Dòng Thơ Nhật Quang : NỢ NON SÔNG

Xin quí vị đọc những bài thơ dưới đây, thì biết mình là người nhạy cảm (sensitive) hay vô cảm (insensitive). NQ

 

NỢ NON SÔNG

Ra đi chưa thoát nợ non sông,

Thương phế thư theo gởi chất chồng:

Phế liệt cơ hàn nơi chõng nát,

Binh mù sờ soạn giữa lều không.

Đứt gân xiêu vẹo, thù khinh ghét,

Cụt gối bò lê, bạn chẳng trông.

Tủi nhục quê hương thân nặng gánh,

Từng chung lửa đạn có tâm đồng?

        ****

Người ngay nào quịt nợ non sông,

Phúc đức mừng ta hưởng chất chồng:

Chinh chiến vạn ngày bom đạn tránh,

Viễn trình muôn dặm biển trời thông.

Mỗi trăm đô nhịn chưa nghèo bớt,

Triệu tám đồng vô giúp nổi nông.

Binh phế khổ đau, luôn nhớ giúp,

Bạn cùng chiến tuyến mãi chờ trông.

Nhật Quang

 

NGHĨA NỢ NON SÔNG

Ra đi còn thiếu nợ non sông?

Đừng tưởng an vui, vội bốc đồng.

Chiến hữu tật nguyền trong đói lạnh,

Cố tình ngoảnh mặt, thẹn buồn không?

 

Nghĩa cả quê hương cùng sống chết.

Người đi may mắn, kẻ quê trông.

Thế gian một thoáng rồi tan biến,

Thương xót chia nhau chút mặn nồng.

 

Xứ người nghèo bịnh khỏi lo chi,

Vị kỷ, bần keo chẳng đúng gì,

Chắc bóp nhiều thêm, rồi cũng thế,

Phế thương, tự nhớ giúp thường đi.

 

Lắm mồm, quịt nợ đáng khinh khi,

Nợ nghĩa non sông, chẳng thể lỳ.

Sòng phẳng phân minh, đời phước hạnh.
Mai ngày thanh thản bước tiên qui.

Nhật Quang.

 

THƯ THƯƠNG PHẾ BINH

Quê nhà thương phế gởi thư sang,

Cảm cảnh non sông, lụy  ứa  tràn.

Chiến sĩ cụt giò, mông lếch đất,

Anh hùng đui mắt, gậy quờ quang.

Mẹ nghèo quá vãng, lều tan mái,

Vợ đói dông rồi,  bếp lạnh hoang.

Tủy sống đạn vương nằm liệt chiếu.

Bạn, thù, dạ sắt  nỡ  khoe khoang.

Nhật Quang HP.

 

CHÁN PHÈO

Cuộc thế từng qua thấy chán phèo,   

Đủ trò, nhiều đám chết ngu theo:      

Mác Lê ảo vọng xui cuồng ác,            

Mao Cáo tàn hung khiến đói nghèo.  

Vô Thượng lừa mê ban nước thải      

Sư  mang  đại  vũ  lọng  tàn  đeo          .    

Ngón nghề cường bịp chung là nhất,

Lớn nhỏ triều đình hổ, cáo, heo.       

Nhật Quang. 

 

THƯ THƯƠNG PHẾ BINH

Thư quê thương phế kêu gào,

Đã cùng chiến tuyến nở nào làm ngơ.

Bao năm khổ nhục đến giờ,

Hoài trông chiến hữu bên bờ chát chua.

Tiền đem cờ bạc mãi thua,

Diễu đời, dối đạo, chẳng mua được gì.

Phật nào độ chẳng từ bi,

Chúa nào cho kẻ tiện ti thiên đường.

Lắm rượu gan, thận, nảo thương,

Hút thuốc hại phổi sớm bương nhị tì.

Thức ngon ăn lắm phát phì,

Chi bằng nhiều ít độ trì thương binh.

