị Thầy đã phát huy tinh thần giáo pháp của Đức Phật, ngày xưa Phật không cần Chùa, nhưng bây giờ số lượng đạo hữu quá đông cũng phải cần ngôi Chùa để sinh hoạt, nhất là nơi nuôi dưỡng tuổi trẻ gia đình Phật Tử mầm mống xây dựng xã hội lành mạnh, nên Chùa phải cần sự hộ trì tam bảo, giúp đại chúng cùng nhau nương tựa tìm con đường chánh pháp tu tập. 

       “Lắng lòng theo những nhịp chuông 

       Buông dần tục niệm bên tuồng đời kia 

       Miệt mài thương ghét sớm khuya 

       Rồi mai cũng vất xuống bia mộ mình”

           Thầy giao chìa khoá cho tôi giữ tủ sách, những buổi lễ lớn dọn ra phát hành, một số phật tử về VN thăm gia đình, mua áo tràng, xâu chuỗi cũng như các tượng Phật, ly đèn nguyên thùng đem qua cúng dường Chùa gây quỹ, thì tôi phải dọn ra bán, thêm đồng nào cũng để bù vào những buổi cơm Chùa lo liệu, mời phật tử dùng trưa mỗi chủ nhật đến sinh hoạt. Lúc nhỏ tôi thường hay nghe người ta nói đùa “cơm Chùa, của Chùa không ăn cũng uổng”, giờ tôi mới thấy tận mắt cảnh ấy… một bàn dài thức ăn, không kể quen biết hay xa lạ, đã đến Chùa là được Sư Cô, bạn đạo mời dùng. Cà phê trà nóng sẵn bình, các ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại hay cha mẹ dẫn con cháu đi học tiếng Việt, sinh hoạt gia đình Phật Tử, trong lúc chờ đợi, cha ông đi dọn rác làm vườn, mệt nghỉ vào uống cà phê, hoặc lấy thức ăn ngồi dưới gốc cây bóng mát dùng, các bà mẹ vào bếp nấu lo các em nhỏ. Tôi rất thích khung cảnh thanh bình tuyệt vời này, đó là điểm tuyệt vời tôi thích đến đây vì được thấy lối sống hiền hoà, tâm phật, ý Phật, tứ chúng cùng tu. Tâm người như ngựa không cương, nếu ở nhà chắc gì tôi được yên thân hay bị phone gọi, bếp réo chưa kể ma nhác nổi lên lười biếng.

Tôi được đi hành hương theo tổ chức của Chùa rất nhiều lần. Khi ghé về Sacramento và Stockton thăm Chùa Phước Thiện, Chùa Phổ Minh, Thiền viện Diệu Nhân, lúc lên San Francisco thăm dự lễ Tam Bộ Nhất Bái, hoặc thăm Chùa Sư Nữ người Mỹ, tràn ngập niềm vui trong tình đạo. Các đạo hữu tự sắp xếp chia ca, chia nhóm, mỗi người hai khay lo thức ăn cho ngày Tu Học hoặc các lễ nhỏ, những lúc khách đến bất ngờ quá đông, đạo hữu của Chùa nhịn miệng đãi khách phương xa, nhưng lúc thức ăn quá dư các sư cô nhắc nhở bới về, chị em lấy hộp nhận thức ăn cười và chọc nhau “tu tâm thì ít mà togo thì nhiều”.

            Càng ngày bàn thờ vong càng đông, có những hôm lễ 49 hoặc 100 ngày cúng thất có tới 7, 8 di ảnh nhìn lạnh người. Sự chết không đợi lão 80, 90 mà vẫn có 60, 20,  thậm chí ngay cả 5 tuổi. Đối diện và hộ niệm mỗi tuần, tôi thường quán chiếu về sự sống, sự chết, về lẽ vô thường, sâu xa triết lý là Không Sanh, Không Diệt để cố tu tập hơn nữa, ra đi chẳng đem theo thứ gì ngoài công đức để lại.

“Trăm năm nhìn xuống đời hư ảo 

Phút chốc nhìn lên ngộ lẽ trời 

Ta trồng hạt giống từ bi

Ngày sau kết trái vô vi cúng dường 

Nguyện trên khắp nẻo vô thường 

Người đi phổ độ vào đường chân như”

         Có lần tôi gặp thầy (quên tên) nơi Chùa Thiên Trúc, thầy tốt nghiệp bằng tiến sĩ về môn Thần Học, ngồi trà đạo về đề tài Sống Chết, thầy cười chỉ nói một câu “chết là một cuộc chơi”, không hiểu sao câu nói đó truyền trong tâm thức tôi sự bình thản, khiến tôi không cảm thấy sợ hãi trước sự chết. Đời người một lần ra đi, còn hơi thở ngày nào biết ngày đó, tôi tâm niệm quan trọng khi sống là biết chia sẻ, góp công những điều phước thiện làm đẹp cho đời sống. Sinh, Lão, Bệnh, Tử, nhưng con ma vô thường vẫn không đợi tuần tự như vậy, dĩ nhiên khi đối diện cảnh ngộ của sinh ly tử biệt, ai cũng đau lòng, nhưng phải chuyển hoá sự suy nghĩ để bớt khổ đau hơn, và nghiệp báo mỗi người mang theo phải chấp nhận, chỉ nên cố gắng tu tập, can đảm nhận mọi thử thách và rèn luyện kiên nhẫn như kinh Đức phật từng nhắc nhở “Như Lai chỉ là bậc Đạo Sư, học hay không là do chính bản thân mình, có học thì tới, không học sẽ không bao giờ tới “

  “Vô minh rớt lại ta bà 

   Soi trong tự tánh thấy ta lại về 

   Thoát ra từ vực u mê

   Vô thường được mất có hề chi đâu”

              Chỉ còn vài ngày nữa Lễ Phật Đản, năm nay tình trạng bệnh dịch đang còn phòng ngừa  dẫu đã được chích thuốc, thôi thì ở nhà dâng hoa quả thắp hương tưởng nhớ đấng Từ Phụ, vị Phật trong tâm nhắc nhở con mỗi khi sai phạm lỗi lầm, nhắc nhở con soi lại tấm gương nội tâm. Mùa của quý Thầy nhập hạ, mùa cho tôi sống nhiều kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu bên mẹ, thời hoa mộng bên bạn bè viếng những ngôi Chùa xa gần “che chở hồn dân tộc” nơi thành phố Huế thân yêu thuở nào….

