Thư Khanh : EM VỀ


CẢ MỘT BIỂN TRỜI VÙNG TÂY BẮC MỸ

Cả một Bỉển Trời Tây Bắc Bắc Mỹ .
Núi non lồng lộng gió hoan ca .
Mặt trời thức giắc năm giờ sáng .
Uống rượu đang say ở trước nhà …

Ông ơi  ! đám cưới Ai trên ấy .
Mây kết lọng xanh đỏ tím vàng .
Môi má hồng au – cô dâu ấy .
Về đâu … mây chở chuyển đò … ngang …

 Tôi ngắm trời Mây Tây Bắc Mỹ .
Hè Về chan chứa ngọt yêu thương .
Nắng vàng trải lụa trên đồi vắng .
Thả xuống sông xanh lớp sóng vàng …

Ai về Quê Mẹ nhắn dùm tôi .
Mẹ có cơm no hay sắn khoai  ? !
Ngắm nắng vàng trên hoa cải nở .
Miếng trầu T … mẹ có quệt thêm vôi .

Tôi nhớ về Em Quê Nam Bộ .
Một thời xa lắm – Ngực tròn căng .
Cánh đồng thẳng cánh – theo chân thợ .
Chim gù mót lúa gọi đàn con …
THƯ KHANH (Ngắm Nắng Tây Bắc Mỹ – 
Nhớ năm THANH BÌNH MIỀN NAM – QUÊ HƯƠNG )

EM VỀ

Em về ! còn để lại đây ,
Môi son dấu ấn – bàn tay dịu mềm …
Em về như một nàng tiên ,
Tìm em nào biết đi tìm nơi nao !
Gặp nhau như giấc chiêm bao ,
Đêm đêm cơn mộng chợt đau hồn mình .
Phải chăng kiếp trước đa tình ,
Kiếp này em đến vá lành tim  xưa  ? !
– Vần thơ …- vẫn mãi ngu ngơ ,
Rượu nào …uống mãi – sao cho hết buồn  …

THƯ KHANH

 

EM NHƯ …


Em như một cánh hoa hoang dại .
Đang đợi anh từ bên ấy qua  .
Nhà em bên cạnh đồi sim  tím
Hoa ngậm sương đêm… cứ mãi chờ …

Vườn xuân ! sao bướm vô tình quá
Sao chả vượt đèo cố lội sang  .
Nắng xuân trải lụa trên thềm cỏ
Sắp sẵn cho em chiếc nệm vàng  … .

 Này đây ! em tặng anh đây nhé .
Môi má hồng nhung  thuở thiếu thời .
Đôi vòng tay ngọc xin thêm xiết .
Để thấy hoa lòng  đậu Bến Vui ….

Xin đừng sợ lụt – Xin đừng sợ .
Nhà ở gần sông vẫn rất tình  .
Cho nhau hơi thở tràn hương lửa .
Rạo rực như thời tuổi …rất xanh …

THƯ KHANH

EM VẪN CHỜ ANH

Chờ anh hâm chén rượu nồng ,
Uống say để lại ta còn làm thơ .
Đường đi nào có bao xa ,
Đang gần gũi lắm chả là bao nhiêu .
Tình em như nước thủy triều ,
Thơ không tình chả thể nào làm hay .
Thế nên hâm nóng rượu này ,
Môi em nóng bỏng chứa đầy tặnh anh .

THƯ KHANH

MONG TIN NHÀ

Hết mở email lại gọi phone .
Nửa đêm vẫn đợi …rất u buồn .
Mẹ xưa ĐI …- cũng không về được .
Nay bố sắp VỀ – con cũng không !

U uẩn chòm  mây nơi  xứ lạ .
Ngồi đây mà  ngắm bóng tà dương ? !
Mẹ cha khuất núi …- con cô phụ .
Đành mở trang kinh gửi tấm  lòng .

Xin Phật cho về nơi Vĩnh Cửu .
Cuộc đời dài lắm chỉ trăm năm .
Mà bao gian khổ ba đà gánh .
Khu Bốn Khu Năm lắm bất bình !!!( * )

THƯ KHANH
 ( * ) = Bố Thư Khanh đã từng bị đi tù Lý Bá Sơ trong Liên Khu TƯ –  Khu Năm !!!

MƯA VẪN MƯA RƠI

Mưa vẫn mưa rơi ngoài khung cửa  .
Âm thầm như giọt lệ em đang .
Buồn như thiếu nữ : Nàng Tô Thị .
Mong mỏi mong mòn ….- chả dám trông …!

Bảy Lăm – Anh đã không về nữa .
Hồn anh phơ phất có buồn không .
Lệ Em – Nay đã thành khô cạn .
Phó mặc cho mưa khóc hộ lòng .

Có những đêm mơ về Cố Quốc .
Thấy anh vơ vẩn chín từng mây .
Nhìn xuống chỗ mình xưa hò hẹn .
Tìm em dấu cũ …nắng chiều phai .

Nụ cười … cô bé mới mười lăm .
Đôi gót hồng son  … chưa bụi trần .
Làn da ấp ủ hương trinh trắng  .
Đôi mắt bình minh một nhánh sông

Mưa Vẫn Mưa Rơi ngoài  khung cửa .
Lòng mình còn nặng dấu uyên ương .
Tiễn anh ra trận – chia tay mãi .
Vĩnh Biệt ….anh đi ! Vĩnh Biệt Chàng  !!!!!!!!!!!!!

THƯ KHANH
( Viết cho những Hương Vong – những Chiến Sĩ Vô Danh Quân Đội VNCH  )



CẢM ƠN ANH

Cảm ơn anh ! – gọi đầu dây ,
Cho em trẻ lại như ngày đôi mươi .
Cho em nghe lại tiếng cười ,
Từ trong tim lạnh cuộc đời lưu vong .
Dù cho đã cuối nẻo đường ,
Còn chia xẻ được nỗi lòng tha hương .
– Xa xôi : hai kẻ hai đường ,
Cảm ơn anh gọi …tô hồng tim em …

THƯ KHANH

Seattle NÉT XUÂN

Đất Trời đang trảy mùa vui ,
Nàng Xuân biêng biếc nghiêng đôi mắt tròn .
Thướt tha ! cánh áo nàng vàng ,
Tuổi thơ đan mộng từng hàng trên mây .
Nụ cười khúc khích gió lay ,
Mượt mà mái tóc chấm vai thon tròn .
Đồi hồng rộ nở  mênh mông .
Nụ  hôn  … cánh bướm … ngập ngừng xa  xa .
Ghẹo chàng Quân Tử làm thơ ,
Lời đâu mà viết cho vừa ý say …!
Nhắc anh : nhích khẽ  đuôi mày ,
Xuân Xanh Trảy Hội Nét Ngài… Kiều Thơm …

THƯ KHANH ( Xuân đang về trên Seattle )

GIẬN NÈ

Em vẫn biết chả bao giờ anh nói thực
Bởi lòng anh đang hướng tám phương trời
Em vẫn giận chả làm thơ tặng lại
Đợi khi nào anh năn nỉ mới thôi

Anh cứ bảo : Ngắm kìa em bé tí
Nấu nồi cơm chưa chín chỉ làm thơ .
Được rồi nhé : Chê em … – cho biết mặt .
Em tặng thơ cho người khác bây giờ .

THƯ KHANH


 





Làm Sao Anh Biết,


 birdLA.jpg picture by DoMinh
 
Làm Sao Anh Biết,

Chim lạc bầy thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi . 
Ca dao
Làm sao anh biết chim buồn xa cội
Minh lìa nhau tội lắm phải không anh
Biển mênh mông nên mây khói xây thành
Mối chân tình vẫn dành trao ai đó.
 
Hơi nước biển mặn mà gây thuơng nhớ
Nỗi lòng em trải rộng nhánh sông sâu
Bao kỷ niệm vùi chôn khúc giang đầu
Làn sương phủ tóc mây mờ khói trắng.
 
Ngôi trường nhỏ lặng yên trong chiều vắng
Nhạt nhòa tia nắng trải lối đường xưa
Đã bao lần mình cùng trốn trời mưa
Tim trăn trở dù chưa lần hò hẹn.
 
Sao bỗng nhiên nghe chút gì e thẹn
Lén nhìn nhau chợt bẽn lẽn ngượng ngùng
Giờ tan trường chẳng dám đi về chung
Lòng thầm mong lá thư tình thứ nhất .
12-09 ĐT Minh Giang




Quang Thiện : Tuyệt Vọng

TUYỆT VỌNG

 

 Một người chẳng thể nào không tin có ma khi chính họ trở thành ma. Tôi tự treo cổ chỉ vì một chuyện buồn ghê gớm, nhưng nghĩ kỹ thì sự kiện cũng không đến nỗi phải tuyệt vọng, nên tôi thấy hối hận ngay lúc vừa thực hiện xong ý định của mình. Sau khi đạp ngã chiếc ghế, tôi muốn nó đứng lại chỗ cũ, nhưng trọng lực đã khiến ý muốn của tôi trước đó phải tuân theo tình huống xảy ra. Chiếc ghế nằm trên sàn nhà không thể tự đứng lên được và sức nặng chín mươi lăm ký-lô từ thân xác tôi không ngớt trì xuống, làm chiếc thòng lọng tự động siết chặt chung quanh cổ.

Tôi cảm giác cơn đau ghê gớm vừa phát xuất từ cuống họng, và nhận ra sự kiện lạ khi đôi gò má bỗng phình to đến đổi có thể thấy hai đỉnh tròn đỏ nhô cao. Tôi chỉ biết giương đôi mắt thống khổ nhìn về hướng cửa phòng, mong có người vào để cứu mình, mặc dù biết trong nhà chẳng còn ai khác và cửa chính đã được khoá cẩn thận. Chân tự dưng vùng vẫy dữ dội làm thân xác tôi đong đưa, xoay tròn ở cuối sợi dây, khiến có lúc tôi nhìn thấy cửa chính, lúc thấy cửa sổ. Ðôi tay tôi run rẩy bấu sát ở cổ, cố sức tháo gỡ chiếc thòng lọng đang siết vào da thịt, nhưng chẳng thể nào nới lỏng nổi.

Có điều lạ là dù thân xác đang trong hoàn cảnh hốt hoảng vì chuyện sinh tử, trí óc tôi lại tĩnh táo để có thể quan sát toàn cảnh từ xa, tạo cho tôi cảm tưởng mình có mặt ở khắp nơi trong gian phòng cùng một lúc, ngay cả trong thể xác oằn oại vì đau đớn, đồng thời ở  bên ngoài không gian để thấy thi thể mình đang co giật từng chặp, thấy sợi dây thòng lọng chắc chắn, cây xà nhà cứng cáp và thấy cả đôi chân đèn điện không cùng kiểu đang tỏa sáng, soi hai bóng đen cựa quậy trên tường. Tôi thấy được cả cánh cửa phòng khóa kỹ, bức màn trắng ở cửa sổ có tấm mành kéo xuống che kín. Tôi nghĩ mình đã chết thật sự và lúc này dù ước muốn cách mấy, sự sống cũng chẳng thể nào trở lại vì tôi vĩnh viễn không còn cơ hội để chọn lựa.

Tôi tên Hùng, Trần Xuân Hùng, với niên kỷ sinh, tử bây giờ là 1938-1977, đã tự kết liễu đời mình lúc chỉ còn một tháng nữa thì đến tuổi đời bốn mươi ba, dù nghĩ những buồn khổ bấy lâu nay chẳng quan trọng lắm để đến đổi phải chọn cái chết. Tuy nhiên, tôi tự đổ lỗi cho hành động của mình vì nhiều lý do như tôi từng qui trách hầu hết những sai lầm và thất bại trong đời, cũng như vì tình trạng bất lực sinh lý và hiếm muộn của mình. Nếu tôi có thể tạo ra con thì hôn nhân của tôi chắc đã vững vàng, Vân không ngoại tình và tôi chẳng đến nỗi phải quyên sinh vì buồn phiền.

Mùa này ở miền duyên hải mặt trời lặn sớm và biến cố xảy ra vào lúc bảy giờ chiều, trong gian phòng dành cho khách tại nhà tôi ở Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa. Tôi là nhà thầu kiến trúc và buôn bán địa ốc có chút tiếng tăm tại thành phố miền biển này. Tuy nhiên, mấy năm trở lại đây vì tình hình chiến tranh và cũng vì nền kinh tế quốc gia xuống dốc nên vấn đề thu nhập lợi nhuận của tôi có phần giảm sút. Từ văn phòng về tới nhà chưa tới sáu giờ, tôi thấy ngay mảnh giấy nhỏ vợ tôi đặt trên bàn dưới phòng ăn, với mấy chữ viết vội: "Em có chuyện gấp cần phải gặp Tuấn, anh tự lo liệu bữa ăn tối. Xin lỗi anh nhen. Vân."

Có thể nói, Tuấn là tình nhân của vợ tôi. Anh ta làm chủ một cửa hiệu bán bàn ghế và hàng kỷ niệm ở cuối con phố chính từ Nha Trang đi Sàigòn. Ðể tiêu khiển thì giờ nhàn rỗi, Vân tình nguyện làm thư ký coi sóc và thu ngân với đồng lương chẳng đáng bao nhiêu tại cửa hàng của hắn. Tôi biết nàng và Tuấn thường hú hí với nhau ở gian phòng nhỏ đàng sau tiệm vào những buổi chiều cửa hàng ế ẩm, chẳng có mấy du khách ra vào. Tuy rành chuyện cả hai tư tình với nhau suốt hơn ba năm qua, tôi vẫn chưa có quyết định dứt khoát đối với khám phá của mình về chuyện vợ nhà ngoại tình. Thực ra, tôi tự nhận lỗi về phần mình nên hầu như chẳng có ý định gì cả cho dù nàng và Tuấn công khai ăn nằm với nhau. Vì vậy, tôi vẫn giữ im lặng dù không hài lòng với tệ trạng của vợ nhà như vậy. Có thể nói, tôi rất bất mãn, và phẫn uất vì ý nghĩ mình là người chồng bạc phúc.

Trước đây, tôi đã cố tình tự tử mấy lần. Lần đầu tiên, tôi tính húc vào xe tải chạy ngược chiều để chết cho mau, nhưng tới giây phút chót, lại bẻ tay lái né tránh trong tiếng còi của thiên hạ chửi rủa. Lần thứ hai, tôi lái xe lên đỉnh đồi cao ở Cầu Ðá định lao xuống biển sâu mất hút, nhưng cuối cùng đã đạp thắng dừng lại, xong ngồi lặng lẽ cả giờ đồng hồ, trán ướt đẫm mồ hôi vì sợ hãi, rồi sau đó, de xe ra về. Trong lần thứ ba, tôi ngừng ngang đường rầy ở ngoại ô thành phố chờ suốt hai mười phút vẫn chẳng thấy xe lửa đến, rốt cục, cơn buồn tức nguôi ngoai, tôi lái xe về.

Sau đó, tôi có ý định quyên sinh bằng cách cắt cườm tay cho máu ra  hết, nhưng chẳng đủ cam đảm để tự cứa mảnh kim loại sắc bén vào da mình. Hình ảnh miếng thép sáng chạm vào cườm tay trần đã khiến cơn uất ức trong tôi tự dưng tan biến. Mãi cho tới lần kế tiếp tôi mới thành công với sợi dây thòng lọng oan nghiệt.

Ðôi chân tôi tiếp tục vùng vằng trong không khí và móng tay cào điên cuồng ở cổ họng. Ðôi mắt tôi như muốn lồi ra khỏi hốc sọ, trợn dọc một cách ghê rợn, nhìn đôi gò má phồng cao tím bầm. Tôi có cảm tưởng lưỡi đang nở lớn, trám kín khuôn miệng, làm nghẹt thở. Thân xác tôi chao động, lòng thòng như món đồ chơi buộc ở đầu dây. Cơn đau thể chất thật khủng khiếp, khiến tôi hầu như chẳng thể nào chịu nổi lâu dài. Sự đau đớn tưởng còn tệ hơn dao bén lóc da xẻ thịt. Chiếc vòng ở cuối sợi dây càng lúc càng siết chặt làm cổ họng nhức buốt tận cùng xương tủy và tôi có cảm giác đầu phình lớn vì áp suất bên trong muốn phá vỡ để thoát ra ngoài. Khuôn mặt tôi bây giờ tím đen, phình to, chẳng còn hình dạng người, tạo cho tôi cảm tưởng áp suất trong đầu đã lên đến cực điểm như nồi súp de đầy hơi sắp nổ tung. Tôi phải chịu đựng cơn đau khủng khiếp tiếp diễn tưởng chừng bất tận.

Ðôi chân tôi co giật càng lúc càng dữ tợn hơn. Hai cánh tay như dãn ra và đôi bàn tay buông thỏng sang hai bên hông ở ngang đùi, mấy ngón tay co giật cố tìm cách bấu víu vào vải quần. Sợi dây treo căng thẳng đứng nhưng đầu tôi ngoẹo hẳn sang bên. Trong chốc lát, thân xác tôi quay chậm lại tựa như chùm đá mỏng phong linh tạo âm thanh, treo trước hàng hiên, lắc lư nhè nhẹ dù vào ngày không có gió thoảng.

 Ðến lúc này, cơn đau ở cổ họng và trong đầu tuy có giảm bớt nhưng chưa dứt hẳn. Ðôi mắt mất thần nở to bắt đầu đổi xám và tròng khô hẳn, không còn ướt  át bóng láng mà trở thành như hai viên sạn sỏi, tuy nhiên, tôi vẫn có thể nhìn thấy bằng tầm mắt mở rộng, thân xác bị treo của mình đang quay chầm chậm. Tôi bất chợt kinh hãi khi nhận ra tôi đã thật sự lìa bỏ cõi đời.

Dù đã chết, tôi vẫn thấy mình hiện diện trong phòng với cơn đau vật vã còn âm ỉ ở cổ họng, với cảm tưởng sức ép phồng to trong đầu dù tôi không còn ở trong nhục thể bằng xương bằng thịt đã chết treo lủng lẳng. Tôi thấy mình có thể hiện diện ở khắp nơi trong phòng, gián tiếp tựa như luồn ánh sáng, chẳng xuất phát từ nguồn cội nào cả. Trong trạng thái như sương như khói bay, tôi băn khoăn chờ đợi bất cứ chuyện gì xảy ra và ngây dại vì nỗi sợ kỳ lạ và cơn đau liên tục.

Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra, tôi lại chờ. Thân xác tôi bây giờ đã dừng yên, đôi chiếc bóng in trên tường ngưng chao động. Hai ngọn đèn đặt bên giường vẫn tiếp tục tỏa sáng, cửa chính vẫn khóa và màn cửa sổ vẫn che kín. Làm gì bây giờ? Tôi muốn hét thật lớn tiếng câu hỏi của mình, nhưng không thể được. Dù những phần thực thể chẳng còn, tôi vẫn cảm giác đau ở cổ, miệng khô khốc. Mọi ý tưởng và hành động phấn đấu của tôi lúc nảy bây giờ nằm im trong tiềm thức, dù tôi chẳng còn thân xác, chẳng còn não bộ. Thể chất tôi không còn thì nói gì tới bản ngã của mình. Tôi chẳng còn sức để có thể nói thành tiếng, để di chuyển khỏi gian phòng này hoặc rời khỏi sợi thòng lọng cột ở xà nhà. Bây giờ tôi chỉ có thể hiện diện tại chỗ, băn  khoăn, khắc khoải vì chờ đợi.

Qua chiếc đồng hồ treo trên tủ áo kê đối diện giường ngủ, tôi nhìn thấy con số 7 giờ 21 phút lúc biến cố bắt đầu, như vậy, đã hai mươi phút kể từ lúc tôi đạp ngã chiếc ghế và có lẽ tôi tắt thở lìa đời đã mười lăm phút, mà chẳng có gì thay đổi.

Ðến lúc đồng hồ chỉ 9 giờ 11 phút tối, tôi mới nghe chiếc xe Volkswagen của Vân chạy vòng ra sân sau nhà. Tôi không viết giấy để lại vì tin tưởng xác chết của chính mình đã đủ nói lên nhiều thứ, tôi có ý nghĩ là sẽ không hiện diện nơi đây khi Vân tìm thấy tôi. Thực ra, tôi đã ngụy biện cho hành động của mình, để bây giờ thấy hối hận vô cùng vì đã làm chuyện điên rồ. Tôi cũng đã ngụy biện khi cho rằng không muốn thấy mặt Vân bước  vào dù nàng đã bất công với tôi và là nguyên nhân cho hành động tự sát của tôi, nàng phải biết điều đó. Thực lòng tôi chẳng muốn giáp mặt Vân.

Cơn đau bỗng dưng gia tăng ở chỗ từng là cổ họng, là đầu của tôi. Nghe tiếng cửa sau dập ở xa xa dưới cầu thang, tôi di chuyển nhanh trong phòng tựa như làn khí mỏng bị nhốt trong lọ kín. Tiếng Vân vọng lên thình lình:

– Hùng ơi? Anh Hùng? Em về nè!

Nghe nàng gọi, tôi nghĩ nên rời đi chỗ khác ngay, nhưng không thể được. Bây giờ tôi như một linh hồn hay một hình bóng chỉ có thể vờn lượn chung quanh. Bực tức, tôi nghĩ được xuống địa ngục vẫn còn hơn ở đây đối mặt với nàng.

Vân lên lầu, qua ngang trước cánh cửa gian phòng dành cho khách khoá kín và tiếp tục lên tiếng gọi lúc vào phòng ngủ, giọng có chút lo âu. Nàng lại qua ngang ở bên ngoài hành lang, xuống thang lầu rồi mọi sự  trở lại yên tĩnh như cũ.

Vợ tôi đang làm gì? Chắc là tìm mảnh giấy chồng có thể để lại. Nhìn qua cửa sổ thấy chiếc Toyota của tôi vẫn còn ngoài sân Vân sẽ tin chắc tôi phải ở đâu đó trong nhà. Ngôi nhà cổ xưa này, một kiến trúc từ thời thuộc địa Tây để lại đã được mấy đời chủ trước tu bổ kể từ sau khi Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ rút quân về nước và tôi mua lại mười năm trước rồi Vân sắm đồ Trang trí chọn ở cửa hàng của Tuấn. Riết rồi tôi chẳng còn thích ngôi biệt thự này như lúc mới mua vì nó hầu như đã trở thành vật sở hữu của nàng với hắn. Thực ra tôi đã làm mọi thứ cho vợ mình, bởi vì tự  biết chẳng bao giờ thỏa mãn được điều Vân hằng mong muốn. Tôi đã chẳng thể tạo nổi cho nàng một đứa con.

Ðàn bà ai cũng thích có con, Vân cũng vậy. Do đó, tôi không bao giờ đổ lỗi tuyệt tự cho nàng mà chỉ thầm qui trách chính mình. Ngay từ thời gian đầu mới cưới nhau, Vân đã thổ lộ điều mong ước, và sống với nhau, tôi nghĩ nàng đã thấy rõ ảnh hưởng ở chồng nên qua một thời gian khá dài, Vân chẳng nhắc đến nữa, nhưng tôi hiểu rõ tâm trạng của nàng.

Khúc gỗ xà nhà tôi dùng giăng dây treo cổ, phần gỗ nguyên thủy cứng  chắc của ngôi nhà vẫn còn dấu búa rõ ràng do thợ mộc thời xưa đẽo gọt từ một thân cây già cỗi, có thể chịu đựng sức nặng thân xác tôi vĩnh viễn hoặc ít nhất cũng cho tới lúc người ta khám phá và cắt dây hạ xác xuống.

Ðồng hồ chỉ đã 9 giờ 23 phút, như vậy Vân lẩn quẩn trong nhà đã mười hai phút. Nàng lại lên lầu, tiếng bước chân nghe vội vã và nhẹ nhàng trên những bậc gỗ cứng, tiến tới gần, dừng giây lát, chần chờ, rồi nàng lại gọi tên tôi: – "Hùng ơi? Anh Hùng?" Tôi thấy tay nắm lay động, nhưng cửa phòng đang khóa với chìa còn để nguyên bên trong. Muốn vào nàng phải gọi người mở hay phá cửa. Như vậy, Vân không thể là người duy nhất tìm thấy tôi. Ý nghĩ làm tôi tự dưng tràn đầy hy vọng khiến cơn đau giảm bớt.

Vân lại gọi: – "Hùng? Anh ở trong đó hả?" Chẳng nghe tiếng đáp, nàng lại gỏ cửa và lay động tay nắm, gọi thêm mấy lần nữa rồi thình lình vụt chạy xuống thang lầu. Chốc lát sau đó, tiếng nàng từ xa vọng đến, nghe không rõ. À, vợ tôi đang gọi ai qua điện thoại. Tuấn, tôi tin chắc là nàng gọi hắn. Tự dưng tôi thấy khản ở cổ họng, mong cho mọi sự chóng kết thúc. Tôi muốn thân xác đã chết và linh hồn còn sống của tôi được mang đi, xin tất cả hãy chấm dứt sớm.

Vân vẫn còn ở dưới lầu, đợi tình nhân nàng đến trong lúc tôi ở trên lầu chờ bọn họ. Chắc Vân đã biết nàng sẽ thấy gì trong gian phòng khóa cửa ở trên lầu, nên tiếp tục ở dưới nhà.

