Thơ Xướng Họa: Đoàn Ngọc Kiều Nga, Nguyễn Phú Long, Hồ Công Tâm, Đoàn Chinh Nam, Cao Mỵ Nhân.

Thơ Xướng Họa: Đoàn Ngọc Kiều Nga, Nguyễn Phú Long, Hồ Công Tâm, Đoàn Chinh Nam, Cao Mỵ Nhân.

 

Việt cộng, Việt kiều, Việt gian

Việt cộng, Việt kiều, với Việt gian,

_______

Họa Ngược:



 

[1]
CÕI TÌNH

Phù du tình ái chốn nhân gian
Bạo phát rồi ra cũng bạo tàn
Mấy thủa duyên may mừng hạnh ngộ?     
Muôn chiều lệ đắng khóc ly tan!
Sao còn quanh quẩn vòng bi lụy?
Để  mãi sẩu tư  chuyện quá quan!     
Ơi những hồn xa muôn  cách trở
Vẫn chờ nhau vượt thác băng ngàn            
 
MA, July 21, 2020
ĐOÀN NGỌC KIỀU NGA


[2]
   CÕI THỰC

Thiên chức trời ban khắp thế gian
 Sinh sôi, biến hóa, lại phai tàn.
 Cỏ cây mơn mởn còn xanh tốt,
 Sinh vật nhởn nhơ đâu rã tan.
 Tô điểm yêu đương thêm ước mộng,
 Vẽ vời tình lụy cứ bi quan.
 Thì ra, rốt cuộc, là như vậy,
 Ngắn ngủi thay, ba vạn sáu ngàn.

22-7-2010
 NGUYỄN PHÚ LONG

HƯƠNG YÊU

Ôi có tình nào chẳng dối gian!
Hoa nào thắm mãi chẳng phai tàn?
Trăng thề mấy độ tròn rồi khuyết?
Mây hẹn bao lần hợp lại tan?
Hạnh phúc vèo qua khung cửa sổ,
Khổ đau in đậm nếp y quan.
Yêu nhau xin cứ làm dông bão
Cho phấn hương bay quyện gió ngàn!

 July 23, 2010
HỒ CÔNG TÂM

 [4]
ĐẸP XƯA

Một nếp nhà tranh nhẹ mấy gian
Thu phai dậu cúc vẫn chưa tàn
Chuồn bay vườn nắng không trung lặng
Cá quẫy bờ ao bóng nước tan
Đôi cánh chim chuyền qua kẽ lá
Đàn em bé bốc rải ô quan
Ngậm ngùi tráng sĩ ngưng hồi ức
Tuốt kiếm tìm theo tiếng suối ngàn

24/7/2010
ĐOÀN CHINH NAM

 

 
[5]
CÕI THƠ

Bốn mùa thay đổi cả không gian
Hạ đã kề xuân nối lửa tàn
Ta bước lên thềm hoa nhập cuộc
Người còn thả tóc lệ hòa tan
Thu cuồng, quạ xếp đôi thành quách
Nước đọng, thuyền qua mấy cửa quan
Đông ủ tuyết pha bình rượu cổ
Giật mình thơ cuốn tựa mây ngàn

Hawthorne 26-7-2010
CAO MỴ NHÂN




Chủ đề thay đổi

CHỦ ĐỀ THAY ĐỔI


Trong năm đầu tiên đến định cư ở Mỹ, nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã viết bài quan điểm này. Chúng tôi nhận thấy bài viết có nhũng điểm phù hợp với tình hình cuộc tranh cử ở Mỹ năm 2008, cũng như những vấn đề đổi mới của các chế độ Cộng Sản trên thế giới, từ Nga cho dến Việt Nam trong cả chục năm qua. Bởi vậy chúng tôi đã xin phép được đăng lại bài báo nay. LTS.

 

 

“Thay đổi” có vẻ là từ ngữ của thời đại, Nói đến thay đổi ai cũng thích, ai cũng đòi thay đổi, đôi khi chẳng cần biết thay đổi cái gì, hay thay đổi thế nào. Có lẽ trừ những người đã cằn cỗi, muốn giậm chân tai chỗ cho qua ngày, trừ những kẻ chỉ muốn ôm lấy vinh quang, tưởng tượng hay có thật của quá khứ để mà sống, hầu hết mọi con người bình thường đều muốn có thay đổi với ước vọng muốn thấy một ngày mai hơn hẳn hôm nay. Còn gì khích lệ hơn cho tiến bộ và phát triển bằng một nềm tin vững chắc là tương lai nhất định sẽ rực rỡ và huy hoàng hơn hiện tại.

 

Trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 1992, chủ đề tranh cử gồm hai chữ đơn giản là “thay đổi” đã có vẻ gần như một phép lạ huyền diệu, bởi vì nó đã làm cho tòa Bạch Cung đổi chủ. Một khi cuộc sống trong hiện tại chỉ toàn những khó khăn chật vật, những thất vọng và bất mãn, sự đòi hỏi thay đổi để mong tìm một cái gì tốt đẹp hơn cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của người dân. Ngay tại đất nước Việt Nam của chúng ta, những đợt sóng đòi hỏi như vậy đã cuồn cuộn dâng trào từ bao lâu nay, mỗi ngày một mạnh, mỗi ngày một rõ rệt hơn, và ngay chính tai Liên Sô và các nước Đông Âu trong đầu thập kỷ này, những đợt sóng đó đã đánh gục những chế độ đàn áp khắt khe nhất.

 

Nhưng nếu nói rằng đòi hỏi thay đổi chỉ là nhu cầu tùy lúc của con người thì thật không đúng lắm. Thật ra nhu cầu thay đổi là một trong những bản năng tiềm ẩn của con người và đó cũng là lý do tại sao con người đã sinh tồn được cho đến ngày nay. Vì thế chính những người có cuộc sống no đủ mãn  nguyện với hiện tại của mình, cũng vẫn có ẩn núp trong tiềm thức của mình một nhu cầu thay đổi.

 

Sự thay đổi có những ý nghĩa trọng đại như vậy, nhưng có điều là từ ngữ “thay đổi”, thường khi bị bóp méo và đã bị lạm dụng khá nhiều. Thay đổi không có nghĩa là “có mới nới cũ” như câu tục ngữ châm biếm của người bình dân Việt Nam dùng để mỉa mai những kẻ tham lam, và lại được những kẻ cổ hủ lạc hậu ngày nay lợi dụng dể chỉ trích những đầu óc cầu tiến.  Đồng thời hai chữ “thay đổi” cũng bị lạm dụng và lợi dụng khá nhiều trong thời buổi chính trị phức tạp như trong những năm gần đây.

 

Những người Cộng Sản là nạn nhân đầu tiên của các đợt sóng đòi hỏi thay đổi. Năm 1985, khi ông Mikhail Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Sô, những người Cộng Sản đã phải nhìn nhận có một cái gì không ổn trong cái khung giáo điều cứng nhắc ý thức hệ của họ rồi. Thật ra trước đó nhiều năm, những lý thuyết gia sáng suốt của Cộng Sản cũng đã đánh hơi thấy mối nguy đang tiềm ẩn đe dọa đến cỗi rễ lý tưởng của họ, khi mà tri và thức của người dân bị trị đã phát triển mạnh đến độ tức nước vỡ bờ, không có sức mạnh nào cản nổi. Nhưng thời đó, phe giáo diều cứng nhắc còn ngự trị, ai dám hở môi? Kẻ mới manh nha một chút như  Khruschev đã bị tặng ngay nhãn hiệu “xét lại” và bị lật nhào, còn giữ được mạng sống là may. Điều đáng chú ý là kẻ tố cáo Khruschev dữ dội nhất thời đó lại là bọn lãnh đạo Trung Cộng, những người giáo điều ù lỳ nhất dưới trướng của Mao Trạch Đông, có lẽ vì phe giáo điều Trung Cộng còn được bện thêm một cái vỏ thép cứng hơn nữa, rất khôi hài trong ý thức hệ Cộng Sản về vô sản quốc tế là : “sự tự mãn dân tộc tính”, đại khái với quan niệm “tư tưởng Mao-ít còn hơn cả tư tưởng Lê-nin-nít”. Nhưng cũng có thể con cháu của Đức Khổng Phu Tử, quen với ý niệm hình nhi thượng học sâu sắc từ mấy ngàn năm nay, đã nhìn thấy rõ cái nguy của sự thụt lùi, dù chỉ có nửa bước của cái gọi là xét lại đó. Nói một cách nôm na là dân Á Đông đã “thâm” hơn dân da trắng phổi bò của Tây Phương vậy.

 

Dù sao, khi ông Gorbachev lên cầm quyền là thời cơ đã chín mùi để ông mở cái khoá miệng và xác nhận cần phải có sự thay đổi. Nhưng ông đã làm thế nào ? Đây là điểm khôi hài nhất: Ông vừa làm….. vừa run. Có thể ông là người có lý tưởng hơn, nên ông sợ rằng thay đổi có thể làm sụp đổ luôn cái lý tưởng Cộng Sản mà ông muốn cứu vãn cho bằng được. Nhưng cũng có thể ông chỉ là một người như mọi người khác, nghĩa là ông sợ cho cái mạng sống của ông. 

 

Bởi vậy ông đã lợi dụng khát vọng đòi hỏi thay đổi của người dân, bóp méo đi một chút để vừa giữ ý thức hệ, lại vừa giữ được mạng sống của mình. Ông đưa ra chủ trương Glasnot và Perestroika. Theo tiếng Nga, hai chữ đó chỉ có nghĩa là “cởi mở” và “tái cấu trúc”. Cởi mở cũng như mở cửa thêm cho rộng ra để căn nhà Cộng Sản chủ nghĩa khỏi tối tăm, u uất và… rùng rợn như trước nữa, và tái cấu trúc xây lại một vài bức tường, mở thêm vài căn phòng để cho nó hấp dẫn hơn. Tóm lại ông muốn thay đổi, nhưng căn nhà vẵn còn là căn nhà chớ không phải đem phá nó đi, đào cả móng lên và xây căn nhà khác.

 

Người ta đã thấy kết quả của ông. Điều thú vị nhất là chỉ mới mở thêm cửa ra đôi chút và phá đi một bức tường nhỏ mà căn nhà đã sụm luôn. Và điều thú vị hơn nữa cho chính bản thân ông  Gorbachev là ông giữ được mạng sống nhờ cuộc thế đã đổi thay, thế giới đã biến chuyển. Nếu như ông làm việc đó dưới thời Stalin thì chưa kịp trở tay, hồn ông đã du Địa phủ. Hoặc nhẹ nhàng hơn như dưới thời Brejnev, ông đã đi lãnh một chức giám đốc một nông trường tập thể gồm mấy trăm con bò chết đói ở một xứ xa xôi hẻo lánh nào đó trong vùng băng tuyết ở Siberia.

 

Trong số những người Á Đông theo con đường “ngon cờ Mác-Lê bách chiến bách thắng”, ngoài những người Cộng Sản Trung Hoa, rất thâm và độc như những ông quân tử Tàu… Cộng, tất nhiên chúng ta không thể quên những nhà Cộng Sản Việt Nam, cũng rất khôn nhưng không ngoan, nghĩa là cái khôn vặt, khôn láu cá của những dân cờ bạc bịp, cái trí trá tiểu xảo sặc mùi anh lý trưởng với cái nhìn không vượt ra ngoài được lũy tre xanh của làng xóm nhỏ. Vì thế khi các bậc đàn anh Liên Sô bắt buộc phải đi nước cờ Glasnot và Perestroika, ở Việt Nam, ban lãnh đạo Cộng Sản cũng đưa ra một từ rất kêu, nhưng lại rất mập mờ đánh lận con đen là “đổi mới”.

