Tác Gỉa CHÂU THỤY : Triển Lãm Tranh Thư Họa và ra mắt tác phẩm VỰC XOÁY

LỜI MỜI THAM DƯ BUỔI RA MẮT TÁC PHẨM "VỰC XOÁY"

VÀ TRIỂN LÃM BÚT HỌA CỦA CHÂU THỤY.

(Tiếng uất gào còn vang vọng trên Biển Đông)

Chiều Chúa Nhật Ngày 21 tháng 6 năm 2015.
Thời gian : 2:00 PM.
Địa chỉ : Thư Viện Thằng Mõ & CLB Mây Bốn Phương 
730 South 2nd Street, San Jose CA. 95112
Parking xe dưới hầm cầu I-280

Để đánh dấu 40 năm ngày đất nước bị cưỡng chiếm rơi vào thảm họa đỏ, từ đó, hàng vạn người đã phải bỏ nước ra đi, trên những con thuyền mong manh, hàng trăm ngàn người đã lấy đại dương làm mồ chôn xác trên đường tìm tư do, thà chết hơn là sống với chế độ tàn ác diệt chủng Cộng Sản.

Thảm cảnh vượt biển , thuyền nhân "Boat People" đã trở thành một thảm họa đau thương nhất thế kỷ 20. Chính vì lý do đó, các quốc gia tự do, đã mở rộng vòng tay đón tiếp người tỵ nạn, để 40 năm sau, có một Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngọai lớn mạnh như hiện nay.

Trân trọng kính mời
– Quý Cộng đồng, đòan thể
– Quý cơ quan truyền thông và Đồng hương
Tham dự buổi ra mắt tác phẩm "VỰC XÓAY" của tác gỉa Châu Thụy (Tiếng uất gào còn vang vọng trên Biển Đông)
Lúc 2:00 giờ chiều ngày Chúa Nhật 21 tháng 6 năm 2015 
tại Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương, số 730 South 2nd Street, San Jose CA 95112

Ngoài phần phụ diễn văn nghệ chủ đề vượt biển, còn có phần triển lãm bút họa của tác giả.
Có giải khát và thức ăn nhẹ.

Trân Trọng kính mời. 
Đồng trưởng ban tổ chức.
Nhà thơ Chinh Nguyên (408) 279-2532
Nhà báo Lê Văn Hải (408) 297-0595

Bảo trợ :
Báo Thằng Mõ.
Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt Dương Nhân
Đài Phát thanh và Truyền hình Quê Hương
Đài Phát Thanh và Truyển Hình Dân Sinh 
Đài Phát Thanh BÌnh Binh 
Việt Musium.





AI ĐEM THUYỀN TÌNH (Phạm THị Thu Hiền)

AI ĐEM THUYỀN TÌNH
Truyện ngắn: Phạm thị Thu Hiền
 
         Ngồi bên tôi chị nức nở khóc, nước mắt chan hoà nhoè nhoẹt cả mảng màu son phấn, bộ ngực tròn trịa cứ phập phồng nhô lên hạ xuống trong một sự xúc động và kiềm chế lớn. Có ai ngờ tai hoạ lại giáng xuống đầu chị nhanh đến thế
           Gần 20 năm trước chị theo bạn bè rủ rê lôi kéo tìm đường vượt biên: ”Hoặc là con nuôi cá, hoặc là con nuôi má hoặc là má nuôi con”. Cuộc vượt biên không thành chị bị hất trở lại bờ và anh chính là người đã cứu chị ra khỏi cái chết đã cận kề trước mặt
           Tỉnh dây trên giường bệnh, chị đau xót nhận ra sự trớ trêu của số phận mình.Tiền mất, hận mang, người tình rời bến, trong khi sức khoẻ suy sụp, tâm trí hoang mang, không khác gì cảnh cá nằm trên thớt
           Giữa bệnh viện thành phố, không bạn bè, người thân, chỉ có anh là chỗ dựa duy nhất, thỉnh thoảng người mẹ già nua từ quê cất công lên thăm, qươ từ quả trứng, con gà đến chổi cùn, rế rách qươ đi để có tiền cho chị bồi dưỡng, còn lại mọi khoản viện phí thuốc thang, anh tình nguyện trả giúp. Hai người gắn bó với nhau từ ngày đó , dù anh hơn chị hẳn một giáp và dáng vẻ có phần đậm đà cục mịch
           Chiếc hon đa 50 là tài sản duy nhất anh còn sau những ngày dài chăm sóc chị, lại trở thành vật hiến tế cho đám cưới. Số tiền mừng tổng cộng được ba chỉ anh đưa cả cho chị làm vốn buôn bán, phần anh sống cầm chừng bằng số lương kỹ sư kinh tế thất nghiệp. Ba đứa con lần lượt ra đời trong sự chờ đợi mong ngóng của hai vợ chồng trẻ, chị tảo tần thức khuya dạy sớm buôn đầu chợ, bán cuối chợ xoay đủ mặt hàng, còn anh ngoài việc trông nom con cái lại tranh thủ phụ giúp chị trong việc mua bán, cất hàng sớm tối..Cuộc sống dần dần qua được khúc nghèo nàn cực nhọc . Khi cơ chế mới mở ra, tấm bằng kỹ sư kinh tế mà anh tưởng chỉ còn nước xếp xó bỗng được trọng dụng. Anh được cất nhắc lên trưởng phòng, rồi viện phó, viện trưởng. Từ cấp viện, cơ quan anh nâng cấp lên thành công ty cho phù hợp với cơ chế mới, từ đó bắt đầu mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngoài. Sau mỗi chuyến đi dài ngày của anh, đồ đạc của nả ùa tràn vào mọi ngõ ngách trong nhà. Chị cũng bỏ nghề buôn thúng bán mẹt để ở nhà nội trợ, trông nom con cái cho anh toàn tâm toàn ý với công việc. Trong tay sẵn có đồng tiền, ngoài việc xây mới toàn bộ ngôi nhà tập thể đang ở thành toà biệt thự ba tầng lầu, chị còn đầu tư vào việc mua nhà, mua đất, để rồi khi cơn sốt đất nổ ra , chị bỗng trở thành người giàu nứt đố đổ vách,trong tay có tới cả ngàn cây vàng
           Một lần anh trở về dắt theo một cậu bạn học cùng đại học, kém anh tới mười tuổi, bộ dạng không được nghiêm chỉnh lắm, chị thắc mắc, liền được anh trả lời:
           -Cậu này cùng học một lớp với tôi, mình nhiều tuổi lại là bộ đội gửi học nên được bầu là lớp trưởng, cậu ta dân phổ thông sang, học giỏi lắm, giữ chức lớp phó học tập kiêm cán sự ngoại ngữ đấy, chẳng hiểu số phận đưa đẩy thế nào đang làm ăn ”ngon lành” ở xí nghiệp lại bị ”phốt”, vừa mất việc, vừa phải bán nhà trả nợ đậy.. Vài năm nay sống bằng nghề chở xe ôm, vợ con thấy nheo nhóc quá không chịu nổi cũng bỏ mặc , tha nhau về bên ngoại ở..Giờ, ngày chạy ”xe ôm”, đêm về thuê phòng nghỉ trọ cùng đám sinh viên, mỗi tháng góp vài trăm ngàn đồng ti?n trọ qua đêm…Chiều nay cậu lái xe về quê giỗ mẹ, anh định đi ta xi thì cậu này rồ chiếc xe ”còi” tới năn nỉ, mời chào rối rít, tưởng ai, hoá ra người quen, tay bắt mà mặt cứ buồn rười rượi, càng nghe càng cám cảnh, anh rủ về nhà mình ở cùng cho vui, đằng nào nhà mình cũng còn dăm phòng bỏ trống, lại trả được cái ơn xưa cũ.Thành thật, nếu không nhờ cậu ấy thức khuya, dạy sớm, chỉ bảo, tận tình cho hàng năm trời, thì trượt dài cả ngoại ngữ với toán ngay từ năm thứ nhất rồi, làm gì có nổi tấm bằng đại học mà thành tổng giám đốc như bây giờ?
 Nể quyết định của chồng, chị bằng lòng chấp thuận để anh ta ở m?t phòng bỏ không tận tầng 4. Thời gian đầu ”cậu bạn” cứ một điều anh, hai điều chị, việc gì cũng răm rắp nghe theo…Chuyện nhà cửa, dù công to, việc bé gì cũng lăn xả vào giúp, nh?ng lúc rỗi rãi lại bỏ công, bỏ của vào việc chăm sóc vườn hoa, cây cảnh. Không hiểu sao cậu ta lại sùng kính phong cách c?a ng??i Nh?t trong vi?c chăm sóc cây c?nh ??n thế. Bao nhiêu, chậu, bình, bồn ,lọ sành sứ, gốm, ??t nung, nhôm, thuỷ tinh, gỗ ???c cậu ta thu mua, nhặt nhạnh, khuân về, cọ rửa, tiả tót, tạo dựng môi trường, cảnh quan vô cùng diệu nghệ, bắt mắt, không khác gì m?t cu?c trưng bày nghệ thuật tạo hình. Tuy là cái tròn, cái vuông, cái bát giác, cái cao, cái thấp, cái lưng lửng, cái thon vót, cái bung toả, nh?ng dưới bàn tay, đôi mắt của người yêu nghệ thuật, như một thợ làm vườn chính hiệu, cậu ta sắp xếp xen kẽ nhau, tạo khoảng không , kẽ hở hợp lý mà không hề gây nhàm chán… Th?i gian ??u, rỗi vi?c, nể lời, chị lên ng?i xem cậu bạn giảng gi?i về đặc tính sinh học c?a t?ng loài hoa, từ loài chịu hạn giỏi như hoa đá, xương rồng, ngà voi, ??n loài đòi n??c như ngọc châm, phong lan v.v Tất cả đều phô diễn vẻ đẹp mơn mởn đương thì, hoặc ẩn náu một chiều sâu triết học , ??c bi?t là khóm phong lan , bề ngoài xù xì mộc mạc mà khi nở hoa thì bung ra hết tầm , tận lực ,vô cùng kỳ ảo, thanh thoát… Mỗi cành cây, tán lá , theo lời kể của "cậu em" như một tứ thơ phiêu diêu, ẩn hiện, lúc xào xạc , to nhỏ, lúc câm nín , hoang vu, vừa hồn nhiên, vừa ẩn chứa… như tích tụ trong nó cả nghìn n?m thiên nhiên hoang dã, lại như mời gọi con người đến để lắng lòng, tận hưởng, giúp người ta yên tĩnh, thanh thoát, gột rửa bao nhiêu bụi bẩn, xô bồ của cuộc đời… Chiều tối , xong việc lại đón cháu út đi học, rồi hễ chị có nhu cầu lại chở chị đi chợ gần, chợ xa mua đồ, thăm bạn.. Đầy ân cần, chu đáo, từ ánh mắt, cử chỉ, lời nói, vô cùng lễ phép, thân th??ng. Từ chỗ ái ngại ,thương hại, chị bắt đầu đem lòng cảm mến lúc nào không hay. Của đáng tội, từ ngày bỏ chạy xe ôm, thoát cảnh lang thang đầu đường, xó chợ, được ăn đủ, ngủ đẫy nơi chăn ấm, nệm êm, cậu em đã biến đổi hoàn toàn, từ anh chàng lý trưởng lẻo khẻo trói gà không chặt, da b?t nắng đen nhẻm, thành chàng công tử hào hoa phong nhã, béo trắng lúc nào không hay
           Ma sui quỷ khiến gì, mỗi đợt chồng chị đi công tác vắng là mỗi đợt họ xích lại gần nhau hơn, cái góc sân nơi đặt vườn hoa cây cảnh là nơi thư giãn của hai người. Tình yêu, sự đam mê tưởng ngủ thiếp trong lòng chị bao năm nay , giờ trước sự hiện diện của ”cậu em” quý phái (hơn chị hai tuổi) bỗng bàng hoàng tỉnh giấc, chị ngơ ngác nhìn vào cái ”tổ ấm” bấy lâu nay trống hơ trống hoác của mình. Anh mải chạy theo công việc, những đối tác lớn nhỏ, những vụ chuyển nhượng hàng ngàn USD đã sớm ”lão hoá” ở độ tuổi 50. Trừ những lúc đi nước ngoài, còn khi ở nhà thường xuyên lẩn tránh bổn phận làm chồng, coi chuyện chăn gối là chuyện lửa rơm, cuồng dại của một thời trẻ dại…
            Điều gì phải đến đã đến. 17 năm trước chị ngã vào vòng tay anh vì mang nặng lòng biết ơn, quý trọng, thì giờ đây chị hoàn toàn gục ngã trước ”cậu em” vì tình yêu. Chị tình nguyện thay chồng chăm sóc ”em” mỗi ngày một thêm chu đáo.Thời kỳ đầu, cậu ta chỉ dùng ”hàng thùng”, ”si đa” hoặc đồ thừa thải của anh cũng đã oách chán. Nay anh có thứ gì, em có thứ đó, khoản mời mọc, tiếp đãi trong bữa ăn có phần còn tươi tỉnh , rôm rả hơn. Tận tay chị rót rượu tây, đồ nhắm cho em ăn, uống, còn kèm cả cuối mắt, đầu mày, mời mọc, đon đả nữa
           Từ chỗ không chút nghi ngờ, anh bỗng nhận ra những dấu hiệu bất an trong tổ ấm của mình ..thế là sóng to, gió lớn nổi ra, không khí trong nhà lúc nào cũng ầm ĩ như sắp có bão
           Nhận ra sự thừa thãi của mình trong nhà, cậu em đành phải khăn gói ra đi. Mối hiểm hoạ vừa kịp ngóc đầu dậy tưởng như được loại trừ triệt để .Ai ngờ anh tiếp tục rong ruổi theo những chuyến đi xa cùng bồ nhí, thư ký trẻ đẹp, còn chị luôn “tình cờ” gặp lại cậu em ở ngã tư đầu phố..để rồi khi anh từ Nhật, từ Pháp, từ Mỹ trở về thì mọi sự đã rõ mười mươi… "cậu em" đêm đêm vẫn bỏ lại căn phòng lạnh lẽo nơi gác 4 để chui vào chăn ngủ với vợ của bạn thân – cũng là ân nhân của mình 
           Cả hai quyết định ra toà, cậu út ở lại với anh, hai cô gái lớn chia theo mẹ. Đồ đạc kèm theo gồm nhà cửa, vàng bạc, xe cộ, đủ để cho ba mẹ con sống dư dả trọn đời
           ”Có mới nới cũ”, chị toàn tâm, toàn ý vun vén cho cái tổ ấm vừa hồi sinh của mình, nào mua sắm đồ độc, đồ sịn, đồ ngoại, nào may sắm quần áo, trang điểm, nâng cấp cơ thể bằng cách chỉnh hình, giải phẫu, hút mỡ bụng, đốt mỡ hai bờ trên và dưới mi mắt, nâng mũi, nâng ngực v.v Vậy mà cuộc tình nồng nàn chỉ vẻn vẹn chưa đầy năm trời bỗng âm thầm tắt dụi. "Cậu em" luôn đi sớm, về khuya, tiêu tiền như mất cắp, thỉnh thoảng còn bỏ đi cả tuần không rõ lý do. Khi về người phờ phạc, héo rũ như cái xác không hồn, như quả chanh bị vắt kiệt nước. Chị tra hỏi, vặn vẹo bao lần chỉ được trả lời quấy quá hoặc ừ hữ cho qua rồi lại vùi đầu vào ngủ mê mệt..Cuối cùng cái kim trong bọc cũng lòi ra. Ngồi xe ta xi theo “thám tử tư” đến tận tổ con chuồn chuồn, chị ngã người ra khi chứng kiến cảnh ông chồng mới của mình đang vui vẻ hạnh phúc trong căn nhà gọn gàng, sạch sẽ bên vợ đẹp, con khôn
           Trở về nhà, đau xót và căm phẫn, chị bùng lên như một quả cầu lửa chứa đầy năng lượng, quyết thiêu tất cả anh ta và vợ con thành tro…Đáp lại, anh quỳ xuống van nài:
            -Mình đừng giận, đừng hiểu lầm tôi, chỉ vì quá nhiều ham hố trong khi sức hèn, tài mọn, tôi mới đẩy vợ con vào ngõ cụt, phải bán nhà, trả nợ để thoát cảnh gông cùm, tù tội…Giờ mình thương tôi , trả tôi về chốn cũ ..dù sao giữa chúng tôi mới chỉ là …giận hờn, ly thân, tôi không thể bỏ vợ con được, ngược lại, cô ấy cũng thế…Thiếu tôi, cô ấy không sống nổi …
           Thì ra số tiền, vàng, USD, trị giá gần cả tỉ bạc chị để trong tủ gần năm trời nay, tưởng bốc bay theo những cuộc truy hoan, ăn nhậu, cờ bạc, chơi chứng khoán của "cậu em" lại hiện hình thành căn hộ ba phòng khép kín trong khu tập thể và hai chiếc xe máy loại sang cho vợ và hai đứa con anh ta..
           Càng hẫng hụt, chua xót, chị càng nhận ra sự chông chênh dưới những bước chân mình. "Cậu em" đã quay về với vợ con, gây dựng và bù đắp cho tổ ấm của mình, cho dù có muốn " chung thân" rút lõi chị suốt quãng đời còn lại, thì cuộc hôn nhân này chỉ còn lại cái vỏ thôi…vậy mà… cả năm trời qua, quá mờ mắt, áo tưởng về hạnh phúc, chị đã cố dứt tung mọi ràng buộc với chồng để tìm lại hạnh phúc đích thực của mình, khi tuổi đời mới đang dần xế bóng, chị vừa chớm 40, còn "cậu em" 42…và đã tưởng tìm được, sẵn sàng trả mọi giá để tìm, nào ngờ…
Đổ ập xuống giường, câu thơ của nhà thơ nào đó cứ vang vọng trong óc chị:
 