Tôi chẳng bận tâm nếu Tuấn vào đây, vì đối với tôi, hắn chẳng là gì cả. Tôi chỉ quan tâm tới Vân. Ðồng hồ chỉ 9 giờ 44 phút, thì có tiếng bánh xe nghiến trên sân sỏi ở bên hông nhà. Kế đến, tôi nghe hai người nói với nhau ở dưới lầu, giọng đàn ông trầm, chậm, trấn an, lẫn với giọng đàn bà trong trẻo, mau, đầy vẻ hoảng hốt, rồi cả hai tiến lên lầu, không nói với nhau lời nào nữa. Tay nắm cửa khua động, cùng lúc với tiếng Tuấn gọi:

– Hùng ơi! Mở cửa coi!

Sau khoảnh khắc im lặng, giọng Vân nghẹn ngào:

– Chắc anh ấy không làm gì bậy chứ?

Có lẻ bực dọc vì câu hỏi của nàng, Tuấn gặng hỏi:

– Làm bậy? Ý em nói gì chớ? Làm bậy gì?

– Dạo sau này anh Hùng bị khủng hoảng tinh thần dữ lắm!

Cánh cửa thình lình rung động mạnh. Chắc Tuấn dùng sức tông vào. Cùng lúc, hắn nói: – Em đừng hoảng hốt. Bình tĩnh đi.

Tiếng Vân đáp: – Ðáng lẽ em không nên gọi anh tới đây. Hùng ơi! Anh Hùng! Trả lời em đi!

Tuấn thắc mắc: – Tại sao chớ? Tại sao anh không nên tới đây?

Mặc hắn hỏi, Vân không trả lời, nàng tiếp tục gọi:

– Hùng ơi! Mở cửa đi, đừng làm em sợ!

Tuấn hạch xách: – Tại sao em nói không nên gọi anh tới?

– Hùng đâu có ngu. Anh ấy…

Hai người bỗng ngưng bặt giây lát, rồi có tiếng thì thầm. Chắc nàng và Tuấn nghĩ tôi còn sống trong này nên không muốn tôi nghe nàng nói:

– Tuấn à! Anh Hùng biết hết chuyện tụi mình.

Tiếng xì xào nhỏ dần, rồi tiếng Tuấn bỗng nhiên bật lớn:

– Ðáng buồn cười quá! Hùng, ra đây đi, tụi mình sẽ nói dứt khoát!

Tay nắm cửa lại chuyển động ồn ào một lúc thì hắn tiếp lời, giọng tức tối:

– Anh không mở cửa, tụi này sẽ vào đấy. Vân, còn chìa khóa nào khác không?

– Chờ em chút, hình như các khóa cửa trên lầu đều trùng nhau.

Vân nói đúng, chỉ cần chiếc chìa khoá mỏng chính là có thể mở hết các cửa phòng ở trong nhà. Tôi chờ đợi, lắng nghe nàng đi tìm chiếc chìa khóa và biết cả hai sẽ sớm trở lại. Tôi bất giác lo âu với ý nghĩ Vân sẽ bước vào gian phòng này trong lúc tôi chỉ là chiếc bóng mờ như ảnh phản chiếu từ một tấm gương lõm. Nếu không muốn nhìn nàng, tôi phải làm sao? Lúc còn sống, tôi có mí mắt để nhắm lại tùy ý, nhưng bây giờ tuy vẫn hiện diện, tôi lại không thể nào làm được như vậy.

Tiếng chìa xoáy trong ổ khóa rít nghe bén ngót như cạnh mảnh sắt bén chạm vào cổ, trí nhớ của tôi về cổ họng thì đúng hơn. Cơn đau bỗng dưng tái hiện, lan tỏa trong tôi. Vân chợt lên tiếng hỏi có chuyện gì. Tuấn đáp: – Chìa khóa chính còn kẹt ở bên trong.

 Vân than van: – Tuấn, anh Hùng làm gì trong đó?

Hắn đáp cộc lốc: – Ai biết được! Chắc phải tháo cửa ra thôi. Em gọi thằng Hải đi, bảo nó đem đồ nghề tới luôn.

– Anh đẩy chìa khóa vào không được hay sao?

Tôi biết Tuấn làm được, nhưng hắn nói, giọng quyết định:

– Ði, làm theo lời anh đi!

Tôi chắc hắn biết sẽ mở được nên muốn Vân tránh chỗ khác để chỉ mình hắn bước vào. Tôi thầm phục Tuấn có cao kiến.

Giọng Vân ngờ vực: – Ðược! Em sẽ gọi thằng Hải.

Tôi nghe nàng điện thoại gọi Hải. Hắn có mái tóc bồm xồm, nước da sậm và hiện đang ở chung với Tuấn. Hải là người khéo tay, đa tài, có thể làm bất cứ gì. Vân từng kể tôi nghe hắn có thể sửa mọi thứ máy móc và làm mọi việc từ thợ sơn, đến thợ nề, thợ mộc.

Thình lình tôi nghe tiếng chuyển động ở ổ khóa. Dường như Tuấn muốn mở nhanh cửa gian phòng này trước khi Vân trở lại. Ý tưởng  khiến tôi tự dưng cảm kích sự tế nhị của hắn. Như vậy, chứng tỏ Tuấn cũng chẳng đến nỗi bất hảo. Dù có ăn nằm với vợ tôi, trên tòan diện hắn không hẳn là người có tâm địa xấu. Tôi chết rồi chẳng biết Tuấn có thành hôn với Vân hay không? Hai người có thể sống trong ngôi nhà này và với tư cách là chủ tiệm bán bàn ghế, hắn có phương tiện trang trí hơn tôi. Nhưng nghĩ lại, có thể vì gian phòng này đã xảy ra tai họa ghê gớm nên Vân chắc phải bán để tìm chỗ ở khác? Nếu bán nàng sẽ chẳng được giá, vì từng sống trong lĩnh vực kiến trúc và buôn bán địa ốc, tôi biết một ngôi nhà đã có người tự tử sẽ rất khó bán. Cho dù có quảng cáo thế nào chăng nữa, thiên hạ với bản tính vốn sợ những chuyện siêu nhiên, vẫn tin căn phòng này bị ma ám. Ý tưởng khiến tôi sực nhớ chính mình đã là hồn ma ám gian phòng này. Tôi là ma! Lần đầu tiên nghĩ tới mấy chữ này tôi hết sức ngỡ ngàng. Thật khốn khổ, tôi đã là ma bay bổng ở đây, một thứ không xương không thịt mà vẫn biết mình đang hiện diện trong gian phòng này. Bây giờ tôi đã trở thành loại ngoại chất tựa như sương mai phảng phất đêm ngày, vĩnh viễn cô đơn, thành tên ngốc khốn khổ chứng kiến mọi người tới lui mà không thể nói, không thể tiếp xúc. Chắc chắn vợ tôi sẽ bán ngôi nhà này. Nàng ở trong thế bắt buộc phải làm vậy. Phải chăng tôi đang bị trừng phạt, bị đày đoạ trong địa ngục thanh vắng dành cho kẻ tự kết liễu đời mình để mãi mãi là thứ vô tri giác bị một lực mạnh hơn trọng lực khống chế ở nơi chỉ có những người một đời không đạt thành gì cả.

Những ý tưởng thống khổ trong tôi chợt tắt khi chiếc chìa gắn ở bên trong ổ khóa thình lình chuyển động, cựa quậy như một sinh vật, rồi rơi  xuống như thể tự nhảy ra, đối với tôi chẳng khác gì một người lao xuống vực thẳm quyên sinh. Sau tiếng chìa khóa rớt khô khan trên sàn phòng thì cánh cửa bỗng bật mở và Tuấn ngước khuôn mặt xám nhìn sắc diện tím ngắt trên thi thể tôi. Hắn mở to mắt ra vẻ kinh hoảng hoặc ngỡ ngàng giây lát, khiến tôi chẳng biết hắn có cảm tưởng gớm ghiếc hay khinh bỉ? Xong hắn lui ra, đóng ập cửa lại. Tiếp theo là tiếng khóa và tôi nghe Tuấn chạy vội xuống lầu.

Ðồng hồ chỉ đã 9 giờ 58 phút. Như vậy hắn đã nói hết với Vân, lấy thức gì cho nàng uống để trấn an. Bây giờ có thể hắn sẽ thông báo cảnh sát và bàn với Vân có nên nói thật mối tình vụng trộm giữa hắn với nàng cho nhà chức trách biết? Hai người sẽ quyết định như thế nào?

Kim đồng hồ lại chỉ 10 giờ 7 phút tối. Tôi băn khoăn vì sao đã lâu chẳng thấy động tĩnh? Tuấn chưa gọi cảnh sát chăng? Thình lình có tiếng Vân chạy vội trên mấy bậc cấp thang lầu, vấp váp, té ngã, rồi những nắm tay yếu ớt đập mạnh ở cửa. Nàng không ngớt gọi tên chồng. Tôi co rút ẩn trốn ở góc phòng, thầm mong nàng đừng vào, vì không muốn Vân thấy tôi trong tình huống ghê rợn như thế này.

Chắc Tuấn đang ở bên cạnh, nên nàng la hét thì hắn thuyết phục, nàng nổi giận, hắn cãi, nàng yêu cầu, hắn từ khước:

– Anh đưa chìa khóa đây! Ðưa chìa khóa cho em!

Tôi nghĩ chắc hắn sẽ giữ chặt, sẽ đưa nàng đi chỗ khác vì hắn mạnh, nhiều sức lực hơn. Nhưng không, rốt cuộc, hắn phải trao chìa khóa cho nàng. Ý nghĩ khiến tôi kinh hãi thật sự. Vân bước vào phòng, nhìn  thân xác tôi treo lủng lẳng một lúc rồi hét lớng tiếng, giọng thật khủng khiếp. Tiếng thét dường như chẳng phải của người mà là của bất cứ sinh vật nào đang lâm cảnh tuyệt vọng tột cùng, khiến tôi chẳng thể nào quên. Bây giờ tôi mới hiểu rõ thế nào là tuyệt vọng nên tự cho hành động của mình thật tàn nhẫn.

Bây giờ thì đã quá muộn. Tuấn cố gắng trấn an Vân, ôm vai dìu nàng ra khỏi phòng, nhưng nàng gạt hắn ra rồi băng qua gian phòng rộng tiến tới… trong lúc tôi đang hiện diện khắp nơi, bị cơn đau cùng chịu sự hối hận dằn vặt… thì Vân tiến thẳng về phía xác chết và đứng nhìn với vẻ đầy tiếc thương. Nàng nhớm chân sờ vào gò má sưng phồng ở thi thể đã tắt thở và nghẹn ngào nói, giọng rên rỉ: "Anh Hùng! Em thật không ngờ anh lại tự đối xử với chính mình như vậy!"

Tự dưng tôi cảm nhận một cơn đau khủng khiếp lan khắp như từng xảy ra trước khi lìa đời. Cơn đau khó tả ở cổ, sự căn phồng khó chịu ở đầu; hai thứ này làm tôi oằn oại vì bị đau đớn cùng khắp một lần nữa, tuy nhiên, tôi chẳng cảm giác được bàn tay người vợ yêu dấu đang đặt trên mặt mình.

Tuấn theo sát bên, ôm vai, gọi tên nàng. Lập tức Vân dịu lại, nhưng chỉ được chốc lát, nàng bật khóc, nhào tới ôm choàng và giữ chặt đôi chân thi thể chết treo, rồi khóc than nức nở, lẩm bẩm những lời đứt quãng, không thể nghe rõ.

Cuối cùng, Tuấn dùng sức mạnh tháo gỡ tay Vân khỏi xác chết, dìu nàng ra khỏi phòng rồi đóng ập cửa. Trong chốc lát, thi thể tôi lại lắc lư, quay tròn một lúc mới dừng hẳn. Thật tệ, tôi phải trải một đêm dài dằng dặc ở đây, trở thành hồn ma ngu đần, ám chính nơi mình chết và phải chờ bao lâu mới được giải thoát? Thật khủng khiếp, tôi nghĩ không có hoàn cảnh nào tệ hại hơn. Vân sẽ tiếp tục cuộc sống, sẽ bán ngôi nhà và theo thời gian nàng cũng như tôi sẽ quên dần biến cố này. Tuấn sẽ cưới nàng. Vân chỉ mới ba mươi sáu tuổi đời, vẫn còn có thể làm mẹ.

 Suốt khoảng đêm còn lại, tôi nghe nàng khóc than rấm rứt ở đâu đó trong nhà. Cuối cùng, đại diện nhà chức trách đến. Hai nhân viên nhà xác vẻ mặt lầm lì, tiến vào phòng, cắt dây hạ thi thể tôi xuống. Họ quấn xác chết như món đồ chơi dập nát trong tấm vải trắng, xong đặt lên cáng, khiêng ra ngoài.

Tôi vẫn nghĩ mình chắc bị bắt buộc phải theo thân xác đã lìa đời ra đi và lo sợ linh hồn có thể bị chôn theo với xác để chịu giam hãm trong bóng tối của chiếc hòm đến thiên thu, như một vật vô giá trị, nhưng cuối cùng mới biết xác chết ra đi mà tôi vẫn ở yên tại chỗ.

Khi người ta khiêng xác chết đi, để hở cửa phòng, tôi có thể nghe trong những giọng nói có tiếng thằng Hải đơn điệu với cá tính càu nhàu, đôi lúc ồn ào, từ dưới  lầu vọng lên. Tuy nhiên, vấn đề chính trong chốc lát này đáng để tôi chú ý là ông y sĩ vừa được gọi tới. Ông ta cho Vân uống thuốc an thần trong lúc nàng tiếp tục khóc than vật vã và nói nhanh những lời tự trách oán như sợ không đủ thì giờ:

 – Anh Hùng chết là vì tôi! Lỗi ở tôi tất cả! Hùng ơi! Anh Hùng ơi!  Lỗi tại em hết!

Nàng lập đi lập lại câu nói nhiều lần trong tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi hằng mong mỏi bấy lâu nay thái độ của nàng như lúc này, bây giờ mới thấy. Những gì tôi ước  muốn phải tới giờ phút cuối trong đời mới được ban phát. Tất cả mọi diễn biến hiện tại, đối với tôi, thật ngoài sức tưởng tượng. Thực ra, tôi không muốn chết và cũng không cố ý hành hạ vợ mình phải khổ tâm như vậy! Hơn nữa tôi cũng không thích hiện diện tại đây để chứng kiến và nghe Vân kêu van than thở.

Cuối cùng, mọi người thuyết phục được nàng nín lặng. Một nhân viên cảnh sát, trong bộ y phục chẳng mấy tươm tất, cùng với Tuấn tiến vào phòng và lắng nghe hắn thuật lại những gì xảy ra. Người cảnh sát với vẻ mặt nhăn nhó, có vẻ nhìn chăm chú đoạn dây treo cổ còn cột quanh cây xà nhà hơn là nghe Tuấn nói. Tới lúc hắn ngưng tiếng, ông ta hỏi bất chợt:- Anh là bạn thân của người chết?

– Vợ hắn làm việc cho tôi tại cửa hàng Thanh Hải ở đại lộ Thống Nhất, bán bàn ghế và các mặt hàng trang trí .

Ngần ngừ giây lát, người cảnh sát lại hỏi:

– Anh để bà Vân vào chỗ này thấy hình ảnh ông Hùng chết làm chi?

Tuấn cười giả lả, đáp: – Cá tính bà ấy mạnh hơn tôi. Chắc ông cũng biết rồi, các bà muốn là được mà.

Tôi ngạc nhiên nhận thấy hắn nói đúng. Có điểm hắn phải yếu hơn Vân. So với nàng và hắn thì chính tôi là người yếu nhất.

Người cảnh sát tiếp tục: – Anh biết vì sao ông Hùng làm vậy không?

Tôi để ý Tuấn do dự giây lát, khoanh tay, mắt nháy không ngớt như người đang đứng trước ánh đèn pha chói lọi, một lúc lâu hắn mới  nói:

– Tôi nghĩ anh ta nghi ngờ bà vợ ngoại  tình, dan díu với tôi.

Người cảnh sát nhìn hắn bằng ánh mắt khó chịu, hỏi:

– Mối nghi ngờ này đúng chứ?

– Chắc đúng!

– Bà ấy đã ly dị chồng chưa?

– Không, không có chuyện ly dị vì Vân rất yêu thương chồng, còn tôi đâu ăn thua gì.

– Vậy sao bà ấy ăn nằm lang chạ với  người khác?

Tuấn lắc đầu trước câu hỏi của người nhân viên công lực và nhấn mạnh:

– Bà ấy có lang chạ với ai khác đâu. Họa hoằng lắm mới ăn nằm với tôi thôi.

– Chi vậy?

– Chắc là để tìm an ủi.

Ðang nói hắn bỗng ngưng giây lát, ngước mắt nhìn sợi dây, tựa như xác tôi vẫn còn ở đấy, rồi thận trọng tiếp lời, nhưng giọng úng túng:

– Thực ra Hùng là người tính khí rất khó khăn và bất thường nên tình trạng gia đình ngày càng đen tối.

Người cảnh sát phụ họa: – Phải rồi! Người vui đâu có quyên sinh!

– Tôi cũng nghĩ vậy. Hùng lâm tinh trạng khủng hoảng hoài, lúc nào cũng tiềm tàng sự giận hờn. Có lẽ vì vậy mà công việc làm ăn bị ảnh hưởng, mất khách hàng, đồng thời anh ta làm Vân khốn khổ. Nhưng nàng vẫn không bỏ chồng vì yêu thương hắn. Tôi chẳng biết, khi hắn chết rồi, nàng sẽ làm gì và sống như thế nào.

– Bộ hai người không tính chuyện cưới nhau hay sao?

Trước câu hỏi của người cảnh sát, Tuấn cười gượng gạo, vừa nói:

– Không đâu. Bộ ông nghĩ chúng tôi giết hắn rồi sắp đặt làm như hắn tự tử chết để sau đó ăn ở nhau hay sao?

– Tôi không có ý nghi ngờ anh, nhưng vấn đề gì đã ngăn cản anh với bà Vân chung sống với nhau luôn, bộ anh có vợ rồi hả?

– Tôi chẳng có vợ con gì cả. Chỉ có điều bất thường là tôi thuộc loại đàn ông thích đời sống đồng tính luyến ái.

Người cảnh sát tỏ vẻ rất ngạc nhiên đối với sự thú nhận của Tuấn còn hơn là tôi. Ông ta hỏi gặng:  – Anh nói gì? Tôi chưa hiểu rõ lắm.

– Tôi sống cặp đôi với chàng trai trẻ tên Hải đang ở dưới nhà kia. Vì chẳng thích bị đàn bà khống chế nên tôi không muốn lập gia đình với người khác phái. Riêng Vân, tôi rất mến và thấy tội nghiệp cho cuộc sống của nàng với Hùng. Tôi đã nói là thỉnh thoảng tôi mới có liên hệ xác thịt với nàng, nhưng thực ra chẳng bao giờ tôi được ưng ý để phải bỏ lối sống trái thiên nhiên của mình.

Người cảnh sát hỏi, giọng thắc mắc:

– Ông Hùng có biết sự thật như anh nói hay không?

– Tôi cũng chẳng rõ, vì ông hỏi tôi mới trình bày, chứ đâu thể tự dưng nói cho ai nghe.

Người nhân viên công lực nhăn mặt nhìn quanh gian phòng một lúc, xong lên tiếng:

– Ðược, thôi đừng đứng đây nữa.

Hai người quay lưng bỏ đi, không đóng cửa phòng, nên lúc họ xuống lầu, tôi nghe ông cảnh sát hỏi: – Tối nay có ai ở lại đây không? Tôi thấy chẳng nên để bà Vân ở nhà một mình lúc này.

– Bà ấy có họ hàng ở ngoài Thành. Tôi đã gọi điện thoại báo rồi, ở đó vào đây không xa chắc trong vòng một giờ họ sẽ đến.

– Anh cũng ở lại chứ? Bác sĩ bảo thuốc sẽ giúp bà ấy ngủ, nhưng lỡ…

– Lẽ dĩ nhiên là tôi tạm ở lại để chờ thân nhân bà ấy đến.

Tôi chỉ nghe được chừng ấy. nhưng có tiếng đàn ông thì thầm lâu hơn ở dưới nhà, rồi ngưng bặt. Kế đến là tiếng xe rời đi.

Tôi nghĩ đàn ông và đàn bà thật phức tạp và thường có những hành động đôi khi đơn giản nhưng nhiều lúc thật ngu xuẩn. Tự xét, tôi chưa bao giờ hiểu ai thấu đáo, ngay cả chính bản ngả của mình tôi cũng chỉ có thể biết được phần nào.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi người cảnh sát rời đi, ngay trong đêm, Tuấn trở lại căn phòng tôi đã tự tử. Bước vào với bộ dạng có vẻ gay cấn, khinh bỉ, xem xác chết như vẫn còn ở đó, hắn dựng ghế dậy, leo lên và tháo sợi dây dừa khỏi xà nhà một cách khó khăn, xong cuộn tròn, lơ đểnh nhét vào túi, để ló ra ngoài một khoảng lòng thòng. Xong việc, hắn kéo ghế để vào chỗ góc, vô tình đúng vào vị trí cũ. Sau khi nhặt chìa khóa khỏi sàn đút vào ổ khóa, hắn tắt hai ngọn đèn ở bên giường rồi rời khỏi phòng, đóng ập cửa lại sau lưng.

Bây giờ tôi ở trong bóng tối mịt mù, chỉ còn chút ánh sáng lờ mờ từ dưới khe cửa chính hắt vào và ánh lân tinh từ mấy con số trên mặt chiếc đồng hồ treo. Tôi có cảm tưởng mỗi phút trôi qua dài dằng dặc. Vô tình, chiếc đồng hồ đã trở thành kẻ thù của tôi vì sự chậm rãi, cố kéo lê từng phút, từng giờ, khiến tôi không thể chịu đựng nỗi. Phải đợi thật lâu tôi mới thấy kim chỉ con số kế tiếp. Sáu mươi lần như vậy mới được một giờ. Tự vấn không thể chờ đêm dài bất tận như đêm nay thì làm sao tôi có thể đợi mãi tới thiên thu? Và làm sao tôi có thể chịu  được tâm trạng bứt rứt vì sự hối hận hành hạ trí óc? Tôi tự thấy nổi khổ sở này còn ghê gớm hơn là cơn đau thể xác, vì dường như chẳng bao giờ nguôi ngoai. Tôi đã nghĩ đúng về chuyện của Vân với Tuấn nhưng cùng lúc tôi là người bất trí, tuyệt vọng chẳng đáng, nên đã có hành động sai lầm tai hại. Có thể tôi đúng với cuộc sống của mình, nhưng nghĩ lại vẫn sai và cái chết của tôi tưởng là phải nhưng rốt cuộc chỉ là ngu xuẩn. Bây giờ có muốn sửa đổi cách mấy tôi cũng không thể làm gì được. Mọi khuynh hướng hành vi tối ám của tôi đã kết thúc bằng sự ăn năn thống hối, bằng niềm đau ghê gớm hơn tất cả mọi sự.

Tôi có cả đêm dài để suy tư, để cảm nhận nỗi khổ và chờ đợi mà chẳng biết mình chờ gì, chỉ biết là phải chờ đợi mãi mãi. Tôi thoáng nghe tiếng người anh rể và chị của Vân tới, rồi những câu chuyện thì thầm. Kế đến, Tuấn và Hải ra về. Chẳng bao lâu sau đó, cửa gian phòng dành cho khách, nơi tôi đã quyên sinh bỗng bật mở rồi đóng ập lại ngay, chẳng ai dám bước vào. Ðược chốc lát thì đèn ở hành lang trong nhà tắt ngấm và bây giờ chỉ còn ánh sáng lờ mờ lân tinh ở mặt đồng hồ tỏa ra trong đêm đen.

Tôi băn khoăn tự hỏi chừng nào sẽ lại được gặp Vân. Nàng có còn bước vào gian phòng này nữa hay không? Nếu có, chắc nàng không còn kinh hãi như lần đầu, nhưng tôi biết, dù sao Vân vẫn sợ.

– oOo –

Hừng đông làm tấm che cửa tối đen trở thành mờ xám, và bây giờ có thể thấy mờ mờ mọi thứ trong gian phòng tịch mịch buồn nản. Tôi nghĩ bên ngoài chắc bầu trời đang âm u, chẳng bao giờ sáng nỗi. Ngày tiếp tục trôi qua từng phút kéo dài trên chiếc đồng hồ, đối với tôi chẳng còn ý nghĩa gì  nữa. Ðã có lúc tôi kinh sợ vì người bước vào gian phòng này, nhưng bây giờ tôi lại cầu nguyện cho ai đó hoặc bất cứ thứ gì cũng được, và nhất là sự hiện diện của Vân để phá tan sự vắng vẻ buồn chán bất tận. Nhưng dù tôi ước mong thế nào, ngày vẫn chầm chậm trôi mà chẳng có gì xảy ra, không động tĩnh, không có dấu hiệu sinh hoạt ở đâu cả. Có lẽ người ta đã cho nàng xử dụng thuốc an thần để ngủ mê man suốt ngày đầu tiên biến cố xảy ra.

Mãi đến lúc chạng vạng, đồng hồ chỉ 6 giờ 52 phút tôi thấy có người bước vào. Thoạt đầu tôi chẳng nhận ra hắn. Một người có nét mặt đăm chiêu giận dữ, nhưng quả quyết. Hắn nhanh nhẹn tiến vào phòng bằng những bước rời  rạc vô hồn. Sau khi bật sáng đèn ở hai bên giường, hắn đóng cửa bằng sức mạnh bất bình thường, xong vặn khóa, để nguyên chìa trong ổ. Thái độ hắn có vẻ uất ức tột cùng. Ðến lúc hắn từ chỗ cửa quay mặt vào, tôi không tin ở mắt mình khi nhận ra hắn chính là tôi. Tôi đã chết rồi mà! Nếu như vậy tôi còn sống chăng? Làm sao được?