 

Thế nào là đổi mới và đổi mới cái gì, kết quả ra sao ? Trong một dịp khác có lẽ chúng ta cũng nên nhìn kỹ hơn cái trò hề bịp bợm của lá bài đổi mới này. Nhưng ở đây chúng ta chỉ ngắn gọn trong ba chữ “vẫn như cũ” . Thật ra đề tài đổi mới đã được bàn cãi nhiều trong mấy năm qua, nhưng chỉ ở trong giới những người Việt sống ở hải ngoại mà thôi, còn ở trong nước đây là một đề tài tối kỵ, đụng vào nó là có thể đưa bạn vào bóng tối vĩnh viễn hay có thời hạn với cái mũ chụp quen thuộc như phản động hay gián điệp…trừ khi bạn nói đúng theo chiều hướng mà đảng đã quy định. Ý nghĩa và chiều hướng đổi mới theo sách vở của đảng chỉ là không thay đổi gì hết. Đổi mới chính trị ư ? Đây chính là màn lừa bịp dài dài, thay đổi vài lớp lang, hoán chuyển một vài diễn viên chóp bu, biểu diễn thêm một vài trò khác về hiến pháp gọi là bầu cử Quốc hội. Ở vào thời đại dân trí tiến triển như thế này, mà lại đem cái trò tiểu xảo ra dùng như bọn tổng lý ngày xưa để mà mắt dân đen thì thật nực cười. Và còn đem cái trò bịp bợm nhà quê đó để lường gạt quốc tế thì còn gì khôi hài hơn nữa.

 

Còn đổi mới kinh tế thì sao ? Đây là một hành động theo nhu cầu. Khốn thay nhu cầu đó không phải là của dân, mà là của đảng, để cứu nguy cho đảng đang tụt dốc nguy hiểm và nhất là để giữ lại quyền lực thống trị trong tay một thiểu số. Thành ra công cuộc đổi mới kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam rút cuộc tạo ra một hình ảnh cũng tức cười chẳng kém : Đó là hình ảnh một lũ kiến bị hun nóng ở phía dưới, đang chạy loạn xạcuống cà kê lên. Mở cửa, đi theo kinh tế thị trường, gọi vốn ngoại quốc đầu tư, nghe thì thật đẹp thật hấp dẫn, nhưng thực tế thì mọi suy tư mọi hành động đều lẩn quẩn ở trong một cái vòng tròn có đến hai lần vạch ngăn chặn lại, không thoát ra ngoài được, chẳng khác nào một con quỷ bị hai cái vòng phù thủy cản lối, cứ đụng đầu thì phải dội lại.

 

 Cái vòng đai thứ nhất bằng thép, đó là giáo điều của ý thức hệ. Cởi mở kinh tế mà đụng phải những điều cấm kỵ của ý thức hệ Cộng Sản là phải dội lại. Cái vòng đai thứ hai, tuy không làm bằng thép nhưng nó kiên cố vô cùng: Đó là sự sợ hãi. Mở cửa ra quá trớn, ngộ lỡ phản động nó về, ngoại quốc nó đến lũng loạn, gián điệp nó vô nó xúi giục tạo loạn lật đổ thì sao ? Mọi ý chí đổi mới đụng đến chỗ này là bị co vòi lại. Thật đúng như kiểu con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào..!

   

     Nhìn qua một vài cố gắng gọi là thay đổi đó, không phải để phán đoán hay chỉ trích làm gì cho mất công, mà thật ra để tìm một vài luận cứ cho chủ đề thay đổi của chính chúng ta. Có thể đó là những kinh nghiệm, những cái gương tầy liếp để suy nghĩ đến nhu cầu thay đổi.
  

     Thay đổi trước hết là phải thành thật. Thành thật với người và thành thật với chính bản thân chúng ta. Chúng ta thay đổi không phải vì quyền lợi của cá nhân chúng ta hay của một tập thể nào, mà vì quyền lợi của toàn dân và của đất nước chúng ta.


     Thay đổi là phải can đảm. Không phải dễ dàng gì mà con người có thể dứt khoát từ bỏ được những thành kiến, những tập quán cũ để đi tìm cái mới. Phải có can đảm mới dám từ bỏ được sự an toàn của hiện hữu, dù cho cái hiện có cũng chẳng được thỏa mãn lắm, để đi vào một con đường mới có ít nhiều may rủi. Nhưng thay đổi cũng không phải là nhắm mắt nhẩy vào một cái hố hư không, vô đáy. Với kiến thức cao, với sự suy tính kỹ càng, với sự góp ý để đi tới đồng thuận trong bài toán gồm nhiều ẩn số mà chúng ta đi vào, chúng ta có thể tăng cường rất nhiều xác suất “may” và giảm thiểu đến tối đa cái rủi.


     Thay đổi là phải dứt khoát với quá khứ. Ở đây có thể có sự hiểu lầm, cần xác định cho rõ. Chúng ta không thể ôm lấy quá khứ để mà sống, nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng quá khứ có những bài học không thể quên, nhất là có những cái gốc mà bất luận cuộc đổi thay như thế nào, chúng ta cũng phải giữ cho bằng được.


     Cái gốc đó là đất nước chúng ta với ngàn năm uy linh sông núi, là dân tộc với những truyền thống cao đẹp về đạo nghĩa mà ông cha chúng ta để lại.


     Cái gốc đó là lý tưởng của chúng ta, Lý tưởng dân tộc chủ nghĩa, quyết tâm phục vụ cho nước cho dân với một tinh thần ái quốc mãnh liệt.


     Sau hết, chúng ta còn có những cái rễ vô cùng quan trọng để từ đó bắt nguồn cho mọi tư tưởng và hành động của chúng ta. Đó là tinh thần cách mạng. Các đảng phái quốc gia hiện nay hay sau này dù có biến thiên đi để trở thành những chính đảng hay những đoàn thể khác có tính chất tập hợp quần chúng, cũng không nên quên rằng chúng ta đãbắt nguồn từ những đảng cách mạng, hoạt động trong bóng tối trong thời kỳ chống thực dân và chống Cộng Sản. Tinh thần cách mạng là gì,  nếu không phải là tinh thần trách nhiệm quả cảm, hy sinh, chịu đựng, để thực hiện cho bằng được lý tưởng của chúng ta.

 

    Vậy thì thay đổi bắt đầu từ đâu ? Bắt đầu từ chính chúng ta, từ mỗi người chúng ta.

 

Ngày 30 tháng 11 năm 1992

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.    


      

 

 

 

 

 

                   

                                                                                                                                                           

  

 




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

Trong suốt tuần qua, Trung Quốc đã gặp khó khăn lớn ở Tân Cương vì vụ nổi loạn của dân thiểu số gốc Hồi tại tỉnh này khiến có 180 người chết và 1,680 người bị thương. Ðến đầu tuần này Cảnh sát Trung Quốc lại bắn chết thêm 2 người Hồi và 1 người bị thương, tình thế rất gay go. Tên gọi là Tân Cương tức “Biên giới mới” đã được đặt ra năm 1949 khi quân Cộng Sản Tầu chiếm toàn thể Hoa lục, khiến chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng phải di tản ra đảo Ðài Loan. Tân Cương chiếm một vùng đất rất rộng lớn phần lớn là núi non hiểm trở ở phía Tây Hoa Lục, biên cương chạy dài từ Tây Bắc giáp Mông cổ, xuống đến ranh giới các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgystan. Kế đó là vùng Tây Nam có khu Tự trị Tây Tạng, giáp ranh giới các nước Afghanistan, Pakistan và Ấn Ðộ. Ngày nay Tân Cương đã trở thành một vùng kinh tế trù phú vì ở dưới vùng núi này có nhiều mỏ dầu lửa. Ngoài ra phong trào du khách đến miền này đã phát triển mạnh, khiến Urumgi, thủ phủ Tân Cương – phía Bắc gần biên giới Mông Cổ – đã trở thành một đô thị hiện đại, với những tòa nhà chọc trời. Hiện nay kỹ nghệ dầu khí của Tân Cương đem về cho Bắc Kinh mỗi năm 61 tỷ đô-la Mỹ, một trong những ngành kỹ nghệ tiến mau nhất của kinh tế Trung Quốc.

Ở Tân Cương từ xa xưa vẫn có nhiều sắc dân thiểu số vùng Trung Á sinh sống, nhưng có một sắc dân gọi là tộc Uighur (đọc theo âm Việt là uây-ghơ) được thế giới sớm biết đến nhiều nhất, vì sắc tộc này sống trên con đường bộ do Marco Polo (Thế Kỷ 13) tìm ra để từ Venice (Ý) giao thương với các nước Trung Á. Tộc “uây-ghơ” theo đạo Hồi từ thế kỷ 7, có điểm đặc biệt là cho đến nay vẫn cách biệt với sự phát triển của Hồi giáo ở Trung Ðông, để giữ được bản sắc hiền lành theo dân tộc tính của họ. Người Trung Hoa thời cổ đã biết đến sắc tộc này khi có con đường “Tơ lụa” giao thương với người Âu châu, nên gọi đó là dân “Hồi” (chữ Hán có nghĩa là trở về), có lẽ đó là những người đã bỏ vùng núi khô cằn ra đi kiếm ăn, nay trở về sống trên đường Tơ Lụa để làm ăn với khách buôn giầu có từ bên ngoài đến. Khi người Tầu thấy họ làm lễ tôn giáo một cách khác các tôn giáo thời đó ở bên Tầu, nên cũng gọi luôn tôn giáo đó là “Hồi giáo” cho tiện.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh đến chữ Hồi giáo ở đây, vì từ lâu bao lâu nay tôi vẫn thắc mắc tại sao báo chí Việt ngữ vẫn dùng chữ Hồi giáo để gọi tôn giáo Muslim hay Islam do Ðấng Tiên tri Mohammed thành lập vào Thế kỷ 7 ở Á rập, Trung Ðông. Nguyên nhân chính là vì vào thời điểm trước khi văn hóa Pháp tràn vào Việt Nam đầu thế kỷ 18, các bậc tiền nhân của chúng ta vẫn dùng chữ Hán Nôm để tìm hiểu về thế giới bên ngoài. Bởi vậy khi thấy Hán tự dịch Muslim là đạo Hồi, nên cũng gọi đó là đạo Hồi. Ðến nay trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam vẫn có chữ đạo Hồi. Người Tầu gọi cả Pakistan là Hồi Quốc, tiếng Việt vẫn quen dùng tên nước đó như vậy, trong khi trong chữ Pakistan không có gì dính đến tôn giáo, mặc dù đa số người Pakistan cũng theo đạo Hồi. Tôi nghĩ các học giả Việt Nam ngày nay cũng nên sửa chữa lại tên gọi của một số các địa danh ngoại quốc khác bằng những chữ thế giới thường dùng, thay vì dùng theo âm Hán tự, thí dụ như Hoa Thịnh Ðốn, Ba Lê, Luân Ðôn v.v… như thời cổ.

Hãy trở lại câu chuyện “Biên Cương Mới”. Khu Tân Cương do Cộng sản Tầu đặt ra từ năm 1949 đã làm bộc lộ rõ ý đồ thâm độc của chủ nghĩa “bành trướng Bắc Kinh”. Nước Trung Hoa có dân số đông nhất thế giới, sinh sản mau lẹ, nên bắt buộc phải mở rộng bờ cõi từ thời buổi xa xưa nhất của lịch sử. Hiện nay dân số Trung Quốc có 1 tỷ 318 triệu người, người gốc Hán chiếm 92%, còn 8% là những gốc dân thiểu số đủ loại. Dân gốc Hán nhiều như vậy, nhưng lại sống đông đúc nhất ở một dải đất ở miền Ðông Hoa lục, kéo dài xuống theo bờ biển Ðông Hải. Diện tích toàn thể Trung Quốc kể cả các khu tự trị dân thiểu số như Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng, tính chung là 9,572,900 cây số vuông. Bản đồ cho thấy rõ các khu tự trị này chiếm hơn một nửa diện tích toàn thể lãnh thổ, phần còn lại là vùng của dân gốc Hán.

Chế độ Cộng sản Tầu hiện nay chủ trương bành trướng lãnh thổ cho dân Tầu – hiện đã bằng 1/5 dân số cả thế giới – để có đủ đất sống và sinh sản thêm nữa. Nhưng Bắc Kinh khôn ngoan giở trò “bành trướng thầm lặng” bằng cách cho dân gốc người Hán (tức người Tầu) di dân thật nhiều qua các lãnh thổ láng giềng mà họ đã chiếm, gọi là khu “tự trị” nhưng do chính quyền Trung ương trực tiếp cai trị, chẳng khác gì một tỉnh Trung Quốc. Người ta đã thấy hình ảnh khu gọi là “tự trị” Tây Tạng. Khi người gốc Tầu đông hơn người gốc bản xứ, khu tự trị sẽ biến thành một tỉnh Trung Quốc. Tôi nghĩ những nước láng giềng của Trung Quốc có tinh thần dân tộc mạnh đã nhìn thấy rõ ý đồ của Trung Cộng, nên dân chúng phải đề phòng. “Biên cương mới” là bài học cho dân tộc Việt Nam.

Tân Cương hiện nay có tổng số dân là 20 triệu người kể cả dân Tầu, trong đó chỉ có 8 triệu người sắc tộc “uây-ghơ”. Thủ phủ Urumqi đông dân cư nhất có 1.3 triệu người, nhưng đại đa số là dân Tầu thứ thiệt, còn dân bản xứ “uây-ghơ” đã bị gạt ra ngoài rìa thành phố, bởi vì thương gia Tầu Cộng đến đây định cư, dùng tiền bạc mua hết đất ở thành phố. Ngoài Urumqi, tình hình các thành phố khác ở Tân Cương cũng tương tự, chẳng hạn thành phớ lớn thứ hai của Tân Cương là Kashgar và nhiều thành phố nhỏ hơn ở phía Nam cũng có loạn. Trong hơn một tuần qua hàng chục ngàn Cảnh sát mặc áo giáp, nón sắt, võ trang súng liên thanh và cả quân đội chính quy Trung Quốc đã ùn ùn kéo vào Urumqi và các thành phố khác của Tân Cương. Nhà cầm quyền Trung ương ở Bắc Kinh đã đặc biệt cho những hình ảnh đó chiếu trên TV để cảnh cáo các khu vực khác trong nước, đồng thời cũng cho thế giới biết để quy lỗi cho người sắc tộc thiểu số đã nổi loạn đánh phá và giết chóc những người gốc Hoa lương thiện đến làm ăn buôn bán.

Bất chấp sự đàn áp của Cảnh sát võ trang Tầu, phong trào đòi độc lập của dân thiểu số Tân Cương vẫn tiếp tục. Trong thập niên 90, với sự sụp đổ của Liên Sô, phong trào Hồi giáo ở Trung Á đã gia tăng sức mạnh, tinh thần độc lập dân tộc ở các nước Trung Á mỗi lúc một cao. Ngoài ra những người gốc “uây-ghơ” hiện di tản khắp mọi nơi trên thế giới, họp thành những khối nhỏ cũng đã biểu tình kêu gọi sự chú ý của công luận về những vụ đàn áp dã man của Quân đội và Cảnh sát Tầu ở Tân Cương. Mục tiêu của Bắc Kinh là bành trướng lãnh thổ để dân gốc Hán của họ có đủ đất sống, nhưng khi họ chủ trương tiêu diệt văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, họ đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Nước Mỹ đã mắc phải hai cuộc chiến ngay từ lúc khởi đầu Thế kỷ 21, đến nay vẫn kéo dài suốt 10 năm chưa dứt, và cuốn sổ nợ chiến tranh đã báo hại nền kinh tế Mỹ, làm lủng túi tiền của người dân và cũng làm mồi cho chủ nghĩa phe đảng muốn lợi dụng mọi cách để hạ dối thủ trong cuộc bầu cử trung hạn sắp tới. Hai cuộc chiến đó là Afghanistan và Iraq. Chúng tôi muốn nhắc lại vài nét lịch sử bởi vì nếu biết rõ được quá khứ, chúng ta có thể hình dung được tương lai phần nào. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là tại sao Mỹ và cả các đồng minh dính vào hai cuộc chiến nói trên. Sau Thế chiến II, có hai nước chiến thắng nổi bật là Hoa Kỳ và Liên bang Sô Viết đã đánh tan phe trục là Ðức, Ý và Nhật. Sau đó LHQ thành hình nhưng điều đáng buồn là Nga Sô đã gây ra cuộc chiến tranh lạnh đưa đến hậu quả là tình hình thế giới trở nên gai góc như ngày nay.

Chiến tranh lạnh do Liên Sô gây ra với tham vọng bành trướng chủ nghĩa Mác-xít khắp hoàn cầu. Cố nhiên Mỹ đã làm mọi cách để chặn đứng sự bành trướng này. Chúng tôi muốn bỏ qua vấn đề Việt Nam vì chúng ta đã biết quá rõ, để trước hết nói đến Afghanistan hợp với thời cuộc hơn. Ðây là một nước Trung Á, nằm giữa Iran và Pakistan xa về phía Bắc, thành ra không có bờ biển Á Rập mà tiếp giáp với Turkmenistan, vốn là một thành phần của Liên bang Sô Viết thời trước. Khoảng năm 1980 giữa thời chiến tranh lạnh, Liên Sô đã cho một số cán bộ Turkmenistan thu nhận những thanh niên từ Afghanistan qua để truyền bá chủ nghĩa Cộng sản.

Nhóm cán bộ Cộng sản Afgha về nước, ngấm ngầm bành trướng, thu thập những người còn trẻ và khi đã có thanh thế nhờ Cộng sản chuyển giúp vũ khí, chúng đã cướp được chính quyền và lập ra chế độ Mác-xít ở Thủ đô Kabul. Thời này cũng là lúc Mỹ chú ý đến tình hình ở Ðông Nam Á kể cả Trung Nam Á. Khi Cộng sản Afgha chiếm được Kabul, Mỹ lập tức liên lạc chặt chẽ với chính quyền Hồi giáo Pakistan cũng đang lo lắng về vụ nước láng giềng Afgha do Cộng sản cai trị. Tình thế bắt đầu đổi khác khi người Hồi Pakistan qua lại biên giới nói chuyện với người Hồi Afgha. Từ thời xa xưa, đối với những người đạo Hồi ở hai bên không có đường biên giới. Nhiều nơi vùng giữa Pakistan và Afghanistan lại là một làng mạc thôn xóm của người Hồi.

Vì thế khi Cộng sản thành hình ở Afgha, dân Hồi bên này và bên kia biên giới đi lại với nhau như đi chợ. Ðó cũng là lúc CIA và biệt kích Mỹ đến Pakistan để bí mật huấn luyện và trang bị vũ khí cho thanh niên Hồi giáo Afgha có mặt tại Pakistan. Năm 1983 đám thanh niên này về nước, bắt đầu đánh du kích chống quân Chính quyền Cộng sản ở Kabul. Hồng quân Sô viết đàn áp dữ dội, dùng trực thăng và đại bác tiễu trừ “loạn quân”. Nhưng loạn quân cũng có vũ khí tối tân, chẳng hạn rốc kết bắn chiến xa hay trực thăng của địch. Hồng quân chịu không thấu, đến năm 1987 quân đội Nga phải rút hết về nước, kéo theo lũ cán bộ Cộng sản cao cấp Afgha. Và trớ trêu thay, trong số những thanh niên Hồi giáo đánh đuổi Cộng sản Nga, không phải chỉ có những thanh niên Hồi giáo Afgha mà còn có nhiều thanh niên Hồi giáo ở Trung Ðông lén lút qua để tình nguyện đánh Nga cứu đạo Hồi. Trong số những người đi học môn du kích Mỹ lúc đó có một chàng trai tên là Osama bin Laden.

Hãy trở lại Thế kỷ 21 với Tổ chức Khủng bố có tên là al-Qaida. Vào năm 2001, bọn khủng bố đã cướp một phi cơ chở khách ở Mỹ rồi dùng phi cơ đó lao vào tòa nhà Trung Tâm Thương mại Thế giới ở New York gây ra một vụ khủng bố khủng khiếp chưa từng thấy. Hôm sau một ông già xuất hiện trên màn hình TV nói tổ chức đánh bom là al-Qaida do ông ta huấn luyện. Ông già đó chính là Osama bin Laden. Vào tháng 10 năm 2001, TT George W. Bush ra lệnh quân Mỹ tấn công, đổ bộ vào vào Afghanistan để truy lùng bin Laden và đồng bọn là Taliban nhưng không có kết quả. Ba năm sau TT Bush ra lệnh quân Mỹ đổ bộ vào Iraq đánh tan chính quyền của Saddam Hussein vì lý do tên độc tài này có vũ khí giết người hàng loạt (tức bom nguyên tử), nhưng tin tình báo đã sai. Dù vậy Saddam Hussein cũng bị kết án tử hình và bị thắt cổ chết.

Hai cuộc chiến kéo dài đến nay mà vẫn chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Bây giờ là lúc tính sổ chiến tranh. Chiến tranh càng dài sổ nợ càng lớn. Nợ ai vậy? Tiền bạc không phải từ trên trời rớt xuống mà do người dân đóng thuế để chính quyền có tiền chi dùng và quân bình ngân sách. Nếu không làm được như vậy, người dân sẽ lãnh đủ khi kinh tế suy thoái không cách nào gỡ. Thay vì cứu nguy sự sống còn của người dân, người ta chỉ thấy trên chính trường Mỹ hai phe đối nghịch gia tăng các chiêu thế chính trị càng gần ngày bầu cử càng đánh lớn đến độ “xáp lá cà” để ăn thua đủ.

Ðầu tuần này, TT Obama loan báo chương trình rút quân Mỹ khỏi Iraq để trao trách nhiệm cho chính quyền Iraq, ông nói: “Tôi đã nói rõ vào ngày 31-8-2010 sứ mạng chiến đấu của quân đội Mỹ sẽ chấm dứt”. Vụ rút quân này gồm 50,000 quân, so với số quân 144,000 khi Obama tựu chức. Số quân Mỹ còn lại có nhiệm vụ “cố vấn và yểm trợ các lực lượng an ninh Iraq, bảo vệ các viên chức và các cơ sở của Mỹ, tổ chức các cuộc hành quân chống khủng bố”. Sứ mạng của Mỹ thay đổi từ “Hành quân cho Tự do Iraq” thành “Hành quân Bình minh mới”. Số quân Mỹ lưu lại 50,000 người sẽ rút hết vào cuối năm 2011, như TT George W. Bush đã thỏa hiệp với chính quyền Iraq trước ngày ông Bush rời khỏi ghế Tổng Thống.

Chúng tôi nghĩ quyết định rút quân của TT Obama là điều đáng hoan nghênh. Bởi vì xét theo tình thế hiện nay, việc tiễu trừ khủng bố al-Qaida ở nước nào phải là nhiệm vụ của chính quyền và dân chúng nước đó. Mỹ chỉ có thể yểm trợ bằng mọi cách kể cả không lực, chớ không nên đổ quân vào nước có khủng bố hoành hành, bởi vì làm như vậy bọn al-Qaida hay đồng lõa có thể tố cáo quân Mỹ là ngoại xâm để hô hào dân trong nước nổi lên chống đối.

Riêng về tình hình tranh cử ở Mỹ hiện nay, việc tính sổ chiến tranh đang trở thành những trận đánh giáp lá cà để ăn thua đủ giữa các thành phần chính trị, bất chấp những khó khăn kinh tế do hậu quả của hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Ðó là điều đáng buồn.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Đoàn Thanh Liêm : “Nửa Thế kỷ Việt nam”

Đoàn Thanh Liêm

 

Tôi đọc cuốn “Nửa Thế kỷ Việt Nam”

Bút ký – Tự Truyện của tác giả Song Nhị

 

Tôi sinh sống cùng với gia đình tại miền Nam California, nhưng cũng hay có dịp lên thăm gia đình con gái và cháu ngoại tại San Jose, nên được gặp gỡ sinh hoạt khá thường xuyên với anh chị em trong giới văn nghệ sĩ tại miền Bắc California.

 

Trong số đông văn nghệ sĩ tại đây, tôi chú ý nhiều đến sinh hoạt của Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn do các anh Diên Nghị, Song Nhị và các chị Huệ Thu, Ngọc Bích, Cung Diễm, Diễm Hương… chủ trương và kiên trì theo đuổi đã trên 15 năm nay. Cơ sở đã cho xuất bản được trên 40 tác phẩm thơ, văn và đến 50 cuốn tạp chí Nguồn; đặc biệt là điều hành được một tờ báo điện tử “Cội Nguồn”, cung ứng cho độc giả khắp nơi những bài vở thật đa dạng khởi sắc, những thông tin thật là phong phú, kịp thời trên internet.

 

Vào cuối năm 2009 vừa đây, lúc đang ở San Jose, tôi được tác giả Song Nhị đích thân trao tận tay cuốn sách mới nhất của anh, nhan đề thật trịnh trọng: “Nửa Thế kỷ Việt Nam – Bút ký & Tự truyện”. Sách trình bày trang nhã, dễ đọc, dài tới trên 450 trang với khổ chữ đủ lớn phù hợp với thị giác đã suy yếu của lớp độc giả cao niên như người viết bài này.

 

Nói chung, thì cuốn sách này chứa đựng khá nhiều chứng từ khả tín về những sự việc, mà chính bản thân tác giả đã trải qua, đã đích thân chứng kiến như là một nạn nhân, nhiều hơn là một người bàng quan ngoại cuộc, vô tư. Cụ thể như là các vụ đấu tố địa chủ trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất hồi giữa thập niên 1950 tại làng quê của gia đình tác giả ở tỉnh Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV, phía bắc vĩ tuyến 17. Cả người cha và mẹ của tác giả đều bị đưa ra đấu tố và bị cầm tù trong hoàn cảnh rất tàn bạo, khắc nghiệt. Những mô tả này ăn khớp với nhiều chứng từ khác mà chúng ta đều biết đến suốt trên 50 năm nay, kể cả những chuyện của các bà con thân thiết trong gia đình bị kẹt lại ở miền Bắc sau năm 1954 và khi vào Nam sau 1975 đã kể lại chi tiết cho các bà con ruột thịt của họ.

 

Đáng thương tâm hơn cả là trường hợp của người anh (con bác và là người anh đỡ đầu) của tác giả, tên là Trần Kim Phú đã bị chính quyền cộng sản xử tử hình, sau khi anh cầm đầu toán Biệt kích nhảy dù về Bắc, bị bắt khi vừa đặt chân xuống tọa độ. Trước đó anh từng nhiều lần vượt biên giới Lào-Việt về Việt nam đưa một số gia đình địa chủ vượt biên tị nạn. Có lần quân đội Phathet Lào (Lào cộng) bắt dẫn độ trở lại quê nhà và trao anh vào tay chính quyền địa phương xử lý. Những chuyện đau thương như thế tại một vùng nông thôn ở Hà Tĩnh đều được mô tả với giọng văn bình tĩnh, khách quan mà trung thực, thì càng có sức lôi cuốn và thuyết phục đối với số đông độc giả muốn tìm hiểu sự thực trong giai đoạn lịch sử đen tối ảm đạm này tại miền Bắc Việt nam hồi thập niên 1950-60.

 

Nhờ sự bố trí khôn khéo và cương quyết của người cha, mà cả gia đình đã trốn thoát được sang bên quốc gia láng giềng là nước Lào, rồi cuối cùng vào đầu thập niên 1960, thì tới định cư được tại miền Nam Việt nam. Nơi đây, tác giả đã có cơ hội tiếp tục việc học tập lên tới bậc Đại học và đã tham gia sinh hoạt khá sôi nổi trong các lãnh vực văn hóa xã hội và giáo dục.

 

Vào cuối thập niên 1960, thì giới học sinh sinh viên miền Nam tham gia sinh hoạt chính trị xã hội rất sôi nổi, trong đó có một bộ phận rất năng nổ do cộng sản tổ chức giật dây, nên đã diễn ra nhiều cuộc trực diện đối đầu căng thẳng với cơ quan an ninh, nhiều khi đưa đến chuyện bạo động. Tác giả vừa là sinh viên, vừa là giáo sư dậy học tại các trường trung học, nên đã bị lôi cuốn vào trong cơn lốc xoáy của lớp thanh niên trẻ của đô thị giữa một tình huống chiến tranh đang mỗi ngày càng leo thang tàn khốc.

 

Tiếp sau đó, tác giả gia nhập hàng ngũ quân đội theo tiếng gọi Tổng động viên đối với các thanh niên còn ở dưới tuổi 33. Và với lập trường quốc gia vững chắc, được trui rèn qua bao nhiêu năm sống trong lòng chế độ cộng sản ở quê nhà tại Hà Tĩnh, viên sĩ quan trẻ tuổi này đã phân biệt thật rõ ràng được những thủ đoạn thâm độc, tinh vi khôn khéo của các tổ chức ngoại vi của cộng sản, được ngụy trang dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do dân chủ, hòa giải hòa hợp nhằm tiến tới hòa bình, với sự chủ động của giới lãnh đạo chóp bu ở Hanoi. Nhờ vậy mà anh đã không để cho mình bị biến thành quân cờ bung xung cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt nam, như một số người nhẹ dạ khác đã từng bị ngả theo.

 

Nhưng phần chứng từ quan trọng với đầy đủ chi tiết “bi hài” ngộ nghĩnh nhất, lại là những đoạn viết về tình hình sinh hoạt của các tù nhân trong các “trại cải tạo” dành riêng cho giới sĩ quan và viên chức của Việt nam Công hòa bị bắt đi “trình diện học tập” kể từ sau ngày 30 Tháng Tư 1975 oan nghiệt đau thương đó.

 

Các mẩu chuyện mô tả ở phần này rất là sinh động, đôi khi hóm hỉnh, nhưng chủ yếu là rất trung thực trong cố gắng tường thuật những chi tiết rất đáng ghi nhớ trong cách đối xử của “cán bộ quản giáo coi tù” đối với “các học viên” là “tù nhân, phạm nhân”. Cũng như tác phong của một thiểu số những “học viên vì quá hèn nhát, nên đã tiếp tay với lũ cai tù để mà hành hạ, phản bội anh em đồng cảnh ngộ với mình”.

 

Tác giả rất bình tĩnh, nương nhẹ chứ không có giọng điệu khắt khe hận thù gì đối với những con người yếu đuối hèn nhát này. Tuy vậy, các chứng từ rải rác trong khắp cuốn sách đều phù hợp với các tài liệu về tù nhân chính trị vốn được coi là có giá trị khả tín rất cao, mà đã được công chúng biết đến từ nhiều năm qua.

 

Vắn tắt lại, dù đây chưa phải là một tài liệu lịch sử được biên soạn theo phương pháp nghiêm ngặt của khoa sử học, thì cuốn sách “Nửa Thế kỷ Việt nam” của tác giả Song Nhị rõ rệt là một đóng góp rất giá trị cho những ai muốn tìm hiểu về cái thời đại nhiễu nhương của dân tộc chúng ta trong suốt nửa thế kỷ qua. Tác giả vừa là một chứng nhân và cũng là một nạn nhân của cái nền độc tài chuyên chế tệ hại nhất trong lịch sử 4000 năm của đất nước ta vậy. Nên đã viết ra những chứng từ rất chính xác và chân thực.

 

Về phương diện hình thức văn học, tác giả đã sử dụng một bút pháp “Bút ký – Tự truyện” khá nhẹ nhàng, bình thản để chuyên chở đến người đọc những điều tai nghe mắt thấy, những nỗi nhục nhằn vất vả của một tù nhân, cùng với những cảm nghĩ chân thực đầy tính nhân đạo khoan dung của mình, ngay cả đối với kẻ đã hành hạ áp chế tập thể những tù nhân như mình. Thái độ cao khiết như thế có thể gọi là “Can trường trong chiến bại”, là một từ ngữ đã được dùng như là một nhan đề cho cuốn sách của một vị sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân vừa xuất bản vài ba năm gần đây vậy./

 

California, Tháng Ba 2010

Đoàn Thanh Liêm

 




NỖI BUỒN (Chinh Nguyên)

NỖI BUỒN

Một
     Sau khi tới Hà Nội ngày 15 tháng 11năm 2006 và trọ tại Hotel Khải Hoàn phố Cửa Đông, buổi chiều cùng ngày tôi gọi điện thoại thăm Bác Hai Hán, người đã đồng chí với cha tôi trong VNQĐD chống Việt Minh và Thực Dân Pháp vào những năm 1945-1950.
Bác rất ngạc nhiên khi nghe giọng nói của tôi Bắc, Nam không rõ ràng của miền nào.
–           Chào ông, Tôi Hán đây! Xin lỗi ai đấy giọng nói tôi chưa nghe bao giờ ?.
    Tôi yên lặng vài giây vì xúc động khi nghe được tiếng bác Hán, và sực nhớ tới những ngày còn bé tôi luôn được cha sai canh cổng mỗi lần bác tới nhà, để bác và cha tôi họp trong buồng ngủ của cha mẹ tôi. Sau khi họp bác ra phòng khách ăn cơm và nói những chuyện không đầu đuôi hầu chờ đêm xuống lẻn ra cổng lẫn vào bóng tối.
    Tôi chưa nhìn thấy bác nhưng qua giọng nói, tôi biết bác đã như con ngựa già đứng bên máng cỏ trong sự chán nản bức chế của chế độ Cộng Sản, mà bác đã sống một đời như tù lỏng.
    Bác đang chờ thời gian ra đi vĩnh viễn bỏ lại chuỗi ngày tuổi trẻ đầy nhiệt huyết năm xưa. Cái tuổi mà cha tôi và bác thời 25, 30 tuổi với nhiều mộng ước đầy ắp trong lòng như mọi người dân Việt yêu nước mong cho quê hương được an bình thịng vượng, và trở thành con rồng kinh tế muốn vượt mây bay vào trời Đông, nhưng thế thời đổi thay và lòng người oan nghiệt, cha tôi đã ra đi nơi xứ lạ để lại lời trối trăn cuối cùng vẫn là quê hương nghìn trùng muốn quay đầu lại.
Bác Hán còn đó với những năm dài sống dưới chế độ khủng bố hà khắc nhà tù cả nước nhưng vẫn giữ lòng như tre trúc, một mai bác cũng héo tàn với ước mong đã vượt khỏi tầm tay.
    Tôi cũng vậy lại bước theo chân cha, và bác Hán, nửa đời mang ước vọng tay súng chinh nhân, nhưng nửa đời mang thân tầm gởi sống nhờ xứ ngoại…!   
    Đời rồi cũng tàn phai theo ngày tháng, cái trí dũng cũng bạc nhược theo đôi chân mỏi lưng còng, cha tôi, bác Hán và tôi sẽ chẳng còn gì đẻ níu kéo, họa chăng chỉ còn nỗi nuối tiếc kỷ niệm xưa, tuy nhiên Bác Hán đã phải sống dưới chế độ Cộng Sản từ ngày 1954 tới bây giờ như con hổ trong cũi của Thế Lữ.
    Tiếng bác bên kia đầu giây có vẻ vội vàng:
–           Vâng, tôi Hán đây. Có nghe được không?
–           Dạ, cháu nghe được. Chào bác Hai Hán.
    Bác Hán ngạc nhiên, khi nghe tiếng người lạ gọi tên ông trong những ngày tuổi trẻ.
–           Ai đấy? Sao tiếng nói lạ quá…! Sao biết tên củ của tôi vậy ? Cháu nào vậy ?
Tôi nhỏ nhẹ nói chậm để bác nghe rõ, vì tôi nghĩ bác đã lãng tai:
–           Dạ cháu là con ông Ký Tình. Cháu tên Trống
    Vừa nghe tới hai chữ Ký Tình, bác dường như mừng với những câu hỏi liên tục :
–           Thằng Trống… lạy trời ? Cháu ở đâu vậy? cha cháu ra sao ? khoẻ không ? Sao cháu biết số phone của bác ? Chắc cháu lớn lắm rồi nhỉ ? Ta đang ngồi chờ cha của cháu về…!
Tôi bùi ngùi xúc động nghe bác nói chờ cha tôi về. Tôi nghẹn ngào rơi nước mắt trả lời bác Hán:
–           Cha cháu mất ba năm nay rồi..!
    Bên đầu giây bác Hán bỗng yên lặng và dường như máy điện thoại bị rơi xuống sàn nhà vì có tiếng động mạnh. Tôi nghe tiếng thở dài của bác, và sau đó là tiếng nói trĩu buồn buông suôi…! 
–           Chết trong Nam à ? Vậy mà ta cứ ngồi chờ mãi..!
–           Không, cha con mất tại Mỹ.
–           Ồ…! Bố con cháu bỏ làng đi ngày đó, ai ngờ đi xa quá nhỉ…! Xa quê hương, làng nước chắc buồn lắm cháu nghỉ…!
–           Dạ, bố cháu nhắc bác hoài…!
–           Mẹ cháu còn không ?
–           Dạ, mẹ cháu hiện nay đang sống tại BMT, với các em của cháu.
–           Không sống ở Mỹ à ?
–           Dạ, mẹ cháu sống ở Mỹ hơn hai mươi năm, sau khi cha cháu mất mẹ cháu đòi về Việt Nam.
–           Ồ…! Quê hương mình vẫn hơn…! Quê người lạc lõng mẹ cháu về là phải. Thế cha cháu nằm bên đó thì sao ?
–           Cháu đang nghĩ tới mang xác cha cháu về quê như lời trối lại của cha cháu…!
–           Cháu làm được như vậy thì cũng tốt đó. Ta sẽ đi nay mai chẳng biết chừng…! Ta hết kẻ để chờ rồi…! Bạn bè đồng chí không còn ai…!
    Tôi nghe tiếng thở dài bên kia đầu giây, sau sự im lặng vài phút bác tiếp:
–           Bác với bố cháu thương nhau lắm. Thời hoạt động bố cháu làm thư ký nên bố cháu có cái tên là Ký Tình, nhưng bố cháu tên thật không phải là Tình đâu.
–           Dạ, cháu có nghe bố cháu kể lại.
–           Bố cháu nhắc tới ta cho cháu nghe là phải, ta cũng nhắc tới bố cháu luôn, đồng chí liên tâm mà…! Ta chỉ mong thấy bố cháu một lần, ai ngờ bố cháu đi trước ta rồi. Chắc chết chúng ta sẽ gặp nhau…!
–           Dạ.
–           Thôi nhé…! Nói điện thoại bác phải nói lớn mệt lắm, cháu tới nhà bác, rồi bác cháu mình nói chuyện nhé.
–           Dạ.
–           Cháu có biết địa chỉ không ?
–           Đạ cháu có địa chỉ của bác  
–           Ai cho cháu vậy ?
–           Anh Lương.
–           Lại thằng Lương, con thằng Tựa…! Bốn anh em chúng nó là Cộng Sản, có quân hàm lớn đó cháu biết không ?
–           Dạ, mẹ cháu nói.
–           Ừ… Thôi, ta già rồi, nhìn thấy chúng nó lớn lên từ nhỏ, nên không đành từ chúng nó, hơn nữa chúng là con cháu cả, cũng như cháu vậy đó.
      Chúng không làm gì bác vì bác gìa rồi, nhưng cháu thì phải coi chưng đó nghe. Nếu cháu theo chân cha cháu mà chúng biết được thì nguy.
    Tôi nghĩ tới mấy người anh họ, mấy mươi năm mới gặp qua lời giới thiệu của mẹ khi vừa gặp họ ở BMT,
vì khi tôi bỏ làng họ chưa sinh ra. Anh em gặp nhau, kể cho nhau nghe vài chuyện bâng quơ thiên hạ sự xã giao không dính líu gì tới chính trị. Tôi tiếp họ bằng những ly trà đàm đạo thân mật chuyện gia đình trong Nam, ngoài Bắc và nước Mỹ, và sau khi họ về nhà mẹ vẫy tôi lại gần, bà ôm đầu tôi và ghé tai thi thầm :
–           Con phải cẩn thận nghe. Tụi nó quỉ lắm đó, chớ có tin cái thứ Cộng Sản bất nhân ! Cha con còn bị cha của tụi nó muốn giết thì con tụi nó nể nang gì con…!
    Tôi không muốn bác Hán phải lo lắng nên gỉa bộ cười qua ống nghe và nói: 
–           Bốn người Anh Khuông, Lương, Kho, Nhạn là anh em họ phía bên mẹ của cháu, chắc không có chuyện gì đâu. Giọt máu đào hơn ao nước lã mà bác..
–           Đúng, tụi nó là anh của cháu đó, tuy nhỏ tuổi hơn cháu, nhưng chớ tin nghe cháu, Khác nhau chính kiến khó nói chuyện lắm, nhất là những thằng Cộng Sản như bốn an hem nó. Cha chúng nó đòi xử tử cha cháu ngày đó, nên cha cháu mới đành bỏ làng, cháu biết không ? Thôi bác gác máy, cháu tới bác nói cho nghe, nói qua điện thoại không tiện đâu. À quên thằng Khuông có biết cháu về VN và đang ở Hà nội không?
–           Cháu vừa gợi điện thoại cho anh Khuông.
–           Cháu bảo nó chở tới ta nhé, nhớ đó.
    Tôi gấp lại cell phone trong khi lòng trùng xuống với những kỷ niệm như một phiến buồn đè nặng trên lưng mà tôi không thể hất ra để đứng dậy..!
    Lời nhắn nhủ của mẹ, câu dặn dò của bác Hán cho tôi để làm kinh nghiệm sống đối với những người con của bác Tựa cuốn xoáy trong trí, và hầu như đã bắt buộc tôi phải có sự lựa trọn tình thân anh em hay thù hận nối dòng…!
    Tôi sực nhớ câu ông nội dặn khi tôi vừa tám tuổi : "Cháu phải nhớ, chớ coi con cháu thằng Tựa là anh em, dù ông đã mất đi…!"
    Tôi thở dài tự nói thầm : Ông à, chắc con không thể giữ lời hứa với ông ngày đó rồi…! Mỗi thế hệ mỗi đổi thay… Con không thể mất đi tình người, anh em như thủ túc mà…! Cha con cũng nói rằng : Chú, Bác của con có thể giét cha, nhưng cha không thể làm những gì chúng có thể làm, vì cha còn tình người…!
 
    Tài xế của anh Khuông mặc bộ đồ bộ đội, anh ta có vẻ cố tình giữ yên lặng và khoảng cánh giữa tôi và anh ta. Tôi hỏi điều gì anh ta trả lời, không hỏi anh ta yên lặng làm bổn phận như người máy. Suốt quãng đường từ Hotel Khải Hoàn tới Phố Huế anh ta chỉ nói có hai chữ dạ, vâng và lái xe đưa tôi tới nhà bác hai Hán vào buổi chiều sau ngày tôi điện cho bác Hán. Tôi tặng người tài xế của anh Khuông năm đô la để nhìn hành động của anh trước khi tôi bước xuống xe để vào nhà bác Hán. Tôi thấy mắt anh ta sáng lên, miệng anh ta lúc này mới mỉm cười thân thiện và cúi đầu nói được câu ngắn gọn:
–           Cám ơn ông, Nhưng ông đừng cho ai biết chuyện này. 
Tôi ngạc nhiên nhìn anh ta, và lập lại hai chữ của anh Luông thường nói với tôi để nói với anh tài xế tên Thụ .
Ai mà nói chuyện này với ai..! Chú cứ "vô tư" đi.
–           Dạ.
–           Anh lái xe về nhà đừng đi đâu nghe, kẻo anh Khuông cứ tưởng tôi lấy xe của anh đi chơi phố.
–           Dạ, cháu không dám lái xe này đi phố đâu. Ông biết được thì chết cháu ngay.
Bác Hán đã đứng ở cửa nhìn tôi mừng rỡ, bác vừa chậm chạp bước tới bên tôi vừa nói :
–           Nó không dám mang xe đi chơi đâu, cho kẹo nó cũng không dám ăn huống chi mang xe đi chơi.
      Bác với tay vẫy anh Thụ, nói tiếp:- Thôi Thụ à, cháu mang xe về trả cho thằng Khuông nghe, thằng Trống ở đây nói chuyện cà kê với ta lúc nào về sẽ gọi xe taxi, khỏi đón.
    Tôi bước vội tới ôm lấy bác Hán như ôm cha tôi với vài giọt lệ xúc động lăn dài trên má. Bác thấy vậy vỗ lưng tôi an ủi:
–           Tủi thân làm gì con…! Bác cháu mình có duyên gặp lại nhau ngày hôm nay là quí rồi, chỉ tiếc vắng cha cháu. Ngày đó cháu nhỏ tí, đen đủi, nhanh như cắt, nay tóc con đã bạc rồi…! Con giống cha quá, ta nhìn là nhận ra ngay.
Tôi quay nhìn xung quanh, và thấy có vài người gọi bác bằng cha. Tôi ngạc nhiên hỏi.
–           Ủa, Bác gái có mấy anh sao ? Con nhớ ngày đó bác gái muốn nhận con là dưỡng tử mà…!
Bác hai Hán nét mặt bỗng trùng xuống, thở dài:
–           Bà ấy qua đời lâu rồi, sau khi gia đình cháu suôi Nam. Ta trốn Cộng Sản bặt tin trong khi muốn tìm cha cháu, thì nghe cha cháu đã dẫn gia đình suôi Nam rồi. Bác thất trí, buồn phone đi lung tung trong khi bà ấy kiếm ta rồi mang bệnh mất giữa đường. Ta quay về tìm bà thì đã trễ rồi.! Các em sau này là con của người vợ kế của bác.
–           Bác à, anh Khuông bận nên anh xin lỗi bác, để bữa khác anh tới thăm bác.
Bác hán khoa tay nói:
–           Nó không tới càng hay. Bận cái gì…! Bận việc kéo bè kéo đảng với nhau để ăn cướp chứ có gì đâu, ta sống cả đời với chế độ này, chúng nó làm gì ta cũng hiểu…!. Ngày mai là ngày ông Bush qua họp APEC, nên nó bận là phải rồi, bận đi xin ăn đó mà…!
    Sau khi ngồi xuống ghế trong phòng khách và hỏi thăm bác vài câu về sức khoẻ và gia đình, tôi chợt nhớ tới chuyện hôm qua bác Hán nói bác Tựa muốn xử tử cha tôi nên tôi tò mòø :
–           Hôm qua nghe Bác nói anh Khuông là con bác Tựa. Nhà bác Tựa ở gần cổng nhà bà ngoại cháu phải không ?
–           Đúng rồi, cháu nhớ dai thật.
–           Lúc cháu bỏ làng đã chín mười tuổi rồi, cháu còn nhớ nhiều lắm đó bác.
–           Quê mình nghèo, làng lại nhỏ có bao nhiêu người đâu mà không nhớ…!
–           Bác Tựa là anh họ mẹ của cháu. Như bác nói hôm qua, tại sao bác Tựa lại muốn xử tử cha cháu vậy ? Cùng gia tộc mà…!
    Bác Hán nhìn ra ngoài trời qua khung cửa sổ, nắng chiều nhạt nhòa, có hơi ẩm của gió thu Hà Nội lùa nhẹ vào phòng, trong khi Phố Huế ồn ào tiếng động cơ của xe gắn máy, và đường như thành phố lớn nhỏ gì của VN cũng đều bị tra tấn bằng những tiếng động cơ này suốt ngày qua đem. Bác quay lại nhìn tôi với đôi mắt buồn vời vợi, lắc đầu bác nói:
–           Trong làng chỉ có bố cháu và bác theo cách mạng chống Việt Minh, thực dân Pháp, vì ta và cha cháu ăn học ở Hà-Nội, trong khi cả làng trai tráng đều học ở làng hoặc huyện tới lớp nhất là hết về làm ruộng nên họ nghe Việt Minh tuyên truyền đi làm du kích, trong đó có chú Quân của cháu và thằng Tựa là chủ chốt đầu đàn. Như cháu đã biết thằng Quân đã chỉ súng lục vào đầu bố cháu trong khi anh em cãi vã nhau, có điều thằng Quân không bóp cò thôi.
–           Chuyện này cháu biết, vì lúc đó cháu ở bên bố cháu mà.
–           Còn thằng Tựa, lúc đó nó là tiểu đội trưởng du kích huyện     Phú Xuyên, nó ra lệnh cho thằng Quân bắn bố cháu, thằng Quân nghĩ sao không bắn, và bỏ đi mất tích sau 1954 nó mới về, vì cha cháu bỏ Pháp về làng, rồi lại mang cháu vào Nam.
–           Cái thời cha cháu và bác bỏ làng vào thành kể ra thì dài lắm, nhưng đại khái là thằng Tựa cho kẻ dưới quyền theo dõi bác và bố cháu sau khi thằng Quân không bắn anh ruột của nó. Bác và bố cháu biết nên chẳng ngủ nơi nào một đêm thẳng giấc. Một đêm bác và bố cháu bất ngờ bỏ làng nửa đêm trốn lên Hà-Nội. Thằng Tựa biết thì đã trễ mặc dù nó đã cho tiểu đội dưới quyền
     nằm nấp sẵn tại ngã ba của ba làng Bái Vàng, 
     làng Vân và làng Hoàng Nguyên.
–           Vậy tại sao bác và cha cháu thoát khỏi chỗ ngã ba đó ? 
   Tôi buột miệng hỏi.
Bác hai Hán gật gật đầu có ve thú vị khi nghĩ về cuộc chạy đua với tử thần đầy nguy hiểm bởi chính anh em mình gây nên.
–           Cũng may bác và bố cháu đã không đi lối đó, bác và cha cháu đi qua lối làng Trằm lên đê Yên Phụ, nhẩy xuống thuyền trực sẵn ngược dòng vào Gia Lâm, rồi đi bộ qua cầu "Đuy-Me" vào Hà Nội.
–           Bác và cha cháu gan thật.
Bác Hán bật cười, sau đó nói trong khi bác lên cơn ho :
–           Cha cháu gan hơn ta…! Nếu không có cha cháu thì ta đâu có bỏ làng Thành Lập mà đi. Cha cháu rủ ta bỏ làng đấy chứ…! Thằng Tựa biết bác và bố cháu đã đi, nhưng nó không biết bác và cha cháu đi lối nào, nên nó vội vã chẳng nói gì với toán du kích huyện, cứ thế đuổi theo lên lối ngã ba làng nhưng không ngờ khi nó tới ngã ba thì chính toán du kích của nó bắn nó tử thuơng trong lúc sương mù không nhìn thấy chính xác là ai. Nhờ đó mấy thằng con của nó lên tướng lên tá gớm thật…!
     Tôi ngạc nhiên hỏi:
–           Tại sao, bác Tựa chết vì du kích bắn lầm mà các anh con bác lại lên cấp bậc mau lẹ trong chế độ Cộng Sản.
–           Cháu không biết là phải. Tụi CS siêu tra ba đời làm cách mạng theo đảng. Mấy đứa nó khai là bố nó bị giết trong khi thi hành nhiệm vụ bắt Việt Gian. Đảng CS tin đó là thật nên tụi nó được nâng đỡ từ 1954 tới nay. Tài cán gì…!
–           Anh Khuông nói với cháu anh có qua Liên Sô và Tiệp Khắc học Đạo Diễn quay phim. Chắc anh phải khá lắm chứ.
Bác Hán Lắc đầu.
–           Học mà có hành hay không chứ. Nó về VN sau khi du học có làm đuợc cuốn phim nào đâu. Toàn là nghe cấp trên mang phim tài liệu đem bán rẻ cho Hòa Lan rồi chia nhau tiền, bây giờ nếu cần tới là lại phải trả tiền mướm đắt gấp mấy lần đem bán…! Ngu ơi là ngu…!        
–           Cháu đã nghe anh nói bỏ nghề đạo diễn rồi mà…!
–           Đúng..! Mà phim CS quay ai mà coi, toàn chuyện bịa đặt để tuyên truyền không à..! Ta kiên nhẫn coi phim CS làm mấy chục năm rồi, chẳng có gì mới mẻ cả, chỉ những tung hô bác Hồ, chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bám hào quang của Điên Biên Phủ. Nếu có hô hào và bắt buộc chiếu ngoài trời để tâm lý chiến thì dân mới đi coi, bình thường đâu có thì giờ mà coi. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc coi cái gì chứ.
–           Dạ
Bỗng bác Hán hỏi tôi, sau khi tôi đứng dậy chào bác ra về.
–           Bao giờ con về lại bên Mỹ.
–           Dạ, có lẽ sau khi hết ngày khế ước du lịch này là con về Sài Gòn sửa sọan về Mỹ.
Giọng bác Hán bất ngờ trùng xuống.
–           Thôi, lần này là lần cuối bác cháu mình gặp nhau, đó là cái phước của bác cháu minh rồi. Con luôn giữ lòng nghe, bác có thể ra đi bất cứ lúc nào. Con về lần sau có thể không gặp bác nữa đâu…!
–           Dạ, con nhớ những gì bác đã nói với con hôm nay…!
    Tôi quay người bước vội qua cửa phòng khách, bước khỏi hiên nhà và rẽ phải để đi bộ về bờ hồ Hoàn Kiếm. Tôi biết bác Hán đứng nhìn theo bước chân tôi chạy trốn, bởi tôi biết rằng tôi không thể ôm hận thù cả cuộc đời được như bác, và mẹ tôi…!
một thế hệ đã dần đi vào quá khứ nhưng cố ôm lấy dĩ vãng đau thương…!
    Tất cả rồi cũng tàn, tham vọng bá vương rồi cũng bị hủy diệt theo thời gian và lòng yêu chuộng nhân bản. Cát bụi vẫn là cát bụi phù du..! Tôi chỉ là viên gạch về lại quê hương làng cũ muốn xây lại êm ấm tình anh em dòng họ, một ước bọng nhỏ nhoi mà tôi không muốn mất đi…! Xin lỗi cha mẹ, xin lỗi bác Hán, đường con đi sự thật quá dài và khó khăn trong khi oan nghiệt chính kiến trùng trùng nghiệt ngã trong dòng họ. Ai sẽ chĩa mũi súng vào đầu ai đây, và ai sẽ bóp cò súng đẻ giết lẫn nhau…! 
   Anh em là thủ túc, dân tộc là phương tiên đựa vào để sống còn, và cá nhân là cứu cánh thực hành những điều nhân bản phải có để con người vươn lên trong tự do toàn thiện., Con muốn xoay lại tư thế và tư duy trong lòng các anh em để xây dựng một thế hệ trong sáng hơn…!
    Bất ngờ trước mặt tôi là bờ hồ Hoàn Kiếm đông người qua lại, với những ánh đèn màu muôn sắc soi xuống dòng nước lung linh huyền diệu, thấp thoáng giữa hồ trong sương thu và ánh đèn lấp lánh trong sóng nước là đền thờ Le-Lai yên lặng soi hình đã bao năm…! Lê Lai cứu chúa…!
 
Hai
   Tôi theo anh Khuông về làng, Làng Thành Lập và làng Vân cách nhau con đường cái lớn xe hơi có thể đi vào giữa hai làng.
    Nếu đi từ Hà-Nội trên quốc lộ số một và lái nửa vòng cua ở lối thoát gần cầu Guột, rẽ trái chui qua cầu về làng cách Hà Nội khoảng 15 cây số.
Hơn năm mươi năm, nhưng tôi còn nhớ con đường lớn ở giữa hai làng Thành Lập, và làng Vân đã lót gạnh để dùng chung hầu chuyên chở ngũ cốc từ ruộng về nhà bằng xe bò hoặc gánh, và chiều về những con trâu, bò được những đứa bé dắt hay cưỡi trên lưng về chuồng cũng trên con đường này. Theo thời gian gạch trên mặt đường đã không còn, thay vào mặt đường là một lớp nhựa mỏng trải lên trên những đá sạn nhỏ , nên nhiều chỗ đã rộp trơ đất đã không được sửa chữa, và hẹp lại vì đôi chỗ đã lở lấn vào mặt đường.
    Tôi lạc lõng đi tìm từng lối mòn cũ sau khi hỏi anh Khuông cái đình có cây đa rợp cả góc sân ở giữa làng Vân, cái giếng nước cả hai làng đều gánh về nhà dùng ở đầu làng và Khải bạn tôi con Ông trưởng bạ Tỵ, và được anh Khuông trả lời:
–           Đình Làng Vân, cái giếng thì còn đó, nhưng Khải đã chết lâu rồi, để lại bốn con và vợ Khải là dì Tám con Ông Xã Cách ông cậu họ của mẹ tôi.
    Tôi bùi ngùi nhớ tới Khải, người bạn thủa nhỏ cùng ngõ, nhưng khi mười tuỏi Khải đã vì muốn lấy công với cán bộ du kích khi thiếu nhi họp kiểm thảo hàng tuần mỗi chúa nhật tại sân nhà thờ . Khải đã tố cáo tôi lẻn vào vườn nhà ông Vường hái trộm ổi cho nó ăn. Tôi đã sững sờ nhìn sác mặt đanh lạnh của nó và cố cãi :
–           Khải, mày xui tao vào vườn hái ổi cho mày ăn sao mày lại tố tao ? 
–           Tao xui mày, nhưngtao không hành động, còn mày hành động, do đó mày có tội. Khải nhìn tôi trả lời không có một chút sượng sùng.
    Tôi chỉ mặt Khải, vừa khóc vừa nói :
–           Mày là thằng phản tao.
Thế là từ đó tôi và Khải chơi với nhau bằng sự lừa dối nhau và e dè bị Khải mang tôi ra đấu tố trước mặt bạn bè cùng lứa.
    Bất ngờ chiến tranh ập tới với bom, đạn pháo đổ vào làng, và tôi theo mẹ bỏ làng không về từ đó. Dường như mỗi bước chân tôi đi là mỗi ngày một xa dần quê hương, mặc dù long tôi đôi khi quay về với nỗi nhớ mơ hồ hình ảnh cũ.
    Trươc mặt tôi là con đường cữ, những lối mòn xưa nhưng kỷ niệm cũ đã không còn bởi vì tôi đã không còn tìm ra những gì tôi cất dấu trong tâm khảm, thực thể cũng như những giấc mơ hồng làm tôi ngỡ ngàng. Bạn bè nhiều đứa đã ra đi vĩng viễn, những thằng còn lại trông già trước tuổi tới mười năm.     
    Đứa nào da cũng nhăn nheo bọc xương khô đét như cành củi, trong bộ quần áo có mấy miếng vá chằng chịt khác màu nhau, đôi mắt sâu mất thần mệt mỏi trên khuôn mặt gầy gò lồi lõm khắc khổ và mái tóc thưa vài sợi bạc trắng, và mỗi lần tình cờ tôi gặp một người gạn cũ trên đường, là mỗi lần tôi nhìn thấy nụ cười của họ méo xẹch như muốn khóc cho nỗi cơ hàn mà họ đã chịu đựng bao năm, tôi lại dúi vào túi rách của họ vài đồng đô đẻ an ủi và cũng đẻ giữ lại tình bạn của thơi quần xà lỏn chăn trâu năm xưa.
    Tôi là kẻ chỉ đủ ăn nơi xứ ngoại tầm gởi, nhưng đã trở thành áo gấm về làng trong cặp mắt than phục của dân tron glàng và bạn bè thơ ấu cũ, sự thể này đã làm tôi đau long và xót dạ khi nhìn thấy những nóc nhà tranh xiêu vẹo nghèo nàn vẫn còn đó trong làng tôi.
    Mấy ươi năm sống dưới chế độ Cộng Sản làng tôi vẫn không thay đổi được cái cốt lõi đi chân đất, cuộc sống trong căn nhà lụp sụp, bữa cơm độn khoai sắn nấu bằng rơm khô, và những trai gái trong làng đều quằn lưng cúi xuống trên cánh đồng lúa cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông nhưng thình người trong họ vẫn vươn lên trong những cuộn khói lam chiều bằng bạc bốc ra từ nóc rạ.  
     
    Tôi đi theo con lộ làng tìm tới ngôi nhà thờ ngày xưa tôi thường theo ông nội mỗi buổi sáng chúa nhật. Mái ngói và tường nhà thờ đã đen vì rêu theo năm tháng lên dầy. Tháp chuông cao vút còn đó yên lành trong bao năm chiến tranh, và con sáo sậu đang đậu trên cây thập tự gía đứng dương cổ hót vang tìm bạn.
    Lòng tôi bỗng dâng nên nỗi nghẹn ngào khi nhìn những đứa trẻ vô tư chơi trên sân, tuổi thơ tôi ngày trước diễn ra y hệt như nhóm trẻ đang vui đùa, chạy nhẩy và gọi nhau inh ỏi vang xa cả xóm bên cạnh nhà thờ. Tuy nhiên lối chơi của chúng tôi ngày đó khác với lối chơi bấy giờ của đám trẻ đang chơi trước mắt tôi.
    Chúng tôi chơi những trò chơi tập trận gỉa, tập làm du kích bắn Tấy và tập làm kẻ đưa thư mật trong đám đông và cuối cùng trả lời những câu hỏi của anh chị du klích về gia cảnh cha mẹ đang sống do cán bộ du kích hướng đẫn. Đôi khi vắng cán bộ chúng tôi trở về với những trò chơi trẻ con như bịt mắt bắt dê, nhẩy dây v.v.. Nhưng bây giờ chúng đang chơi đấu võ, vật lôn, đánh khăng và chửi lộn tục tũi với tiếng hô bắn súng bằng miệng đùng đùng giữa buổi chiều không có tiếng chuông ngân để gọi tín hữu đọc kinh niệm. Chúng đã làm tôi nghĩ tới những tối trăng rằm học tập kiểm thảo tố giác lẫn nhau, để lấy điểm với mấy anh chị cán bộ du kích quân ngày đó. Những đứa trẻ làng ngây thơ đã được những bà mẹ quê đẻ ra để học đòi chiến tranh, và theo sự tuyên truyền đi tới giết người không ngần ngại như bác Tựa đã không biết gia tộc là gì. Họ vinh danh những đứa trẻ nào dám mang chuyện gia đình cha mẹ ra nói trong buổi học tập, và hô hào chúng tôi phải tranh đua với nhau trong sự đẽo súng gỉa bằng cây để thực tập bắn thực dân Pháp. Họ dạy chúng tôi làm cách nào dò hỏi tin tức để báo cáo cho du kích quân và họ đã dạy chúng tôi ca những bản nhạc tuyên truyền, nhưng sau khi về nhà cha mẹ chúng tôi lại chỉ dẫn phản ngược lại đường hướng cán bộ du kích chỉ dạy, do đó lòng chúng tôi chẳng được yên bình trong yêu thương mà toàn những nghi ngờ đố kỵ lẫn nhau.
 
Vùng trời Đông anh hùng tươi sáng vùng lên…
Đàn bồ câu trắng bay về trong nắng mới…
Đàn bồ cấu xiết tay nhau…
Súng búa liềm trên đường tranh đấu…
tới hoà bình… Nhà máy vang rền lúa vàng…
Đảng Lao Động Việt Nam là dòng máu…
toàn dân đấu tranh…!
 
    Bây giờ những đứa trẻ trước mặt tôi đã không hát những bản nhạc tuyên truyền đấu tranh cách mạnh để kêu gọi giới trẻ hy sinh vì nước nữa, vì hiện tại đã không còn chiến tranh và quân thù mà chỉ còn dân nghèo với ách thống trị của đảng Cộng Sản trong đời sống người dân, do đó người Cộng Sản đã chuyển hướng tuyên truyền mị dân và dạy những đứa trẻ hát những bản nhạc ca ngợi Hồ Chí Minh như một vị thánh, như người cha của dân tộc và vinh danh HCM như một huyền thoại trong nhân gian miền quê hầu người dân dễ tin để tiếp tục hy sinh cho đảng. Cũng như cán bộ chính trị làng đã dạy cho các em luôn luôn có đảng và vì đảng để làm bất cứ chuyện gì với thực chất tam vô trong chính sách mị dân của họ.   
    Những bạn xưa của tôi bây giờ đã vắng bóng, chỉ còn tôi đứng cô đơn tưởng lại hình bóng mình qua lũ trẻ dại dột ngây thơ quê mùa như tôi ngày cũ.
    Tôi nhìn đường thẳng của hai cánh cửa chính của nhà thờ với hai cánh nặng nề đã khép, tự nhiên tôi mỉn cười bước tới đẩy thử xem cánh cửa có mở ra như thủa nhỏ tôi cũng đã làm để lẻn vào trong nghịch ngợm, phá phách một mình một cõi không ngưng tay với chiếc quần sà lỏn đen đủi dơ bẩn không áo, và mớ tóc rối bù bên trong nhà thờ. Tôi đã dùng cây sào thắp nến trên các bệ thờ cao để bắt những con chim sẻ non đậu trên đầu, tay các bức tượng. Tôi đã ham đưổi theo những con chim yếu ớt , cố tình đập những những con chim sẻ đang hớt hãi bay và đậu trên đầu, tay các bức tượng trên cao, nên vô tình đã làm đầu và tay các bức tượng vỡ nát rơi xuống sàn gạch làm vang lên những âm thanh lạnh sắc trong khung cảnh tĩnh mịch của trưa hè quê nội .
    Ngày đó tôi đã bị ông trùm coi nhà thờ bắt tại trận và dẫn tay trao cho mẹ vì lỗi lầm phá nơi tôn nghiêm. Tôi đã bị mẹ bắt nằm xuống giữa sân nhà phạt trận đòn để đời trước khi mẹ tôi đi Hà Nội mua những bức tượng khác đem về trả lại cho nhà thờ.
    Sau đó tôi bị đau nặng cho nên mẹ đã nói rằng : Chúa phạt thằng quỉ con phá nơi thờ phượng nhà chúa.
Mẹ tôi lại phải cõng tôi đi thăm thày thuốc bắc bên làng Vân và sáng chiều đi nhà thờ đọc kinh xin lỗi chúa cho tôi được bình phục trở lại.
    Tuổi thơ tôi là cái ao sâu trước sân nhà thờ và cây gạo trổ bông đỏ. Trước khi tôi biết bơi trong ao, tôi đã nghe anh Kềm, người bạn lớn tuổi bắt con chuồn chuồn ngô cho cắn vào rốn để tập bơi, và sẽ dễ dàng bơi giỏi hơn mọi người.
    Tôi nghe lời anh đi săn bắt bằng được con chuồn chuồn ngô đang đậu trên ngọn cây bắp, can đảm kéo trễ quần sà lỏn, nhắm mắt, cắn môi, nhăn mặt dí miệng con chuồn chuồn ngô lớn bằng ngón tay cái cho cắn vào rốn đến chảy máu. Ấy thế mà tôi vẫn giả bộ anh hùng trước đám trẻ cùng lứa, và nụ cười mỉm hóm hỉnh của anh Kềm để can đảm nhảy xuống ao tập bơi. Nếu không có anh Kềm ngồi trên bờ chắc tôi đã bị chết đuối ngay chiều hè đó.
    Cái ao bên cạnh nhà thờ còn đó trước mặt tôi nhưng anh Kềm đã không còn và bạn bè nghich ngợm phá làng của tôi ngày cũ cũng đã chẳng có ai bên tôi trong nỗi buồn vời vợi hôm nay.
    Cây gạo hoa đỏ trên bờ ao cũng mang vào lòng tôi nhiều kỷ niệm vui buồn. Thủa vàng son tuổi dại tôi cùng Mến cô bé gần nhà thường dẫn nhau chạy tới gốc gạo để ngước cổ nhìn hoa rơi, và đuổi theo hứng từng cánh hoa rụng, vì nếu để hoa rớt xuống đất là hoa sẽ nát và tung ra chung quanh những giọt nước đỏ như máu.. Khi hứng được nhiều bông, chúng tôi xếp lại làm trò chơi bán hàng, hoặc trò cưới hỏi vợ chồng trẻ con với đám trẻ cùng trang lứa ngay bên gốc gạo.
Gốc gạo già đã bị đào từng rễ vất đi, và Mến cũng chẳng còn là cô bé thơ ngây ngày cũ để làm vợ tôi trong tuổi dại khờ.
    Mến cũng đã già và 5 con đã lớn lên trong chế độ Cộng Sản, nên chúng cũng chẳng biết gì về tình bạn của mẹ. Đôi vai Mến gầy cũng như tất cả dân miền Bắc đã gánh cả đời chế độ khắc nghiệt và cuộc sống đói khổ của
những năm chiến tranh kéo dài trên quê hương với hy vọng người dân có ruộng để cày sau khi đánh đuổi thực dân Pháp như Hồ Chí Minh đã nói trong ngày tuyên ngôn độc lập tại Ba Đình.
    Khi Cộng Sản đã cưỡng chiếm được Miền Nam, và thống trị cả nước, người dân miền Bắc tưởng sẽ đầy đủ vui sướng, tự do hạnh phúc hơn, và không còn hy sinh cho đảng CS.
     Không ngờ người dân quê miền Bắc nghèo lại nghèo thêm và lại phải hy sinh thêm cho đảng Cộng Sản nhiều hơn trước, vì cảnh Công An trị bá đạo lạm quyền trong luật lệ tàn nhẫn của CS để cướp đất ngang nhiên của dân nghèo để làm giầu…! 
    Giai cấp đấu tranh của Engels, Karl Marx và Mao đã được thẩm thấu qua chính sách của Mao trạch Đông và Hồ Chí Minh đang áp dụng trên quê hương họ.
    Trước 75, dân nghèo miền Bắc đưọc đảng hướng dẫn tranh đấu bằng đấu tố giữa nhân dân với nhau để tàn sát tiểu tư sản và địa chủ hầu vươn lên thế giới đại đồng. Tiểu tư sản và địa chủ chết, dân bần cùng không còn ai để tranh đấu, đảng CS không còn mục tiêu để mị dân, họ đưa dân vào miền Nam gây chiến tranh bằng câu châm ngôn giải phóng dân tộc đuổi Mỹ như trước 54 chống Pháp làm thiệt mạng mấy triệu dân lành trong ý đồ bá đạo. Sau khi cưỡng chiếm miền Nam họ xoá sạch những gì miền Nam xây dựng để đi tới bao cấp cho những người mà họ cho là có công với nhân dân và dân nghèo toàn diện đất nước.
    Dân làm chủ mọi thứ theo chính sách miệng lưỡi CS, nhưng dân vẫn nghèo mạt rệp, trong khi các đảng viên chính trị bộ của đảng CS là nô bộc của dân lại giàu sụ và trở thành tư bản đỏ.
    Cuối cùng đảng CS đem người dân nghèo ra đấu tố để cướp quyền căn bản công dân và tự do ngôn luận của họ, Việt Nam trở thành nhà tù lớn nhất thế giới.
 Một đường lối tranh đấu giai cấp bánh vẽ chỉ có trong chế độ Cộng Sản …!
 
Ba
   Tôi đứng tiếc nuối kỷ niệm vàng son trong nắng thu về chiều, thỉnh thoảng có những làn gió hiu hắt từ đồng ruộng thổi ngang qua mang theo hơi ẩm và mùi hăng hắc của lúa gịa chưa khô trên cách đồng đang gặt.  
 
Tôi về đây gánh theo đời tuổi dại
Nhớ ngày xưa cô bé đã chơi chung
Nhìn hoa gạo chạy theo tay chụp bắt
Ôm vào lòng sắc máu vỡ tơ nhung
 
Gốc gạo già, thời gian đà thay đổi
Đã đâu rồi hoa đỏ rụng trên không !
Trong nắng chiều xa bay con chim sáo
Cánh vỗ dập dồn vội vã sang sông
 
Kỷ niệm đời vỡ tan ra từng mảnh
Vội vơ vào sắp lại dấu yêu xưa
Ôi thời gan chắt chiu nơi quê nội
Hoa gạo giờ tan rã cánh trong mưa
 
Năm mươi năm kỷ niện xưa còn nhớ
Phím tơ chùng tóc đã trắng còn đâu.!
Buồn đổ lệ bước đi lòng để lại
Giữa hoàng hôn quê cũ một phiến sầu.!
 
     Tay cầm chiếc máy JVC hard disk Camcorder Everio, mắt nhìn vào đám cò trắng đang ồn ào kiếm ăn trên vũng ruộng nước ngập tới mắt cá chân, và thỉnh thoảng có con giật mình vì tiếng động đâu đó đập cánh bay vút lên, rồi lại từ từ hạ xuống. Tôi cũng đã làm chúng bất ngờ bốc cách bay tới ruộng nước khác cách xa tôi vài trăm mét, vì tôi bị ngã trên bờ ruộng hay vô tình để chúng nhìn thấy.
    Tôi cố gắng quay những cánh cò trên quê hương
để làm kỷ niệm già lỡ mai không về, trong khi tuổi đời cũng đã gần thất thập chi thiên mệnh. Tôi cố chộp bắt những hình ảnh quê tôi vào lòng, thì tôi lại càng làm vỡ tan những yên tĩnh của đồng nội, vỡ tan những ký ưc xưa rối bời trong trí bởi xúc động như sóng vỗ dồn dập ùa về khi chiều nắng đã chênh chếc phía tây. Những con chim đang lượm những hạt thóc rơi trên ruộng khô thấy tôi chúng bỏ chạy, hay tung cánh bay đi, hoặc kêu vang gọi nhau tìm nơi an bình khác.
Tôi càng kiên nhẫn bám sát đàn cò để thâu vào ống kính, thì những cánh cò lại luôn luôn chú ý tới tôi, chúng bắt đầu cảnh giác nhau bằng những tiếng kêu khác lạ như báo động cho nhau biết là có tôi đang theo chúng, rồi bỗng chốc chúng đồng loạt kêu vang, tung cánh vút lên trời trong chiều vàng bay về phía chân trời thật xa, chúng bỏ lại tôi bơ vơ nhìn những ruộng lúa vàng ngả ngọn trên cánh đồng đã có những đám mây xám kéo về.
 Tôi lang thang giữa cánh đồng lúa chín mênh mông đứng dõi mắt thật xa để tìm nóc nhà thờ hầu lấy phương hướng về làng.

    Tôi đang vấp ngã ì ạch và lảo đảo trên những bờ ruộng trơn chợt vì sấp nước, và tôi đã cười lớn để phục tôi 
sao ngày xưa tôi chạy trên những bờ ruộng lúa này không bị ngã …hay thế!
    Bỗng có một bà cầm cái cuốc chạy tới bên hỏi tôi :
–     Ê Trống, mày còn nhớ tao không ?
Tôi chợt liếc nhanh bà ta với chân lấm tay bùn cầm cái cuốc và quần áo chẳng lành, đội chiếc nón hơi rách cạp, và tóc cũng đã hoa râm, với da nhăn cằn cỗi. Tôi đoán chừng bà ta khoảng 70.
–     Tôi không còn nhớ bác là ai, tôi xin lỗi bác. Sao bác biết tên tôi ? Tôi lúng túng trả lời.
    Bà ta bật cười :
–    Xin lỗi cái con khỉ. Tao thấy có người lạ về làng và hỏi thăm mới biết mày về làng đấy chớ. Mày còn nhớ quê là hay lắm, nhiều người đi rồi không về. Họ quên luôn, hay chết mất xác nơi xứ người..!
–   Tôi về đây lần này là lần thứ hai. lần trước tôi về có khoảng một tiếng đồng hồ rồi đi ngay. Bác là ai vậy sao tôi không nhớ được…!
–     Vậy à…! Chăc tao gìa lắm rồi nên mày nhận không ra …!
    Tôi nhìn kỹ người lạ một lần nữa,i lắc đầu.
–           Thú thực tôi không biết bác là ai. Tôi bỏ đi lâu quá rồi. Đối với ai trong làng này đều lạ đối với tôi.
–           Hồi còn nhỏ tao và mày ưa chơi bắt ú tim ở sân nhà thờ.
–    Mày không nhớ tao thật à ?
   Tôi thắc mắc nhìn lại bà ta lần nữa để tìm kiếm trong
kỷ niệm thủa nhỏ, may ra nhận được người lạ là ai.
Nhưng tuyệt nhiên tôi không tìm ra một chút gì gợi nhớ cho tôi. Tôi lắc đầu. 
–     Thật tình tôi không nhớ bác là ai.
    Bà ta lại cười một cách thân mật :
–    Bác cái đếch gì! Mày quên cũng phải thôi…! Tao quê mùa tối ngày trong làng không đi ra khỏi ruộng lúa. Tao nhỏ tuổi hơn mày. Tao là cái Sao con ông Chương ở làng Vân có cây nhãn trước nhà, mày thường tới trèo lên hái nhãn cho tao ăn.
–     Mày nhớ chưa ?
    Tôi nhíu may suy nghĩ, và hình ảnh ngày xưa tuổi dại hiện ra.
–    Ồ ra Sao… Mấy cháu rồi…! Xin lỗi nghe, tôi quên Sao thật đấy…!
    Tiếng Sao cười vang.
–     Ba đứa, hai trai một gái, chết thằng lớn trong Nam đi bộ đội, tao tìm không ra xác nó, còn hai đứa đã có gia đình rồi.
–     Tụi nó làm gì ?
–     Một thằng đi bộ đội ở trên tỉnh, đứa con gái lấy chồng ở làng Thành Lập con trai thằng Khải đấy, Mày nhớ thằng Khải con ông Bạ Tỵ không ? Tao tất cả sáu cháu rồi. Mày thì sao ?
–     Từ ngày bỏ làng ra đi tôi vẫn không có gì cả… Chạy dài như Sao thấy đó.
–     Nhưng mày sưóng hơn tao. Mày đi đủ nơi, biết được mọi thứ, còn tao cứ ở cái quê nghèo này hoài…!
–     Số trời mà.
Nói xong tôi dúi vào tay Sao 20 chục đô la. Mặt Sao buồn hẳn lại lẩm bẩm như khóc.
–     Tao hỏi thăm mày không phải là xin tiền đâu ! Tao mừng được gặp lại bạn cũ thế thôi. Tao sống nghèo ở đất này quen rồi…! Sao mày lại đưa tiền cho tao, mặc dầu tao nghèo.
Tôi bùi ngùi.
–     Tôi tặng Sao đó mà…! Hơn nữa tôi bận lắm không nhớ ai để đi thăm, gặp nhau ngay trên cánh đồng quê này là may rồi…! Cố gắng sống nghe Sao… Ngày mai tôi đi rồi…
Sao luồn 20 đô la vào túi aó, sau lời cám ơn rồi trố mắt nhìn tôi.
–     Mày đi bao giờ mày lại về ? Chắc khi mày về làng lần nữa thì tao đã chết rồi.! Đám bạn của mày và tao đã chết gần hết rồi…!
Tôi cúi đầu giấu nỗi buồn, nói với Sao.
–     Thôi chào Sao nghe…! Mong rằng mình sẽ gặp lại.
–     Mày đi bằng an nghe Trống…
   Tôi cúi đầu bước đi thật nhanh như chạy trốn những kỷ niệm chợt bùng lên trong trí nhớ mà ở đó có Sao, có Mến, có Khải…có những người bạn trẻ vui đùa tắm ao tắm sông… và có cả ông bà nội ngoại ngày xưa…!
Quê tôi đó…! Quê tôi nghèo nàn và oan nghiệt như một vết đâm lút cán vào hồn tôi với những gì tôi tìm thấy và nghe được…
    Những con cò mang xác người thực sự đã không còn hoà bình trên đồng nội, mà thực ra họ đang chết dần mòn trên chính mảnh đất yêu thương cằn cỗi từ thủa nào cha ông để lại, nay họ cố giữ nhưng không biết
bao giờ sẽ phải buông tay vì kiệt sức …!
 
Ôi tự do và hạnh phúc…!
Tôi vẫn thế bưóc đi hồn bỏ lại
Lệ không dâng sao mắt lại chợt cay
Không thổn thức sao trong lòng sóng động
Đông không về sao có gió heo may…!
 
Viết để nhớ lại một ngày về làng Thành Lập
 
San Jose Feb. 24, 2007.