 
Ai đem thuyền tình
Buộc vào… bến lở
Mình tôi lang thang
Gom từng mảnh vỡ
 
 Tháo cả mái trời
 Che không đủ ấm
 Đội ngàn cơn mưa
 Không nhoà kỷ niệm
 
 Như cây tìm lá
 Như cá tìm vây
 Anh gọi khản lời
 Chiều dang dở gió
 
 Mở tr?ng ra tìm
 Trăng còn in búng
 Mở cỏ ra xem
 Cỏ còn hơi ấm
 
Hoa vẫn ngày nào
Không an ủi được
Tình bao nhiêu bậc
Em còn nhớ chăng?*
 
Hà Nôi 7-3-2009
PTTH
————————–
 *Thơ Hữu Thỉnh



Trần Mộng Tú : Trùng Dương Ơi !

 Trần Mộng Tú

                                                    TRÙNG DƯƠNG ƠI!

 

                                                   “Gửi Thái, Thiết, Vân, Frank và mùa Hè ở Bandon.”

 

 

  thở nhẹ nhàng, biển mở mắt ra, biển nhắm mắt lại, biển

 an hòa. Sóng xô như gió thổi nhẹ trên cánh đồng mạ

xanh, sóng mềm như mi mắt người tình, bọt sóng như

 một chuỗi hạt trai dài vô tận.

Tám bàn chân từ xa rủ nhau đến, gọi hai bàn chân bạn.

 Mười bàn chân cùng chạy về phía biển.

 Những bàn chân đi bên cạnh nhau, lúc dang xa, rời rạc,

 riêng tư, lúc chập vào nhau ríu rít. Ngửa mặt, nhìn trời,

mây trắng nõn từng cụm trên nền xanh biếc. Mây uốn

 lượn, thay đổi hình dáng, vẽ bức tranh vân cẩu. Cúi xuống,

 nhìn sóng nước. Chao ơi là đẹp! Biển êm như tấm chăn

 vừa tung ra; sóng nhẹ, đánh lên bãi như sữa đổ; cát mịn như

da thịt thanh xuân. Có tiếng ai hỏi:

 

   –   Muốn đến Hoàng Sa đi lối nào?

 

   –   Cứ đi thẳng hướng tây.

 

  –   Nghĩa là cứ dẫm lên sóng nước, cứ băng qua mầu xanh mênh mông này?

 

  –    Đúng.

 

–    Không phải đâu, đừng nghe, cứ rẽ về tay phải, hướng bắc.

 

Một giọng khác cất lên:

 

–          Hay mình rẽ trái, về hướng Nam đúng hơn.

 

–          Tốt hơn về nhà, vào Map Quest. Điểm khởi hành là Bandon, Oregon- Mỹ, điểm đến là Hoàng Sa, Việt Nam.

 

 Ngập ngừng một chút, tiếng ai chen vào:

 

–          Có chắc không, coi chừng gây lúng túng cho Map Quest, Hòang Sa, bây giờ thuộc Trung Quốc chứ.

 

         Im lặng, chỉ có tiếng sóng đánh nhẹ lên những bàn chân. Một tiếng nói thật khẽ lại cất lên:

–          Nhưng vào Map Quest rồi, biết đường rồi, có về tìm lại không?

 

Không thấy ai trả lời. Những bàn chân cứ bước song song với biển và tiếng trả lời cứ giữ trong lòng.

 

 

  Cứ thế mà đi trên bãi, những dấu chân mờ dần trong cát theo buổi chiều đang xuống.

 

Những bàn chân của kẻ xa xứ, đang in dấu trên cát của bên này bờ đại dương, trong cái an vui bè bạn, vẫn có

 cái ngậm ngùi riêng mang. Mỗi hồn vọng ra biển, về phía bên kia bờ, một cách khác nhau.

 

 Đêm về, biển gọi bằng những tiếng còi hu…hu…hu…từ Light House (Nhà hải đăng) suốt đêm. Nằm nghiêng

nghe biển gọi, ôm sóng đầy lòng. Sóng không hiền nên mi mắt không khép lại trong đêm. Trở dậy uống ly nước

 lọc. Chao ôi! Làm sao uống được trùng dương vào lòng.

Ngôi nhà nằm song song với biển, đêm tĩnh lặng, không trăng, dán mắt vào khung kính cũng chỉ nhìn thấy những

mái nhà như những vòm nấm khổng lồ, trải dài phía biển. Đêm như những miếng thạch đen, cắt vụn ra từng miếng.

 

Biển sáng nay thức dậy hung hãn, sóng đổ những tiếng gầm nghe xa như tiếng sấm. Rủ nhau xuống bãi xem mặt

 trời lên. Vừa đi vừa xăm xoi nhìn dấu vết tinh khôi đầu ngày mới in xuống, nào hay, đã có những dấu thức dậy

 sớm hơn mình: Dấu bàn chân trần đủ năm ngón và gót lõm xuống cát, bàn chân là dấu vết bước vào đời nguyên

 thủy mong manh đầu tiên của con người; dấu gót giầy thể thao khỏe mạnh vẽ những vạch uốn lượn, vững chắc;

 dấu chân ngựa tròn cái vết móng sắt in sâu một cách tự tin; dấu lượn vòng của lốp xe đạp, như một trò chơi trên

cát; dấu chân chó to, nhỏ, gần gũi, thân mật; nhưng ngoạn mục nhất, nhiều nhất là dấu chân của bầy chim biển,

chúng thanh mảnh, như những cái tăm. Mới nhìn xuống, tưởng như ai tinh nghịch vừa vứt tung ra một nắm tăm

tre trên bãi. Nhìn một lúc, thấy cũng giống như vết cào xước trên lưng cát. Dấu chân chim nhiều lắm. Sóng chưa

 kịp kéo đi hết, đàn chim lại sà xuống in những dấu chân mới. Biển là thế giới của hải âu. Chúng sống và chết với

sóng, với cát. Suốt dọc dài của biển, thỉnh thoảng lại gặp một xác hải âu, chúng chết thế nào, cách nào, ai biết. Chỉ

 thấy cái chết  của chúng thảm quá! Sóng đánh xác vào tận trong bãi, đã bốc mùi. Cánh rời ra từng chiếc, rải rác

 trên bãi. Nhìn xác chúng, khó hình dung được khi còn sống, những cánh chim bay là là trên mặt nước xanh, nô

đùa với sóng là đề tài cho bao nhiêu bài thơ, bản nhạc, bức hình, tranh vẽ. Những cánh chim đó còn bay vào trong

kỷ niệm của những mối tình.

Rồi những con dã tràng nhỏ xíu, chạy thật nhanh, trốn thật nhanh, khi ẩn, khi hiện, không làm sao bắt kịp chúng.

 Chúng xây lâu đài trên cát như loài người xây mộng  lớn, mộng con trong đời. Cũng mong manh, cũng xụp lở,

cũng tiếp tục xây lại từ đầu.

 Trên bãi còn những thân cây nằm ngang dọc, chúng gẫy đổ ở rừng nào, ai biết được! Chỉ biết chúng trôi dạt ra biển,

sóng kéo vào bờ. Chúng mất gần như hết lớp áo mặc ngoài, chúng bị sóng vùi dập, sóng soi mòn, chúng không còn

 giữ được cái vẻ nguyên thủy của cây nữa. Đôi khi trông chúng giống như một bông hoa biển khổng lồ, đôi khi như

vòng tay âu yếm của người mẹ, hay cái đầu ngơ ngác, thất thần của một con vật không rõ hình, ở quá lâu trong

nước biển.

 

Biển hôm nay không hiền nữa, biển đang nổi cơn giận dữ. Vừa đi song song với biển vừa nghe như một nỗi đe

dọa phủ chụp xuống mình. Nhìn con sóng dâng cao, đứng thẳng, rồi đổ xuống một tiếng rầm, những bàn chân

chùn bước lại. Đứng lui vào trong, tránh sóng tràn lên, để rồi chạy không kịp, vẫn ướt gần qua đầu gối. Nhìn ra

 ngoài khơi, không thấy tỏ đường chân trời. Biển khuất lấp một phần, bởi sương phủ kín từ xa, kéo thẳng một

hàng song song với mặt biển; sóng dâng cao, tới tấp, trắng xóa đánh vào bờ, hóa thành một bức tranh với mầu

 xanh của nước ở giữa, mầu trắng của sương và của sóng cùng ôm hai bên.

 

 Ai đó lại chỉ tay ra biển, lên tiếng:

 

     –  Tưởng tượng đi, tưởng tượng một chiếc thuyền mong manh, với hai, ba chục người. Già có, trẻ con có,

 đang kêu khóc, vật vã trên đó. Làm sao mà không chìm, làm sao mà bơi qua đầu ngọn sóng, để sống còn.

 

  –  Có đấy, có người Trời cứu, sống còn. Nhưng họ nói, đến chết không bao giờ dám nhìn biển nữa.

 

Câu thơ của Vũ Hoàng Chương được một người đọc lên:

 

        Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

        Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh

 

 Rồi một người khác tiếp theo:

 

        Biển vô tận xá gì phương hướng nữa

        Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh.

 

  Lạ thật đấy! Thi sĩ có phải tiên tri đâu mà làm câu thơ cho vận vào cả một dân tộc như vậy.

 

–          Dân tộc mình bị vận từ thời trứng nước. Khi không cha mẹ chia tay, người đem con lên núi, người mang

 con xuống biển. Rồi bặt tăm, chẳng quay đầu nhìn lại nhau. Cha mẹ không nhìn nhau, nên con cháu, tàn

sát nhau không thấy động tâm, không thấy rung lòng.

 

Im lặng, chỉ có tiếng sóng trả lời. Những bàn chân vẫn bước song song với biển.

 

Những ngày ở biển, có hôm sóng hiền hòa, có hôm sóng giận giữ. Nhưng bầu trời lúc nào cũng trong xanh và

 mây trắng từng mảng lững thững trôi, những đám mây vô xứ.

Những bàn chân vẫn sáng, chiều, rủ nhau ra bãi. Bước song song với biển, nghe sóng đánh trong lòng. Họ vừa đi

 bên nhau, vừa nói chuyện văn chương, chuyện quê nhà, quê người, chuyện sông, chuyện biển.

 Vừa đi vừa ngửa mặt nhìn trời xanh, mây trắng, rồi lại nhìn đường chân trời giáp với biển, tưởng tượng quê

 hương mình ngay đó, ngay cái ngấn mênh mông trời nước đó.

 

    Chia tay, người ở lại với biển. Sáng, chiều nghe sóng động một mình, đuổi theo mây trắng trên trời một mình.

 

 Người về hồ, lặng đứng nhìn những chiếc thuyền nhỏ đang lũng thững dăng buồm, trôi hiền hòa trong dòng nước

 êm ả không một tiếng động. Câu hát nào từ một cõi xa xăm bỗng vọng về:

 

“ Trùng dương ơi, có xót xa cũng hoài mà thôi!” (*)

 

 

 tmt

 Tháng 9/09

 

(*) Ngày Đó Chúng Mình- Phạm Duy




Nguyễn Thị Thanh Dương : LÁ THƯ ĐẾN TỪ BANGKOK.