Hắn tiến tới góc lấy chiếc ghế mang ra để giữa phòng rồi bước lên. Trời đất, không thể nào như thế được! Tay hắn run run cột sợi dây dừa trên xà nhà, xong đút đầu vào thòng lòng đã thắt sẵn rồi rút dây cho vòng tròn bám sát vào cổ. Trời Phật ơi, xin cứu hắn, đừng để hắn làm vậy. Ðã quá trễ, hắn đạp ngã chiếc ghế ở dưới chân.

Ngay sau khi chiếc ghế rời khỏi chân đứng, tôi muốn nó trở lại chỗ cũ,  nhưng trọng lực đã khiến ước muốn ban đầu của tôi phải tuân theo  sự việc đang xảy ra hiện tại. Chiếc ghế đang nằm trên sàn không thể tự đứng lên được và sức nặng 95 ký lô từ thân xác tôi không ngớt trì xuống từ chỗ đầu sợi dây thòng lọng ở quanh cổ….♣

                                                                                                                                         
Quang Thiện




Thế Phong : NỮ NHÂN NGƯ, H.C. ANDERSEN…

NỮ NHÂN NGƯ, H.C. ANDERSEN… THẾ PHONG dịch , Nxb Thanh Niên 2003….

 hay là :

“ THẾ PHONG  ( S. 1932 –        ) KHÔNG PHẢI LÀ”  THẾ PHONG” DỊCH VẬT” TRÊN BÌA SÁCH TRUYỆN DỊCH  H.C. ANDERSEN”- NỮ NHÂN NGƯ ”, Nxb Thanh niên 2003 ….”

 

 

 Thế Phong

————————-

 

Lời dẫn:.- ….vào  < google / search / nhà văn thế phong > ( Images, web trang 2) ,  đọc” Mỹ nhân ngư, H.C. Andersen.. .Thế Phong dịch, Nxb Thanh niên, 2003, sách mới cóng. Giá 40 k.

 

…bữa anh Vũ Hà Tuệ đến thăm, trao lại tác giả cuốn” Virgil Gheorghiu / Thế Phong / Bút  Nghiên, Mỹ Tho xb 1961- quá vui ,  gặp lại đứa con tinh thần lưu lạc  đã 48 năm– và quên phứt chuyện nhắc anh < google /search / nhà văn thế phong> ( Images) trích đăng theo “ < sachxua.net / forum  /index >”:

                                                                                     

                          <sachxua.net / forum / index >

                            in bìa 1 “ Nữ Nhân Ngư”

                            H.C. Andersen, Thế Phong dịch          

                            500 x 375 – 118k- jpg

                                           sachxua net”

 

  và<  sach xua. net > đã  sưu tập được nhiều  tác phẩm xuất bản trước 1975 ở Saigon-  và tôi đã   xem được trên <Google / search/ nhà văn thế phong > ( Images), như :

 

–          “ Lược sử văn nghệ Việtnam / Tổng luận 60 năm , 1900-1956”( Đại Nam văn hiến, Saigon  1964)

–          Hàn Mặc Tử – Quách Thoại, nhà thơ siêu thoát ( ĐNVH, Saigon 1965 )

–          “ Thủy và T6 ( tập truyện ngắn, ĐNVH ,aigon 1967)

–          – Thế Phong, nhà văn tác phẩm cuộc đời ( bản in typo,  ĐNVH tái bản năm 1966 – tác phẩm này  đã chuyển  dịch anh ngữ’ Thephong by Thephong, the Writer, The Work & The Life” translated from Vietnamese by Đàm Xuân Cận ( DVVH Books 1970, 1974)

–          < www.Amazon.com/Thephong- writer-work-life-autobiography/dp/BOOƠJUSLA- 150k – >

–           

 Tuy vậy, lần này “Nữ nhân ngư / Thế Phong dịch”… truyện H.C. Andersen –  mà Forum sachxua. net  loan tin

( Google/ Images trich đăng lại)-   với tư cách một ” dịch giả-bất- đắc- dĩ -“ không dịch chữ nào lại  có tên in trên bìa sách”. Không biết thì thôi, biết rồi, lờ đi   là  ‘ phạm tội”; hiển nhiên Forum sachxua.net không có lỗi – mà chính  tôi có lỗi- nếu không có đôi lời ” đính chính “ :

 

 “THẾPHONG ( S.1932-            ) KHÔNG PHẢI LÀ” THẾPHONG.”  DỊCH VẬT’TRÊN BÌA SÁCH TRUYỆN DỊCH ” NỮ NHÂN NGƯ”…, Nxb Thanh niên, 2003…”.

 

Trở lại năm 2003- Nxb Thanh niên (Chi nhánh tại tp.HCM)  in cuốn “Nữ  nhân ngư “, truyện dịch  H.C. Andersen” tên người dich” Thế Phong” – chỉ vì Trưởng chi nhánh Nxb Thanh niên  – ông Thái  Thăng Long xin phép miệng:” .. anh ơi A.N. văn hóa làm dữ quá, họ chưa đồng ý cho   Đặng Văn Nhâm  việt kiều đề tên dịch giả trên sách  –   nên đành  tạm để tên  anh, để kịp  phát hành….”

 

 Nữ văn sĩ Trần Thị Bông  Giấy viết trong tác phẩm”Điệu múa cưối cùng của con thiên nga “  ( tập 2 – Văn Uyển, San Jose ( U.S.A.) xb 2005) như thế này :

 

 

“….THẾPHONG VỚI NHỮNG TIẾNG CƯỜI CHUA CAY MÀ NGẠO NGHỄ” –( Bài 4)

 

Một lần trong năm 2003, từ San Diego,  Phan Diên điện thoại lên tôi ( T.T.B.G.), báo cho hay, rằng anh đọc trên tạp chí” Khởi Hành”  ở nam Cali,  có vài bài lên án Thế Phong “  đạo sách,  đao văn “ của Đặng Văn  Nhâm trong vụ” Nữ  Nhân Ngư”  đang ồn ào khi ấy. Giọng Phan Diên tức tối:

 

“ Tôi không tin Thế Phong làm như vậy. Nó có thể” cà chớn” gì cũng được chứ không bao giờ thèm đạo văn ai. Đặng Văn Nhâm so với tên tuổi Thế Phong thì có ra gì mà Thế Phong cần phải làm thế với anh chàng ấy?  Người ta đạo văn nó thì có.

 

Và Phan Diên đề nghị:

 

“ Tôi đã gọi nói cho  Thế Phong biết sự việc mà thấy nó vẫn tỉnh như” pha”. BGiấy nên  e-mail về hỏi nó cho ra lẽ. Với BGiấy, chắc là nó sẽ nói thật tất cả.”

 

Cái sự” muốn nghe Thế Phong nói thật” này, tôi nhiều lần  gặp anh trong hai mùa hè kế tiếp về thăm quê hương, nhưng thấy anh không chút nào tỏ ra quan tâm đến ba lọai chuyện ruồi bu như vậy, nên tôi không hề hỏi. Phải đợi đến tháng 7 năm 2005,” rảnh rang” nên vui miệng, tôi hỏi, và được anh cho biết chi tiết sự việc bằng một lá thư dài gửi tới tôi như sau:

                                                                                   ***

Sàigon, ngày 30 / 7/ 2005

 

BGiấy ơi,

 

Vụ NỮ NHÂN NGƯ của tác giả Andersen do Đặng  Văn Nhâm dịch là cái tựa do  Chi nhánh NXB Thanh Niên in

( 2003). Còn MỸ NHÂN NGƯ là tựa sách ghi trên bản thảo của Đặng Văn Nhâm.

Năm 2002,  Huy Sơn từ Mỹ viết thư gửi tôi, báo cho hay rằng  Đặng Văn Nhâm sắp  từ Đan Mạch về Việtnam và muốn xin gặp tôi.  Vì là chỗ quen biết cũ từ thập niên 50, nên tôi đồng ý cho gặp.

 

Một buổi, có “ cú” điện thoại đến nhà tôi, hõi

-Đây có phải nhà ông  Thế Phong, 25 / 39 A Trần khắc Chân, Tân Định?”

Trả lời:

”- Đúng, xin lỗi, người đang nói chuyện với tôi là ai? “

Đầu giây kia không thấy tiếng trả lời, cúp máy cái rụp.

Khoảng 10 phút sau, có khách bấm chuông, vợ tôi ra mở cửa. Tôi từ trên gác xuống, thấy một vị khách mặc quần áo rất tề chỉnh, đeo kính đen, đang ngồi ở sa-lông.

“Mày có nhớ tao không? “( hỏi)

“ Nhớ. Mày là Từ Quyên-Đặng Văn  Nhâm? Nhìn mày giống nhân viên F.B.I.” ( mật vụ liên bang Mỹ)

 

Sau đó bạn rủ tôi đi uống café  và nhớ đưa đi tìm gặp đôi người bạn cũ, như nhà văn Thẩm Thệ Hà ở mãi bên quận Tư.  Những ngày kế tiếp, lại thường xuyên đi tìm gặp tôi, luôn luôn đi tắc xi, chứ không chịu để tôi chở phía sau xe gắn máy Honda.  Lần đi uống cà phê ở Givral với nhiếp ảnh gia Nguyễn mạnh Đan, bạn cho biết có một số bản thảo dịch và từ điển muốn nhờ tôi giới thiệu với một NXB ở Việtnam in, và bạn sẽ không nhận tiền bản quyền.  Nguyễn mạnh Đan cũng giục tôi giúp đỡ bạn, như tôi từng giới thiệu Chi nhánh NXB Thanh Niên cấp giấy phép xuất bản một cuốn sách ảnh của Nguyễn mạnh Đan.

Nhận lời xong, tôi bèn đưa bạn đến gặp thi sĩ  Thái Thăng Long, giám đốc Chi nhánh NXB Thanh Niên để giới thiệu. Bạn Đ.V.Nhâm đề nghị  được in MỸ NHÂN NGƯ  trước.  Rồi bạn mời toàn thể nhân viên NXb đi ăn sáng ở Đồng khởi (có cả nhà báo  Vu Gia , báo” Người lao động” cùng đi) , buổi tối lại mời gia đình Thái Thăng Long đi ăn tối ở Bình Qưới II khá tốn tiền.

Tiếp đó, Chi nhánh NXB Thanh Niên  nhận in MỸ NHÂN NGƯ. Trong lúc đang in bìa, một trục trặc đưa tới: P.A 25

 ( Phòng An ninh văn hóa tp. HCM ) gọi điện thoại cho Thái Thăng Long yêu cầu sao đó, nên ông Long tức tốc điện thoại cho tôi nhờ’ chữa cháy”.  Có nghĩa rằng ông Thái Thăng Long đưa ra cái đề  nghị” nên in “THẾ PHONG dịch”, chứ không phải tên Đặng văn Nhâm”. .

Tôi trả lời Thái Thăng Long:

“.. hãy đợi tôi gửi điện thư hỏi ý kiến Đặng Văn Nhâm ở Đan Mạch đã, hoặc là đề tên TỪ QUYÊN dịch (một bút danh viết báo của Đặng Văn Nhâm  có từ trước 1975).

Nhưng trong khi đang chờ sự trả lời của Đ.V. Nhâm thì ông giám đốc chi nhánh NXB Thanh Niên lại điện thoại cho tôi hay là”phải in ngay không thể chờ sự trả lời của Đặng Văn Nhâm được !” Ông T.T.Long cón nói;” lần sau tái bản sẽ đề tên Từ Quyên”.

 

Sau đó, bới vì  Đ.V,Nhâm yêu cầu tôi, nếu có tiền, thì xuất trả cước phí bằng máy bay, gửi cho bạn ấy vài quyển; rồi bạn sẽ trả lại sau. Tôi gửi cho bạn 5 cuốn, dán lên trang 3 hàng chữ “ Từ Quyên dịch”.

Tôi nhận được điện thư trả lời của bạn, hỏi:

“ Vậy ai là người nhận tiền  nhuận bút ? Ai là người gạch bỏ nhiều đọan trong sách ?”

Tôi trả lời qua e-mail:

“ Ở Việtnam, việc biên tập in ấn, phát hành nằm trong 2 kế hoạch:

1)Kế hoạch A :  NXB bỏ  tiền ra in, trả tiền bản quyền cho dịch giả.

2) Kế hoạch B :  người liên doanh xin cấp giấy phép, trả quản lý phí cho NXB; rồi tự lo chi phí ấn loát, trả bản quyền, tự phát hành. (tôi viết cho Đ.V.Nhâm) Bạn  hã y liên hệ trựic tiếp với NXB Thanh Niên thì hơn !.

 

 Cũng rất may  là khi sách MỸ NHÂN NGƯ phát hành, tôi biết được chỗ in, nên đến Xí Nghiệp In của Bộ  Thương mại, xin được mẫu bìa đã in bìa “ Mỹ nhân ngư” đề tên Đặng Văn Nhâm dịch, rồi gửi sang Đan  Mạch  cho bạn ấy.  Đồng thời, tôi cũng gửi một lá thư cho giám đốc TháiThăng Long, phản đối việc NXB đề tên tôi là dịch giả- kèm theo cả mẫu bìa NỮ NHÂN NGƯ in lần đầu có đề tên Đặng văn Nhâm + với lá thư viết tay của Đặng văn Nhâm ( qua tôi)  gửi giám đốc NXB như sau:

 

“ Thân gửi anh Thái Thăng Long và  Thế Phong,

Tôi nghĩ nếu sách này in được, chắc anh phải viết cho lời giới thiệu của NXB. Nếu có NXB nào lo việc  ấn loát và phát hành luon thì tiên cho tôi lắm. Tôi không quan tâm đến tiền bản quyền đâu. Mong được ý kiến sớm của các anh. Nếu không có gì trở ngại, cuối năm nay tôi sẽ về thăm các bạn. Thân quí chúc các anh Long, Bính, Thế Phong… đều bình an và thịnh đạt.

 

 ĐV.Nhâm.

 

.( Mấy trang  sách đầu tôi bỏ,. Có sẵn “ đĩa” chứa”)

 

 

                                                                                           ***

 

Từ Los Angelès, Phan Diên gọi về báo tin cho biết môt tờ báo ở  nam Cali có bài dả kích, tôi chiếm đoạt bản dịch của ông Đặng Văn Nhâm. Và lập tức Phan Diên scan gửi về cho tôi bài  báo ấy , kèm theo lới thúc giục tôi viết một bài cải chính gửi cho báo” Người Việt”  (nam Cali) đăng,. Phan Diên nói thêm, đó  là ý kiến của  Hoàng Khởi Phong, phụ trách trang”  Văn nghệ báo Người Việt”.

Tôi  ( Thế Phong) giữ im lặng

 Năm kế tiếp,  2004, lai có một” cú” điện thoại gọi đến, giọng quen quen:

“ Tao và thằng  Huy Sơn về  Saigon rồi, muốn gặp mày .”

Tôi trả lời:

“ Rấtt iếc tao không có thời giờ đi chơi với mày nữa. “

Và cúp máy.

 

Bông  Giấy ơi, tôi sẽ gửi cho B.Giấy phóng ảnh  bìa NỮ NHÂN NGƯ có in tên Đặng văn Nhâm , và cả lá thư viết tay của Đ.V. Nhâm gửi NXb Thanh Niên nhé.

Sau đây, chép lại cho B Giấy môt đoạn trong lá thư tôi gửi gáim đốc NXb Thanh Niên tại tp Hồ Chí Minh :

 

  30 / 7/ 2003

 

Thân gửi ông Thái Thăng Long,

Giám đốc Chi nhánh NXb Thanh Niên tại tp. H.C.M.

 

Thưa Ông,

 

Xin đính kèm đây:

                  a)Thư viết tay của ông Đặng Văn Nhâm, dịch giả” Nữ Nhân Ngư” do NXB/ TN ấn hành 2003. mang tên dịch giả Thế Phong.

                  b) Thư điện tử của bạn ấy phê phán tôi là” kẻ chiếm đoạt tác phẩm NỮ NHÂN NGƯ” của Đ.V.Nhâm

Do tôi đã xin  lại được mẫu bìa “ Nữ Nhân Ngư” nguyên thủy ( trước khi ra phim – thu thập được tại Xí nghiệp In MACHINO, Bộ Thương Mại) gửi ông, để ông  c ó cơ sở biện giải giùm , tôi chỉ là “dịch- giả- bất -đắc- dĩ”. Do chính ông yêu cầu  thay tên dịch giả, và tôi trở thành” hình-nhân-thế-mạng”. Trong ít phút chuyện trò qua điện thoại, khi nghe ông cho biết là sách đã in xong; nhưng P.A 25 yêu cầu không được để tên Đặng Văn Nhâm( nơi trang bìa 1); và khi tôi đã yêu cầu ông đổi lại” dịch giả TỪ QUYÊN” cũng được. ( điều ấy tôi đã báo  ngay cho ông Đặng văn Nhâm).

               Nhưng vẫn chính lời của ông cho tôi biết:”… sách và  bìa đã in xong nên quá muộn để thay tên dịch giả khác. Vậy hãy chờ khi tái bản sẽ đề tên Từ Quyên dịch vậy”.

 

                                                                                                ***

Năm 2004,  Chi nhánh NXB Thanh Niên có in lại 400 cuốn” Nữ Nhân Ngư”, nơi trang 3 ghi tên Từ Quyên dịch , và đó đúng  ngay lúc  Đ.V. Nhâm về lại Việtnam, có gọi điện thoại mời ông giám đốc chi nhánh đến cho gặp. Ông Thái Thăng Long trả lời:

 

“   Vì bận nên không thể gặp ông ĐV.Nhâm ở ngoài cơ quan; vậy xin mời dịch giả” Nữ Nhân Ngư” đến cơ quan nhận- sách mới in lại và tiền bản quyền là 1.800.000 Vnđ. “

 

Vẫn theo lời ông Thái Thăng Long, chớ khá lâu không thấy ông Đ.V.Nhâm đến cơ quan nhận tiền nhuận bút.

 

                                                                                            ***

Còn anh chàng chủ nhiệm, chủ nhiếc Viên Linh của báo” Khởi hành” ở Mỹ- sở dĩ có bài đả kích kia, là do yêu cầu của Đặng Văn  Nhâm, vì bọn  này chung giuộc “ Văn bút, văn biếc” , phủ bênh phủ, huyện bênh huyện.”. Thằng Lùn Nhà  Thớ Đức Bà” ( xưa kia ám chi Vũ  Hạnh, nay tôi phát lại cho anh ta)  mang ý nghĩa” tài chỉ như anh lùn mà huênh hoang cao ngất ngưởng đến nóc nhà thờ” ấy mà !

Cũng vui thôi, chẳng có gì phải bận tâm, vì BGiấy biết sao không? Tới tuổi này, cái gì vui thì cười cho hả hệ, cái gì không vui thì bỏ qua; hơi đâu mà bực dọc, phải không B Giấy?

 

Trở lại với” Thư viết ở Saigon”  ( NXB Văn Uyển, San Jose  2000)- đã được” chàng thi sĩ tài chỉ bằng anh gù lại tưởng cao hơn nóc nhà thờ ấy” đã có` ít dòng trong bài: “ Thế Phong bị tác giả  Đặng văn Nhâm Tố Cáo Đánh Cắp Bản Quyền” đăng trên báo Khởi hành ( tháng 9/ 2003) như sau:

 

“…Tác phẩm  Thế Phong cũng là lời bịa đặt, chửi bới tàn tệ các nhà văn khác (  ngay trong năm nay, nhà văn Văn Quang phải lên tiếng cảnh cáo anh ta trên báo chí, mà tờ” Kịch Ảnh”  ở Houston có đăng). Tuy thế những hành động vẫn chưa làm người ta định giá nhà văn Thế Phong. Lần này với chuyện “ luộc sách”  cuốn” Nữ Nhân Ngư”, tên tuổi Thế Phong sẽ chính thức  được ghi lại trong sinh hoạt xuất bản qua một việc làm  có tính cách đạo tà…” 

 

B.Giấy ơi, ngay cái” tít” bài viết trên đã không chỉnh rồi. Nếu gọi Đặng Văn Nhâm là TÁC GIẢ thì hoàn toàn không chính xác . Bằng như nếu có, thì phải gọi Đặng Văn Nhâm là TỐI TÁC thì đúng hơn. Lý do giản dị, bạn ấy có sáng  tác  được một tác phẩm văn học nào đâu, có chăng chỉ là biên soạn.  Ở đây, dùng chữ TÁC DỊCH, vì chắc gì trình độ bạn ấy có thể lột tả được nguyên bản của Andersen, chứ chưa nói đến , có khi “.. traduire,c’est trahir? không chừng ?!”

Thôi, bỏ qua chuyện tào lao này đi, nghe B.Giấy? Coi như”  chấm dứt chương  trình  tạp-pín-lù Tùng  Lâm”- thành ngữ thường dùng trước 1975 ở Saigon.

[]

 

 THẾPHONG

 

( trang 60- 65 “ Điệu múa cuối cùng của con thiên nga “ / Trần  Thị Bông Giấy / Văn Uyển, San Jose ( USA) 2005)

————-

 




Lê Ngọc Huyền : Giáng Sinh Trên Miền Đất Trọ. (Giải nhì VTLV 2012)

Photo: Một vài hình ảnh kỷ niệm của nhả văn Lê Ngọc Huyền giải nhì "Giáng Sinh Trên Miền Đất trọ" trong ngày lễ lớn 20 năm thành lập và phát giài Văn Thơ Lạc Việt.http://secure.smilebox.com/ecom/openTheBox?sendevent=4d7a49324e7a6b304e7a56384e544d324e5441304d54453d0d0a&sb=1&playAgain=trueGiáng Sinh trên miền đất trọ…Lê Ngọc-Huyền (Montreal Oct 11)Tôi vội vã băng qua đường khi thấy tiệm bánh Félix&Norton hiện ra trước mắt. Đã lâu lắm rồi tôi chưa nếm lại cái mùi vị ngọt ngọt, bùi bùi, béo thơm của miếng bánh chỉ có bán ở các miền tuyết lạnh lẽo nửa Âu nửa Mỹ như ở Montréal mà thôi. Tuyết bắt đầu rơi nhẹ, cái lạnh buôn buốt làm người ta thèm ăn ngọt, nên dân Montréal ai cũng tròn, hiếm lắm mới thấy được 1 cô gái tóc vàng thanh mảnh.Bước vào tiệm, đèn đuốc trang hoàng đủ màu, chuẩn bị cho cái Giáng Sinh sắp tới; bánh biscuit cũng được nặn thành ông già Noel ngồi trên xe trượt tuyết với những gói quà muôn màu sắc đủ hình dạng làm từ chocolat đen, trắng, vừa đẹp, vừa bắt mắt. Tôi tần ngần đứng trước quầy kiếng, bánh nào cũng ngon, cũng muốn thử cả, thơm phức mùi bơ và hạnh nhân, làm tôi cứ phải nuốt nước miếng!! Đặc biệt ở tiệm này là bánh được làm ngay tại chỗ, nên vừa ăn vừa thổi dưới cơn tuyết thì thật thú vị biết chừng nào!Ngồi xuống 1 góc nhỏ trong tiệm, trên tay cầm quyển sách, trước mặt ly café đen, bên cạnh gói bánh mới mua để mở, vừa nhâm nhi, đọc sách, lại vừa nhìn ra bên ngoài, tuyết ngày càng dày đặc….tôi miên man thả hồn về kỷ niệm cách đây trên 13 năm:Năm ấy là năm cuối đại học ở bên quê hương Việt Nam dấu yêu của tôi, đang sắp chuẩn bị thi ra trường, thì tình hình đất nước nguy kịch. Tất cả như đảo lộn, chấm dứt ngay phút ấy. Mẹ vội vàng tìm cách gởi gấm tôi cho các bác bên gia đình ngoại để ra đi. Mẹ tôi là người phụ nữ rất tháo vát, can đảm, việc trong ngoài đều được bà chu toàn. Ba tôi chọn giải pháp hy sinh khi đất nước lâm nguy. Mẹ tôi nhất định ở lại chăm lo mồ mả ông bà, và hương khói cho ba ….Mẹ chỉ mong tôi đi sang nước ngoài để học thành tài cho tương lại và bản thân tôi sau này không bị khổ! Mẹ cứ nhắc đi nhắc lại:-Con cứ qua được tới đảo, khai có thân nhân bên Canada là mọi chuyện sẽ được giải quyết êm đẹp. Mẹ sẽ báo cho chú Tôn đón con….Đừng bận tâm đến mẹ, mẹ còn hàng xóm…và bạn bè đông lắm….Đứa con gái 18 tuổi, chưa bao giờ ra đời, tôi chỉ biết ăn rồi đi học. Bỗng nhiên phải đương đầu 1 mình nơi xứ lạ quê người! Tiếng nói cũng chưa thành thạo, làm sao có thể nuôi được bản thân mình?? Bao ý nghĩ ngổn ngang, lo sợ làm tôi chỉ muốn khóc, nhưng nghĩ lại nếu tôi không hy sinh, liều mạng thì làm sao có thể sống còn và trả hiếu cho mẹ!!! Nghĩ đến đó, tôi cố gắng can đảm, gồng mình!!May mắn, thuyền chúng tôi được an toàn tới đảo Mã Lai.Ngày đầu tiên đứng xếp hàng lấy cơm, tôi nghe gọi:-Hoàng Vĩnh Khanh….Tôi vội vàng tiến đến lấy phần cơm của mình. Bỗng nhiên người lo phần ẩm thực đưa thêm một phần cơm nữa, nhét vào lòng tôi, mà không chờ cho tôi có một ý kiến nào và đẩy ra:-Lấy luôn phần cơm cho Hoàng Viễn Phúc nhé…..hai anh em phải không? Vậy được rồi, tôi xóa sổ tên Hoàng Viễn Phúc rồi đó, ra đi!!Tôi cầm hai phần cơm trên tay, ra khỏi hàng, lớ ngớ đứng giữa đường, chẳng biết ai là Hoàng Viễn Phúc mà đưa! Tôi đành phải rảo bước về căn lều mới được chỉ định, rồi từ từ sẽ lùng ra tên Hoàng Viễn Phúc để đưa cơm….Vừa tới căn lều, tôi đã thấy ….một người thanh niên, dáng cao, khuôn mặt điển trai, mái tóc dài che gáy, hơi quăn, đôi mắt thân thiện nhìn tôi, hỏi:-Cô ….cô là….Hoàng Vĩnh Khanh?-Vâng! Còn anh là ….-Tôi là Hoàng Viễn Phúc!!!....chúng ta là ….anh em!!!-Anh em??? Tôi làm gì có anh!!! Anh có lộn không??-Xuỵt!! đừng nói to! Coi chừng có người nghe được là không hay đâu! Bây giờ ngồi xuống đây, mình ăn cơm đã, rồi từ từ tôi sẽ nói chuyện cho cô nghe sau….Tôi bỡ ngỡ, riu ríu ngồi xuống 1 góc phòng, anh ta cũng theo tôi ngồi bên cạnh, làm như ….hai anh em thật!! Vừa ngạc nhiên lẫn lo lắng, chẳng hiểu chuyện gì, mà cũng không dám nói to, như lời nói của ông anh “bất đắc dĩ” vừa bảo “coi chừng người ta phát hiện”….Bụng bỗng no ngang, mặc dù chẳng ăn gì đã từ cả ngày hôm qua. Tôi nhìn khuôn mặt anh “hai”, anh cũng không vẻ gì là người xảo trá lừa đảo, cũng không vẻ gì đang lợi dụng tôi! Mà tại sao phải nhận tôi làm ….em gái?? Lại còn ở chung lều với tôi nữa?? Tối nay ….làm sao đây? Ai ngủ trên giường, và ai nằm dưới đất?? Tôi lo lắng đến nỗi không nuốt nổi hạt cơm vào bụng! Anh hai thì tỉnh bơ:-Em cứ… tự nhiên ăn cơm đi nhé, cho có sức chịu đựng! đừng… nhìn anh với cặp mắt như thế!! Em… ăn bánh không?Anh đưa ra trước mắt tôi gói bánh hạnh nhân. Ở đây làm gì có bánh thơm ngon thế? Mùi hạnh nhân quyện với mùi bơ bay lên làm tôi thèm rỏ rãi, anh còn bảo:-Anh để đây, anh đi tắm….em cứ ăn đi, đừng sợ!!Anh bỏ đi ra ngoài lều, xếp hàng đi tắm. Tôi một mình trong cái lều trống vắng, lo sợ, ngạc nhiên, bất an….đến muốn khóc. Tôi nhắm mắt lại, lấy bình tĩnh, khấn linh hồn ba:-Ba ơi, ba chắc chưa xa con gái đâu phải không? nếu ba linh thiêng hãy cho con sự can đảm, hãy cho con đủ trí khôn để vượt qua mọi thử thách. Con gái ba chưa nếm mùi đời bao giờ. Hãy giúp sức cho con, ba nhé!!Tôi hít thở 1 hơi dài, đặt niềm tin vào đấng tối cao, vào người đã khuất. Có vẻ nhẹ nhõm hơn rồi. Bụng hơi cồn cào, tôi với tay lấy gói bánh. Bẻ một góc bánh bỏ vào miệng. Mẩu chocolat đen quyện với nước miếng, tan chảy ra, thật ngon, thật bùi! Hạt hạnh nhân vỡ giòn tan dưới hai hàm răng mà đã lâu ngày chưa được dùng tới. Tay cứ bốc, hết cái bánh này đến cái bánh khác, vừa ăn vừa suy nghĩ, vừa thưởng thức, đến khi nhìn lại, dốc từ đáy túi ra, không còn mẩu bánh nào còn lại phần cho anh hai nữa!!!Tiếng chân anh vui vẻ bước vào lều, reo lên:-Tắm đã, mát thiệt! Em …đi tắm đi!!....sao…nhìn anh dữ vậy?-Xin lỗi anh!! Em quên mất! Đã ăn hết gói bánh ….Anh nhìn tôi. Rồi nhìn lại cái túi giấy không, vứt trên bàn:-Sao ….đói mà không ăn cơm, lại ăn bánh?? Bánh đó hiếm lắm mới nhờ người mua được từ bên ngoài vào đó! …thôi! Không sao! Em còn đói nữa không?Tôi nhè nhẹ lắc đầu:-Hết đói rồi!! Nhưng …muốn nghe anh kể chuyện, tai sao lại vào đây làm anh của em??Anh nhìn quanh quất một hồi, như sợ ai nghe, rồi ghé tai tôi kể:-Anh và em chẳng có quan hệ máu mủ gì hết, mà lại có cái họ Hoàng y chang nhau!! Hồi mới
 lên tàu, họ đã đinh ninh mình là anh em ruột…Em thì chắc mới ra đường hay sao mà lớ ngớ như trên cung trăng rớt xuống. Anh nghĩ em dễ bị ăn hiếp ở đây lắm, nên lúc khai về quan hệ, anh đã nói đại là… anh của em!! Xin lỗi em, em đừng giận, vì đây là sự đổi trác mà thôi; ngược lại anh biết em có gia đình bên họ ngoại ở Canada nên hãy cho anh cùng tháp tùng sang bên đó….sau này anh sẽ trả ơn!!-Làm sao anh biết được em có gia đình họ hàng bên Canada??-Khi muốn làm việc gì, mình phải điều tra thân thế người đó chứ! Em còn quá ngây thơ, dễ bị lừa đảo trên cuộc đời này lắm, anh…vì em… sẽ là người bảo vệ cho em, nhưng em hứa cho anh làm… anh hai để cùng qua nước thứ ba với em!! Em nghĩ sao??Tôi căng mắt thật to nhìn anh. Anh cũng ….xảo trá lắm! Nhưng trong cái xảo trá lừa lọc của anh còn có tí tình người! Anh không lợi dụng, không làm việc thất đức với tôi là được rồi! Cũng may, anh chỉ muốn làm anh hai của tôi thôi!!! Anh muốn có 1 sự trao đổi với tôi rõ ràng rành mạch như vậy, tiền trao cháo múc như thế cũng tốt! Tôi không ngờ trên cái đảo nhỏ bé này lại có thể xảy ra được cái chuyện không thể tưởng tượng như thế! Không họ hàng thân thích, bỗng nhiên trở thành như người cùng dòng máu, thân cận! Chắc còn nhiều chuyện kinh hoàng động trời trên cái đảo này nữa mà tôi còn quá vụng dại để biết hết!Tôi lúc nào cũng đề phòng anh! Sợ anh còn giở trò gì nữa, nhưng anh tỏ ra người rất thành thật và khá chu đáo trong vai trò làm anh…hai!Bất kỳ chuyện gì anh cũng đứng ra can ngăn, bênh vực tôi. Mấy tên côn đồ xỏ lá muốn làm hại tôi, anh ngấm ngầm theo dõi chúng và xử sự như một anh hùng hảo hán, làm cả đảo ai cũng biết tiếng không dám đụng đến cọng lông của em gái của Viễn Phúc nữa!!Anh không du côn như những tên ma cô nhưng anh cũng rất mánh khoé để đối chọi được với đời…Anh rất thích tìm tòi, thám hiểm, và có óc khôi hài!!Một buổi tối trên đảo, chúng tôi được cùng đi xem phim tình cảm xã hội, phim cảm động đến không cầm được nước mắt, nhất là cảnh người mẹ tiễn con đi một tỉnh khác để học, tôi nhớ lại thân phận mình, nên đã khóc như mưa!! Tôi thấy anh đưa cho tôi cái khăn giấy:-Thôi đừng khóc nữa, lớn rồi! Không có mẹ ở bên cạnh….thì còn anh đây!!Mắt tôi đỏ hoe ngước lên nhìn anh, nụ cười hiền hòa của anh làm trấn an tôi, tôi gục đầu vào vai áo anh. Lần đầu tiên tôi cảm thấy một tình thân, một sợi dây liên kết nào đó giữa tôi và anh, hai kẻ xa lạ gặp nhau giữa chốn chông gai của cuộc đời!Chúng tôi được bảo lãnh qua Montréal khoảng 2 năm sau đó. Anh đã không ngớt cám ơn tôi. Lần đầu tiên từ hơn hai năm nay, anh nắm lấy tay tôi:-Hoàng Vĩnh Khanh! Anh sẽ không bao giờ quên em…gái!! Ở lại, bảo trọng! Anh đi và hứa sẽ trở lại! Em là người con gái ….rất quan trọng …trong cuộc đời anh!!Tôi vẫn đứng yên, một chút xao xuyến, bối rối. Hơn hai năm trên đảo, sống bên anh, anh bảo vệ tôi, một người anh trai, một người thân cận của tôi!!Anh tạm xa tôi để đi làm ở một tỉnh khác, nơi ấy anh cũng có người quen họ xa. Còn tôi ở lại nơi đây để đi học và sau đó cũng đi làm ở nhiều tỉnh khác nhau được 10 năm. Trong mười năm ấy tôi vẫn không tìm được mảnh đất giữ chân tôi….Hôm nay trở lại Montreal, tôi định sẽ ở lại nơi đây lập nghiệp cho đến cuối đời!Cơn tuyết nhẹ bên ngoài vẫn thổi lạnh, gói bánh Félix&Norton trong tay làm tôi nhớ lại kỷ niệm xa xưa với người anh “bất đắc dĩ”. Mỗi con người có duyên gặp nhau ở một đoạn đường đời, để giúp nhau, trả ơn cho nhau, hay để thanh toán món nợ cho nhau, rồi lại chia tay!! Bất giác tôi mỉm cười khi nghĩ đến gói bánh thơm ngon đã được tôi “thanh toán” hết mà không chừa lại một mảnh vụn nào cả!!Mẹ tôi vẫn vò võ bên nhà, bà lúc nào cũng mong sự hiện diện của tôi. Bà và tôi thường liên lạc với nhau bằng điện thư:-Con gái thương nhớ! Mẹ định qua con vào mùa Giáng Sinh này, có người quen sẽ từ Việt Nam dắt mẹ qua bên đó! Mẹ sẽ ở chơi với con 2 tuần rồi về lại. Có làm trở ngại gì con không? Mẹ vẫn khỏe, con đừng lo nhé, chỉ nhức đầu cảm cúm nhỏ nhặt mà thôi….-Mẹ! có thật là mẹ sẽ qua con ở chơi với con? Lẽ ra con nên về với mẹ mới phải, mẹ có muốn sang đây ở luôn không? chỉ có hai mẹ con mà thôi, mẹ ở một nơi, con ở  một đầu, cách xa bằng nửa vòng trái đất! Sống như thế này thật vô vị mẹ ạ! Con mong được ăn bát canh gà như mỗi lần đi học về vậy! Nhớ mẹ nhiều lắm!Nhà nhà treo đèn, kết hoa, khắp nơi tiếng nhạc reo ca mừng Giáng Sinh, tôi cũng vui lây mỗi khi xuống phố nhìn dãy đèn đường đỏ vàng! Hôm nay tôi sẽ đi đón mẹ ở phi trường, tung tăng chân sáo, nghe lòng tràn ngập hạnh phúc như mỗi lần từ trường về gần tới nhà. Mẹ chắc cũng vẫn trẻ, vẫn đẹp như xưa, tôi giống mẹ ở đôi mắt, dài và long lanh, giống mẹ ở chiếc miệng cười có lũm cái đồng điếu! Bao nhiêu kỷ niệm xưa bỗng tràn về, làm tôi náo nức, thấp thỏm mỗi khi cánh cửa mở ra, nhả ra 1 đoàn người xuống từ máy bay ở mọi nước.Tôi vẫn cứ chờ mãi, đứng lên, lại ngồi xuống, không phải mẹ! Bà già búi tóc, mái tóc điểm sương ngồi chờ ai bên ghế bên kia…không phải mẹ! Còn bà già tóc quăn, kẹp cái ví mắc tiền ngồi kia…cũng không phải mẹ! Rồi còn bà già đội nón lá, gầy nheo, da rám nắng, đôi mắt buồn xa xăm, ngồi đối diện với tôi…cũng chẳng phải mẹ!! Nhưng sao ….bà nhìn tôi mãi không chớp mắt! Bỗng nhiên bà đứng lên đi về phía tôi:-Cô có phải là Hoàng Vĩnh Khanh?....- Vâng! …Bác muốn tìm ai???....-Mẹ đây! mẹ đây con à!!-…Mẹ! mẹ sao? mẹ đấy ư…sao mẹ không gọi con…từ sớm…Tôi ôm chầm lấy mẹ, mùi bồ kết quê hương thân quen của tóc quyện lấy tôi. Phải rồi! Mẹ của con, bao năm tảo tần, mùi nắng cháy khen khét của làn da nâu làm tôi không sao cầm được nước mắt! Mẹ cực quá nên mới thay đổi như thế này, đến nỗi con chẳng nhận ra! Chiếc áo bà ba hơi thùng thình như áo khín, mẹ ốm đi nhiều quá!! Hơn 13 năm qua, con vẫn mang hình ảnh trẻ đẹp ngày nào của mẹ. Thế mà bây giờ con không thể nào tưởng tượng được. Cử chỉ nhanh nhẹn của mẹ đã nhường lại cho sự chậm chạp, chịu đựng….-Ai đưa mẹ đi qua đây hả mẹ? mẹ nói với con là có người đưa mẹ đi??-Một người ….à đây này! Anh ấy đây rồi!!... con quen chứ??Tôi ngẩn người đứng nhìn người thanh niên đang đi tới trước mặt, miệng cười thật tươi:-Vĩnh Khanh…anh tìm em từ nãy giờ! Đã hơn 10 năm rồi…ôi chao!!...em vẫn khỏe mạnh chứ?Viễn Phú, anh hai « bất đắc dĩ » của tôi, trông an
h rắn rỏi khoẻ mạnh hơn, nụ cười của anh như chứa bao thông điệp…Anh về Việt Nam thăm lại gia đình, và anh đã tới thăm mẹ tôi, thuyết phục bà sang đây du ngoạn. Anh kể với mẹ chúng tôi quen nhau như thế nào trên đảo. Anh đã lấy được niềm tin nơi mẹ ….Buổi chiều hôm đó, phải nói chúng tôi thật hạnh phúc bên nhau, căn nhà như có tiếng đàn vọng lại. Chúng tôi quây quần bên mâm cơm với bát canh gà mà tôi hằng mơ ước trong giấc ngủ nay đã thành sự thật. Tôi có Mẹ, mà tôi không bao giờ nghĩ là sẽ được ngồi sát một bên, được nép vào ngực mẹ ấm áp gần gũi đến thế! Còn hơn thế nữa, được gặp lại một người anh, đã từng bảo vệ tôi, từng vào sinh ra tử với tôi một thời. Có phải tôi hạnh phúc quá không??Mẹ đi nghỉ trước vì hơi mệt, chỉ còn hai chúng tôi bên bếp sưởi tí tách. Viễn Phú đẩy nốt cây củi thông vào lò :-Vĩnh Khanh! Em có nhớ anh có nói với em rằng anh sẽ trở lại không? Em có nhớ anh còn nói em là người con gái quan trọng lắm trong anh không? ….phải! em vẫn rất quan trọng trong trái tim và sự suy nghĩ của anh, lúc nào anh cũng mong được ngày hôm nay, nhưng anh muốn để cho em thời gian và sự lựa chọn của riêng em….Anh có thể mãi mãi là người anh, là một người bạn đời bên em chứ??Tôi không biết nói gì hơn, ánh mắt long lanh nhìn anh, giọt nước mắt cảm động như muốn trào ra. Anh trong lòng tôi như con suối nhỏ, hiền hòa, âm ỉ chảy từ bao lâu nay. Như dòng sông Mékong đã thấm nhuần vào lòng đất Việt. Con suối, tôi vẫn chờ vẫn đợi một cách thật kiên nhẫn vì tôi tin rằng mạch nước ấy sẽ đem nguồn nước ngọt ngào tưới suốt cả cuộc đời tôi…Lê Ngọc-HuyềnMontreal, Oct 2011

Một vài hình ảnh kỷ niệm của nhả văn Lê Ngọc Huyền giải nhì "Giáng Sinh Trên Miền Đất trọ" trong ngày lễ lớn 20 năm thành lập và phát giài Văn Thơ Lạc Việt. 

http://secure.smilebox.com/ecom/openTheBox?sendevent=4d7a49324e7a6b304e7a56384e544d324e5441304d54453d0d0a&sb=1&playAgain=true

Giáng Sinh trên miền đất trọ… 

Lê Ngọc-Huyền (Montreal Oct 11)

Tôi vội vã băng qua đường khi thấy tiệm bánh Félix&Norton hiện ra trước mắt. Đã lâu lắm rồi tôi chưa nếm lại cái mùi vị ngọt ngọt, bùi bùi, béo thơm của miếng bánh chỉ có bán ở các miền tuyết lạnh lẽo nửa Âu nửa Mỹ như ở Montréal mà thôi. Tuyết bắt đầu rơi nhẹ, cái lạnh buôn buốt làm người ta thèm ăn ngọt, nên dân Montréal ai cũng tròn, hiếm lắm mới thấy được 1 cô gái tóc vàng thanh mảnh.
Bước vào tiệm, đèn đuốc trang hoàng đủ màu, chuẩn bị cho cái Giáng Sinh sắp tới; bánh biscuit cũng được nặn thành ông già Noel ngồi trên xe trượt tuyết với những gói quà muôn màu sắc đủ hình dạng làm từ chocolat đen, trắng, vừa đẹp, vừa bắt mắt. Tôi tần ngần đứng trước quầy kiếng, bánh nào cũng ngon, cũng muốn thử cả, thơm phức mùi bơ và hạnh nhân, làm tôi cứ phải nuốt nước miếng!! Đặc biệt ở tiệm này là bánh được làm ngay tại chỗ, nên vừa ăn vừa thổi dưới cơn tuyết thì thật thú vị biết chừng nào!
Ngồi xuống 1 góc nhỏ trong tiệm, trên tay cầm quyển sách, trước mặt ly café đen, bên cạnh gói bánh mới mua để mở, vừa nhâm nhi, đọc sách, lại vừa nhìn ra bên ngoài, tuyết ngày càng dày đặc….tôi miên man thả hồn về kỷ niệm cách đây trên 13 năm:

Năm ấy là năm cuối đại học ở bên quê hương Việt Nam dấu yêu của tôi, đang sắp chuẩn bị thi ra trường, thì tình hình đất nước nguy kịch. Tất cả như đảo lộn, chấm dứt ngay phút ấy. Mẹ vội vàng tìm cách gởi gấm tôi cho các bác bên gia đình ngoại để ra đi. Mẹ tôi là người phụ nữ rất tháo vát, can đảm, việc trong ngoài đều được bà chu toàn. Ba tôi chọn giải pháp hy sinh khi đất nước lâm nguy. Mẹ tôi nhất định ở lại chăm lo mồ mả ông bà, và hương khói cho ba ….Mẹ chỉ mong tôi đi sang nước ngoài để học thành tài cho tương lại và bản thân tôi sau này không bị khổ! Mẹ cứ nhắc đi nhắc lại:
– Con cứ qua được tới đảo, khai có thân nhân bên Canada là mọi chuyện sẽ được giải quyết êm đẹp. Mẹ sẽ báo cho chú Tôn đón con….Đừng bận tâm đến mẹ, mẹ còn hàng xóm…và bạn bè đông lắm….
Đứa con gái 18 tuổi, chưa bao giờ ra đời, tôi chỉ biết ăn rồi đi học. Bỗng nhiên phải đương đầu 1 mình nơi xứ lạ quê người! Tiếng nói cũng chưa thành thạo, làm sao có thể nuôi được bản thân mình?? Bao ý nghĩ ngổn ngang, lo sợ làm tôi chỉ muốn khóc, nhưng nghĩ lại nếu tôi không hy sinh, liều mạng thì làm sao có thể sống còn và trả hiếu cho mẹ!!! Nghĩ đến đó, tôi cố gắng can đảm, gồng mình!!
May mắn, thuyền chúng tôi được an toàn tới đảo Mã Lai. 
Ngày đầu tiên đứng xếp hàng lấy cơm, tôi nghe gọi:
– Hoàng Vĩnh Khanh….
Tôi vội vàng tiến đến lấy phần cơm của mình. Bỗng nhiên người lo phần ẩm thực đưa thêm một phần cơm nữa, nhét vào lòng tôi, mà không chờ cho tôi có một ý kiến nào và đẩy ra:
– Lấy luôn phần cơm cho Hoàng Viễn Phúc nhé…..hai anh em phải không? Vậy được rồi, tôi xóa sổ tên Hoàng Viễn Phúc rồi đó, ra đi!!
Tôi cầm hai phần cơm trê
n tay, ra khỏi hàng, lớ ngớ đứng giữa đường, chẳng biết ai là Hoàng Viễn Phúc mà đưa! Tôi đành phải rảo bước về căn lều mới được chỉ định, rồi từ từ sẽ lùng ra tên Hoàng Viễn Phúc để đưa cơm….
Vừa tới căn lều, tôi đã thấy ….một người thanh niên, dáng cao, khuôn mặt điển trai, mái tóc dài che gáy, hơi quăn, đôi mắt thân thiện nhìn tôi, hỏi:
– Cô ….cô là….Hoàng Vĩnh Khanh?
– Vâng! Còn anh là ….
– Tôi là Hoàng Viễn Phúc!!!….chúng ta là ….anh em!!!
– Anh em??? Tôi làm gì có anh!!! Anh có lộn không??
– Xuỵt!! đừng nói to! Coi chừng có người nghe được là không hay đâu! Bây giờ ngồi xuống đây, mình ăn cơm đã, rồi từ từ tôi sẽ nói chuyện cho cô nghe sau….
Tôi bỡ ngỡ, riu ríu ngồi xuống 1 góc phòng, anh ta cũng theo tôi ngồi bên cạnh, làm như ….hai anh em thật!! Vừa ngạc nhiên lẫn lo lắng, chẳng hiểu chuyện gì, mà cũng không dám nói to, như lời nói của ông anh “bất đắc dĩ” vừa bảo “coi chừng người ta phát hiện”….
Bụng bỗng no ngang, mặc dù chẳng ăn gì đã từ cả ngày hôm qua. Tôi nhìn khuôn mặt anh “hai”, anh cũng không vẻ gì là người xảo trá lừa đảo, cũng không vẻ gì đang lợi dụng tôi! Mà tại sao phải nhận tôi làm ….em gái?? Lại còn ở chung lều với tôi nữa?? Tối nay ….làm sao đây? Ai ngủ trên giường, và ai nằm dưới đất?? Tôi lo lắng đến nỗi không nuốt nổi hạt cơm vào bụng! Anh hai thì tỉnh bơ:
– Em cứ… tự nhiên ăn cơm đi nhé, cho có sức chịu đựng! đừng… nhìn anh với cặp mắt như thế!! Em… ăn bánh không?
Anh đưa ra trước mắt tôi gói bánh hạnh nhân. Ở đây làm gì có bánh thơm ngon thế? Mùi hạnh nhân quyện với mùi bơ bay lên làm tôi thèm rỏ rãi, anh còn bảo:
– Anh để đây, anh đi tắm….em cứ ăn đi, đừng sợ!!
Anh bỏ đi ra ngoài lều, xếp hàng đi tắm. Tôi một mình trong cái lều trống vắng, lo sợ, ngạc nhiên, bất an….đến muốn khóc. Tôi nhắm mắt lại, lấy bình tĩnh, khấn linh hồn ba:
– Ba ơi, ba chắc chưa xa con gái đâu phải không? nếu ba linh thiêng hãy cho con sự can đảm, hãy cho con đủ trí khôn để vượt qua mọi thử thách. Con gái ba chưa nếm mùi đời bao giờ. Hãy giúp sức cho con, ba nhé!!
Tôi hít thở 1 hơi dài, đặt niềm tin vào đấng tối cao, vào người đã khuất. Có vẻ nhẹ nhõm hơn rồi. Bụng hơi cồn cào, tôi với tay lấy gói bánh. Bẻ một góc bánh bỏ vào miệng. Mẩu chocolat đen quyện với nước miếng, tan chảy ra, thật ngon, thật bùi! Hạt hạnh nhân vỡ giòn tan dưới hai hàm răng mà đã lâu ngày chưa được dùng tới. Tay cứ bốc, hết cái bánh này đến cái bánh khác, vừa ăn vừa suy nghĩ, vừa thưởng thức, đến khi nhìn lại, dốc từ đáy túi ra, không còn mẩu bánh nào còn lại phần cho anh hai nữa!!!
Tiếng chân anh vui vẻ bước vào lều, reo lên:
– Tắm đã, mát thiệt! Em …đi tắm đi!!….sao…nhìn anh dữ vậy?
– Xin lỗi anh!! Em quên mất! Đã ăn hết gói bánh ….
Anh nhìn tôi. Rồi nhìn lại cái túi giấy không, vứt trên bàn:
– Sao ….đói mà không ăn cơm, lại ăn bánh?? Bánh đó hiếm lắm mới nhờ người mua được từ bên ngoài vào đó! …thôi! Không sao! Em còn đói nữa không?
Tôi nhè nhẹ lắc đầu:
– Hết đói rồi!! Nhưng …muốn nghe anh kể chuyện, tai sao lại vào đây làm anh của em??
Anh nhìn quanh quất một hồi, như sợ ai nghe, rồi ghé tai tôi kể:
– Anh và em chẳng có quan hệ máu mủ gì hết, mà lại có cái họ Hoàng y chang nhau!! Hồi mới lên tàu, họ đã đinh ninh mình là anh em ruột…Em thì chắc mới ra đường hay sao mà lớ ngớ như trên cung trăng rớt xuống. Anh nghĩ em dễ bị ăn hiếp ở đây lắm, nên lúc khai về quan hệ, anh đã nói đại là… anh của em!! Xin lỗi em, em đừng giận, vì đây là sự đổi trác mà thôi; ngược lại anh biết em có gia đình bên họ ngoại ở Canada nên hãy cho anh cùng tháp tùng sang bên đó….sau này anh sẽ trả ơn!!
– Làm sao anh biết được em có gia đình họ hàng bên Canada??
– Khi muốn làm việc gì, mình phải điều tra thân thế người đó chứ! Em còn quá ngây thơ, dễ bị lừa đảo trên cuộc đời này lắm, anh…vì em… sẽ là người bảo vệ cho em, nhưng em hứa cho anh làm… anh hai để cùng qua nước thứ ba với em!! Em nghĩ sao??
Tôi căng mắt thật to nhìn anh. Anh cũng ….xảo trá lắm! Nhưng trong cái xảo trá lừa lọc của anh còn có tí tình người! Anh không lợi dụng, không làm việc thất đức với tôi là được rồi! Cũng may, anh chỉ muốn làm anh hai của tôi thôi!!! Anh muốn có 1 sự trao đổi với tôi rõ ràng rành mạch như vậy, tiền trao cháo múc như thế cũng tốt! Tôi không ngờ trên cái đảo nhỏ bé này lại có thể xảy ra được cái chuyện không thể tưởng tượng như thế! Không họ hàng thân thích, bỗng nhiên trở thành như người cùng dòng máu, thân cận! Chắc còn nhiều chuyện kinh hoàng động trời trên cái đảo này nữa mà tôi còn quá vụng dại để biết hết! 
Tôi lúc nào cũng đề phòng anh! Sợ anh còn giở trò gì nữa, n
hưng anh tỏ ra người rất thành thật và khá chu đáo trong vai trò làm anh…hai!
Bất kỳ chuyện gì anh cũng đứng ra can ngăn, bênh vực tôi. Mấy tên côn đồ xỏ lá muốn làm hại tôi, anh ngấm ngầm theo dõi chúng và xử sự như một anh hùng hảo hán, làm cả đảo ai cũng biết tiếng không dám đụng đến cọng lông của em gái của Viễn Phúc nữa!!
Anh không du côn như những tên ma cô nhưng anh cũng rất mánh khoé để đối chọi được với đời…Anh rất thích tìm tòi, thám hiểm, và có óc khôi hài!!
Một buổi tối trên đảo, chúng tôi được cùng đi xem phim tình cảm xã hội, phim cảm động đến không cầm được nước mắt, nhất là cảnh người mẹ tiễn con đi một tỉnh khác để học, tôi nhớ lại thân phận mình, nên đã khóc như mưa!! Tôi thấy anh đưa cho tôi cái khăn giấy:
– Thôi đừng khóc nữa, lớn rồi! Không có mẹ ở bên cạnh….thì còn anh đây!!
Mắt tôi đỏ hoe ngước lên nhìn anh, nụ cười hiền hòa của anh làm trấn an tôi, tôi gục đầu vào vai áo anh. Lần đầu tiên tôi cảm thấy một tình thân, một sợi dây liên kết nào đó giữa tôi và anh, hai kẻ xa lạ gặp nhau giữa chốn chông gai của cuộc đời!

Chúng tôi được bảo lãnh qua Montréal khoảng 2 năm sau đó. Anh đã không ngớt cám ơn tôi. Lần đầu tiên từ hơn hai năm nay, anh nắm lấy tay tôi:
– Hoàng Vĩnh Khanh! Anh sẽ không bao giờ quên em…gái!! Ở lại, bảo trọng! Anh đi và hứa sẽ trở lại! Em là người con gái ….rất quan trọng …trong cuộc đời anh!!
Tôi vẫn đứng yên, một chút xao xuyến, bối rối. Hơn hai năm trên đảo, sống bên anh, anh bảo vệ tôi, một người anh trai, một người thân cận của tôi!!
Anh tạm xa tôi để đi làm ở một tỉnh khác, nơi ấy anh cũng có người quen họ xa. Còn tôi ở lại nơi đây để đi học và sau đó cũng đi làm ở nhiều tỉnh khác nhau được 10 năm. Trong mười năm ấy tôi vẫn không tìm được mảnh đất giữ chân tôi….
Hôm nay trở lại Montreal, tôi định sẽ ở lại nơi đây lập nghiệp cho đến cuối đời!

Cơn tuyết nhẹ bên ngoài vẫn thổi lạnh, gói bánh Félix&Norton trong tay làm tôi nhớ lại kỷ niệm xa xưa với người anh “bất đắc dĩ”. Mỗi con người có duyên gặp nhau ở một đoạn đường đời, để giúp nhau, trả ơn cho nhau, hay để thanh toán món nợ cho nhau, rồi lại chia tay!! Bất giác tôi mỉm cười khi nghĩ đến gói bánh thơm ngon đã được tôi “thanh toán” hết mà không chừa lại một mảnh vụn nào cả!!
Mẹ tôi vẫn vò võ bên nhà, bà lúc nào cũng mong sự hiện diện của tôi. Bà và tôi thường liên lạc với nhau bằng điện thư:
– Con gái thương nhớ! Mẹ định qua con vào mùa Giáng Sinh này, có người quen sẽ từ Việt Nam dắt mẹ qua bên đó! Mẹ sẽ ở chơi với con 2 tuần rồi về lại. Có làm trở ngại gì con không? Mẹ vẫn khỏe, con đừng lo nhé, chỉ nhức đầu cảm cúm nhỏ nhặt mà thôi….
– Mẹ! có thật là mẹ sẽ qua con ở chơi với con? Lẽ ra con nên về với mẹ mới phải, mẹ có muốn sang đây ở luôn không? chỉ có hai mẹ con mà thôi, mẹ ở một nơi, con ở một đầu, cách xa bằng nửa vòng trái đất! Sống như thế này thật vô vị mẹ ạ! Con mong được ăn bát canh gà như mỗi lần đi học về vậy! Nhớ mẹ nhiều lắm!

Nhà nhà treo đèn, kết hoa, khắp nơi tiếng nhạc reo ca mừng Giáng Sinh, tôi cũng vui lây mỗi khi xuống phố nhìn dãy đèn đường đỏ vàng! Hôm nay tôi sẽ đi đón mẹ ở phi trường, tung tăng chân sáo, nghe lòng tràn ngập hạnh phúc như mỗi lần từ trường về gần tới nhà. Mẹ chắc cũng vẫn trẻ, vẫn đẹp như xưa, tôi giống mẹ ở đôi mắt, dài và long lanh, giống mẹ ở chiếc miệng cười có lũm cái đồng điếu! Bao nhiêu kỷ niệm xưa bỗng tràn về, làm tôi náo nức, thấp thỏm mỗi khi cánh cửa mở ra, nhả ra 1 đoàn người xuống từ máy bay ở mọi nước.
Tôi vẫn cứ chờ mãi, đứng lên, lại ngồi xuống, không phải mẹ! Bà già búi tóc, mái tóc điểm sương ngồi chờ ai bên ghế bên kia…không phải mẹ! Còn bà già tóc quăn, kẹp cái ví mắc tiền ngồi kia…cũng không phải mẹ! Rồi còn bà già đội nón lá, gầy nheo, da rám nắng, đôi mắt buồn xa xăm, ngồi đối diện với tôi…cũng chẳng phải mẹ!! Nhưng sao ….bà nhìn tôi mãi không chớp mắt! Bỗng nhiên bà đứng lên đi về phía tôi:
– Cô có phải là Hoàng Vĩnh Khanh?….
– Vâng! …Bác muốn tìm ai???….
– Mẹ đây! mẹ đây con à!!
– …Mẹ! mẹ sao? mẹ đấy ư…sao mẹ không gọi con…từ sớm…
Tôi ôm chầm lấy mẹ, mùi bồ kết quê hương thân quen của tóc quyện lấy tôi. Phải rồi! Mẹ của con, bao năm tảo tần, mùi nắng cháy khen khét của làn da nâu làm tôi không sao cầm được nước mắt! Mẹ cực quá nên mới thay đổi như thế này, đến nỗi con chẳng nhận ra! Chiếc áo bà ba hơi thùng thình như áo khín, mẹ ốm đi nhiều quá!! Hơn 13 năm qua, con vẫn mang hình ảnh trẻ đẹp ngày nào của mẹ. Thế mà bây giờ con không thể nào tưởng tượng được. Cử chỉ nhanh nhẹn của mẹ đã nhường lại cho sự chậm chạp, chịu đựng….
– Ai đưa mẹ đi qua đây hả mẹ? mẹ nói với con là có người đưa mẹ đi??
– Một người ….à đây này! Anh ấy đây rồi!!… con quen ch
ứ??
Tôi ngẩn người đứng nhìn người thanh niên đang đi tới trước mặt, miệng cười thật tươi:
– Vĩnh Khanh…anh tìm em từ nãy giờ! Đã hơn 10 năm rồi…ôi chao!!…em vẫn khỏe mạnh chứ?
Viễn Phú, anh hai « bất đắc dĩ » của tôi, trông anh rắn rỏi khoẻ mạnh hơn, nụ cười của anh như chứa bao thông điệp…Anh về Việt Nam thăm lại gia đình, và anh đã tới thăm mẹ tôi, thuyết phục bà sang đây du ngoạn. Anh kể với mẹ chúng tôi quen nhau như thế nào trên đảo. Anh đã lấy được niềm tin nơi mẹ ….
Buổi chiều hôm đó, phải nói chúng tôi thật hạnh phúc bên nhau, căn nhà như có tiếng đàn vọng lại. Chúng tôi quây quần bên mâm cơm với bát canh gà mà tôi hằng mơ ước trong giấc ngủ nay đã thành sự thật. Tôi có Mẹ, mà tôi không bao giờ nghĩ là sẽ được ngồi sát một bên, được nép vào ngực mẹ ấm áp gần gũi đến thế! Còn hơn thế nữa, được gặp lại một người anh, đã từng bảo vệ tôi, từng vào sinh ra tử với tôi một thời. Có phải tôi hạnh phúc quá không?? 
Mẹ đi nghỉ trước vì hơi mệt, chỉ còn hai chúng tôi bên bếp sưởi tí tách. Viễn Phú đẩy nốt cây củi thông vào lò :
– Vĩnh Khanh! Em có nhớ anh có nói với em rằng anh sẽ trở lại không? Em có nhớ anh còn nói em là người con gái quan trọng lắm trong anh không? ….phải! em vẫn rất quan trọng trong trái tim và sự suy nghĩ của anh, lúc nào anh cũng mong được ngày hôm nay, nhưng anh muốn để cho em thời gian và sự lựa chọn của riêng em….Anh có thể mãi mãi là người anh, là một người bạn đời bên em chứ??
Tôi không biết nói gì hơn, ánh mắt long lanh nhìn anh, giọt nước mắt cảm động như muốn trào ra. Anh trong lòng tôi như con suối nhỏ, hiền hòa, âm ỉ chảy từ bao lâu nay. Như dòng sông Mékong đã thấm nhuần vào lòng đất Việt. Con suối, tôi vẫn chờ vẫn đợi một cách thật kiên nhẫn vì tôi tin rằng mạch nước ấy sẽ đem nguồn nước ngọt ngào tưới suốt cả cuộc đời tôi…

Lê Ngọc-Huyền

Montreal, Oct 2011




Cửu Bình: 8 – ĐCSTQ, một tà giáo về bản chất.

Cửu Bình: 8 – ĐCSTQ, một tà giáo về bản chất.

Tài liệu gốc: http://dajiyuan.com/gb/4/12/3/n735942.htm

0 – Dẫn nhập | 1 – Đảng cộng sản là gì? | 2 – Đảng cộng sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào? | 3 – Chính quyền bạo lực của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 4 – Đảng cộng sản, một lực lượng phản vũ trụ. | 5 – Giang Trạch Dân và Đảng cộng sản Trung Quốc lợi dụng lẫn nhau để đàn áp Pháp Luân Công. | 6 – Đảng cộng sản Trung Quốc phá hoại văn hoá dân tộc. | 7 – Lịch sử giết chóc của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 8 – Bản chất tà giáo của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 9 – Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Lời mở đầu

 


Tranh cổ động, Cách mạng Văn hóa là một thời kỳ mà “Mặt trời đỏ nhất” trong khi “thế giới đen tối nhất”. Tất cả mọi người đều phải học các tác phẩm của Mao.

Sự sụp đổ của khối Xã hội Chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu vào đầu những năm 90 đã đánh dấu sự thất bại của Chủ nghĩa Cộng sản sau gần một thế kỷ tồn tại. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) không ngờ đã sống sót và vẫn nắm quyền ở Trung Quốc, một đất nước với 1/5 dân số thế giới. Một câu hỏi tất yếu nảy sinh là: liệu ĐCSTQ ngày nay có còn thật sự đi theo Chủ nghĩa Cộng sản nữa hay không?

Bây giờ không một ai ở Trung Quốc, bao gồm cả các đảng viên, còn tin vào Chủ nghĩa Cộng sản. Sau 50 năm đi theo Chủ nghĩa Xã hội, ĐCSTQ bây giờ đã cho phép tư hữu hóa và thậm chí còn có thị trường chứng khoán. ĐCSTQ còn tìm kiếm đầu tư nước ngoài để thành lập các doanh nghiệp mới, trong khi bóc lột công nhân và nông dân đến mức tối đa. Điều này là hoàn toàn trái ngược với lý tưởng của Chủ nghĩa Cộng sản. Mặc dù đã thỏa hiệp với Chủ nghĩa Tư bản, ĐCSTQ vẫn duy trì quyền thống trị độc tài đối với nhân dân Trung Quốc. Hiến Pháp sửa đổi năm 2004 vẫn cứng ngắc tuyên bố rằng “Nhân dân các dân tộc Trung Quốc sẽ tiếp tục chấp hành chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân và đường lối Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự dẫn lối của Chủ nghĩa Mác-xít-Lê-nin-nít, ý thức hệ của Mao Trạch Đông, lý luận của Đặng Tiểu Bình và tư tưởng quan trọng về ‘Ba Đại diện’…”

“Con báo đã chết, nhưng vẫn còn lưu lại bộ da” [1]. ĐCSTQ ngày nay chỉ còn lại “bộ da”. ĐCSTQ kế thừa bộ da này và dùng nó để duy trì quyền thống trị Trung Quốc.

Bản chất của bộ da mà ĐCSTQ kế thừa, hay tổ chức của ĐCSTQ là gì?

******************

I. Các đặc điểm mang tính giáo phái của ĐCSTQ

ĐCSTQ về bản chất là một tà giáo làm hại nhân loại

Mặc dù ĐCSTQ chưa bao giờ tự gọi mình là một tôn giáo nhưng nó có tất cả các đặc điểm của một tôn giáo (Bảng 1). Khi mới bắt đầu thành lập, nó coi chủ nghĩa Mác-xít là chân lý tuyệt đối trên thế giới. Nó sùng bái và tôn thờ Mác như vị thánh tinh thần của mình, và hô hào nhân dân tham gia vào một cuộc đấu tranh suốt cuộc đời vì mục đích là xây dựng một “thiên đường cộng sản trên thế giới”.

Bảng 1. Các đặc điểm mang tính tôn giáo của ĐCSTQ.

  Các hình thức cơ bản của một tôn giáo Các hình thức tương ứng của ĐCSTQ
1. Nhà thờ hay bục giảng. Tất cả các cấp ủy đảng; các bài diễn thuyết trong những buổi họp của đảng cho đến các phương tiện thông tin đại chúng đều bị ĐCSTQ kiểm soát.
2. Giáo lý. Chủ nghĩa Mác-xít – Lê-nin-nít, ý thức hệ của Mao Trạch Đông, lý luận của Đặng Tiểu Bình và tư tưởng ‘Ba Đại diện’ của Giang Trạch Dân và Hiến chương của Đảng.
3. Nghi lễ kết nạp, quy y. Buổi lễ tuyên thệ trung thành mãi mãi với ĐCSTQ.
4. Trung thành với một tôn giáo. Đảng viên chỉ được phép tin vào ĐCSTQ.
5. Chức sắc: linh mục, thượng toạ, … Bí thư và nhân viên phụ trách công tác đảng ở các cấp.
6. Thờ Thần, Phật, … Báng bổ tất cả các vị thần và sau đó tự suy tôn mình thành một “vị thần” vô danh.
7. Chết được gọi là “đi lên thiên đường hoặc xuống địa ngục”. Chết được gọi là “đi gặp Các-Mác”.
8. Kinh sách. Học thuyết và các bài viết của những người lãnh đạo đảng.
9. Giảng đạo. Các thể loại họp hành và phát biểu của lãnh đạo.
10. Tụng kinh; học và trau dồi kinh sách. Học chính trị, họp nhóm thường kỳ hoặc các hoạt động của các đảng viên.
11. Thánh ca. Các bài hát ca ngợi đảng.
12. Đóng phí. Đảng phí bắt buộc; phân bổ ngân sách nhà nước một cách bắt buộc cho đảng từ mồ hôi và máu của nhân dân.
13. Giới luật, kỷ luật. Kỷ luật đảng bao gồm “quản thúc và điều tra tại nhà” và “khai trừ ra khỏi đảng” cho đến các thủ đoạn tra tấn chết người và thậm chí trừng phạt cả người thân và bạn bè.

ĐCSTQ rất khác biệt với bất cứ một chính giáo nào. Tất cả các chính giáo đều tin vào Thần và từ bi, và có sứ mệnh khuyên bảo con người duy trì đạo đức và cứu rỗi linh hồn. ĐCSTQ không tin vào Thần và đi ngược lại đạo đức truyền thống.

Những việc mà ĐCSTQ đã làm chứng tỏ rằng nó là một tà giáo. Học thuyết của ĐCSTQ dựa trên đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản và đã tạo ra cái gọi là “cách mạng vô sản” đầy máu và bạo lực. Khủng bố đỏ của Chủ nghĩa Cộng sản đã kéo dài khoảng một thế kỷ, đem đến tai họa cho hàng chục nước trên thế giới và cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu con người. Lý tưởng cộng sản đã tạo ra địa ngục trần gian và không có gì khác hơn là một tà giáo tà ác nhất trên thế giới.

Bản chất tà giáo của ĐCSTQ được tóm tắt dưới sáu mục sau:

1. Sự hình thành học thuyết và việc diệt trừ những người bất đồng chính kiến

ĐCSTQ lấy chủ nghĩa Mác-xít làm học thuyết tôn giáo và khoe trương nó như là “chân lý không thể phá vỡ.” Học thuyết của ĐCSTQ không có từ tâm và lòng khoan dung. Thay vào đó, nó mang đầy tính ngạo mạn. Chủ nghĩa Mác-xít là một sản phẩm của giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản khi năng suất lao động vẫn còn thấp và khoa học vẫn còn kém phát triển. Nó không hề có một hiểu biết đúng đắn về các mối quan hệ giữa con người và xã hội hay giữa con người và thiên nhiên. Không may là, tư tưởng dị giáo này đã phát triển thành một phong trào cộng sản quốc tế và đã làm hại nhân thế trong suốt hơn một thế kỷ, trước khi mọi người vứt bỏ nó sau khi đã phát hiện ra rằng trên thực tế nó hoàn toàn sai lầm.

Những người lãnh đạo đảng từ thời Lê-nin đã liên tục sửa đổi học thuyết của giáo phái đó. Từ lý luận của Lê-nin về bạo lực cách mạng cho đến học thuyết của Mao Trạch Đông về liên tục cách mạng dưới chế độ chuyên chính vô sản, đến “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân, lịch sử của ĐCSTQ đầy rẫy những học thuyết và ảo tưởng dị giáo như thế. Mặc dù những học thuyết này đã liên tục gây ra những tai họa trên thực tế và tự bản thân chúng là mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng ĐCSTQ vẫn tự tuyên bố rằng nó hoàn toàn đúng đắn và bắt buộc nhân dân phải học các học thuyết của nó.

Việc tiêu diệt những người bất đồng chính kiến là phương tiện hữu hiệu nhất để tà giáo cộng sản đó phổ biến học thuyết của nó. Bởi vì học thuyết và hành xử của tà giáo này quá lố bịch, ĐCSTQ phải bắt buộc nhân dân chấp nhận chúng, và dựa vào bạo lực để tiêu diệt những người bất đồng chính kiến. Sau khi ĐCSTQ giành được chính quyền ở Trung Quốc, nó bắt đầu việc thực hiện “cải cách ruộng đất” để tiêu diệt những người chủ sở hữu đất đai (địa chủ), “cải cách xã hội chủ nghĩa” trong công nghiệp và thương nghiệp để tiêu diệt các nhà tư sản, “phong trào tiêu diệt các phần tử phản động” để tiêu diệt những tôn giáo truyền thống và những người nắm quyền trước khi ĐCSTQ giành được chính quyền, “phong trào chống cánh hữu” để bịt miệng những người trí thức và “Đại Cách mạng Văn hóa” để tiêu diệt Văn hóa truyền thống dân tộc của Trung Quốc. ĐCSTQ có thể thống nhất Trung Quốc dưới tà giáo cộng sản và đạt được một tình thế mà trong đó tất cả mọi người đều phải đọc Sách Đỏ, nhảy “điệu trung thành” và “xin ý kiến chỉ đạo của đảng vào buổi sáng và báo cáo với đảng vào buổi tối.” Vào thời kỳ sau chế độ của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, ĐCSTQ cho rằng Pháp Luân Công, một phương pháp tu luyện truyền thống tin vào “Chân Thiện Nhẫn” sẽ cạnh tranh với đảng để thu hút quần chúng và do đó nó có ý định tiêu diệt Pháp Luân Công. Do đó nó đã bắt đầu một cuộc đàn áp mang tính diệt chủng đối với Pháp Luân Công cho đến tận bây giờ.

2. Đề cao việc tôn thờ lãnh tụ và các quan điểm tuyệt đối hóa

Từ Các-Mác cho đến Giang Trạch Dân, chân dung của những người lãnh đạo Đảng Cộng sản luôn luôn được treo lên để tôn thờ. Quyền lực tuyệt đối của những người lãnh đạo ĐCSTQ nghiêm cấm bất cứ một thách thức nào. Mao Trạch Đông được dựng lên làm “mặt trời đỏ” và “người giải phóng vĩ đại”. ĐCSTQ tán dương một cách lố bịch những bài viết của Mao Trạch Đông, nói rằng “một câu nói của Mao Trạch Đông bằng 10 nghìn câu của một người thường”. Với tư cách là “một đảng viên bình thường”, Đặng Tiểu Bình đã từng thống lĩnh chính trị Trung Quốc như một lãnh chúa. Học thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân chỉ dài có hơn 40 chữ một chút cộng cả dấu chấm nhưng Phiên họp toàn thể lần thứ tư đã thổi phồng lên là “đem đến câu trả lời sáng tạo cho những vấn đề như chủ nghĩa xã hội là gì, làm thế nào để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta xây dựng loại đảng nào và xây dựng đảng như thế nào.” ĐCSTQ cũng tán dương thái quá về tư tưởng “Ba đại diện”, mặc dù trong trường hợp này thực chất là chế nhạo nó khi nói rằng nó là sự tiếp nối và phát triển của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Mao Trạch Đông và học thuyết Đặng Tiểu Bình.

Việc giết những người vô tội một cách vô nhân đạo của Xta-lin, “Đại Cách mạng Văn hóa” mang tính hủy diệt của Mao Trạch Đông, lệnh thảm sát các sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn của Đặng Tiểu Bình và cuộc đàn áp Pháp Luân Công vẫn còn đang tiếp diễn của Giang Trạch Dân là những kết quả rùng rợn của chế độ độc tài tà giáo của ĐCSTQ.

Một mặt, ĐCSTQ ban hành Hiến Pháp, “Tất cả quyền lực trong Nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa thuộc về nhân dân. Các cơ quan mà thông qua đó nhân dân thực thi quyền lực nhà nước là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp”. “Không có một tổ chức hay cá nhân nào được quyền đứng trên Hiến pháp và Pháp luật.” [2] Mặt khác, Hiến chương của ĐCSTQ tuyên bố rằng ĐCSTQ là nòng cốt lãnh đạo của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, vượt trên cả đất nước và nhân dân. Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có “những bài phát biểu quan trọng” trên khắp cả nước nói rằng Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, phải tuân theo sự lãnh đạo của ĐCSTQ. Theo nguyên tắc “tập trung dân chủ” của ĐCSTQ, thì toàn đảng phải tuân theo Ban chấp hành Trung ương. Bản chất là, điều mà Quốc hội thực sự nhấn mạnh là quyền lực độc tài của Tổng Bí thư được bảo vệ dưới hình thức luật pháp.

3. Cưỡng bức tẩy não, kiểm soát tư tưởng, tổ chức nghiêm ngặt và không được ra khỏi đảng sau khi đã được kết nạp

Tổ chức của ĐCSTQ rất là nghiêm ngặt: cần phải có đủ giới thiệu của 2 đảng viên thì mới được kết nạp đảng; đảng viên mới phải thề trung thành với đảng mãi mãi sau khi được kết nạp; đảng viên phải đóng đảng phí, tham dự các hoạt động do đảng tổ chức, và tham gia học chính trị tập thể. Các tổ chức đảng xuyên suốt tất cả các cấp chính quyền. Các tổ chức địa phương của ĐCSTQ có mặt ở tất cả các làng, thị trấn… ĐCSTQ kiểm soát không chỉ các đảng viên và các công tác đảng mà cả những người không phải là đảng viên bởi vì toàn xã hội phải “tuân theo sự lãnh đạo của đảng”. Trong những năm khi mà các chiến dịch đấu tranh giai cấp đang diễn ra, các “linh mục” của tôn giáo ĐCSTQ, gọi là các bí thư ở tất cả các cấp thường là không biết chính xác là bản thân họ đang làm gì ngoài việc bắt mọi người phải tuân theo kỷ luật.

“Phê bình và tự phê bình” trong các cuộc họp đảng là biện pháp thường thấy và không bao giờ dứt nhằm kiểm soát tư tưởng của các đảng viên. Trong lịch sử, ĐCSTQ đã phát động nhiều phong trào để “thanh lọc các đảng viên”, “chỉnh đốn không khí đảng”, “bắt những kẻ phản bội”, “thanh trừ những người chống bôn-sê-vích (AB đoàn) [3]” và “đề cao kỷ luật đảng”, định kỳ thử thách “ý thức về đảng tính” – có nghĩa là dùng bạo lực và khủng bố để thử thách sự tận tụy của các đảng viên đối với đảng đồng thời đảm bảo rằng họ sẽ mãi mãi trung thành với đảng.

Việc gia nhập ĐCSTQ cũng tương tự như là ký một hợp đồng bán cả thể xác và linh hồn mà không thể hủy bỏ. Kỷ luật đảng luôn luôn đứng trên pháp luật của nhà nước, ĐCSTQ có thể tùy ý khai trừ ra khỏi đảng bất cứ một đảng viên nào trong khi các đảng viên thì lại không thể ra khỏi đảng mà không bị trừng phạt nghiêm trọng. Việc xin ra khỏi đảng bị coi là không trung thành và sẽ đưa đến những hậu quả tai hại. Trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa khi giáo phái ĐCSTQ nắm quyền lực tuyệt đối, ai cũng biết rằng nếu đảng muốn ai phải chết thì người đó sẽ không thể sống, nếu đảng muốn ai phải sống thì người đó không được phép chết. Nếu một người mà tự tử thì người đó sẽ bị dán nhãn là “sợ bị nhân dân trừng phạt vì những tội lỗi của mình” và người nhà của họ cũng sẽ bị liên lụy và bị trừng phạt.

Quá trình ra quyết định trong đảng hoạt động như một hộp đen và các cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng phải được giữ bí mật tuyệt đối. Tất cả các tài liệu của đảng đều là bí mật. Sợ bị nhân dân phát hiện ra các hành động tội ác của mình, ĐCSTQ thường xuyên xử lý những người bất đồng chính kiến bằng cách gán cho họ tội “tiết lộ bí mật quốc gia”.

4. Kích động bạo lực, tàn sát và hy sinh cho đảng

Mao Trạch Đông nói, “Một cuộc cách mạng không phải là một bữa tiệc tối, hay viết một bài văn, hay vẽ một bức tranh, hay là làm công việc thêu thùa; nó không thể tao nhã như vậy, nhẹ nhàng và nhàn hạ như vậy, ôn hòa, tử tế, lịch thiệp, dè dặt và cao thượng như vậy. Một cuộc cách mạng là một cuộc nổi dậy, một hành động bạo lực mà nhờ đó giai cấp này lật đổ giai cấp khác.”[4]

Đặng Tiểu Bình nói, “Giết chết 200 nghìn người để đổi lấy 20 năm ổn định”.

Giang Trạch Dân ra lệnh, “Hủy hoại thân thể (các học viên Pháp Luân Công), bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính.”

ĐCSTQ đã kích động bạo lực và giết chết vô số người trong suốt các phong trào chính trị trước kia của nó. Nó giáo dục nhân dân phải đối xử với kẻ thù “lạnh lùng như mùa đông khắc nghiệt”. Lá cờ đỏ được lấy màu đỏ để tượng trưng cho sự “nhuộm máu của những người cảm tử.” ĐCSTQ tôn thờ màu đỏ bởi vì nó khát máu và tàn sát.

ĐCSTQ thường nêu cao những tấm gương anh hùng để khuyến khích mọi người hy sinh cho đảng. Khi Trương Tư Đức chết trong lúc đang làm việc trong lò sản xuất thuốc phiện, Mao Trạch Đông đã ca ngợi cái chết đó là “nặng như Núi Thái sơn [5].” Trong những năm điên cuồng đó, “những lời dũng cảm” như “Không sợ gian khổ hy sinh” và “Sự hy sinh cay đắng làm mạnh thêm quyết tâm táo bạo; chúng ta dám làm mặt trời và mặt trăng chiếu sáng những khung trời mới” đã đem lại khát vọng trong khi thiếu thốn trầm trọng về mặt vật chất.

Vào cuối những năm 70, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa quân đi lật đổ chế độ Khơ me Đỏ do ĐCSTQ ủng hộ và gây ra các tội ác tầy trời. Mặc dù ĐCSTQ rất điên tiết nhưng lại không thể đưa quân đến hỗ trợ Khơ me Đỏ vì Trung Quốc và Cam-pu-chia không có chung đường biên giới. Thay vào đó, ĐCSTQ đã bắt đầu một cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam dọc biên giới Việt-Trung để trừng phạt Cộng sản Việt Nam dưới chiêu bài “tự vệ”. Hàng chục nghìn lính Trung Quốc vì đó mà đã hy sinh cả máu và mạng sống của mình cho cuộc chiến tranh giữa các đảng cộng sản. Những cái chết của họ trên thực tế là không liên quan gì đến lãnh thổ và chủ quyền. Vậy mà, vài năm sau, ĐCSTQ lại còn trâng tráo gợi nhớ lại sự hy sinh vô nghĩa của bao nhiêu thanh niên khờ dại như là “tinh thần anh hùng cách mạng”, mượn lời từ bài hát “hành động đẹp đẽ nhuộm máu”. Mặc dù 154 lính cảm tử của Trung Quốc đã chết năm 1981 trong khi chiếm lại đỉnh núi Faka ở tỉnh Quảng Tây, nhưng ĐCSTQ đã tùy tiện trả nó lại cho Việt Nam khi hai bên phân định lại đường biên giới.

Khi bệnh dịch SARS đang đe dọa tính mạng của nhân dân hồi đầu năm 2003, ĐCSTQ sẵn sàng nhận thêm các nữ y tá trẻ. Những nữ y tá này sau đó đã nhanh chóng bị bắt buộc phải ở lại trong các bệnh viện để chăm sóc những bệnh nhân SARS. ĐCSTQ đã đẩy những người còn trẻ tuổi vào những nơi nguy hiểm nhất để tạo dựng “hình ảnh vinh quang” “không sợ gian khổ hy sinh” của đảng. Tuy nhiên, ĐCSTQ đã không có lời giải thích nào về việc những người khác trong số 65 triệu đảng viên hiện thời đã ở đâu vào lúc đó và họ đã đem lại hình ảnh như thế nào cho ĐCSTQ.

5. Phủ định đức tin vào thần thánh và bóp chết bản tính con người

ĐCSTQ truyền bá tư tưởng vô thần và nói rằng tôn giáo là “thuốc phiện tinh thần” có thể đầu độc con người. Nó dùng quyền lực của mình để đè bẹp tất cả các tôn giáo ở Trung Quốc và sau đó tự phong thần cho mình, trao quyền lực tuyệt đối cai trị đất nước cho giáo phái ĐCSTQ.

Cùng lúc với việc ĐCSTQ đàn áp các tôn giáo, nó cũng phá hoại văn hóa truyền thống. Đảng nói rằng truyền thống, đạo đức và luân lý là phong kiến, mê tín và phản động và tiêu hủy tất cả dưới danh nghĩa cách mạng. Trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa, các hiện tượng xấu tràn lan đi ngược lại truyền thống của Trung Quốc, như vợ chồng tố cáo lẫn nhau, học sinh đánh các thầy cô giáo, bố con thù địch nhau, hồng vệ binh bừa bãi giết hại những người dân thường vô tội, và quân nổi loạn đánh đập, đập phá và cướp bóc. Đây là những hậu quả tất yếu của việc ĐCSTQ bóp chết bản tính con người.

Sau khi thành lập chế độ, ĐCSTQ đã bắt buộc các dân tộc thiểu số phải cam kết trung thành với sự lãnh đạo của ĐCSTQ, làm tổn hại nền văn hóa dân tộc lâu đời giàu có và đa sắc màu của họ.

Ngày 4/6/1989, cái gọi là “Quân đội Giải phóng Nhân dân” đã thảm sát rất nhiều sinh viên ở Bắc Kinh. Vụ việc này đã làm cho người dân Trung Quốc mất hết hy vọng vào tương lai chính trị của Trung Quốc. Từ đó trở đi, nhân dân chỉ còn tập trung vào việc kiếm tiền. Từ năm 1999 cho đến nay, ĐCSTQ đã đàn áp rất dã man đối với các học viên Pháp Luân Công, và đã đi ngược lại với “Chân Thiện Nhẫn”. Từ đó Đảng đã gây ra một sự suy đồi nhanh chóng về chuẩn mực đạo đức.

Kể từ khi bắt đầu thế kỷ mới này, một chiến dịch mới, bất hợp pháp thu hồi đất đai và chiếm đoạt tiền của đã làm cho rất nhiều người dân trở nên bần cùng và vô gia cư. Số người kháng nghị lên chính quyền đòi giải quyết những bất công mà họ phải gánh chịu đã tăng đột biến và xung đột xã hội đã gia tăng. Những cuộc biểu tình phản đối trên diện rộng diễn ra thường xuyên, và đã bị cảnh sát và quân đội đàn áp rất dã man. Bản tính phát-xít của “Nhà nuớc Cộng hòa” đã trở nên rõ rệt, và xã hội đã mất đi chuẩn mực đạo đức và lương tâm.

Trước kia, một kẻ ác không bao giờ làm hại hàng xóm láng giềng, hay, “cáo chỉ săn mồi ở xa nhà”. Bây giờ, khi mọi người muốn lừa đảo ai đó, họ sẽ nhằm vào họ hàng và bè bạn của chính mình và điều đó được gọi là “càng quen càng lèn cho đau”.

Trong qua khứ, người dân Trung Quốc quý trọng chữ trinh hơn tất cả mọi thứ khác, còn ngày nay mọi người khinh người nghèo chứ không khinh gái bán dâm. Quá trình hủy hoại nhân tính và đạo đức ở Trung Quốc đã được mô tả sống động trong các câu sau:

“Trong những năm 50 mọi người giúp đỡ lẫn nhau,
Trong những năm 60 mọi người đấu tranh với nhau,
Trong những năm 70 mọi người lừa đảo lẫn nhau,
Trong những năm 80 mọi người chỉ lo cho chính mình,
Trong những năm 90 mọi người lợi dụng bất cứ ai mà họ gặp”.

6. Dùng quân đội để chiếm quyền lực, độc quyền hóa nền kinh tế và các tham vọng điên cuồng về chính trị và kinh tế

Mục đích duy nhất của việc thành lập ĐCSTQ là để cướp chính quyền bằng bạo lực và sau đó tạo ra một hệ thống sở hữu nhà nước trong đó nhà nước nắm giữ độc quyền trong nền kinh tế bao cấp. Tham vọng điên cuồng của ĐCSTQ đã vượt xa các tà giáo khác mà thông thường chỉ có mục đích trục lợi.

Trong một đất nước sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản nắm quyền, các tổ chức đảng có quyền lực rất lớn, có nghĩa là các chi bộ đảng ở các cấp nắm quyền hoặc sở hữu các cơ sở hạ tầng của nhà nước. Các tổ chức đảng kiểm soát bộ máy nhà nước và rút tiền trực tiếp từ ngân sách của nhà nước ở các cấp. Như một con ma cà rồng, ĐCSTQ đã hút một lượng tiền của khổng lồ của đất nước.

******************

II. Những tàn phá mà giáo phái Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã gây ra

Khi những vụ như giáo phái Aum Shinri Kyo (Chân lý tối thượng) giết người bằng khí độc hủy hoại thần kinh sa-rin, những người theo giáo phái Ngôi chùa Mặt trời tự sát để đi lên thiên đường, hay vụ tự sát tập thể của hơn 900 người theo giáo phái “Ngôi chùa của mọi người” do Jim Jones lập ra được nhắc đến, tất cả mọi người đều run lên vì sợ và căm phẫn. Tuy nhiên, ĐCSTQ là một tà giáo đã gây ra những tội ác còn rùng rợn hơn gấp hàng nghìn lần, làm hại tính mạng của không biết bao nhiêu người. Điều này là bởi vì ĐCSTQ có những đặc tính duy nhất sau đây mà một tà giáo bình thường không có.

Tà giáo ĐCSTQ đã trở thành một quốc giáo

Ở phần lớn các nước khác, nếu ai đó không theo một tôn giáo nào đó thì người đó vẫn có thể có một cuộc sống hạnh phúc với đầy đủ nhân quyền mà không phải đọc những kinh sách hay nghe những giáo lý của tôn giáo đó. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, người ta không thể sống ở đó mà không phải thường xuyên bị nhồi nhét vào đầu những học thuyết và tuyên truyền của giáo phái ĐCSTQ bởi vì tà giáo ĐCSTQ đã tự biến mình thành một quốc giáo kể từ khi nó cướp được chính quyền.

ĐCSTQ bắt đầu nhồi nhét những học thuyết chính trị của nó vào đầu mọi người kể từ khi họ còn ở trong trường mẫu giáo và tiểu học. Người ta không thể được học cao hơn hay được thăng chức nếu không vượt qua được môn thi về chính trị. Không một câu hỏi nào trong môn thi chính trị cho phép người thi được suy nghĩ độc lập. Những người thi bắt buộc phải ghi nhớ các câu trả lời mẫu của ĐCSTQ nếu muốn thi đỗ. Những người dân Trung Quốc không may mắn bị bắt buộc phải nhắc lại những giáo huấn của ĐCSTQ từ khi họ còn nhỏ, bị buộc phải liên tục tự tẩy não mình. Khi một cán bộ được thăng chức trong cơ quan nhà nước, bất kể người đó có phải là đảng viên ĐCSTQ hay không, họ bắt buộc phải học chính trị về đảng cộng sản. Người đó sẽ không được thăng chức nếu không đạt yêu cầu tốt nghiệp của học viện chính trị.

Ở Trung Quốc, nơi mà ĐCSTQ là quốc giáo, những người bất đồng quan điểm không được phép tồn tại. Thậm chí “các đảng dân chủ” do ĐCSTQ dựng lên để làm bình phong chính trị và “Nhà thờ Tam tự” (có nghĩa là tự quản, tự lực và tự phát triển) cũng bắt buộc phải chính thức công nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSTQ. Trung thành với ĐCSTQ là điều kiện tiên quyết trước khi người dân muốn theo bất cứ một tín ngưỡng nào khác, theo như điều kiện bắt buộc của giáo phái ĐCSTQ.

Kiểm soát xã hội một cách cực đoan

Tà giáo này có thể trở thành quốc giáo là vì ĐCSTQ có toàn quyền kiểm soát đối với toàn bộ xã hội và cướp đi quyền tự do của nhân dân. Kiểu kiểm soát này là chưa từng có trong lịch sử từ trước đến nay, bởi vì ĐCSTQ đã cướp đi của nhân dân tài sản riêng, trong khi tư hữu là một nền tảng của tự do. Trước những năm 80, người dân ở các khu vực thành thị chỉ có thể kiếm sống bằng cách làm việc trong một cơ quan do ĐCSTQ kiểm soát. Nông dân ở nông thôn phải sống dựa vào đất nông nghiệp thuộc quyền sở hữu của các hợp tác xã của ĐCSTQ. Không ai có thể thoát khỏi tầm kiểm soát của ĐCSTQ. Trong một đất nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, các tổ chức của đảng cộng sản có mặt ở khắp nơi – từ chính quyền trung ương cho đến địa phương bao gồm cả các làng xã và khu phố. Thông qua các đảng bộ của ĐCSTQ ở tất cả các cấp, ĐCSTQ duy trì quyền kiểm soát tuyệt đối đối với xã hội. Việc kiểm soát chặt chẽ đến như vậy đã hoàn toàn bóp nghẹt quyền tự do cá nhân – quyền tự do đi lại (thông qua hệ thống đăng ký hộ khẩu hộ tịch), quyền tự do ngôn luận (500 nghìn người hữu khuynh đã bị đàn áp trong lịch sử chỉ bởi vì họ đã thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình), quyền tự do tư tưởng (Lâm Chiêu và Trương Chí Tân [7] đã bị tử hình vì nghi ngờ ĐCSTQ) và quyền tự do về thông tin (đọc sách “cấm” hay nghe đài “địch” bị coi là phạm pháp; vào Internet cũng bị theo dõi).

Người ta có thể nói rằng hiện nay ĐCSTQ đã cho phép tư hữu cá nhân nhưng chúng ta không nên quên rằng chính sách cải cách và mở cửa này chỉ được đưa ra khi chủ nghĩa xã hội đã đến lúc mà nhân dân đã không còn đủ ăn và nền kinh tế của đất nước đã ở bên bờ sụp đổ. ĐCSTQ đã phải lùi một bước để tự cứu mình khỏi bị sụp đổ. Tuy nhiên, ngay cả sau khi cải cách và mở cửa, ĐCSTQ cũng vẫn chưa bao giờ nới lỏng việc kiểm soát nhân dân của nó. Cuộc đàn áp dã man đối với các học viên Pháp Luân Công đang diễn ra chỉ có thể xảy ra ở một đất nước do đảng cộng sản thống trị. Một khi ĐCSTQ đã trở thành một thế lực kinh tế, điều không tránh được là ĐCSTQ sẽ củng cố việc kiểm soát của nó đối với nhân dân Trung Quốc.

Chủ trương dùng bạo lực và coi thường mạng sống

Hầu như tất cả các tà giáo đều điều khiển những tín đồ hoặc chống lại các áp lực bên ngoài thông qua con đường bạo lực. Tuy nhiên, chỉ có một vài tà giáo đã từng viện đến các phương tiện bạo lực đến một cấp độ như ĐCSTQ đã từng làm mà không hề hối hận. Thậm chí tổng số người đã bị chết vì tất cả các tà giáo khác trên thế giới cũng không thể so sánh được với số người đã bị ĐCSTQ giết hại. Giáo phái ĐCSTQ coi con người chỉ như là một phương tiện để đạt được mục đích của mình và giết chóc chỉ là một phương tiện khác. Do đó, ĐCSTQ đã không đắn đo ngần ngại gì trong việc đàn áp nhân dân. Bất cứ một ai kể cả những người ủng hộ đảng, các đảng viên và những người lãnh đạo của ĐCSTQ đều có thể trở thành mục tiêu đàn áp của chính ĐCSTQ.

ĐCSTQ ủng hộ Khơ-me Đỏ, một trường hợp điển hình của sự tàn bạo và coi rẻ nhân mạng của đảng cộng sản. Nhờ cảm hứng và chỉ đạo của Mao Trạch Đông mà chỉ trong vòng có 3 năm 8 tháng cầm quyền, Đảng Cộng sản Cam-pu-chia do Pol Pot cầm đầu đã giết chết 2 triệu người – khoảng một phần tư dân số của đất nước nhỏ bé này – nhằm “phá bỏ hệ thống tư hữu”. Trong tổng số người chết có hơn 200 nghìn người gốc Hoa.

Để ghi lại những tội ác của Đảng Cộng sản và tưởng niệm các nạn nhân, Cam-pu-chia đã thành lập một viện bảo tàng để ghi lại và trưng bày sự tàn bạo của Khơ-me Đỏ. Viện bảo tàng này được đặt tại một nhà tù cũ của Khơ-me Đỏ. Đầu tiên nó là một trường học bị Pol-Pot dùng làm Nhà tù S-21 để đối phó đặc biệt với các tù nhân gan dạ. Rất nhiều trí thức đã bị giam giữ ở đó và bị tra tấn đến chết. Cùng được trưng bày với các bức tường nhà tù và các loại dụng cụ tra tấn là các bức ảnh đen trắng của những nạn nhân trước lúc họ bị giết chết. Có rất nhiều cách tra tấn đã được ghi lại như cắt cổ, khoan sọ, trẻ em bị ném xuống đất và bị giết chết v.v… Được biết là tất cả các cách tra tấn này đều được “các chuyên gia và các kỹ thuật viên chuyên nghiệp” do ĐCSTQ gửi đến để hỗ trợ Khơ-me Đỏ truyền dạy. ĐCSTQ thậm chí còn đào tạo những người chụp ảnh để chuyên chụp ảnh các tù nhân trước lúc họ bị giết chết để lưu lại làm hồ sơ hoặc là để giải trí.

Chính tại Nhà tù S-21 này, một chiếc máy khoan sọ người đã được thiết kế để lấy não người làm thức ăn bổ dưỡng cho những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Cam-pu-chia. Những tù nhân gan dạ bị trói vào một chiếc ghế đặt trước chiếc máy khoan sọ người. Nạn nhân sẽ phải chịu đựng nỗi sợ hãi đến tột cùng khi chiếc mũi khoan quay nhanh chọc thủng sọ từ phía sau gáy và lấy não ra một cách nhanh chóng trước khi nạn nhân chết.

******************

III. Bản chất tà giáo của Đảng Cộng sản

Điều gì đã khiến cho Đảng Cộng sản tà ác và hung bạo như vậy? Khi bóng ma của Đảng Cộng sản đến thế giới này, nó đã mang theo một sứ mệnh lạnh gáy. Bản tuyên ngôn Cộng sản có một đoạn rất nổi tiếng là:

Những người Cộng sản không thèm che đậy mục đích và quan điểm của mình. Họ công khai tuyên bố rằng các mục đích cuối cùng của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực để lật đổ tất cả các điều kiện xã hội hiện có. Hãy để cho các giai cấp thống trị run sợ vì cách mạng vô sản. Những người vô sản không có gì để mất ngoài xiềng xích của mình. Họ có cả thế giới để chinh phục.

Sứ mệnh của bóng ma này là dùng bạo lực để công khai thách thức xã hội loài người, để đập nát thế giới cũ, “để tiêu diệt quyền tư hữu cá nhân”, “để tiêu diệt đặc điểm, sự độc lập và tự do của giai cấp tư sản”, để chấm dứt sự bóc lột, để tiêu diệt các gia đình, và để những người vô sản thống trị thế giới.

Cái đảng chính trị công khai tuyên bố ước muốn “đánh đập, tàn phá và cướp bóc” này không những đã không thừa nhận rằng quan điểm của nó là tà ác, mà còn tự cho mình là đúng khi tuyên bố trong Bản tuyên ngôn Cộng sản rằng “Cách mạng vô sản là sự dứt bỏ cơ bản nhất khỏi các mối quan hệ truyền thống; không ngạc nhiên rằng sự phát triển của nó liên quan đến sự dứt bỏ cơ bản nhất khỏi các tư tưởng truyền thống.”

Các tư tưởng truyền thống là từ đâu đến? Chiểu theo quy luật tự nhiên theo quan điểm vô thần, các tư tưởng truyền thống đến một cách tự nhiên từ các quy luật tự nhiên và xã hội. Chúng là kết quả của các vận động có hệ thống của vũ trụ. Tuy nhiên, theo những người có đức tin vào thần thánh thì truyền thống và các chuẩn mực đạo đức của nhân loại là do thần thánh truyền cho con người. Bất kể là xuất phát từ đâu, chuẩn mực tối căn bản của đạo đức nhân loại, các quy tắc hành xử, và tiêu chuẩn để phân biệt tốt xấu là tương đối ổn định; nó là cơ sở cho việc hành xử của con người và duy trì trật tự xã hội trong hàng nghìn năm qua. Nếu nhân loại đánh mất đi các chuẩn mực đạo đức và tiêu chuẩn để phân biệt tốt xấu thì chẳng phải là con người sẽ suy thoái trở thành động vật hay sao? Khi Bản tuyên ngôn Cộng sản tuyên bố rằng nó sẽ “dứt bỏ từ căn bản khỏi các tư tưởng truyền thống”, nó đã đe dọa đến cơ sở cho sự tồn tại bình thường của xã hội nhân loại. Đảng cộng sản có khuynh hướng trở thành một tà giáo đem đến sự hủy diệt cho loài người.

Toàn bộ văn kiện của Bản tuyên ngôn Cộng sản đã đưa ra các nguyên tắc chỉ đạo cho đảng cộng sản tràn đầy những tuyên bố cực đoan mà không có một chút tử tế và khoan dung nào. Các-Mác và Ăng-ghen nghĩ rằng họ đã tìm ra quy luật phát triển xã hội thông qua chủ nghĩa duy vật biện chứng. Do đó, với “chân lý” trong tay, họ đã nghi ngờ tất cả và phủ định tất cả. Họ đã ngang bướng áp đặt Chủ nghĩa Cộng sản đầy ảo tưởng lên nhân dân và đã không ngần ngại trong chủ trương dùng bạo lực để phá hoại các cấu trúc xã hội và nền tảng văn hóa hiện có. Bản tuyên ngôn Cộng sản được nhồi nhét vào Đảng Cộng sản vừa mới ra đời là một bóng ma tà ác chống lại đạo trời, hủy hoại nhân tính, ngạo mạn, cực kỳ ích kỷ và tuyệt đối không còn kiêng nể gì nữa.

