CAO MỴ NHÂN: Nỗi Nhớ Nhung Trong NGÀY SINH NHẬT: THƠ MÙA XUÂN CÒN NÁN LAỊ & CHÙM THƠ: Bềnh Bồng Nỗi Nhớ. Lời Thơ Chay. Đèo Hải Vân.

MÙA XUÂN CÒN NÁN LẠI.  –  CAO MỴ NHÂN

*

Lại một đêm thiếu ngủ

Em nằm đợi nhớ nhung

Chan hoà trên mặt gối

Những giọt lệ mông lung

*

Vùi đầu giữa gối chăn

Tưởng châu thân ấm áp

Hoá ra lòng bâng khuâng

Tiếc thương bao mất mát

*

Trăng rơi vào rét mướt

Hồn bất chợt chơi vơi

Em chờ nghe tiếng bước

Anh về từ xa xôi

*

Hai mươi lăm tháng ba

Mùa xuân còn nán lại

Bông hồng vàng kiêu sa

Mỗi năm thêm hoang dại

*

Anh nhìn em ái ngại

Thương xót cuộc tình buồn

Người yêu ơi huyễn mộng

Che kín cả  nụ hôn …

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

 25 – 3 – 2022

HAPPY BIRTHDAY NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN

BỒNG BỀNH NỖI NHỚ .    CAO MỴ NHÂN

*

Với tay, chạm phải đoá quỳnh

Không gian bất chợt rùng mình trắng hoa

Phải người vừa chạm tim ta

Đã hoang liêu gọi thiết tha về gần 

*

Quỳnh rơi từng giọt lỡ lầm

Mỉm cười tình cũng phù vân như người

Bao nhiêu ngày tháng trên đời

Là bao nhiêu nỗi tuyệt vời mang đi 

*

Một năm hoa nở từ bi 

Một năm ta vẫn mê si ảo huyền

Một năm thắp nén hương nguyền

 Tái sinh theo một bóng thuyền lênh đênh 

*

Vô cùng vạt nắng mông mênh

Thôi em trả lại Bồng bềnh tình quân 

Bên bờ Suối Bạc mùa xuân

Vấn vương huyễn sự bâng khuâng kiếp này… 

*CAO MỴ NHÂN (HNPD)

*****************

LỜI THƠ CHAY.    CAO MỴ NHÂN 

*

Hẹn em ở Đa Minh

Suốt đêm nhà thờ thức

Đợi về Lễ Phục Sinh

Easter day Chúa nhật

*

Suốt tuần chay cô đơn

Lời kinh mang nỗi nhớ

Hồi chuông rơi van lơn

Lệ chan hoà sầu khổ

*

Bài thánh ca ru êm

Cả không gian rạng rỡ

Ánh lửa soi trái tim

Xoá tan cuộc tình lỡ

*

Từ hoang liêu nụ cười 

Anh trao em nở hoa

Niềm tin yêu tuyệt vời 

” Chúa ở cùng chúng ta …” 

