LỜI BẠT : KINH VÔ THƯỜNG

LỜI BẠT : KINH VÔ THƯỜNG
 
 
Nhà thơ Võ Thạnh Văn đưa cho tôi tập sách “KINH VÔ THƯỜNG” và nhã ý nhờ tôi viết LỜI BẠT  cho tập sách của ông. Cầm tập sách trên tay tôi tự nhũ: làm sao mình có thể viết NHẬN ĐỊNH nổi cho một tác phẩm loại kinh điển  như thế này? Bởi tập sách “ KINH VÔ THƯỜNG” của tác giả Võ Thành Văn gồm có 2 quyển THƯỢNG và HẠ và trong hai quyển này chứa khoảng 10 tập thơ mang tên Cát Bụi theo số thứ tự  từ 1 đến 10. Mỗi tập thơ  Cát Bụi như vậy, chứa một ngàn câu thơ theo thể LỤC BÁT. Như thế toàn  bộ tập sách KINH VÔ THƯỜNG chứa 10 ngàn  câu . Nếu tính theo chữ gồm có 70 chục ngàn chữ . Tôi nói với tác giả, việc viết LỜI BẠT cho một tác phẩm lớn như thế này và nhất là thuộc  loại sách kinh điển, e rằng tôi không thể đáp ứng yêu cầu  mong muốn của tác giả, vì công việc này có tính chọn lựa thường dành riêng cho vị thức giả hoặc các bậc cao thâm . Nhưng Võ Thành Văn không cho ý kiến của tôi là đúng. Ông bảo tôi có thể viết nhận định được, lại nữa chỉ viết LỜI BẠT cho một tập thơ Cát Bụi trong 10 tập mà thôi. Tôi biết không thể thối thóat trước tấm chân thành của bạn hữu cũng là thi hữu nên tôi nhận lời. Tôi chọn tập thơ Cát Bụi 2 để làm chủ đề cho LỜI BẠT theo yêu cầu.
Đọc qua tập thơ Cát Bụi 2 từ câu 251 đến câu 500, trên phương diện hình thức chúng ta thấy : tác giả Võ  Thạnh Văn không những là một nhà thơ can đảm lại  còn tài tình nữa, vì dám chonï thể lọai LỤC BÁT để viết về thơ KINH ĐIỂN. Với phương thức chọn lựa này chắc chắn  tác giả phải  thật hiểu rõ về vần, điệu và tiết tấu… của thể thơ này mới có quyết định như vậy, vì thể thơ LỤC BÁT, tuy dễ gieo vần, nhưng vì gần gũi với Ca dao và Vè nên lắm lúc nhiều nhà thơ sử dụng thể lọai này, bài thơ của họ có những âm điệu gần giống như một bài Ca dao hay Vè, tạo cho người đọc nhiều nhàm chán. Nhưng với tác giả Võ Thành Văn khi áp dụng thể loại LỤC BÁT cho việc viết thơ  KINH ĐIỂN, ông đã thành công một cách nhất định. Trong 10 tập thơ  Cát Bụi. Ngoài sự am hiểu về vần , điệu , tiết tấu … ông còn chứng tỏ khả năng hiểu biết bất tận của mình về bố cục của thể thơ này. Ông dùng cú pháp và ngôn ngữ  trôi chảy, ổn thỏa. Đặc biệt trong tập thơ Cát Bụi 2 , tác giả Võ Thành Văn cho người đọc thấy nghệ thuật sử dụng vần , điệu một cách tài tình. Có những đọan thơ gần như là yểu vận mà ông vẫn gieo vần một cách mạch lạc, rõ ràng, như trong đọan thơ:
 
“ Cát đi vấp bóng hoàng hôn
   Bụi bay rã cánh, nậm hồn cõi xa
   Về đây bện cõ lợp nhà
   Ngắm chân đá vựng mây là đà bay”
Hay :
“Gió mang phún thạch ra đi
  Người về nhân thế thị phị bụi làn
  Ta về củi mục non ngàn
  Tình hâm. Tro lạnh. Đêm tàn. Rượu vơi.”
 
Cũng trong hình thức, tác giả Võ Thạnh Văn không phải vô tình cho người đọc thấy sự đặc thù  trong cách  sử dụng thể thơ LỤC BÁT trong “ KINH VÔ THƯỜNG” của ông. Mở bất cứ tập thơ Cát Bụi nào củaVõ Thạnh Văn chúng ta đều thấy phần lớn những câu 6 hay 8 đều được trình bày ngắt đọan bởi một dấu chấm,  nhưng ý nghĩa  của câu văn  tác giả muốn trình bày vẫn rõ nghĩa. Làm thơ Lục Bát lối này có phải chăng đó là một thể thức mới một kiểu lập dị riêng biệt  mà chỉ có tác giả Võ Thạnh Văn mới  là người ưu tiên thực hiện?  Chúng ta hãy xem đọan thơ sau đây để thấy sự sáng tạo trong thơ Lục Bát của tác giả Võ Thạnh Văn.
 
 “Mưa sa . Bão Táp. Sóng nhồi
   Trăm năm (ngụp lặn mé đời) phồn hoa
   Cuối mùa. Thác Lọan. Kinh qua
   Bóng ai ( chao đảo sương tà) rơi nghiêng.”
Hoặc:
“ Cát nào. Không trước. Không sau
   Không sinh. Không diệt. Không dày. Không thưa.
   Bụi nào . Không thiếu. Không thừa.
   Không biến. Không hóa. Không trưa. Không chiều.”
 
Về nội dung, 10 tập thơ Cát Bụi trong KINH VÔ THƯỜNG, nhất là tập Cát Bụi 2, chúng ta thấy Võ Thành Văn là một nhà thơ luôn sáng tạo, ngoài can đảm , tài tình, ông cũng còn là một nhà mô phạm, một nhà tu có một kiến thức triết học và thần học thuộc cấp thượng thừa. Tác giả đã thấu triệt nhân sinh quan của Phật giáo về căn nguyên của con người theo lẽ tuần hoàn của tạo hóa , “ Con người từ đâu mà sinh ra, chết sẽ đi về đâu, có còn vì đâu hay mất hẵn ?”.  Trả lời câu hỏi này ông viết:
 
“ Người từ ( cát bụi) đầu thai.
   Nghe kinh. Hóa cội hoàng mai. Đền Thần
   Ta từ (sõi) vụn liều thân
   Ngẩn ngơ. Trôi giạt. Phù trầm. Hợp  ly.
 
 Tác giả khẳng định con người từ cát bụi từ đất mà có, sự khẳng định có tính khoa học đó của tác giả  chúng ta thấy phù họp với thuyết tạo vật của Đức Chúa Giê su, người cải cách một tôn giáo cổ ở Do Thái . Đạo ấy tiêu biểu Đức Chúa Trời là một vị duy nhất sinh ra Trời- Đất và muôn vật.  Theo bộ Tân Ước, Cựu Ước thì vũ trụ  này trước đây là một khoảng mênh mông , mù mịt. Nhờ tài năng và huyền phép của Đức Chúa Trời , trong 7 ngày Ngài tạo thành mặt Trời, mặt Trăng, Tinh tú, Đất, Nước, Núi , Sông, Cây Cối , Người và Vật. Cùng trong 7 ngày ấy, Ngài lấy chút đất hà hơi thành ra ông Adam, đồng thời lấy chút đất khác cùng mấy dẻ xương sườn  của ông Adam , hà hơi vào thành ra bà Eve. Hai người lấy nhau , sinh xuống cõi trần  làm thủy tổ loài người, sau khi hai ông bà đã phạm vào trái cấm của Chúa. Từ đó con cháu  loài người đều bị bó buộc trọng tội tổ tông truyền . Ai biết tôn trọng, kính thờ, vâng lời Chúa sẽ được lên thiên đàng, đời đời sung sướng , trái lại sẽ phải đọa đầy xuống địa ngục.
Bởi chân con người là Cát Bụi nên phải trở về Cát Bụi . “Đời sinh ta  ra ta là Cát. Đời đưa ta đi , ta về đất…. Và anh đã về , một chiều anh đã về quê.”( Huyền Thoại Người Mang Tên Quốc của Phạm Duy) . Cho nên từ trạng thái vật chất cát bụi  trở thành người bởi hóa kiếp, nghĩa là không mãi mai ở yên trong trạng thái nhất định nào , luôn chuyển hóa và thay đổi hình dạng . Từ trạng thái hình thành , cao thấp, to, nhỏ, tan rã , những giai đoạn thay đổi đó tác giả cho là “ Vô thường” và theo Phật gọi là định luật : Thành, Trụ , Họai Không.
Con người là thực thể hiện hữu trong thế gian nên cũng không thóat khỏi sự biến đổi , hư hoại nên không tránh khỏi định luật vô thường, lúc có lúc không.
 
 “ Tay vo (hạt cát) vô thường
    Miên man hoa sóng . Miên trường sắc không
    Bọt bèo ( xô giạt) nhánh sông
    Nhấp nhô thuyền đậu. Ngùi trông thuyền về.”
 
Ngoài những kiến thức thâm thúy triết lý về kiếp sống tạm bợ của con người trên cõi thế gian, Võ Thạnh Văn còn chứng minh cho người đọc thấy khả năng uyên bác của ông về thuyết Luân Hồi  của Đạo Phật . Được sinh ra làm người con người phải tu chuyên và trải qua nhiều kiếp và nó luôn gắn liền với thuyết nhân quả và nghiệp quả, nghiệt oan.
 
“ Tự thân (hạt bụi) nhuốm sầu
   Tìm về ( với cát nối cầu) nghiệt oan
 
Đạo Phật xem việc sống chết là một vấn đề quan trọng , làm nhân loại luôn thắc mắc và băn khoăn. Và từ sự băn khoăn đó nên có nhiều quan niệm về vấn đề này.  Thuyết chấp đọan cho rằng, loài người cũng như vật chất, chết là mất hẳn không còn gì sau đó: “là cát bụi , con người trở về cát bụi”. Thuyết chấp thường thì trái lại, cho rằng con người chết đi linh hồn vẫn còn, vẫn vĩnh viễn lên thiên đàng hoặc mãi xuống địa ngục.
Với Võ Thạnh Văn , tuy am hiểu thuyết luân hồi của Phật giáo, nhưng vì trước đây là một tu xuất nên có thể ông dễ dàng chấp nhận thuyết chấp đọan hơn , vì con người tiền thân là cát bụi phải trở về cát bụi, mặc dù bị quá trình tạo kiếp chi phối . Con người có những nỗi khổ đau tự tại trong kiếp sinh.
 
“ Khổ đau. Tự tánh. Vô thường
   Hốt nhiên . Tụ tá. Như thường. Như không.
   Nửa  khuya lạnh nụ yêu hồng
   Mai mùa tình . Chín rục. Nồng ngát hương.”
 
Thân phận của Cát bụi trong KINH VÔ THƯỜNG CỦA Võ Thạnh Văn , chính là thân phận của con người có những cảm giác , cảm nhận vui , khổ hoặc không vui khổ  từ Ngũ Uẩn ( Mắt , Tai, Mũi , Lưỡi, Thân) . Rồi cũng từ năm giác quan này đưa con người đến ý thức tâm thiện hay tâm ác, mà sinh ra u sầu hay trụy lạc.
 