 LÁ THƯ ĐẾN TỪ BANGKOK.

 
                                              Nguyễn Thị Thanh Dương.
 
Tiếng nói bên kia đầu dây điện thoại xa lạ, làm cho tôi ngỡ ngàng:
–         Xin lỗi, chị là ai nhỉ?
–         Chị Nhuận đây, Nhuận Ngã Ba Ông Tạ đây, xưa ở cùng trại tị nạn Thái Lan với em, nhớ ra chưa?
Tôi thảng thốt reo lên:
–         Trời ơi, bây giờ thì em nhận ra giọng nói Bắc Kỳ di cư 54 của chị rồi, bao nhiêu năm xa cách chứ ít gì!   
–         Chính xác là  16 năm. Thật  khủng khiếp, bước chân thời gian qúa dài.
Hai người ríu rít  kể và hỏi thăm cuộc đời nhau cũng như của những bạn bè cùng ở trại tị nạn trước kia. Tôi rời khỏi trại tị nạn Thái Lan sang Mỹ định cư ngày 8 tháng 12 năm 1993, chị Nhuận đậu thanh lọc và qua Mỹ sau tôi một năm. Người phỏng vấn chị là một anh luật sư trẻ đã  kín đáo thiết tha nhờ chị một chuyện là sang Mỹ tìm hỏi tin tức, địa chỉ của tôi để cho anh liên lạc. Anh tên Piyawat. 
Thuở đó, tôi là một cô gái xinh xắn, làm việc ở bưu điện trong trại tị nạn, và sau này tôi  làm cho văn phòng cao ủy định cư, nên có thể nói vào thời điểm đó không người tị nạn nào mà không biết mặt, biết tên tôi. Anh Piyawat  nói về tôi là chị Nhuận nhận ra ngay, chị đồng ý và hứa sẽ giúp anh với tất cả nhiệt tình, để trả ơn anh đã giúp chị đậu thanh lọc dễ dàng, là một giấc mơ vĩ đại cho những con người vượt biên cuối mùa, đang đối diện với bức tường thanh lọc khó khăn, đang sống khắc khoải từng ngày chờ đợi tin vui mong được đi định cư ở nước thứ ba.
Qua Mỹ, chị Nhuận có ý tìm tin tức của tôi nhưng không ai hay biết. Tình cờ mới đây, chị Nhuận nghe từ một người bạn và biết địa chỉ của tôi, chị liền báo tin cho Piyawat, anh rất vui mừng và sẽ gởi một lá thư cho tôi, chẳng biết để nói chuyện gì mà anh đã theo đuổi bao nhiêu năm qua.
Tôi vượt biên bằng đường bộ, cuối năm 1989, từ Việt Nam sang Campuchia và từ biên giới Campuchia đi một đoạn biển mất một ngày là sang tới biên giới Thái Lan, chỉ một đoạn  biển tưởng chừng ngắn ngủi và đơn giản thế mà cũng suýt chết thảm thương.
Người tổ chức vượt biên thuê thuyền chở chúng tôi gồm 41 người từ bờ biển Campuchia sang phía Thái Lan, nhưng họ không dám đến gần đất Thái, sợ bị bắt, chỉ đổ bộ trên một hòn đảo san hô nhỏ bé, vừa đủ cho cả đám đứng chen chúc bên nhau, cách rất xa bờ đất Thái, lúc ấy khỏang 7 giờ chiều. Họ thúc đẩy chúng tôi rời thuyền thật nhanh và vội vàng quay trở về Campuchia. Thế là họ phủi tay, xong trách nhiệm, chúng tôi phải lo liệu mà vào bờ, bằng cách nào tùy ý. Thật là hoang mang và hãi hùng, người thì khóc lóc cầu nguyện, người thì nguyền rủa bọn tổ chức vượt biên vô lương tâm. Trời càng tối thuỷ triều càng lên cao, nước phủ ngập đảo, rồi lên dần tới đầu gối chúng tôi, cứ cái đà thủy triều lên này chúng tôi sẽ bị chết chìm tập thể ở đây mà không ai hay biết. Hai thanh niên tình nguyện lội thử xuống nước để về phía bờ biển Thái mờ xa đằng kia, nhưng đi được vài bước thì hụt hẫng vì biển sâu, không thể đi được. Đúng lúc ấy, tôi mới nhớ ra mình có mang theo một cái phao, thế là mấy thanh niên to, khỏe, hì hục thổi phao cho căng phồng lên và  một anh tình nguyện ôm phao bơi vào bờ cầu cứu.
Một giờ sau đã có hai chiếc thuyền tam bản của người Thái ra đảo san hô, nhưng họ đòi ai có tiền, vàng thì mới được lên thuyền. Thế là ai có vàng bạc dấu kỹ cũng mau chóng mang ra để đổi lấy sự sống. Thuyền của họ đưa chúng tôi cặp sát vào bờ, chúng tôi bước qua bãi biển sình lầy thật khó khăn, vất vả, có người lên tới bờ rồi là nằm vật xuống ngất xỉu, nhưng cuối cùng mọi người đều an toàn .
Hôm sau cảnh sát Thái Lan đưa về tạm cư trong khu gia binh của họ trước khi giao nộp chúng tôi cho cao ủy tị nạn.
Trại gia binh cảnh sát nằm trên đầu con đường dốc, làng Tha Luông, thị trấn Chad thuộc vùng biển nên khí hậu mát mẻ, ấm áp. Sau những ngày ngủ bờ bụi tại Campuchia, sau chuyến vượt biển đối diện với tử thần, những ngày sống ở đây đã cho tôi một cảm gíac an lành dù tôi biết còn bao nhiêu chông gai, khó khăn phía trước vì đã nghe tin thời gian này Thái Lan sẽ thanh lọc những thuyền nhân trước khi cho phép gặp các nước thứ ba đi định cư.
Chúng tôi không ai còn một đồng xu dính túi. Hàng ngày tôi và một hai người bạn  thường lân la làm quen với một vợ lính cảnh sát, nơi ngôi nhà  chúng tôi ngủ nhờ mái hiên sau, tôi sẵn sàng làm giúp việc nhà cho chị ta như giặt giũ quần áo, để được chị  thương tình cho mấy gói mì ăn tạm những lúc đói lòng. Giữa cảnh đời bấp bênh, tôi thèm thuồng nhìn cảnh sống đời thường êm đềm của chị, có một mái nhà, có đứa con nhỏ để chăm lo và có người chồng trở về nhà sau một ngày làm việc.
Mỗi sáng sớm thức dậy, tôi hay đứng trong hàng rào bên hông trại và nhìn xuống cuối con đường dốc phía dưới, thấy xa xa căn nhà bán hàng tạp hóa mà có lần tôi đã xin phép trưởng trại ra đó mua đồ bằng những đồng tiền ít ỏi của vợ anh cảnh sát trả công cho tôi, ngôi nhà chìm trong làn sương mờ, êm đềm như trong cổ tích. Tôi thấy vài phụ nữ Thái đi ngược lên đồi, chờ xe lam lên thị trấn, và những  em học sinh, nữ mặc đầm xanh, nam mặc quần xanh, áo trắng, lên đầu dốc, gần trại, đợi xe bus chở đến trường. Những hình ảnh bình thường ấy đã xâm chiếm tâm hồn tôi, nỗi nhớ quê hương, nhớ nhà và cuộc sống đã qua
Ba tuần sau chúng tôi rời thị trấn Chad , chính thức về sống ở trại tị nạn Panat Nikhom. Sống ở đây thì tôi đã hiểu sự thật phũ phàng, tất cả thuyền nhân phải qua cuộc phỏng vấn thanh lọc đầy khó khăn. Thế là mỗi người phải tìm những chứng cớ  để chứng minh đã bị chính quyền cộng sản trả thù hay vì lý do đoàn tụ gia đình, để mong đậu thanh lọc.
Tôi xuất thân là nữ sinh trung học, học giỏi nhưng không đậu đại học chỉ vì tôi chưa được kết nạp vào đoàn viên. Lý do cha tôi làm việc trong chính quyền chế độ cũ, và có hai người anh “phản động” đi vượt biên. Buồn, chán và khóc rất nhiều vì thi rớt đại học một cách bất công trong khi tôi biết chắc bài làm của tôi đều khá, nên tôi muốn đi vượt biên để tìm cuộc sống tự do dân chủ và phát huy khả năng thật sự của mình. Nhưng lý do ấy không đủ mạnh để tôi có thể vượt qua cuộc phỏng vấn, những bạn bè quanh tôi, những người anh, người chú lớn tuổi và kinh nghiệm hơn tôi, đều khuyên tôi nên khai cho mình một “hoàn cảnh” đáng thương là đi vượt biên để “đoàn tụ” với chồng, vì những lý do tình cảm vợ chồng là nhân đạo được ưu tiên hàng đầu, dễ đậu thanh lọc nhất.
Tôi liên lạc với các anh tôi bên Mỹ, họ đã gấp rút tìm cho tôi một người hùng tình nguyện giúp đỡ, đứng ra nhận là chồng tôi, và không đòi lại một điều kiện nào cả. Thế là hồi mới đến trại, tôi khai độc thân, bây giờ tôi lên gặp người có thẩm quyền để xin mẫu đơn về …khai lại đã có chồng. Những chuyện vô lý, vô duyên như thế xảy ra khá nhiều ở trại, ai không có lý do chính trị vững vàng thì cứ sáng tác ra chuyện tình dang dở để hi vọng được người phỏng vấn “xót thương”.
Ngày tôi mới về Panat Nikhom, có anh Thái đen to con đẹp trai tên Tha Nu, là nhân viên thuộc bộ nội vụ Thái trong trại, theo tôi sát nút, khi tôi được làm ở bưu điện, ngày nào anh cũng lái xe Honda qua đó tìm tôi, hôm nào không trốn kịp thì tôi đành phải mỉm cười và chào hỏi anh vài câu, hôm nào được các bạn cùng làm “báo động” khi thấy bóng dáng Tha Nu hay nghe tiếng xe gắn máy của anh từ xa, là tôi đã chui xuống gầm bàn để trốn, và ai đó đã trả lời anh là tôi không có mặt ở đây. Nhưng chính anh, chính là anh Tha Nu đã giúp tôi điền lại cái form khai đã có chồng và còn góp ý thêm điều này bớt điều kia. Làm việc trong chính quyền Thái và gần gũi với đám tị nạn hàng ngày nên  Tha Nu thừa hiểu những gì cần thiết phải khai để đạt hiệu qủa cao nhất khi đi phỏng vấn .
Năm 1991 những người tị nạn ở Thái Lan đã biểu tình phản đối phái đoàn phỏng vấn khó khăn, bất công, đánh rớt nhiều người, nên chúng tôi được chuyển lên Sekiew và những người phỏng vấn cũ được thay bằng những sinh viên luật trẻ trung hơn  đến từ Bangkok.
Ngày tiễn tôi đi Sekiew anh Tha Nu cầu chúc cho tôi đậu thanh lọc, vì những người đậu thanh lọc sẽ trở về Panat Nikhom, đợi chờ các nước phương tây phỏng vấn, và như thế anh sẽ được gặp tôi lần nữa. Tôi đã thật sự cảm động, nước mắt rưng rưng trước tấm lòng của anh đối với tôi, dù tôi vẫn không hề yêu anh.
Ở Sekiew tôi đã gặp Piyawat, người Thái bảo rằng cái tên này vừa đẹp vừa sang như con người anh. Đám phụ nữ tị nạn chúng tôi ai cũng ao ước được lọt vào bàn phỏng vấn của anh, vì người ta đồn rằng anh thương người và tử tế, không như những nhân viên Thái khác, hống hách, lạm dụng chức quyền hà hiếp thô bỉ những người Việt Nam tị nạn  như cá nằm trên thớt, họ muốn làm gì thì làm. Tôi may mắn đạt được điều ước ấy.
Anh thật xứng đáng với lời đồn, Piyawat là một người Thái trắng cao, khuôn mặt vuông, đôi mắt dài đẹp vẻ hiền lành và nụ cười dễ mến. Anh lịch sự mời tôi ngồi và rót trà cho tôi uống trong khi anh mở đống giấy tờ hồ sơ dầy cộm của tôi ra đọc, hình như anh hơi mỉm cười có vẻ chế nhạo hơn là hạch họe khi ngẩng lên hỏi tôi:
–         Tại sao khi mới nhập trại cô khai độc thân, sau lại khai có chồng, vì yêu chồng nên phải vượt biên, sang Mỹ để đoàn tụ? Cô thật là mâu thuẫn.
Đã học thuộc bài bản từ trước nên tôi không bối rối:
–         Vì ban đầu tôi hoang mang, lo sợ nên khai đại, sau khi đã bình tâm tôi quyết khai đúng sự thật..
Anh vẫn giữ nụ cười đầy cảm tình đó và đọc tiếp hồ sơ, sau đó anh hỏi tôi nhiều câu, câu nào tôi cũng trả lời suông xẻ. Nhưng cuối cùng là một câu thật bất ngờ, khi anh gấp đống hồ sơ lại và nhìn đăm đăm vào đôi mắt tôi:
–         Nếu bây giờ tôi nói rằng tôi yêu cô, sẽ cưới cô. Vậy cô có muốn về Bangkok sống với tôi không?
Tôi sững sờ nhìn anh, không biết trong ánh mắt hiền lành tình tứ ấy đâu là sự thật? có thể anh đùa vui? có thể anh đang thử lòng tôi? có vì vẻ đẹp trai và nghề nghiệp tương lai tươi sáng của anh mà  xiêu lòng chấp nhận? tức là chối bỏ mọi lời khai tha thiết vừa rồi  Và anh ta sẽ biết ngay là tôi ngụy tạo hồ sơ và đánh rớt không thương tiếc.
Tôi không phủ nhận đã rung động vì vẻ đẹp trai và phong cách của anh, nhưng cái tình cảm vừa hé nhụy mong manh ấy không biến tôi thành một cô gái đa tình ủy mị ngay được. Tôi nghiêm nét mặt, cứng rắn đáp:
–         Tôi xin lỗi, tôi không thể. Tôi luôn mong muốn được đoàn tụ với chồng tôi.
Anh lẳng lặng đẩy tập hồ sơ qua một bên, và hẹn buổi chiều phỏng vấn tiếp.
Buổi chiều tôi đến sớm hơn giờ hẹn một chút, vì chẳng ai muốn đến trễ, làm mất thì giờ của người phỏng vấn, chỉ gây thêm ác cảm, bất lợi cho mình.
 Trong văn phòng của anh lúc đó có hai người bạn cũng là sinh viên về đây làm công việc phỏng vấn, khi tôi ngồi xuống ghế đối diện  Piyawat, hai người bạn vẫn chưa chịu ra khỏi phòng, một người mở tập hồ sơ của tôi ra và cũng như anh Piyawat buổi sáng, anh này nhìn tôi mỉm cười với vẻ nghi ngờ:
–         Cô đã có chồng rồi à? Mà chồng cô lại nhỏ hơn cô những ba tuổi.
–         Vâng, nhưng chúng tôi yêu nhau không kể gì tuổi tác.
May qúa anh này không hỏi gì thêm nữa, như câu hỏi rất có lý vừa rồi của anh, có thể làm tôi bối rối, trở tay không kịp, vì đã đến giờ làm việc, phải trở về phòng của họ. Anh Piyawat tiếp tục phỏng vấn tôi, và một lần nữa câu cuối cùng của anh cũng bất ngờ như buổi sáng:
–         Cô đã suy nghĩ chưa? Nếu qủa thật có một tình yêu của người chồng dành cho cô, thì tôi cũng có một tình yêu bằng hay hơn thế, chứ không thể nào thua kém anh ta. Cô hãy về Bangkok với tôi đi !
Trong đầu tôi nghĩ đến ngày đoàn tụ với các anh tôi ở Mỹ, tôi không thể đánh một ván bài liều với một người xa lạ, mới gặp tôi lần đầu đã nói yêu tôi đến thế. Cái hồ sơ gia cảnh dở dang mong đoàn tụ với chồng, tôi đã tốn bao nhiêu công lao soạn ra cho hợp lý, ăn khớp với mọi tình huống và học thuộc lòng, không thể chỉ vài phút giây yếu lòng mà buông rơi tất cả.
 Trong cuộc phỏng vấn sống còn này, trong trại tị nạn buồn chán mà tư cách của con người dễ bị chà đạp này, tôi cũng như bao nhiêu người khác mong thoát ra càng sớm càng tốt. Đây không phải là nơi chốn cho tôi mơ mộng , tôi đã nghĩ thầm “ Anh Piyawat ơi, nếu anh yêu tôi thật, nếu anh đang nói những lời thật của con tim, thì tôi vô cùng xin lỗi anh, chúng ta đã gặp nhau không đúng chỗ, không đúng lúc rồi”
–         Cô trả lời tôi đi, tôi xin cô !
Bây giờ người cầu xin van nài không phải là tôi, là cô gái tị nạn mà cuộc đời tôi vui hay buồn, chờ trông vào tấm lòng của người phỏng vấn này, mà lại là anh. Tôi cắn môi dưới của tôi gần rướm máu để thốt lên được mấy chữ:
–         Không, tôi chỉ muốn đoàn tụ với chồng tôi.
Anh thẫn thờ kết thúc cuộc phỏng vấn buổi chiều và  khi tôi chào anh ra về, anh bắt tay tôi thay cho lời nói, bàn tay anh đã bóp chặt tay tôi như muốn níu giữ tôi mãi mãi…
Cuối tuần ấy, cũng là ngày lễ gì đó của người Thái, nên trong trại có tổ chức một trận bóng đá, tòan là nhân viên trong trại,  Piyawat là một thành viên trong đội bóng đá, người ta mở hàng rào ngăn trại, nơi đám tị nạn chúng tôi đang ở, để thông thương sang bên khu sân bóng.
Đời tị nạn buồn, rảnh rang, nên trò chơi gì cũng khiến chúng tôi tò mò và vui lây, nhất là nghe tin có  Piyawat tham dự đá bóng, những cô gái đã từng được anh phỏng vấn, đang đợi chờ kết qủa, đua nhau ăn diện để sang  bên đó, họ lượn quanh sân, tìm cách tiếp cận  Piyawat, để mỉm cười với anh và nhắc nhở anh, hỏi anh về trường hợp của mình, anh nắm hồ sơ chúng tôi trong tay như nắm quyền sinh sát, nếu muốn, anh chỉ việc mở hồ sơ ra xét lại, viết cho lời nhận xét hay ho trước khi những hồ sơ được gởi đi Bangkok cho cấp trên . Hầu như mọi quyết định ở đấy đều tùy thuộc vào lời nhận xét của người phỏng vấn.
Tôi không có mặt trong đám con gái ấy, dù anh đã để lại trong tôi một ấn tượng đẹp. Những người bạn rủ tôi sang coi đá bóng, và tôi chỉ đứng xa, không hề đi kiếm tìm anh, nhưng tôi đã thấy anh đi vòng quanh sân dáo dác ngó khắp nơi trong đám đông người tị nạn đang vây quanh sân, anh đã nhìn thấy tôi, anh đứng sững tuyệt vọng vì khỏang cách qúa xa, mà anh với tư cách nhân viên trong ban phỏng vấn không thể đến bên tôi được, người ta sẽ nghi ngờ và dị nghị, gây bất lợi cho tôi hơn là cho anh.
Khoảng cách chúng tôi nào chỉ một sân bóng mà cả hai khung trời cách biệt. Tôi không biết số phận mình sẽ đậu hay rớt thanh lọc? ngày mai sẽ ra sao? đời tôi sẽ trôi nổi đến đâu? còn anh, một ngày nào đó xong nhiệm vụ, sẽ trở về Bangkok tiếp tục học hành, ra trường, có vợ đẹp, con xinh là điều trong tầm tay của anh.
Sau ngày lễ, tôi ngạc nhiên khi nghe loa gọi tên tôi và hẹn giờ lên văn phòng gặp Piyawat để bổ túc thêm một vài giấy tờ, nhiều người cũng ngạc nhiên như tôi vì chưa có trường hợp nào như thế bao giờ. Nhưng có một chú dày dạn kinh nghiệm đời, quen rất thân đã nói với tôi:
–         Chẳng có gì cần bổ túc hết, cô đã có một đống hồ sơ nộp cho họ rồi. Anh ta chỉ muốn gặp cô thôi.
Nhưng tôi vẫn không khỏi lo âu, khi đến ngày hẹn tôi lên văn phòng thấy Piyawat đang phỏng vấn một người. Đã chờ đợi sẵn, vừa thấy tôi, anh đứng dậy đi ra ngoài và  nói rất nhỏ với tôi, vì sợ người bên trong nghe thấy:
–         Cô sẽ đậu phỏng vấn, hãy học Anh Ngữ và chờ ngày đi khỏi nơi đây.
Tôi ngỡ ngàng sung sướng tưởng như mơ:
–         Cám ơn anh Piyawat.
Lần đầu tiên tôi gọi tên anh, cũng rưng rưng nước mắt vì cảm động như đã từng rơi nước mắt vì  Tha Nu, nhưng lần này với sự rung động của con tim.
Một năm sau những người đậu thanh lọc mới có kết quả từ Bangkok gởi về, ngôi nhà thờ trong trại là nơi chúng tôi đến nhận giấy báo kết qủa , mà những người rớt hay chưa được phỏng vấn cũng kéo nhau ra bu quanh nhà thờ để chứng kiến cảnh người khác may mắn. Cầm tờ giấy đậu thanh lọc trong tay như cầm một vé lên thiên đàng, tôi bước ra ngoài, không nỡ nhìn đám đông, rồi đây trong số đó ai sẽ được may mắn như tôi? ai sẽ phải hồi hương Việt Nam trong đắng cay thất vọng ?
Khi tôi trở về Panat Nikhom, tôi không gặp Tha Nu, họ nói anh đã được cấp trên điều động đi nơi khác.
Anh có còn nhớ đến tôi không và có nuối tiếc vì không bao giờ gặp lại nhau lần nữa?
                                            ************ *
Sau cuộc điện thoại với chị Nhuận, đúng như chị đã nói, mấy tuần sau tôi nhận được một lá thư đến từ Bangkok.
                      “ Ngày..tháng..năm 2009,
Tôi là Piyawat, tôi đã chờ đợi cô mỏi mòn bao năm, kể từ khi cô rời khỏi trại tị nạn Thái Lan đi định cư ở Mỹ.
Tôi không bao giờ quên ngày tôi phỏng vấn cô, là một ngày tháng Năm, năm 1991, đẹp trời nhất trong đời tôi, cái ngày định mệnh đã cho tôi một tình yêu chớp nhoáng và vô vọng.
Đọc hồ sơ và nghe những lời khai của cô tôi thừa biết là gỉa tạo như nhiều người đã làm khi đó, rất dễ cho tôi quyết định ghi những nhận xét đủ cho cô bị rớt thanh lọc.
 Tôi tin cô còn độc thân và khi tôi ngỏ lời yêu cô, tôi đã thấy đôi mắt cô đầy bối rối, phân vân. Nhưng tôi biết là cô không dám liều lĩnh làm một quyết định táo bạo nhận lời tôi mà ở lại Thái Lan, lấy gì bảo đảm tôi sẽ mang cô ra khỏi trại tị nạn và cưới cô?
Sau lần phỏng vấn cô, tôi đã phỏng vấn nhiều trường hợp tương tự, những cô gái Việt Nam trẻ như cô, tôi không rung động vì họ, nhưng tôi viết nhận xét tốt cho họ có thể đậu thanh lọc, chỉ vì một lẽ đơn giản, tôi nhớ cô qua những người đồng hương của cô.
Trở về Bangkok, tôi học xong đi làm và chờ đợi tin cô từ chị Nhuận, từng ngày, từng tháng, từng năm…Nước Mỹ mênh mông, cô như cánh chim bay, biết đâu mà tìm?
Mấy năm sau tôi lập gia đình, nay đã có hai đứa con, và tôi cũng tin chắc cô đang hạnh phúc ấm êm nơi vùng đất mà cô đã khao khát mong chờ định cư.
Giờ đây, tình yêu mãnh liệt thuở ban đầu trong tôi không còn nữa, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được cô, một cô gái Việt Nam trong trắng và đầy tự trọng, tôi đã đánh gía cô như thế dù chỉ vài lần gặp, khi đối diện tôi trong phòng phỏng vấn, chỉ có hai người, cô không hề cho tôi một nụ cười dễ dãi, không liếc mắt đong đưa, không hứa hẹn trao tình cho tôi như vài cô gái khác đã làm để đánh đổi lấy cơ may đậu thanh lọc.
Đây là lá thư đầu tiên và cũng là cuối cùng tôi viết cho cô, giờ đây tôi không có quyền mong đợi gì nơi cô nữa, vì cả hai chúng ta đều đã có gia đình, hai cuộc đời riêng biệt, tôi chỉ muốn xác định với cô một điều mà ngày ấy tôi biết  đã làm cô hoang mang, lo âu  tự hỏi tôi yêu cô thật tình hay gỉa tạo để thử lòng cô?
Tình yêu tôi dành cho cô là tất cả tấm lòng tôi, là mối tình đầu của tôi.
Mến chào cô, chúc cô luôn hạnh phúc bên chồng con.”
Đọc xong lá thư tôi bàng hoàng cảm xúc.
Dù đã định cư ở Mỹ 16 năm, nhưng hình ảnh trại tị nạn Thái Lan vẫn còn rõ ràng trong tôi, một khỏang đời đáng nhớ, nơi ấy tôi đã hoang phí mất 4 năm trời, 4 năm tuổi thanh xuân tươi đẹp của một thời thiếu nữ, chập chờn những âu lo, buồn bã, những hi vọng, thất vọng và cả tuyệt vọng. Nhưng cũng chính nơi ấy, có Piyawat đã để lại trong tôi một hình ảnh lãng mạn, xứng đáng đánh đổi cho những sự mất mát kia.  Anh  là người đàn ông đầu tiên đi vào tâm hồn tôi.
Tôi ấp lá thư lên ngực như để gần anh hơn. Giá như chị Nhuận tìm thấy tôi sớm, vài năm sau khi tôi đến Mỹ, lúc ấy tôi vẫn còn nghĩ đến anh nồng nàn. Biết đâu tôi đã bay đến Bangkok gặp anh trước khi anh sang Mỹ gặp tôi?
Nay thì qúa muộn, khỏang cách giữa chúng tôi càng ngày càng xa,  không bao giờ nối gần lại được. Nhưng tên anh Piyawat, và thủ đô Bangkok nơi anh trú ngụ sẽ là một điệp khúc yêu thương vang vọng mãi trong trái tim tôi.
                                   Nguyễn Thị Thanh Dương
                                           ( July- 2009)