Trước đây chiến sĩ phe mình,

Xông pha lửa đạn, hy sinh cuộc đời.

 

Trẻ già hào phóng nên chơi,

Bỏ thói bủn xỉn tiếng đời cười chê.

Thiên thu rồi cũng ra về,

Của tiền chắc bóp, khó bề mang theo.

Ta no, thương phế đói nghèo,

Miếng cơm, manh áo, xẻ seo chân tình.

Cũng thời một kiếp nhân sinh,

Đui què liệt cụt thay mình khổ đau.
Tuy ta chẳng mấy sang giàu,

Ấm no, lành lặn, đủ màu thảnh thơi.

Đoái thương chia chút lộc trời,

Nghĩa tình, nhân đạo cho đời đẹp vui.
NhatQuang HP.

 

TÌNH NGHĨA CHỊ EM

Em đây thương tật rả rời,

Một đô chị giúp, vui dời mươi hôm.

Chị ơi em đói khô mồm,

Cho em chút đỉnh tiền còm cháo rau.

Thân em đui cụt liệt đau,

Chẳng kiếm ăn được, trông mau qua ngày.

Phước trời , mừng chị vận may,

Thoát nơi tù ngục đọa đày thế gian.

Chị đi xe gấm xênh xang,

Giữa thù em chịu muôn vàn đắng cay.

Chiến trường em mất chân tay,

Em hư dôi mắt, lê càng liệt suy,

Em vì Đất Nước chị đi,

Chị khoe áo gấm làm chi xứ người.

Xứ người giàu có mười mươi,

Chị khoe cho lắm chúng cười chị thôi.

Bao năm khổ nhục lắm rồi,

Chị cố chơi nổi, vang trời tiếng hơn.

Rắn rồng mồng đỏ chị sơn,

Cho em tiền đó, em ơn chị nhiều.

Thoáng qua đời đã về chiều,

Thương em giữa cảnh tiêu điều tối tăm.

Nhật Quang.

 

CHỐN NƯƠNG THÂN

Tây phương, Úc, Mỹ giúp thương ta,

Đùm bọc cưu mang trẻ  lẫn  già.

Bất nghĩa cố giàu, đua nhũng lạm,

Lắm tay nghề nghiệp tính công ma.

 

Giấy tờ giả mạo chúng trưng ra,

Tín dụng, tiền vô đặt số ma,

Bịp thuốc, buôn nhà, vay nợ lớn,

Lừa tiền chính phủ sống xa hoa.

 

Đứa buôn ma túy, đứa buôn người,

Đứa gạt ngân hàng phá sản gia.

Luật hở moi thêm bày dối giả,

Trở cờ giúp Cộng vớt dollars.

 

Cơm Mỹ mòn răng, khen nịnh Cộng

Hãy về luôn sống, chúng đang mong.

Việt Kiều yêu nước nguồn lao động,

Mãi ở chi đây khuấy cộng đồng.

 

Đá, đồng, đồ sắt bước văn minh,

Nay tới đồ gian đễu thịnh hành,

Trở tráo, ác tham tràn khắp chốn.

Trăm điều chẳng thật, vốn lưu manh.

 

Xuân nầy mong mỏi khắp gần xa,

Nhàng nhẹ an vui sống trẻ già.

Đây chốn nương thân xin chớ phản,

Chung lòng bồi đắp đẹp thêm ra.

Nhật Quang.

 

ĐỒNG VỒ

QuảngNgãi MiềnTrung có chú Đồng

Ký dâng các đão biển thềm đông,

Trả ơn bom súng quân Tàu giúp.

Phá nát non sông hiến giặc hồng.

 

Tây Tạng nay đây sắp xứ mình,
Tiến trình nước Việt bước điêu linh.
Công lao tiên tổ đâu còn nữa,
Muôn thuở hồn mang nỗi bất bình.
Nhật Quang
.