 Tán Phật 

Bảy bước hoa sen xuất thế trần

Ta bà hoá độ khắp hoàn luân

Rừng cây suối cỏ thiền an trí

Góc gội Bồ Đề quán tịnh thân

Khai ngộ môn tu bừng ánh đuốc 

Tri thông Phật pháp tỏa làn vân

Mười phương ánh đạo lan truyền sáng 

Bốn biển năm bề độ cõi nhân 

                                                Minh Thúy (Thành Nội)

                                                Mùa Phật Đản 2021




CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ

Con Là Con Mèo Trạng Quỳnh Của Mạ            

Mạ sinh con đang lúc nhà nghèo khó
Một phần cơm, khoai sắn độn hai phần
Thuở ấu thời, mắm cà cùng muối đậu
Con đã quen ngon miệng món nhà bần.

Lúc mớ rạm ngoài đồng đem ram muối
Muà nước lên con bống thệ kho khô
Những chột nưa mạ nấu cùng tí ruốc
Rau tập tàng vị ngọt những ngày thơ.

 
Đọi rau khoai ngọt ngào con tôm đất
Hũ tép chua có những lát măng vòi
Bánh tráng nướng còn thơm mùi mít trộn
Những món quen con vẫn nhớ trọn đời.

Ngày mưa bão, trên mâm thường trứng luộc
Trưa mùa hè, nước rau muống thay canh
Chút dưa, muối cũng vội vàng xong bữa
Sao mạ hay – ngồi ăn cuối một mình.

Con là con mèo Trạng Quỳnh cuả mạ
Đã phận quen ăn những món ăn nghèo
Trước những mâm đầy sơn hào hải vị
Con dửng dưng như đứa trẻ quen chiều.

Giờ con đã xa nửa vòng trái đất
Biết khi mô mới trở gót quay về
Trên bếp lưả chụm rơm chiều khói tỏa
Con cá cơm mạ nấu bữa canh me.
 
Cho ấm áp thêm cuộc đời trống lạnh
Hạnh phúc này xoa diụ tấm lòng con
Khi hơi toả thơm ngát mùi gạo mới
Trên tay con, miếng cơm cháy thơm dòn.
 
Con, đứa trẻ lạc loài trên xứ lạ
Đang quay cuồng theo cơm áo, ngựa xe
Mà thương mạ vẫn thường hay tựa cửa
Bên mâm cơm, vắng bóng đứa con về.  
 
                              Huy Phương

Mama, I Am Your Self-Contented Cat

                 

You gave birth to me while being destitute:

Potato or cassava doubling rice each meal to suit.

Salted egg-plants and peanuts since childhood,

I had got accustomed to the poor people’s food.

The crabs from the paddy-fields that you fried,

The goby from inundation that you cooked dried,

The chunks of taro you prepared with rousong,

The sundry veg…, that with my youth got along.                                         

The sweet potato buds, with prawns as spices,

The soured shrimps, with bamboo shoot slices,

The grilled pancakes smelling jackfruit, thyme,

The familiar dishes… I remember all my lifetime.

On stormy days, on the salver were boiled eggs;

In summer, water spinach for broth without dregs;

A bit of pickle was enough for a quick repast…

But you Mama always remained alone the last.

Regals are rich, their cats have delicacies to try;

I was Mama’s cat, only meagre dishes did satisfy.

So content with my lot that feasts I did not enjoy,

Indifferent, seeming kittle as a too coshered boy.

Well, now that I have been a hemisphere away,

I do not know when I will come back and stay

There, on the straw fire under smoke you stoop

To cook with anchovies the eve tamarind soup.

So that warmth is added to my empty existence:

Such bliss will appease my heart in this distance,

With the cooking smelling the new harvest rice,

And for me a crisp piece of burned rice as a price.

As a lost young child lonely in a strange land,

Being whirled along means of living’s demand,

I feel so anxious for Mama against the door-case

Or by the food tray always longing to see my face.

Translation by Thanh-Thanh




(thơ song ngữ) CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ của HUY PHƯƠNG & THANH-THANH




BÌNH YÊN TRONG TÂM HỒN

BÌNH YÊN TRONG TÂM HỒN

KIỀU MỸ DUYÊN

Ký giả Kiều Mỹ Duyên

Tìm về thiên nhiên, tìm sự thanh thản, an nhiên cho tâm hồn.

          Làm bất cứ nghề gì cũng mong có sự bình yên trong tâm hồn, tối về nhà phải ngủ ngon, muốn thế phải học hỏi không ngừng, học ở trường không chưa đủ, phải học ngoài đời, học từ những người có nghề nghiệp có kiến thức uyên thâm. Tốt nghiệp đại học 4, 6, 8 năm ai cũng có thể học được, nhà nào cũng có con tốt nghiệp đại học, nhưng học ở đại học thì học lý thuyết nhiều hơn là thực tế, thực tế là phải học từ những người có kinh nghiệm truyền dạy.

          Văn phòng của chúng tôi, Ana Real Estate có lớp hàng tuần huấn luyện cho chuyên viên địa ốc trở thành chuyên nghiệp. Muốn không bị thưa kiện thì phải học không ngừng nghỉ, học để hiểu biết, học để làm việc với khách hàng một cách thuyết phục và nhận được sự tin tưởng từ khách hàng. Khách hàng nói chuyện với chuyên viên địa ốc chừng 5- 10 phút là biết ngay chuyên viên địa ốc đó có kiến thức  hay không?