“ Cát pha bụi. Lạnh lòng tay
   Nồng đêm trăng giải. Ấm ngày sầu chao
   Tình buồn ( từ thuở) uyên trao
Vàng rơi. Ngọc rụng. Mày chau. Châu trầm.
 
 
Trên khía cạnh học thuật, chúng ta đều phải công nhận tác giả Võ Thạnh Văn là người thêm vào tòa nhà văn học Việt Nam một nghệ thuật mới trong cung cách sáng tác và sử dụng cấu trúc trong thể thơ Lục Bát rất thuần điệu.  Xưa nay, dùng thơ để viết kinh là thông thường, nhưng dùng thơ Lục Bát và ngắt dấu  để viết Kinh Thư mới là một phát sinh mới đáng đề cập.
Với KINH VÔ THƯỜNG, đại để là 10 tập thơ  Cát Bụi,  mà đặc trưng là Cát Bụi 2, chúng ta còn thấy nơi Võ Thạnh Văn một con người luôn tìm tòi học hỏi , nghiên cứu sâu về các triết lý sống của nhiều Đạo Giáo. Ngoài các triết thuyết lớn của các tôn giáo hiện hữu. Võ Thạnh văn đã còn có một triết lý sống cho chính bản thân mình. Tác giả  đem niềm vui vào sự nghiên cứu triết lý, cho bản thân và cho giới nghiên cứu triết học. Với Võ Thạnh Văn triết lý là bình thường, là nhân văn là trong cuộc sống thường ngày của con người, những bị , lạc, ….đó là triết lý, nó là những ý thức, ý niệm không xa vời với con người. Thái độ khiêm cung trước mọi người cũng chính là triết lý sống của tác giả. Cũng với tác giả ý thức quan niệm của con người  còn là một triết lý sống thực hơn hết.  Đó là lối sống “không xa đời, không tránh người, gần với trời , hòa với đất, vui với đạo, yên với đức , bằng lòng với số mệnh, chấp nhận an bài , không oán, không ghét không giận, không hờn chỉ thương, chỉ nhớ, nên vui, nên mừng, để tích hợp diệu nghĩa, để biểu đạt lương duyên” Vì am thấu đời người là vô thường nên tác giả chấp nhận lẽ trời như là một thực thể trong cuộc sống của mình, rồi chiêm nghiệm sự tất yếu của luật vô thường mà sẵn sàng kết thân với sự chết, để biết hành tàng của sự  Thành, Trụ, Họai Không, từ đó sẳn sàng cho linh hồn mình có sự  tự do thoát khỏi mọi sự trói buộc sự phóng đãng của lý trí.
 
“ Ngày mai cát bụi xa rồi
   Ta lên đồi vắng. Ngóng môi mắt về
   Bốn bề (sương tỏa) lê thê
   Trường sơn ( lạnh ngắt như mê) mộng vờn”
 
Tóm lại,  với quan niệm đời người là cát bụi phù du, nay còn mai mất, và dù chấp nhận lẽ tất yếu của thuyết vô thường, nhưng tác giả vẫn phải tranh đấu để tồn tại dù sự tồn tại trong giới hạn của một kiếp nhân sinh. Không vì hiểu đời là vô thường mà thụ động trong cuộc sống, Võ Thạnh Văn luôn làm việc siêng năng để có được cái cơ may trong cuộc sống làm người, ông sáng tác , viết sách, viết kinh không phải để khoe cái kiến thức uyên bác của mình, hay muốn thế hệ sau biết về mình hoặc mong có đuợc người tri âm hay tri kỷ. Hơn ai hết ông đã biết:
 
“ Chìm trong khói bụi . Am tăng 
  Vô thường một thoáng .Thường hằng phù vân
   Xác thân ( huyễn hoặc ) vô ngần
   Độ người siêu thoát . Trăm ngần họa tai”
 
Võ Thạnh Văn viết kinh , viết sách , hay làm thơ , làm văn chương đó chỉ qua là để trả cái nợ nhân sinh của người tuấn kiệt . “Âu đó cũng là cái nghiệp dĩ của một kiếp tài hoa.”
 
HÀ ĐÌNH HUY



CÓ PHẢI LÀ NỖI ĐAU ? (Chinh Nguyên)

CÓ PHẢI LÀ NỖI ĐAU ?
 