*

       CAO MỴ NHÂN 

ĐÈO HẢI VÂN  3/ 1975.    CAO MỴ NHÂN

*

Câu chuyện 30 tháng 4

Nghe như nửa thực, nửa hư

Thực vì máu và nước mắt

Ngập tràn xác người tản cư

*

Chạy bộ trên đèo Hải Vân

Bộ hành xô xe xuống vực

Đoàn sau ào lên phía trước

Không kịp suy nghĩ, lần khân

*

Chạy lao vào nhau chết thảm

Già , trẻ , lớn , bé khóc la

Chạy từ Huế vô Đà Nẵng

Có người lại lộn trở ra

*

Đại tá tỉnh trưởng Thừa Thiên

Đậu trực thăng trên đỉnh núi

Thét gào trong máy truyền tin

Một ngày mấy lần lui tới

*

Ông cũng như người tị nạn

Không hiểu trung ương muốn gì

Chưa ai quan tâm thù hận

 Chỉ cần vượt thoát chốn ni

*

Chẳng ai muốn dừng, dù đêm

Không ăn không ngủ, đau rên

Cứ đi như khùng, như dại

Người ôm thây ma cuồng điên

*

Thế rồi cũng qua mọi sự

Rùng mình sợ hãi quẩn quanh

Chao ôi đâu là lịch sử

Chỉ toàn máu lệ hôi tanh

*

Hải Vân gió hú đêm sương

Chập chờn hồn ma tức tưởi

Cuối 3/75 đau thương

Người người tả tơi, rách rưới

*

Tôi trong ” phái đoàn cứu trợ “

Ấn vào tay họ chút quà

Hất ngang, họ đi như sợ

Cản đường, không để họ qua

*

Trở về Nam Ô chở nước

Đặt bên vệ đường ” tự do “

Đoàn người lênh đênh khốn khổ

Trừng trừng mắt ngó hư vô…

    CAO MỴ NHÂN




Đêm Sương Hà Nội CAO MỴ NHÂN

Đó là buổi cuối cùng bố tôi cho cả nhà đi Hà Nội thăm họ hàng và nhất là nhìn lại cái thành phố trước đó đã khắc sâu trong lòng ông khá nhiều kỷ niệm.

Bấy giờ (1954), ông đang làm phó giám đốc phi trường Cát Bi Hải Phòng nên thường đi Hà Nội chơi, tất nhiên cho cả nhà theo, vào những ngày Chủ Nhật.

Từ Hải Phòng về Hà Nội có 100km, chạy trên quốc lộ số 5 chỉ qua thành phố Hải Dương, ghé nhà chú ruột tôi ở số 1 phố Hàng Đồng rồi lên Hà Nội như chương trình đã định.

Bố tôi xuất thân từ trường Bưởi, sau đổi thành Chu Văn An, từng làm giám đốc sở máy đèn kiêm sở máy nước ở Sa Pa, nơi chị em tôi ra đời, để bây giờ các nhóm bạn văn nghệ cứ gọi đùa tôi là Mỵ Sa Pa.

Trở lại buổi cuối cùng về Hà Nội, sau đó xuống lại Hải Phòng rồi di cư vào Nam 25 – 9 – 1954 trên chiếc phi cơ nhỏ hai hay bốn cánh quạt, không biết có phải là DC3, DC4 dân sự không.

Chỉ hơn 10 năm sau, tôi đã bay như bươm bướm trên trời khi làm công tác xã hội trong Quân lực VNCH, qua những chuyến bay của nhiều loại phi cơ khác nhau như Cessna, trực thăng, HUIB, C46, C47, C119, C123, C130.

Thậm chí có khi còn phải quá giang L19, L20 đi thả truyền đơn trên vùng xôi đậu để được mau chóng về nhà khi đã xong công tác tiền đồn, lũ lụt, v.v..

Tôi muốn kể quý vị nghe về đêm sương Hà Nội.

Lẽ ra cái ấn tượng này chỉ có ở những quý vị vừa quá cố như nhà văn Mai Thảo hay thi sĩ Cao Tiêu tức cố đại tá Hoàng Ngọc Tiêu, nguyên cục trưởng Cục Tâm lý chiến Quân lực VNCH.

Tôi đoan chắc thế vì tôi không được thân nhà văn trưởng thượng Mai Thảo, nhưng trong văn chương ông có những đêm sương Hà Nội.

Còn thi sĩ đại tá Cao Tiêu là niên trưởng của tôi, đã từng cho tôi xem những bức hình ông hay ông bà chụp ở hồ Gươm Hà Nội.

Gia đình ông bà ở Hà Nội nên đêm sương Hà Nội trong ánh điện đường màu vàng thời Tây thuộc là một hình ảnh rõ nét, nhưng lại mơ hồ vì cái lạnh len vào thân áo lãng tử, giai nhân day dứt lắm.

Bố tôi chắc chắn trọng tuổi hơn nhị vị tên tuổi nêu trên, vì buổi âm thầm từ giã Hà Nội, bố tôi đã 44 tuổi. Số tuổi trung niên hào hoa, phong nhã, hẳn phải đẹp thế nào rồi.

Nhưng thời thượng bấy giờ không phải dấu ấn Mỹ với quần jean áo thun như ngày nay, mà vết tích Tây là bộ đồ vest sang trọng lúc nào cũng kèm cravat, đôi khi còn có áo gilet bên trong, mặc cho đứng thân áo, không hẳn cho ấm áp thôi đâu.

Buổi cuối cùng để lìa xa thành đô yêu dấu như trong bài hát của nhạc sĩ Vũ Thành, bố tôi để gia đình chơi với họ hàng rồi vội vã đi Khâm Thiên cầm trống chầu nghe hát ả đào.