Tâm-Phương : MẸ TÔI, KHI XONG MÙA KHÁNG-CHIẾN .

MẸ TÔI

                KHI XONG MÙA KHÁNG-CHIẾN .

 

                                Tâm-Phương

 

X  .

Mẹ là Xôi Nếp-một ,là Chuối Ba-hương,là Đuờng thơm Mật ngọt .

Mẹ là Nguồn-suối trong bất tận, là Dòng-sông tươi mát hiền hòa.

Mẹ là cây Đại Thọ có bóng mát , hương thơm che chở cuộc đời Con .

Mẹ nuôi sống Con bằng dòng sữa ấm . Dạy dỗ Con tiếng nói đầu đời .

Công lao của Mẹ không giấy mực nào tả hết .

Mỗi một người viết về Mẹ bằng tấm lòng trân quí, bằng kính trọng, bằng thán phục ngưỡng mộ hay bằng những thương tiếc trong nổi niềm riêng tư .

Nhưng với Tôi , Mẹ còn là Đấng Quyền-Năng tuyệt-đối  khi Tôi trong lứa tuổi lên mười lúc Mẹ còn sống.

Hoặc lúc  lớn khôn đã  thực sự lăn lóc vào đời, mặc dầu Mẹ không còn nữa, nhưng mỗi lần gặp khó khăn  , nguy khốn  như truờng hợp đối đầu với giặc  vùng Nam-Căn, Cà-Mâu, Đông-Hưng, Chương-Thiện …….Tôi cầu xin Mẹ cho con sự thông minh, may mắn để thoát khỏi cơn hiểm nghèo …

Bất cứ lúc nào Tôi cũng chỉ Cầu xin Mẹ phò trợ cho Tôi thay vì phải cầu xin Chúa , cầu xin Phật như mọi nguời, bỡi Tôi hiểu Phật đã dạy chúng sanh những điều căn-bản cho đời sống trần gian :

–  Hảy tự mình thắp Đuốc lấy mà đi .