          Chúng tôi thường mời những chuyên viên liên quan đến nghề địa ốc đến văn phòng để hướng dẫn các chuyên viên của chúng tôi. Các chuyên viên cũ hay mới cũng phải học, học không ngừng nghỉ. Chúng tôi huấn luyện chuyên viên nghe nhiều hơn nói. Nếu nói nhiều quá rồi không biết mình nói gì? Lắng nghe nhiều hơn là nói, phải biết khách hàng mình cần gì, muốn gì, họ ao ước có cái nhà để ở, người khác thì muốn bán nhà nhanh, v.v.

          Thứ bảy, chủ nhật nào văn phòng của chúng tôi cũng có lớp. Sự học hỏi rất cần thiết cho người cầu tiến, mong làm việc với khách hàng một cách hữu hiệu. Nếu đồng hương muốn bán nhà, chỉ cần đặt vài câu hỏi với chuyên viên là biết ngay họ có kiến thức hay không?

          – Anh chị làm nghề địa ốc bao lâu rồi? Học bao nhiêu lớp huấn luyện sau khi có bằng địa ốc? Học với ai? Những lớp học đó tên là gì? Hằng năm có tiếp tục học những luật mới của địa ốc không?

          – Anh chị bán được bao nhiêu căn nhà rồi? Nhà đó ở thành phố nào?

          Chuyên viên địa ốc hỏi người đi mua nhà làm lương bao nhiêu, cho xem giấy tờ khai thuế, tiền để trong nhà băng, tín chỉ bao nhiêu điểm, v.v.? Tại sao người mua nhà không hỏi lại chuyên viên địa ốc chứ?

Các chuyên viên địa ốc văn phòng Ana Real Estate được các chuyên gia training mỗi tuần. (Trong hình: Duke Nguyen, Cảnh Sát tư pháp, nguyên là ứng cử viên Cảnh Sát Trưởng của Orange County(áo cam) huấn luyện các agents cách tự vệ và bảo vệ khách hàng khi đi xem nhà)

          Nếu ai có hỏi tôi rằng chị bán được bao nhiêu căn nhà? Tôi sẽ trả lời ngay những nha tôi đã bán ở các thành phố khác nhau như ở các quận Los Angeles, San Jose, Riverside, San Bernardino và Orange County.

          Ngày xưa, tôi mới vào nghề địa ốc mấy tháng có người hỏi tôi rằng chị làm nghề địa ốc, chị khuyến khích đồng hương mua nhà, vậy thì chị mua nhà chưa?

          Tôi trả lời ngay, tôi vừa làm nghề địa ốc mấy tháng tôi mua nhà ngay. Tháng đầu tiên, tôi đã bán và list 23 căn nhà, chiếm giải thưởng của miền Nam California. Đó cũng là nhờ có gia đình giúp đỡ, cắm bảng open house, in tờ bướm, phát tờ bướm và nhiều thứ nữa. Nếu không tin, tôi sẽ cho địa chỉ nhà, quý vị có thể tìm ra ngay nhà đó là nhà của tôi. Trước khi vào nghề địa ốc, tôi tin tưởng rằng tôi có khả năng làm nghề này, và có khả năng mua nhà trong thời gian rất ngắn. Đúng vậy, ngụ ngôn của Pháp rằng muốn thì được (Vouloir, c’est pouvoir). Người nào quyết tâm làm việc gì đó sẽ được và sẽ thành công nếu cố gắng và học hỏi không ngừng, và yếu tố quan trọng sống làm sao để cho đồng bào thương. Người ta thương mình thì không bao giờ sợ đói, không ai chết đói vì thiếu ăn, nhưng chết vì thiếu tình thương.

          Càng lớn tuổi chúng ta mới cảm nhận được tình thương quan trọng nhất trên đời này. Nhiều người không sợ thiếu cơm, thiếu áo mà sợ cô đơn, cô độc .       

          Làm bất cứ việc gì cũng mong sự bình yên trong tâm hồn, tiền rừng bạc biển mà tối ngủ không ngon thì cũng chết sớm.

          Ai cũng mong được thương yêu, muốn người ta thương mình, mình phải thương mình trước. Làm việc tối tăm mặt mũi không có thì giờ để ăn thì không nên. Phải ăn uống điều độ, phải nghỉ ngơi. Có nhiều người lớn tuổi làm việc tận lực vì biết mình không còn sống bao lâu trên thế gian này. Điều đó không nên, nếu mình biết giữ sức khỏe, ăn uống điều độ, ngủ đúng giờ, ngủ ngon giấc, biết đâu mình sống lâu hơn, giúp người khác nhiều hơn.

          Tôi thường khuyên người thân của mình sống làm sao để được mọi người thương thì không bao giờ sợ đói. Dù đi đến đâu hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng không bao giờ sợ đói, đói là do mình mà thôi. Sống để người ghét mình thì sợ không toàn mạng chứ đừng nói đến việc người ta cho mình ăn.

          Tình thương vô hình nhưng cần thiết trong đời sống của mọi người. Nhiều người cho rằng người ở Việt Nam có nhiều tình cảm đậm đà, sâu sắc vì người ở Việt Nam có nhiều thì giờ hơn người ở Mỹ. Người ở Mỹ làm việc tối tăm mặt mũi không còn thì giờ để nghĩ đến người khác? Nói như thế cũng không đúng. Mình phải tự hỏi mình là ai? Mình có trong trái tim của người nào đó không? Một ngày có 24 giờ, người nào cũng có bao nhiêu đó thời gian, sở dĩ người này không nghĩ đến người kia vì trong trái tim của họ không có mình.

Hãy trao nhau yêu thương và sự quan tâm.

          Tôi có nhiều người bạn tuyệt vời, dù bận rộn thế nào bạn tôi vẫn gọi thăm tôi thường xuyên, không bao giờ bạn tôi nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Tại sao mình có thì giờ ăn một ngày 3 bữa, có thể ngủ một đêm 8  giờ mà không có vài ba phút để gọi thăm bạn mình, vì mình không có trong trái tim của bạn mình. Đã là bạn thì không bao giờ than không có thì giờ. Đến lúc nào đó, người ta không cần cơm áo gạo tiền mà chỉ cần đến tình thương và sự quan tâm.