Thế nên sau này khi gia đình đã di cư vô Nam, thủa ban cổ nhạc Bắc phần hát trên Đài phát thanh Sài Gòn với những nghệ sĩ Kim Bảng, Huệ Đăng, v.v. là giờ cao điểm của bố tôi để ông nhớ Bắc Kỳ quốc của ông.

Chúng tôi không được nghe nhạc dân ca đầu tiên ở miền Nam như Tình ca, Thuyền viễn xứ, v.v. của Phạm Duy.

Bấy giờ cả nhà chỉ có một cái radio, không phải như hiện nay ở nhà tôi từ con tới cháu mỗi người một Iphone, Ipad, kể cả tôi, sử dụng tiện lợi.

Thành ai trong nhà cũng có hai món chơi văn minh vừa nêu, mỗi người tha hồ chui vào phòng riêng thả hồn mơ mộng nghe thơ, nhạc theo sở thích của mình.

Nhất là tôi bây giờ còn mặc sức tung hoành coi và nghe HNPD.COM hay HNPD.NET, hầu mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây, để viết thơ tình muộn riêng cho anh… huyễn hoặc tâm tư tình cảm mình.

Chị gái tôi buổi từ giã Hà Nội còn vị thành niên, đứng ở Hồ Hoàn Kiếm, tên khác của Hồ Gươm, còn khóc theo một kỷ niệm bỏ lại.

Có lẽ trong nhà chỉ có tôi là giận bố vì vẫn chưa đưa đi ăn kem ở Bờ Hồ và khi ngồi trên xe traction về lại Hà Nội, tôi đã ngủ khò một mạch.

Qua cầu Thượng Lý cao vời, chợt nghe tiếng bố tôi nói:

Ơ hay, cái con Mỵ này, lúc nào đi xe cũng ngủ mới lạ.

Buổi cuối cùng ở Hà Nội theo như bố tôi diễn tả, ông nhớ nhất cái đêm sương, cũng chỉ để giữ lại trong lòng một kỷ niệm ướt át.

So ra với tôi hôm nay thì bố tôi khổ quá, ông không biết đẩy cái kỷ niệm, hay văn vẻ hơn là cái nỗi nhớ thương xa xót của ông đi đâu, vô một góc khuất nào trong tâm hồn chẳng hạn.

Thế nên bây giờ tôi chẳng cảm thấy ngại ngùng khi viết ra những bài thơ tình tưởng là khốn khổ, hoá rất êm đềm, huyễn ảo, huyền mơ.

Nhất là giữ được hình ảnh anh trong hàng chục tập thơ. Chu choa. Kể ra anh lại giận bây giờ. Anh sẽ lớn giọng: ai cho phép tự tung tự tán tình cảm rứa, mới là lạ lẫm.

Anh bảo ở miền anh, tức miền Trung mộng mơ, không cần cái đêm sương ẩm lạnh như Hà Nội của quý vị, với Huế đúng nghĩa phải kể đêm mưa.

Muốn rõ rệt hơn thì đêm mưa Huế. Có buồn bao nhiêu đi nữa vẫn là những đêm mưa xót dạ ở Hoàng thành…

Mà thôi đừng nói mưa Huế xót xa, day dứt chi nhiều, bởi nghe mưa Huế không thất tình vẫn cứ buồn thương, tuyệt vọng lắm nờ.

Rứa thôi ta bỏ Hà Nội, Huế đi, vô hẳn Sài Gòn để hưởng thụ những đêm say tuyệt hảo, say men bia rượu hay say đắm tình người.

Quả vậy, chỉ ở Sài Gòn mới dám sống thực, yêu hết lòng, cạn liệt tình thơ, vẫn còn nhiều điều kiện để yêu thương rồi chấm dứt, thường đùa là chết bỏ vậy đó.

Quê hương Việt Nam mỗi miền, mỗi thành phố có một sắc thái riêng như đêm sương Hà Nội, đêm mưa Huế, đêm say Sài Gòn.

Với tôi còn có những đêm khí núi hơi rừng mù mịt Sa Pa, thời Pháp còn ghi chú thêm nơi bản khai sinh tôi là xã Xuân Viên, làng Chapa, tỉnh Laokay.

Lý do Sa Pa là làng nghỉ mát của tất cả những ông Tây bà đầm tứ xứ trên đất nước Việt Nam, mỗi năm về an dưỡng.

Nói một cách khác, Sa Pa là làng nghỉ mát ở Đông Dương do Tây thành lập để an dưỡng người già và người bệnh thời Pháp chiếm cứ miền Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 vừa qua.