–  PHẬT chỉ ta con đuờng Từ-bi nhân-ái , Ta là nguời quyết định đi hay không .

–  Không ai có thể cứu ta đuợc bằng chính Bản-thân ta .

–  Phải gieo NHÂN tốt hôm nay để có đuợc QUẢ tốt ngày mai .

Cho nên chỉ có Mẹ, dù còn sống hay đã chết, lúc nào Tôi cũng cảm nhận có Mẹ theo sát bên Tôi  .

Chính Mẹ đã phò trợ cho Anh Em tôi vươn lên khỏi sự mù chử nghèo khó từ làng quê và ngước mặt hiên ngang nhìn đời  bằng kiến thức Học-vấn mà đáng lẽ tất cả chúng tôi phải vất vả suốt đời bên cái cày, con trâu, thữa ruộng…..

Ðặc biệt sau cuộc chiến , hầu hết những gia-đình sống tại làng quê tôi đều không đuợc vẹn toàn, bỡi trong đám con cái , có đứa bên này đứa bên kia .

Nguợc lại , gia-đinh tôi , sáu Anh Em  trong các Quân Binh Chủng Hải Lục Không Quân và Công Nhân-Viên Hành-Chánh miền Nam, cho đến giờ vẫn bình an sau khi đã bị vùi-dập trong  Chiến-tranh kéo dài ba mươi năm và cuộc Đổi Đời hổn loạn 1975 .

 

Khi Mẹ tôi vừa ngoài ba mươi tuổi , là bắt đầu sống đời goá bụa ở đồng quê trong vùng kháng-chiến chống thực-dân Pháp gần Vĩ-tuyến 17 cùng với sáu con,năm trai một gái .

Ba tôi mất khi anh  lớn nhất chỉ mới mười hai . Nhờ Ông ngoại để lại nhièu tài-sản nên ba người anh  lớn được học trường Pháp trong thời gian đó .

Ngày xưa Ông ngoại rất giàu , nhưng chỉ có ba nguời con gái  .

Văn hoá Trung hoa ảnh huởng quá sâu đậm trong  lòng dân Việt sau một ngàn năm đô hộ nên vẫn là :  Nhất Nam viết hữu, Thập Nữ viết vô .

 Mẹ và các Dì không được đến trường, dù cho Tây đô hộ gần cả trăm năm, sau Tàu .

 Khi Ông Bà ngoại mất đã để lại cho con mỗi người một căn  nhà và  tiền của để làm ăn buôn bán .

 Kể từ năm 1952 , hơn một trăm Bộ đội Việt minh đến ở lì trong nhà, bắt Mẹ phải nuôi ăn và cung cấp lương-thực cho từng người, mỗi khi  họ đi vài ngày hành quân đánh đồn Tây .

Lúc bấy giờ Mẹ được phong chức Thủ lảnh đoàn Tiền phương yểm-trợ Bộ-đội . Mẹ cai quản hai toán công nhân tình nguyện , một toán lo may vá áo quần và các túi vải cá- nhân đựng gạo mang đi hành quân ( thường được gọi là ruột tượng ) một toán khác lo về thuốc men y-tế . Mỗi tháng Mẹ phải vào thành phố Huế bán vàng để mua thuốc tây .

Có những lần, sau khi đi tấn công quấy phá đồn Tây , mang theo trở về vài anh bộ đội bị thương , Mẹ phải điều động y-tá băng bó vết thương , và bảo toán phụ nữ nấu cháo gà thết đãi bộ đội ăn mừng chiến thắng .

Không ai biết Đồn Tây thiệt hại thế nào mà chỉ nghe anh Đại đội trưởng nói địch thiệt hại nặng nề lắm .

Hầu như đêm nào bộ-đội cũng đi quấy phá đồn Tây cách xa làng tôi , hoặc đắp mô đất , gài mìn những con đường chính dẫn về làng . Còn đồn Tây trong làng thì do tiểu đội của Dượng Thọ đảm trách . Ngoài ra , tất cả trai gái lúc đêm về phải tụ tập ở sân đình làng để nhảy “ Xồn-Đô-Mị…) và ca những bài “ Kết đoàn…Chúng ta là sức mạnh . Kết đoàn…Chúng ta là Sắt, Gang…” hoặc là “Đông phương hồng , mặt trời lên…Nhân dân chúng ta có Hồ chí Minh…” v.v.

Các thanh niên nam nữ trong toán tình nguyện của Mẹ cũng phải tham gia nhảy múa hát hò …Có những đêm khuya tiếng hát hò vang dội đến đồn Tây , ban đầu vài trái hoả-châu bắn lên soi sáng, tiếp theo là vài quả mọt-chê rót trúng nhà dân cháy sáng cả vùng trời cùng với vài người dân chết oan tức-tưởi .

Dân chúng hận thù quân Pháp xâm lược lên tột độ , nên bằng mọi giá phải đánh đuổi quân xâm lăng .

Từ làng trên xóm dưới đều sinh hoạt như nhau, ban ngày ra đồng cày cuốc làm ruộng,lúc đêm về thì tụ họp ở đình làng để học tập đường lối của Bác , Đảng và hát ca nhảy múa …

Đám trẻ con tuổi lên mười vì không có trường học , bỡi tất cả trường Tây đã bị phá tan hoang và trường Việt không có nên phải đi cắt cỏ , chăn trâu . Ngày nào cũng trông trời mau tối để tụ tập nhảy múa hát hò . Những đứa hơi lớn hơn , tuổi mười lăm mười bảy như ba anh lớn của tôi , tuân theo lời Mẹ phải tham gia đoàn tấn công quấy phá đồn Tây dưới sự chỉ huy của Dượng Thọ .

Dượng Thọ là người to cao , trắng trẻo , có Bằng Diplome Pháp .

Lúc đầu Dượng làm Trưởng Ban Thông-tin tuyên truyền , mỗi buổi sáng phải đi bộ lên Khu chiến trên núi Trường sơn để nhận chỉ thị .

Không biết chức-vụ này làm những chuyện gì , nhưng mỗi buổi chiều lúc trời sẫm tối , Dượng tập họp khoảng chín mười thanh thiếu niên trạc tuổi mười ba mười sáu , trong đó có ba anh lớn của tôi cùng sáu anh Bộ-đội mang súng trường và hai cái thùng thiếc đi quấy phá đồn Tây .

Mục đích đem theo hai thùng thiếc là để đút nòng súng vào , khi bắn nghe tiếng nổ đùng đùng như loại súng lớn .

Đồn Tây đóng gần Chợ-hôm , sát hàng rào phía trước là sông Ô-lâu , phía sau là đồng ruộng .

Đoàn quân Dượng Thọ lúc nào cũng bố trí bên kia bờ sông thuộc làng Văn-quỷ .

Khi đến vị-trí đối diện đồn Tây , đám thiếu niên nằm sát bờ ruộng . Phía trước ven bờ sông là sáu anh Bộ-đội nằm rải rác , chĩa mũi súng về phía đồn Tây .

Dượng Thọ trèo lên Cây Đa cao , dùng cái loa bằng thiếc kê sát vào miệng la lớn lời kêu gọi buông súng đầu hàng , nếu không sẽ bị tấn công .

Lúc đầu kêu gọi bằng tiếng Pháp , sau đó kêu gọi bằng tiếng Việt , bỡi vì mặc dầu là đồn canh của Pháp nhưng cũng có người Việt nam đi lính Pháp canh gác chung .

Khi đọc xong lời kêu gọi , Dượng ra lệnh bắn .

Thế là tất cả súng thi nhau nhả đạn . Nhờ có thùng thiếc nên nghe tạch tạch đùng đùng như có nhiều loại súng lớn súng nhỏ đang tấn công .

Trong khi đó , đám Thiếu niên chỉ có gậy gộc trên tay nằm tại chỗ nhưng miệng la Xung phong …Xung phong… vang dội vào không trung .

Không biết bọn lính Tây bên kia bờ sông có nghe lời kêu gọi của Dượng Thọ và tiếng la xung phong hay không mà thấy vẫn im lìm , không một phát súng bắn trả lại .

Cũng có thể bọn Tây biết bên kia sông toàn là một lủ con nít nên tội nghiệp , bắn làm chi uổng đạn …

Chừng vài phút sau , vài ba trái hỏa-châu bắn lên từ đồn Tây , sáng rực cả vùng trời…

Đợi cho hỏa-châu vừa tắt, là bắt đầu người lớn con nít mạnh ai nấy chạy tìm đường về, xem như cuộc tấn công chấm dứt .

Có những lần , khi vừa chạy khỏi là vài trái Mọt-chê rớt ngay nơi bố trí của họ ,thật là hú vía !…

Đồng thời ở nhà Mẹ sai toán phụ-nữ tình nguyện nấu cháo gà đợi sẵn .

Nhờ có kinh nghiệm tấn công như thế , nên đã nhiều lần đi đánh đồn Tây mà cả hai phía ta và địch chẵng có ai bị thương hay chết chóc .

Lần sau cùng , khi vài trái hỏa-châu vừa bắn lên , tiếp theo mấy tràng Đại-liên nhắm vào Cây-đa . Dượng Thọ bị thương chân phải , té ngay xuống đất .

Đám thiếu niên bỏ chạy tán loạn . Mấy anh bộ-đội khiêng Dượng chạy một đoạn rồi dùng ghe chở lên chiến-khu Trường-sơn ngay trong đêm .

Gần nửa năm sau , Dượng trở về trên hai nạng gỗ , chân phải cụt tới háng , trên ngực áo được gắn cái Huy-chương màu đỏ , chính giữa có ngôi sao vàng .

Dượng rất hãnh diện khoe với mọi người : “  Anh-dũng Bội-tinh này được đổi bằng cái chân phải của tôi “ . Dân trong làng rất nể phục nhưng mỗi tháng Mẹ phải cho thêm ít tiền để phụ giúp nuôi gia đình .

Kể từ khi Dượng Thọ bị thương , tiểu đội quấy phá đồn Tây của Dượng cũng tan rả .

Thấy Dượng không còn khả năng làm lụng như cày bừa, cuốc đất làm ruộng lấy lợi tức giúp gia-đình gồm vợ và sáu con còn nhỏ dại . Do đó , dân làng góp sức đan cho Dượng chiếc xuồng tre để đi câu cá sống độ nhật .  

Cho đến tháng 7 năm 1954 khi Hiệp định Genève ký kết, tất cả Bộ đội biến  đâu mất trong đêm , để lại cho Mẹ tờ giấy khen thưởng , vinh danh Mẹ  là Mẹ Chiến sỉ, bên dưới ký tên Tỉnh ủy Thừa-Thiên, thay mặt Bác và đảng,  rồi hẹn ngày bộ đội trở lại .

 

 Cuộc đời cơ-cực của Mẹ bắt đầu lúc tài-sản và tiền-bạc đã đi theo Bộ đội  từ đó .

Của Hương-hỏa nay chỉ còn lại mấy mẫu ruộng , Mẹ và các anh lớn ra sức cấy cày nhưng khi đến mùa gặt thì phải đóng thuế bằng lúa gạo cho cán bộ nằm vùng nên gia đình  vẫn không đủ ăn .

Dân làng bây giờ người lớn lo cày cấy ruộng vườn , cuốc đất trồng khoai sắn ,trẻ con  lo việc chăn trâu .

Ba người anh lớn có vốn liếng Tây học , bây giờ Tây đi rồi nên phải ở nhà giúp Mẹ xay lúa giả gạo gánh ra chợ bán .

Nhìn cảnh mấy đứa con lớn làm lụng khó nhọc vất vả , mấy đứa nhỏ không có trường đi học . Cả đàn con hoàn toàn không có tương lai nên nhiều đêm  Mẹ âm thầm khóc để rồi cuối cùng Mẹ quyết định cho Anh cả vào thành phố Huế tìm kế sinh nhai , vì dầu sao anh cũng dã có được mảnh bằng Diplome của Pháp .

 Chắc chắn trong thâm tâm Mẹ đã hiểu được rằng con đường độc nhất để con mình thoát khỏi cảnh cực khổ, nghèo đói ở vùng quê này là con đuờng vào thành phố Huế học hành để tiến thân .

Riêng Mẹ thì ngày nào như ngày nấy, quang gánh nặng vai , đi đò từ sáng sớm qua sông Ô-Lâu, đi bộ đến làng Văn-Quỹ, có khi lên đến làng Câu-Nhi hay ra tới Diên-trường, Cam-Lộ buôn bán những  thứ lặt vặt cho đến trưa, mua 04 thúng lúa, ì-ạch cong đòn gánh, gánh về nhà xay và giả thật nhanh cho kịp phiên chợ chiều  .

Quanh năm suốt tháng, Mẹ gồng gánh khổ cực như thế, không một ngày nghỉ .

Lúc này Mẹ nói với chúng tôi : “ Chắc bây giờ Mẹ không còn khả năng nuôi các con ăn học thành tài thì nhờ TRỜI NUÔI . Hàng ngày Mẹ cố gắng lên Chùa cầu nguyện “ .

 

Những năm tháng kế tiếp kể từ 1958 , khi anh lớn đã được vào trường Quân-y , Mẹ tiếp tục gữi người anh thứ ba và tôi vào Huế để tìm cách tự túc mưu sinh và học hành . Đây cũng là thời gian cán bộ Cộng Sản ào ạt từ Bắc đưa vào để phối hợp hoạt-động với cán bộ được gài lại khi Hiệp-định Genève 1954 chia đôi đất nước .

Do đó , dân làng quê tôi giờ đây bị kẹp giữa hai gọng kềm , ban ngày quân đội Quốc-gia về bắt dân chúng làm hàng rào Ấp-Chiến-lược nhưng về đêm thì đi tháo gở để cho bộ-đội về làng .

Dân chúng bắt đầu chán nản , ù-lì việc cày cấy vì biết rằng dù cho ráng hết sức canh tác rồi kết quả cũng không đủ cơm ăn .

Có lẽ đây là lý do chính Mẹ bắt buộc các con phải từ giả thôn làng . Thật khó mà hiểu được ý-nghĩ trong lòng Mẹ . Có lúc Mẹ như oán hờn vì tài sản đem nuôi bộ-đội nên bây giờ trắng tay , để cho con cái phải sống trong cơ-hàn đói khổ . Nhưng nếu có ai oán hờn Việt-công thì Mẹ lại bênh vực hết mình .