Chiếc xe đò Rạng Đông 50 chỗ ngồi đã dừng trong bến đậu của hãng, sau khi tài xế cho xe chạy nửa vòng cung của ngã ba bùng binh đại lộ Lê Xuẩn (Thống Nhất cũ) và con đường mới mở sau 1975, tên Hoàng Diệu.
Tôi xuống xe, lấy hành lý, bước ra lề đường Lê Duẩn và chăm chú nhìn vào ngôi thánh đường của nhà thờ Quân Đội do sư đoàn 23 Bộ Binh xây dựng, nay đã bị nhà nước Cộng Sản tước đoạt và đổi tên thành một đại lý bia, nghe đâu là của một ông lớn cấp tỉnh ủy Ban Mê Thuột.
Tuy nhiên, trên khu đất vẫn phảng phất cột trụ gác chuông và cây thánh gía đổ nghiêng về phía sau sân vì chiến tranh tới bây giờ vẫn chưa có ai phá đi.
Vườn cà phê của ông Huấn mấy chục mẫu, và công viên trước cổng dinh Bảo Đại sát với ngân khố và văn phòng đại diên Cao Nguyên Trung Phần cũng đã bị san bằng để cho những nóc nhà công thự, hay nhà tư nhân có liên hệ với chế độ Cộng Sản, để khoe cái bề mặt gỉa dối trơ trẽn vô lương tâm, hoặc gia đình của những người có tiền tiếp máu từ ngoại quốc gởi về mọc lên san sát dọc theo đường Lê Duẩn, và nhà dân nghèo chằng chịt cái thấp, cái cao với mái tôn rỉ sét lấn chiếm phía sau, không đồng đều lớn nhỏ trải dài trên dốc xuống tận suối Mourier.
Tôi tự nhủ : Không biết chủ nhân của những ngôi nhà đồ sộ vì tiền nước ngoài gởi về có biết rằng anh, em, cha mẹ của họ đang gạt lệ thắt lòng cố sức làm để có chút tiến gởi về cho anh em, hay cha mẹ già sống xứ ngoại bằng đồng tiền trợ cấp, bòn dành những lon bia bỏ thùng rác, rồi đem bán kiếm từng cắc gởi về cho con hay không ! 
Cha mẹ nghèo khổ bên xứ người, lo lắng cho con đói khát, trong khi con ở quốc nội nhởn nhơ đua đòi chờ tiền cha mẹ gởi về đem ra ăn chơi với tụi cám bộ, những đứa con này sao trời để yên vậy !
Trước năm 1963 dân tộc radê đã dùng dốc chân đồi này làm nơi đua voi mỗi lần mừng ngày song thất (7/7) thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Suối Mourie nước trong mát ngoằn ngòeo chảy dưới chân đồi khuất sau những cây cổ thụ bằng lăng, và khúc suối Mourie này nước cạn chưa tới đầu gối bởi đáy suối đã trơ ra những tảng đá lớn mặt phẳng nhẵn như bàn nối sát nhau nên dân Ban Mê Thuột đã đưa xe hơi, hoặc xe Honda xuống giữa dòng để rửa mỗi mùa mưa rừng, nơi đây cũng là nơi ngươi Radê trên Buôn Alê A dắt voi xuống cho uống nước. Bây giờ Buôn Alê A đã mất, nhường lại cho những người họ hàng với cán bộ Cộng Sản từ Bắc đổ vào dùng quyền hạn ưu đãi lấn chiếm đất của dân tộc thiểu số, đúng với câu : Một người làm quan cả họ được nhờ, hay dân làm chủ đảng quản lý…!  
Tôi dừng lại bên lề đường với chiếc vali nhỏ cạnh chân, lấy phương hướng trước khi kéo chiếc vali nhỏ theo sau. Bỗng chiếc xe Toyota 4 Runner màu nâu đậm chạy sát lề đường gần đụng chiếc vali làm lốc bụi đỏ tung lên hắt vào mặt, và đậu cách tôi khoảng ba bốn mét. Tôi nhìn theo chiếc xe lẩm bẩm những lời bất mãn:
–      Tài xế của xã hội chủ nghĩa có khác..! . Nếu sát chút nữa có thể nó lấy cẳng mình, Nhà giầu tư bản đỏ Việt Nam coi mạng người chỉ bằng vài trăm đô la nếu sảy ra tai nạn …!
Tôi chợt nhận thấy Hảo, em tôi bước ra khỏi xe, tiếp theo là anh tài xế và người đàn ông mở cửa bước xuống đi theo Hảo về phía tôi. Tôi nhíu mày suy nghĩ :
–      Con Hảo này thật quá đáng… Gần 60 tuổi rồi, ba thằng chồng đều bỏ xác ngoài trận chiến vì những viên đạn AK ghim vào ngực , năm đứa con rồi mà vẫn bồ bịch lăng nhăng với mấy thằng cán ngố răng đen mã tấu, mất dạy…!
Tôi chợt nghĩ tới Bình, người chồng đầu tiên của Hảo mới ra trường Thủ Đức về trình diện tại Trung Đoàn 45, cây số 5 lối đi Nhatrang và Pleiku. Thời gian đó Hảo đang có bầu thằng Hùng đứa con đầu lòng, ấy vậy mà chỉ trong vài tháng hành quân, học tập với thực tế chiến tranh, súng đạn mưa rừng, nắng bụi. Tôi đã phải mang chiếc Dog xanh Không Quân chở xác Bình về nhà cho Hảo ngay tại bãi đậu trực thăng của biệt đội trực thăng 215 Thần Tượng trực thuộc Không Đoàn 62 Nhatrang . 
Tôi thương Hảo đứa em mới lấy chồng, ôm đầy hạnh phúc trong lòng nhưng đã vội đội khăn tang trong khi đứa con trong bụng. Tôi tưởng rằng đời Hảo đã yên, nhưng vài năm sau khi mãn tang chồng Hảo lại đi bước nữa với Tùng, Tùng là Sĩ quan Biệt động bạn học của Hảo ngày xưa. Tưởng yên, nhưng chưa yên, số Hảo vẫn không tự mình làm chủ được ha.nh phu c và định mệnh khắc khe, oan khiên bởi chiên tranh! Tùng bỏ lại cho Hảo thêm hai đứa con ra đi vĩnh viễn không kiếm được xác trong trận A-Sao, A lưới. Hảo khóc thảm thiết ôm ba đứa con về sống bên mẹ tôi một thời gian dài, rồi em tôi lại theo lời gọi tình bước thêm bước nữa với Thân. Nhưng 1975 đã đến Thân bỏ xác ngoài rừng thiêng trong lao tù và Hảo ôm tất cả đau thương quằn quại với 5 đứa con quay lại Ban Mê Thuột sống bên cạnh anh em ôm kỷ niệm buồn một đời…!
Tôi nhìn Hảo đi nhanh về phía tôi với lòng trắc ẩn giận, thương lẫn lộn, nhưng khi Hảo tới gần, cười trong sự mừng rỡ, đã làm tôi quên đi nỗi xót xa tưởng chừng không nguôi cho số phân người em bạc phước nhưng đã lắm cuộc tình gian truân. Hảo vẫn ôm lấy tôi như ngày anh em thời tuổi dại:
–      Anh về bao giờ mà không phone cho em biết vậy? Mẹ dặn hôm nay anh mày về Ban Mê Thuột, nếu mày có đi đâu cũng nhớ phải đón anh mày, kẻo nó không mang được hai chiếc vali quần áo.
Tôi nhìn Hảo.
–      Anh đâu có mang theo gì ngoài cái túi đeo vai, và chiếc vali nhỏ có bánh xe kéo dễ ợt …!
–      Mẹ nói anh mày già rồi…! Tóc nó trắng như bố mày. Tụi mày phải đi đón nó
cho mẹ. Vậy là em phải đi đón anh, nếu không mẹ la nghe không nổi đâu. 
–      Mẹ lúc nào mà không vậy, mẹ gần trăm tuổi rồi, các em phải chiều mẹ mới được. Kẻo sau này mẹ mất đi sẽ hối hận…! Khi mẹ mất rồi, các em sẽ cầu mong nghe được câu la mắng cũng không có đâu…!
–      Ai ma không biết vậy… Nên từ khi ở Mỹ về tới giờ, Mẹ như nữ hoàng..! Cơm đút nước dâng, chẳng ai dám trái ý..!
       Tôi nhìn người tài xế bước tới cúi đầu chào không nói lời nào, trong khi người đàn ông tiến tới bắt tay tôi và tự giới thiệu:
–      Tôi tên Nương.
–      Tôi Nguyên. Anh của Hảo..
Trong khi Hảo nhìn tôi, rồi quay qua người đàn ông tên Nương. Hảo không giới thiệu, trái lại bằng một cử chỉ thân mật, Hảo ôm vai người đàn ông, và một câu nói nghe lạ tai đối với tôi :
–      Đố anh Nguyên biết ai đây…? Hai ông đứng gần nhau cứ như anh em ruột, sao mà giống thế…!
Tôi lắc đầu trong khi liếc nhìn người đàn ông có vẻ trẻ hơn tôi gần chục tuổi.
Tôi nhìn Hảo chừng chừng, giọng mỉa mai :
–      Anh chịu thua, vì anh chưa bao giờ gặp mặt ông bạn đây. Mà dường như anh bạn đây là đại gia quyền thế của đảng Cộng Sản, nên em quen biết phải không?
Hảo vẵn giữ nụ cười và làm như không thấy đôi mắt giận của tôi, Hảo nói với người đàn ông tên Nương:
–      Anh Nguyên đã ở Mỹ lâu rồi, chẳng biết ai là họ hàng cả. Anh Nương cũng qua Mỹ mấy lần rồi đó. Anh Nương cố kiếm anh nhưng sao hai ông không gặp nhau? 
Tôi chợt nghĩ tới lời mẹ kể khi mẹ còn ở Mỹ về người chị họ của mẹ ở ngoài Bắc, tôi nghĩ thầm.
–      Chẳng lẽ thằng tư bản đỏ này là con bà quản Trâm? Nếu đúng thì đám anh em thằng này đều là con bác Tựa Cộng Sản thứ gộc.     
Với ý nghĩ này tôi bắt đầu che dấu tư tưởng của tôi qua sự yên lặng thế thủ và nghi ngờ thằng anh họ quái gở, trong khi Hảo cười lớn. 
–      Đây anh Nương con bác Tựa ở làng mình, cháu ruột của mẹ. Hảo quay qua anh Nương  Sao anh Thấy anh Nguyên giống anh không? Hai ông mà đi với nhau ai cũng nghĩ rằng hai ông là hai anh em ruột cho mà coi.
Tôi chợt nghe người lạ tên Nương lên tiếng:
–      Nhìn anh giống cái hình của chú Ký Sê ghê đi, nếu giống chú thì tôi và anh đã 90% giống nhau.
Tôi nhìn anh Nương, chào xã giao:
–      Ổ anh biết cả tên húy ca cha tôi ?
–      Mẹ tôi thường gọi chú là chú Ký Sê, Nghe mẹ tôi kể là chú hồi xưa làm thư ký, và bắt chúng tôi vào Nam kiếm cho được chú.
Tôi quay nhìn thẳng vào mặt người anh họ tên Nương, và giả giọng vui vẻ hỏi:
–      Tim cha tôi để thủ tiêu ông phải không? Hồi trước Ông là Thư ký Quốc Dân đảng tỉnh Hà Đông và thêo Pháp…! Anh ti`m trễ rồi…! Cha tôi bỏ xác xứ ngoại mấy năm nay rồi..!
Hảo lắn đầu nhìn tôi ái ngại, trong khi Nương im lặng.
–      Anh Nguyên nói gì kỳ cục vậy ? Anh Nương kiếm để nhận họ hàng đó!
Tôi khảo lấp câu chuyện không hay vừa nói ra với nguời Cộng Sản anh em, bằng câu hỏi:
–      Anh là con bác Tựa ở làng Thành Lập gần nhà bà ngoại tôi phải không ?
–      Phải tôi là út.
–      Tôi biết bác Tựa khi tôi còn nhỏ lắm…! Khoảng tám, chin tuổi gì đó..
Anh Nương nhìn tôi :
–      Ông già mất lâu rồi, Hồi c òn thực dân Pháp, lúc đó tôi còn trong bụng mẹ hai tháng…!
Hảo nhìn tôi nháy mắt.
–      Còn ba ông nữa lận, ông nào cũng làm lớn trong chế độ này ?
Trong lòng tôi bỗng sôi lửa hận, tôi đưa đôi mắt lửa nhìn em sau khi nghe câu "làm lớn trong chế độ hiện nay." , trong khi anh Nương thân thiện ôm vai tôi đi tới chỗ đậu xe. Anh tài xế vội vàng kéo cái vali nhỏ của tôi bỏ lên xe, và Hảo đi sau tôi. Tôi nhìn bàn tay của Anh Nương chợt nẩy ra ý nghĩ: "Bàn tay này có thể bóp cổ mình lúc nào mà mình không hay biết, nếu mình tin vào hắn!" Trong khi anh Nương không để ý tới ý nghĩ của tôi, hắn tự nhiên kể nể :
–      Nghe Hảo nói chú về tôi mới vào đấy chứ, nhân thể thăm bà luôn. Trong xóm chú ở trước toàn anh em con cháu của bà không hà. Nhưng tôi ít tới lắm, có khi hai, ba tuần xuống thăm bà một lần rồi đi ngay.
Hảo quay nhìn tồi khẽ lắc đầu:
–      Cả nhà chỉ có tôi là hợp với anh Nương, mấy ông bà kia khác tôi.
Sau khi ngồi lên xe tôi hỏi anh Nương.
–      Anh ở làng Thành Lập lâu không.
–      Ở đó từ bé, lớn lên đi bộ đội rồi 75 bộ chính trị đưa về Ban Mê Thuột, nhưng mãi tới năm 2005 mới nhận ra họ hàng…!
–      Tại sao vậy? Bộ anh không kiếm ra mẹ tôi à ? Năm1985 cha mẹ tôi mới qua Mỹ mà!
Anh Nương quay nhìn tôi buột miệng :
–      Kiếm chứ sao không ! Sau khi mẹ tôi, chị của mẹ chú nói rằng mày có bà cô họ gần trên Ban Mê Thuột , nghe đâu cô mày có nhiều con lắm, và giầu có mày kiếm cô cho mẹ, kẻo khi tao chết không gặp mặt.
Tôi liếc nhìn Hảo như dò ý rồi quay sang nói với anh Nương :
–      Bác còn nhớ tới mẹ tôi.
–      Ây, chị em chơi với nhau từ nhỏ, khi bà còn sống nhắc mẹ của chú hoài. Bà còn nhớ tên cô Mỹ và tên cúng cơm của chú, nên bà dặn cả ba anh em tôi
–      Nếu tụi mày về làm việc tại Ban Mê Thuột thì tìm cô mày, nó có hai đứa lớn, con gái là Mỹ, con trai là thằng Trống. Ba anh em cứ theo tên củ này hỏi chẳng ai biết. Sau này tìm được bà, tôi mới hiểu ra là chú Minh chồng cô Mỹ biết rất rõ nhưng không nhận chúng tôi.
Hảo thở dài xen vào.
–      Tại vì ba ông anh đều là làm lớn của chế độ, mà lúc đó anh Minh đâu có nghĩ rằng ba ông anh đi kiếm họ hàng, hay là kiếm để bắt bỏ tù, nên anh Minh nhà mình không nhận, và cũng không thích mấy ông anh cán bộ chính trị này, anh Nguyên biết không ! Chứ nếu anh Minh nhận thì ba ông sẽ gặp thày trước khi thày qua Mỹ rồi, tiếc thật!
Tôi vừa nói vừa nhìn người tài xế, và anh Nương để xem xét phản ứng của họ:
–      Anh Nương biết mà…! Dòng họ nhà mình chia hai Cộng Sản và Quốc Gia đánh lẫn nhau chí chéo, như gà bôi mặt để choảng nhau nên thân. Tôi còn nhớ trong làng họ nhà mình lớn nhất nối liền cả hai làng, Làng Thành Lập và Làng Vân. Chính vì thế mới có kẻ theo đạo Phật, người đạo Công Giáo, đạo Phật thì ở làng Vân, Công Giáo thì ở Thành Lập.
Đạo đời và Quốc Cộng khác biệt nhau từ cội rễ trong dòng họ nên giết lẫn nhau không kể tình ruột thịt.
Thú thực, tới thệ hệ chúng ta tôi không muốn cảnh nồi da xáo thịt như vậy nữa…! Cái cảnh thương tâm này chẳng lẽ kéo dài mãi từ thời ông cố, ông sơ nối tới thế hệ anh và tôi…! Anh nghĩ sao anh Nương ?
–      Thôi chú mày cứ vô tư đi. Chuyện đâu còn đó, mấy ông già xưa cổ lỗ.. Tôi và chú, anh em mình khác với những thế hệ trước…!  
Tôi ngạc nhiên vì hai chữ "Vô Tư" anh Nương vừa dùng. Tội hơi gằn giọng.
–      "Vô Tư" là sao, anh Nương ? Có phải là thôi mặc kệ cho dòng họ bôi mặt giết lẫn nhau…! Tôi chẳng sợ quái gì cảnh giết chóc này, nhưng tôi không muốn mà thôi. 
Anh Nương quay mặt nhìn thẳng tôi trả lới:
–      Tôi nói "Vô tư" có nghĩa là thôi bỏ qua đi, chuyện đâu còn đó, anh em ai mà giết lẫn nhau…!
Tôi chợt nghĩ tới lời cha tôi dặn : "Nếu con muốn làm chính trị, con phải biết giết anh em con trước, vì chúng sẽ không tha con." Tôi liếc nhanh qua mặt anh Nương và nghĩ tới thời còn bé, cái thời mà tôi không biết thế nào là hận thù, thế nào là anh em phản bội lẫn nhau đến nỗi phải từ nhau. Tôi chỉ hiểu lơ mơ rằng hồi đó tôi chạy theo cha ra cổng, và được mẹ tôi hốt hoảng cầm tay kéo lại ôm tôi vào lòng ở giữa sân, trong khi mẹ tôi khóc vùi ướt cả tóc tôi.
Ngoài đường nhóm theo cha tôi tay cầm gậy, cầm mác, hay bất cứ dụng cụ làm ruộng nào có thể cầm làm vũ khí giết người là họ cầm, và chạy theo cha tôi ra giữa cánh đồng làng để chém lẫn nhau không nương tay. Tôi đã nhìn thấy có kẻ máu chảy ướt mặt, có người ôm tay bị gẫy, có kẻ được cáng mang về bỏ nằm song soài giữa sân nhà của nội. Trong khi nội ngồi yên trên ghế trường kỷ trong nhà không nói lời nào, và từ đó căn nhà gác ba tầng sát bên nhà nội đã không bao giờ mở cửa sổ để ông Chánh nhìn qua truyện trò với ông nội như mọi ngày .
Tôi tò mò hỏi nội :
–      Nhà ông Chánh hồi này sao đóng mở cửa không mở nữa hả ông nội.
Những lúc tôi hỏi như vậy, tôi thấy mặt ông buồn và có vẻ giận lắm.
–      Từ nay cháu không được nhận anh em với nhà bên đó nữa nghe con.
–      Tại sao vậy ông ? Ông Chánh, mẹ con bảo Ông Chánh là Chánh Tổng
em họ của ông mà..
–      Đồ phản bội… ! Ông chỉ buông ra tiếng thở dài sau khi nói ra ba tiếng này rồi bỏ đi.
Trong thâm tâm tôi cứ thắc mắc hoài về chuyện ông nội tôi và Ông Chánh sao lại từ nhau…! Nhưng tôi đã không có cơ may để hỏi ông nội.
Thời gian trôi qua trong sự băn khoăn, giận ghim lòng của ông nội, tôi đã theo mẹ bỏ làng chạy giữa hai lằn đạn của hai bên Thực Dân Pháp và Việt Minh.
Tôi bỏ làng tan hoang trong cơn mưa bom đạn pháo, và tiếng thét gào ghê rợn của những người dân quê chết cháy trong lửa bom Napan. Xác người lăn lóc dưới cống rãnh, trên bờ ao và lềnh bềnh nổi trên mặt hồ trong khi nước loang màu máu.
Theo ngày tháng tôi càng xa dần quê nội mang theo nỗi nhớ trùng trùng.
Khi mẹ, và anh em tôi an bình bên cạnh chùa Pha Đen, chiều chiều nghe tiếng chuông ngân làm vui cuộc sống trong bần hàn cơ cực của mẹ. Mẹ tôi đã nuốt lệ tìm và chờ chồng nuôi con giữa thành phố Hà nội sa hoa đô hội thời thực dân Pháp.
Những ngày đó tôi thường ngồi thủ thỉ với mẹ, và có một ngày mẹ đã kể cho tôi nghe chuyện ông Chánh, và ông Nội tại sao phải từ nhau, mẹ tôi kể rằng :
–      Ngày đó ông tôi giàu nhất làng, có tới vài chụ mẫu ruộng tư điền do ông cố của tôi để lại, nên có tiền đưa cha tôi đi Hà Nội ăn học, nhưng cha tôi đã bỏ dở học hành theo kháng chiế n vào khu chống thực dân Pháp của thời thanh niên tiền phong, nhưng sau khi nhận biết được mặt trái của đảng Lao Động, Việt Minh, cha tôi bỏ khu về tỉnh chống Thực dân và chống luôn cái đảng mà ông đã đi theo, thế là cha tôi đều bị Cộng Sản và Thực Dân Pháp hăm doạ bắt được sẽ giết.
Ông nội tôi tuy có đất, có ruộng vườn nhưng ông không thích làm Chánh Tổng và tiếp tay với Thực Dân hà hiếp dân lành. Ông Kiệm bèn hỏi ông nội tôi cho mượn ruộng đất để thế chân làm Chánh Tổng, bởi vậy ông Kiệm mới có cái tên là ông Chánh. Sau khi làm chánh tổng ông Chánh lấy quyền cướp luôn đất ruộng của ông nội, ông nội đòi nhưng Ông Chánh không trả, lại còn báo cho Thực Dân, và Việt Minh biết cha tôi hoạt động chống họ. Từ đó cha tôi không bao giờ ngủ một đêm một nơi, và kiếm đường đi trốn biệt tích không về làng.
Cộng Sản đã phao nhiều tin thất thiệt về cha tôi như : Cha tôi đã bị Thực Dân bắn chết, hay đã bị Việt Minh bắt ổ chỗ này hay chỗ khác, hoặc có kẻ đã nhìn thấy xác cha tôi trôi song…!
Mỗi lần mẹ tôi nghe tin chẳng lành như vậy lại ngồi khóc âm thầm trong bếp, và lại tìm cách đi tới chỗ có tin đồn về cha tôi để hỏi thăm sự cố ra sao.
Một đêm du kích Việt Minh đã gõ cửa nhà tôi, họ mang mẹ tôi đi điều tra về cha tôi tới sáng mới thả về, khi về tới nhà, tôi nhìn thấy tay trái mẹ ôm tay phải bị gẫy, và thất thểu bước vào nhà ngã người trên giường khóc, anh em tôi thấy vậy chạy lại hỏi han, và cùng ôm lấy mẹ khóc ròng.
Từ đấy sau khi chữa khỏi cánh tay gẫy, mẹ tôi quyết tâm tìm cơ hội bỏ làng, nhưng không cho chị em chúng tôi hay, vì mẹ sợ lộ trong khi du kích cứ lảng vảng theo sát mẹ để mong bắt được cha tôi.
 