CAO MỴ NHÂN




CHUYỆN HÔM KIA – Cao Mỵ Nhân

CHUYỆN HÔM KIA.    CAO MỴ NHÂN 

*

Chuyện hôm qua đã cũ rồi, mà “Chuyện hôm kia” còn cũ rích hơn nữa. 

Anh đang mỉm cười xem thử mình định nói gì ? 

Có gì đâu mà …nói chớ, đó là một cụm từ, tưởng giống như một chùm hoa trong bài thơ ” Chiêm bao” của thi sĩ Bùi Giáng . 

Anh lặng người đi một thoáng, anh biết lúc này mình đang buồn lắm, anh có thể khiến mình vui tức khắc, nhưng anh vẫn không làm. 

Tại sao thế? 

Người ta rất thương một tha nhân hấp hối, có thuốc cứu sẵn trong tay, nhưng vẫn nhất định không đưa cho kẻ hấp hối đó uống. 

Vì nếu kẻ hấp hối đó sống lại, tha nhân đó sẽ biến thành thân nhân của vị đại phu ngay.

Nên đã quyết liệt thề, là cùng thiên nhiên bỏ mặc khách hấp hối bên trời, nếu Thượng Đế cho người hấp hối đó sống, thì được sống, mà nếu không tự lực được, như cánh chim không vươn lên nổi,  phải tan ra thành cát bụi vô thường…

Thì cũng đành thôi…

Anh, chẳng lẽ anh lại ” tàn bạo ” thế sao ? 

Anh trầm tư, rồi ung dung trả lời: ” sao không bảo là tôi ác, còn cố tránh tiếng ” ác ” này ? Có phải vì quá đắm say tôi đó không?” 

Tại sao anh cứ đọc được ý nghĩ của mình, tôi phải nghe trọn một ngày những bài thơ của Bùi Giáng, do đủ các thành phần các giới trong nước bàn soạn, tán tụng ông thi sĩ cuồng chữ này.

Khởi sự, nhà thơ họ Bùi chỉ gàn bướng, khinh khi thế nhân, trong phạm vi khả năng khiêm tốn nhất, là ” điên ” cho  thiên hạ khỏi thắc mắc. 

Người ta có thể điên theo mức độ bất như ý của mình …

Điên vì thời cuộc, vì danh dự, vì tự ái, vì bị áp bức, ganh ghét, xấu hổ, mất mát, ân hận…vv…

Chắc tôi có thể bị điên vì mức độ nhẹ nhất trong những lý do  nêu trên, vì mất mát và ân hận. 

Anh thở dài: ” có thể chỉ vì ân hận thôi, nhưng trong tâm tư vẫn như vương vấn một điều là tiếc nuối phải không ? 

Lại hình như đúng quá. Song nếu chờ anh đưa linh đan cho uống, thì, có lẽ mình đã ở đỉnh tháp ngàn thương rồi. 

Do đó cả 2 người : anh và mình, phải đào huyệt chôn cất cuộc tình buồn… 

Ngắm mộ tình bơ vơ trong nỗi sầu tư thơ Bùi Giáng kể lại “chuyện hôm kia “, mình đành tự bạch với thinh không, và thấm nhuần tư tưởng hư vô ngay khi mình đang có tất cả . 

Thế nhưng, mình có thể tìm anh trong nỗi nhớ, ấy là mình tiết lộ cho anh hay: 

Thực ra, riêng bài thơ Chiêm Bao của thi sĩ Bùi Giáng, có cái tên tức cười lắm : ” Tặng Lyn Rô “, tức là ông nhà thơ cuồng chữ đó tặng Nữ tài tử điện ảnh Mỹ Marilyn Monroe từ năm 1962 lận . 

Sao anh không cười vậy ? Này nhé : 

Màu xuân trắng mơ màng pha in mặt 

Khắp môi hường nhắc lại chuyện hôm kia 

             ( Lyn Rô.   Bùi Giáng  1962 ) 

Anh không cười, nhưng cũng không trách mình sao hoang phí thời gian, thay vì mình học thêm computer, English …để  không la hoảng lên mỗi lần Ipad lung tung xoè, mà nay không hỏi được anh, vì đang bị cấm vận IPhone . 