Nguyễn thành Bửu: TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY

TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY

Cảm tác sau khi đọc lá thơ đầy nước mắt của một cô gái đang sống dật dờ  tại thị xã Cần Thơ
 

Lúc mà các bác chưa có vô đâyCháu chưa có mặt trên đất nước nàyMá cháu còn đi đến trường mỗi sángĐúng tuổi trăng tròn, đôi má hây hây.Kể từ sau ngày các bác vô đâyÔng Ngoại bỗng nhiên bị bắt, tù đàyBà Ngoại nhớ chồng rưng rưng mỗi tốiMá cháu ưu sầu đánh mất thơ ngây. Hai năm sau ngày các bác vô đâyMột sáng mùa Đông sương trắng giăng đầyCác bác đến nhà, lưng đeo súng đạnBắt Má đi làm thủy lợi miền Tây.Một tháng đi làm thủy lợi miền TâyMá về ốm o, thân xác hao gầyMá ôm Ngoại khóc, thì thầm kể lể :– Cán bộ hiếp con, có lúc cả bầy !Rồi cháu ra đời không Ba, có MáNgoại vừa nằm xuống nên Má trắng tayBán buôn tảo tần Má nuôi cháu lớnDù không biết rằng Ba cháu là ai !Mười tám năm sau ngày bác vô đâyTài sản, cửa nhà không cánh mà bayMá cháu qua đời sau cơn bạo bệnhCòn gì bán nữa ? – Ngoài thân cháu đây ? Gần hai mươi năm sau ngày bác vôCháu mười sáu tuổi thân xác héo khôVậy mà phải bán, lấy tiền mua gạoTính ra sáng chiều – chỉ khoảng một tô !

Nguyễn thành Bửu 
(04/1995)

Dương Quân : CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ

CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ

                   ( Tháng 6/ 1975 )

 

 

   Ta sẽ kể em nghe về tháng hạ

   Một ngày xưa ta buộc phải lên rừng

   Bỏ thành thị, bỏ gia đình…tất cả

   Hành trang buồn, tủi nhục cõng trên lưng.

 

   Đầu đội trời chói chang, lê chân đất

   Cạnh bên ta rổn rảng những xích xiềng

   Bạn đồng hành chung chiếc còng, khóa chặc

   Ta trở về thời Trung Cổ đêm đen.

 

   Kìa những trại giăng giăng dây thép rỉ

   Những hào sâu nhọn hoắc vạt tầm vông

   Tường đá dựng che mảng trời âm ỉ

   Nòng đại liên lấp ló lổ đen ngòm.

 

   Ta đến đó cùng anh em thất trận

   Chốn giam cầm thừa bẩn thỉu hôi tanh

   Lòng ngơ ngác như sau cơn địa chấn

   Song sắt tù khép lại tuổi  xuân xanh.

 

   Bọn cai ngục ác tâm và hung bạo

   Đày đọa ta, " tù cải tạo " nhọc nhằn

   Lao động khổ sai, tả tơi manh áo

   Cơn đói hoành hành, chẳng có cái ăn.

 

   Từ hạ ấy, từng thu, đông xám ngắt

   Nhiều năm dư dưới cùm xích tơi bời

   Anh em ta, những người xưa biến dạng

   Xem hình hài như một lũ ma trơi.

 

   Ôi còn đâu ? dáng phương phi ngạo nghễ

   Nếp nhung y, trán thẳng, nét kiêu hùng

   Con người giờ đây ngang hàng giun dế

   Chỉ còn trái tim, đóm lửa rưng rưng…

 

   Nhiều bạn ta đã tàn hơi lực kiệt

   Đành xuôi tay, thần chết dẫn ra đi

   Ta cúi đầu thì thầm lời thương tiếc

   Nỗi ngậm ngùi đau xé phút lâm ly.

 

   Từ hạ ấy, quê hương trùm tang tóc

   Lũ vô thần dày xéo dãy non sông

   Khắp thành thị, thôn quê đầy gian tặc

   Ta bắt đầu lạc bước kiếp lưu vong.

 

               ***

   Chuyện tháng hạ ngày xưa ta đã kể

   Bài học này, em có nhớ hay không?

 

 

              DƯƠNG QUÂN




Đỗ Trung Quân : TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN

TẠ LỖI TRƯỜNG SƠNĐỗ Trung Quân (1982)

 




Ngọc Bích : Thơ đốt cho anh.

Nguyễn thị Vinh

 

          Thơ đốt cho anh


Thơ đốt cho anh.

Tỉnh đi anh, dạy đi anh!

Nguyễn thị Vinh

**

Ngọc Bích

 



Ngày giỗ anh


**


Hai bảy mười bốn

ngày ta mất người

Em gửi theo anh tận cuối trời

Gửi trời xanh thẳm niềm cay đắng

 




Thiếu Khanh : Trường Ca Việt Nam

Trường ca Việt Nam

Posted: 06/04/2011 by quản thủ thư viện in Thiếu Khanh, Thơ

Thiếu Khanh
Cho Thu Lâm Trương Lợi  (Canada)

Ta phá xiềng Bắc thuộc
Một ngàn năm nếm mật nằm gai
Một ngàn lần quật mình đứng dậy
Ngạo nghễ trước móng vuốt
cường bang bạo lực
Gọi thức giống người đoạn phát văn thân
Giết chết con thuồng luồng quấn cổ
Khơi rộng biển ngòi
Mở rộng giang sơn

Từ đó
Bàn chân ta khai núi
phá rừng
Bàn tay xua loài thú dữ
Mang quả tim lửa bỏng yêu thương
Ta đi về phương Nam
Mặt trời rực rỡ
Đặt mình trên bờ bát ngát trùng dương
Hát bài ca gió nồm
Trong hơi thở nồng ấm
mặn mà
ngào ngạt
Của biển của sông
Và khí phách mấy ngàn năm
phấn đấu
Để sinh tồn

Đã từng phen hưng phế thăng trầm
Đớn  đau thân thể
Ta bùi ngùi kể lể
Bằng gió Thái Nguyên
Rừng Lạng Sơn
Sông Nhị núi Nùng
Nghe từng đàn con tức tửi
Từng bàn chân dã thú ngoại nhân
Dẫm nát những vùng tóc xanh máu đỏ
Mà nhớ những đêm Chí Linh
tiếng thét oai hùng

Cũng nhiều phen ta hò reo
Đẫm mồ hôi thạch mã
Đỏ ngọn sóng Hồng Hà
Lời hịch vang lừng nhát dao chém đá

Ta cựa mình đứng dậy
Nhìn hai mươi vạn quân thù tan tác trôi sông

Đêm Mê Linh
Núi Lam Sơn
Ngọn Bạch Đằng
Gò Đống Đa
Thân ta dựng nên thành cao
bất khuất.

Từ buổi sơ sinh trên bờ sông Dương tử
Ta khôn lớn ở Thăng Long nghiêm cẩn
Về Phú Xuân trang trọng hào hoa
Nhìn ra trùng dương sóng vỗ
Ngọn gió hồng hào thổi suốt châu thân
Thơm mùi biển khơi
rừng sâu
Phù sa quyện tràn hơi thở
Chín con rồng hát khúc bình ca
Trên thân thể ta mượt xanh châu thổ

Bản hùng ca
Bốn ngàn năm khí phách
Bốn ngàn năm bứt phá nanh vuốt bạo tàn
của con hổ dữ
Dựng một trời chiến công
Ngút tỏa hào quang
Trên bờ Đông hải
Với những trường canh nhịp phách lẫy lừng
Ngô Quyền
Lê Lợi
Hưng Đạo
Quang Trung

Ta vừa hát vừa đi
Từ Bắc xuống Nam
Gõ nhịp trên những ngọn tháp Chiêm Thành
đất đỏ

Nhưng một buổi
Bản hùng ca bỗng dứt
Ta đau thương tủi cực
Nghẹn lời trầm ca thê thiết xuýt xoa
Ngọn lửa thù hằn nung cháy nồi da
Ta nhức nhối nằm nghe chín từng thớ thịt
Ngọn sóng Linh Giang
Xô lấp tiếng thét Bạch Đằng
Ta buông rời từng chiếc tóc xanh
Cánh tay cằn cỗi
Không che hết những vết rạch ròi
Bao nhiêu nhát dao bằm trên thân thể

Kể từ đó
Ta thành con-người-một-nửa
Con mắt bên này
Nhìn chới với con mắt bên kia
Trong vết tử thương xả đôi hình hài
Ta nhìn ta
xương thịt
mũi tẹt da vàng
Đã dựng chung lịch sử

Từ thuở sơ sinh trên bờ sông Dương tử
Theo cánh chim Lạc
Bay về với nắng phương Nam
Ta cất tiếng hùng ca
Khai rừng đuổi thú
Bốn ngàn năm khôn lớn đứng dậy
làm người

Bây gìờ một nửa thân ta thương tích
Nằm nhìn con sông Bến Hải
Nằm nhìn hai phần thân thể buông nhau
Bởi chính một dòng huyết mạch

Thiếu Khanh
(trích Trong Cơn Thao Thức; nxb Da Vàng, 1971)

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Khoảng 1973-1974 tôi tình cờ có được tập thơ Trong Cơn Thao Thức của Thiếu Khanh. Tập thơ đã rách bìa, và cuối tập thấy ghi in ở Đà Nẵng 1971. Khi đó cuộc chiến tranh đang hồi ác liệt, tôi là bộ đội và Thiếu Khanh chắc là “lính Cộng Hòa” – vì thơ anh là thơ của một người lính. Tập thơ của anh hấp dẫn tôi vì sự chân thật đến nghẹt thở của một người lính chiến. Từ chuyện hành quân, nổ súng, ném bom đến tin vợ sinh con khi ba đang trong trận đánh đều được anh viết chân thật và và lay động tận tâm can. Lúc đó tôi cũng đã làm thơ, đã có thơ in báo và đang chuẩn bị in một tập thơ lính. Đọc Thiếu Khanh, tôi giật mình khâm phục, ước gì viết được những câu thơ gan ruột như anh. Những câu thơ đến giờ tôi còn nhớ:

“Nếu không có con
Biết lấy ai làm chứng cho ba đã có mặt trong đời”

Chỉ có người lính chiến mới nhận ra được cái điều tưởng như đơn giản ấy. Đạn bom đã cướp đi biết bao người lính trẻ “chưa một lần được hôn” (Phùng Quán), họ thành liệt sĩ hay thành vô danh trong suốt cuộc chiến tranh dài như là họ chưa hề có mặt trong đời. Bởi vì cuộc chiến thật khốc liệt, không biết sống chết lúc nào:

“Véo vào da thịt thấy đau
Da thịt còn đau – dấu hiệu sống còn”

Và cái nghịch lý chiến tranh đã tạo nên biết bao bi kịch người lính, kể cả tình yêu mà mình luôn nâng niu trân trọng:

“Anh đi ném bom xé nát trăm miền
Rồi về dưới đó mua cành hoa nhân tạo
Sáng mồng một Tết tặng em”

Những câu thơ chua chát và cay đắng thật hiếm có trong cuộc chiến!

Nhiều lần tới Đà Nẵng, tôi hỏi thăm xem có ai biết Thiếu Khanh không. Năm 1984, nhà thơ Đoàn Huy Giao (con rể nghệ sĩ Hoàng Châu Ký) bảo tôi là có biết anh nhưng không biết Thiếu Khanh hiện đang ở đâu. Rồi lâu quá, tôi nghĩ chắc anh vượt biên hoặc đi ra nước ngoài theo diện HO. Tuy vậy, thỉnh thoảng tôi vẫn đọc những câu thơ của anh khi nói chuyện về thơ lính. Những câu thơ luôn nhận được sự đồng cảm và thán phục của công chúng.

