Hồ Nam : TRẦN PHONG GIAO NHÀ VĂN BẤT TÚC NHÀ BÁO HỮU DƯ

TRẦN PHONG GIAO NHÀ VĂN BẤT TÚC NHÀ BÁO HỮU DƯ

Trần Phong Giao là bút hiệu của người tên Trần Đình Tĩnh sinh năm 1930 tại Nam Đinh  và là một trong hai đệ tử ruột của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đó là Duyên Anh và Trần Phong Giao.Thời còn sống Duyên Anh thường gọi nhạo Trần Phong Giaolà ông ‘’bao chỉ xanh’’ ông ‘’phu gạo’’ vì cái tường mạo to lớn dềnh dàngTheo nhà văn Văn Quang thì Trần Phong Giao tốt nghiệp khóa 4 trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa này ra trường năm 1954 và  ra trường Trần Phong Giao đã  đào ngũ ở lai Hà nội  vì ‘’ tưởng bở  sao đó’’nhưng ít lậu  vỡ mộng vôi vàng di cư vào Nam

Di cư vào Nam Trần Phong Giao được ông thầy Nguyễn Mạnh Côn giời thiệu với Văn Bút Viêt Nam  nhận  phụ trách tòa soạn tờ nội san Tin Sách của Trung Tâm  Văn Bút Việt Nam.Chính thời gian này Trần Phong Giao cho xuât bản hai tập truyện ngắn Ngồi  Lại Bên Cầu và Nửa Đêm Thưc Giac.Với lối viêt văn  ảnh hưởng nặng nề phong cách Tư Lưc Văn Đoàn  nên hai tập truyện ngắn này của Trần Phong Giao xuất bản không gây đươc tiếng vang nào  cả thành ra Trần Phong Giao phải xoay qua  xoay qua  lãnh vực dịch thuật

Năm 1964 nhờ sư đề bạt của Nguyễn Mạnh Côn Trần Phong Giao đươc ông chủ nhà in Nguyễn Đình Vương lúc nhà in thiếu việc làm phải xuất bản tạp chí Văn cho có công việc làm ăn nên ông Nguyễn Đình Vương trao cho Trần Phong Giao làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn xuât bản mỗi tháng 2 kỳ với mục đích giúp  nhà in Nguyễn Đình Vượng có   việc làm  và có thu nhập

Với tạp chí Văn Trần Phong Giao có hai bút hiêu viêt báo đó là Thư Trung va Mõ Làng Văn .Với các bút danh này Trần Phong Giao khá nổi’’đình đám’’ nhưng tới giữa năm 1972 Trần Phong Giao viêt về hai câu thơ mô tả nhân cách ngươi xứ Huế của cổ nhân’’Sơn bât cao thủy bât thâm .Nam đa trá nữ đa dâm’’ đã khiến mây nhà văn nữ xứ Huế’’tác dăng’’ nổi giận làm khó chủ nhiệm tạp chí Văn Nguyễn Đinh Vương   khiến ‘’già’’ Vương phải cho Trần Phong Giao nghỉ việc dùng Nguyễn Xuân Hoàng thay thế Bị ‘’văng’’ ra khỏi tờ Văn Trần Phong Giao xuât bản tờ Chính Văn nhưng chỉ được một số phải ngưng vì  không có độc giả nên đành làm nhà xuất bản Giao Điểm sống qua ngày

Sau ngày 30 tháng tư 75 Trần Phong Giao không bị bắt đi cải tạo nên mon men làm nhà văn’’30’’ tuy nhiên lâu lâu có nhà văn nhà thơ cũ nào qua đời như Quách Tấn chẳng hạn thì nhà báo’’chầu’’Trần Phong Giao mới có một bài  do đó thiên hạ nên xỏ xiên gọi Trần Phong Giao là nhà báo’’ kên kên’’

Cuối thế kỷ hai mươi Trần Phong Giao phụ vơ bán chuối ở Chơ Tân Đinh và lâu lâu dịch sách tiếng Pháp ‘’ chui’’ cho mấy tay ‘’đầu nậu ‘’ sách.Sau cái năm Trần Phong Giao bị cháy căn nhà ở gần cầu Kiệu hàng xóm ca sĩ Duy TrácTrần Phong Giao bán nhà đi ở nhơ nhà con gái ở đương Hai Bà Trưng Trẩn Phong Giao có vẻ buồn.Tuy nhiên tới cuối đời khi Trần Phong Giao bị ung thư đai tràng con gái khá có nhà ở Binh Phú thì ông có vẻ vui với chuyện làm tự điển tiểu truyện về các tác giả Viêt Nam