          Tôi đã từng nuốt nước mắt vào tim khi nhìn những người già trong viện dưỡng lão không thân nhân thăm viếng, chỉ trừ những người làm việc thiện nguyện. Họ là những người một thời vang bóng, có thanh danh trong xã hội, nhưng khi về già sống cô đơn trong viện dưỡng lão. Hơn 40 năm nay, tôi có mặt thường xuyên trong các viện dưỡng lão ở miền Nam California. Tôi nghe ông bà cụ tâm sự về con cháu, về quá khứ của họ mà tôi xúc động.

          Tình thương, tình thương và tình thương cần lắm, rất cần cho mọi người. Tình thương người với người vô giá, sống vui với tình thương của những người trong gia đình, trong cộng đồng, với những người xung quanh. Buổi chiều về nhà, thấy ánh đèn long lanh, nghe tiếng cười của trẻ thơ, nhìn ánh mắt ấm áp của người lớn tuổi đã thấy ấm lòng. Thương yêu và sống vui vẻ, hạnh phúc thì còn gì bằng?

Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật.

          Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?

          Quan niệm của tôi không nghe việc xấu của người khác, không thấy việc xấu của người khác và không nói việc xấu của người khác. Cuộc sống bình yên, đi làm về tối sẽ ngủ ngon, thắc mắc việc của người khác sẽ khổ thôi, tại sao mình phải mang cái khổ vào thân? Cha mẹ sinh ra con, thương yêu con, nhịn ăn để cho con ăn, tại sao không thương cha mẹ là rước khổ vào thân?

          Biển đẹp, rừng cây đẹp, tiếng chim hót líu lo trên cành, hoa lá màu sắc rực rỡ, rung rinh trong gió tuyệt đẹp. Hãy ngắm nhìn cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời, vô tư, khong thù oán thì đời đẹp lắm.

          Yêu thiên nhiên, sống với thiên nhiên, sống với tiếng hót của loài chim với giọng cười của con suối, hạnh phúc lắm.

          Muốn bình yên đâu phải lúc nào cũng được bình yên, nhưng khi bị nhức đầu quá thì phải làm sao? Uống thuốc đau đầu ư? Không nên uống thuốc đau đầu, phải tìm đến một vị thần hộ mệnh của mình, vị thần hiện hữu ở trần gian mà mình kính mến để nhờ giúp đỡ. Sự giúp đỡ của vị thần sống là điều tốt đẹp nhất trần gian, vị thần sống biết lắng nghe, biết nói và biết giải quyết vấn đề thực tế, vấn đề rắc rối ở trên cõi trần gian này. Mong rằng mọi người đều có thần hộ mệnh cho mình.

Cầu xin Đức Mẹ hiển linh hằng cứu giúp.

          Hãy tận hưởng những gì mình có, không thắc mắc, không oán thù bất cứ người nào. Sống yêu thương thấy đời đẹp lắm.

          Hy vọng mọi người được yêu thương, sống an vui, hạnh phúc và bình yên. Hãy cho nhau tình thương, mong lắm thay!

Orange County, 18/5/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




THƠ Xướng Họa: HẸN EM – CHỜ ĐẾN RƯỢU KHÔ- Mạc Phương Đình & Phương Hoa + Ca Khúc DÁNG HOA thơ Mạc Phương Đình – Nhạc LÝ KIẾN TRUNG – Ca sĩ Ngọc Mỹ




THƠ Thăm Bệnh Thành Viên VTLV- Dương Huệ Anh & Phương Hoa




THƠ XƯỚNG HỌA “Buổi Chiều Vàng” – LÊ TUẤN, Minh Thúy, Phương Hoa




MỚ TÓC – Cao Mỵ Nhân & TRANH THƠ Lê Văn Hải + THƠ Cảm Tác & Thơ Họa – Phương Hoa & Minh Thúy + Thơ Cảm Tác Lê Tuấn

MỚ TÓC

(Cảm tác từ bài viết “Mớ Tóc” của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân)

Mớ tóc ngang lưng vốn mượt mà

Dáng kiều một thuở đẹp như hoa

Áo bay theo gió hồn trong trắng

Tâm quyện cùng mây tuổi ngọc ngà

Sóng biếc làn thu say dũng sĩ

Suối huyền sắc hạ rực gương nga

Đã đành…xuống kéo vì non nước

Tóc ngắn tình dài vẫn thiết tha…

Phương Hoa – May 19th 2021

***

TÓC THỀ

(Họa)

Ngày xưa mái tóc mượt xinh mà 

Thiếu nữ bao thời đẹp tợ hoa 

Hạ đắm khoe tà tô dáng lụa 

Thu say phủ lối điểm thân ngà

Ru mây rắc tím hồn thi sĩ 

Thả gió đơm hồng bóng nguyệt nga

Suối nghiệp đường tình buông quá khứ 

Thay vào kiểu ngắn mộng đời tha 

               Minh Thuý Thành Nội

                   Tháng 5/19/2021

MỚ TÓC

Cao Mỵ Nhân

Nói tới “Mớ tóc” thì không có thể ngắn trên cổ áo như quy định của đoàn Nữ Quân Nhân Quân Lực VNCH chúng tôi thủa trước 30 -4 -1975 được.

Mớ tóc mà quý vị thường thấy trong cuộc đời đàn bà con gái, là những mái tóc dài từ ngang lưng đến phết gót, còn gọi tóc dài đến quét đất, mới là rõ ràng.

Hôm nay tôi nghĩ về những mái tóc dài của quý vị nữ lưu xứ Bắc kỳ ngày xưa, khi tôi lớn lên được thấy.

Và những mái tóc thề thả ngang lưng mà cả một nền văn hoá Huế không thể thiếu, nếu nhắc đến hay bàn về “Mớ tóc VN”

Riêng “Mớ tóc” phụ nữ miền Nam, thì hầu như đã “quốc tế hoá” lâu đời rồi .