Lúc nào Mẹ cũng nghĩ đơn giản Việt cộng là bộ-đội, có công lao to tát với đất nước , đánh đuổi ngoại bang , không cần biết là Pháp hay Mỹ  cũng như hẩu hết ý-nghĩ của mọi người dân trong làng .

Nhớ lại lúc bộ-đội yêu cầu cho anh cả theo họ tập-kết ra Bắc , Mẹ một mực chối từ .

Nhưng khi Anh cả xin Mẹ thi vào Trường Quân-y VNCH thì Mẹ bằng lòng ngay .

Kể từ khi đuổi hết các con vào thành phổ , thì sức khỏe Mẹ cũng bắt đầu giảm sút nên không còn xay lúa gánh gạo ra chợ bán mà chỉ trổng vài luống rau cải đủ ăn và hàng tháng anh cả gửi tiền về giúp MẸ mua gạo .

Bây giờ chiến tranh đã bắt đầu tràn về qua thôn xóm , đã có những trận đánh lớn xảy ra ngay trong làng . Dân làng giờ đây phải thuộc lòng khẩu hiệu mới :” Chống Mỹ cứu nước “ .

Nhìn cảnh làng thôn tan nát tiêu điều bỡi những trận giao-tranh và mưa bom nên Mẹ càng căm hận quân Mỹ nhiều hơn .

Tất cả anh em tôi không thể về thăm Mẹ được lúc này ngoại trừ chị Sáu tôi lấy chồng ở Diên-trường  thỉnh thoảng vào thăm .

Đã bao nhiêu năm xa quê hương làng mạc tôi nhớ nhà , nhớ Mẹ muốn điên lên nhưng không về thăm được vì đã nhiều lần Mẹ nhắn tin các con từ nay không được về thăm Mẹ , nhất là ba anh lớn .

Bỡi làng thôn bây giờ, hầu như đêm nào cũng có bóng dáng bộ-đội và cán-bộ miền Bắc xuất hiện . Có nhiều khi họ xuất hiện ban ngày nếu không có quân đội VNCH hành quân qua thôn xóm .

Tôi nhất quyết trở về vì nghĩ rằng mình là thằng học trò nhỏ chắc không sao ,nên nhiều lần thăm dò tin tức . Gặp được thằng bạn hồi tiểu-học , bây giờ làm lơ-xe-đò , nó khuyên không nên về nhưng nếu bắt buộc thì nên về buổi sang và xế chiều phải trở lại Huế ngay .

Khi niên học vừa dứt, mùa hè bắt đầu là tôi mua vé xe đò về quê .

Về làng ban ngày không nghe tiếng đạn bom , nhưng sao lòng tôi cứ bồn chồn , lo lắng đủ thứ và luôn e-sợ sẽ gặp chuyện bất-trắc không may .

Trên cánh đồng mênh mông , chỉ thấy lác đác vài người dắt trâu cày ruộng dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa hè .

Bên cạnh Đền Âm-hồn , đàn trâu vẫn vô-tư gặm cỏ . Không thấy đám thiếu niên chăn trâu đùa giởn như ngày nào , mà chỉ thấy năm ba đứa trẻ con tuổi lên mười quanh quẫn đó đây Có lẽ mấy đứa lớn hơn đã lên đường đi quân-dịch .

Vào đến sân nhà thấy Mẹ đang quét sân phơi lúa . Thấy tôi , Mẹ ngừng tay , vội vả  chạy lại nói nhỏ :

– Con về đó hả ? . Đi vào nhà cho Mạ dặn .

Nhìn cử chỉ có vẻ khẩn-trương của Mẹ , tôi đoán được Mẹ sẽ nói những điều không bình thường . Vừa bước chân vào nhà Mẹ nói :

–  Tất cả các con từ nay không được về thăm Mạ thình lình, mà phải thăm dò tình-hình xem có yên ổn hay không và Mẹ cho phép mới được về . Nhất là không được ở lại đêm  Lỡ có chuyện chi cho tụi bây chắc Mạ không sống được .

Tôi ngắt lời :

– Thì tụi con cũng nghĩ như rứa cho Mạ . Tại sao Mạ không chịu vào Đà-nẳng với các anh ? . Ngoài lý do trông coi mồ-mã , tụi con vẫn không hiểu tại sao Mạ nhất định không đi ?  . Hay có ai ép buộc Mạ điều gì ?

Mẹ suy nghĩ một hồi rồi trả lời :

– Mạ khác tụi bây . Mạ già rồi , không ai bắt Mạ đi mô mà sợ . Đừng lo cho Mạ .

Họ cũng đã biết lúc trước Mạ có công nuôi bộ-đội đánh đồn Tây . Bây giờ Mạ có thêm trọng trách là động viên tinh thần dân chúng cũng như bộ-đội hăng hái đánh giặc Mỹ .

Sở dĩ Mạ dặn các con như rứa vì hơn tháng nay , mỗi buổi tối Mạ phải tham gia đi học tập “ Tội ác Mỹ Ngụy “ .và kê khai tài sản cũng như danh tánh các con đang làm gì , ở đâu ?

Mạ đã khai sự thật , và tối nào như tối nấy , khai đi khai lại từng nớ chuyện để làm gương cho dân làng .

Tôi thở dài bực bội nói :

– Con có ý nghĩ là Mạ làm việc như một cán-bộ Cộng sản không bằng . Mạ nhớ một điều là bây giờ tất cả con của Mạ đang ở thành phố , trước sau rồi cũng theo hang ngủ Quốc-gia , không lẽ Mạ muốn tụi con trở về làng đi theo bộ-đội đánh giặc  hay sao ?

Hơn nữa , sao Mạ không nhớ lời ông Quý la mắng cán-bộ Việt-cộng lúc bị nhốt trong chuồng củi phơi nắng trước Đình làng ?

Hoặc hãy nhìn những gia-đình có con đi bên này bên kia .

Cha Mẹ suốt ngày khóc lóc lo sợ cho lủ con, một lúc nào đó đối mặt nhau trên cùng một trận chiến .  

– Thôi thôi đừng nói nữa , Mạ có lý do của Mạ .

Mạ biết phải làm gì và các con ở mô mới bảo toàn tánh mạng để Mạ yên lòng .

Một ý-nghĩ bắt buộc chợt thoáng trong đầu , tôi nói :

– Mạ hãy chuẩn bị , kỳ này vào con sẽ nói các anh đem Mạ vô Đà-nẳng , không chần chờ được nữa .

Mẹ suy nghĩ một lúc rồi nói như ra lệnh  :

– Lát nửa ăn trưa xong con phải về Chợ-hôm đón xe vào Huế ngay . Bỡi vì đôi lúc Họ cũng lai vãng ban ngày . Con đủ khôn lớn để Họ mời đi theo  .

Nghe Mẹ nói thế tự nhiên tôi ớn lạnh xương sống .

Mẹ đi dọn cơm , tôi ăn vội vả rồi từ giả Mẹ đi bộ ra chợ cho kịp chuyến xe .

Lúc từ giả , tôi năn nỉ Mẹ lần chót :

– Mạ nhớ chuẩn bị sẵn sàng , khi có tin chị Sáu nhắn là Mạ phải đi ngay .

Mẹ buồn bả trả lời :

– Mạ sinh ra và lớn lên ở đây . Chừ Mạ muốn sống những ngày còn lại tuổi già và chết đây thôi . Mạ không muốn đi mô cả .

Tôi giải thích :

– Mạ đã thấy bây giờ chiến tranh lan tràn khắp các vùng nông thôn . Lỡ ra đêm hôm có chuyện gì , một mình Mạ làm sao xoay xở ?.

– Không răng mô ! . Tụi con đừng lo cho Mạ . Sống chết có số ………..

Tôi từ giả Mẹ vội vả đi về Chợ-hôm .

Len lỏi qua mấy khóm tre làng phủ kín bầu trời , băng qua con đường  đất đá gồ ghề , tình cờ gặp chị Nhạn con ông Hách , một thời vang tiếng con nhà phú-nông , có sắc đẹp nhất nhì trong làng . Bây giờ chị cạo đầu mặc áo nâu đi tu . Tôi giật mình khi nghe hỏi mà không nhận ra chị .

– Em về hồi nào ?  Đi mô mà vội vàng rứa ?

Tôi nhìn một lúc rồi hỏi :

– Có phải chị…Nhạn không ?

– Phải rồi .

– Chị đi tu hồi nào vậy ?

– Đã hơn ba năm rồi , em không biết sao ? Sự thực là chị đang làm nghĩa vụ cho Tổ-quốc . Quê mình chừ có nhiều người trẻ như em đi làm nghĩa vụ giống chị . Họ vào tu trong các Chùa ở Huế hoặc Quảng-trị như chú Chẫm , chú Lữ ,… hiện nay cả hai đều lên chức Thượng-toạ rồi đó em .

Tôi quá đổi ngạc nhiên bèn hỏi :

– Hình như cả hai chú đều không biết đọc biết viết , làm sao mà lên được Thượng-tọa ?

Chị vừa cười vừa trả lời :

– Em ngây thơ quá .

Chức Cha Công-giáo thì phải cần Vatican phong cho .

Muốn lên chức trong quân đội thì cần Bộ Quốc-phòng phê chuẩn .

Chức sắc trong Phật giáo chỉ cần đến Chùa cạo troc đầu thì muốn chức gì chả được ? Hơn nữa , đi tu để làm nghĩa vụ Tổ-quốc đâu cần đòi hỏi chữ nghĩa nhiều , chỉ cần biết đọc biết viết  . Rồi Chị hỏi lãng sang chuyện khác :

– Em còn nhớ anh Hiếu , anh ruột của Chị đi tập-kết năm 54 không  ? Chừ anh trở vô hoạt động ở làng mình .

Nghe Chị nói , tôi hiểu gần hết vai trò những người đi tu như Chị , như chú Chẫm chú Lữ  , tôi bắt đầu lo sợ bèn nói :

– Em xin phép đi vì gần trể xe .

Ngồi trên xe đò vào Huế , tôi suy nghĩ nếu Việt-công áp lực Mẹ bắt buộc  anh em tôi đi tu giống chị Nhạn , chú Chẫm , chú Lữ thì biết phải làm sao đây ?

Tôi cố nhắm mắt ngủ để quên nổi lo âu , nhưng lại càng suy nghĩ nhiều hơn .

Mới ngày nào trên quê hương thôn xóm thật thanh bình , không bao giờ nghe tiếng bom nổ đạn bay . Mỗi đêm về chỉ nghe câu hát tiếng hò của trai gái làng trên xóm dưới xay lúa giả gạo .

Khi trời gần sáng thì nghe tiếng gọi nhau ơi-ới của những nông-dân hay những bé chăn trâu rủ nhau ra đồng làm ruộng .

Trái lại  bây giờ , khi màn đêm buông xuống , nhà nào nhà nấy ăn tối vội vàng đua nhau xuống hầm trú-ẩn và chỉ nghe tiếng bom đạn gần xa .

Nhiều khi nghe tiếng gào thét của trẻ con giựt mình sợ hãi khi có tiếng nổ gần kề .

Đêm khuya nếu có tiếng người kêu gọi , thì đó là tiếng của cán-bộ nằm vùng đốc thúc dân chúng ra Đình-làng học tập tội-ác Mỹ-Ngụy mà thôi .

Nhưng khổ nổi , ngoài gia-đình tôi ra , hầu như gia-đình nào cũng có con đi tập-kết ra Bắc , và đám con lớn lên sau này đi theo Quốc-gia ( Mỹ-Ngụy ) .

Cũng vì hoàn-cảnh trớ-trêu đó nên ông Quý ở xóm trên đã bị đi học-tập cãi-tạo ở vùng rừng thiêng nước độc trên núi Trường-sơn hơn ba tháng vì lời tâm-sự bộc-trực của ông : “ Ngày xưa thời-thế tạo anh hùng , ngày nay thời-thế tạo cảnh nồi-da-xáo-thịt , anh em ruột bắn giết nhau “ .

Ông chỉ nói có thế mà cán-bộ kết tội ông có tư-tưởng phản-động , bi-quan yếm-thế , không thông suốt đường lối Bác , Đảng là :

“  Những người đi tập-kết là những người con thương yêu của Tổ-quốc . Những người theo Quốc-gia Mỹ-Ngụy là đã đi lầm đường lạc lối , là phản dân hại nước .

Cha Mẹ có bổn phận kêu gọi trở về “ .

Sau đó Họ đem ông ra Đình-làng để phê-bình kiểm-thảo trước nhân dân .

Ông bị tổn-thương thể-diện vì dầu sao Ông cũng thuộc  thành phần khá-giả của thôn làng . Ông bực tức chưởi bới cán-bộ , rồi Họ nhốt ông vô chuồng củi , phơi nắng trước Đình-làng .  Ông căm phẩn hét lên :

“ Nếu kêu gọi con trở về , Tao chỉ kêu thằng San , vì từ khi đi tập-kết tới chừ , gia-đình tao đói khổ , sống chết ra răng , nó đách cần biết tới , chứ thằng Gạ , thằng Đôn đi lính Quốc-gia thì tháng nào cũng đem tiền về nuôi gia-đình “ .

Cán-bộ đánh giá ông thực sự là tên phản-động , nếu không có anh San tập-kết ra Bắc năm 54 , chắc ông bị thủ-tiêu ban đêm từ lâu rồi .

Bây giờ được đặc-ân chỉ đi học-tập cải-tạo .

Mãi suy nghĩ những điều lo sợ có thể xảy ra trong tương lai mà xe đến bến hồi nào không hay , chỉ nghe tiếng thằng bạn lơ-xe-đò thông báo :

– Đã tới bến rồi , mời bà con cô bác xuống xe và nhớ đừng bỏ quên đồ đoàn .

Thấy trời còn nắng sáng , tôi vội vả qua bến xe đò đi Đà-nẳng .

Gần một tuần ở Đà-nẳng , tôi kể hết những sinh hoạt của Mẹ cho hai anh lớn nghe đòng thời thăm dò và thuyết phục hai chị dâu xem chị nào hoan hĩ cho Mẹ sống chung . Kết quả chị Ba bằng lòng , chị Hai lấy lý do bốn đứa nhỏ nghịch ngợm sợ quấy rày Mẹ .Anh Hai sợ Mẹ không chịu đi nên bảo anh Ba xin nghỉ phép một tuần về ở lại Mỹ-chánh , nhắn Mẹ lên thăm rồi đem Mẹ đi luôn . Còn tôi phải ở lại Đà-nẳng giúp đưa rước mấy đứa con anh Ba đi học .

Đúng như  anh Hai nghĩ , anh Ba về ở lại Mỹ-chánh hết bảy ngày phép , nhắn tin cả chục lần , nhưng Mẹ chỉ nhắn lại là Mẹ không đi xa được , MẸ muốn anh Ba  về làng thăm Mẹ .

Nơi Mẹ sống chỉ cách Mỹ-chánh hơn ba cây số , nhưng không còn là vùng an toàn nên ai cũng khuyên anh Ba không nên về và đừng tin lời nhắn đó là của Mẹ .

Thế là chuyến đi của anh Ba không có kết quả , anh Hai quyết định đợi chờ thêm một thời gian nữa xem sao .

Xui xẻo thay chiến tranh vùng địa-đầu giới-tuyến ngày càng khốc liệt , không còn liên lạc đươc với bất cứ ai trong làng . Mẹ xem như biệt vô âm tín .

Ròng rả hơn hai năm sau , trước khi vào Sài-gòn học Đại-học , hơn nữa quá nhớ Mẹ nên tôi đánh liều , không dám cho các anh hay biết vì sợ can ngăn bỡi thân xác tôi đã to lớn , về làng chắc chắn sẽ bị Việt-cộng bắt đi .

Tôi về Huế thăm dò tin tức , ra Mỹ-chánh ở lại một ngày , sau cùng tôi đến được nhà chị Sáu ở Diên-trường . Chị em mừng mừng tủi tủi bỡi xa nhau quá lâu .

Qua một đêm tìm phương cách làm sao bắt buộc Mẹ phải đi .

Chị cho hay lúc nào Mẹ cũng lấy lý do mồ mã Tổ-tiên Nội Ngoại ở đây bỏ đi sao đành và lấy ai nhang khói ?

Bản tánh thủ-cựu “Đất-lề-quê-thói “đã in đậm nét trong tâm trí Mẹ cũng như mọi người dân trong làng nên vẫn là “ Cái khó bó cái khôn “  đời đời kiếp kiếp .

Mặt khác bây giờ Mẹ có được niềm yêu thích làm gương cho dân làng hăng hái đánh đuổi quân ngoại xâm như lời tuyên truyền của bộ-đội Bắc-việt . Điều này làm cho anh em tôi có quyết định mạnh mẻ hơn .

Sáng hôm sau Chị Sáu quyết định đi một mình vào làng đem Mẹ ra , tôi ở lại chăm sóc mấy đứa nhỏ giùm chị .

Tôi căn dặn chị thật kỷ , nếu Mẹ không chịu đi thì phải nói dối rằng mấy cháu nhớ Bà-ngoại nên bịnh nặng , nhờ Mẹ ra thăm chúng nó vài ngày , và nhất là Chị phải gom góp đem theo những gì quí giá nhất của Mẹ , để khi ra đến đây Mẹ không còn  lý do phải trở về lấy .

May mắn thay , đến xế chiều thì Mẹ và Chị trở về . Bây giờ thấy Mẹ quá gầy gò đen đúa nhưng rất may là còn đi đứng khỏe mạnh . Tôi ôm chầm lấy Mẹ và khóc òa như hồi còn bé . Mẹ cũng khóc theo và nói :

– Tụi bây vẫn mạnh khỏe Mạ mừng lắm . Còn thằng út và các anh con thì sao ? 

– Mạ đừng lo , sớm muộn gì chiều mai tới Đà-nẳng sẽ biết .

Mẹ ngạc nhiên hỏi  :

– Ủa ! phải đi Đà-nẳng hả  ? Lần này đi chắc lâu lắm mới trở về hả con ? Mạ rất tiếc đàn gà mới nở và luống rau lang mới trồng .

Chị Sáu xen vaò :

– Còn gì nữa mà đòi về , Làng mình giờ đây trông giống ngôi làng thời Tiền-sử . Nguyên cả làng không một căn nhà nào còn nguyên vẹn . Nhà mình chỉ còn chơ vơ vài cây cột cháy dở . Mẹ sống chui rúc trong căn hầm chống đạn bom anh Ba đào cho Mẹ mấy năm trước , cũng giống như tất cả dân trong làng .

Tôi an ủi Mẹ :

– Mẹ biết bây giờ người ta bỏ của chạy lấy người mà vẫn không kịp , rất nhiều người mất mạng trên đường chạy loạn , Mẹ đã đến được nơi an-toàn rồi thì còn tiếc gì mấy thứ đó ? .

Sáng hôm sau tôi và Mẹ khăn gói lên đường đi Đà-nẳng thật sớm .

 

Trong cuộc chiến Việt-nam , tôi và Mẹ dù hai thế hệ nhưng cùng là Chứng-nhân sự hoang-tàn đổ-nát của quê-hương .

Mẹ yêu quê-huơng đất nước , thương con cái , qua ý-tưởng đơn-thuần của Mẹ . Không cần biết Cộng-sản hay Quốc-gia .

Kẻ nào đem bom đạn cày nát quê hương xóm làng giết chết dân oan là Mẹ chống . Vì chính Mẹ đã mắt thấy tai nghe những bi-thương thống-khỏ của dân lành qua những trận mưa bom, những lần giao-chiến , cho nên , những khẩu hiệu :

“Đánh bại Cộng-sản để giành lại Tự-do “ . Mẹ và  hầu hết 80% dân quê Việt-nam nghe sao mơ hồ quá . Vì quả thực , một ngàn năm giặc Tàu đô-hộ , một trăm năm bỡi giặc Tây , Dân làng và Mẹ vẫn sống thanh bình tự do  hơn thời gian này .

Và những khẩu-hiệu :  “Đánh đuổi quân xâm lăng Mỹ và bọn tay sai Mỹ-Ngụy đã  cày nát quê  hương , giêt chêt dân lành “ . Nghe quá dễ hiểu , rất thực-tế và  nhanh chóng thấm sâu vào lòng dân quê .

Thuỡ còn tuổi học trò , tuổi sinh viên , tôi nghe lời Mẹ tuyệt đối , những lời Mẹ nói là những Mệnh-lệnh :  “ Các con hãy nghe theo và làm theo những gì các Thầy ở Chùa Từ-Đàm , Chùa Thiên-Mụ , …chỉ dạy “ .

Với bầu nhiệt-huyết tuổi thanh xuân , tôi cũng như hàng triệu sinh viên học sinh đã lăn xả vào những cuộc xuống đường đấu tranh bỡi thấy Phật-giáo-đồ bị đàn áp .

Chính Mẹ và dân chúng Huế đã khóc hết nước mắt khi chứng kiến cảnh các Thượng-tọa , các Đại-đức Phật-giáo  bị bỏ đói , bị trói  tay lên đầu , nhốt dưới hầm tối-tăm ngập nước lên tới ngực trong các ngục tù “ Chín-Hầm “ tại Huế .. Các thầy được giải thoát khi chế-độ Nhà Ngô sụp đổ .Toàn dân oán hờn Gia-đình-trị Nhà Ngô ngút tận trời cao  .

Khi lớn lên , vào quân đội , Tôi cũng đã tuyệt đối tuân hành theo Mệnh-lệnh cấp trên , không cần biết đó là trò Chính-tri hay  hậu quả sẽ như thế nào  ? .

Gần nửa đời người của Tôi đã bị trrói buộc bỡi Mệnh-lệnh . Hay nói đúng hơn , hàng triệu thanh niên cùng trang lứa với tôi cũng cùng chung ý-chí và bầu nhiệt huyết yêu quê hương quốc-gia dân tộc , đã bị lợi dụng tối đa bỡi bên này hay bên kia .

Từ khi Mẹ mất , Nước mất , Tôi may mắn chạy được ra nước ngoài , không còn bất cứ Mệnh-lệnh nào trói buộc  .

Tôi tự do suy nghĩ những gì về cuộc đời Tôi về số phận đất nước Việt .

Nhưng than ôi ! . Tất cả đều đã mất mát , muộn màng .

Những tài-liệu chính trị , những trang Web , những sử-sách viết bằng nhiều ngôn ngữ trên thế-giới nói về cuộc nội-chiến Quốc-Cộng tại Việt-nam , trong đó có những đoạn mô-tả sự đạo-diễn tài tình của cán-bộ Cộng-sản nằm vùng trong màn kịch  “ Ngục-tù Chín-hầm  “ tại Huế .

Các Thầy được cứu thoát ở ” Chín-hám “  chính là những cán bộ Cộng-sản được lệnh cạo đầu và nhịn đói vài ngày trước đó  .

Dân Huế trong đó có Mẹ được  cổ-vỏ , khuyến-khích  đến chứng kiến cảnh thương tâm giải-thoát các Thầy .

Và còn rất nhiều tài-liệu , nhiều dử-kiện cho thấy khi ký Hiệp-định Genève chia đôi đất nước , Cộng-sản Việt-nam đã gài lại hàng ngàn cán-bộ . Sau này phân phốii vào các guồng máy chính-quyền miền Nam và một số lớn đưa vào thụ-huấn trong các Quân-Binh Chủng Hãi Lục Không quân .

Do đó , Đệ nhất Cộng hòa với nền dân chủ phôi thai của Cụ Ngô-Đình-Diệm đã bị bủa vây dày đặc màn lưới Vô-sản  Cộng-sản , trong khi Cụ cai trị đất nước theo phương pháp : “ Hoàng -Thượng phê chuẫn Tấu-Chương “  mà phần lớn Tấu-Chương do phe theo và thân Cộng tấu trình .

Cụ không còn tin tưởng ai , buộc lòng phải dùng người gia-đình  và bà con thân thuộc .

Hậu quả đưa đến tai tiếng “  Gia-Đình-Trị “  làm cho Đệ-nhất Cộng-Hòa sụp đổ và Anh Em Cụ bị giết chết thảm thương  .

Bây giờ nghĩ lại ngày xưa Tôi và hàng triệu thanh niên sinh viên Phật-tử giống như đàn Cừu non , ai lùa đi đâu thì đi ,  hay đàn Ngựa được huấn luyện thuần thục , hai mắt bị bít kín , tuân theo mệnh-lệnh của người cưỡi đi đường .

Sau khi bức-tử nền Đệ-nhất Cộng-hòa , Các Tướng-lảnh tranh giành vai trò lảnh-đạo đất nước , so sánh lòng yêu thương Quốc-gia Dân-tộc và tài năng lảnh-đạo thì thua kém Cụ xa  , cọng thêm sự kềm kẹp vì quyền-lợi của đất nước Hoa-Kỳ , nên Nga Tàu có nhiều cơ-hội bóp chết nền Đệ-nhị Cộng-hòa Nam Việt-Nam nhanh chóng hơn  .

Tóm lại , Nam Việt-nam  thời gian này không có Thiên-thời , không Địa-lợi và cũng không có Nhân-hòa .

Điển hình như Cụ Trần văn Hương , một người với tấm lòng thiết tha yêu thương Quê huơng Đất nước , trong khi chọn nhân sự vào Nội-các , có người hỏi tại sao Cụ chọn những người có ít nhiều dính dáng tham nhũng ? . Cụ thẳng thắn trả lời  :

“  Xách giỏ ra Chợ không còn có cá tươi , đành phải mua cá ươn vậy “ .

Có lẽ trong thâm tâm Cụ nghĩ ,  với tài năng của mình , giỏ cá ươn này nay mai sẽ trở thành thơm ngon .  Nhưng rất tiếc , không như Cụ nghĩ ,  bỡi vận mệnh Việt-nam  lúc này nằm trong tay Mỹ-Tàu-Nga .

Hôm nay ngày giỗ Mẹ , cũng là ngày một số người làm đám giỗ Cụ Ngô .

Lễ bái Mẹ xong Tôi vội vả đi đến  Nhà Thờ , nơi người ta làm lễ giỗ Cụ . Tôi muốn vào nhưng bước chân chùng lại , vì sợ sẽ trở thành đứa con bất hiếu của Mẹ , bèn đứng bên ngoài nguyện cầu …….

 

                                                         Tâm-Phương .




Phạm Thắng Vũ : Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975

Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975
 
Bài dưới đây là tâm tình của anh H, một người bà con trong họ đã kể cho nghe, PTV chép lại.

 

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi đang ngồi trong căng tin của nhà máy Hoá Chất Việt Trì thì tai nghe những tiếng la hét ầm ĩ vui nhộn từ phòng thông tin của Công Đoàn nhà máy.    “Thắng rồi… Ta thắng rồi… Dương Văn Minh đầu hàng rồi.”  Tôi bỏ dở cốc nước chè và cùng vài người chạy vội ra xem chuyện gì. Một nhóm công nhân đang vây chung quanh anh Minh, thư ký Công Đoàn cho biết tin vừa nhận được qua đài Tiếng Nói Việt Nam là quân ta đã chiếm được Dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Nghe vậy, những tiếng hét lớn vui mừng một lần nữa lại vang lên. Những ngày trước đây, kể từ sau trận đánh vào Buôn Mê Thuột, Đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí Minh của nhà máy đã làm một áp phích lớn vẽ bản đồ của 44 Tỉnh miền Nam Việt Nam Cộng Hòa và dựng nó gần cổng ra vào. Trên tấm áp phích đó, cứ mỗi khi được tin quân ta giải phóng thêm tỉnh nào thì lập tức tỉnh đó được vẽ một lá cờ Đỏ sao Vàng ngay. Tôi đã thấy càng lúc càng nhiều lá cờ Đỏ sao Vàng xuất hiện trên tấm áp phích chỉ trong một thời gian ngắn đến nỗi phải hoài nghi, dù không nói ra mặt. Bây giờ, điều nghi ngờ đó đã thật rồi, mừng quá đi. Thôi từ nay là hết chiến tranh và những thanh niên miền Bắc sẽ không còn phải xuôi Nam chiến đấu trong chiến trường B nữa. Và điều quan trọng tôi sẽ gặp lại người cha ruột đã xa cách gia đình tới 21 năm rồi. Hôm đó, như để cùng chào mừng với niềm vui lớn của đất nước, trừ những khâu cần phải vận hành máy chạy liên tục còn tất cả các khâu lao động trong các phân xưởng và các phòng ban khác được ban lãnh đạo nhà máy cho nghỉ việc sớm để mang tin vui về cho gia đình biết. Tôi phóng nhanh xe đạp về nhà báo tin cho mẹ tôi biết ngay tin vui này.
Về đến nhà, đắt xe vào trong, chưa kịp khoe tin thì mẹ tôi đã nói: “Sao nay con về sớm vậy? Bộ đội vào tới Sài gòn rồi con biết chưa?”.  Tôi trả lời mẹ là đã biết, được nhà máy cho về sớm định kể mẹ nghe đây. Mẹ tôi ngồi ở bàn sát cửa sổ như đang suy nghĩ điều gì. Tôi cởi áo đi ra giếng nước sau nhà múc nước tắm sau đó quay trở vào mà vẫn thấy mẹ tôi ngồi yên tại chỗ. Tôi bước lại bên bà, hỏi: “U sao vậy?”  và đặt tay tôi lên trán bà, tiếp: “U cảm hay sao nói cho con biết với”. Nhưng bà nhìn tôi, miệng cười mỉm, trả lời:
– Không con. Mẹ khoẻ mà… có điều mẹ đang nghĩ về thầy con thôi. Không biết thầy con bây giờ trong đó đang như thể nào?
Nghe thế, tôi đi mở cái tủ gỗ gụ cũ, lục lọi rồi lấy ra tấm ảnh đen trắng chụp chân dung cha tôi đã cũ, ố vàng. Trong ảnh, một người đàn ông mặc bộ đồ trận rằn ri, ánh mắt nghiêm nghị, đứng cạnh lề đường một khu nào đó trong thành phố Sài Gòn của miền Nam. Tấm ảnh này là tấm duy nhất, gia đình nhận được từ cha tôi, khi hai miền Nam-Bắc còn liên lạc được bằng thư từ.
 