Vì bệnh ung thư đai tràng Trần Phong Giao qua đời ngày 12 tháng 4 năm 2005

Trần Phong Giao khi qua đời đã đươc Trần Hoài Thư làm lễ tưởng niệm và ghi công tờ Văn đã tạo được một thế hệ nhà văn nhà thơ trẻ trong đó có Trần Hoài Thư Mường Mán Hồ Minh Dũng.Cùng với Trần Hoài Thư Nguyễn Xuân Hoàng và Du Tử Lê cũng viêt bài tưởng nhớ Trần Phong Giao

Tổng  kêt sư nghiệp của Trần Phong Giao có thể kêt luận Trần Phong Giao là nhà văn bât túc nhưng nhà báo hưu dư

HỒNAM

TRÍCH THƠ TRẦN PHONG GIAO

SÁU MƯƠI TUỔI CẢM TÁC

Khai bút đầu xuân gõ máy chơi

Tưởng mình’’cả tiếng lại dài hơi ‘’[1]

Nào ngờ mắt kém tay run rẩy

Đã lão tuy vừa chớm sáu mươi

Tuổi tri thiên mệnh tưởng được nghỉ

Nào ngờ vợ ốm thêm vận bĩ

Lại thưc thâu đêm mài chữ bán

Bẩy hào một từ sung sướng nhỉ?

Chữ nghĩa Tây Tầu chót dở dang

Nôm na phá nghiệp kiếm ăn soàng[2]

Mười ba năm đã quên cầm bút

Nghĩ đến Kiều thêm nỗi bẽ bàng?

Xin hiểu long tôi hỡi nguyệt vàng

Mưu sinh hệ lụy của trần gian

Tôi còn sống nhé tôi  chưa chêt

Chỉ có tên xưa cát bụi tan

Trà rượu xuân tình vẫn cứ chơi

‘’Cơm toàn rau muống chẳng chiên ngôi’’[3]

Đã lỡ phong lưu nên phải gượng

Sáng dầu kim tận cũng đành vui

Tưởng lúc về già được con nuôi

Chơi chim chơi cảnh hưởng nhàn chơi

Hào khí chưa mòn râu tóc bạc

Mới biêt cao xanh chẳng đãi ngươi

Trời cao mây trắng ngẩn ngơ trôi

Ngoài hiên hoa mướp nhởn nhơ cười

Thơ xuân đánh chữ chê ông quá

Chữ nghĩa Thư Trung chán mớ đời[4]

Đầu năm khai bút à khai máy

Rượu uống mềm môi vẫn chẳng say

Ngậm ngùi pha loãng men cay đắng

Hàng xóm hoa mai lơi lả bay

Một bầu tâm sự gửi về đâu?

Mênh mang giấy trắng ngản ngơ sầu

Trước đèn nào biết xuân hay tết

Chỉ biêt lòng riêng nỗi quặn đau

Khai bút đầu xuân gõ máy chơi

Tâm sự vô cùng cố hữu ơi

Đã  không thương nhớ đừng thương sót

Hãy mặc tôi và tuổi sáu mươi

1990

Trần Phong Giao

1.Mõ Làng Văn một bút hiêu ngày cũ

2.Thơ Tản Đà

3.Thơ Nguyễn Trãi’’bản duy mục túc tọa vô chiên

4.Thư Trung một bút hiêu ngày cũ

MINH HỌA

Bươc lạc vào trương văn trận bút

Với Mõ Làng Văn rồi Thư Trung

Viết ba diều bốn chuyện lăng nhăng

Gái Huế’’bề hội đồng’’ chêt giấc

Mất đât đứng như chó mât chủ

Đi làm tự điển các tác giả

Tiểu sử Thái Dịch Lý Đông A

Cuộc đời  cách mạng Trương Tử Anh

Làm chưa  bao nhiêu ung thư ruột

Đời ngươi luôn là kẻ lỡ tầu

Biết làm sao khi ta cầm bút

Luôn bước hụt trương văn mênh mông

VươngTân

 

 

 

 

 




Hồ Nam : ĐÔNG ANH NGƯỜI LÀM THƠ TÌNH TẦM CỠ

ĐÔNG ANH NGƯỜI LÀM THƠ TÌNH TẦM CỠ

 

Đông Anh là bút hiệu của một sĩ quan quân lực VNCH từng tốt nghiệp trường đào tạo sĩ quan hiện dịch Đà Lạt khóa Cương Quyết ra trường năm 1954 đó là sĩ quan Nguyễn Đình Tạo sinh quán tại Đông Anh trước đây thuộc tỉnh Phúc Yên nay là ngoại thành Hà nội.

Đông Anh từng đi tù Cộng Sản  tới 9 năm và ra tù năm 1984, năm 1985 Đông Anh đã vượt biển may tới đảo Galang viết hồi ký Chín năm Tù Ngục rồi tới Mỹ định cư năm 1986, ba năm sau 1989 cho xuất bản hồi ký Chín năm Tù Ngục, mười một năm sau xuất bản tập thơ Chim di trú, mười bốn năm sau xuất bản tập thơ Hoa Giáp Đông Anh khi tròn sáu mươi tuổi đời, mười sáu năm sau xuất bản Ngựa vực hồn thơ và hai mươi mốt năm sau xuất bản Vui Tuổi Hạc

Con người thơ Đông Anh là con người nặng chất thơ tình, ngay trong thơ tranh đấu Đông Anh cũng vẫn lãng đãng chất tình yêu đâu đó

Ngày anh đi Galang buồn không em?

Hải đảo vẫn thành sương chìm?

Cỏ cây vẫn gục đầu rũ rượi?

Anh đi không có gì đổi mới

Hải đảo vẫn man mác buồn thêm

Anh đi không có gì để lại

Với nỗi lòng mang nặng tình em

Một con tim

Chia em một nửa….

Nửa kia mang đi muôn phương

Chất chứa tình đau quê mẹ…

Galang buồn kẻ ở ngươi đi

Đã thấm vào lòng bao nhiêu nước mắt

Khóc làm chi em

Con đường trươc mắt

Là đang đi mang hoài bão quay về

Con người thơ Đông Anh rõ ràng là người thơ của tình yêu, của đôi lứa của những nỗi lòng, của những trái tim đang thổn thức vì những tình cảm yêu đương

 

Ngàn năm không bao giờ khác

Mơ màng trong bóng hình em

Bên nhau đời đời kiếp kiếp

Nhưng thuyền trôi bóng sông riêng

Khi yêu nói lời chân thật

Từ lòng từ cả con tim

Cho nhau cả từng mảnh vụn

Tưởng rằng cho đến ngàn năm….

Tình yêu muôn vàn đô lượng

Ai ngươi đi trước về sau

Nước mắt hòa tan trong máu

Chỉ vì một phút bôn ba

Vươn tay với hoài không tới

Cuộc tình như gió thoảng qua

Phải nói là thơ tình Đông Anh thuộc loại tầm cỡ, những lời tình yêu của Đông Anh là những lời xuất phát từ trái tim, những lời  xuất phát từ  những rung động chân thật nhât từ những rung động từ cõi lòng thổn thức không cùng

Cái cõi tình của Đông Anh rất là bất hủ muôn mầu muôn vẻ nó vào thơ Đông Anh như một cõi riêng làm cho người đã vào cõi thơ tình Đông Anh như vào mê trận vậy, đã vào là đắm say là ngây ngất.

HÔ NAM

 

TRÍCH THƠ ĐÔNG ANH

Phụ Tình

Ngàn năm không bao giờ khác
Mơ màng trong bóng hình em
Bên nhau đời đời kiếp kiếp
Nhưng thuyền trôi bóng sông riêng

 

Khi yêu nói lời chân thật
Từ lòng, từ cả con tim
Cho nhau cả từng mảnh vụn
Tưởng rằng cho đến ngàn năm

 

Đời có bao điều huyền hoặc
Bên em hay ở anh nào?
Tình yêu muôn vàn độ lượng
Ai người đi trước về sau?

 

Nước mắt hòa tan trong máu
Chỉ vì một phút bôn ba
Vươn tay với hoài không tới
Cuộc tình như gió thoáng qua

 

Cho rằng tình yêu trí trá
Cho nên hết cả tình thương
Cho rơi tan tành hạnh phúc
Cho đời ngăn ngắt sau lưng

Đông Anh

 

GỬI ĐÔNG ANH

Người chín năm tù làm thơ tình

Giọng yêu đương  mật rót vào tim

Lời tình tự như chim gù buổi sáng

Chắp cánh bay bổng chin tầng  mây

 

Tình yêu như hoa nở buổi sáng

Đóa mặt trời rực rỡ bình minh

Tình yêu như dạ lan buổi tối

Hương nồng nàn bí mật trong đêm

 

Cõi tình yêu có nhiều nước mắt

Và cũng nhiều ẩn ức trong lòng

Ai đã yêu mà chẳng từng khóc

Bước vào trường tình  không thót tim

 

Tình yêu như một huyền tích mở

Con đường tình luôn lắm chông gai

Và người tình như nhấp men say

Luôn lao đao chồng chềnh bước tới

 

Cõi tình như thế giới có bùa mê

Thi sĩ như tửu đồ đang quá chén

Uống uống nữa bao nhiêu cho đủ

Cuộc vui nào cũng mãi triền miên

VƯƠNG TÂN

 




Chinh Nguyên : Đôi Lời Về Mẹ của Chinh Nguyên

Đôi Lời Về Mẹ của Chinh Nguyên

Thay mặt cho cơ sở Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi viết bài này để chia buồn cùng Chinh Nguyên và tang quyến. Anh em bằng hữu khắp nơi cũng gửi lời qua E-Mail, bằng điện thoại. Có người làm thơ khóc cụ. Có người chia buồn trên báo chí, cũng có tiếng phân ưu trên đài phát thanh. Chinh Nguyên và Văn Thơ Lạc Việt xin chân thành cảm tạ những cảm tình nồng hậu mà Quý vị đã dành cho. Tang gia bối rối, đường xa diệu vợi tất nhiên có nhiều điều không vừa ý xin quý vị cũng vì tình thương mà thứ lỗi cho.

Đông Anh                                     

(Bài viết này có hai đoạn: 1- viết từ lâu để giới thiệu tác phẩm Mẹ của nhà văn Chinh Nguyên.

2- viết để tiễn mẹ Chinh Nguyên về cõi vĩnh hằng)

 

Đôi Lời Về Mẹ của Chinh Nguyên

1-

Mẹ già như chuối ba hương

Như cây khế ngọt, như đường mía lau

Mẹ như nước trong nguồn, với tình thương yêu vô tận dành cho đàn con. Mẹ Việt Nam có những niềm đau vì đất nước, có những nỗi khổ vì chồng, lại có cả những cay đắng vì con. Tất cả những cay đắng, niềm dau và nỗi khổ ấy đã làm còng lưng mẹ, nhưng ý chí mẹ vẫn quật cường, vẫn vươn lên, vẫn vượt muôn ngàn khổ ải để bao bọc đàn con, để tiến về phía trước. Mẹ của Chinh Nguyên là một trong những bà mẹ Việt Nam đó.

Bà gánh việc nhà chồng, chịu đựng những bất hòa do chính kiến giữa anh em bên chồng. Chồng đi xa vì lý tưởng, bà sống trong nỗi cô đơn qua tháng năm dài quạnh quẽ. Cánh tay gầy guộc làm mọi việc cực nhọc để nuôi con, mong cho nên người.

Suốt những tháng năm dài cô quạnh giữa phồn hoa đô hội, sống nghèo nàn giữa xa hoa. Chồng thì biệt tăm, gia đình chồng ở xa biền biệt, không biết trông cậy vào ai. Một mình bà, chỉ một mình bà bương chải kiếm ăn. Sống trong một căn lều rách nát trên đất chùa. Đem tấm thân còm cõi làm phu hồ kiếm cơm nuôi ba con bé dại. Chinh Nguyên lớn nhất cũng chỉ có 7 tuổi đã phải trông hai đứa em cho mẹ đi làm. Thảm nhất là hôm mẹ đau, nằm trong góc căn lều tối tăm, không thuốc, không cháo, không cơm! Ba đứa con chỉ biết nhìn nhau khóc. Lời dặn dò của mẹ như lời chối chăng: “Nếu mẹ ốmï không đi làm được, con dẫn hai em lên chùa gặp sư cụ”. Chinh Nguyên đã phải đi lên chùa, đến từng nhà xin thuốc về cho mẹ uống.

Mẹ làm bất cứ việc gí miễn là nuôi được đàn con. Hai mẹ con, một bóng gày gò dắt theo đứa con nhỏ ra bến Phà Đen hốt than vụn về đun bếp chiên bánh cam. Sáng tinh mơ mẹ gánh bánh cam và chảo mợ sôi đi bán dạo dọc phố. Chiều về có chút gạo chút mắm nuôi con.

Mẹ Việt Nam không bao giờ nghĩ đến bản thân, chỉ nghĩ đến gia đình và luôn nghĩ đến đàn con. Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ bao la như trời như biển.ï Mẹ không bao giờ kể công và luôn dấu nỗi khổ cho riêng mình. Giọt nước mắt nếu có thì cũng là những giot nước mắt âm thầm giữa canh khuya mà không bao giờ con thấy được.

Mẹ là dòng suối ngọt. Bất cứ lúc nào và bất cứ hoàn cảnh nào mẹ vẫn cứ mỉm cười. Nói với con ngọt ngào như đường như mật, nhẹ nhàng như gió như mây. Mẹ đem tất cả tình thương nồng ấm cho con. Không những cho trái tim mà cho cả cuộc đời.

 

Đông Anh

2-

Hôm nay ngày 7 tháng 1 năm 2010 Mẹ đã ra đi. Trong mấy tuần qua mẹ đã phải vào nhà thương vì đường xuống thấp. Sau đó về nhà và trở lại bình thường. Chinh Nguyên hy vọng mẹ còn khỏe và sẽ gặp mẹ dịp tết Canh Dần này. Vé máy bay đã sẵn sàng, chương trình chúc thọ mẹ cũng đã hình thành. Đây là một cái tết đoàn tụ các con cháu từ Mỹ về, từ Sài Gòn lên, từ Hà Nội vào. Tất cả họp lại để mừng thọ mẹ 98 tuổi. Từ nhà thương về, mẹ muốn có một chiếc xe lăn để tiện bề di chuyển. Con trai ở Mỹ gửi về liền. Ngày 7 khi nhận xe, mẹ đã ngồi thử và con cháu xúm lại đẩy cụ đi một vòng quanh xóm. Mẹ khen xe đẹp nhỉ. Sau đó cụ ăn chiều và đi nghỉ. Ai ngờ cụ đi luôn và không bao giờ dậy nữa.

Hai giờ sáng, tiếng điện thoại vang lên đánh thức hai vợ chồng nhà thơ dậy. Bốc điện thoại lên là tiếng nức nở đầu giây vọng từ chốn xa xăm báo tin buồn Mẹ đã ra đi!

Một buổi sang tất bật, vợ đi đổi vé, sắm dụng cụ chịu tang, chồng lo đăng báo cáo phó, làm chương trình phát tang, gọi điện thoại thúc dục con cháu về Việt Nam gấp. Buồn thì thật là buồn nhưng không có thì giờ để khóc. Ngay đêm 7 tháng 1 cả gia đình chiếm giữ một khoang máy bay để bay về Việt Nam. Đúng ra mẹ là công dân Hoa Kỳ, nhưng mẹ lại muốn về sống tại quê hương lúc cuối đời. Cụ còn căn dặn Chinh Nguyên là khi cụ nằm xuống thì con phải đem ba về nằm cạnh mẹ tại Ban Mê Thuột là nơi hai cụ sinh sống, lập nghiệp và nuôi dạy đàn con khôn lớn.

Ngày 12 tháng 1 năm 2010 toàn gia đưa tiễn mẹ đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Trời Ban Mê Thuột mát mẻ, êm đềm, ngào ngạt hoa cà phê. Mẹ đã nằm lại với quê hương. Mẹ đã yêu quê hương và quê hương đã thương mẹ. Nhục thể của mẹ đã hòa vào lòng đất quê hương để ơn đức cao dầy của những Mẹ Việt Nam ngày thêm thiêng liêng và vinh hiển.

 

Đông Anh

12/1/10




Hà Thượng Nhân : Nhân Đêm Rã Ngũ và Thành Lập Hội Thơ Lạc Việt.

Xin gửi đến Qúy vị bài thơ của Thi Sĩ Hà Thượng Nhân viết nhân ngày VTLV Họp Xuân. Ngày đó ông đi xe lăn đến, ngồi một lúc, uống hớp rượu, ăn miếng bánh rồi về.
Mời Qúy vị thưởng thức sau đây, chúng tôi có gửi trong attachement.

Ghi Chú của VTLV

Vào khoảng năm 1982 một số tù cải tạo từ trại Thanh Chương Nghệ Tĩnh được chuyển về Nam. Đêm hôm đó, tháng giêng, trời rất rét, đám tù chuyển trại ngủ tập trung ngoài trời ngay bãi cỏ bên hông đền thờ Vua An Dương Vương và Mỵ Châu. Nơi này gần ga Vinh và đèo Mộ Dạ, khi xưa vua và công chúa bị quân Triệu Đà, Trọng Thủy đuổi, chạy tới đây vua phát hiện công chúa rắc lông ngỗng chỉ đường cho Trọng Thủy tìm mình nên chém đầu . Ai ngờ lọt vào quỷ kế của giặc. Giống như đám tù nhân lọt vào bẩy của Cộng Sản.

Trời trong, sương lạnh, tù nhân cứ hai người còng lại với nhau. Hà Thượng Nhân và Đông Anh bị còng chung. Nhìn sao trời nói chuyện thơ văn trong đêm tối dưới họng súng AK. Nghĩ thương cho thân phận mình và thương cho vua An Dương Vương tin người mà lầm vào quỷ kế. Thương cho công chúa Mỵ Châu đặt hết tình yêu vào kẻ manh tâm lừa phản đến nỗi bị mất đầu.

Nay nghe Văn Thơ Lạc Việt tổ chức họp mặt tân niên, thi sĩ Hà Thượng Nhân viết bài thơ để nhớ lại chuyện xưa với ngày đi tù tại Thanh Chương để tặng cho quý vị quan khách trong ngày họp mặt tân niên hoa nở.

 

Nhân Đêm Rã Ngũ và Thành Lập Hội Thơ Lạc Việt.

Viết cho ngày Văn Thơ Lạc Việt họp Xuân 2010

 

Lạc Việt dựng lên từ dạo ấy
Lạc Việt khi không lại góp lời
Bình thường họa lại văn thơ cũ
Thỉnh thoảng quay sang chuyện khóc cười
Câu chuyện có nhau thêm sắc cạnh
Mỗi phương thi hữu góp thêm lời
Ngày xưa Lạc Việt ai đem nhắc
Câu chuyện ngày xưa cũ lắm rồi
Ta mang hâm lại văn chương cũ
Câu chuyện ngày xưa lại sáng ngời
Đền cổ An Dương, đêm rã ngũ
Ngày sau lưu lại mấy cơn cười
Câu chuyện nỏ thần không có nữa
Thành ra ân oán lại đôi nơi
Ước non để lại năm cùng tháng
Năm tháng tàn theo chuyện khóc cười
Mối tình thuở  ấy tuy còn trẻ
Thành Cổ Loa kia sống với đời
Lông ngỗng rắc cho chàng nhớ thiếp
Trăm năm ân ái chuyện con người
Ái ân vả lại chàng bên thiếp
Hai chữ oan gia giữa cuộc đời
Câu chuyện tình yêu đêm gió lạnh
Đông Anh cảm hứng chép thành lời
Đến nay đã mấy mùa thương nhớ
Kỷ niệm trưa nay thấy ngậm ngùi
Đoàn quân bại trận nghe tình sử
Chẳng hiểu làm sao ngất ngưởng cười
Mới biết ngàn năm còn chữ nghĩa
Ngàn năm còn chuyện nỏ thần ơi
Đêm nay gió lạnh về qua đó
Ai có ngờ đâu chuyện vẫn dài
Một chuyện ái tình gây thắc mắc
Nỏ thần ai vẫn tiếc cho ai
Văn nghệ khởi duyên từ nghiệp đó
Muôn lòng thắc mắc những hôm mai
Nghĩ xót thương cho chàng Trọng Thủy
Mà thương cô gái Việt Nam ơi
Mỵ Châu, em chỉ vì chung thủy
Nước giếng thần kia chẳng đủ vơi
Ta lại có thêm câu chuyện lạ
Tình nào cho khác được tình ai
Tình kia thật quả thua quyền lợi
Gương sáng ngàn năm sống với đời
Gương ấy muôn sau đem xét lại
Người chê, kẻ hận rối tung hoài
Bạn ta phản bội quên tình bạn
Câu chuyện đồng minh: một cuộc đời
Oan nghiệt thương cho chàng Trọng Thủy
Lại thương số mệnh của con người
Nỏ thần bị mất vì tình nghĩa
Hai chữ oan gia luống ngậm ngùi
Chuyện ấy chúng ta ngồi nghĩ lại
Ghét yêu thôi cũng chuyện con người
Con người bởi lẽ không chung thủy
Lưu lại ngàn sau một tiếng cười
Ta muốn n&oac
ute;i nhiều nhưng chẳng nói
Khi ông đại tướng bắt binh lui
Khi ông đại tướng còn ra lệnh
Bỏ thành, giữ lấy nước non thôi
Ta chịu thua vì không tiếp vận
Ta thua vì đã quá tin người
Lòng vẫn đêm ngày cùng nhớ rõ
Chuyện tình thuở  trước mịt mờ soi
Xưa nay có mấy người thua trận
Gom góp nhau về kể chuyện chơi
Thắng bại phải chăng là nỗi nhục?
Ta còn nhau đó cũng là vui

 

Hà Thượng Nhân

Thơ Tặng Người Thơ

Tặng hai nhà thơ Hà Thượng Nhân và Đông Anh

NDC

 

Tưởng đâu ông lão ngồi không vững

Thơ vững vàng như núi Thái Sơn

Buồn bực thở than cùng vận nước

Đời nay chút nghĩa đã không còn

Trọng Thủy, đâu đâu đều Trọng Thủy

Mỵ Châu nghìn năm vẫn chưa khôn

Nằm giữa trại tù thơ bát ngát

Thương giùm bạn tù nước mắt tuôn

Giờ đây gặp lại nơi đất khách

Nhắc chuyện ngày xưa chiến mã hờn

Một lần áo trận trên yên ngựa

Mãi lời sông núi tấm lòng son

Chí lớn trong lời thơ Lạc Việt

Ước mơ nhờ bạn giữ gìn luôn

Đại Đế Quang Trung chinh phạt Bắc

Chiêu Thống, quân Thanh sợ vỡ hồn

Lạc Việt bốn phương dàn trống trận

Dân mình rồi sẽ hết tai ương

Mừng vui nghe lão huynh nhấp rượu

Đệ xin rót tiếp mấy chung con

Nguyễn Trãi chẳng say men rượu qúy

Mà say nàng thơ bán chiếu gon

Ngô Đình Chương

4/2010

 

Thơ Tặng Lại Người Thơ

 

Lạc Việt đầu xuân, đời đứng vững

Mong ngày xuân đến với giang sơn

Ngày xưa Hà Thượng cùng non nước

Ba chục năm qua mãi vẫn còn

Trăm vạn hùng binh chung một cảnh

Loa Thành giếng ngọc mất tinh khôn

Hồng hà còn đó oan dòng máu

Yên Bái nào vơi giọt lệ tuôn

Nghệ Tĩnh mồ hôi tươm nỗi nhục

Thanh Chương xương thịt rã oan hờn

Đêm nằm sân cỏ sau đền cũ

Còng sắt nung lòng nặng sắt son

Nuôi chí bền gan cùng lửa Việt

Lòng thành nhắc nhở với nhau luôn

Sau này có dịp gom nhau lại

Chia xẻ tâm linh xác lẫn hồn

Trống mở năm châu cờ sẽ phất

Nhận chìm oan khuất, diệt tai ương

Xuân về họp mặt giàn hoa trắng

Lão trượng vui hòa cùng cháu con

Nâng chén tương giao thơ tiếp rượu

Tình nhà tình nước hợp nhau gon

 

Đông Anh

 

 

 




Phan Tưởng Niệm: Chiều Qua Trường Em

Chiều Qua Trường Em

 

vẫn là bảng cũ trường xưa
vẫn là ghế đá chiều trưa tôi chờ
vẫn hàng liễu rủ hững hờ
vi vu lời gió bên bờ biển xanh

vẫn em bé nhỏ ngây thơ
vẫn tà áo trắng phất phơ nắng vàng
vẫn là tiếng kẻng trường tan
giọng cười rộn rã như đàn én bay .

vẫn con sóng biển mơ say
vẫn bờ cát nóng hây hây trưa hè
vẫn làn gió nhẹ se se
ru hồn tôi lúc chiều về đợi ai !

Thumbnail image

vẫn con đường cũ tôi quen
vẫn là quán đợi bên hiên cổng trường
vẫn là phượng vĩ yêu thương
bao mùa lặng lẽ hồn vương nắng chiều

vẫn trường ngày cũ xưa yêu
vẫn bao kỷ niệm êm đềm dấu in
thời gian trôi biết đâu tìm ?!
lật từng dĩ vãng nỗi niềm xót xa .

 

Phan Tưởng Niệm

 

 

 

 

 




Võ Thị Tuyết : Nỗi Nhớ Hoang

 
 
 
 
 
 
Áo  trắng ngày xưa anh vẫn nhớ 
Giờ  là kỷ niệm của ngày thơ 
Bao  năm xa cách đời ly biệt 
Chỉ  là ký ức của  thời mơ……….  (VTT) 

Gặp  nhau… ồ thế cười thay khóc
Hay đứng nhìn nhau bật tiếng chào
Thời  gian chết lặng bao giờ nhỉ
Giọng nói chợt buồn, chợt nôn nao…  (CN) 
 

 

 

Ngày đó… Bây giờ 
 
 
Ngày đó bên em… tà áo bay !
  Gió đùa quấn quít nắng hồng say
  Bây giờ tóc đã màu sương bạc
  Úa cả thời gian, kiếp nợ vay… 
 
  Ngày đó  bên em hương bưởi mơ
  Mắt nhung e thẹn lạc hồn thơ
  Nắng tô đôi má hồng ngơ ngẩn
  Anh ước hôn em…mộng vẫn chờ…
 
  Bây  giờ ai nhớ khúc thơ thương
 Trổi dậy cho nhau nặng vấn  vương
 Sợi tóc mai buồn cho phận tủi 
  Niềm  yêu nhỏ lệ những canh trường.
 
  Bây giờ Phượng nở  xót trong lòng
  Như máu đỏ đời cả đợi mong
  Chiến  tranh… anh bỏ Cù Lao Phố
  Nên lạc tình nhau chốn bụi  hồng…   

     Chinh Nguyên L19

  
 
Ngày xưa nhớ mãi Phượng  hồng 
Cù Lao Phố cũ tình nồng yêu  em  
Bên nầy anh nhớ mổi  đêm 
Em về bên ấy nỗi niềm nhớ nhung  … 
 
VTT 
*********

 
  Anh luôn nhớ mãi Phượng Hồng
  Chỉ vì duyên số tình nồng xa em
  Đôi khi mơ mộng thâu đêm
  Em nơi quê cũ buồn phiền nhớ nhung.
  LĐ

 

PHƯỢNG HỒNG NGÀY XƯA

 

Ngày đó phượng hồng vương bến sông

Thoảng hương hoa bưởi quyện tơ lòng

Tóc rối bay bay chiều lộng gió

Ve sầu, dạo khúc nhạc mênh mông

 

Ngày đó đường về, lấm tấm mưa

Gót hài tha thướt, theo gió lùa

Lần theo dấu Phượng Cù Lao Phố

Ngã rẽ, đi vào mất dáng xưa….

 

Bây giờ thì đã qua thật xa

Dõi mắt nhìn theo bóng chiều tà

Phượng hồng nhuộm đỏ bờ sông vắng

Trên bến Đồng Nai, nhặt cánh hoa

 

Bây giờ thổn thức, trong giấc mơ

Bóng dáng người xưa vẫn xa mờ

Nhìn cánh phượng hồng bay theo gió

Lạc cả cuộc tình, lạc cả THƠ….

 

Kiều Oanh Trinh–June 2010

Họa Thơ Ngày Đó…Bây Giờ của thi sĩ Chinh Nguyên


Phượng hồng một nhánh tặng em

Nhớ hoài ngày ấy những đêm hẹn hò

Mình không chung được chuyến đò

Đồng Nai nhớ mãi bài thơ lỡ làng…

VTT

(KOT)

Chết thỏa lòng tôi khóe mắt cười

 Có lẽ vì thế bóng dáng Phượng Hồng và hương bưỏi là căn duyên của tình thơ và theo tôi hoài.

 

 

Chúc quí vị vui.

 

 

Ai về phố nhỏ Biên Hòa

Thăm dùm người cũ em xa bao ngày 

Tha hương bao tháng năm dài

Em chưa về được cách hai phương trời 

 

Vài hàng nhắn gửi thăm người

Bỏ quê xa xứ một đời lưu vong

Sông xưa nước chảy xuôi dòng

Cù Lao Phố cũ sông Đồng nước trong

 

Vấn vương mãi nhớ trong lòng

Thương hoài kỷ niệm Biên Hùng về ngang

Chờ nhau buổi học vừa tan

Đưa em về dưới hai hàng me xanh

 

     Cây Chàm lên đến Tân Thành

    Tân Uyên, Bến Cá, Phước Thành quê em

    Tân Triều vườn bưởi không quên

    Bưởi thanh, bưởi ổi , Cầu Gềnh (Gành) ghé qua

 

 Ai về nhớ ghé Tân Ba

   Hóa An, Tân Hạnh, Bình Hòa chiều êm

Ghé vào trường cũ nhớ thêm

  Trường xưa còn đó Ngô Quyền, người đâu?

 

Xa trường xa bạn đã lâu

Giờ là kỷ niệm lòng sầu nhớ thương

Xứ người dầu giãi tuyết sương

Nhưng lòng nhớ mãi con đường năm xưa

 

Cầu Mát còn những hàng dừa?

Hẹn nhau chờ dưới cơn mưa cuối mùa

Công Trường Sông Phố mỗi trưa

Đợi nhau tan lễ anh đưa em về

 

Nhớ hoài xóm cũ, làng quê

Nhưng em chưa có dịp về thăm anh

Vẫn mơ mãi giấc mộng lành

Về thăm lại khúc sông xanh một dòng

 

   Quê mình nhớ mãi trong lòng

Bao năm xa xứ vẫn không quên người

Nhặt gom kỷ niệm trong đời

Gửi người tình cũ những lời cho nhau…

 

Võ thị Tuyết

                                                               6/26/10

Nỗi nhớ đi hoang