Thế thì để đan cử một hình ảnh chung chung rõ nét nhất, tôi xin phép được kể về “Mớ tóc” của tôi.

Khi tôi đưa “Mớ tóc” của tôi ra ánh sáng, là phần nhận xét thắng thế của …anh đã “bất chiến tự nhiên thành”, hay là anh sẽ cười thầm tôi: “Chẳng ai khảo cũng xưng ra, dại thế, hoặc: khờ chi lạ, tự dưng thưa: lạy ông, tôi ở bụi này …”

Nghĩa là tôi rất không phụ nữ tí nào khi bàn tán về mái tóc của mình, lẽ ra phải dấu kỹ , bởi vì “Cái răng, cái tóc là góc con người”, mình phải huyền bí cho đời điểm trang chứ.

Chu choa, tôi lại nghĩ đơn giản thôi, được kể lể về mái tóc rất thờ ơ của mình, có lẽ  chỉ kể từ lúc còn để bum bê, khoảng 5,6 tuổi trở lên thôi, chứ trước nữa, tôi chỉ nhớ qua những tấm ảnh, giống như kể về tóc của ai không phải mình.

Vâng, thưa quý vị “Mớ tóc” của tôi bắt đầu xuất hiện thế này :

Trước hết, giai đoạn còn được lệ thuộc vào bố mẹ, ở Chapa Laokay Bắc Việt, khoảng đã 5,6 tuổi rồi, tôi chả cần soi gương cũng biết mỗi lần tóc lởm chởm ngang vai, là lập tức 2 chị em tôi bé nhất nhà, phải ngồi ở cái tràng kỷ, đợi bố tôi mang cái kéo cỡ vừa và cái lược sừng của chung cả nhà vẫn vắt vẻo trên giá gương ngoài sân vào nhà khách, rồi bảo : “Con MỸ cắt trước”, tức là chị Mỹ tôi phải cắt tóc trước.

Đương nhiên tôi phải đợi bố cắt tóc cho chị Mỹ tôi xong, mới tới lượt tôi.

Tôi không an tâm tí nào, lo lắng cái lưỡi kéo nó xước vào da mặt hay chiếc cổ ngoan cố cứ ngó ngoáy của mình.

Thậm chí có lần nước mắt cứ chảy vòng quanh vì sợ quá. Nếu mẹ tôi vô tình đi ngang, hay mẹ tôi cố ý đứng lại coi bố tôi cắt tóc cho 2 con bé gái thế nào, thì tôi là người nắm chặt tay mẹ, cúi mặt xuống, thút thít khóc.

Bố tôi không nhìn vì còn đang để tâm vào cắt tóc cho chị Mỹ tôi cơ mà, nhưng ông lại nói:

“Cái con Mỵ này mới hay, đã tới lượt mày đâu mà khóc chứ”

Khi nghe bố khẳng định chưa tới lượt tôi cắt tóc, tôi cũng lơ mơ hiểu là việc cắt tóc vô cùng dễ sợ, nên chưa chi tôi đã khóc rồi.

Thế là tôi khóc oà lên, thổn thức xin mẹ tôi cho tôi không phải cắt tóc trời ạ.

Tất nhiên chuyện cắt tóc đã là thường kỳ, chả biết bao lâu một lần, nhưng hễ tóc chấm vai, là bố tôi đã cho kéo tung hoành trên  “Mớ tóc” bé thơ của chị em tôi, biến mớ tóc thành hình “cánh cửa” .

Tóc cánh cửa là tóc để thẳng vòng quanh đầu, riêng phần trán cắt ngang, cho tới sau này, đã già rồi, mà tóc tôi vẫn đang chơi kiểu bum bê hình cánh cửa gọn gàng, dễ gội, chẳng cần phải uốn éo tóc kiểu gì cho mất thì giờ nữa .

Thế rồi tôi ngồi vào ghế đầy tóc rơi của chị tôi, mẹ tôi rũ cái khăn che trước ngực tôi, cột chéo quanh cổ tôi, bố tôi ngó tôi khổ sở vì cắt tóc, cười với mẹ tôi:

“Con MỸ nó ngoan thế, bố cắt mau mắn xong rồi, mà hễ cứ con MỴ này là nó cọ quạy sợ hãi như chết đến nơi vậy”.

Tôi được mẹ tôi ngồi cạnh, cầm bàn tay toát mồ hôi trộm của tôi, tôi cứ nhìn mẹ tôi chăm chăm khổ não. Cho tới khi bố tôi buông kéo, chải tóc tôi, rồi rũ khăn phành phạch, tôi mới hoàn hồn.

Sau giai đoạn tóc “cái cửa”, là tóc bờm xơm, vô tổ chức.

Bấy giờ tôi quanh tuổi lên 10, học tiểu học trường nữ tiểu học Lệ Hải ở Hải Phòng.

Đã bắt đầu mặc áo dài đi học. Chị em tôi có khá nhiều áo dài. Nhưng đặc biệt “Mớ tóc” thì tôi quên béng.

Lúc nhớ là bố tôi cho mỗi đứa một cái lược xước bằng nhựa …Mỗi lần chải tóc xong, là xước cái lược lên tóc, từ trán đẩy ra sau, thay cho kẹp như các chị lớn ngoài đường.

Chị Mỹ tôi lược mầu xanh, tôi mầu hồng.

Rồi từ bỏ lược xước lúc nào không hay. Tóc tôi thả ngang vai, chúng tôi vẫn chưa quan trọng “Mớ tóc” như các bạn tuổi “Teen” bây giờ.

Sau đó, lớn hơn vài tuổi, tóc chúng tôi đã kẹp đuôi gà. Tức là tóc đã dài hơn, túm lại đằng sau, rồi kẹp lại bằng một cái kẹp ba lá.

Chúng tôi đã lên trung học, tóc dài lúc nào cũng không hay như giai đoạn vừa kể trên.

Tôi cũng đã làm thơ và viết truyện nhi đồng gởi đăng báo .