Ca tụng một ngôi sao rực rỡ, nữ tài tử da trắng xoá, mà thép bút vẫn không xa nghiên mực cổ thư: 

Màu tô tỉnh sáng bừng tờ phương cảo 

Đã từng sai bóng nguyệt lạc  tin hoa

Giờ bất tuyệt giậy ngần trong thủy thảo

Dừng âm thanh ngoài cõi sóng thu loà 

         ( Lyn Rô     Bùi Giáng )

Có phải quan võ đang ” hỡi ôi”, nghĩ rằng có thể người đang kể chuyện này, cũng may ra chỉ hiểu một phần nào ý thơ Bùi Giáng, còn thì cứ Ma Ma, Phật Phật …trong đầu thôi . 

Đúng vậy, nhất là đoạn thơ tiếp : 

Thành đất quạnh vàng rêu mưa thấm liễu 

Nẻo Thương lương làn sóng động đêm ngà 

Vừng phơ phất loà xoà em có chịu 

Giục Đào Nguyên anh ngó hẳm Liêm Hà 

          ( Lyn Rô.  Bùi Giáng  ) 

Bao nhiêu đấy, đủ rồi câu “chuyện hôm kia” của thi sĩ Bùi Giáng, thành cặp vấn đáp : 

Hỏi người quê ở nơi đâu ? 

Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà  !  ( Bùi Giáng ) 

Một học giả uyên bác thế, mà vẫn đơn sơ, mộc mạc, chân chất, nhưng có chút ưu phiền, nên cuộc chia tay chỗ ông đến chơi một vài ngày, như trong thơ tặng Lyn Rô, đã kết thúc thật cảm động: 

“Ồ ly  biệt tơi bời bờ lảo đảo 

Em ra đi, đời bưng mặt khóc oà …”  ( Bùi Giáng ) 

Anh thở dài thực sự rồi, anh đang thương cảm Bùi Giáng , bậc hiền triết tài hoa. 

Vị thi sĩ này rất hiền, rất triết, không khổ tâm, không chán ghét đời… 

Thi sĩ Bùi Giáng đã đạt tới đỉnh điểm của hư vô, sao mình không có được một chút nhỏ an nhiên tự tại ? 

Chẳng lẽ lại nói rằng: anh đang là mặt bằng suy tưởng, là vị thần xúc cảm của mình mà  lâu nay mình vẫn tôn thờ…

Nhưng mình phải bình thản hơn nữa, để căn bệnh bồn chồn lo lắng không trầm kha thêm. 

Hình như anh gật đầu ….

Có phải anh đang gác kiếm, để luyện linh đan cho mình dưỡng khí, dưỡng chí …không ? 

Để anh sẽ từ thật xa, xa lắm, thổi luồng gió mát phương nam tới, cho hoa lá quanh mình hồi sinh . 

Thế thì, mình bắt chước thi sĩ Bùi Giáng, viết thử : 

Hỏi mình khổ não vì đâu 

Xin thưa chính tại xưa, sau một người 

Nên chi cứ giữ nụ cười 

Mai kia tái ngộ vạn lời bâng quơ… ( thơ CMN ).   

              CAO MỴ NHÂN 




BÀI THƠ LỤC BÁT: “Hoa… Vàng Dấu Mơ” – Phương Hoa

HOA… VÀNG DẤU MƠ

*

Từ em…

tỏa ánh

quang hồng,

Xôn xao một cõi

bềnh bồng trong anh.

Mi ngà vời vợi rèm xanh,

Màu môi ửng thắm

cho cành

trúc nghiêng.

*

Từ em…

e ấp

thuyền quyên

Gió lung linh gợn

suối huyền tóc mây

Đất trời chao đảo quanh đây,

Tim rơi mất nhịp

ngà say

cánh bằng.

*

Từ em…

nguyệt rạng

cung Hằng,

Ước mơ dùng sợi

xích thằng buộc nhau.

Yến oanh sải cánh ngàn sau,

Trúc mai từ độ

pha màu

ngất ngây.

*

Từ em…

tay chạm

hồn này,

Trái tim lữ thứ

vờn xoay ngút ngàn.

Ngờ đâu chớp mắt bên đàng

Giáng tiên trở gót…

hoa…vàng

dấu mơ.

*

Phương Hoa – MAR 2022




THƠ Đường – Xướng Họa – CAO BỒI GIÀ & Các Thi Hữu + Các Điệu Vũ Và Bài Ca Dân Gian Tuyệt Vời Của Ukraine.

