Hà Thượng Nhân : Nhân Đêm Rã Ngũ và Thành Lập Hội Thơ Lạc Việt.

Xin gửi đến Qúy vị bài thơ của Thi Sĩ Hà Thượng Nhân viết nhân ngày VTLV Họp Xuân. Ngày đó ông đi xe lăn đến, ngồi một lúc, uống hớp rượu, ăn miếng bánh rồi về.
Mời Qúy vị thưởng thức sau đây, chúng tôi có gửi trong attachement.

Ghi Chú của VTLV

Vào khoảng năm 1982 một số tù cải tạo từ trại Thanh Chương Nghệ Tĩnh được chuyển về Nam. Đêm hôm đó, tháng giêng, trời rất rét, đám tù chuyển trại ngủ tập trung ngoài trời ngay bãi cỏ bên hông đền thờ Vua An Dương Vương và Mỵ Châu. Nơi này gần ga Vinh và đèo Mộ Dạ, khi xưa vua và công chúa bị quân Triệu Đà, Trọng Thủy đuổi, chạy tới đây vua phát hiện công chúa rắc lông ngỗng chỉ đường cho Trọng Thủy tìm mình nên chém đầu . Ai ngờ lọt vào quỷ kế của giặc. Giống như đám tù nhân lọt vào bẩy của Cộng Sản.

Trời trong, sương lạnh, tù nhân cứ hai người còng lại với nhau. Hà Thượng Nhân và Đông Anh bị còng chung. Nhìn sao trời nói chuyện thơ văn trong đêm tối dưới họng súng AK. Nghĩ thương cho thân phận mình và thương cho vua An Dương Vương tin người mà lầm vào quỷ kế. Thương cho công chúa Mỵ Châu đặt hết tình yêu vào kẻ manh tâm lừa phản đến nỗi bị mất đầu.

Nay nghe Văn Thơ Lạc Việt tổ chức họp mặt tân niên, thi sĩ Hà Thượng Nhân viết bài thơ để nhớ lại chuyện xưa với ngày đi tù tại Thanh Chương để tặng cho quý vị quan khách trong ngày họp mặt tân niên hoa nở.

 

Nhân Đêm Rã Ngũ và Thành Lập Hội Thơ Lạc Việt.

Viết cho ngày Văn Thơ Lạc Việt họp Xuân 2010

 

Lạc Việt dựng lên từ dạo ấy
Lạc Việt khi không lại góp lời
Bình thường họa lại văn thơ cũ
Thỉnh thoảng quay sang chuyện khóc cười
Câu chuyện có nhau thêm sắc cạnh
Mỗi phương thi hữu góp thêm lời
Ngày xưa Lạc Việt ai đem nhắc
Câu chuyện ngày xưa cũ lắm rồi
Ta mang hâm lại văn chương cũ
Câu chuyện ngày xưa lại sáng ngời
Đền cổ An Dương, đêm rã ngũ
Ngày sau lưu lại mấy cơn cười
Câu chuyện nỏ thần không có nữa
Thành ra ân oán lại đôi nơi
Ước non để lại năm cùng tháng
Năm tháng tàn theo chuyện khóc cười
Mối tình thuở  ấy tuy còn trẻ
Thành Cổ Loa kia sống với đời
Lông ngỗng rắc cho chàng nhớ thiếp
Trăm năm ân ái chuyện con người
Ái ân vả lại chàng bên thiếp
Hai chữ oan gia giữa cuộc đời
Câu chuyện tình yêu đêm gió lạnh
Đông Anh cảm hứng chép thành lời
Đến nay đã mấy mùa thương nhớ
Kỷ niệm trưa nay thấy ngậm ngùi
Đoàn quân bại trận nghe tình sử
Chẳng hiểu làm sao ngất ngưởng cười
Mới biết ngàn năm còn chữ nghĩa
Ngàn năm còn chuyện nỏ thần ơi
Đêm nay gió lạnh về qua đó
Ai có ngờ đâu chuyện vẫn dài
Một chuyện ái tình gây thắc mắc
Nỏ thần ai vẫn tiếc cho ai
Văn nghệ khởi duyên từ nghiệp đó
Muôn lòng thắc mắc những hôm mai
Nghĩ xót thương cho chàng Trọng Thủy
Mà thương cô gái Việt Nam ơi
Mỵ Châu, em chỉ vì chung thủy
Nước giếng thần kia chẳng đủ vơi
Ta lại có thêm câu chuyện lạ
Tình nào cho khác được tình ai
Tình kia thật quả thua quyền lợi
Gương sáng ngàn năm sống với đời
Gương ấy muôn sau đem xét lại
Người chê, kẻ hận rối tung hoài
Bạn ta phản bội quên tình bạn
Câu chuyện đồng minh: một cuộc đời
Oan nghiệt thương cho chàng Trọng Thủy
Lại thương số mệnh của con người
Nỏ thần bị mất vì tình nghĩa
Hai chữ oan gia luống ngậm ngùi
Chuyện ấy chúng ta ngồi nghĩ lại
Ghét yêu thôi cũng chuyện con người
Con người bởi lẽ không chung thủy
Lưu lại ngàn sau một tiếng cười
Ta muốn n&oac
ute;i nhiều nhưng chẳng nói
Khi ông đại tướng bắt binh lui
Khi ông đại tướng còn ra lệnh
Bỏ thành, giữ lấy nước non thôi
Ta chịu thua vì không tiếp vận
Ta thua vì đã quá tin người
Lòng vẫn đêm ngày cùng nhớ rõ
Chuyện tình thuở  trước mịt mờ soi
Xưa nay có mấy người thua trận
Gom góp nhau về kể chuyện chơi
Thắng bại phải chăng là nỗi nhục?
Ta còn nhau đó cũng là vui