Di cư vô Nam, học nữ Trung học Trưng Vương với “Mái tóc dài quá lưng,” nhưng vẫn kẹp lại.

Một số bạn bè đã uốn tóc. Chị lớn nhất nhà tôi, tên Thy đã uốn tóc cho hợp không khí Saigon.

Tôi giữ mái tóc dài này e cũng 5, 6 năm, hết thời trung học .

Thi vô trường Cán sự Xã Hội Caritas của các soeur dòng Nữ Tử Bác Ái, đường Tú Xương Saigon, nhận bộ đồng phục trắng của các khoá sinh y tá xã hội và tấm voan che đầu.

Gần như mọi học sinh đó phải để tóc ngắn, mới tiện phủ voan che kín cả phần vai áo blouse và tablier, chỉ một mình tôi trong lớp học 10 chị em là còn tóc dài.

Tôi có thể toàn quyền thay đối “Mớ tóc” chứ, đã nhận học bổng, lại buổi sáng đi tập sự ở các nhà thương, buổi chiều lên lớp học lý thuyết với trên 10 môn học, quá sức bận rộn mà tôi chưa chịu cắt tóc cho gọn gàng, gội chải mau chóng, tôi cứ ôm “Mớ tóc” làm gì cho khổ thân, rắc rối.

Song song với việc theo học nghề “Cán sự xã hội”, tôi còn tham gia hướng đạo, tôi là toán phó toán Lê Ngọc Hân, mỗi tuần phải đi họp một lần ở Hội Nữ Hướng Đạo VN, với bộ xiêm áo Hướng Đạo, cũng nên cắt tóc ngắn chứ.

Song, để thích hợp với 2 sinh hoạt nêu trên, tôi đã chia “Mớ tóc” rất dầy của tôi ra làm 2, thắt bím  cuộn lên cao, hay thả trước ngực.

Như thế cũng tạm ổn với “Mớ tóc” dài của tôi, mặc dầu tôi không ưa thích, mà tôi không cắt ngắn mới là lập dị.

Tới khi học xong, ngày mãn khoá cũng vẫn còn 2 bím tóc trên vai. Song, tình thế bắt buộc rồi, chúng tôi đã chính thức tới Cục Xã Hội Quân Đội, với quân phục hoàn toàn không thể dằng dai thêm “Mớ tóc” cổ điến trước sinh hoạt đoàn thể nữ quân nhân, luôn luôn bay nhảy khắp chốn, khắp nơi với mấy dạng bản quân phục dành cho phái nữ, gồm áo xiêm trong văn phòng, đồ trận treilli nơi công tác như thăm viếng tiền đồn, đồng bằng lũ lụt, lội sóng, qua phà vv…

Nghĩa là không còn cách nào giữ “Mớ tóc” dài được nữa .

Tuy nhiên, vì nhà ba tôi đã rời Tân Sơn Nhứt lên Đalat, tôi phải ở lại trường Caritas của các ma soeur, nên tôi hơi buồn , vì chị em cùng khoá ra ngoài phố ở hết, còn mình tôi với bạn bè các lớp khác của trường Caritas, tôi cảm thấy gần khuôn viên nội trú hơn là ra ngoài xã hội.

Thú thực tôi vẫn chưa có ý định gì về “Mớ tóc” của tôi. Nó như là đang mang một lời nguyền chi đó, tôi cứ băn khoăn, nằm úp mặt xuống gối ngày thứ 7 và chủ nhật trong khu nhà ngủ của trường. Tôi từ chối tất cả bạn bè thăm viếng, rủ đi chơi ăn uống, cine’ vv…

Một ngày kia, chị bạn thân của tôi, sau khi học xong, đã ra thuê nhà ngoài phố để ở cho tự do hơn, vô trường tìm tôi, chị ấy thấy tôi nằm khóc, thì cười khuyên rằng:

 “Mớ tóc”  dài thì đẹp đấy, nhưng nó không còn thích hợp với Mỵ nữa rồi. Thay đồ đi chơi mau…”

Tôi buồn thì đi chơi thôi, chị bạn kêu cyclo đến thẳng Tiệm uốn tóc ở ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt Saigon.

Chị nói với chủ tiệm : “Cắt tóc ngắn cho cô này cao trên cổ áo” .

Chủ tiệm uốn tóc là chú Tàu, đảo mắt qua “Mớ tóc” tôi, dừng lại ở cặp mắt đỏ hoe của tôi. Chú ta gật đầu cười như dỗ dành :

“Không sao đâu, tôi sẽ làm cho một mái tóc lẹp ( đẹp).

Vừa nói xong, không đợi tôi trả lời, chú Tàu đưa kéo lên cắt một chùm tóc đánh xoẹt đã, rồi đủng đỉnh mang một lô sách mẫu tóc cũ mới lẫn lộn tới trước mặt ghế tôi ngồi:

“Coi đi, muốn kiểu nào, tôi cắt cho kiểu đó…”

Chị bạn tôi cười rũ ra, nhìn “Mớ tóc” bị cắt một chùm của tôi: ” Bây giờ thì bắt buộc phải cắt tóc ngắn rồi, thực tế đã phải cắt thành kiểu, chứ Mỵ để tóc vầy đi về hả ? “

Tôi không cười được, mà khóc thì càng vô lý hơn .

Cả một sinh hoạt nghề nghiệp nhà binh bắt buộc rồi, đến nam quân nhân còn phải hớt tóc ngắn nữa là tôi, nữ quân nhân mặc xiêm y hằng ngày, tóc dài sao được .

Tôi chỉ một mái tóc thẳng, cúp vào cổ áo, chính là mái tóc bây giờ tôi vẫn để kiểu đơn giản đó đấy.

Chú Tàu cắt từng lọn tóc tôi thả xuống đất, tôi nhìn theo, chị bạn tôi thì dửng dưng vì chị uốn tóc quá lâu rồi.

Hình như con người ta, có vô tâm vô tính thế nào đi nữa, thì đứng trước cảnh hồn nhiên, nếu không muốn nói là “thánh thiện” cũng phải xúc động.