Các Điệu Vũ Và Bài Ca Dân Gian Tuyệt Vời Của Ukraine

THƠ CAO BỒI GIÀ: “NỊNH CÒN ĐAU HƠN HOẠN” & CÁC BÀI HỌA CỦA THI HỮU.

NỊNH CÒN ĐAU HƠN HOẠN

*

“Đại Đế” giờ đây nổi trận cuồng

Vì bầy lính lác, nó lừa ông:

Ukraine chúng giỏi cương vài tiếng

Kiev ta goằm chỉ một hôm

Giá áo, gom ngay giam ngục thất

Túi cơm, hốt hết đóng cùm gông

Đắng cay, xưa dại tin lời nịnh:

Oai vệ nhất vua lúc ở …truồng…

*

CAO BỒI GIÀ – 16-03-2022

PUTTIN KHÙNG

(Kính họa cùng anh Cao Bồi Già)

Lão “Put” chàng “Tin” quá loạn cuồng!

Chơi trò tham vọng chủ nhân ông

Ukraine xâm lấn bao nhiêu bận

Kiev giết người mấy chục hôm

Thấy chửa! Giờ cong lưng cõng nợ!

 Nhìn này! Đã vẹo cổ tròng gông

Tâm tà dạ quỷ loài vô hậu

Tỷ phú “phe ta” lột đến truồng

*

Phương Hoa MAR 18th 2022

KHÔNG ĐỀ

*

Tàn bạo, ai hay gã tận cuồng

Trở lòng quét sạch lính”lòe” ông “?”

Thu về Kiev…tầy bao nả

Đánh chiếm…Ukraine  đáng mấy hôm”?”

Thầy trớ tâm sà, thân hứng vạ

Tớ lòi mặt chuột, cổ đeo gông “!”

Đắng lời nịnh hót, quay ra “trị” 

“Đại đế” lo chi bị lột truồng???

17-3-2022

Nguyễn Huy Khôi

ÁC THÚ LỘ HÌNH

*

Bởi lòng kiêu hãnh đến ngông cuồng

Nên lũ nịnh thần mới phỉnh ông:

Nghiền nát xứ kia nào mấy chốc

Đập tan dân ấy chỉ vài hôm 

Dội bom tàn bạo như thiêu lửa

Sa vũng nặng nề tựa vướng gông

Thế giới rủa nguyền tên khát máu

Putin, ác thú lộ trần truồng !

Sông Thu

( 17/03/2022 )

LỘT MẶT ĐẠI ĐẾ.

*

Tự đại lâu nay …đến phát cuồng,

Tin bầy phỉnh nịnh xúi càn ông:

Đẹp tan KIEV không bao chốc,

Thâu tóm UKRAINE chẳng mấy hôm

Phẫn nộ, đem gian thần tống ngục

Căm hờn, bắt phản tớ đeo gông…

Putin thế giới đồng tâm rủa,

Ác quỷ phơi nguyên …mặt lột truồng!

Thanh Hoà

TỘI QUÁ PUTIN

*

Tội quá Putin lắm dại cuồng

Nghe lời xúi bậy hại đời ông

Xông vào Kiev chừng dăm tiếng 

Đánh chiếm Ukraina chỉ mấy hôm 

Trận chiến dại rồ đâm xập lưới

Bản thân vĩ tưởng tự mang gông

Hết thời lại trách bầy xu nịnh 

Sức mạnh giờ đây bị lột truồng !

songquang 

20200317




TRANG TƯỞNG NIỆM – VĂN SĨ VĂN QUANG – Lê Văn Hải & THƠ Đưa Tiễn – Của Phương Hoa

THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA VĂN SĨ

VĂN QUANG

*

VĂN QUANG từ giã bút nghiên rồi

Mất một nhân tài thương tiếc ôi!

“Trời Tím” đẫm buồn, mây quyện gió

Tầng xanh nghẹn tiếc, lệ pha lời

“Tơ Lòng” đà dứt, tâm an lạc

“Cuồng Vọng” không còn, ý thảnh thơi

Kính tiễn thăng thiêng miền Cực Lạc

Người đi tác phẩm mãi lưu đời.

*

Phương Hoa – MAR 16th 2022

Hôm Nay: Nhà Văn Văn Quang Vừa Tử Giã Chúng Ta!

Lại Thêm Một Vị Sao Trên Bầu Trời Văn Nghệ Miền Nam Vừa Vụt Tắt!