Quê tôi là vùng xôi đậu, sáng Thực dân pháp kéo về làng thỉnh thoảng bắt vài thanh niên để tra tấn hành hạ đến ngất ngư, rã rượi với mục đich hỏi ai là du kích Việt Minh trong làng, hoặc có thể bắn chết một vài người mà họ đã mang từ làng khác về, đôi khi họ bắn người trong làng để thị oai với dân như một trò chơi hàng ngày không thể không có của họ.
Mỗi lần thực dân Pháp về làng là sẽ có một vài thiếu nữ trong làng bị họ bắt mang vào chỗ kín, hoặc đem về đồn hiếp dâm tập thể, hay bắt buộc làm vợ của một tên lính lê dương. Đã có nhiều cô gái bị chết vì sự hành hạ nô lệ tình dục dã man, và xác bị vất xuống ao, hồ. Có kẻ đã mang thai và khi sinh ra thì đứa con oan nghiệt lại mang màu da đen, hay màu trắng pha trộn với màu da của mẹ, nên khác biệt với những đám trẻ trong làng, và càng làm cho ngươì mẹ đau khổ hơn, bởi những tia mắt nhìn soi mói của dân làng.
Những người đàn bà xấu số này đâu có được yên..! Bọn du kích tìm đến tra hỏi vì tội có con với thực dân Pháp, và người đàn bà này cũng lại bị du kích Việt Minh đe doạ khủng bố hang ngày, và chỉ còn cách duy nhất là mang thân ra trao đổi làm vui cho bọn quỷ sứ để được yên phận nuôi đứa con oan nghiệt, để rồi một đời nhịn nhục , một mình tủi thầm trong buồng vắng, và không ra khỏi nhà sau công việc bắt buộc ngoài đồng kiếm ăn cho sự sống còn…!
 Đêm xuống du kích Việt Minh về làng, bắt dân đi họp học tập kiểm thảo chống thực dân pháp, và thu thuế nuôi chiến binh. Nếu có ai vì mệt mỏi công việc đồng áng không thể đi họp, hoặc nghèo không thể đóng thuế sẽ bị du kích Việt Minh cho là phản động, và ghi vào sổ đen chờ ngày họ tới nhà bắt chủ gia đình vào giữa đêm đem di mất tích. Vài hôm sau dân trong làng sẽ nghe được tin có một xác chết trên cánh đông không có đầu, hoặc tin họ nhìn thấy cái đầu trôi trên sông Cái (sông Hồng).
–      Sao chú ngồi yên vậy? Chú Nguyên, tới nhà rồi đó, bà đang mò lên đưới dốc kia kìa.
Tôi quay lại nhì anh Nương và phóng mắt nhìn xuống dốc, tôi thấy mẹ đang vội vã chống gậy bước lên dốc một cách thoải mái khoẻ mạnh, tôi nói với Hảo.
–      Ồ, Mẹ vê VN ở có mấy tháng mà khoẻ ra, bước mau gớm…! Khi mẹ ở Mỹ ôi thôi, kéo mẹ ra khỏi nhà đi mấy bước cũng không được.
–      Mẹ còn lẩm cẩm không Hảo ?
–      Đâu có, mẹ minh mẫn quá trời, nhớ từng tên hơn ba chục đứa cháu.
Anh Nương quay nhìn tôi nói.
–      Bà về đây khoẻ lại thật đấy chú Nguyên. Chú để bà ở lại VN đi, bà già rồi chẳng ai hỏi han gì đâu. Khi chú Thanh đưa bà về tôi xuống thăm, bà nhận tôi là cháu ngay sau khi tôi kể tên mẹ của tôi. Mấy tuần đầu mới về bà có vẻ quên nhiều người họ hàng ngoài Bắc, bây giờ thì nhớ đủ thứ, mỗi lần tôi xuống là bà kể chuyện mẹ tôi, và mấy người bạn cũa của bà. Bạn của bà ngoài Bắc đã chết hễt rồi, chỉ còn bà là sống dai đáo để…!
Mẹ tôi đứng lại trước đầu xe, trong khi xe cũng vừa đừng lại. Tôi mở cửa bước xuống trong khi các chị em, cháu chắt tôi chạy ra vây quanh. Tôi ôm lấy mẹ, mẹ tôi cười mắng với giọng yêu thương:
–      Mày thì lúc nào cũng ôm lấy mẹ…! Mẹ mà mất rôi con ôm ai…? Con gìa rồi… Hơn sáu chục rồi mà như con nít … bỏ mẹ ra đi… hàng xóm nhìn thấy kỳ lắm…!
–      Mẹ nhìn đồng hồ thấy 6:00 giờ mà anh chưa về. Mẹ chống gậy định lên đầu dốc đứng chờ … Quế, em gái tôi nói.
–      Sao mẹ không ở nhà, trước sau gì con cũng về nhà mà…! Tôi nói với mẹ.
–      Quỷ..! Sao mà xe hôm nay đi lâu thế…! Mọi khi mẹ thấy 5:00 giờ là xe về tới bến .. Mẹ lên đầu dốc mấy lần, chẳng thấy con đâu cả.  
–      Anh Nương chở con về nhà em Hảo, để Hảo dặn con cháu sau đó Hảo theo con về đây nên trễ đó mà…!
Mẹ tôi nhìn quanh tìm Hảo.
–      Ôi giờì…! Con Hảo ai mà tin được nó…! Nó đi tối ngày…! Thằng ôn dịch Cộng Sản nào cũng anh anh, em em được.
Hảo nhìn mẹ tôi bất mãn ra mặt.
–      Con đi với anh Nương chứ đi với ai mà mẹ nói kỳ vậy.
–      Thì đi với thằng Nương, mà thằng nương không phải là Cộng Sản à..!
Anh nương cười xòa.
–      Con Công Sản bao giờ…? Sao cô biết…!
Mẹ tôi liếc nhanh anh Nương.
–      Mày không là Cộng Sản, thì bố mày là Cộng Sản…!
Tôi ôm vai mẹ, nói đùa cho anh Nương khỏi mích lòng.
–      Bà ơi bà…! Con cũng là con cháu Cộng Sản gộc đây…! Bà có ghét cũng huề vốn…! 
Anh Nương vào nhà, anh em nói chuyện với nhau những câu truyện về làng Thành Lập, làng Vân. Tôi hỏi thăm anh những người bạn cũ của tôi và hiểu rằng đa số những người bạn của tôi đã qua đời. Bỗng dưng tôi hỏi anh Nương:
–      Anh biết tên người nào là Mến, em của chị Mộ con bác phó Tập không ?
Anh Nương nhìn tôi thốt lời :
–      Trời đất, phone lúc nãy là phone của con bà Mến gọi cho tôi. Bà ta có năm đứa con, hai trai ba gái. Hai thằng con của bà Mến làm dưới quyền tôi ở gần sống Bé mà, khi nào rảnh tôi chở chú tới gặp thằng Khôi. Con lớn của bà Mến.
–      Bà Mến còn sống không ?
–      Mất lâu rồi! Chú quen bà Mến à? Mấy chục năm mà còn nhớ dai nhỉ !
Tôi gật đầu không trả lời anh Nương, trong lòng tôi tự nhiên vương lên hình ảnh cô bé hay khóc luôn chạy theo tôi bắt đền đủ thứ, và tôi cũng thường dắt Mến tới bên gốc gạo đuổi bắt bông gạo đỏ lìa cành rơi xoay xoay trên không, Đôi khi cùng Mến và các bạn chơi trò cưới hỏi trẻ con, những lúc chơi như vậy tôi luôn làm chàng rể và Mếm luôn làm cô dâu.
Thời gian đã qua thật nhanh, tôi bỏ làng năm mười tuổi xa Mến, bỏ làng đã hơn 50 năm, tuy nhiên mỗi lần nói tới làng Thành Lập là tôi chợt nghĩ tới cô bé khóc nhè dai dẳng ngày cũ, nước mũi chảy thò lò lấy tay quẹt ngang, mớ tóc dày rối bù luôn ôm vạt áo dạp chân xuống đất khi tức giận, và lẽo đẽo theo sau tôi bất kỳ chỗ nào. Hình ảnh làng Thành Lập luôn ẩn hiện trong tiềm thức với nóc nhà thờ cao vút, và những con đường dọc, ngang mà tôi đã một thời đi qua.
Ban Mê cũng là một đớn đau dài khôn nguôi khi thân xác tôi lớn lên và trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Ban Mê đã thay đổi không còn như những cô gái thượng hiền hoà ngày cũ, mà là một cuộc sống lam lũ nghèo khổ dưới sự che đậy bề ngoài bằng những dinh thự mới xây dựng của các tư bản đỏ Cộng Hưởng ăn cướp. Dân khổ nhục xả than chỉ mong sao kiếm nổi một bữa ăn tối cho đêm bớt lạnh.
Xã hội cộng Sản không có tình người, tôi chỉ nghe được hai tiếng"Vô tư" buốt lạnh từ miệng của những người Cộng Sản, và tiếng thở dài lén lút của dân.
Tất cả đã qua…! Thơ ấu không trở lại mà chỉ con tiếc nuối mơ hồ hồng hoang…! Tuổi xanh mộng mơ bội vã mất biến trong cơn lốc thời cuộc…!
Bây giờ nửa đời bến lạ ôm ký ức tuổi thơ về lối cũ…!
Những gì nắm chặt trong tay rồi cũng sẽ mất, thời gian sẽ làm mọi thứ đổi thay…!
Những người Việt hải ngoại cũng sẽ trở về khi không còn quân cưỡng chiếm, độc tài, và tôi sẽ mang tất cả sóng lòng vỗ mạnh vào nước phù sa Sông Hồng trào dâng vào ruộng đất quê tôi, để đất mềm bung lên xoá đi nỗi thương lòng dòng họ ngày cũ, những hạt cỏ dại tình người sẽ mọc, hoa sẽ đơm bông và tiếng chuông chiều lại ngân vang vọng như mơ trong sương chiều quê nội !
Quê Hương ơi… Có phải là nỗi đau dài?
 