******************

IV. Lý thuyết về ‘ngày tận thế’ của Đảng cộng sản – Nỗi lo sợ về ngày tàn của Đảng

Các-Mác và Ăng-ghen đã tiêm nhiễm một bóng ma tà ác vào trong Đảng Cộng sản. Lê-nin thành lập Đảng Cộng sản ở Nga và, thông qua con đường bạo lực của những kẻ lưu manh vô lại, ông ta đã lật đổ chính phủ chuyển tiếp được thành lập sau Cách mạng tháng Hai, [8] bỏ dở cách mạng tư sản ở Nga, cướp chính quyền, và đã giành được một chỗ đứng cho giáo phái Cộng sản. Tuy nhiên, sự thành công của Lê-nin đã không giúp được những người vô sản chinh phục thế giới. Hoàn toàn ngược lại, như trong đoạn đầu tiên của Bản tuyên ngôn Cộng sản đã nói, “Tất cả mọi quyền lực của cựu châu Âu đã vào tay một liên minh thần thánh để xua đuổi bóng ma này…” Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản đã ngay lập tức phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng về sự tồn vong của nó và luôn luôn lo sợ bị tiêu diệt bất cứ lúc nào.

Sau Cách mạng tháng Mười [9], những người Cộng sản Nga hay còn gọi là Bôn-sê-vích, đã không đem lại cho nhân dân hòa bình hay bánh mì, mà chỉ là việc giết người bừa bãi. Tiền tuyến thì đang thua trận còn cuộc cách mạng thì đã làm cho nền kinh tế của xã hội trở nên tồi tệ. Do đó, nhân dân đã bắt đầu nổi dậy. Cuộc nội chiến đã nhanh chóng lan ra toàn bộ đất nước và những người nông dân đã từ chối không cung cấp lương thực cho các thành phố. Bạo loạn đã xảy ra ở khắp nơi giữa những người Cô-giắc ở gần sông Đông; cuộc chiến đấu của họ với Hồng Quân đã gây ra đổ máu tàn khốc. Bản chất man rợ và tàn bạo của cuộc tàn sát diễn ra trong cuộc chiến này có thể được nhìn thấy qua các tác phẩm văn học như “Sông Đông êm đềm” của Sô-lô-khốp và các tuyển tập truyện Sông Đông khác của ông. Đội quân do nguyên đô đốc Aleksandr Vailiyevich Kolchak và tướng Anton Denikin của Bạch quân lãnh đạo đã có lúc gần như lật đổ được Đảng Cộng sản Nga. Thậm chí với tư cách là một lực lượng chính trị mới ra đời, Đảng Cộng sản đã bị hầu như toàn bộ đất nước phản đối, có thể là do giáo phái cộng sản quá tà ác nên đã không thể chiếm được lòng dân.

Tình thế của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng tương tự như Đảng Cộng sản Nga. Từ “Sự kiện Mari” và “Cuộc thảm sát ngày 12 tháng Tư” [10] cho đến việc bị trấn áp năm lần ở những khu vực do những người Cộng sản Trung Quốc kiểm soát, và cuối cùng là việc bị bắt buộc phải thực hiện một cuộc “Trường Chinh” dài 25 nghìn cây số – ĐCSTQ đã luôn luôn phải đối mặt với sự khủng hoảng bị tiêu diệt.

Đảng Cộng sản được thành lập với một quyết tâm phá hủy thế giới cũ bằng mọi phương tiện. Sau đó chính nó đã phải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng: làm sao để sống sót mà không bị tiêu diệt. Đảng Cộng sản đã luôn luôn phải sống trong một tình thế là luôn luôn lo sợ bị diệt trừ. Sống sót đã trở thành mối lo sợ hàng đầu, là điều luôn luôn ám ảnh giáo phái Cộng sản. Với việc Liên minh Cộng sản Quốc tế đã tan rã, cuộc khủng hoảng mang tính sống còn của ĐCSTQ đã trở nên tồi tệ hơn. Kể từ năm 1989 cho đến nay, nỗi sợ hãi về ngày tàn của nó đã trở nên hiện thực hơn bao giờ hết khi mà ngày tàn của nó càng ngày càng đến gần.

******************

V. “Bảo bối” để duy trì sự sống của tà giáo cộng sản – đấu tranh tàn bạo

Đảng Cộng sản luôn luôn nhấn mạnh kỷ luật thép, sự trung thành tuyệt đối và các nguyên tắc của tổ chức. Những người ra nhập ĐCSTQ bắt buộc phải thề, “Tôi muốn ra nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, ủng hộ hiến chương của Đảng, tuân theo Điều lệ của Đảng, hoàn thành các nghĩa vụ của đảng viên, thi hành các quyết định của Đảng, nghiêm chỉnh tuân theo các kỷ luật của Đảng, gìn giữ các bí mật của Đảng, trung thành với Đảng, làm việc chăm chỉ, cống hiến toàn bộ cuộc đời mình cho Chủ nghĩa Cộng sản, sẵn sàng hy sinh tất cả cho Đảng và nhân dân, và không bao giờ phản bội Đảng.” (Xem Hiến chương của ĐCSTQ, Chương 1, Điều 6)

ĐCSTQ gọi tinh thần hiến dâng cho Đảng giống như trong các giáo phái này là “ý thức về Đảng tính”. Nó yêu cầu các đảng viên phải luôn luôn sẵn sàng vứt bỏ tất cả các niềm tin và nguyên tắc của cá nhân và phải tuyệt đối tuân theo ý muốn của Đảng và ý muốn của lãnh đạo đảng. Nếu Đảng muốn đảng viên làm người tốt thì đảng viên phải là người tốt; nếu Đảng muốn đảng viên hành ác thì đảng viên phải hành ác. Nếu không đảng viên đó sẽ không đạt tiêu chuẩn để làm một thành viên của Đảng, và chưa thể hiện được một “ý thức về đảng tính” mạnh mẽ.

Mao Trạch Đông nói, “Triết học Mác-xít là triết học đấu tranh”. Để nuôi dưỡng và duy trì “ý thức về đảng tính”, ĐCSTQ dựa vào cơ chế đấu tranh định kỳ trong Đảng. Thông qua việc thường xuyên huy động các cuộc đấu tranh tàn bạo ở trong và ngoài Đảng, ĐCSTQ đã tiêu diệt những người bất đồng chính kiến và tạo ra sự khủng bố Đỏ. Đồng thời, ĐCSTQ liên tục khai trừ đảng viên, làm cho các nội quy kiểu giáo phái của nó trở nên chặt chẽ hơn, và nuôi dưỡng năng khiếu của các đảng viên đối với “đảng tính” để tăng cường khả năng chiến đấu của Đảng. Đây là một “bảo bối” mà ĐCSTQ dùng để kéo dài mạng sống của nó.

Trong số các lãnh đạo của ĐCSTQ, Mao Trạch Đông là người lão luyện nhất trong việc dùng thứ “bảo bối” này trong cuộc đấu tranh tàn bạo trong Đảng. Sự tàn bạo của cuộc đấu tranh kiểu như thế và sự độc ác của các thủ đoạn của nó đã bắt đầu từ những năm 1930 trong những khu vực do những người cộng sản Trung Quốc kiểm soát, trong những cái gọi là “Khu vực Xô-viết”.

Vào năm 1930, Mao Trạch Đông đã khởi xướng một cuộc khủng bố cách mạng toàn diện trong Khu vực Xô-viết ở tỉnh Giang Tây, được biết đến như một cuộc truy quét những người chống lại Bôn-sê-vích (AB đoàn). Hàng nghìn lính Hồng quân, các Đảng viên, Đoàn viên và dân thường ở trong những căn cứ cộng sản đã bị giết chết rất dã man. Sự kiên đó xảy ra là do quyền độc tài của Mao Trạch Đông. Sau khi Mao Trạch Đông thành lập Khu vực Xô-viết ở Giang Tây, không lâu sau đó ông ta đã gặp phải thách thức từ các tổ chức Đảng và Hồng quân địa phương ở khu vực tây nam tỉnh Giang Tây do Lý Văn Lâm lãnh đạo. Mao Trạch Đông không thể chấp nhận bất cứ một lực lượng đối lập có tổ chức nào ở ngay trước mũi mình và ông ta đã dùng các biện pháp cực đoan nhất để đàn áp các đảng viên mà ông ta nghi ngờ là những người bất đồng chính kiến. Để tạo ra một bầu không khí khủng bố cho cuộc đàn áp, Mao Trạch Đông đã không ngần ngại bắt đầu bằng đội quân trực tiếp dưới quyền chỉ huy của ông ta. Từ cuối tháng 11 cho đến giữa tháng 12, Hồng quân tiền tuyến đã đi qua một “cuộc truy quét nhanh”. Các tổ chức chuyên đàn áp những người chống cách mạng đã được thành lập ở tất cả các cấp trong quân đội bao gồm sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, và trung đội, bắt bớ và giết chết những đảng viên xuất thân từ những gia đình địa chủ hay nông dân giàu có và những người dám phàn nàn. Trong vòng chưa đầy một tháng, trong số hơn 40 nghìn lính Hồng quân, đã có 4.400 người bị cho là các phần tử AB đoàn bao gồm cả hơn 10 đội trưởng (đội trưởng AB đoàn); tất cả đều đã bị tử hình. [3]

Trong thời kỳ tiếp theo, Mao Trạch Đông bắt đầu trừng phạt những người bất đồng chính kiến ở trong Khu vực Xô-viết. Trong tháng 12 năm 1930, ông ta đã ra lệnh cho Lý Thiều Cửu, Tổng bí thư Tổng cục Chính trị của Hồng quân tiền tuyến và Chủ tịch Ủy ban Thanh trừng đại diện cho Tổng ủy Biên giới và đi đến thị trấn Phú Điền ở tỉnh Giang Tây nơi chính phủ cộng sản đặt trụ sở. Lý Thiều Cửu đã bắt giữ các thành viên của Ủy ban Hành động tỉnh và 8 chỉ huy trưởng của Hồng quân thứ 20, bao gồm Đoạn Lương Bật và Lý Bạch Phương. Ông ta đã dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man như đánh đập và đốt thân thể – những người bị tra tấn như thế này đã bị những vết thương khắp thân thể, các ngón tay bị rạn nứt, bị bỏng toàn thân và không thể di chuyển được. Theo các tài liệu lịch sử, tiếng khóc của các nạn nhân vang lên như xé trời; các thủ đoạn tra tấn tàn bạo cực kỳ vô nhân đạo. [3]

Ngày 8 tháng 12, những người vợ của Bạch Phương, Mã Minh và Chu Miện đến thăm các ông chồng đang bị giam giữ, nhưng họ cũng bị bắt như các thành viên của AB đoàn và bị tra tấn tàn bạo. Họ bị đánh đập dã man, thân thể và âm hộ của họ bị đốt và ngực của họ bị cắt bằng dao. Trong khi bị tra tấn dã man, Đoạn Lương Bật đã nhận rằng Lý Văn Lâm, Kim Vạn Bang, Lưu Địch, Chu Miện, Mã Minh và những người khác là lãnh đạo của AB đoàn và rằng có nhiều thành viên của AB đoàn trong các học viện của Hồng quân. [3]

Từ ngày 7 tháng 12 cho đến tối ngày 12 tháng 12, chỉ trong có 5 ngày, Lý Thiều Cửu và những người khác đã bắt giữ hơn 120 người bị cho là các thành viên của AB đoàn và hàng chục người chống cách mạng chủ chốt trong cuộc truy quét AB đoàn tàn bạo ở Phú Điền; hơn 40 người đã bị tử hình. Các hành động tàn bạo của Lý Thiều Cửu cuối cùng đã làm bùng lên “Sự kiện Phú Điền” [11] ngày 12/12/1930 làm kinh hoàng Khu vực Xô-viết. [3]

Từ Khu vực Xô-viết cho đến Diên An, Mao Trạch Đông đã dựa vào lý luận của mình và thực hành đấu tranh và dần dần tìm kiếm và thiết lập được quyền lãnh đạo tuyệt đối của ông ta đối với Đảng. Sau khi ĐCSTQ đoạt được chính quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông tiếp tục dựa vào hình thức đấu tranh trong nội bộ đảng này. Ví dụ, trong phiên họp toàn thể lần thứ 8 của hội nghị Ban chấp hành Trung ương ĐCSTQ khóa 8 được tổ chức ở Lộc sơn năm 1959, Mao Trạch Đông đã bất ngờ tấn công Bành Đức Hoài và bãi chức ông ta [12]. Tất cả những người lãnh đạo trung ương đang tham dự cuộc họp đó đều bị yêu cầu phải bày tỏ quan điểm của mình; một vài người dám bảy tỏ những quan điểm khác biệt đều bị dán nhãn là nhóm chống đảng Bành Đức Hoài. Trong Cách mạng Văn hóa, các cán bộ lâu năm trong Ban chấp hành Trung ương ĐCSTQ đã lần lượt bị trừng phạt, nhưng tất cả đều đã nhượng bộ mà không đấu tranh gì cả. Ai mà dám nói một lời chống lại Mao Trạch Đông chứ? ĐCSTQ luôn luôn nhấn mạnh kỷ luật thép, trung thành với Đảng, và các nguyên tắc của tổ chức, yêu cầu phải tuyệt đối tuân thủ lãnh đạo các cấp. Loại “đảng tính” này đã thấm sâu vào trong các cuộc đấu tranh chính trị không ngưng nghỉ.

Lý Lập Tam, người đã từng là một lãnh đạo ĐCSTQ, đã bị dồn vào chân tường trong Cách mạng Văn hóa. Ở tuổi 68 mà Lý Lập Tam vẫn bị hỏi cung trung bình 7 lần một tháng. Vợ ông là Lý Soa bị coi là gián điệp “theo chủ nghĩa xét lại Xô-viết”, và đã bị bỏ tù và mất tung tích. Không còn lựa chọn nào khác và trong nỗi tuyệt vọng tột cùng Lý Lập Tam đã tự tử bằng cách uống một lượng thuốc ngủ lớn. Trước khi chết, Lý Lập Tam đã viết một bức thư gửi cho Mao Trạch Đông, và đã thật sự phản ánh “ý thức về đảng tính”, theo đó, một đảng viên ĐCSTQ không dám đầu hàng ngay cả khi cận kề cái chết:

Thưa Chủ tịch,

Tôi đang bước vào con đường phản bội Đảng bằng cách tự tử và không có cách nào để bào chữa cho tội lỗi của mình. Chỉ có một điều rằng toàn thể gia đình tôi và tôi chưa bao giờ hợp tác với các nước thù địch. Chỉ riêng về vấn đề này, tôi xin đề nghị chính quyền trung ương điều tra và nghiên cứu thực tế và kết luận dựa trên sự thực…

Lý Lập Tam

22/06/1967 [13]

Trong khi triết học đấu tranh của Mao Trạch Đông cuối cùng đã đưa Trung Quốc đến một thảm họa chưa từng có thì các chiến dịch chính trị kiểu như thế này và những cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng diễn ra ở khắp mọi nơi cứ “bảy tám năm một lần” đã đảm bảo cho sự sống sót của ĐCSTQ. Mỗi khi có một chiến dịch thì phía 5% thiểu số sẽ bị đàn áp, và 95% còn lại sẽ phải tuân theo các đường lối cơ bản của Đảng, nhờ đó mà Đảng đã tăng cường được lực liên kết và khả năng hủy diệt của tổ chức Đảng. Những cuộc đấu tranh này cũng là để tiêu diệt những đảng viên còn “nao núng” không sẵn lòng từ bỏ lương tâm của mình, và tấn công bất cứ lực lượng nào dám chống lại Đảng. Thông qua cơ chế đấu tranh này, những đảng viên có nhiều tham vọng đấu tranh nhất và giỏi nhất trong việc sử dụng các thủ đoạn lưu manh đã dành được quyền kiểm soát. Những người lãnh đạo của giáo phái ĐCSTQ tất cả đều là những người không biết sợ, giàu kinh nghiệm đấu tranh và đầy tinh thần “đảng tính”. Những cuộc đấu tranh đó cũng đem lại cho những người đã kinh qua kinh nghiệm đó một “bài học xương máu” và bị tẩy não tàn bạo. Đồng thời, nó đã liên tục đem lại sức sống cho ĐCSTQ, củng cố hơn nữa tham vọng đấu tranh của nó, đảm bảo cho sự sống sót của nó, và ngăn không cho nó trở thành một tổ chức ôn hòa từ bỏ đấu tranh.

Loại đảng tính mà ĐCSTQ yêu cầu đối với các đảng viên này đã bắt nguồn từ chính bản chất tà giáo của ĐCSTQ. Để đạt được mục đích của mình, ĐCSTQ sẵn sàng vứt bỏ tất cả các nguyên tắc truyền thống, và sử dụng tất cả các thủ đoạn để đấu tranh không do dự với bất cứ lực lượng nào dám cản trở nó. Do đó, nó cần phải đào tạo và biến tất cả các đảng viên của nó thành nô lệ để trở thành những công cụ vô tri, vô giác, vô tâm, của Đảng. Bản chất này của ĐCSTQ bắt nguồn từ sự thù hận của nó đối với xã hội và truyền thống loài người, sự ngạo mạn và ảo tưởng và bản tính cực kỳ ích kỷ và coi mạng người như cỏ rác của nó. Để đạt được cái gọi là lý tưởng của nó, ĐCSTQ đã sử dụng bạo lực bằng mọi giá để đập tan thế giới và tiêu diệt tất cả những người bất đồng chính kiến. Một tà giáo độc ác như vậy sẽ phải đối mặt với sự phản đối của những người có lương tâm, nên nó phải tiêu diệt lương tâm và thiện niệm của mọi người để làm cho mọi người tin vào các tà thuyết của nó. Do đó, để đảm bảo cho sự sống sót của nó, ĐCSTQ trước hết phải hủy diệt lương tâm, thiện niệm và tiêu chuẩn đạo đức của con người, biến mọi người thành các công cụ và những nô lệ thuần phục. Theo lô-gíc của ĐCSTQ, sự sống còn và quyền lợi của Đảng là ở trên tất cả mọi thứ khác; chúng thậm chí còn ở trên cả quyền lợi tập thể của tất cả các đảng viên, do đó bất cứ một đảng viên nào cũng phải luôn sẵn sàng hy sinh cho đảng.

Nhìn vào lịch sử của ĐCSTQ, những cá nhân vẫn còn giữ cách nghĩ của những người trí thức truyền thống như Trần Độc Tú và Cù Thu Bạch, hoặc những người vẫn còn quan tâm đến quyền lợi của nhân dân như Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, hoặc những người kiên quyết làm những cán bộ trong sạch và thực sự phục vụ nhân dân như Chu Dung Cơ – bất kể là họ đã đóng góp cho đảng nhiều bao nhiêu, và bất kể là họ không quan tâm đến tham vọng cá nhân như thế nào, họ đã không tránh khỏi bị khai trừ, bị quẳng sang một bên, hoặc bị quyền lợi và kỷ luật của Đảng hạn chế.

Ý thức về đảng tính hay năng lực Đảng đã ăn sâu vào xương tủy họ, thấm vào máu họ qua nhiều năm đấu tranh thường làm cho họ thỏa hiệp và đầu hàng vào những giây phút quyết định, bởi vì trong tiềm thức của họ thì sự sống còn của Đảng là ưu tiên hàng đầu. Họ thà tự hy sinh và nhìn lực lượng tà ác trong Đảng giết người hơn là thách thức sự sống còn của Đảng bằng những suy nghĩ với lòng nhân ái và có lương tri của mình. Đây chính xác là kết quả của cơ chế đấu tranh của ĐCSTQ: nó biến người tốt thành công cụ để sử dụng, và dùng “đảng tính” để ước chế và thậm chí hủy diệt lương tâm của con người đến mức độ tối đa. Hàng chục cuộc đấu tranh của ĐCSTQ đã đánh đổ hơn 10 lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng hay những người được chỉ định làm người kế nhiệm; không có một lãnh đạo cao nhất nào của Đảng có một kết cục tốt đẹp. Mặc dù Mao Trạch Đông đã làm vua trong 43 năm, nhưng ngay sau khi ông ta chết, vợ và cháu trai của ông ta đã bị bỏ tù, và điều này đã được toàn Đảng ăn mừng như một chiến thắng vĩ đại của Chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Đây là một trò hề hay là hài kịch?

Sau khi ĐCSTQ đoạt được chính quyền, các chiến dịch chính trị đã diễn ra liên miên, từ đấu đá trong đảng đến đấu tranh ngoài đảng. Đây là đặc điểm điển hình dưới thời Mao Trạch Đông, và nó vẫn đang diễn ra trong “cải cách và mở cửa” thời hậu Mao. Trong những năm 1980, khi nhân dân vừa mới bắt đầu được tư do suy nghĩ một chút thì ĐCSTQ lại phát động một chiến dịch “Chống lại sự mở rộng tư sản”, và đề ra “Bốn Nguyên tắc Cơ bản” [14] để duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối của nó. Năm 1989, những sinh viên đòi quyền dân chủ một cách hòa bình đã bị đàn áp đẫm máu bởi vì ĐCSTQ không cho phép khát vọng dân chủ. Những năm 1990 đã chứng kiến một sự tăng nhanh về số lượng các học viên Pháp Luân Công tin theo Chân Thiện Nhẫn nhưng họ đã phải chịu một cuộc đàn áp mang tính diệt chủng bắt đầu từ năm 1999, bởi vì ĐCSTQ không thể chấp nhận nhân tính và thiện niệm. Nó phải dùng bạo lực để hủy diệt lương tâm của nhân dân và đảm bảo cho quyền lực của chính nó. Từ khi bước sang thế kỷ 21, Internet đã nối liền thế giới lại với nhau nhưng ĐCSTQ đã tiêu một số tiền khổng lồ để dựng lên những trạm kiểm soát trên mạng để bẫy và bắt những người sử dụng mạng muốn có tự do, bởi vì ĐCSTQ rất sợ nhân dân có được thông tin một cách tự do.

******************

VI. Sự bại hoại của Tà giáo Đảng Cộng sản Trung Quốc

Tà giáo ĐCSTQ thực chất là đang cai trị theo cách đối lập với nhân tính và đạo trời. ĐCSTQ nổi tiếng là ngạo mạn, tự cao, ích kỷ, và hành ác dã man, không còn kiêng nể gì nữa. Nó luôn luôn đem lại tai họa cho đất nước và nhân dân, nhưng nó không bao giờ thừa nhận những sai lầm của nó, và sẽ không bao giờ tiết lộ bản chất thật sự của nó cho nhân dân biết. ĐCSTQ chưa bao giờ ngần ngại việc thay đổi khẩu hiệu và thủ đoạn của nó, những thứ mà ĐCSTQ dùng làm phương tiện để duy trì quyền lực của nó. Nó sẽ làm bất cứ việc gì để duy trì quyền lực mà không thèm đếm xỉa gì đến đạo đức, công lý và nhân mạng.

Việc thể chế hóa và xã hội hóa của tà giáo này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Kết quả của việc tập trung hóa quyền lực đã dẫn đến việc công luận bị bịt miệng và tất cả các cơ chế giám sát có thể có đã bị tiêu hủy, làm cho không còn có lực lượng nào khác để ngăn không cho ĐCSTQ trượt vào hủ bại và tan rã.

ĐCSTQ ngày nay đã trở thành “đảng cầm quyền tham nhũng và biển thủ” lớn nhất trên thế giới. Theo thống kê chính thức ở Trung Quốc, trong số 20 triệu quan chức, viên chức hoặc cán bộ trong ĐCSTQ hoặc chính quyền trong 20 năm qua, 8 triệu người đã bị phát hiện là có phạm tội tham nhũng và bị kỷ luật hoặc bị trừng phạt theo quy định của đảng hoặc chính quyền. Nếu tính cả những quan chức tham nhũng chưa bị phát hiện thì tổng số các quan chức đảng và chính phủ tham nhũng là vào khoảng hơn 2 phần 3, chỉ có một phần nhỏ trong số đó đã bị điều tra và phanh phui.

Việc cướp đoạt lợi ích vật chất bằng cách tham nhũng và vòi tiền đã trở thành lực kết dính mạnh nhất cho sự thống nhất của ĐCSTQ ngày nay. Các quan chức tham nhũng biết rằng nếu không có ĐCSTQ thì họ sẽ không có cơ hội để trục lợi và nếu ĐCSTQ sụp đổ thì họ sẽ không chỉ mất quyền lực và địa vị mà còn phải đối mặt với việc bị điều tra. Trong “Sự phẫn nộ của Trời” (Thiên Nộ), một tiểu thuyết vạch trần những vụ việc ở đằng sau hậu trường của các quan chức ĐCSTQ, tác giả Chen Fang đã chỉ ra điều tối mật của ĐCSTQ qua miệng của Hác Tương Thọ, Phó Chánh Văn phòng của một Văn phòng Thành ủy của ĐCSTQ, “tham nhũng đã làm ổn định chính quyền của chúng ta”.