Chú Tàu cắt tóc tôi thủa ấy, cứ thỉnh thoảng lại chép miệng : “Uổng quá, nhưng nghe cô này nói, là chị bạn tôi, cô phải tóc ngắn mới đúng luật đi làm hả ?”

Tôi không trả lời, chợt nghĩ tới hàng chục những người thân quen mà từng ca tụng “Mớ tóc” tôi sẽ hoặc cười vui, hoặc lặng người đi, khi thấy mái tóc ngắn của tôi lát nữa đây.

Chị bạn mời tôi đi ăn cơm tiệm, đi coi một phim ở rạp Eden, rồi đưa tôi về trường Caritas mà hơn 3 năm chúng tôi nội trú, nay tôi đơn lẻ về trường với “Mớ tóc” lạ …

Nhưng mái tóc ngắn này lại phù hợp với không khí và khung cảnh trường Caritas của các soeur tây phương, mà đa phần là các nữ sinh người Pháp, lai Pháp, hay cô nhi Pháp bị bỏ lại…

Tôi vừa xuất hiện ở phòng ăn tối , thì tất cả reo lên :

“Cleopatre”, lý do tôi đã cắt “Mớ tóc” dài cố hữu của tôi, thành một mái tóc thẳng

cúp vào, mà bấy giờ chú Tàu cắt tóc đã không cắt ngắn lắm, còn một chút phủ tới vai, nên giống mái tóc Cleopatre đang chiếu ở các rạp Saigon mùa hè năm 1963 .

Như vậy tôi đã bỏ “Mớ tóc” dài 55 năm nay.

Anh mỉm cười bâng quơ: “Bây giờ photoshop  “Mớ tóc” cho người thơ tìm lại hình ảnh cũ nha, nhưng muốn Mớ tóc dài để làm chi đây?”

Cũng chẳng cần nữa, khi anh gặp mình, mái tóc đã ngưng chảy cả nửa trăm năm rồi mà.

Chúng ta hãy giữ gìn những gì chúng ta đang có, đừng để mất đi, như tôi bây giờ đã thân quý mái tóc ngắn, đã không thể để dài hơn quá cổ áo.

Cái răng cái tóc là góc con người thật. Một khi không còn chúng, là chính ta xa lạ ta hàng vạn …dặm trường rồi .

              CAO MỴ NHÂN

MÁI TÓC

(Cảm tác Lê Tuấn)

Cái gốc con người mái tóc bay

Làm thân con gái thuở hoa cài

Ai mà chẳng muốn người say đắm

Nhiều bóng tình quân, theo gót hài.

*

Ửng hồng đôi má, tuổi hoa niên

Hoa cài mái tóc đẹp như tiên

Say đắm hồn ai làm thi sĩ

Vóc dáng ngây thơ, nụ cười hiền.

Lê Tuấn




THƠ Chuyển Ngữ: PHÁP, VIỆT – PHÁP, ANH, VIỆT — Đỗ Quang Vinh




Đêm Trong Tù

Cánh cửa tù đóng lại, ngày đã tắt

Những kiếp người ray rứt sống trong tù

Từ bên trong ta nhìn qua khung sắt

Ánh trăng đêm, làn sương trắng xa mù.

Đêm rùng rợn ta thấy toàn bóng qủi

Qủi giam người, loài qỉu đỏ, ma trơi

Chúng lấp ló dưới trời đêm trăng tỏ

Canh giữ tù, rình rập uống máu người.

Ta tỉnh thức giữa tha ma mộ địa

Nghe âm vang, đau buốt lóng xương gầy

Tám năm qua, chừng ấy là vô tận

Chừng ấy thời gian, gẫy cánh chim bay.

Quen với cõi trời, không còn nắng mai

Trời sáng mà sao, đêm vẫn nối dài

Tuổi ta đã quá nửa đời sương gió

Sao vẫn còn thêm, mảnh vụn tù đày.

AET Lê Tuấn

Nỗi đau buồn đã trải qua tám năm tù đày

Dưới chế độ cộng sản

Mùa Xuân Trong Tù

Một dải đường xa, xa rất xa

Sâu thẳm rừng hoang bóng sương mù

Xuân chợt đến, quặn đau nỗi nhớ

Kiếp thân tù, tàn giấc thiên thu.

Ta tưởng thời gian bị lãng quên

Nào ngờ hoa nở nhắc ngày xuân

Tám năm cạn lòng thương sông núi

Một nhánh hoa xuân, nhắc tình gần.

Tết này, còn mang nặng kiếp tù

Ngắm hoa buồn tựa như lá thu

Hạt bụi mưa xuân, đọng trên mắt

Nghe tiếng thở than, bóng sương mù.

Mẹ vẫn chờ mong Tết con về

Nào ngờ, vạn dặm bóng sơn khê

Chợt nghĩ mà đau lòng nỗi nhớ

Mắt mẹ buồn đau giọt lệ mờ.

Anh vẫn chưa về Tết năm nay

Em buồn như mùa thu lá bay

Ngọn gió xuân tình hiu hắt thổi

Cánh nhạn trời xuân, tung cánh bay.

Nghe tiếng thời gian, thèm nỗi nhớ

Nhan sắc mùa xuân đã úa tàn

Nhớ thương nhau tìm trong giấc mộng

Mùa xuân về, hoa lá trên ngàn.

AET. Lê Tuấn

Mùa xuân trong tù

Tại miền trung bắc việt




Thơ Xướng Họa: THIỀN VÀ MÙA XUÂN – Lê Tuấn, Minh Thúy, & Phương Hoa




Mùa Xuân Và Thi Nhân – VTLV Hội Thoại Phần 1




Cha mẹ già và con cái

*Lời rào trước

“Biết rồi ! Khổ lắm ! Nói mãi!”
(“Số Đỏ” – Vũ Trọng Phụng)

Mới đây không lâu tôi nhìn thấy bảng số xe sau một xe nhà đòn (Người Mỹ họ gọi xe chở quan tài là “Hearse”- A vehicle for conveying the coffin at a funeral – Ở Việt Nam người ta gọi đùa xe tang là “Xe Hoa có 8 thằng lơ!”) đọc như sau:



“U2” (You too! –
Có nghĩa là “Sắp tới phiên Bạn!”)