San Jose Mar. 23, 2007
 



Chinh Nguyên : Tuyển Tập Thơ NỖI ĐAU DÀI

 

 TRÌNH  LÀNG…!

     Ba lần chạy tỵ nạn Cộng Sản, ba lần vội vàng bỏ lại tất cả những người thân thương, ôm theo kỷ niệm làm hành trang trải dài cho kiếp sống bèo trôi phiêu bạt làm thân tầm gởi…! Những vận mệnh trên xứ lạ hụt hẫng bàng hoàng, vất vưởng bon chen tìm sống, trong khi trước mặt như một thung lũng sâu mù sương, không mục kích được đâu là bến đậu của con thuyền đời có nhiều kỷ niệm bất trắc, phong ba luôn bị ám ảnh . 

    Tôi ôm trọn ấm êm tuổi thơ để nửa đời vẫn mường tượng những hình ảnh bàng bạc mênh mông, nhớ nhớ, quên quên ngày tháng cũ với con trâu, bờ tre, đường làng, con sông đỏ phù sa ngày nước lũ phủ đầy ruộng chiêm, và cánh đồng lúa xanh bát ngát gợn sóng dập dồn. Chiều xuống muộn đâu đây tiếng chuông ngân vang trong sương mỏng mờ đục, như cứu vớt những tâm hồn buồn phiền vào kinh nguyện, và đàn sáo bay ngang bầu trời sám, có tia sáng đang giẫy chết ở phía Tây .

    Ai cho tôi kỷ niệm thủa xuân thì với nụ hôn nồng cháy đỏ con tim, giữa mùa mưa rừng Cao Nguyên ray rứt khôn nguôi của tuổi học trò, trong khi chiến tranh rình rập kéo tuổi xanh tôi vào bão lửa, đạn thù. Tôi đã quay mặt chạy trốn đôi mắt đen sâu vợi vợi, khi hoa phượng vội tàn trong khói đạn chiến tranh bay vào thành phố, thay cho lửa hạ giữa trưa buồn thị xã Ban Mê, để xa em và mãi mãi muôn trùng mang theo niềm nhớ khôn nguôi !

    Ai cho tôi tình yêu, để chân mải bước đi nhưng lòng quay lại với tiếng Mẹ gọi âm thầm, nhưng dường như vang vọng bao phủ cả không gian, thời gian và thoát ra biển Đông thành sóng gào, tha thiết trong những đêm dài nhớ quê bên ánh nến và ly rượu tiếp tục rót đầy cả đau xót và nốc cạn.

    Tôi kéo lê theo đời mình hình bóng quê hương, tình yêu là biển nhớ như một Nỗi Đau Dài bằng cõi lòng quằn quại thương thân, tủi đời ly khách lam lũ và không bến lạ nào khả dĩ an bình cho tâm hồn.

    Mẹ Việt nước mắt vẫn ngắn dài trông ngóng con về với đôi tay gầy run rẩy, lạc lõng và bơ vơ, đau khổ nơi chính quê hương mình. 

    Cha vẫn lam lũ cong lưng cúi đầu trước bạo lực xiềng xích, như cõng cả phiến buồn đi vào cuối đời, và đàn em thất trí buông suôi mặc cuộc thế đẩy đưa…!

    Hãy lắng nghe lời Mẹ gọi ! Hãy nhìn lại quê hương đang điêu tàn và trả lại tôi những dấu yêu hạnh phúc giống nòi cùng lịch sử oai hùng xưa..!

    Nỗi Đau Dài trong tôi vẵn luôn mãi là phiến buồn khi đường về bị ngăn lối và giọt lệ lăn dài trên má khô của Mẹ…!

Cung phím kìa ai dạo, nguyệt mờ
Dòng sông còn đó lệ nhòa thơ
Lòng tôi trong đục suôi dòng nước
Hồn vẫn ngả nghiêng sóng vỗ bờ

Tôi chợt hiểu :
Thêm một người bạn, thêm một con đường .
Thêm một kẻ thù, thêm một bức tường .
Tha thứ nhưng không quên

Chính Nguyên

Xin click vào đây để đọc Nỗi Đâu Dài.

THỦA VÀNG SON

 Thủa vàng son tôi nhìn hoa quỳnh nở
 Cánh rung rinh như môi nở gọi mời
 Gió thoang thoảng hương mơ trên mái tóc
Tôi cúi đầu hôn nhẹ nhớ trong đời.

Thủa vàng son, tôi bỏ người ở lại
Lao vào đời đùa cợt với đạn thù
Ôm súng trận như đêm tình mật ngọt
Ngày tháng dài yêu dấu vào thiên thu

Thủa vàng son, người tình tôi cũng mất
Em đi rồi mộng vỡ cả ngàn xuân
Quỳnh héo úa dưới hỏa châu léo sáng
Lá lung linh sương lệ khóc ái ân…

Thủa vàng son, bây giờ là kỷ niệm
Tóc phai màu gợi nhớ cách hoa xưa
Em về đâu những mùa trăng xứ lạ
Lạnh buốt trong lòng đêm trắng nghe mưa…!

 


ỒI EM SANG SÔNG.

Anh Linh.

 tủi rượu, thơ.

 

                                          

NHẮN LỜI HỎI HAN

NIỀM RIÊNG.
Hồn tôi đó rung rinh theo cơn bão
Bão vào đời, bão loạn bão tha hương
Luôn khắc khoải đêm thâu cùng lệ nến
Hỏi lòng mình chia mấy đọan sầu vương

Muốn trút bỏ, nhưng sợ tình vỡ vụn
Tình quê hương, tình mẹ, nỗi yêu thương
Đành phải gánh dù lưng còng vai mỏi
Để mai sau không thẹn nhục cuối đường

Quê hương hỡi !!! Biển sau ngăn cách trở
Sao lòng người sâu thẳm lắm nghiệt oan
Đẩy tôi đi mỗi ngày them xa mãi
Cho mẹ buồn đêm trắng tủi khóc than

Đời đã hết..!! Tóc bạc chân đã mỏi
Trên đường về sẽ ngã giữa đêm tàn
Thôi đành thế không muốn nhìn tuyết phủ
Chẳng người than đẻ nghe tiếng hỏi han.

 

Chinh Nguyên

ỜI HÀ NỘI

Từ đó không ngờ giã biệt nhau
Đời ta khắc khỏai vạn nỗi sầu
Hành trang nặng gánh trong tâm tưởng
Ánh mắt em buồn tựa biển sâu.
 
Mơ bến thuyền ai nấp khói sương
Tóc em mờ ảo bóng Nghê Thường
Trong trăng sóng nước như màu mắt
Ta đứng trên bờ lặng nỗi thương

San Jose April, 6, 2009

 

 EM HÀ NỘI 

San Jose Fer 19, 2008

THƠ CHO NGƯỜI XỨ HUẾ

(Viết tặng cô UN và chú T )

Giữ chút gì rất Huế đi em
Thướt tha áo lụa dáng em mềm
Nón trắng chao nghiêng chiều đại nội
Huế đẹp như em. Huế êm đềm

Dịu dàng pha lẫn nét trầm tư
Huế tự ngàn xưa Huế bây chừ
Giọng nì, răng, rứa, mô, tê lạ
Huế ngọt như em tiếng ư hừ

Mây lửng lờ trôi khu Văn Lâu
Sông Hương xanh biếc mắt em sầu
Giọng hò ai hát chiều trăng đó
Chạnh lòng non nước vút trời sâu

Xa Huế bây chừ ai có thương
Còi xé màn đêm vọng nẻo đường
Sông xanh còn mái chèo khua vọng
Núi Ngự lồng trăng soi dòng Hương

Người đã xa rồi chừ ở mô
Buồn lên man mác bóng sông hồ
Ngựa xe thành quách chừ nghiêng ngả
Ai có đôi lần ghé cố đô

HVLY
10-2006

Tràng tiền mấy nhịp cõng niềm thương
Núi Ngự hơi sương khuất nẻo đường
Dòng nước buồn riêng suôi chảy mãi
Em đi ta ở nhớ mùi hương

Chẳng còn em nữa ! Ở nơi mô..???
Huế xưa bỏ lại bước giang hồ
Hoàng Thành hoang phế chôn lưu niệm
Mang tình gói lại bỏ Kinh Đô.

Chinh Nguyên
San Jose Fer. 19, 2009

BỞI VÌ EM LÀ QUÊ HƯƠNG

 

Bởi vì em là quê hương

Cho nên ngơ ngẩn mười thương như là

Tím ơi áo lụa em qua

Nắng trưa nhường lối cho tà tím bay

Hương Giang êm ả vòng tay

Ôm bờ phố đếm tháng ngày đục trong

Kể từ em bước sang sông

Lưng ong sáu nhịp eo thon thẹn thùa

Nón che má lúm tiền xưa

Nụ cười trong nón chớm mùa khuyết trăng

Thương mắt diệu ảo đêm rằm

Dỗi hờn tia chớp loé thầm càng thương

Thương lòng chuông đổ chiều sương

Làn da nguyệt quế gởi hương trang đài

Thương giọng trầm bổng Nam Ai

Dạ thưa mật rót vào tai thầm thì

Phấn thông rãi dấu tình si

Gối sông, Núi Ngự sá gì nắng mưa

Trúc gầy xõa mái tóc thơ

Trót thương từng sợi đợi chờ nhện giăng

Thương vòng đeo ngón búp măng

Nắng rây má phượng em cầm lòng tôi

Cơm bưng nước rót em mời

Đắng cay lẫn với ngọt bùi vẫn vui

Bây giờ nơi chốn xa xôi

Nhớ em, nhớ Huế, nhớ trời quê hương

 

 

 

 

  

VÌ EM TA BUỒN

                         *Chinh Nguyên

 

 

Nhớ người lệ trải dòng Hương
Buồn trôi tìm biển niềm thương gọi là
Phiến sầu chao đảo chợt qua
Long lanh bóng nước áo tà gió bay
Ước thầm nắm lại bàn tay
Gọi cơn tình cũ, xót ngày mắt trong
Nhìn em ngồi lặng bên sông
Mắt cười, môi chúm, ngón thon thêu thùa         

Lỡ rồi…! Chết cả chiều xưa
Lá thu ngày đó úa mùa tuyết trăng
Ai ơi huyền ảo tơ rằm
Sao đem tiếng trúc khóc thầm nỗi thương
Nỉ non hoài vọng đêm sương
Hồn mê  thoang thoảng mùi hương Vu đài
Ai về còn nhớ chăng ai
Có nghe tiếng gọi bên tai xuân thì
Của ngày nuôi mộng tình si
Trao môi ân ái…! Tiếng gì trong mưa ???
Tóc em buông xõa nhòa thơ
Làm dòng tơ vỡ, sợi chờ kén giăng
Chao ơi! Mười tháp bút măng
Mềm như nhung lụa cuốn trầm hồn tôi
 Nhớ sao, hoa hé nụ mời …!
Hoàng Anh giọng hót xẻ bùi xớt vui
Hết rồi em biệt xa xôi
Yêu em, thương Huế thắp trời huyền hương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

HUẾ VẪN DỄ THƯƠNG

Hồ Đắc Thiếu Anh

 

Mấy năm xa, mấy năm xa

Nhớ về quê mẹ lòng da diết buồn

Chừ về Huế vẫn dễ thương

Nắng hanh rải ấm nẻo đường em qua

Cây sầu đông mới trổ hoa

Màu tim tím nhớ tuổi ngà ngọc xưa

Qua Thừa phủ nhớ chiều mưa

Nước loang áo lụa thẹn khua mái chèo

Gió chiều lay đọt cau xiêu

Bài thơ thôn Vỹ chín chiều nhớ nhung

Trường tiền uốn nhịp trên sông

Tháng năm gởi bóng trong lòng nước trôi

Tiếng chuông vang vọng lưng trời

Bảy tầng tháp cổ bồi hồi tích xưa

Thăng trầm bụi phủ cung vua

Hài in gót ngọc mấy mùa rêu phong

Cẩm bào lạnh nhớ sân rồng

Quan chầu tượng đá xót lòng cố nhân

Cõi phù vân cõi phù vân

Về thăm quê lại tần ngần nhớ quê

Nhớ trăng theo gót chân về

Gió lay cành trúc tóc thề nhẹ bay

Chừ em cánh hạc hao gầy

Về thăm để nhớ vơi đầy Huế ơi.

 


 

 

 

  

 

 

TÌNH ĐẦY MỘNG ƠI

                  *Chinh Nguyên

Thôi rồi sao lỡ chia xa
Dòng thơ vẽ  nhạt  nét da phấn buồn
Huế ơi… mật ngọt gói thương
Dòng Hương soi gót bước đường O qua
Mê say mùi tóc hương hoa
Cài bông sắc tím tháp ngà ước xưa
Theo em dong duổi ngày mưa
Nhìn thuyền run rẩy sóng khua  dầm chèo
Giọt buồn từ lá cây xiêu
Nhỏ trên vai lạnh hồn chiều tơ nhung  
Xoay xoay triều nước lòng sông
Cô đơn chiếc lá giữa dòng  xoáy trôi
Sáo bay , mây cuộn chân trời
Nghe như tiếng vọng những lời yêu xưa
Hoàng thành  rêu phủ cung vua
Tường loang, vách đổ xót mùa thu phong
Mái hiên còn đó chân rồng
Trơ vơ tượng đá tủi lòng chinh nhân
Buồn ơi…! Loài sói cẩu vân.!

Thương quê cho lắm, ngại ngần với quê
Yêu em mộng mị đêm về
Bước ra từ cõi non thề sương bay
Tóc mai vương phủ vai gầy
Hôn em mới biết tình đầy mộng ơi…!

 San Jose April 2, 2009



 

 

 

 

 

HỎI NGƯỜI

Tưởng mãi Văn Lâu mờ bóng nguyệt…!
Tơ sầu, tóc chớm tủi màu phai,
Đâu đây trong gió mùi hương phấn,
Thương Huế… hò ơi… tiếng thở dài. 

 

 

San Jose April 1, 2009. 

 




MẠC LY CHÂU VĂN THI SĨ NHÀ BÁO CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG

MẠC LY CHÂU  VĂN  THI SĨ NHÀ BÁO CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG SĨ QUAN QUÂN LỰC VNCH NGƯỜI TUẪN TIẾT VÌ CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA

Mạc Ly Châu tên khai sinh là Phạm Đức Lợi sinh năm 1932 tại làng Hiếu Thiện huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình là trưởng nam của lãnh tu đảng Duy Dân  Thái Lĩnh Phạm Đình Liệu Ngay từ thủa còn cắp sách đến trường những năm đầu của thập niên 50 Mạc Ly Châu đã làm thơ viết văn và nổi tiếng  liền. Từ đó cho tới ngày tuẫn tiết lúc 43 tuổi Mạc Ly Châu không rời cây viêt

Năm 1954 mới 22 tuổi Mạc Ly Châu bị gọi nhập ngũ khóa 5 trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức  và lên đường nhập ngũ một cách  ung dung thanh thản

Mặc dầu gia nhập quân đội rồi nhưng Mac Ly Châu vẫn không rời cây viết, anh được nhà thơ Trần Việt Hòai[trưởng nam của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải] tổng thư tòa soan nhật báo Dân Chủ đăng môt lọat  ba truyện dài Lộng Gío , Diễm,Nắng Tắt Trên Làng Mai tạo ra một hiện tượng văn nghệ gây sôn sao dư luận một thời

Cùng với việc viết văn Mac Ly Châu còn  hợp tác với Phan Lạc Tuyên,Hồ Nam, Kiêm Đat sáng lập ra nhóm Văn Hóa Lac Việt phát động phong trào’’phuc họat văn hóa dân tộc để nước nòi Việt mau  hôi nhập với thời đai’’ cùng năm châu bốn biển  tồn tại và phát triển.Nhóm Văn Hóa Lạc Việt đã xuất bản một lọat sách và cuốnTìm Hiểu Thơ Tự Do gây được  khá nhiều ấn tượng nơi người đọc

Là sĩ quan quân đội quốc gia rồi quân lực VNCH  Mac Ly Châu đã chọn chuyên ngành tình báo và được cử đi Mỹ học ngành này đẻ về dạy trường Cây Mai[trường chuyên đào tạo sĩ quan tình báo cũa quân đội VNCH] không nhữngMạc Ly Châu dạy  ngành tình báo mà còn dạy luôn tiếng Anh nữa

Mạc Ly Châu là con người chịu khó học anh không chỉ giỏi tiếng Anh mà còn giỏi tiếngPháp tiếng Nhật tiếng Hoa anh đã viết những thiên khảo luận nổi tiếng ký các bút danhPhạm Việt Châu, Phạm Chi Lăng như thiên khảo luận Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đăng liên tiếp nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa từ năm 1969 tới năm 1974   gây sôn sao trong giới văn hóa vì có nhiều khám phá mới về các dân tộc Việt và nguồn gốc đáng tự hào của dân tộc Việt Nam xưa

Cùng với Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh ,Mac Ly Châu còn xuất bản tập khảo luận Tìm Hiểu Thi Ca Miền Núi cũng rất được văn giới chú ý

Ngòai viết văn làm thơ ra Mạc Ly Châu còn là một kịch tác gia anh đã sáng tác nhiều vở kịch và đã xuất bản hai vở kịch Lọan và Máu,Giông Tố Đêm Giao Thừa những vở này đều được  dàn dựng công diễn  nhiều lần,rất đựơc người xem tán thưởng vì nó không những đầy kịch tính mà còn mang nhiều trăn trở của con người thời đại

Mặc dầu đam mê viết văn làm thơ viết báo[có lúc Mạc Ly Châu là cây bút bình luận trụ cột của nhật báo Chính Luận]nhưng nhà văn nhà thơ nhà báo của chúng ta vẫn không quên nhiệm vụ của một sĩ quan tình báo có hạng trong quân lực VNCH nên có lúc là trưởng một phái đòan quân lực VNCH  trong ban Liên Hợp bốn  bên thi hành hiệp định Paris ra Hànội nhiều ngày để thi hành hiệp định Paris

Trong ngành quân báo quân đội VNCH tuy Mạc Ly Châu chỉ mang quân hàm trung tá nhưng từng làm Trưởng Ban Nghiên Cứu Chiến Lược-Khối Quân Báo-Phòng Nhì  Bộ Tổng Tham Mưu quân lực VNCH rồi biệt đòan trưởng biệt đòan quân báo 101 của quân đòan 3 quân lực VNCH

Dù là một sĩ quan tình báo biết rõ tình hình quân lực VNCH nhu thế nào lại có chân trong ban Liên Hợp 4 bên dư điều kiện để di tản nhưng Mạc Ly Châu còn là một chiến sĩ cách mạng anh không bỏ chạy và với tinh thần’’ còn nước còn tát’’ quyết sống chết một phen với cộng sản cho đến ngày 5 tháng 5 năm 1975 Mạc Ly Châu thấy tình thế quá tuyệt vọng và không chấp nhận đi tù Cộng Sản anh đã tuẫn tiết tại tư gia để trọn nghĩa với quân lực VNCH

Con người Mạc Ly Châu  tuy chỉ sống trên cõi đời này có 43 năm nhưng đã không ngừng nghỉ sáng tác  viết văn làm thơ viết báo liên miên họat động không  mệt mỏi cho sự phát triển  của  Chủ Nghĩa Duy Dân và đường lối cách mạng dân tộc của  lãnh tu Ly ĐôngA  anh chết đi để lại hai di cảo quan trọng là tập thơ Dạ Lan Hương và tập biên khảo Quân Lực Cộng Sản Việt Nam[tập biên khảo này Mạc Ly Châu viết  với sự trợ giúp của những chuyên viên  Ban Nghiên Cứu Chíến Lược Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa]

Mạc Ly Châu không chỉ viết bằng tiếng Việt mà còn viết bằng tiếng Anh, tác phẩm Giai Đọan Không  Ảnh do Mạc Ly Châu sọan bằng tiếng Anh đã khiến anh đươc quân lưc Hoa Kỳ tưởng thưởng Lục Quân Bội Tinh

Cái chết ‘’tuẫn tiết’’ của Mac Ly Châu là tấm gương sáng của một nhà thơ nhà văn nhà báo chiến sĩ cách mạng và sĩ quân quân lực VNCH  thà chết chứ không chịu nhục

HỒ NAM

KHÓC MẠC LY CHÂU

Khóc bạn lòng tự hào

Thơ văn như cuộc đời

Dám sống và dám chết

Cho tương lai giống nòi

Nòi Việt luôn bất khuất

Trăm Việt một gốc thôi

Sử Việt luôn sáng chói

Những hi sinh  nước nòi

 

Chúng ta không lạc ngũ

Sống hiên ngang giữa đời

Rửa nỗi nhục  nước nhỏ

Đứng vững để làm người

Những con người Nhân chủ

Người mãi sáng danh người

Hoa sẽ nở trên máu

Dù thảm kịch liên hồi

Con người phải tồn tại

Giữa thế giới ác ma

Con người phải thăng hoa

Với thơ ca nghệ thuật

 

Anh mãi còn sống đời

Trong linh hồn bất khuất

Anh chẳng hề lẻ loi

Nghìn năm sử còn chép

VƯƠNG TÂN

TRÍCH THƠ MẠC LY CHÂU

THU VỀ

Tháng ngày trôi trên lối mòn giá rét

Nắng lên tơ,đêm biếc lá cuồng mê

Em hiểu rồi trăng lọt lòng đã khuyết

Gió run run thoi thóp chuyển lời đi

 

Câm lặng đấy mà buồn đây mải miết

Đường trần gian  ôi tàn bạo thu về

Em ngỡ ngàng dẫm trên ngàn lá chết

Lòng mang mang tâm sự  trĩu tim thề

Đừng có nói chàng ơi lời vĩnh biệt

Đi là di thôi má ấp môi kề

Đi là đi,duyên lành xưa đã hết

Cười cho tan niềm u uất sầu ly

 

Rượu đưa nhau men xuân đời bất diệt

Thấm vô lòng,say khướt có cần chi

Gươm thần đấy,hãy khơi dòng suối huyết

Dưới trăng tà tin thép óng như mi

 

Hố mắt đọng một nguồn thương da diết

Khoan khoan lời…e ấp dáng xiêm y

Chàng ,chàng ôi!

Nhưng muôn ngàn lá chết

Đã tơi bời rơi ngập lối người đi

GIƯƠNG HƯƠNG

Thơ xanh như lá

Trải xuống giuờng hương

Nằm vô mát mát lạ thường

Với lòng bốn biển

Nguôi sầu ngàn phương

 

Dịu dàng nhị cổ lên cung bậc

Thánh thót lời ca xưa

Ai ngỡ nguồn cũ  thức dậy

Gói gầm,sóng vượt bờ

 

Thơ dù xanh như lá

Rũ áo đứng lên tìm biển cả

Ngàn thông vi vút tiếng nhị hồ

Ta về nghe rộn hồn gỗ đá

Nhịp bước người xưa còn thóang trong mơ

Ai hay máu thắm bóng cờ

 

Giừng hương bỏ đó

Đứng dậy đi theo nhịp đời

Gió Xuân Thu bừng thổi

Máu đỏ dãi lên lời

Thơ chẳng xanh hơn lá

Thơ bạo cuồng hồng tươi

 

Bao giờ sóng lặng

Dừng chân mái nhỏ bên đường

Hái thơ trên chòm vây biếc

Trải xuống giường hương

Nằm vô mát mát lạ thường

MẠC LY CHÂU

 




ĐÀO MỘNG NAM NHÀ NHO CUỐI MÙA CHẾT BẤT ĐẮC KỲ TỬ

ĐÀO MỘNG NAM NHÀ NHO CUỐI MÙA CHẾT  BẤT ĐẮC KỲ TỬ



Tôi gặp Đào Mộng Nam lần đầu tại trụ sở Đàm Trường Văn Nghệ Chủ Quan Viễn Kiến của nhà văn Nguyễn Đức Qùynh ở đường Phan Thanh Gỉản gần chùa Từ Quang của hòa thượng Thích Tâm Châu vào những năm cuối của thập niên 50.Anh Qùynh nói với tôi rằng cái chàng trai hai mươi tuổi người nhỏ thó tên Đào Mộng Nam Bắc Kỳ di cư này mới sáng tạo ra một phương pháp học chữ Hán tốn rất ít thời gian người theo học   không cần thông minh lắm chỉ cần chăm học một chút thì không tới một năm có thể đọc thông viết thạo chữ Hán

Luật sư Nghiêm xuân Hồng con rể cụ Hồng Lô Tự Khanh Nguyễn Trác một một bậc đại khoa Nho học  cũng là người khá giỏi chữ Hán nghe anh Nguyễn Đức Qùynh giới thiệu Đào Mộng Nam như vậy đã tò mò hỏi Đào Mộng Nam học chữ Hán ở đâu mà sáng tạo ra phương pháp học chữ Hán chỉ mất thời gian một năm mà đọc thông viết thạo.đượcChàng trai hai mươi tuổi Đào Mộng Nam thú thật là mê chữ Hán từ nhỏ tìm nhiều thầy để học chữ Hán ngòai thời gian  làm gia sư kiếm ăn để có tiền mua sách tự học luyện thi tú tài là học chữ Hán.Người thầy cuối cùng Đào Mộng Nam theo đuổi ‘’dùi mài’’ chữ Hán là nhà nhoLâm TuyềnDã Phu Phan Vọng Húc[thân phụ nhà thơ Phan Lạc Tuyên]nhà ở gần Ngã Ba Ông Tạ nhưng Nam thấy cứ học  theo phương pháp Tam Thiên Tự học thuộc từng mặt chữ một thì đúng là phải mười năm mới đọc thông viết thạo đượcchữ Hán nên Nam đã học thuộc 140 bộ chữ Hán và từ 140 bộ này triển khai ra tra tự điển và đọc và viết chữ Hán thật không ngờ đã đọc được cả văn ngôn lẫn bạch thọai chỉ trong vòng sáu tháng và sung sướng hơn nữa đọc lầu lầu truyện Tam Quốc chí bản chữ Hán cũng chỉ sáu thang mà thôi

Nghe Đào Mộng Nam nói luật sư Nghiêm xuân Hồng gật gù có vẻ thích thú lắm ông nói với Nam rằng’’Thế hệ trẻ Việt Nam sắp tới cần phải có căn bản Hán Nôm mới tiếp nối được truyền thống văn hóa dân tộc để hội nhập vô thời đại thỏai mái,mất truyền thống văn hóa dân tộc mà hội nhập vô thời đại coi như mất gốc ,mình ủng hộ việc đưa chữ Hán  trở lại với giáo dục như một sinh ngữ nhưng phải với phương pháp học đơn giản và giúp người học dễ tiếp thu’’

Giữa năm 1964 sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ chế độ Dương văn Minh bị ‘’chỉnh lý’’ Nghiêm xuân Hồng làm bộ trưởng phủ thủ tướng của chính phủ NguyễnKhánh ông có nhờ tham chánh văn phòng Lê Linh đi kiếm Đào Mộng Nam để triển khai chương trình dạy chữ Hán cho lớp trẻ .Khi Lê Linh gặp Đào Mộng Nam thì  Đào Mộng Nam đã  hòan thành giáo trình Tự Hoc Chữ Hán mà Đào Mộng Nam gọi là chữ Nho gồm ba cuốn in ronéo và Đào Mộng Nam đã được nhà chùa dành cho một gian phòng làm chỗ dạy thực nghiệm chữ Nho theo phương pháp Đào Mộng Nam,Không những nhà chùa cho Đào Mộng Nam địa điểm mở lớp dạy chữ Hán mà còn mời Đào Mộng Nam vô dạy chữ Hán ở Phật Học Đường Huệ Nghiêm rồi Phật Học Đường Qủang Đức nữa

Bẵng đi một thời gian không gặp Đào Mộng Nam đầu năm 1970 tôi gặp lại Đào Mộng Nam trên đường Lê Lợi Nam cho biết lúc này dạy chữ Hán ở hai trường đại học Huế và Vạn Hạnh  đồng thời cho ra đời nhà xuất bản Nguồn Sáng  tặng tôi một lô sách Nguồn Sáng  mới xuất  bản trong đó có bộ’’Nho Văn Gíao Khoa Tòan Thư và bộ Tự Hoc Chữ Nho [5 cuốn] của Đào Mộng Nam và ba cuốn sách của Linh Mục Kim Định gồm Kinh Dịch Linh Khảo,Triết Lý Cái Đình,Lạc Thư Minh Triết.Hỏi ra  mới biết lúc này Đào Mộng Nam đang  làm công việc văn hóa mà chàng ta hằng theo đuổi với linh mục Kim Định và có vẻ hứng thú lắm vì đã  được hai Viện Đại Học Huế và Vạn Hạnh mời dạy chữ Nho

Thế rồi ngày 30 tháng tư xẩy ra VNCH tan  rã ,tôi không được tin tức gì về Đào Mộng Nam nhưng một bữa  vào năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi tôi gặp lại Nam trên hè phố Saigon Nam đang đi với một người bạn Mỹ thấy tôi liền rủ đi ăn bánh tráng phơi  sương  cuốn thịt chấm mắm nêm và bánh canh Trảng Bàng. Trong bữa nhậu Nam tiết lộ với tôi lúc này Nam làm thơ và dịch thơ Cao Bá Qúat đồng thời dạy môn Việt Nam học ở một số trường Đại Học tại Mỹ

Khi  men rượu bia ngà ngà Đào Mộng Nam có ngâm cho tôi nghe bài thơ’’Nguyên Tiêu Khóc Cao Bá Qúat’’ mà tôi thích nhất hai câu

Van thủa  văn chương còn chẳng nát

Muôn đời thần khí lẽ nào tan

Tôi hỏi Nam về nước làm gì Nam không dấu diếm gì cả là Nam về nước chỉ có một mục đích duy nhất là đi ‘’điền dã’’ sưu tầm thơ chữ Hán’’di cảo’’ của  Chu Thần Cao Bá Qúat và đã tới Phú Thị [Gia Lâm Hà nội] quê hương Chu Thần Cao Bá Qúat sưu tầm được nhiều ngàn bài thơ chữ Hán của Cao Bá Qúat và dịch ra thơ lục bát song thất lục bát thất ngôn hơn một ngàn bài

Từ đó mỗi lần về nước Nam thường tới tìm tôi khoe những khám phá mới của Nam về Cao Bá Qúat và nói về  bộ Cao Chu Thần tòan tập Nam đang sọan thảo sẽ xuất bản khi hòan thành thình lình cuối tháng tám đầu tháng 9 dương lịch năm 2006 đọc các báo điện tử Người Việt và Việt Báo xuất bản ở Mỹ tôi thấy tin  Đào Mộng Nam qua đời chính sác vào thời gian nào không ai biết chỉ biết Đào Mộng Nam sống một mình trong một căn hộ chung cư ở cuối đường Mc Fadden thành phố Tustin[bang California] một ngày cuối tháng tám năm 2006 cảnh sát được hàng xóm của Đào Mộng Nam thông báo từ căn hộ của Đào Mộng Nam đang khóa cửa  bên trong mùi tử thi    phân hủy đang tỏa ra cảnh sát đã phá cửa vào căn hộ và tìm thấy sác Đào Mộng Nam nằm gục dưới sàn nhà một phần đã bị phân hủy

Theo báo điện tử Người Việt thì sau khi lo tang lễ cho Đào Mộng Nam xong thân nhân của Đào Mộng Nam  sẽ cho ấn hành ‘’Cao Chu Thần tòan tập’’  trong đó có bản dịch hơn ba ngàn bài thơ chữ Hán của Đào Mộng Nam.Trong Cao Chu Thần tòan tập ngòai phần dịch thơ Cao Bá Qúat ra Đào Mộng Nam còn viết về thơ Cao Bá Qúat con người Cao Bá Qúat và cuộc cách mạng nông dân do Cao Bá Qúat phát động tư tưởng Cao Bá Qúat và những tập dại thành của Cao Bá Qúat về văn hóa Việt Nam

Cái chết ‘’đột tử’’ của Đào Mộng Nam làm tôi sao xuyến trong lòng mất mấy ngày và luôn nghĩ về những điều Đào Mộng Nam nói trong một lần gặp gỡ’’Văn hóa Việt là nền văn hóa dung hóa và chuyển hóa chúng ta đã dung hóa được văn hóa Nho Lão của Trung Hoa Phật giáo của Ấn  Độ thành Văn Hóa Tam Gíao Đồng Nguyên ngày nay học gỉa Hồ Hữu Tường đã gợi ý tổng hợp ba nền văn minh chính ủy ,kỹ sư và tu sĩ của thời đại thành nền văn minh Việt Nam hiện đại…’’



HN

KHÓC ĐÀO MỘNG NAM



Trăm năm đã lỗi hẹn

Đời còn mấy trang sách

Chỉ có thơ đáng kể

Ôi những vần tịch mịch

 

Nỗi cô đơn đêm dài

Mênh mông trăng viễn xứ

Ly rượu khuya bầu bạn

Giấc mơ nào có em

 

Tàn canh nhìn trời sáng

Bâng khuâng trời lưu vong

Ôi !mệnh đời ‘’bèo giạt’’

Ôi! Thân phận long đong

 

Thơ vẫn còn trôi nổi

Trước đao kiếm cuộc đời

Thơ vẫn còn lận đận

Qua bao kiếp luân hồi

 

Khóc nhau hết nước mắt

Uống cạn chén rượu suông

Nhìn lại vầng trăng cũ

Nhớ bạn bè không cùng



VƯƠNG TÂN




Hồ Nam : NGUYỄN VỸ NHÀ THƠ BÂT HỦ NHÀ VĂN HÓA LẪY LỪNG

NGUYỄN VỸ NHÀ THƠ BÂT HỦ NHÀ VĂN HÓA LẪY LỪNG

Nguyễn Vỹ sinh năm 1910 tại làng Tân Hội huyện Đưc Phổ con một vị quan Nam Triều vào loai tầm cỡ nhưng vì ông chống Pháp đã từ quan.Nguyễn Vỹ học xong tú tài ra đời viêt báo làm văn làm thơ.Hai mươi bốn tuổi xuât bản tập thơ đầu tiên bằng hai thư chư quốc ngữ và Pháp rồi làm chính trị chống Pháp bi Tây bỏ tù sau qua chống Nhật bị Nhật bắt nhốtVề văn chương Nguyễn Vỹ là bạn đồng hành với Trương Tửu và sáng lập ra trương thơ Bach Nga một trương thơ ảnh hương thơ Pháp do ông làm chủ soái

Với kiến thưc rộng và bách khoa Nguyễn Vỹ đã nổi đình đám khi chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông và và nổi danh với những mục Mình ơi và Tuấn chàng trai nươc Việt

Nguyễn Vỹ viêt tiểu thuyêt không thành công lắm nhưng viêt hồi ký nhât la tập hồi ký về những nhà văn nhà thơ tiền chiến thì lai rât thành công vì trung thực và dám viết những điều thiên hạ né tránh

Nguyễn Vỹ là ngươi đa tình có nhiêu vơ và một chuyến từ Saigon đi thăm vợ nhỏ ở Mỹ Tho ông đã tử nạn trong môt tai nạn xe hơi ở Cầu Voi Long An  vào năm1971

Tổng kêt cuộc đời thơ văn của Nguyễn Vỹ chúng ta thấy rõ ràng qua tác phẩm Tuấn chàng trai nươc Viêt Nguyễn Vỹ là một nhà văn hóa dân tộc có trình độ và về thơ Nguyễn Vỹ là nhà thơ tiền chiến có hạng dù ông thất bại trong khi làm chủ soái trường thơ Bach Nga một trương thơ nhập tư thơ của văn chương Pháp

Nguyễn Vỹ là nhà báo có tài nhà thơ có tầm cỡ nhưng nhà văn thì chỉ thành công trong đia hat hồi ký còn tiểu thuyêt thì ông chỉ làng nhàng thua cả Hồ Biểu Chánh

Để rộng đương dư luận chúng tôi xin trích bài thơ Bạch Nga hai chân của Nguyễn Vỹ đó là bài Sương rơi

Sương rơi

Nặng trĩu

Trên cành

Dương liễu

Những hơi

Gió bấc

Lạnh lung

Hắt hiu

Thấm vào

 Em ơi

Trong long

Hat sương

Thành một

Vêt thương

Rồi hat

Sương trong

Tan tác

Trong long

Tả tơi

Em ơi

Trong giọt

Thánh thót

Từng giọt

Điêu tàn

Trìu mến

Mồ hoang

Rơi sang

Cành dương

Liễu ngã

Gió mưa

Tơi tả

T ừng giọt

Từng giọt

Tơi bời

Mưa rơi

Gió rơi

Lá rơi

Em ơi

Thơ Bạch nga của Nguyễn Vỹ là như thế đó nhưng thơ tám chữ thì lai rât đươc như bài thơ Gửi Trương Tửu thì lai tuyêt vời

Hồ Nam


TRÍCH THƠ NGUYỄN VỸ

GỬI  TRƯƠNG TỬU

Nay ta thèm rươu nhớ mong ai

Một mình nhấp nhem chẳng buồn say

T rươc kia hai ta hết một nậm

Trò chuyện dông dài mặt đỏ sẫm

Nay một mình ta một be con

Cạn rượu rồi thơ mới véo von

Dạo ấy chúng mình nghèo sơ sác

Mà vẫn coi tiền như cỏ rác

Kiếm đươc đồng nào đem tiêu hoang

Rủ nhau chè chén nói huyênh hoang

Xáo lộn văn chương với chả cá

Chửi Đông chửi Tây chửi tât cả

Rồi ngủ một đêm mộng với mê

Sang dậy nhìn nhau cười hê hê

Bây giờ thời thế vẫn thây khó

Nhà văn Annam khổ như chò

Mỗi lần cầm bút viêt văn chương

Nhìn đàn chó đói gậm trơ xương

Rồi nhìn chúng mình hì hục viêt

Xuốt mấy năm trời viết vẫn kiêt

Mà thương cho tôi thương cho anh

Đã rụng bao nhiêu mái tóc xanh

Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng?

Tôi làm trạng nguyên anh tể tướng

Rồi anh bên võ tôi bên văn

Múa bút tung gươm hả một phen?

Cho bõ căm hờn cái xã hội

Mà anh thường kêu mục nát thối

Cho người làm ruộng kẻ làm công

Đều được an vui hớn hở long?
bây giơ chúng mình gạch một chữ

Làm cho đảo điên pho lịch sử

Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa

Hât mồ chồm dậy cươi say sưa

Để xem hai chàng trai quắc thước

Quét sạch quân thù trên đât nươc

Để cho toàn thể dân Việt Nam

Đều được Tư Do muôn muôn năm?

Để cho muôn muôn đời dân tộc

Hêt đói hêt lầm than tang toi1c?

Chứ như bây giờ là trò chơi

Làm báo làm bung chán mớ đời

Aqnh đi che tàn một lũ ngốc

Triêt lý con cừu văn chương cóc

Còn tôi bưng thúng theo đàn bà

Ra chợ bán văn ngày tháng qua

Cho nên tôi buồn không biêt mấy

Đời còn nhố nhăng ta chịu vậy

Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa

Bực chí thành say mấy cũng vừa

Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ

Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ

Rồi đâm ra điên đâm vẩn vơ

Rút cục chỉ còn mộng và mơ

NGUYỄN VỸ

GỬI NGUYỄN VỸ

Văn chương thời nào cũng thế thôi

Làm văn làm thơ tù khổ sai

Càng viêt càng thêm nhiêu lệ rơi

Càng viêt càng thêm nhửng ách tai

Trời sinh cầm bút biêt làm sao

Thiên hạ bao nhiêu chuyện khổ đau

Trăm năm trươc rồi trăm năm sau

Cái nghiệp cầm bút đi buôn sâu

Ta khóc cho anh ta khóc ta

Hỡi ơi trơi đất thật bao la

Cái thân cầm bút là như thế

Cái nghiệp làm thơ ta với ta

Hãy chửi một câu cho nhẹ lòng

Rượu còn đâu nữa thế là xong

Mai ta ngủ dậy ta mở mắt

Sẽ thây đất trời không trống không

Ta đã làm thơ ta viết văn

Đem chuyện người ra để dấn thân

Nỗi đau nhân thế bao giờ dứt

Để chúng ta được nhẹ cõi lòng

Thiên hạ quẩn quanh chuyện áo cơm

Còn ta khóc mươn cứ âm thầm

Rươu một ly thôi nhưng vẫn thiêu

Đêm nằm trằn trọc mãi mưa rầm

Anh đã chêt môt đời trăn trở

Tôi còn sống mãi tháng ngày  im

Hãy ngâm cho lơn câu thơ cổ

Để cuối đương kia có nắng xuân

VƯƠNG TÂN