Nhân dân Trung Quốc đã nhìn thấy rất rõ điều đó, “nếu chúng ta chống tham nhũng thì đảng sẽ sụp đổ; nếu chúng ta không chống tham nhũng thì đất nước sẽ diệt vong.” Tuy nhiên ĐCSTQ sẽ không chống tham nhũng để rồi phải đối mặt với rủi ro cho sự tồn vong của nó. Cái mà nó sẽ làm là tử hình một số cá nhân tham nhũng làm vật hy sinh tượng trưng để bảo vệ hình ảnh của nó. Điều này đã kéo dài sự tồn tại của nó thêm một vài năm nữa bằng cách thí mạng một vài quan chức tham nhũng. Ngày nay, mục đích duy nhất của tà giáo ĐCSTQ là duy trì quyền lực và tránh khỏi bị sụp đổ.

Ở Trung Quốc ngày nay, luân thường đạo lý đã suy đồi đến mức không còn nhận ra được nữa. Nạn làm hàng giả, mãi dâm, ma túy, thông đồng giữa các quan chức và những kẻ tội phạm, tội phạm có tổ chức, cờ bạc, hối lộ – tham nhũng đủ loại đang diễn ra tràn lan. ĐCSTQ đã phớt lờ sự suy đồi về mặt đạo đức đó, trong khi nhiều quan chức cao cấp cũng là những ông trùm trong hậu trường đang vòi tiền những người dân cảm thấy lo sợ và muốn được bảo vệ. Sái Thiểu Khanh, một chuyên gia nghiên cứu về xã hội đen và các tổ chức tội phạm ở trường Đại học Tổng hợp Nam Kinh, ước tính rằng tổng số tội phạm có tổ chức ở Trung Quốc là vào khoảng 1 triệu. Mỗi một tên tội phạm có tổ chức bị bắt đều khai ra những người cộng sản hủ bại ở đằng sau hậu trường là các quan chức chính quyền, các quan tòa hoặc cảnh sát.

ĐCSTQ sợ rằng nhân dân Trung Quốc có thể cảm nhận về lương tâm và đạo đức, nên nó không dám cho phép nhân dân được có tín ngưỡng tôn giáo hoặc sự tự do tư tưởng. Nó sử dụng tất cả những nguồn lực mà nó có để đàn áp những người tốt có tín ngưỡng, ví dụ như những người theo đạo Thiên Chúa một cách bí mật tin vào Chúa Giê-su và Đức Chúa Trời và những học viên Pháp Luân Công muốn trở nên Chân Thiện Nhẫn. ĐCSTQ sợ rằng dân chủ sẽ kết liễu chế độ một đảng của nó nên nó không dám cho nhân dân quyền được tự do về mặt chính trị. Nó nhanh chóng hành động và bỏ tù những người theo chủ nghĩa tự do độc lập và những người hoạt động vì nhân quyền. Tuy nhiên, nó cho nhân dân một quyền tự do lệch lạc. Chỉ cần người ta không quan tâm đến chính trị và không phản đối sự lãnh đạo của ĐCSTQ, thì người ta có thể muốn gì thì muốn, thậm chí người ta còn có thể làm cả những điều tà ác vô đạo đức. Kết quả là ĐCSTQ đã suy đồi rất nhanh và đạo đức xã hội ở Trung Quốc đang xuống dốc nhanh chóng ở mức báo động.

“Chắn lối lên thiên đường, mở đường xuống địa ngục” là câu nói mô tả chính xác nhất việc tà giáo ĐCSTQ đã phá hoại xã hội Trung Quốc ngày nay như thế nào.

******************

VII. Nhìn lại sự thống trị tà ác của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Đảng Cộng sản là gì?

Câu hỏi nghe có vẻ như đơn giản này lại không có câu trả lời đơn giản. Dưới chiêu bài “vì nhân dân” và đội lốt một đảng chính trị, Đảng Cộng sản trên thực tế đã lừa dối hàng triệu người. Và nó không phải là một đảng chính trị theo cách hiểu thông thường, mà là một tà giáo độc ác bị tà ma điều khiển. Đảng Cộng sản là một thực thể sống hiển hiện trên thế giới này thông qua các tổ chức đảng. Thực sự điều khiển Đảng Cộng sản là một tà ma nhập vào nó, và tà ma đó đã quyết định bản chất tà ác của Đảng Cộng sản.

Những người lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trong khi đóng vai trò là thủ lĩnh của giáo phái, chỉ là cái miệng lưỡi của tà ma và của Đảng. Khi mục đích và ý định của họ phù hợp với Đảng và có thể được nó lợi dụng, họ sẽ được chọn làm lãnh đạo. Nhưng khi họ không còn có khả năng đáp ứng nhu cầu của Đảng nữa thì họ sẽ bị lật đổ một cách tàn nhẫn. Cơ chế đấu tranh của Đảng đảm bảo rằng chỉ có những ai xảo quyệt nhất, tà ác nhất và lưu manh nhất mới có thể trụ vững được ở vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản đó. Việc hơn một chục lãnh đạo cao cấp của Đảng đã bị hạ bệ đã chứng minh cho lý luận này. Trên thực tế, những người lãnh đạo cao nhất của Đảng đang đi trên một sợi dây thừng rất mảnh. Họ có thể hoặc là bứt ra khỏi đảng và để lại tiếng tốt trong lịch sử, như Goóc-ba-chốp đã làm hoặc là trở thành nạn nhân của Đảng như nhiều tổng bí thư của đảng.

Nhân dân là mục tiêu bị biến thành nô lệ và đàn áp của đảng. Dưới sự thống trị của đảng, nhân dân không có quyền phản đối đảng. Thay vào đó, họ bắt buộc phải chấp nhận sự lãnh đạo của đảng và có nghĩa vụ phải duy trì đảng. Họ cũng thường xuyên bị tẩy não theo kiểu giáo phái dưới sự đe dọa và cưỡng bức của đảng. ĐCSTQ bắt buộc cả nước phải tin theo và duy trì tà giáo này. Đây là điều hiếm thấy trên thế giới ngày nay, và chúng ta buộc phải công nhận kỹ năng vô địch đó của ĐCSTQ trong việc áp bức nhân dân.

Các đảng viên là lực lượng được dùng để lấp đầy cơ thể của đảng. Nhiều người trong số họ là những người trung thực và tốt bụng, và thậm chí có thể là rất thành đạt trong sự nghiệp của mình. Đây là những người mà ĐCSTQ thích tuyển dụng, bởi vì thanh danh và hiểu biết của họ có thể được dùng để phục vụ cho đảng. Nhiều người khác, vì muốn trở thành quan chức hoặc có địa vị xã hội cao hơn, sẽ cố gắng vào đảng và giúp đỡ thực thể tà ác đó. Cũng có người vào đảng vì muốn đạt được điều gì đó trong cuộc đời và nhận ra rằng dưới chế độ cộng sản họ sẽ không thể làm được như vậy trừ khi họ vào đảng. Một số người vào đảng là vì họ muốn được phân phối một căn hộ hay chỉ đơn giản là vì muốn có một hình ảnh tốt hơn. Do đó, trong số hàng chục triệu đảng viên có cả người tốt và người xấu. Bất kể là với mục đích gì, một khi họ đã thề trung thành trước cờ đảng, một cách tự nguyện hay không tự nguyện, nghĩa là họ đã tự nguyện hiến dâng mình cho đảng. Sau đó họ sẽ phải đi qua một quá trình tẩy não bằng cách tham gia học chính trị hàng tuần. Một số lượng lớn đảng viên sẽ còn lại rất ít những suy nghĩ của chính mình nếu có và sẽ dễ dàng bị tà ma chủ thể ĐCSTQ điều khiển, đó là hậu quả của sự giáo huấn của đảng. Những người này sẽ hoạt động ở trong đảng như những tế bào của cơ thể con người và sẽ làm việc không ngừng nghỉ vì sự tồn tại của đảng, mặc dù chính họ cũng là một phần của nhân dân đã bị đảng biến thành nô lệ. Còn đáng buồn hơn là, sau khi cái cùm “đảng tính” đã được áp đặt lên mình rồi thì họ sẽ rất khó vứt bỏ nó đi. Một khi họ thể hiện ra phần người của mình thì họ sẽ bị loại trừ hoặc bị bức hại. Họ không thể tự ra khỏi đảng ngay cả khi họ muốn ra, vì đảng có chính sách vào-được ra-không và do đó sẽ coi họ như một kẻ phản bội. Đó là lý do tại sao mà mọi người thường thể hiện ra hai tính chất: trong đời sống chính trị: đảng tính, trong cuộc sống bình thường hàng ngày: nhân tính.

Các cán bộ đảng là những người nắm quyền trong số các đảng viên. Mặc dù họ có thể được phép lựa chọn giữa tốt và xấu và tự quyết định trong những hoàn cảnh cụ thể, vào những thời gian cụ thể và những sự kiện cụ thể, nhưng toàn thể họ phải đi theo ý nguyện của đảng. Mệnh lệnh là “toàn đảng phải tuân theo Ban chấp hành Trung ương”. Các cán bộ đảng là những người lãnh đạo ở các cấp; họ là xương sống của đảng. Họ cũng chỉ là công cụ của đảng. Họ cũng bị lừa đảo, bị lợi dụng và trở thành nạn nhân trong các phong trào chính trị trước kia. Tiêu chí căn bản của ĐCSTQ là thử xem họ có đi theo người lãnh đạo và thực sự cống hiến hay không.

Tại sao nhân dân vẫn chưa nhận ra?

ĐCSTQ đã hành động tà ác và dã man trong suốt hơn 50 năm cầm quyền ở Trung Quốc. Nhưng tại sao nhân dân Trung Quốc vẫn thiếu hiểu biết thực tế về bản chất tà ác của ĐCSTQ? Đó là vì người Trung Quốc kém hiểu biết? Không. Người Trung Quốc đã xây dựng nên một trong những đất nước uyên thâm nhất trên thế giới và tự hào với một nền văn hóa truyền thống giàu có và một di sản 5000 năm. Vậy mà nhân dân Trung Quốc vẫn đang phải sống dưới sự thống trị của ĐCSTQ, hoàn toàn sợ hãi không dám biểu đạt sự bất bình của mình. Vấn đề nằm ở sự kiểm soát tư tưởng của ĐCSTQ.

Nếu nhân dân Trung Quốc có quyền tự do biểu đạt và có thể bàn luận công khai về công và tội của ĐCSTQ, thì chúng ta có thể tưởng tượng được rằng người Trung Quốc từ lâu đã có thể thấy rõ được bản chất tà ác của ĐCSTQ và tự giải phóng cho chính mình khỏi sự ảnh hưởng của tà giáo này. Không may là, nhân dân Trung Quốc đã bị mất đi các quyền tự do biểu đạt và tự do tư tưởng của mình đã hơn một nửa thế kỷ sau khi chế độ của ĐCSTQ ra đời. Mục đích đằng sau việc đàn áp những người cánh hữu trong số những trí thức vào năm 1957 là để đè bẹp quyền tự do biểu đạt và kiểm soát tư tưởng của nhân dân. Trong một xã hội không có những quyền tự do cơ bản như vậy, phần lớn những thanh niên toàn tâm nghiên cứu các tác phẩm của Mác và Ăng ghen trong Cách mạng Văn hóa đã bị trớ trêu dán nhãn là “bè lũ chống đảng” và sau đó đã bị đàn áp. Việc bàn luận về đúng sai của ĐCSTQ đơn giản là không được phép.

Không mấy người Trung Quốc dám nghĩ đến việc gọi ĐCSTQ là một tà giáo. Tuy nhiên, nếu điều đó được khẳng định thì những người đã từng sống ở Trung Quốc sẽ thấy không khó khăn gì trong việc tìm ra những bằng chứng thuyết phục để chứng minh cho nhận định đó từ những trải nghiệm của chính họ và gia đình, bạn bè.

Nhân dân Trung Quốc đã không chỉ bị tước đi quyền tự do tư tưởng, mà họ còn bị nhồi nhét vào trong đầu những học thuyết và văn hóa của ĐCSTQ. Do đó, tất cả những điều mà nhân dân có thể nghe thấy là những lời ca ngợi đảng và đầu óc của họ đã bị làm nghèo nàn đi tới mức chỉ còn lại những ý tưởng về việc củng cố ĐCSTQ. Hãy lấy cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn làm ví dụ. Khi súng bắt đầu nổ vào ngày 4/6/1989, nhiều người theo bản năng đã chạy trốn. Một lúc sau, bất chấp rủi ro, họ đã dũng cảm bước ra khỏi chỗ ẩn náu và cùng nhau hát bài “Quốc tế ca”. Những người Trung Quốc này thực sự dũng cảm, vô tội và đáng kính trọng nhưng tại sao họ lại hát bài “Quốc tế ca”, một bài hát của những người cộng sản, khi đang phải đối mặt với việc giết chóc của những người cộng sản? Lý do rất đơn giản. Bị giáo dục trong văn hóa đảng, tất cả những gì mà những con người đáng thương đó biết chỉ là chủ nghĩa cộng sản. Những người trên quảng trường Thiên An Môn lúc đó không biết bất cứ bài hát nào ngoài bài “Quốc tế ca” và một số bài hát khác ca ngợi đảng cộng sản.

Đâu là lối thoát?

ĐCSTQ đang tiến đến tận diệt. Thật đáng buồn là, nó vẫn đang cố gắng trói buộc số phận của mình với đất nước Trung Quốc trước khi nó tan rã.

ĐCSTQ đang giãy chết có vẻ như đang yếu dần và sự kiểm soát của nó đối với tâm trí của nhân dân đang bị lỏng dần. Với sự phát triển của viễn thông và Internet, ĐCSTQ đang thấy khó khăn trong việc kiểm soát thông tin và trong việc bịt miệng công luận. Khi các quan chức hủ bại càng ngày càng áp bức bóc lột nhân dân, công chúng đang bắt đầu thức tỉnh từ những ảo tưởng của mình về ĐCSTQ, và nhiều người trong số họ đã bắt đầu thực hiện việc bất tuân lệnh chính quyền. ĐCSTQ không chỉ đã thất bại trong việc cố đạt cho được mục đích của nó là tăng cường việc kiểm soát tư tưởng trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công mà còn càng tự làm suy yếu chính bản thân nó trong khi đã lộ rõ chân tướng cực kỳ tàn bạo của nó. Thời gian thích hợp này đã khiến cho nhân dân xem xét lại ĐCSTQ, mở đường cho đất nước Trung Quốc tự giải phóng cho mình khỏi cảnh nô lệ về mặt tư tưởng và hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của tà ma cộng sản.

Sau khi đã sống dưới sự thống trị tà ác của ĐCSTQ trong hơn 50 năm qua, nhân dân Trung Quốc không cần một cuộc cách mạng bạo lực; mà họ cần phải lấy lại tâm hồn của mình. Điều này có thể đạt được bằng cách tự cứu mình, và bước đầu tiên để tiến đến mục đích đó là việc cần phải nhận ra bản chất tà ác của ĐCSTQ.

Ngày đó sẽ đến khi mọi người vứt sang một bên các tổ chức đảng gắn liền với bộ máy nhà nước, để cho các hệ thống xã hội hoạt động một cách độc lập, và được sự trợ giúp của các lực lượng nòng cốt trong xã hội. Với sự ra đi của tổ chức độc tài của ĐCSTQ, hiệu quả hoạt động của chính quyền sẽ được cải thiện và tăng cường. Và ngày đó đã đang tới rất gần rồi. Trên thực tế, từ hồi đầu những năm 1980, những người theo đường lối cải cách ở trong đảng đã ủng hộ ý tưởng “tách đảng ra khỏi chính quyền”, trong một nỗ lực nhằm tách đảng ra khỏi chính quyền. Các nỗ lực cải cách từ trong nội bộ ĐCSTQ đã cho thấy là chưa đầy đủ và không thành công khi tư tưởng “quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng” vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn.

Văn hóa đảng là một môi trường cần thiết cho sự sống sót của tà giáo cộng sản đó. Việc loại bỏ sự khống chế của ĐCSTQ đối với tâm trí của nhân dân có thể khó hơn việc gỡ bỏ sự khống chế của ĐCSTQ đối với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nhưng việc loại bỏ đó là cách duy nhất để thực sự nhổ tận gốc sự tà ác của chủ nghĩa cộng sản. Điều này chỉ có thể đạt được bằng nổ lực của chính nhân dân Trung Quốc. Với tư tưởng của họ được điều chỉnh lại cho đúng đắn và nhân bản của họ quay trở về với trạng thái vốn có ban đầu, toàn xã hội sẽ lấy lại được tiêu chuẩn đạo đức và sẽ thành công trong việc chuyển tiếp sang một xã hội tốt đẹp phi cộng sản. Bài thuốc cho sự khống chế của lực lượng tà ác này nằm ở chỗ nhận ra bản chất và sự độc hại của tà ma đó, xóa bỏ nó khỏi tâm trí của nhân dân, và quét sạch nó đi, để nó không còn có chỗ mà ẩn náu. Đảng Cộng sản nhấn mạnh việc kiểm soát tư tưởng bởi vì nó không là gì khác hơn một sự hoang tưởng. Sự hoang tưởng đó sẽ tan biến khi toàn thể nhân dân Trung Quốc loại bỏ những điều sai trái của cộng sản ra khỏi tâm trí họ, chủ động quét sạch văn hóa đảng, và giải thoát tinh thần và cuộc sống của chính họ khỏi sự ảnh hưởng của tà giáo cộng sản đó. Khi nhân dân tự cứu mình thì ĐCSTQ sẽ tan rã.

Các nước nằm dưới sự thống trị của đảng cộng sản luôn đi đôi với đói nghèo, độc tài, và áp bức. Chỉ còn lại vài nước như vậy bao gồm Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam và Cu-ba. Những chế độ đó đang sống những ngày còn lại cuối cùng.

Với trí lực của nhân dân Trung Quốc, với sự trợ giúp của nguồn cảm hứng từ nền lịch sử đáng tự hào của đất nước Trung Quốc, một Trung Quốc được giải thoát khỏi sự khống chế tà ác của chủ nghĩa cộng sản sẽ trở thành một đất nước đầy hứa hẹn.

******************

Kết luận

Bản thân ĐCSTQ đã không còn tin vào chủ nghĩa cộng sản nữa. Linh hồn của nó đã chết, nhưng cái bóng của nó vẫn còn. Nó chỉ còn khoác “bộ da” của chủ nghĩa cộng sản, nhưng nó vẫn hiển lộ bản chất của một tà giáo: ngạo mạn, tự cao tự đại và ích kỷ, và ham mê tùy tiện phá hoại. ĐCSTQ đã kế thừa việc phủ nhận đạo trời của chủ nghĩa cộng sản, và sự phản nhân tính của nó vẫn không thay đổi.

Ngày nay, ĐCSTQ vẫn tiếp tục thống trị Trung Quốc bằng các thủ đoạn đấu tranh mà nó đã tích lũy được qua nhiều năm, sử dụng hệ thống tổ chức chặt chẽ của nó và hình thức thống trị “đảng khống chế”, cũng như các thủ đoạn tuyên truyền tà ác hoạt động như một quốc giáo. Sáu đặc điểm của Đảng Cộng sản đã được chỉ ra ở trên đã đặt ĐCSTQ ngày nay một cách chính xác vào trong định nghĩa về một “tà giáo”: nó không làm gì tốt cả, chỉ toàn làm những việc tà ác.

Khi nó sắp chết, tà giáo cộng sản này đang gia tăng tốc độ hủ bại và suy đồi của nó. Điều rắc rối nhất chính là nó đang ngang bướng làm tất cả những gì mà nó có thể để đưa đất nước Trung Quốc rơi cùng với nó xuống một vực thẳm hủ bại và suy đồi.

Nhân dân Trung Quốc cần phải tự cứu chính mình, họ cần phải suy nghĩ về những gì đã qua, và họ cần phải rũ bỏ ĐCSTQ.

 

Chú thích:

 

[1] “Con báo đã chết, nhưng vẫn còn lưu lại bộ da” được trích từ một quyển sách tiên tri cổ của Trung Quốc, bài thơ Hoa Mai của Shao Yong (1011-1077). Con báo ở đây là để nói đến lãnh thổ của Liên Xô cũ trên thực tế trông giống như hình một con báo đang chạy. Với sự sụp đổ của Liên Xô cũ, nòng cốt của hệ thống cộng sản đã tan rã, chỉ còn để lại “bộ da” (hình thức) mà Đảng Cộng sản Trung Quốc thừa kế.

[2] Hiến pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (bản dịch chính thức, 1999).

[3] Trích từ Cuộc điều tra lịch sử về việc Mao Trạch Đông tiêu diệt “AB Đoàn” ở Khu vực Xô-viết, Tỉnh Giang Tây của Gao Hua. Sự kiện “AB Đoàn” là để nói đến chiến dịch “Những người Chống Bôn-sê-vích” năm 1930, khi Mao Trạch Đông ra lệnh giết chết hàng nghìn đảng viên, lính Hồng quân, và thường dân vô tội ở tỉnh Giang Tây để củng cố quyền lực của mình trong những khu vực do ĐCSTQ kiểm soát.

[4] Trích từ “Báo cáo về việc điều tra phong trào nông dân ở Hồ Nam” của Mao Trạch Đông (1927).

[5] Núi Thái sơn là ngọn núi thứ nhất trong năm ngọn núi nổi tiếng ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Nó là di sản thế giới do Liên hợp quốc công nhận từ năm 1987.

[6] Phong trào thu hồi đất liên quan đến mặt đen tối của cải cách kinh tế ở Trung Quốc. Tương tự như cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Anh (1760-1850), đất nông nghiệp ở Trung Quốc ngày nay đã bị phân bổ để xây dựng các khu kinh tế khác nhau ở tất cả các cấp (huyện, thành phố, tỉnh và quốc gia). Kết quả của việc thu hồi đất là nông dân Trung Quốc bị mất đất canh tác. Ở các thành phố, dân cư ở các quận của thị trấn và thành phố cổ thường xuyên bị bắt buộc phải di dời để lấy đất cho việc phát triển các khu thương mại với tiền đền bù tối thiểu cho nhân dân. Thông tin chi tiết hơn có tại: http://www.uglychinese.org/enclosure.htm.

[7] Liz Zhao, một sinh viên báo chí của Trường Đại học Tổng hợp Bắc Kinh, đã bị coi là một người cánh hữu năm 1957 vì cô có những tư tưởng độc lập và đã lên tiếng phê bình phong trào cộng sản. Cô đã bị buộc tội là âm mưu lật đổ chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân và đã bị bắt năm 1960. Năm 1962, cô đã bị xử 20 năm tù. Ngày 29 tháng 4 năm 1968, cô đã bị ĐCSTQ giết chết với tội danh phản cách mạng.

Zhang Zhixin là một trí thức đã bị ĐCSTQ tra tấn cho đến chết trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa vì cô đã chỉ trích Mao Trạch Đông là đã thất bại trong phong trào “Đại Nhảy vọt” và đã lên tiếng nói ra sự thật. Bọn cai ngục đã nhiều lần lột quần áo của cô, còng tay cô ra sau lưng và quẳng cô vào xà-lim nam để các tù nhân nam hãm hiếp tập thể cho đến khi cô trở nên phát điên. Nhà tù sợ rằng cô sẽ hô khẩu hiệu phản đối trong khi tử hình nên đã cắt cổ cô trước khi tiến hành tử hình.

[8] Nói đến Cách mạng Tư sản Nga tháng 2/1917 lật đổ ngai vàng của Sa Hoàng.

[9] Cách mạng tháng Mười, hay Cách mạng Bôn-sê-vích do Lê-nin lãnh đạo xảy ra vào tháng 10 năm 1917. Cuộc cách mạng đã giết chết những người cách mạng của giai cấp tư sản mà đã lật đổ Sa Hoàng, do đó đã bóp chết Cách mạng Tư sản Nga.

[10] Cả hai “Sự kiện Mari” và “Cuộc thảm sát 12/4” đều nói đến các cuộc tấn công ĐCSTQ của Quốc Dân Đảng. “Sự kiện Mari” xảy ra ngày 21/5/1927 ở thành phố Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam. “Cuộc thảm sát 12/4” xảy ra ngày 12/4/1927 ở Thượng Hải. Trong cả hai trường hợp, một số đảng viên ĐCSTQ và những người hoạt động ủng hộ ĐCSTQ đã bị tấn công, bị bắt hoặc bị giết chết.

[11] Liu Di, một chính trị viên của Hồng Quân thứ 20 đã bị buộc tội là thành viên của “AB Đoàn”, đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy ở Futian buộc tội Li Shaojiu là một người phản cách mạng. Họ đã cướp quyền kiểm soát thành phố Futian và thả hơn 100 người đã bị bắt trước đó vì liên quan đến “AB Đoàn”, và hô khẩu hiệu “Đả đảo Mao Trạch Đông”.

[12] Bành Đức Hoài (1898-1974): một viên tướng và là một người lãnh đạo cộng sản Trung Quốc. Bành Đức Hoài đã từng là Tổng Tư lệnh trong chiến tranh Triều Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, ủy viên Bộ chính trị, và Bộ trưởng quốc phòng từ năm 1954-1959. Ông ta đã bị bãi chức khỏi các chức vụ của mình sau khi bất đồng với cách tiếp cận kiểu cánh tả của Mao Trạch Đông tại Hội nghị toàn thể Lộc Sơn của ĐCSTQ năm 1959.

[13] Từ “Lý Lập Tam: Người được truy điệu bốn lần”.

[14] Bốn nguyên tắc là: con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của ĐCSTQ, và chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít và tư tưởng Mao Trạch Đông.

 

Copyright © 2004 DAJIYUAN.COM, thời báo Đại Kỷ Nguyên