Cha tôi, một chiến binh trong lực lượng Dù thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp. Những ngày cuối cuộc chiến năm 1954, đơn vị ông được máy bay thả xuống tiếp sức cho căn cứ Điện Biên Phủ đang bị vây hãm để không lâu sau đó, căn cứ nầy lọt vào tay bộ đội Việt Minh. May mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh rồi ông được trả tự do và theo đơn vị quay về Hà Nội. Những ngày cuối của Hiệp Định Geneva, ông đã cho người về quê Sơn Tây đón mẹ con tôi lên để cùng ông vào miền Nam nhưng chuyện không thành, ông phải theo đơn vị vô Sai Gòn trước. Thực ra chuyến đi ra Hà Nội khi đó, đoàn người làng có hai mẹ con tôi đã bị cán bộ Việt Minh lừa đưa vào tạm trú trong khu rừng vắng. Khi đoàn người được phép ra khỏi rừng thì thời hạn di cư đã qua, gia đình bị chia cắt từ đó lúc tôi mới được gần một tuổi.
 Hai mẹ con quay trở về Hà Nội sống trong gian nhà của ông ngoại tôi. Là dân thành thị, mẹ tôi biết cắt may quần áo rất khéo và nhờ cái khéo tay này mà bà đã nuôi tôi ăn học. Tôi được nghe kể là các cán bộ đã tìm bà để đặt may quần áo cho họ rồi khi các Hợp Tác Xã May Mặc giải thể, bà đã tìm mua sở hữu thực thụ được một máy may cũ và nhờ vậy mà cuộc sống đỡ vất vả so với nhiều người khác. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với thành phố Hà Nội từ những làn sương mờ buổi ban mai trên mặt Hồ Tây, mùi không khí đường phố quyện với lá cây sau các cơn mưa rào. Những buổi trưa mùa Hè, trốn mẹ đi chơi, tôi cùng chúng bạn đi lang thang vào vườn bách thú, quanh bờ hồ hoặc trèo lên những cây bên vệ đường để tìm bắt các chim non trong tổ. Có khi rình ném đá vào nhà hàng xóm buổi nghỉ trưa để rồi cả bọn ù té chạy khi chủ gia mở cửa ra nhìn. Khi tuổi lớn hơn, tôi mới nhận ra những khác biệt giữa mình và các bạn đồng trang lứa mỗi lần nghe chuyện chiến tranh về miền Nam. Có những buổi sinh hoạt chung mà người phụ trách không cho tôi tham dự. Lúc đó, tôi cũng không hiểu tại sao? Có khi về hỏi mẹ thì bà chỉ nói:        “Thôi con, họ không cho thì về nhà với mẹ”. Rồi những năm chiến tranh lan ra miền Bắc. Máy bay Mỹ ném bom nhiều nơi và ngay ở cả Hà Nội nữa. Những đợt bom chùm tuốt từ trên mây rải xuống đã phá huỷ nhiều khu phố lớn. Cảnh người chết mất xác trong các đống gạch vụn cùng lửa khói cháy nghi ngút khiến ai cũng sợ. Đành phải kéo nhau đi sơ tán về các miền quê cho an toàn. Hai mẹ con tôi về quê nội trong một làng ở tỉnh Sơn Tây cũ. Đây là vùng bán sơn địa có ruộng có vườn cùng các núi đồi rất đẹp. Trong làng có nhiều đứa thiếu niên trạc tuổi tôi và tôi rất muốn làm bạn cùng chơi với chúng nhưng họ không thích tôi ra mặt. Trẻ em đã vậy mà người lớn cũng nói xấu, dèm sau lưng mẹ tôi mỗi khi họ gặp mặt nhau trên đường hoặc trong phiên chợ. Tôi đành kết bạn với mẹ thôi, không ai khác.
 
Đến tuổi trưởng thành, thấy nhiều thanh niên xung phong vào bộ đội, tôi cũng giơ tay xung phong nhưng bị cán bộ trong Ban Tuyển Quân từ chối. Tuổi thanh niên, hình ảnh người lính với cây súng cuốn hút tôi lắm nhưng họ không nhận thì đành chịu. Về kể lại cho mẹ tôi biết, bà chép miệng nói làm sao họ cho con vào bộ đội được rồi trách khẽ: “Có mỗi một mình mẹ mà con định bỏ đi sao!”. Tôi rất chật vật khi xin một việc làm. Đơn gửi tận tay nhiều nơi mà không hề có chút hồi báo làm tôi buồn. Không lẽ thân đã lớn lại cứ để mẹ phải nuôi mình mãi nhưng đi xin việc không ra. Tôi có lúc nhủ thầm chắc số mình đến phải làm ruộng nhưng ruộng, nhà cũng không có. May mắn làm sao, mẹ tôi tình cờ gặp lại một người bạn học cũ với bà năm xưa khi còn trẻ. Người này nay là một cán bộ cao cấp và nhờ sự giúp đỡ của ông ta, tôi đã vào làm việc trong nhà máy Hoá Chất Việt Trì. Rồi cũng nhờ ông ta giúp mà tôi mới được công đoàn nhà máy phân cho một phòng nhỏ trong khu tập thể. Tôi đưa mẹ lên đó cùng sống chung.
Hai tháng sau cái ngày chiến thắng, mẹ tôi về lại Hà Nội để dò hỏi tung tích cha tôi. Trong họ hàng bên nội, có người vào miền Nam công tác và qua đó đã tìm được các thân nhân theo các địa chỉ cũ năm xưa. Khi quay trở lại miền Bắc, người bà con này gặp bà và cho biết các tin tức về cha tôi. Theo đó, ông là một sĩ quan quân đội cao cấp của chính quyền miền Nam và đã phải bị học tập cải tạo. Thêm một tin nữa, ông đã lập gia đình khác và có được hai người con gái. Quay về nhà mẹ tôi cho biết tin và khi kể chuyện, không hiểu vì nghĩ đến việc học tập cải tạo rồi liên tưởng những cảnh tù tội của cha tôi năm xưa lúc bị bắt làm tù binh hay vì cám cảnh thân phận mà mẹ tôi khóc rất nhiều.
 Tôi dỗ mẹ đừng khóc nhưng rồi tôi cũng khóc theo mẹ.
Mẹ tôi rất muốn đi vào miền Nam ngay để biết thêm các tin tức về thầy tôi nhưng khi đó giao thông hai miền còn khó khăn lắm, vẫn còn hạn chế chỉ ưu tiên cho những cán bộ đi công tác. Đường xuyên Việt nhiều nơi phải sửa chữa và đường sắt nhiều vùng đã mất hẳn từ lâu. Chiến tranh bao năm trời đâu phải một sớm một chiều thông đường ngay được. Cơn háo hức vào miền Nam để tìm gặp cha tôi cùng gia đình riêng của ông cũng dần nguôi ngoai trong lòng mẹ tôi. Tôi vẫn tiếp tục đi làm, cũng không hề nghĩ là có ngày mình đặt chân vào miền Nam và thành phố Sài gòn. Nhà máy Hoá Chất Việt Trì tổ chức một cuộc họp lớn có sự tham dự của cán bộ Tổng Cục Hóa Chất từ trung ương về chủ trì. Theo đó, nhà nước cần khá đông cán bộ và công nhân viên trong ngành xung phong vào tiếp quản các nhà máy hóa chất trong miền Nam. Tin về một xã hội miền Nam đói nghèo, lạc hậu do chính miệng những bộ đội miền Bắc từ chiến trường miền Nam trở về kể lại trong các tháng trước đã làm con số người xung phong chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng sợ khổ, sợ phải xa gia đình để đến công tác trong vùng đất đói nghèo đến nỗi cả bát ăn cơm cũng không có. Kết quả, công đoàn nhà máy phải họp và xét hoàn cảnh từng người một để chỉ định bắt buộc. Tên tôi đã được họ chọn, đành phải chuẩn bị hành lý để theo đoàn vào Nam dù tôi không muốn.
Đường sắt vẫn chưa sửa xong, chúng tôi 18 người ngồi nằm chung với hành lý trong chiếc xe tải Molotova cũ kỹ của đoàn xe vào miền Nam. Trên xe tuy mệt nhưng có cái thú ngồi ngắm cảnh hai bên dọc đường. Chúng tôi qua nhiều vùng, địa danh trước giờ chỉ nghe tên trên báo. Hố bom, cầu sập, đường bị bóc từng tảng nhựa, các khu dân cư, chợ… xuất hiện đây đó dọc theo các đoạn đường xe qua. Ở các vùng xa thủ đô, người dân lam lũ, nghèo khổ, thiếu thốn lộ rõ trên ánh mắt, quần áo và khung cảnh sống. Miền Bắc quê hương xã hội chủ nghĩa còn như vậy thì miền Nam chắc chắn phải nghèo, thiếu thốn ghê gớm. Tất cả cũng do chiến tranh, do đế quốc Mỹ reo rắc mà ra…, người đi chung trên xe kết luận.
 
Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hoà. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này và tuy không ai nói với ai nhưng đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam. Rồi chúng tôi được phân công vào công tác trong một nhà máy có cái tên VICACO. Một nhà máy sản xuất chất Sút (NaOH) từ muối biển và cả Acid Chlohidric (HCL) nữa. Một nhà máy bề ngòai trông rất nhỏ mà không ngờ bên trong lại lắp đặt các máy móc tối tân, sản xuất được các hóa chất với sản lượng, hàm lượng rất cao gấp nhiều lần so với công nghệ tại miền Bắc. Chúng tôi ngạc nhiên và ngầm thán phục trong bụng. Nhìn những công nhân miền Nam đang làm việc tại đây rồi sau đó làm việc chung với họ, tôi mới thấy người dân miền Nam khác xa người dân miền Bắc. Kiến thức chuyên môn và xã hội của họ hơn hẳn chúng tôi. Kỹ sư hơn hẳn kỹ sư ở miền Bắc và công nhân cũng vậy. Một sự rụt rè, cẩn thận tự nhiên nẩy sinh trong đoàn tiếp quản chúng tôi. Ai cũng sợ người trong nhà máy tại miền Nam này biết trình độ thực sự của cả đám chúng tôi. Sợ họ cười, nỗi lo chính trong lòng vì dầu gì mình cũng thuộc phía chiến thắng. Về nằm nghỉ trong căn phòng mà được biết trước đây là các phòng dành cho công nhân ngủ qua đêm nếu phải ở lại tăng ca, tôi suy nghĩ xã hội miền Nam không hề lạc hậu về công nghệ về con người… như lời nói trước giờ vẫn được nghe. Ngay cả trong buổi họp khi chọn người xung phong vào tiếp quản, cán bộ ngành từ trung ương cũng đã nói như vậy khi động viên cán bộ công nhân viên. Những dãy nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi từ các trang bị như bàn ghế, giường ngủ, quạt trần, phòng vệ sinh, đèn chiếu… Ở đây, trong khu vực khép kín của khu công nghệ còn được như vậy thì trong thành phố Sài gòn chắc chắn phải rất đẹp. Tôi cũng chưa nghĩ sẽ ra sao khi tìm gặp được hai cô em gái tôi.
 
Rồi một ngày tôi theo đoàn vào làm các thủ tục công tác trong một toà nhà Tổng Cục Hoá Chất vừa tiếp quản nay trở thành trụ sở của Công Ty Hóa Chất Cơ Bản miền Nam nằm gần chợ Bến Thành. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thang máy khi lên một phòng tuốt trên tầng thượng. Sau khi làm xong các giấy tờ và thụ tục, chúng tôi được thoải mái đi thăm phố xá. Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài gòn tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam. Giờ đây đi bộ trên các con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền Bắc quá sức lạc hậu, nghèo nàn… từ bộ cánh (quần áo) trên người. Tôi rõ ràng xa lạ với các tiện nghi đang được người dân trong thành phố này sử dụng. Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang trọng đầy ắp hàng hoá thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi được thấy. Có tiền cứ việc vào mua thoải mái khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số hàng ít ỏi như cảnh thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc. Phố xá thì thôi, những tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường. Khung cảnh y như ở nước ngoài, một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe. Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam nói chính xác là cô gái Sài gòn đang dạo bước trên đường. Họ đẹp quá sức, như tiên… từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ lộ rõ– Thưa ông, ông dùng chi?
Trời ơi! Người hầu bàn này quá lịch sự khi tiếp xúc với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của mậu dịch viên trong các tiệm ăn ngoài miền Bắc. Tôi lại nghĩ, hay ông ta biết tôi là cán bộ chế độ mới qua quần áo mặc trên người nên xưng hô như vậy? Tôi gọi nước uống và ngầm để ý xem sao. Nhưng không, bất cứ có khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một cách tiếp đón như vậy. Rất tự nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch.
 
Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra cả miền Nam không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội… mô tả về con người và xã hội của chế độ Ngụy quyền tay sai đế quốc Mỹ. Đây là mô hình của một xã hội văn minh và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc.
 
Tiếc thay! Một xã hội như vậy lại vừa bị cướp mất đi.

Phạm Thắng Vũ