 

Hà Thượng Nhân

Thơ Tặng Người Thơ

Tặng hai nhà thơ Hà Thượng Nhân và Đông Anh

NDC

 

Tưởng đâu ông lão ngồi không vững

Thơ vững vàng như núi Thái Sơn

Buồn bực thở than cùng vận nước

Đời nay chút nghĩa đã không còn

Trọng Thủy, đâu đâu đều Trọng Thủy

Mỵ Châu nghìn năm vẫn chưa khôn

Nằm giữa trại tù thơ bát ngát

Thương giùm bạn tù nước mắt tuôn

Giờ đây gặp lại nơi đất khách

Nhắc chuyện ngày xưa chiến mã hờn

Một lần áo trận trên yên ngựa

Mãi lời sông núi tấm lòng son

Chí lớn trong lời thơ Lạc Việt

Ước mơ nhờ bạn giữ gìn luôn

Đại Đế Quang Trung chinh phạt Bắc

Chiêu Thống, quân Thanh sợ vỡ hồn

Lạc Việt bốn phương dàn trống trận

Dân mình rồi sẽ hết tai ương

Mừng vui nghe lão huynh nhấp rượu

Đệ xin rót tiếp mấy chung con

Nguyễn Trãi chẳng say men rượu qúy

Mà say nàng thơ bán chiếu gon

Ngô Đình Chương

4/2010

 

Thơ Tặng Lại Người Thơ

 

Lạc Việt đầu xuân, đời đứng vững

Mong ngày xuân đến với giang sơn

Ngày xưa Hà Thượng cùng non nước

Ba chục năm qua mãi vẫn còn

Trăm vạn hùng binh chung một cảnh

Loa Thành giếng ngọc mất tinh khôn

Hồng hà còn đó oan dòng máu

Yên Bái nào vơi giọt lệ tuôn

Nghệ Tĩnh mồ hôi tươm nỗi nhục

Thanh Chương xương thịt rã oan hờn

Đêm nằm sân cỏ sau đền cũ

Còng sắt nung lòng nặng sắt son

Nuôi chí bền gan cùng lửa Việt

Lòng thành nhắc nhở với nhau luôn

Sau này có dịp gom nhau lại

Chia xẻ tâm linh xác lẫn hồn

Trống mở năm châu cờ sẽ phất

Nhận chìm oan khuất, diệt tai ương

Xuân về họp mặt giàn hoa trắng

Lão trượng vui hòa cùng cháu con

Nâng chén tương giao thơ tiếp rượu

Tình nhà tình nước hợp nhau gon

 

Đông Anh

 

 

 




Phan Tưởng Niệm: Chiều Qua Trường Em

Chiều Qua Trường Em

 

vẫn là bảng cũ trường xưa
vẫn là ghế đá chiều trưa tôi chờ
vẫn hàng liễu rủ hững hờ
vi vu lời gió bên bờ biển xanh

vẫn em bé nhỏ ngây thơ
vẫn tà áo trắng phất phơ nắng vàng
vẫn là tiếng kẻng trường tan
giọng cười rộn rã như đàn én bay .

vẫn con sóng biển mơ say
vẫn bờ cát nóng hây hây trưa hè
vẫn làn gió nhẹ se se
ru hồn tôi lúc chiều về đợi ai !