Mãi đến đầu 2010, trên một chuyến xe chở đoàn nhà văn từ Hà Nội đi dự Đêm Thơ Quốc Tế ở Hạ Long, tôi ngồi ghế trước anh ngồi ghế sau mà không hề biết nhau. Xe gần đến Tuần Châu tôi hỏi anh tên gì? Anh rất hiền từ nói tên là Thiếu Khanh, khiến tôi ngạc nhiên vô cùng. Và khi biết tên tôi anh cũng ngạc nhiên không kém. Hóa ra sau này Đoàn Huy Giao cũng đã kể cho Thiếu Khanh là tôi đã có lần tìm anh.

Tôi đọc thuộc những câu thơ gần 40 năm của anh, và anh gật gù đọc nối tiếp. Anh bảo nhiều bài thơ xưa anh không còn nhớ nữa, nhưng những câu thơ tôi thuộc thì anh vẫn nhớ. Hóa ra anh vẫn ở Việt Nam. Sau chiến tranh anh đi làm rẫy 22 năm rồi mới xuống Sài Gòn làm nghề dịch sách văn học, sách từ điển, và vẫn thầm lặng làm thơ. Thơ của anh vẫn nồng hậu và lãng đãng chất lính hào hoa xưa. Xưa “Yêu em ta bỗng thành thi sĩ/ Thơ lính hong ngời mắt mỹ nhân“, và nay thì: “Chỉ hai đứa mình cũng đủ thành giao hưởng/ Mỗi nốt vui khởi xướng cả trăm bè”.

Chúng tôi du thuyền ra Hạ Long, ngồi cáp treo lên Yên Tử rồi chụp ảnh kỷ niệm hai người lính hai chiến tuyến xưa, nhưng thơ thì không còn ranh giới nào cả, bởi thơ là điểm gặp nhau chung nhất của con Người.

Chiều nay tôi nhận được mail và tấm hình anh gửi. Lòng cảm động như nhận thư của người yêu. “Sự gặp gỡ của hai chúng ta trong dịp này khiến tôi hết sức xúc động, nó làm cho những ngày ở Hà Nội của tôi thật có ý nghĩa mà nếu trước đó tôi không đi dự chắc là tôi không biết mình đã đánh mất một điều gì. (Tôi đã định không đi dự hội nghị này vì … sợ không kịp hoàn thành một tác phẩm đang dịch dở dang. Về tới nhà tôi vội lao vào làm việc ngay cho kịp). Tấm ảnh Tạo gửi tôi, năm người chúng ta thật đẹp, và tất cả cùng rất vui. Tôi cũng gởi cho Tạo tấm ảnh chúng ta chụp ở núi Yên Tử. Tôi nhớ chúng ta có chụp một tấm ảnh nữa trước cổng Thiền Phái Trúc Lâm (?), nhưng tôi chưa tìm ra!”

Vâng 37 năm người viết và người đọc mới gặp nhau mà như đã chơi với nhau từ lâu lắm…

Hà Nội, 21.1.201037 năm mới gặp nhau.

5 nhà thơ: Nguyễn Hoa, Thiếu Khanh, Hoàng Hưng, Nguyễn Trọng Tạo, Hữu Thỉnh.

THIẾU KHANH: Tên thật Nguyễn Huỳnh Điệp. Sanh năm 1942. Tại Bình Thạnh, Tuy Phong – Bình Thuận. Hiện cư ngụ tại Sài Gòn.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

·  Thơ: Khơi Dòng (chung với Thu Lâm và Nguyên Thi Sinh, Montreal Canada 1968)

·  Trong Cơn Thao Thức (Da Vàng – Đà Nẳng, 1971). Tác phâm được in tại Đà Nẵng vì đó là quê hương người bạn đời của nhà thơ.

·  Một số tác phẩm dịch thuật, Từ Điển Cụm Từ Việt-Anh (ký Nguyễn Huỳnh Điệp).