Thật vậy, tính sổ ra thì các sư phụ, sư mẫu hay chính bản thân quý vị và tôi cũng không là ngọai lệ (“no Exception to the Rule”).

 Để chuẩn bị tinh thần cho cái “Chapter 7” (*) và trong khi chờ đợi,  xin mời đọc thêm bài này cho biết mà… nản…

* Nên biết: “Chapter 7” là giai đoạn cuối dẹp tiệm vĩnh viễn  sau khi đã khai khánh tận (“Chapter 11”) và đáo hạn rồi mà vẫn không thể có cơ may nào phục hồi nổi!!!)

Thân mến,


Trần Văn Giang

*

Ông Chu Dung Cơ, Cựu Thủ tướng Trung Cộng từ năm 1998 đến năm 2003, nói về mối liên hệ giữa cha mẹ già và con cái như sau:

“Cha mẹ thương con là vô hạn, con thương cha mẹ là có hạn. Con bệnh cha mẹ buồn lo. Cha mẹ bệnh con đến nhòm một cái, hỏi vài câu thấy là đủ. Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái, cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào. Nhà của cha mẹ là của con. Nhà của con không phải là nhà của cha mẹ. Khi ốm đau cha mẹ già  trông cậy vào ai? Nếu chẳng may ốm đau dai dẳng hiếm thấy có đứa con hiếu nào ở bên giường? (‘cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử?’”

Rồi ông gởi lời khuyên đối với các bậc cha mẹ là:

“Khác nhau là như vậy! Người hiểu đời coi việc lo cho con là nghĩa vụ, là niềm vui không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. Mặc dù cũng có nhiều con cái có hiếu nuôi cha mẹ.”

Theo sách “Luận Ngữ,” khi Tử Du hỏi về chữ Hiếu, Khổng Tử đáp:

“Chữ Hiếu bây giờ được hiểu là có thể nuôi dưỡng cha mẹ. Nhưng ngay cả chó và ngựa cũng đều phải nuôi dưỡng. Nếu thiếu đi sự kính trọng, thì sao có thể phân biệt hai việc đó đây.”

Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.”

Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.

Một người thợ hớt tóc cho tôi biết về con cái của ông ta.  Cả hai đứa con đều có nhà riêng, cùng ở trong quận Cam, nhưng không mấy khi chúng điện thoại hỏi thăm ông? Tháng trước, ông bệnh nặng, nằm nhà một tuần lễ mà cũng chẳng đứa con nào ghé qua thăm. Ông nói thêm:

“Chỉ trừ lúc nào chúng cần nhờ đến ông việc gì đó thì chúng nó ghé qua hay gọi điện thoại thôi…”

Ông buồn bã kết luận:

“Ở Mỹ này, có đến chín đứa con, nhưng cha mẹ già bệnh thì cũng phải vào ‘nursing home’ thôi!”

Nursing home” ở Âu Mỹ, mang tiếng là văn minh, hiện đại nhưng liệu rằng đây có phải là nơi yên ổn cho những ngày cuối cùng của tuổi già không? Tại các viện dưỡng lão trên đất Mỹ mỗi năm có hàng chục nghìn trường hợp khiếu nại vì cách đối xử của nhân viên như bỏ bê, đánh đập; để người già đại tiểu tiện, ói mửa mà không dọn dẹp, không cho uống nước; xâm phạm tình dục; tệ hại nhất là đối với những bệnh nhân “Alzheimer.”

Năm ngoái, phúc trình của Bộ Y Tế tiểu bang Minnesota cho thấy chỉ trong vòng 5 tháng đã có 15 trường hợp bệnh nhân mất trí nhớ bị hành hạ, trong đó có những vụ như bị chọc ghẹo liên tục, bị nhổ nước bọt vào mặt, bị bóp ngực hay hạ bộ. Phải chăng nhà dưỡng lão, chặng cuối đời của người già là chốn địa ngục có thật trên trần gian như thế!

Vậy thì con cái có hiếu tâm, xin cầu nguyện cho các đấng sinh thành sớm ra đi trước khi họ trở thành những người mất trí lú lẫn, nằm suốt ngày một chỗ, tiêu tiểu không kiểm soát được. Thấy cha mẹ lớn tuổi mà còn minh mẫn, mạnh khỏe nên mừng, mà thấy cha mẹ ra đi nhẹ nhàng, trước khi phải chịu những cảnh đau lòng của tuổi già lại càng mừng hơn.

Tuy vậy, rất nhiều gia đình người Việt trên xứ người có được niềm an ủi là họ có những đứa con Việt Nam; nhất là những đứa con của một gia đình nghèo, lớn lên trong chiến tranh và thông cảm được nỗi thiệt thòi bất hạnh của cha mẹ mình.

Lời đón sau

“Be nice to your children because they are the ones who will choose your nursing home(s).”

Steven Wright


Trần Văn Giang

.




THƯƠNG VỀ MẸ – Thơ Hoàng Mai Nhất




NGHÌN THU VĨNH BIỆT – Thơ Mặc Khách & Vu Lan Nhớ Mẹ: THƠ DIỄN NGÂM




THƠ VỀ MẸ – Mẹ Là Ánh Trăng & Bó Hồng Tặng Mẹ – LÊ TUẤN




Thơ Về MẸ & Cha: Thuở Hay Nhè & Nằm Mơ Bố Về – THƯ KHANH




THƠ VỀ MẸ – Minh Thúy Thành Nội




THƠ SONG NGỮ PHÁP + VIỆT, “L’AMOUR “MATERNEL: TÌNH MẸ” & “MA MÈRE: MẸ TÔI” – Thi sĩ Đỗ Quang Vinh.