Nhà Văn Văn Quang Vừa Từ Giã Chúng Ta!

Lê Văn Hải

Tin Buồn Tháng 3!

Tin từ một thân hữu cho hay, Nhà văn Văn Quang, đã qua đời lúc 10 giờ 20 phút, ngày hôm nay! Thứ Ba, 15 tháng 3 năm 2022, tại tư gia, đường Nguyễn Thiện Thuật, thành phố Sài Gòn, Hưởng thọ 90 tuổi.

Tuy Nhà văn Văn Quang ở Sài Gòn từ sau ngày mất nước, nhưng những bài viết của Ông, xuất hiện thường xuyên trên khắp các báo chí Hải ngoại, từ cuối thập niên 90, cho tới khoảng năm 2017. Cuối cùng với bài viết, giã từ bạn đọc, sau bài này, Ông “gác bút” vì không còn sức mang “nắng mưa Sài Gòn” đến với “những người muôn năm cũ!”

Ông được coi như “tai mắt” tường trình mọi biến chuyển, thay đổi về thành phố thương yêu, của một thời “Sài Gòn, đẹp lắm, Sài Gòn ơi!” trước 75.

Ông là nhà văn duy nhất ở trong nước, mà lại có tình thân thiết nhất với rất nhiều người đọc tiếng Việt bên kia vòng trái đất.

Sự ra đi của Ông, làm biết bao người thương nhớ, nuối tiếc! một Nhà văn thân yêu của Miền Nam.

Nhà Văn Văn Quang Và Tôi

Trước 75, tôi chỉ là người Lính, với cấp bậc vào hàng “củ lũ nhí” nhất, thì làm sao có cơ hội quen biết đến hàng sĩ quan cấp tá, lại mang chức Giám Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội như Ông.

Nhưng tôi đã đọc rất nhiều tác phẩm của Ông, văn ông nhẹ nhàng, trong sáng, đầy tính nhân bản. Mang nỗi u uẩn, đau thương người dân, người trai, khi đất nước trong thời chinh chiến.

Khi tác phẩm Chân Trời Tím dựng thành phim, do Đạo diễn Quốc Phong và Liên Ảnh sản xuất. Tôi đã là những người đầu tiên, đứng xếp hàng trước rạp Văn Hoa Dakao để chờ xem. Thổn thức với Hùng Cường, Kim Vui của mối tình trong cuộc chiến. Lòng quặn thắt với Nhạc phẩm Nửa Hồn Thương Đau, sáng tác của Trần Thiện Thanh, dành riêng cho phim này, qua tiếng hát vút cao của Thái Thanh.

Sau Tháng Tư Đen tan tác,

Khoảng cuối thập niên 90, lúc đó tôi đã giữ một tờ tuần báo, một cây viết của tờ báo, cũng là nhân viên tòa soạn, bút hiệu “Điền Tuấn” Cũng là người bạn thân thiết với Nhà văn Văn Quang, đã đưa ra một đề nghị với tôi:

-“Có một nhóm văn nghệ sĩ ở Sài Gòn, vừa mới từ cải tạo về, muốn viết bài cho tờ báo mình, để có chút tiền cà phê, cà pháo, anh em có cơ hội gặp mặt cho vui”

Tôi đồng ý ngay, chỉ thắc mắc:

-“Nhưng trả tiền nhuận bút bằng cách nào? Có ảnh hưởng gì đến người trong nước không?”

-“Dừng lo, chúng tôi có đường dây!”

Từ đó, tờ báo tôi, xuất hiện rất nhiều bài báo, từ những cây viết trong nước, nhưng nhiều nhất, vẫn là những bài của Nhà văn Văn Quang!

Thời gian này, người Việt Hải ngoại, mang thân phận của một kẻ lưu đầy, chưa bang giao, nên nghĩ vĩnh viễn không có đường về quê hương! Những bài viết kể chuyện nắng mưa Sài Gòn, nơi chôn bao nỗi nhớ, là những bài “ăn khách” nhất của tờ báo.

Khi Nhà văn Tô Ngọc qua Mỹ, Ông đến tòa soạn ngay ngày hôm sau, thông báo với tôi: “Anh em gởi lời cám ơn, “bịch thuốc bổ,” gởi về mỗi tháng, để Anh em mới có cơ hội gặp nhau vui lắm, chưa kể giúp được những trường hợp khó nghèo!”