Thumbnail image

vẫn con đường cũ tôi quen
vẫn là quán đợi bên hiên cổng trường
vẫn là phượng vĩ yêu thương
bao mùa lặng lẽ hồn vương nắng chiều

vẫn trường ngày cũ xưa yêu
vẫn bao kỷ niệm êm đềm dấu in
thời gian trôi biết đâu tìm ?!
lật từng dĩ vãng nỗi niềm xót xa .

 

Phan Tưởng Niệm

 

 

 

 

 




Võ Thị Tuyết : Nỗi Nhớ Hoang

 
 
 
 
 
 
Áo  trắng ngày xưa anh vẫn nhớ 
Giờ  là kỷ niệm của ngày thơ 
Bao  năm xa cách đời ly biệt 
Chỉ  là ký ức của  thời mơ……….  (VTT) 

Gặp  nhau… ồ thế cười thay khóc
Hay đứng nhìn nhau bật tiếng chào
Thời  gian chết lặng bao giờ nhỉ
Giọng nói chợt buồn, chợt nôn nao…  (CN) 
 

 

 

Ngày đó… Bây giờ 
 
 
Ngày đó bên em… tà áo bay !
  Gió đùa quấn quít nắng hồng say
  Bây giờ tóc đã màu sương bạc
  Úa cả thời gian, kiếp nợ vay… 
 
  Ngày đó  bên em hương bưởi mơ
  Mắt nhung e thẹn lạc hồn thơ
  Nắng tô đôi má hồng ngơ ngẩn
  Anh ước hôn em…mộng vẫn chờ…
 
  Bây  giờ ai nhớ khúc thơ thương
 Trổi dậy cho nhau nặng vấn  vương
 Sợi tóc mai buồn cho phận tủi 
  Niềm  yêu nhỏ lệ những canh trường.
 
  Bây giờ Phượng nở  xót trong lòng
  Như máu đỏ đời cả đợi mong
  Chiến  tranh… anh bỏ Cù Lao Phố
  Nên lạc tình nhau chốn bụi  hồng…   

     Chinh Nguyên L19

  
 
Ngày xưa nhớ mãi Phượng  hồng 
Cù Lao Phố cũ tình nồng yêu  em  
Bên nầy anh nhớ mổi  đêm 
Em về bên ấy nỗi niềm nhớ nhung  … 
 
VTT 
*********

 
  Anh luôn nhớ mãi Phượng Hồng
  Chỉ vì duyên số tình nồng xa em
  Đôi khi mơ mộng thâu đêm
  Em nơi quê cũ buồn phiền nhớ nhung.
  LĐ

 

PHƯỢNG HỒNG NGÀY XƯA

 

Ngày đó phượng hồng vương bến sông

Thoảng hương hoa bưởi quyện tơ lòng

Tóc rối bay bay chiều lộng gió

Ve sầu, dạo khúc nhạc mênh mông

 

Ngày đó đường về, lấm tấm mưa

Gót hài tha thướt, theo gió lùa

Lần theo dấu Phượng Cù Lao Phố

Ngã rẽ, đi vào mất dáng xưa….

 

Bây giờ thì đã qua thật xa

Dõi mắt nhìn theo bóng chiều tà

Phượng hồng nhuộm đỏ bờ sông vắng

Trên bến Đồng Nai, nhặt cánh hoa

 

Bây giờ thổn thức, trong giấc mơ

Bóng dáng người xưa vẫn xa mờ

Nhìn cánh phượng hồng bay theo gió

Lạc cả cuộc tình, lạc cả THƠ….

 

Kiều Oanh Trinh–June 2010

Họa Thơ Ngày Đó…Bây Giờ của thi sĩ Chinh Nguyên


Phượng hồng một nhánh tặng em

Nhớ hoài ngày ấy những đêm hẹn hò

Mình không chung được chuyến đò

Đồng Nai nhớ mãi bài thơ lỡ làng…

VTT

(KOT)

Chết thỏa lòng tôi khóe mắt cười

 Có lẽ vì thế bóng dáng Phượng Hồng và hương bưỏi là căn duyên của tình thơ và theo tôi hoài.

 

 

Chúc quí vị vui.

 

 

Ai về phố nhỏ Biên Hòa

Thăm dùm người cũ em xa bao ngày 

Tha hương bao tháng năm dài

Em chưa về được cách hai phương trời 

 

Vài hàng nhắn gửi thăm người

Bỏ quê xa xứ một đời lưu vong

Sông xưa nước chảy xuôi dòng

Cù Lao Phố cũ sông Đồng nước trong

 

Vấn vương mãi nhớ trong lòng

Thương hoài kỷ niệm Biên Hùng về ngang

Chờ nhau buổi học vừa tan

Đưa em về dưới hai hàng me xanh

 

     Cây Chàm lên đến Tân Thành

    Tân Uyên, Bến Cá, Phước Thành quê em

    Tân Triều vườn bưởi không quên

    Bưởi thanh, bưởi ổi , Cầu Gềnh (Gành) ghé qua

 

 Ai về nhớ ghé Tân Ba

   Hóa An, Tân Hạnh, Bình Hòa chiều êm

Ghé vào trường cũ nhớ thêm

  Trường xưa còn đó Ngô Quyền, người đâu?

 

Xa trường xa bạn đã lâu

Giờ là kỷ niệm lòng sầu nhớ thương

Xứ người dầu giãi tuyết sương

Nhưng lòng nhớ mãi con đường năm xưa

 

Cầu Mát còn những hàng dừa?

Hẹn nhau chờ dưới cơn mưa cuối mùa

Công Trường Sông Phố mỗi trưa

Đợi nhau tan lễ anh đưa em về

 

Nhớ hoài xóm cũ, làng quê

Nhưng em chưa có dịp về thăm anh

Vẫn mơ mãi giấc mộng lành

Về thăm lại khúc sông xanh một dòng

 

   Quê mình nhớ mãi trong lòng

Bao năm xa xứ vẫn không quên người

Nhặt gom kỷ niệm trong đời

Gửi người tình cũ những lời cho nhau…

 

Võ thị Tuyết

                                                               6/26/10

Nỗi nhớ đi hoang

 




Trọng Đạt : Thạch Lam, cơn say chưa tỉnh

Thạch Lam, cơn say chưa tỉnh

 Trọng Đạt


Chân dung Thạch Lam (1909 – 1942) qua nét họa của Đinh Cường. Ảnh: wikipedia

Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân  sinh ngày mồng 7 tháng 7 năm 1910 tại ấp Thái Hà, Hà Nội, là người con thứ sáu trong bẩy anh chị em gia đình Nguyễn Tường: 1-Nguyễn Tường Thụy, 2- Nguyễn Tường Cẩm, 3- Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), 4- Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), 5- Nguyễn Thị Thế, 6- Nguyễn Tường Lân (Thạch lam), 7- Nguyễn Tường Bách, bác sĩ.

Nguyên quán tại làng Cẩm Phổ, Hội An Quảng Nam. Ông Nội làm Tri Huyện Cẩm Giàng Hải Dương, cụ về hưu tại đây, cha là Nguyện Tường Nhu mất năm 1918 thọ 37 tuổi, bà mẹ tần tảo buôn bán để nuôi các con ăn học, hai anh ông Nhất Linh, Hoàng Đạo là những người sáng lập Tự Lực Văn Đoàn, đây là một gia đình  thành đạt về văn chương của nước nhà  đã đóng góp rất nhiều cho nền văn hóa dân tộc.

Hồi nhỏ tên là Nguyễn Tường Vinh, học lười đến năm 14 tuổi mới đậu Tiểu học , ông phải khai tăng một tuổi để đủ tuổi thi bằng Thành chung, năm sau nên đã đổi tên là Nguyễn Tường Lân. Ông vào học trường Albert Saraut đậu Tú tài phần thứ nhất rồi thôi học ra làm báo Phong Hoá, Ngày Nay với các anh trong Tự Lực Văn Đoàn năm 1932.

Thạch Lam bị bệnh Lao mất ngày 28 tháng sáu năm 1942 tại một ngôi nhà tranh rất nên thơ của làng Yên Phụ cạnh Hồ Tây trong cảnh nghèo nàn. Theo hồi ký của bà Nguyễn Thị Thế: Người Em Thứ Sáu đăng trên báo Văn Sài Gòn 1965, năm 14 tuổi Nguyễn Tường Vinh vẫn chưa đỗ Tiểu học vì lười quá, mẹ hỏi tại sao, Vinh trả lời mẹ cứ yên chí, và ngay năm đó chàng đậu ngay, rồi chàng quyết đổi tên thành Nguyễn Tường Lân để dự thi Thành chung, năm sau rồi chàng đỗ thật, Tú Mỡ có làm một bào thơ khen như sau.

“Có lời mừng bác Nguyễn Tường Vinh
Đáng bực thần đồng bọn học sinh
Năm trước vừa an kỳ tốt nghiệp
Năm sau đã chiếm bảng trung thành
Vẫn hay phúc ấm nhờ tiên tổ
Cũng  bởi công phu gắng học hành”

Năm 1930 bà chị Thế lập gia đình, Thạch Lam dọn về căn nhà ven đê Yên Phụ ở chung, năm sau Thạch Lam lấy vợ ở riêng tại một căn nhà tranh đầu làng Yên phụ, tính tình thay đổi, lúc trước hoạt bát vui vẻ về sau đâm khó tính, ít nói, ưa tĩnh mịch .

Đến năm 1940 ông bị lao hạch, phải mổ có lẽ tại làm việc và suy nghĩ nhiều, từ đấy sức yếu hơn trước. Hai năm sau sức khỏe lại suy nhược rõ rệt rồi ốm liệt giường, ông vẫn thích ngắm cây liễu bên cửa sổ, lúc đau ốm ông không cho ai vào thăm, một hôm chị Thế lại chơi, khi ấy Thạch Lam đã suy yếu lắm, ông bèn bảo chị nhấc lên để nhìn cây liễu . . .cho đến khi sắp lìa đời Thạch Lam vẫn còn giữ được tâm hồn nghệ sĩ của mình. Vợ ông sinh con trai được ba ngày, bà mẹ biết Thạch Lam sắp đi bèn cho người vào nhà hộ sinh đón đứa hài nhi về cho ông xem mặt nó, Thạch Lam khen.

“Trông nó khỏe mạnh đấy”

Đứa trẻ ấy là Nguyễn Tường Giang.

Sáng 15 tháng 5 âm lịch tức ngày 28 tháng 6 năm 1942,  bà cụ, ông Nguyễn Tường Bách đều có mặt, trưa hôm ấy bà mẹ cho gọi bà Nguyễn Thị Thế sang vì biết Thạch Lam sắp đi.

“Đến lúc đó tôi thấy chú vẫn có vẻ tỉnh. Sau  khi chú Bách chích thuốc xong chú đòi đỡ dậy và mắng vợ đương khóc “mẹ còn ngồi kia, tôi còn ngồi đây, đã chết đâu mà khóc”, mẹ tôi ngồi một bên, vợ chú ngồi một bên nắm hai tay chú. Bỗng dưng chú thấy tay rung lên nên chú bảo mẹ giữ thật chặt hộ. Rồi chú và chú Bách nói tiếng Pháp với nhau vài câu. Chú Bách bỏ ra ngoài hành lang. Tự dưng chú gọi em trai “Bách! Bách!” nhưng chú Bách không quay đầu lại. Mẹ tôi và tôi gọi theo: “Anh gọi, chú quay lại đã nào”. Chú Bách gắng gượng quay mặt lại và tôi thấy chú đang khóc. Cúi xuống tôi thấy người em thứ sáu trong gia đình đang từ từ ruỗi chân ra. Mẹ tôi liền đỡ chú nằm xuống.

Từ  đó tôi vĩnh viễn kkhông được thấy người em thân yêu. . .”

Theo ông Nguyễn Tường Giang, con trai Thạch Lam, người đã được sinh ra ba ngày trước khi cha mất,  trong bài “Thạch Lam, Cha Tôi Trong Trí Tưởng” có nói năm 1942 khi bà mẹ mang thai ông, có người đoán số tử vi nói nếu bà sinh con trai thì ông nhà (Thạch Lam) sẽ chết. Khi mẹ ông đi nhà hộ sinh thì Thạch Lam đau nặng, bị lao mấy năm vì làm việc nhiều và suy nghĩ.

“Lúc người nhà về báo với ông đứa trẻ mới sinh là con trai, ông không nói gì lặng lẽ coi tiếp tờ báo đang xem dở. Ba ngày sau, ngày 28 tháng 6 năm 1942 Thạch lam mất. Sinh ra đời buồn thay, nhiều khi đã mang một bản án sát nhân trong hồn.”

Thạch Lam có một cuộc sống đơn sơ mộc mạc, một tâm hồn nghệ sĩ, khác với các anh ông là những nhà cách mạng đã từng sông pha gió bụi. Thạch Lam chỉ thích ở nhà tranh, ngủ giường gỗ, ngồi ghế mây với tâm hồn phong phú ý nhị.

Trong bài Những Kỷ Niệm Khó Quên Với Các Bạn Trong Tự Lực Văn Đoàn, Sơ Ngộ Cùng Thạch Lam (Kỷ Vật Cuối Cùng cuốn hai, nhà xuất bản Phượng Hoàng, California 1997) Đinh Hùng cho biết Thạch lam ở cùng một khu ngoại ô với ông, Thạch Lam ở trong làng  ngay bờ hồ Tây như một tấm gương lớn trước mặt, sông Hồng Hà như một giải lụa uốn mình phía sau lưng, nhà ông ở trên lầu có thể khói bếp nhà Thạch Lam và cả khóm tre đầu cổng.

“Tây Hồ có danh sĩ
Nhà thì ở nhà tranh
Cửa trúc cài phên gió
Trước thềm bóng liễu xanh”
(Huyền Kiêu)

Làng Yên Phụ ở cạnh hồ Tây trông xinh như một bán đảo, gần nửa làng chạy theo bờ nước. Hầu hết dân làng làm nghề trồng hoa. Gần Tết nếu có dịp đi dạo quanh làng tưởng như lạc tới một chốn thần tiên trong truyện cổ tích, nhà nào cũng thấp thoáng bóng đào hồng, mai trắng trước thềm, liễu xanh trước gió, dưới những giàn hoa lý, trên sân gạch. Đó là một làng đẹp nhất của ngoại thành Hà Nội, có lẽ phong cảnh nên thơ thi vị của làng hoa này đã ảnh hưởng khá nhiều trên tâm hồn nghệ sĩ của Thạch Lam.

Nhà Thạch Lam ở khúc đầu làng Yên Phụ, soi bóng Hồ Tây, một căn nhà mái tranh, cổng gỗ thanh bạch, đơn sơ nhưng rất thi vị, ông nói ông cũng có thể lợp ngói xây gạch được nhưng bản tính thanh đạm giản dị của ông muốn thế. Thạch Lam có vẻ an bần lạc đạo với cái nghèo của mình, tuy nghèo nhưng ông lại không thấy khổ, ông thường nói.

“Ở được nhà lá, nằm được giường tre, ăn được rau đậu mà vẫn tìm thấy cái đẹp của mái lá, cái êm của giường tre, cái ngon của rau đậu mới là kẻ biết sống có nghệ thuật”

Ngôi nhà tranh của ông ngăn nắp sáng sủa, có cửa kính, chớp, có thềm cao ráo, một khoảng sân sát bờ hồ với cây liễu rủ cành lá xuống nước và khóm tre sào sạc ở đầu cổng, chính cây liễu và khóm tre này đã được ông mô tả trong bài Câu Chuyện Bên Gốc Liễu trong cuốn Theo Giòng.

Thạch Lam đã sống cái phần chót của cuộc đời trước khi đi vào lịch sử, căn nhà mái lá đơn sơ này đã từng là nơi gặp gỡ, hàn huyên chén thù chén tạc của các văn nghệ sĩ Hà Thành: Nhất Linh, Khái Hưng, Trần Tiêu, Thế Lữ, Huyền Kiêu, Nguyễn Tường Bách, Đỗ Đức Thu, Đoàn Phú Tứ, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân…

Mặc dù sống trong cảnh nghèo nhưng gia đình Thạch Lam lúc nào cũng hiếu khách, lương nhà báo chỉ có 30 đồng một tháng,  là nhà văn có tài nhưng sách của ông lại khó bán trong khi truyện của Khái Hưng, Nhất Linh như Hồn Bướm Mơ Tiên, Gánh Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt. . thì bán chạy như tôm tươi. Đinh Hùng ghé thămThạch Lam đang lâm bệnh một buổi tối nọ và kết luận.

“Tôi vạch màn, vặn đèn sáng thêm và cổ tôi bỗng như nghẹn lại: Thạch Lam nằm đấy, nhưng trên sắc mặt trắng bệch của anh, tôi tưởng như đã nhìn thấy bóng dáng tử thần.

Vậy mà anh còn cố gượng ngồi dậy bắt tay tôi, nắm thật chặt, cặp mắt lim di như vẫn còn nặng trĩu những cơn say ngày nào, miệng anh mỉm nụ cười khoan hoà như mọi khi. Nhưng rồi anh lại nằm xuống, không nói được lời nào, vì anh đang mệt.

Mấy hôm sau anh từ trần. Tôi đã thức suốt một đêm bên quan tài anh, để nghĩ rằng: Thạch Lam vẫn còn say chưa tỉnh, anh đã mang theo cả những hình ảnh tuyệt vời của cơn say bất tận về hư vô. Trong khi chúng tôi ở lại, chẳng còn chất men kỳ diệu nào để mà say, nên cứ phải dương mắt ra nhìn đời giữa lúc rất tỉnh – sự tỉnh táo vô vị của những con người đại bất hạnh”.

Thạch Lam lìa trần lúc mới có 32 tuổi khiến tôi nhớ đến truyện Tây Hán Chí chương Sở Bá Vương Ô Giang Tự Vẫn, Hàng Võ bị thảm bại, cùng đường tự vẫn tại bờ sông Ô Giang lúc ấy mới có 31 tuổi, như thế ta mới thấy rằng những bậc tài trí làm bao lên nhiêu chuyện lớn lao trong thiên hạ khi họ còn rất trẻ.

Cái chết của Thạch Lam là một sự thiệt thòi lớn lao cho nền văn chương Việt Nam, là một cây bút có những nét sâu sắc, độc đáo, một nghệ sĩ có tâm hồn dân tộc, ông luôn luôn tỏ ra người giầu tình thương, có một tấm lòng bác ái ân cần chia sẻ cảm thông với những người nghèo nàn, cùng khổ. Cây bút giầu tình nhân bản của ông đã đóng góp đáng kể cho nền văn chương Việt Nam mặc dù số lượng thật là khiêm tốn: một cuốn tiểu thuyết, ba tập truyện ngắn, một tùy bút, một bình luận văn chương. Hồi ấy truyện của ông không được độc giả hoan nghênh cho lắm, nhưng mấy chục năm sau người ta đã đánh giá lại văn chương Thạch Lam tại Sài Gòn trước 1975 và bây giờ trong nước cũng như tại Hải Ngoại, tác phẩm của ông đã được tái bản.

Toàn bộ sự nghiệp văn chương của Thạch Lam chỉ vỏn vẹn có một ít như thế, song ông vẫn được dư luận chung đánh giá như một nhà văn lớn, tác phẩm của ông vẫn sống và sẽ còn sống mãi.

“Thạch Lam mất đi không những làng văn Việt Nam thiệt mất một anh tài mà quốc dân ta cũng thiệt mất một phần tử tâm huyết và trung thành vậy “

(Đỗ Đức Thu, Thanh Nghị số 17, đăng lại trên báo Văn, Sài Gòn 1965)

© Trọng Đạt




Còn Đâu Nụ Tầm Xuân

 
 120px-Eggplant_flower-1.jpg picture by DoMinh
 
 
 
 
Còn Đâu
           Nụ Tầm Xuân ,
 
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay…
       Ca Dao .
 
Làm sao nếm được trầu cay
Nên anh vẫn mãi nhớ ai đêm trường
Níu cành hái bưởi trong vườn
Thấy cây cà tím bên đường trổ bông
Anh chờ cho tới nước ròng
Tầm xuân chưa nở, nụ hồng về đâu
Chèo quanh bến cũ nông sâu
Đợi mong trăng xế canh thâu gió luồn
Đêm khuya ôm mộng gieo buồn
Mây bay xứ lạ cánh chuồn phơi sương
Tóc mai gội nước sông Tương
Gió đùa dáng liễu còn vương sao đành
Chiều buông chiếc lá lìa cành
Mốt mai lỡ nhịp tình xanh mất rồi
Bao nhiêu năm vẫn bồi hồi
Lắng nghe sầu cảm đâm chồi trong tôi .    
10-08
 



Thư Khanh : VẠT NẮNG PHÙ THỦY

CHỐNG CỘNG

Ngồi đây chống Cộng – khó gì đâu .
Cứ chửi vung lên – chửi ngập đầu .
Nhưng có chết thằng nào đâu nhỉ .
Xanh , Đỏ – con quay – qủa  thật rầu  .
*
Thằng nào cũng hét – cho to miệng .
Đố dám la to giữa phố phường
Ở giữa Sài Gòn hay Hà Nội !
Có về là …đớp hít lẹ rồi dông ….
*
Ngồi đây ta đợi giờ sung rụng .
Dân đứng vùng lên diệt bạo tàn .
Mong gì một lũ to mồm nhỉ .
Lãnh tụ đang tù nát mọt gông …!
THƯ KHANH ( tặng cha Lý đang chờ Cộng Sản cho trở lại nhà tù ! )


 

 



1- VẠT NẮNG PHÙ THỦY


Sáng nay vạt nắng về bên ấy .
Như rũ chăn hồng gọi phố xa .
Chim chóc nằm im không dám hót  .
Thì ra …nắng khác ở quê nhà …!
*
Trời ơi ! vạt nắng – nàng phù thủy .
Ta cúi phà hơi  những nụ hồng .
Chú bướm e dè đang ngái ngủ .
Lòng ta lạnh cóng tựa dòng sông .
*
Người đi đâu đấy – về đâu đấy .
Ta tặng khăn quàng mới kịp đan .
Mái tóc ai  buồn sương trắng xoá .
Có hay vạt nắng lúc đông tàn …
THƯ KHANH (Seattle  tháng 2- 2011 – đông tàn ! )

 

 

 

TẾT THUỞ LÊN BA

Nhớ ngày tôi mới lên ba ,
Tết về ! Tôi bé nhất nhà được cưng .
Mẹ giành cho cái bánh chưng ,
Nhỏ như lòng đĩa – buộc quanh lạt hồng .
Nửa đêm pháo nổ đì đùng ,
Hoa đào nở rộ – bánh chưng nấu dền .
Ông tôi làm lễ nửa đêm ,
Cây nêu đã dựng trước thềm gió lay .
Gió xuân ngan ngát hương lài ,
Bố châm ngòi pháo – điếc tai quá trời .
Pháo đùng chát chúa ! tả tơi ,
Con cún chạy tuốt chui nơi gầm giường .
Mẹ ôm tôi vội vào lòng ,
Rồi đi bới pháo … vô cùng là vui .
Mẹ cho cái pháo tịt ngòi ,
Mang ra tận cổng nhờ Ai châm dùm .
– Nhờ Ai …? ! – người ấy lớn hơn ,
Cái anh hàng xóm hay hờn ấy ư ? !
* Mỗi lần nhớ Tết ngày xưa ,
Tôi còn nhớ cả NGƯỜI TA mới kỳ !
THƯ KHANH ( nhớ về Quê Nội Ý YÊN – NAM ĐỊNH VIỆT NAM  ) .

 

 

 

 

 

 

NẮM XÔI…

Cộng Sản cứ để nắm xôi …
Nhử thằng Chống Cộng đã hơi bạc đầu .
Gìa đầu …nhuốm  tóc hoa cau ,
Còn ham danh vọng công hầu …xênh xang …!
Chao ơi ! áo gấm về làng ,
Gái thơm dâng hiến …anh càng  ngất ngây  .
Quen ăn , khó nhịn …từng ngày ,
Đường xưa lối cũ : DƠ TAY xin hàng .
Thôi thì KHÚC RUỘT XA XĂM ,
Anh yêu Tổ Qủy em mừng cho anh !
Công Danh Cộng chẳng để dành ,
Chờ cho mỏi mắt …Cộng đành thế ư …? !
THƯ KHANH ( tặng Nguyễn Cao Kỳ ) .

 

 

 


DẤU YÊU


Đôi môi thăm thắm thiên đường ,
Nửa mang huyền thoại nửa còn thơ ngây .
Nụ hôn rót mật đợi ngày ,
Từ bao đời vẫn – chứa  đầy trong mơ …
– Bàn tay mười ngón măng tơ ,
Mắt môi em  – những nụ  hoa biết cười .
Thuyền tình chưa cập bến vui ,
Dấu Yêu : hai trái đào tươi …căng tròn …
THƯ KHANH

 

 

LÁ THƯ THĂM NỘI TÔI

Đã lâu lắm ! con xa Quê – Xa Nội .
Nhớ miền Trung …- sao nay nhớ vô cùng .
Nội của con ngày xưa làm nghề biển .
Nước mặn môi – đen cháy xám da lưng .
*
Chân tay ngoại khẳng khiu như cây củi
Mắt con buồn nhỏ lệ cúi hôn thương …
Nội nuôi con từng ngày mong khôn lớn
Nhờ cá tôm nội đi lưới đoạn trường  …
*
Nội vất vả ! nhưng có cơm có cá .
Cánh buồm vôi cá bạc cứ mỗi chiều .
Mùi tanh mặn ươm cả vào nếp áo .
Áo nâu vằn – mồ hôi  … vẽ…  hoa  thêu .
*
Con đường ấy …vẫn ngày xưa lối cũ .
Từ trên đồi –   xuống bãi – dấu chân thương .
Con đuổi bắt con dã tràng xe cát .
Đuổi bắt hoài tưởng được hoá ra không …
*
Mong thuyền Nội chở đầy con cá bạc .
Khấn sao trời cứ tỏ -xin  đừng mưa .
Chiếc cầu vồng đừng hiện lên đấy nhé .
Nội bình yên lướt sóng cứ ra  về   .
*
Biển của mình – chứ của ai đâu nhỉ .
Bỗng nay con nghe Nội phải bỏ nghề .
Và xóm lưới đã nhiều người Tàu giết .
Vì Tàu bảo là biển cấm  – Không cho !
*
Cả xóm lưới nay giờ như chiến địa .
Người bỏ đi tìm cuộc sống nơi nào .
Những mẻ lưới từ bao đời nuôi sống .
Nay giặc Tàu cướp mất – có  còn đâu !
*
Con buồn lắm ! Nội ơi – con buồn lắm .
Tổ Quốc ta – sao nỡ  bán cho Tàu ? !
Thân tầm gửi chỉ lo  : lo mất nước .
Mất đến nơi rồi – con thương qúa – nội – nội  … ơi  !
THƯ KHANH ( gửi đồng bào trong nước :  làm nghề cá – quê hương Miền Trung ! )