Tôi rất vui mừng, không ngờ chuyện nhỏ, mà có kết quả quá vui, thật to lớn như thế! Từ đó, tôi có cơ hội thăm hỏi Ông qua thư từ.

Sau này, mừng cho Nhà văn Văn Quang, vì đã cộng tác với rất nhiều tờ báo của Hải ngoại. Có vẻ từ đó, đời sống Ông cũng dễ thở hơn chăng.

Vài Dòng Tiểu Sử”

Nhà văn Văn Quang tên thật là Nguyễn Quang Tuyến, sinh năm 1932 tại Thái Bình.

Năm 1953, ông gia nhập Quân Đội Quốc Gia, phục vụ trong nhiều đơn vị tác chiến tại miền Bắc trước hiệp định Geneve năm 1954.

Từ năm 1957, Văn Quang chuyển sang ngành Tâm lý chiến, với nhiệm vụ Trưởng phòng Báo chí Quân Đội thuộc Cục Tâm lý chiến, Tổng cục Chiến tranh Chính trị QLVNCH. Cũng là Trưởng ban biên tập của các tờ báo Quân Đội VNCH.

Tác phẩm đầu tay của Văn Quang là “Tiếng Tơ Lòng” được đăng trên nhật báo Thanh Dân, Hà Nội. Cuối năm 1953, tác phẩm thứ nhì ra đời, là tập truyện ngắn Thùy Dương Trang, do Lạc Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1957.

Từ đó cho đến 30 Tháng Tư 1975, Văn Quang cộng tác thường xuyên với rất nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí tại Sài Gòn.

Văn Quang có hơn 28 tác phẩm được xuất bản. Các tác phẩm của ông hầu hết là truyện dài, trong số có những tác phẩm, gây được nhiều tiếng vang như: “Nét Môi Cuồng Vọng”, “Nguyệt Áo Đỏ”, “Người yêu Của Lính” Ông đã có bốn tác phẩm được chuyển thành phim: “Ngàn Năm Mây Bay”, “Chân Trời Tím”, “Đời  Chưa Trang Điểm”, “Tiếng Hát Học Trò”.

Sau 75, Ông trải qua 13 năm rưỡi đi tù cải tạo. Khi ra tù, Văn Quang trở về Sài Gòn, sau đó từ chối ra đi theo diện HO, quyết định tiếp tục ở lại Việt Nam, Nhà văn duy nhất cộng tác với rất nhiều báo chí Việt ngữ tại hải ngoại.

Trong bài chia tay với độc giả, với tâm tình thật cảm động: “Hơn 60 năm cầm bút, tôi không có gì đáng tự hào, bởi chỉ như người Lính khi ra trận, không biết mình đã bắn được bao nhiêu viên đạn! Tất cả chỉ vì ba lời thề “TỔ QUỐC – DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM!”

Thương tiếc Nhà Văn thân thương vừa rời bỏ chúng ta, xin mời cùng thưởng thức một bài Tạp Ghi của Ông, như nén hương tưởng nhớ, để “nhắm mắt cho tôi tìm!” thấy… Ông!

CÁI MUỖNG

Văn Quang

I.

Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại

là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra mở vào.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ nhắn cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.

II.

Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có một ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” của trại đã quy định.

Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó hy vọng lòi ra một vài cái “tội”. Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Đi làm suốt một ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm “căng” thì vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người “chẳng có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.

III.

Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Đó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống su hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ su hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống su hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tôi đã gặp ở phòng trà tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống su hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.

Đây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “cậu huyện Nhụ nằm ở đó”.

Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:

– “Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.”

Tôi nằn nì:

– “Đấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển.Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi.”

Dực nhìn tôi nghi ngại:

– “Hay là mày giấu tiền trong đó?”

Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.

– “Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu tiền được?”

Dực nửa đùa nửa thật:

– “Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?”

– “Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.”

– “Vậy sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.”

Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:

– “Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày đưa vào túi xách. Đứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc men… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:

– “Thôi được, nếu đã là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.”

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “con có ở xa hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi rồi mai bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn! Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Đó chính là mùa xuân của tôi.

Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:

– “Bộ ông điên sao?”

Tôi điên thật, hy vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút và khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi được cái muỗng. Đôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:

– “Tôi biết ông mất cái gì rồi.”

IV.

Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sàigòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sàigòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ và sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật đó trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 nhân dịp cháu lập gia đình. Nhưng tôi ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang