Ngày lễ. Giờ này thì chả biết lễ. Cứ thích thì làm việc, không thì nghỉ. Tuy vậy, đôi khi muốn nghỉ nhưng có cớ ngày lễ thấy cũng vui vui.
Gớm bà sư tỉ hớn hở gửi hình bà gặp bạn cũ từ hơn nửa thế kỷ. Tôi thì chả có bạn thân thuở tiểu/trung học vì đổi lớp hay trường. Lò dò vào Trung Học năm đầu tiên thì gặp cô bạn ngồi cạnh… học dở, không thích chơi tiếp. Năm sau cũng vậy. Năm sau nữa, gặp nhỏ học giỏi thì nó kín đáo vô cùng. Hoá ra, sau 75 mới biết cha nó đi tập kết nên nó không kết thân với ai.
Trong bốn bà sư tỉ, bà áo hồng là “duyên” từ “Trường Xưa Thầy Cũ”. Chuyện là thế này, trong bài Trường Xưa tôi viết năm tôi học đệ lục, khi xem văn nghệ cuối năm toàn trường, có màn múa “Tiếng Hát Dân Chàm”, tôi hết sức phục vì chị ở giữa đã ngả người cong tận đất. Bài chuyền đi, vị sự tỉ này đọc được khoái quá bèn mail làm quen cô em.
Gia Long B4 gặp nhau sau 50 năm, một ở Pháp, một đến từ Việt Nam và hai ở Mỹ. Sư tỉ áo hồng ngày xưa múa dẻo đến nỗi sư muội HLC còn nhớ đến bây giờ. Và từ bài viết Trường Xưa của HLC, tỷ muội gặp nhau.
Gia Long, sau 50 năm, vẫn tình đồng môn như một thuở xa xưa…
Sau loạt bài về Đại Hội Gia Long Thế Giới thì một số nữ sinh Gia Long mail làm quen và những danh xưng “tỷ muội” được dùng để gọi nhau, thật dễ thương. Tôi kể cho một chị bạn nghe, chị đả kích “ Đang chống Tàu mà tỷ muội!”. Thiệt cái tình, tôi đầu hàng! Tỷ /muội cũng như “bào huynh/bào đệ” đã được dùng khá thông dụng ở Việt Nam từ lâu. Tôi chưa bao giờ thấy phân ưu dùng anh/em trai thay cho bào huynh/bào đệ với lý do …chống Tầu cả. Mặt khác, ngày đó võ đường và học đường là hai nơi hay sử dụng huynh/đệ, tỷ muội. Khi gọi nhau tỷ muội, thấy dễ thương vì nói lên cái tình đồng môn.
Một điều buồn cười, khi nói chuyện và thấy người ra trường sau mình, tôi xưng “tỷ tỷ” ngon ơ. Chừng hỏi tiếp mới biết Muội này cương quyết thi Gia Long nên lều chõng hai năm. Nghĩa là hơn tuổi tôi dù học sau. Đành sửa lại gọi nhau bằng tên. Tuy thế có muội thì“Tỷ Lan Chi ơi, tuy tôi với tỷ cùng tuổi nhưng tỷ vào trường trước thì theo tôn ti, tỷ vẫn là tỷ của tôi mà”.
Với bài“Dường như là mùa thu”, tôi nhắc đến một vị giáo sư. Bài này sau đó được một ông “thụ nhân” chuyển vào diễn đàn của họ. (“Thụ Nhân”là diễn đàn của Khoa Chính Trị Kinh Doanh- Viện Đại Học Đà Lạt). Bài tôi gây sóng mà tôi không biết vì không ở diễn đàn này. Sau đó, một ông “thụ nhân” fw các mails trong diễn đàn cho tôi xem. Tôi bèn viết trả lời. Bài trả lời này sau đó được phổ biến rộng rãi ở net. Khắp nơi lên án Cố GS Phó Bá Long. Xem ở đây:http://wp.me/p1DZcL-1F
Bức hình Cố GS Phó Bá Long “triều kiến” Nguyễn Tấn Dũng, (một thân hữu cung cấp cho tôi) có vẻ “lần đầu tiên” được phổ biến trên hệ thống toàn cầu internet. Diễn tiến tiếp theo là một ông “thụ nhân” viết mail riêng cho tôi bênh vực cố GS. Thế là tôi lại phải trả lời. Xem vụ này tại đây: :http://wp.me/p1DZcL-3a)
Từ bao giờ, những thành phần “mờ ảo” đã khiến cộng đồng chia làm hai. Nhóm nhỏ KH của tôi, tôi và hai người bạn kia cũng giận nhau chỉ vì hai vị này …bênh báo Người Việt, trong khi tôi đả kích! Nhóm nhỏ Tổng Nha Kế Hoạch thì chưa. Còn lại, không có gì “ầm ỹ” trong quan hệ của tôi và bạn bè vì như một sư tỷ viết về tôi như sau cho một người bạn“Gia Long Quỳnh Giao, Hoàng Lan Chi, tao tìm thấy nơi nó 50% Bắc và 50% Nam của nóvà đặc biệt nơi nó là: nó nặng tình đối với GL và quê hương VN. Đây là 2 điểm mà tao "chịu" nó. HLC là đứa học giỏi, thẳng thắn với ngòi viết và lời thật thì "dễ đụng chạm", tao chịu cái tư tưởng rõ ràng của HLC, dám nói và không cần tiếp xúc với người không cùng tư tưởng.”Sư tỉ này nói vậy vì một lần tôi viết“Em đã già. Cuộc đời còn lại bắt đầu đếm ngược được rồi. Vì thế em không mở rộng quan hệ với những người không cùng chính kiến. Cãi cọ mất công lắm. Họ không cải tạo được em và em không hoài hơi cải tạo người đang toan tính bán linh hồn cho quỷ đỏ.”Ý tôi tâm sự với sư tỉ là tuy “thầy bói” khuyên tôi nên “bớt đi đừng phang người không cùng suy nghĩ” nhưng tôi bảo“Tôi không phang nếu tôi không ngứa mắt. Nhưng nếu bảo chơi với họ thì never” Một cậu em cũng tò mò hỏi tôi “bạn” với PNN ra sao. Tôi“ Sơ sơ vì chị có cảm tưởng chị cứng rắn hơn trong lằn ranh quốc cộng. Vì thế chị không nói chuyện chính trị với hắn. Mất công cãi nhau”.
Tôi thường viết ngắn dù là tạp ghi hay thời sự. Câu văn đủ chủ từ, động từ, túc từ là chấm. Ý tứ trải cũng ngắn. Tuy vậy thỉnh thoảng, tôi lại mất công viết dài khi “tranh luận” với “đám trẻ”. Một phần, tôi cho rằng tiếng Việt họ không giỏi, viết ngắn, họ không hiểu. Phần khác, khi viết dài, tôi bắt đầu quan sát đối phương. Và tôi thú vị khi “nhìn thấy” một số “cách hiểu/đọc” của vài “người trẻ”. Sự khám phá này làm tôi …nản. Nhìn vào trong nước, có vẻ như là ngôn ngữ mà “người trẻ” sử dụng phong phú hơn so với “người trẻ hải ngoại”, nhưng cách lý luận thì …theo tôi là y chang VC! Không tranh luận vào nội dung mà tấn công cá nhân. Trong khi đó vài người trẻ khác, lại rất giỏi.
Mới đây ở một diễn đàn kia, tôi khá ngạc nhiên khi gặp một nick. Tôi đang phân vân, không biết nick này là ai. Nếu bảo rằng nhiều người sử dụng chung thì có vẻ không đúng. Nick này không viết dài, những đối đáp ngắn và nhanh. Cái “đọc/hiểu/nhìn sâu xa” một vấn đề, có vẻ “khá” với nick này.
Hạ hồi phân giải! Chỉ là chuyện “vui vui” trong một diễn đàn nhỏ.
Tháng Tám vừa qua, Thu có vẻ đến rồi lại đi. Tôi đã hoàn thành khá đủ cho web cá nhân. Không “post” được hết vì cũng còn nhiều bài cũ bị thất lạc. Web, đem cho tôi niềm vui nhỏ. Trong vòng một tháng, số views là hơn 9,000. Cao nhất là 537 views ngày 17 tháng Tám. Hơi bất ngờ! Trước kia, khi cần chỉ cho ai, tôi phải đi tìm trong các mails/hoặc vào Đặc Trưng/hay TVVN, tìm link. Mở dấu ngoặc, Đặc Trưng có trữ bài. Còn TVVN , thật chán vì hay có “màn” mất bài. Họ thông báo rằng web họ bị hacker. Tôi rất bực bội về điều này. Lý do, post bài có đầy đủ hình ảnh, rất mất thời gian. Bài tôi thường là làm cho các web phong phú thêm vì là bài đàng hoàng, không phải “chat/chit”. Nhiều bài phỏng vấn có tính cách tài liệu lịch sử nữa! (Vd loạt bài về Nhạc trẻ, nhạc phim…). Hoặc “vinh danh” các tài năng trẻ của hải ngoại. Vậy mà cứ vài năm lại thông báo bị hacker và mất hết! Không bực sao được! Tôi khá tiếc cho blog Sóng Thần ( bán nguyệt san ở VA) mà tôi thực hiện ở TVVN. ( đã bị mất!)
Vì thế, có web riêng rất tiện lợi mỗi khi cần giới thiệu cho bạn mới quen. Khi làm web, tôi đơn thuần coi đó là nơi trữ bài nhưng thời gian qua, tôi không ngờ số “views” vào blog lại “khá” như vậy!
Tháng Tám, có hai bài viết làm Tuyết Nga, cô bạn từ Florida , phải gọi dù đang bận túi bụi. Trước kia, Nga cũng thỉnh thoảng điện thoại khi thích một bài nào đó. Tháng này, Nga thích chí với bài“Mẹ chồng con dâu”.Nga bảo“Nga chết vì cười vì thấy Lan Chi giả bộ là mẹ chồng và mắng rất thâm thuý. Cái thâm thuý của người Bắc”. Bài thứ hai,“Ngố”! Khi Tuyết Nga gọi, tôi bảo ngay “Gớm mợ lại gọi tôi vì mợ mới xem Ngố phải không!” Nga phá ra cười “Ừ, bài của Lan Chi, Nga thường save vào một folder để xem sau vì Nga biết nếu xem là phải xem cho hết trong khi tiệm đang túi bụi! Hồi nãy Nga chót dại xem Ngố rồi lại phải theo link xem tiếp. Trời ơi, Lan Chi viết như không ấy. Rất dễ dàng và câu văn rất ngắn gọn. Nga mà viết thì chắc cứ dài dòng như Nga nói!”( Bài Ngố ở đây:Ngố!)
Cô bạn này là “bạn dzàng” vì .. tôi thích nghe phụ nữ “tán” tôi hơn là đàn ông! Nga là thủ quỹ cho Hội Văn Bút Hải Ngoại.
Lan Chi –Tuyết Nga ( Florida 2010)
Cũng Tháng Tám, từ bài viết “Gia Long”, tôi “lụm” được một cậu em. Trò chuyện, hoá ra cậu là học trò của ba tôi ở Petrus Ký. Điều thú vị hơn cả là khi tôi nhận mail từ cậu em này“Bắt đền chị. Công việc của em bị đình trệ vì em mải đọc chị! Em xem chị hết trong hai ngày!”
Sắp vào mùa tựu trường. Trời mát. Blog của tôi đa phần văn học nghệ thuật cũng “mát”. Nhưng mỗi khi “Phàn Lê Huê” của nhóm Tứ Nhân Bang (Hồng Phúc- Đoàn Trọng Hiếu-Huỳnh Quốc Bình-Hoàng Lan Chi, 4 người trọng vụ án Đài VNHN giao du với cán cộng của Tòa Đại Sứ VC năm 2009) đọc hay nghe thấy cái gì dính líu đến …không chào cờ là Phàn lại “nổi sung”. Rồi thì bài “Thời Sự” lại chào đời, và số “kẻ thù” gia tăng! Một tỷ tỷ Gia Long vừa kể“Muội biết không, tên kia vào ái hữu quậy vì ái hữu sắp tổ chức đại hội..”, tôi ngắt lời“Quậy cái gì? Nó quậy không chịu chào cờ hả”!Sư tỷ phá ra cười “ Không có..”. Sau đó bà sư tỷ đi rêu rao “HLC hả. Mới kể quậy là nó hỏi quậy không chịu chào cờ VNCH hả!”. Nghe chị nói lại, tôi bật cười. Thì thời buổi hỗn mang, chiêu đầu tiên là “vờ vịt” không chào cờ, chiêu thứ nhì là “vô số sơ suất” để mập mờ đủ kiểu!
Viết, kết quả từ Viết,luôn là phần thưởng cho dù số thân hữu có thể tăng/giảm. Thân hữu “mờ ảo”, cứ việc biến ra khỏi cuộc đời tôi!
Tổng số views : 9,606 (Từ July 23- Sep, 5)
Tìm đường gai góc mà đi
"Tìm đường gai góc mà đi" Giao Chỉ, San Jose.
(Bài viết về con đường Nguyễn Đắc Kiên, Việt Nam.)
Chẳng thấy đường về. Khoảng 30 năm trước, về đề tài phục quốc tôi có viết một tiểu luận tựa là "Tìm đường gai góc mà đi". Đó là bài viết về những người đi theo kháng chiến của phó đề đốc Hoàng Cơ Minh. Vào thời kỳ 75, bỏ nước ra đi chẳng mấy ai nghĩ đến đường về. Qua đến đầu thập niên 80, niềm đau bại trận thấm vào xương tủy. Trong lúc đó quê nhà điêu đứng lầm than. Đã có người tìm đường về. Họ tìm đường gai góc mà đi. Từ trong lòng quê hương, không thể có được khả năng mà nổi dậy. Anh em ngó ra bên ngoài. Từ bên ngoài mà tìm đường về, chỉ có một giải pháp là đấu tranh vũ trang,đem ngọn lửa phục quốc về nước bằng súng đạn. Từ Á Châu, anh em Người Việt Tự Do nở hoa cho kháng chiến. Từ Úc Châu có biệt kích Võ đại Tôn với rất nhiều ước mơ đội đá vá trời. Từ Âu Châu, lãnh tụ sinh viên Trần văn Bá và không quân Mai Văn Hạnh hoạt độngâm thầm nhưng đã thực sự bước chân lên đất mẹ qua ngả Cà Mau. Và từ Hoa Kỳ, hải quân Hoàng Cơ Minh tạo thành cơn bão giải phóng quê hương. Vào thời gian đó, người Việt hải ngoại tại Mỹ đã hết sức phấn khởi trông đợi ngày về. Ngay trong ngục tù, các chiến binh VNCH cũng sống với các tin đồn đầy hy vọng.
Trong cộng đồng Việt Nam thời đó văn nghệ không phải tình ca mà phải là văn nghệ kháng chiến. Mặt trăng trên trời không phải là trăng trung thu mà phải là trăng chiến khu. Ban Thùy Dương ở Orange County cất tiếng ca cảm khái. "Này em, anh sẽ về bên kia biên giới, đèn nhà ai hay đóm lửa quê người." Cụ thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy của con tàu Trường Xuân nổi danh cũng theo kháng chiến. Nữ tài tử điện ảnh Kiều Chinh cũng hết lòng yểm trợ kháng chiến.
Đoàn viên kháng chiến mặc áo nâu phát báo dưới trời mưa tại các chợ Việt Nam suốt từ Âu Châu, Úc Châu qua Canad và Mỹ quốc. Sự nhiệt thành quá độ của đoàn viên cũng đã để lại nhiều hệ lụy oán thù trong cộng đồng.
Và sau cùng người về từ Âu Châu là Trần văn Bá bị tử hình tại Việt Nam. Người về từ Úc Châu, chiến sĩ Võ Đại Tôn chịu 9 năm tù oan nghiệt. Ngày nay sống với hồn thơ bất khuất qua bút hiệu Hoàng Phong Linh. Phần Hoàng cơ Minh, ông trở thành vị tướng lãnh thứ 5 của Việt Nam Cộng Hòa tự tử sau cuộc chiến 75. Nơi ông chết nằm trên đất Lào trong kỳ Đông Tiến lần thứ ba, hoàn toàn thất bại. Cuối thập niên 80, tất cả mọi giải pháp phục quốc bằng võ trang đều vô vọng. Hải ngoại chẳng thấy đường về.
Người đi ngày một đông hơn. Trầm tử Thiêng, người nhạc sĩ viết bài ca trầm thống như những lời tiên tri. Ca rằng: "Người đi ngày một đông hơn. Người về ngày thì thưa dần."
Sau tháng 4-1975, qua đến cuối tháng 5 thì tàu Mỹ ở ngoài khơi duyên hải Việt Nam đã không còn hiện diện để đón người di tản. Sau một tháng sống với cộng sản Nam Việt Nam bắt đầu tìm đường vượt biên kể từ tháng 6-1975. Và cũng từ ngày đó cho đến năm 1995, suốt 20 năm dài người Viêt ra đi bằng đường biển đến các trại tỵ nạn Đông Nam Á rồi định cư tại các nước tự do. Con số đáng ghi nhớ là một triệu người. Trong 1 triệu này có 600 ngàn tại Hoa kỳ. Từ 1 triệu người Việt lưu vong bắt đầu kéo theo hồ sơ đoàn tụ, HO, con lai dưới nhiều hình thức bao gồm cả giai đoạn xuất cảng người gốc Hoa ra đi bán chính thức.
Tất cả khối người từ Việt Nam ra đi, đa số từ miền Nam đến các quốc gia tây phương đã xây dựng cuộc sống mau chóng, ổn định và thành công. Những hình ảnh, những tin tức, những hàng hóa và tiền bạc gởi về đã làm thành mẫu mực mới cho miền Bắc xuất cảng lao động đến các quốc gia Đông Âu.
Thế giới thay da đổi thịt
Với sự chiến thắng của cộng sản Việt Nam 1975, khối cộng sản trên thế giới bước vào thời kỳ huy hoàng nhất của chủ nghĩa Mác xít. Từ Nga sô với toàn thể Đông âu theo cộng sản. Rồi Trung cộng với dân số lớn nhất hoàn cầu và Việt cộng chiếm được miền Nam. Con đường cờ đỏ thống trị toàn cầu tưởng chừng chỉ còn gang tấc. Nhưng thực sự về kinh tế là giai đoạn cộng sản sa lầy vào thời kỳ tối tăm nhất. Cộng sản Việt Nam cũng phải chia sẻ sự khốn cùng chính vì chính sách bế quan tỏa cảng. Cuộc chiến tranh lạnh và thi đua võ trang với Tây âu và Hoa Kỳ đã làm cho Nga sô đứt hơi phải mở cửa để hòa giải. Khi cánh cửa tự do mở ra, không phải là bom nguyên tử hay B52 chiến thắng khối cộng sản mà chính là hàng hóa, cơm áo, văn hóa và tinh thần tự do dân chủ đã chiến thắng. Năm 1990 cờ đỏ hạ xuống ở điện Cẩm Linh. Ngọn cờ cũ xưa 3 mầu xanh trắng đỏ từ thời Nga Hoàng đã được bay cao. Thế giới tự do đã tìm thấy chiếc chìa khóa để chiến thắng bằng phương pháp hòa giải và danh hiệu không chính thức gọi là diễn tiến hòa bình.
Khi thế giới bước vào thế kỹ thứ 21 thì vũ khí thần diệu để chiến thắng không phải là hàng không mẫu hạm, không phải là bom nguyên tử và hỏa tiễn đầu đạn hạt nhân. Vũ khí thần diệu nhất của nhân loại hiện nay không phải chỉ để chống cộng sản mà chiến đấu cả với độc tài, ngu dốt, bất công chính là chiếc máy điện toán. Với cell phone, với smart phone, với máy điện toán, máy thông dịch, với website, với face book, với thế giới ảo . . . nhân loại đã bỏ xa các phương pháp tình báo xưa cũ, phá vỡ các bức màn sắt, bức màn tre, phá vỡ các chính sách bưng bít vốn là đường lối cai trị hữu hiệu của các chế độ độc tài.
Vận hội mới cho Việt Nam.
Trở lại với đất nước Việt Nam. Sau chiến thắng 1975, Việt Nam cộng sản đã trải qua giai đoạn hết sức khó khăn và lầm than cho đến 1990. Suốt 15 năm đói kém lại trải qua 2 cuộc chiến tranh với Cam Bốt và Trung Cộng, tưởng chừng đã xụp đổ cùng với Liên sô. Nhưng sau cùng Việt Cộng đã tồn tại cho đến nay. Chỗ dựa duy nhất chính là cựu thù Trung Cộng.
Tuy nhiên, Việt Nam đã chịu đựng ảnh hưởng lớn lao của khối người Việt hải ngoại hiện nay. Với tinh thần chống cộng và quan trọng hơn cả là tinh thần tự do dân chủ, hải ngoại đã trở thành 1 khối áp lực thường trực đối với đảng cộng sản Việt Nam. Nhất cử nhất động ở quê nhà đều được hệ thống thông tin hiện đại nhất của thế kỷ 21 đưa lên mạng lưới toàn cầu. Các chương trình radio Việt ngữ trên thế giới VOA, BBC, Á châu tự do và RFI. Các đài TV, radio việt ngữ địa phương, báo giấy, điện báo, các blog tự do.
Ngay cả hiện tượng trăm ngàn người về thăm quê hương và cả việc gửi hàng tỷ mỹ kim về quê nhà cũng đã dần dần chuyển hóa đất nước. Không ai có thể ngờ rằng chính người dân Ba Lan hải ngoại gửi tiền về cho thân nhân tại quê nhà đã giúp cho Công đoàn đoàn kết làm nên lịch sử, biến nước Ba Lan thành quốc gia đầu tiên phá vỡ liên bang Sô Viết.
Tuy nhiên tất cả các diễn tiến hòa bình như vậy vẫn chưa đủ. Muốn thay đổi đất nước, chúng ta vẫn cần những người tìm đường gai góc mà đi. Suốt 10 năm qua, từ khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, những con người tìm đường gai góc mà đi ngay trên quê hương Việt Nam đã xuất hiện.
Cuộc chiến đấu của họ hết sức hữu hiệu vì Việt Nam hiện có tai mắt của báo chí và ngoại giao đoàn quốc tế. Vì hệ thống điện toán toàn cầu mở rộng. Vì cả thế giới bao gồm hàng triệu người Việt tự do làm thành 1 đảng đối lập thường trực sẵn sàng yểm trợ.
Trường hợp anh Nguyễn Đắc Kiên hiện nay là 1 thí dụ điển hình. 29 tuổi, đầu năm 2013 anh chỉ là 1 ký
Hàng ngàn chữ ký của các nhân sĩ trí thức yêu cầu thay đổi hiến pháp. Yêu cầu đa đảng và quân đội chỉ phục vụ đất nước và nhân dân.
Đi xa hơn nữa, kiến nghị yêu cầu thành lập 1 quốc hội khác để soạn thảo hiến pháp và làm 1 cuộc cách mạng ôn hòa thay đổi chính thể.
Nguyễn Đắc Kiên trở thành người đại diện cho 1 thế hệ mới. Thế hệ của người Việt Nam mới với sự hiện hữu của tuổi trẻ, thể hiện lòng dân trong nước, đáp ứng hoài bão của người Việt hải ngoại. Những người như Kiên, tìm đường gai góc mà đi, sẽ làm nên lịch sử..
Những tài liệu tham khảo
1)Tổng bí thư đảng cộng sản VN Nguyễn phú Trọng
đã nói như thế này
"Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức…"Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không?Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! … Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể … thì đó là cái gì?”,
2) Bản tuyên bố của Nguyễn Đắc Kiên. Tài liệu này trích trong bản tuyên bố của Nguyễn Đắc Kiên. Ý kiến của nhà đấu tranh trẻ tuổi này đã lạc quan nghĩ đến cả giai đoạn hòa giải và tha thứ khi cộng sản chuyển giao quyền hành.
(Trích..) ….Có người chất vấn tôi về chuyện làm sao để Tha thứ và Hòa giải, đó là chất vấn xác đáng. Tuy tôi e rằng, nói điều đó ra bây giờ là sớm, nhưng vì không biết ngày mai sẽ ra sao nên cứ nói ra thì vẫn hơn. Chúng ta cứ nhìn sang Myanmar thôi, không cần nhìn đâu xa, họ làm được, tôi tin chúng ta cũng làm được, có khi còn tốt hơn. Sao không lập một Ủy ban hòa giải dân tộc, với thành viên là các nhân sỹ, trí thức trong và ngoài nước, kể cả một số lãnh đạo tiến bộ của ĐCS VN? Tôi nghĩ rất nhiều người sẵn sàng tham gia. Sao không lập một chính phủ lâm thời điều hành đất nước cho đến khi tổ chức xong Hội nghị lập Hiến, ban hành Hiến pháp mới, bầu Quốc hội mới? Tôi tin tưởng có nhiều người, kể cả trong đội ngũ lãnh đạo ĐCS VN hiện nay có thể đảm nhận tốt vị trí trong Chính phủ lâm thời để giữ vững sự thống nhất quốc gia trong giai đoạn chuyển giao…
3) Tổ chức theo dõi Nhân quyền
(New York, ngày 20 tháng Mười Hai năm 2012.)Tổ chức Theo dõi Nhân quyền công bố có năm blogger người Việt trong số 41 cá nhân xuất sắc từ 19 quốc gia vừa được trao giải thưởng uy tín Hellman/Hammett để ghi nhận lòng dũng cảm và kiên định trước sức ép đàn áp chính trị. Đó là Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hữu Vinh, Phạm Minh Hoàng và Vũ Quốc Tú
4) Blogger Tạ Phong Tần. Trang web của chính phủ Mỹ vừa công bố tên tuổi của 10 phụ nữ can đảm nhất trong đó có nhà báo, blogger Tạ Phong Tần. Bà Tần là người Việt Nam duy nhất có mặt trong danh sách. Trong số này có các phụ nữ từ những quốc gia như Trung Quốc, Afghanistan, Ai Cập, Honduras, Ấn Độ, Nigeria, Nga, Somalia và Syria. Sự bình chọn diễn ra nhân dịp ngày Quốc Tế Phụ Nữ và là một thông lệ nhiều năm ở Mỹ. Những phụ nữ được vinh danh thường là những người có thành tích tranh đấu cho nhân quyền, cho nữ quyền hay bất chấp hiểm nguy nói lên quan điểm của mình trước những vấn đề xã hội. Trong phần tóm tắt tiểu sử của Blogger Tạ Phong Tần, trang web này nói, bà Tần đang thụ án 10 năm tù giam và 2 năm quản chế sau khi mãn hạn tù.
5)
1. Bỏ Điều 4 Hiến pháp, tổ chức Hội nghị lập hiến. 2. Chúng tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng. 3. Chúng tôi ủng hộ chính thể tam quyền phân lập4. Chúng tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội 5. Chúng tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên
Xin cùng lên tiếng nói bằng cách tham gia ký tên theo địa chỉ email :
**************************** Những nhà tranh đấu kể trên và nhiều người khác đều là những người tìm đường gai góc mà đi.
– Phong trào quần chúng bác luận điệu nói đảng Cộng sản có quyền lãnh đạo “nhà nước và xã hội” là “tất yếu của lịch sử” đã nổi lên ở Việt Nam.
Những người tham gia Cuộc cách mạng bất bạo động này đòi thay bản dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi bằng một Hiến pháp mới bảo đảm tự do và dân chủ, công nhận đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập (lập pháp,hành pháp và tư pháp) để xây dựng một chính quyền thật sự của dân, do dân và vì dân qua bầu cử trực tiếp.
Họ còn tuyên bố Quân đội không phải là công cụ của đảng mà của dân và phải trên hết tuyệt đối trung thành với Tổ quốc.
Làn sóng người dân nổi lên cũng tự phủ nhận chủ nghĩa Cộng sản do đảng áp đặt và bắt mọi người phải theo từ 83 năm qua. Và họ cũng kiên quyết đòi đảng trả quyền làm chủ đất nước cho dân để họ tham gia xây dựng Hiến pháp mới, có thể qua một Quốc hội lập hiến do dân bầu.
Đây là lần đầu tiên trong 68 năm độc quyền cai trị ở Việt Nam đảng Cộng sản đã phải đối phó với một cuộc nổi dậy không có tiếng súng nhưng trực diện và rất khó dậy tắt, trừ phi đảng muốn tái diễn cuộc đàn áp đẫm máu của chính phủ Trung Cộng ở Qủang trường Tiananmen (Thiên An Môn) năm 1989, nếu những người của phong trào phản kháng quyết định tuần hành ở Hà Nội hay Sài Gòn.
Nghiêm trọng hơn là trong số những người chống đảng, ngòai số đông gười dân bình thường còn có cả công nhân và nông dân là hai lực lượng nồng cốt đã tạo nên đảng CSVN.
Nhiều Lão thành cách mạng, chức sắc Tôn giáo, cựu chiến binh, có cả cựu Tướng lãnh và cán bộ, đảng viên cao cấp đã nghỉ hưu hoặc tại chức cũng tham gia vào làn sóng người phản kháng không đổ máu này.
Biến cố này bắt đầu từ “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992” của nhóm 72 Nhà Trí thức, Nhân sỹ và Lãnh đạo Tôn giáo nổi tiếng công bố trên báo điện tử Bauxite Việt Nam ngày 19/01/2013.
Nhóm 72 nói rằng : “Chủ thể nào lãnh đạo xã hội sẽ do nhân dân bầu chọn ra trong các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, định kỳ.”
Lập trường này xác nhận họ đã bác bỏ việc Hiến pháp sửa đổi tiếp tục duy trì quyền cai trị độc tôn, độc tài cho đảng CSVN.
Các Trí thức cũng nói : “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam.”
Hàng ngàn người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội và người Việt Nam ở nước ngòai đã ký tên ủng hộ Nhóm 72.
Trong số những trí thức, nhân sỹ, lãnh đạo Tôn giáo ký tên có cả Đức Giám mục Nguyễn Thái Hợp, Giáo phận Vinh; các ông Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên thiếu tướng, nguyên ủy viên Trung ương đảng, nguyên cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc và 8 nguyên Trợ lý và chuyện gia cố vấn của các nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải (Tương Lai, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Trần Đức Nguyên, Trần Việt Phương, Đào Xuân Sâm, Nguyễn Trung, Vũ Quốc Tuấn) v.v…
Nhóm 72 còn đề xuớng một dự thảo Hiến pháp 2013 cho chính quyền dân chủ ở Việt Nam theo Tổng thống chế với 2 viện Quốc hội (Thượng và Hạ) được dân trực tiếp bầu. Ba ngành hiến định Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp hoạt động độc lập.
Họ đã trao Hiến pháp dự thảo này cho Ủy ban sọan thảo Quốc hội ngày 04/02/2013 với đề nghị “trang thông tin điện tử của Quốc hội về sửa đổi Hiến pháp và các báo in cần đăng Kiến nghị 72 và Dự thảo Hiến pháp 2013 cùng với các ý kiến khác về sửa đổi Hiến pháp”.
Tuy nhiên ông Phan Trung Lý, thay mặt Ủy ban đã bác bỏ yêu cầu của Nhóm 72.
TIẾNG NÓI CÔNG GIÁO
Quyết định của ông Lý không chỉ xúc phạm đến những người ký tên ủng hộ Nhóm 72 mà còn công khai coi thường hàng trăm tiếng nói của những người Công giáo đã ký tên vào Kiến nghị
Lần đầu tiên khỏang 200 Linh mục và Tu sỹ đã hướng dẫn giáo dân hành động theo gương 3 Đức Tổng Giám mục và Giám mục nổi tiếng của Việt Nam, những chủ chăn đã ký tên ủng hộ Nhóm 72 chống Hiến pháp sửa đổi 1992.
Làn sóng người công giáo ở Hà Nội, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia Phong trào chống đảng CSVN lên cao độ ngay sau khi Đức nguyên Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, ở ẩn từ Tu viện Nhà dòng Châu Sơn, Ninh Bình, ký tên ủng hộ nhóm 72, đã có sẵn chữ ký của Đức cha Nguyễn Thái Hợp, Giáo phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa Bình của Hội đồng Giáo mục Việt Nam.
Đức TGM Ngô Quang Kiệt viết: "Tôi đồng ý và ký tên bản Kiến nghị về sửa Hiến pháp 1992 (đăng tải trên Bauxite Việt Nam ngày 22/1/2013.”
Sau đó đến lượt Đức Giám mục Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo phận Thanh Hoá cùng đã dấn thân “làm cách mạng” với giáo dân của Ngài.
Hành động của 3 Chức sắc cao cấp của Giáo hội Công giáo và Nhóm 72, phải chăng đã thúc bách đảng và nhà nước CSVN có phản ứng qua những phát biểu của hai ông Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ?
Ông Trọng cho rằng “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức” , đó là những ai đòi hỏi “bỏ Điều 4 Hiến pháp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng, muốn đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, phi chính trị hóa quân đội”. (Tuyên bố ngày 25/02/2013 tại Vĩnh Phúc)
Và ông Hùng thì lên án những ý kiến không thuận chiều với đảng là “…lợi dụng việc lấy ý kiến hiến pháp để tuyên truyền vận động nhân dân chống lại Đảng chống lại chính quyền… là ngược chiều, phải kiên quyết đấu tranh và ngăn chặn.”
Ông cũng bảo: “Bản lấy ý kiến là bản của Uỷ ban dự thảo Hiến pháp công bố trên cơ sở tiếp thu ý kiến thảo luận của Quốc hội…là bản duy nhất. Còn anh tự tổ chức lấy một cách lấy ý kiến khác của anh là không được, đấy là cách làm không đúng quy định, mà tôi chưa nói là vi phạm pháp luật, chúng ta phải đấu tranh…” (Tuyên bố ngày 27/02/2013 tại Hà Nội)
ĐỔ DẦU VÀO LỬA
Lập luận quy chụp, độc tài, bảo thủ của hai ông Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Sinh Hùng đã bị chống đối quyềt liệt từ nhiều phiá người dân vì rõ ràng đảng đã nói một đàng làm một nẻo khi lấy ý kiến mà lại không những chỉ chống mà còn đe dọa người có ý kiến khác với mình.
Phản bác đầu tiên và mạnh mẽ nhất vào ngày 26/02/2013 đến từ Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên qua bài “Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng” trong báo điện tử “Cùng Viết Hiến Pháp” của nhóm Giáo sư Tiến sỹ Toán học nổi tiếng Thế giới Ngô Bảo Châu.
Ông Kiên nói thẳng ngay từ đầu : “Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách.Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ “suy thoái” thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước. Nếu ông và các đồng chí của ông muốn giữ Điều 4, muốn giữ vai trò lãnh đạo, muốn chính trị hóa quân đội, không muốn đa đảng, không muốn tam quyền phân lập, thì đó chỉ là ý muốn của riêng ông và ĐCS của ông. Ông không thể quy kết rằng đó là ý muốn của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những ý muốn trên chỉ nên xem là của riêng ông TBT Trọng, chưa chắc đã là tâm nguyện của toàn bộ đảng viên cộng sản hiện nay.”
Chỉ ít giờ sau khi bài này phổ biến, Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên bị báo Gia đình &Xã hội cho nghỉ việc vì theo tờ báo thì ông Kiên “không còn tư cách là phóng viên Báo Gia đình & Xã hội .”
Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử báo chí Cộng sản Việt Nam đã có một Nhà báo trẻ dám công khai viết bài chỉ trích quan điểm một Tổng Bí thư, người đứng đầu và đầy quyền thế của đảng CSVN.
7 TRIỆU NGƯỜI CÔNG GIÁO LÊN TIẾNG CHO AI ?
Biến cố Nguyễn Đắc Kiên và Nhónm 72 được coi như “những ngòi nổ” hay “những giọt nước làm tràn ly” đã kích thích tinh thần cho Phong trào quần chúng nổi lên tuyên bố quay lưng lại với chế độ hà khắc đã chà đạp nhân phẩm và ăn không mồ hôi nước mắt của tòan dân từ 68 năm qua để tiếp tục đầy đất nước xuống hố sâu đói nghèo lạc hậu.
Chỉ hai ngày sau “biến cố Nguyễn Đắc Kiên”, một bản “Tuyên bố của các Công dân tự do” gồm 5 Điểm ra đời hôm 28/02/2013 cũng bác bỏ “Điều 4 trong Hiến pháp”; “ủng hộ đa nguyên, đa đảng” ; đòi “ xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách”; và “ủng hộ phi chính trị hóa quân đội”.
Những người chủ trương tuyên bố : “ Chúng tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.”
Nhóm chủ xướng, phần lớn là những Nhà báo tự do họat động trên các báo mạng “Truyền thông xã hội” ở Việt Nam và nước ngòai, đứng đầu danh sách có các Bloggers nổi tiếng như : Nguyễn Hòang Vi (Sài Gòn); Phạm Thanh Nghiêm (Hải Phòng); Mẹ Nấm (Nguyễn Ngọc Như Qùynh, Nha Trang); Trịnh Kim Tiến (Sài Gòn); Bùi Thị Minh Hằng (Vũng Tầu), Hùynh Ngọc Chênh (Sài Gòn)v.v..
Danh sách đã có ngòai 5000 người ủng hộ, trong đó có các tên tuổi lớn như Tiến sỹ Hà Sĩ Phu; Bác sỹ Nguyễn Đan Quế; Linh mục Đinh Hữu Thọai của Truyền Thông Chuá Cứu Thế (Việt Nam); Nhà văn, Nhạc sỹ Tô Hải; Ông Trần Khuê, người sáng lập Đảng Dân Chủ Thế Kỷ XXI(Sài Gòn); Nhà Thơ Bùi Chát; Nhà thơ Đỗ Trung Quân và Nhà báo Lưu Trọng Văn (con Nhà thơ Lưu Trọng Lư) v.v…
Tuy nhiên, thái độ lịch sử lớn nhất của Phong trào, cho đến hôm nay, là tiếng nói thống nhất của trên 7 triệu tín đồ Công giáo đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam công bố vào ngày 01/03/2013. Các Nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo đã công khai phủ nhận đảng CSVN có quyền đương nhiên cai trị dân độc tài, độc đảng để tiếp tục cướp đi tất cả mọi quyền tự do căn bản của con người Việt Nam.
Các Ngài cũng chỉ trích sự kiện Bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi, ngay trong Lời Mở Đầu, đã cưỡng chế nhân dân Việt Nam phải đi theo cái gọi là “ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” mà thực chất là vô thần không tin có Tôn giáo.
Bằng chứng là trong số 500 Đại biểu Quốc hội, hồ sơ cá nhân chỉ có một số “rất ít” người có Tôn giáo. Chữ “không” ghi trong mục Tôn giáo đã chiếm gần tuyệt đối trong hồ sơ ứng cử của họ.
Quan điểm chính trị nghiêm khắc này đã được Hội đồng Giáo mục Việt Nam (HĐGMVN) viết trong Thư góp ý gửi cho Thường trực Ban biên tập – Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Thư góp ý của 26 Tổng Giám mục và Giám mục Giáo phận, mang hai chữ ký của Chủ tịch Hội đồng GMVN, Đức Tổng Giám mục Nguyên Văn Nhơn, Giáo phận Hà Nội và Đức cha Tổng thư ký Hòang Văn Đạt,Giáo phận Bắc Ninh.
Các Giám mục viết: “Dự thảo khẳng định quyền tự do ngôn luận (điều 26), quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật (điều 43), quyền tự do tín nguỡng, tôn giáo (điều 25). Tuy nhiên, ngay từ đầu, Dự thảo lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (điều 4). Như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi? Tương tự như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần? Phải chăng những quyền này chỉ là những ân huệ được ban cho nhân dân tùy lúc tùy nơi, chứ không phải là quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, và bất khã nhượng? Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân.”
Khi nói về những hạn chế khe khắt “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” thì đảng CSVN đã chứng minh là “kẻ thù” của mọi Tôn giáo, ngọai trừ những ai chịu nghe theo và làm theo ý muốn của nhà nước trong các Tổ chức Tôn giáo do Nhà nước bảo hộ và có chân trong Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam.
Bằng chứng này đã thể hiện trong Pháp lệnh Tín ngưỡng-Tôn giáo năm 2004 và gần nhất là Nghị định Số: 92/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành ngày 08/11/2012.
Các nhà lãnh đạo Giáo hội có số giáo dân đứng thứ 2 ở Châu Á, sau Phi Luật Tân còn nói rằng : “Hiến pháp của một quốc gia trước hết và trên hết phải là của chính người dân, do ý thức trách nhiệm của người dân và để phục vụ mọi người dân, không loại trừ ai.”
DÂN CÓ LÀM CHỦ KHÔNG ?
Từ quan điểm này, các Giám mục Việt Nam nói thẳng: “Quyền bính chính trị cần thiết để điều hành xã hội, nhưng chủ thể của quyền bính chính trị phải là chính nhân dân xét như một toàn thể trong đất nước. Nhân dân trao việc thi hành quyền bính ấy cho những người có năng lực và tâm huyết mà họ bầu làm đại diện cho họ, bất kể người đó thuộc đảng phái chính trị hoặc không thuộc đảng phái nào. Chỉ khi đó mới có Nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân” . Vì thế việc tự do ứng cử của mỗi công dân là đòi hỏi tất yếu trong một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh. Ðồng thời việc bỏ phiếu công khai, khách quan và công bằng, là đòi hỏi cần thiết để người dân có được những đại diện mà họ tín nhiệm.Chính nhân dân có quyền đánh giá năng lực của những đại diện họ đã bầu, và khi cần, họ có quyền thay thế những đại diện đó.”
Thực tế ở Việt Nam người dân chỉ “làm chủ đất nước trên giấy tờ” và “bằng nước bọt” bởi đảng Cộng sản Việt Nam đã cướp mất quyền ấy. Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo độc tôn và độc đảng và ghi cả vào Điều 4, từ Hiến pháp 1980 “là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội.”
Sau đó đến Hiến pháp 1992 thì viết lại “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” . Bây giờ trong Hiến pháp sửa đổi thì đảng vẫn giữ nguyên như thế mà không sao chứng minh được “ai đã bầu cho đảng được độc quyền lãnh đạo đất nước” ?
Như vậy có “phản động và phản dân chủ” không ?
Các cuộc được gọi là “bầu cử” ở Việt Nam Cộng sản từ Hội đồng nhân dân lên Quốc hội đều do đảng quyết định từ khâu chọn người đến tổ chức bầu cử.
Người được chọn hầu hết là đảng viên, hay cảm tình viên hoặc được đảng chêm vào cho có mầu sắc đại diện nhiều tầng lớp nhân dân nên lá phiếu của người dân chỉ còn là hình thức “đảng cử dân bầu”để phục vụ cho quyền lợi của đảng và bảo vệ quyền tự phong lãnh đạo tòan diện cho đảng.
Vì vậy, Hội đồng Giám mũc đã thẳng thắn nói với đảng rằng : “Ðể tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, trong Hiến pháp không nên và không thể khẳng định cách tiên thiên sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phải chính trị nào (xem điều 4), vì chủ thể của quyền bính chính trị là chính nhân dân, và nhân dân trao quyền bính đó cho những người họ tín nhiệm qua việc bầu chọn. Những cá nhân được bầu phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc họ làm, chứ không thể là một tập thể mơ hồ rồi cuối cùng không ai chịu trách nhiệm cả.”
Ngòai ra, Các Giám mục cũng nói vào tai đảng rằng : “Hiến pháp hiện hành chỉ công nhận quyền sử dụng đất chứ không công nhận quyền sở hữu đất của công dân. Ðiều này đã gây ra nhiều lạm dụng và bất công nghiêm trọng. Vì thế, Hiến pháp mới cần công nhận quyền sở hữu đất đai của công dân và các tổ chức tư nhân như tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới….
…Quyền bính chính trị mà nhân dân trao cho nhà cầm quyền được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ðể những quyền bính này được thi hành cách đúng đắn và hiệu quả, cần có sự độc lập chính đáng của mỗi bên và vì công ích của toàn xã hội. Trong thực tế của Việt Nam nhiều năm qua, đã không có được sự độc lập này, dẫn đến tình trạng lạm quyền và lộng quyền, gây ra nhiều bất công, suy thoái về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, đạo đức. Cuối cùng, người dân nghèo phải gánh chịu mọi hậu quả và Việt Nam, cho đến nay vẫn bị xem là một nước kém phát triển….”
VỚT VÁT GIỜ CHÓT ?
Nói tóm lại thì Giáo hội Công giáo Việt Nam đã “sổ toẹt” vào Hiến pháp duy trì quyền cai trị độc tài cho Đảng.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử 68 năm cầm quyền, đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã phải đối phó với “một cuộc chiến không vũ trang” của nhân dân, tuy chưa có sức mạnh lật đổ đảng CSVN nhưng sẽ có tác động mãnh liệt đến tình thần của tập thể trên 8 triệu đảng viên và binh sỹ đang bị Lãnh đạo đảng lên án lâm vào tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” nghiêm trọng .
Vì vậy, ngày 6/3 (2013), Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đã công bố quyết định gia hạn thời gian thu nhận ý kiến cho Dự thảo Hiến pháp đến ngày 30/9 (2013), sau đợt một kết thúc ngảy 31/3/2013.
Ông Hùng cho biết vẫn còn có nhiều khó khăn và trở ngại trong việc thu nhận góp ý của người dân, nhất là ở vùng xa và vùng cao. Thậm chí nhiều cán bộ, đảng viên và các đơn vị Quân đội ở nhiều nơi cũng chưa đóng góp ý kiến nhiều. Do đó các ngành và địa phương phải rà soát lại những bất cập này.
Phải chăng điều này cho thấy người dân và nhiều cán bộ, đảng viên và cả binh lính cũng không mặn mà với việc góp ý vào Hiến pháp sửa đổi ?
Ông Hùng cũng thừa nhận có tình trạng chống đảng trong nhân dân khi họ tham gia thảo luận và góp ý vào Hiến pháp 1992 cửa đổi.
Ông nói : : “Ở một vài địa phương cũng đã phát hiện có một số cá nhân lợi dụng việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để truyền bá những quan điểm sai trái, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.”
Do đó, ông đã chỉ thị các cấp phải : “Cần kịp thời đấu tranh, ngăn chặn việc lợi dụng góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để truyền bá những quan điểm sai trái, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.”
Tình trạng này xa gần liên hệ đến một quan điểm đáng chú ý của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang trong cuộc nói chuyện tại Câu Lạc Bộ Thăng Long của các Cựu Chiến Binh ngày 19/2/2013.
Ông Sang đã có quan điểm “không có cùng lập trường” với Điều 70 của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi buộc Quân đội phải “tuyệt đối trung thành với Đảng” trên cả Tổ quốc và nhân dân.
Ông nói : “Về vai trò của Đảng với quân đội. Tôi cho rằng Đảng ta lập ra quân là để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân chứ không phải là lập ra là bảo vệ, trung thành với Đảng, vì vậy quân đội phải trung thành, bảo vệ Tổ Quốc, nhân dân rồi mới đến Đảng, có như vậy mới đúng chứ. Nay vì theo tập quán, nhận thức vẫn chưa thực hiện được.” (Trích ghi chép của Đoàn Sự, Dân Luận)
Như vậy thì có phải trong Đảng CSVN đang có tình trạng “trống đanh xuôi kèn thổi ngược” đối với Hiến pháp ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất không ?
(03/013)
Phạm Trần
Những mùa xuân trở lại (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)
Văn Thơ Lạc Việt : Thiệp Mời (GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh ra mắt sách)
XIN KÍNH CHÀO QUÍ VỊ
Song Nhị : Thiệp Mời ra mắt sách Nửa thế kỷ VN
NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM: CUỐN SÁCH CỦA ANH EM H.O. VÀ TÙ CẢI TẠO
* Thư Sinh
Tôi quen biết với ông Song Nhị, qua thơ. Số là, vào năm 1995, một anh bạn tặng tôi cuốn tuyển tập thơ Gởi Người Dưới Trăng, trong đó có hai bài thơ tù đầy ấn tượng của ông. Nhất là bài Tôi Đi Giữa Đoàn Tù Vác Đá, viết tại trại tù Lam Sơn Thanh Hóa. Nội dung bài thơ tả cảnh đoàn tù đi vác đá về xây xà lim để nhốt chính mình. Tôi cũng từng trải qua cảnh ấy, hồi bị nhốt ở trại tù Phước Long. Thay vì đi vác đá, chúng tôi đi chặt cây rừng về dựng trại tù. Do đó, bài thơ đã tạo được sự đồng cảm giữa tôi và ông Song Nhi. Tôi giữ lại trong ký ức hai câu thơ: Tôi đi dưới bóng thời nô lệ, Ngọn núi đè lên cả kiếp người. và nảy ra ý định muốn gặp tác giả hai câu thơ ấy. Không ngờ, cơ duyên hội ngộ đã đến rất nhanh, khi tôi được ông anh họ rủ lại nhà tham dự một buổi họp mặt với các đồng môn Đại Học Vạn Hạnh. Qua điện thoại, ông anh tôi bảo: Sẽ giới thiệu cho tôi một tay sính văn chương, và từng trải một cuộc vượt tuyến vào miền Nam, khác hẳn với đám Bắc kỳ di cư 54 chúng mình. Khi tôi đến, thì té ra người tôi được giới thiệu, lại chính là Song Nhị! Từ mối quen biết này, ông có rủ rê tôi vào ban biên tập nguyệt san Cội Nguồn. Tôi từ chối. Vì nghĩ cái thứ văn chương mì ăn liền của mình không thể nào so sánh với văn chương thứ thiệt của ông. Tuy vậy, tôi vẫn theo dõi sinh hoạt nhóm Cội Nguồn qua trang văn học nghệ thuật mỗi tuần trên nhật báo Việt Nam Thời Báo và tạp chí Nguồn. Và tôi thấy, nhóm Cội Nguồn vẫn kiên trì theo đuổi tôn chỉ mà nhóm đã đề ra, kể từ khi thành lập. Riêng Song Nhị, hình như trong suốt những năm tháng dính dáng tới văn chương chữ nghĩa, ông thiên về Thơ nhiều hơn Văn. Ngay cả cuốn bút luận, viết chung với ông Diên Nghị, mang tên Lưu Dân Thi Thoại – thì chung cục, cũng dính dáng đến Thơ. Và mãi cho đến hôm nay, chúng ta mới đón nhận tập bút ký tự truyện Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Cuốn sách này được phát hành đúng lúc tờ nhật báo Người Việt dưới Nam Cali mở ra mục HO, kỷ niệm 20 Năm Hội Nhập. Sơ khởi, đã có khoảng 15 bài viết liên quan đến chủ đề này. Mà tác giả, hầu hết là những anh em H.O., và vợ con họ. Trong số những bài viết ấy, tôi để ý đến bài viết của cô Niệm Huyên, con gái một anh HO. Cô đã viết như thế này: Tôi nghĩ lịch sử đã vô hình chung đặt lên vai mỗi người HO, và những người có trải nghiệm sống về họ, sứ mệnh phải biên tập lại những trải nghiệm ấy, không phải để cho chính dân tộc mình, mà còn cả cho thế giới làm sử liệu về sau. Tôi nghĩ, cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam đã đáp ứng được nỗi mong muốn đó. Trước hết, xin nói đến cái tựa cuốn sách. Nửa Thế Kỷ Việt Nam chắc chắn phải là một nửa thế kỷ chót của thiên niên kỷ trước, bắt đầu từ năm 1950. Có thể, ông Song Nhị trải nghiệm đời mình lâu hơn thế nữa. Vì nơi trang 8 trong phần lời tựa, ông đã viết: Mười lăm năm tuổi thơ tôi trên mảnh đất xóm làng chôn nhau cắt rốn. Mười chín năm ly tổ xa quê, sau khi thoát khỏi vòng tai họa, sống trên phần đất tự do. Bốn năm ở Lào, mười lăm năm giữa Saigon hoa lệ của miền Nam cho tôi một phần đời thành đạt, mộng đầy hăm hở mai sau. Và đấy chỉ là một khúc nhạc dạo đầu cho một cuộc đời gian truân sau này. Nên cái con số 50 năm, quá dài cho một đời người. Nhất là những năm tháng đi tù cải tạo. Các cụ ta đã bảo, nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Song Nhị đã đếm từng ngày trong tù. Tổng cộng ba ngàn ngày! Mọi sự kiện được ghi chép lại một cách thật trung thực qua hai thể văn bút ký và tự truyện. Đó là hình ảnh chung của những người tù cải tạo. Nên khi đọc xong cuốn sách này, nhà báo Thanh Thương Hoàng, đã rất xúc động, và đưa ra những nhận xét như sau: "Đọc hết cuốn bút ký tự truyện Nửa Thế Kỷ Việt Nam của Song Nhị dày trên 460 trang, khi xếp lại, thú thật, tôi đã buồn càng buồn thêm, đã đau càng đau thêm. Tôi thấy bạn bè tôi (và cả thế hệ tôi) hiển hiện trong cuốn sách. Chẳng biết chúng tôi có sinh nhầm thế kỷ không, nhưng điều chắc chắn chúng tôi bị đánh mất tuổi trẻ, đã bị cuốn hút vào trận bão thời đại, và nhận lãnh những thua thiệt, bất hạnh về phía mình. Và có thể nói, cả thế hệ chúng tôi mộng vỡ tan tành. Nỗi đau này không phải chỉ riêng Song Nhị, mà là tất cả chúng ta – những người sống sót trong cuộc chiến, và sau đó trong tù đày ". Riêng Song Nhị, ông còn lãnh thêm một đoạn đường đời cũng gian nan cực khổ không kém những năm tháng trong tù. Đó là thời kỳ xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất (vào giữa thập niên 50) tại miền Bắc. Mà chính ông và gia đình là nạn nhân. Tất cả đều được ghi lại qua những chương I, II, II và IV. Qua mấy chương này, có những đoạn văn đã làm cho người đọc xúc động đến rơi nước mắt. Như trang 53, chẳng hạn: Chiều ba mươi Tết, mẹ tôi ngồi khuất sau một tấm phên rách nát, vừa lượm về che lên cho đỡ lạnh, đôi mắt quần
g thâm, mặt vẫn chưa hết những vết gai bưởi, vết bầm sau hai tháng bị bắt giam và bẩy đêm bị hành hạ giữa đám đấu trường cuộc đấu tố . Nước mắt bà ràn rụa, bà đưa hai tay kéo từng anh chị em chúng tôi chụm đầu vào lòng như con gà mẹ xòe cánh ủ những con gà con. (trang 53) Ta hãy tưởng tượng ra hình ảnh một người phụ nữ chân yếu tay mềm, bị trói thúc ké treo lơ lửng trên cành cây, bị kim gút và gai bưởi đâm nát mặt đến bất tỉnh (trang 36, 37), nhưng vẫn cố sống để bảo vệ đàn con bảy đứa, thì mới thấy sức chịu đựng của người Mẹ tác giả thật đáng phục. Thế mới biết, muôn đời, dù ở vào hoàn cảnh nào, người Mẹ Việt Nam vẫn là hình ảnh thân cò lặn lội, chỉ biết hi sinh bản thân mình cho chồng con. Sự hi sinh bao la ấy đã được tác giả ghi nhận qua một mục đặc biệt mang tên: Mẹ Tôi. Có điều, trong cảnh cả gia đình bị gạt ra ngoài lề xã hội trong cảnh cùng quẫn, đời sống tận cùng thê thảm đến thế – khi hồi tưởng lại, tác giả vẫn để cho ngòi bút mình tuôn chảy một cách nhẹ nhàng thanh thản. Từ đó, người đọc có thể cảm nhận được, một nét nào đó hết sức khiêm tốn và nhân bản trong cái tôi của ông bàng bạc trong hầu hết 16 chương sách. Vì khi tự kể lại đời mình, ông đã cho rằng, sự mất mát của một đời người, nào có thấm tháp gì so với sự mất mát của cả một dân tộc (trang 21). Sau cuộc đấu tố kinh hoàng, trừ người anh cả còn kẹt lại, cả gia đình may mắn trốn thoát được sang Lào, trong một cuộc vượt tuyến đầy gian nan vất vả kéo dài cả tháng trời. Để rồi 4 năm sau (1960), ông mới trở về miền Nam Tự Do làm lại cuộc đời, đem hết nhiệt huyết tuổi trẻ phục vụ đất nước. Nên ở chương 5 này, ông đặt tên là Ngày Bắt Đầu Cuộc Đời. Nhưng giai đoạn hào hứng này chỉ kéo dài vỏn vẹn 15 năm. Từ chương 6 trở đi, miền Nam đã bị chìm đắm trong Cơn Lũ Nghịch Thường. Cửa địa ngục đã mở, lùa tất cả các sĩ quan viên chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào trong những trại học tập cải tạo. Trải qua 3 ngàn ngày trong các trại tù khổ sai từ Nam ra Bắc, ông đã chứng kiến và tham dự vào nhiều cảnh huống đặc biệt khác thường xảy ra trong những trại tù này. Tất cả, đều được ghi lại một cách trung thực và tỉ mỉ, từ chương 6 đến chương 11. Trong đó, phải kể đến cuộc nổi dậy kéo dài 3 ngày tại trại tù Lam Sơn (Thanh Hóa), vào năm 1979. Và tác giả đã phải trả giá bằng 6 tháng kiên giam. Nói chung, theo tác giả, tinh thần anh em tù cải tạo rất cao. Ngoại trừ một thiểu số đem thân làm tôi tớ cho đám cai tù để đổi lấy một chút vật chất trội thừa, hoặc cái ảo tưởng được thoát chốn lao tù trước những người cùng cảnh ngộ. (trang 151). Chính những tay ăng ten này đã làm điêu đứng những bạn đồng tù, mà trong nhiều trường hợp còn hắc ám hơn cả cai tù quản giáo. Chỉ cần một lời báo cáo từ mấy tên ăng ten hay những đội trưởng thi đua, là người tù sẽ phải khốn đốn với những hình phạt: giảm khẩu phần ăn, nhốt kiên giam. Thậm chí có nhiều trường hợp, người tù bị chết thảm bởi đòn thù. Trong đám ấy, phải kể đến Bùi Đình Thi. Dù không sống chung một trại, nhưng tác giả Song Nhị cũng đã dành nguyên cả một chương 8 để nói về tay ăng ten khét tiếng, đã từng được linh mục Nguyễn Hữu Lễ kể lại trong cuốn hồi ký Tôi Phải Sống. Bản án dành cho anh ta, như một chiêm nghiệm về Nhân Duyên Nghiệp Quả, đã đành. Nhưng còn vợ con anh ta ? . Qua cách diễn tả ở trong chương sách này, chúng ta tìm được nơi tấm lòng đôn hậu của ông, một sự cảm thông sâu xa với người vợ Bùi Đình Thi. Và theo tác giả tâm sự ở trang 118, chính vụ án Bùi Đình Thi, với những hệ quả của nó – đã làm cho ông hoàn tất sớm hơn dự liệu, cuốn bút ký tự truyện Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Ông viết: Vừa qua, nhân vụ Bùi Đình Thi làm xúc tác, tôi mới có hứng khởi tiếp tục hoàn thành bản thảo. Tôi viết như một trao gởi đến những ai – hôm nay và mai sau – muốn biết về một thời chiến tranh chia cắt, hận thù, tù đầy, tan tác chia ly mà cả thế hệ chúng ta là người trong cuộc. Như vậy, cái thông điệp mà ông gởi gấm qua cuốn sách này, đã rõ. Mà nếu đã rõ như thế, thì cái tôi đáng ghét qua dạng tự truyện, và những sự thật rất dễ làm người khác mất lòng qua dạng bút ký – đã không còn là những vấn đề làm cho tác giả băn khoăn lưỡng lự, như ông đã thố lộ ở ngay những giòng chữ đầu tiên, nơi phần " Thay lời tựa " cuốn sách này. Có khối những cuốn hồi ký tự truyện được viết bởi các ông lớn, chưa chắc đã thành thật và trung thực bằng cuốn sách của Song Nhị, một cựu sĩ quan cấp nhỏ. Vì họ viết để dạy đời, để chạy tội. Trong khi, Song Nhị viết cuốn bút ký tự truyện này, bằng cái tâm trong sáng của mình. Nên nếu tôi thêm vào tờ bìa cuốn sách hai chữ Tâm Bút, chắc chắn cũng không phiền đến cái tôi đầy khiêm tốn của ông. Vả lại, Nửa Thế Kỷ Việt Nam nghe có vẻ khói lửa và tang thương như thế đấy, nhưng đâu phải là không có lối thoát! Ngay từ c
hương thứ 12, chúng ta đã thấy Châu Về Hiệp Phố, với mấy câu thơ lục bát mang ý nghĩa có vẻ như Hy vọng Trong Màn Đêm Ánh Sáng Cuối Đường Hầm: Xin từ biệt một cảnh đời Tường xây cửa sắt tình đời lạnh căm Xin từ biệt những tháng năm Mồ hôi máu lệ nhục nhằn đắng cay. (trang 295) Trên đường trở về miền Nam, người tù cải tạo như đi trong tình tự dân tộc! Hành trình của người cựu tù cải tạo mang danh số HO, sau đó, tuy gian nan vất vả, nhưng sau cùng, cũng tới một kết thúc tốt đẹp, qua một chương trình nhân đạo mang tên HO ! Riêng Song Nhị, chưa hẳn ông đã gấp lại cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Vì ông vẫn đi tìm lý lịch của Con Chữ HO! Để thấy rằng, chương trình HO mà những người đồng cảnh ngộ như ông được hưởng – là do nỗ lực của rất nhiều người. Từ Tổng Thống Ronald Reagan, Thứ Trưởng Ngoại Giao Robert Frenseth, cho tới những đồng hương bỏ nước ra đi trước tháng 4-1975, hoặc những người tù cải tạo vượt biên, trước khi có chương trình HO . Tất cả, đều khởi đi từ tấm lòng nhân ái. Một thứ tình người vốn rất hiếm trong nửa thế kỷ Việt Nam đầy hận thù, đau thương tang tóc. Các cụ ta đã bảo, cùng tắc biến biến tắc thông, hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai. Những người anh em HO và tù cải tạo xứng đáng được hưởng phần đời còn lại trong hạnh phúc và vinh quang. Bởi nơi trang 430, tác giả Song Nhị đã ghi lại câu nói của cựu Tướng hồi hưu John Vessey như thế này: Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và lòng hi sinh của người H.O. Tất cả những ai thuộc diện H.O. đều là những anh hùng thật sự trong thời đại chúng ta. Đúng vậy, những anh em HO và các cựu tù cải tạo, đã có một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Và cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam, thật xứng đáng là một cuốn sách dành cho họ.
* Thư Sinh
————————————————-
“NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM ”
Giao chỉ – San Jose
Thư Sinh : NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA ĐOÀN PHƯƠNG HẢI
Xin gửi một vài hình ảnh của Ông Nguyễn Phước Đáng ghi nhận được trong buổi ra mắt sách : Nhớ về …. Người Lính năm xưa của Đoàn Phương Hải, được tổ chức vào lúc1:30 PMngày Thứ Bảy 8 tháng 10 năm 2011 tạiSan Jose Theo sự nhận xét của giới truyền thông và của các vị đã từng tham dự rất nhiếu buổi ra mắt sách tại San Jose, đây là một trong những buổi ra mắt sách thành công về số lượng người tham dự và số sách bán ra từ hơn 20 chục năm qua tại San Jose Các buổi ra mắt sách thành công như sau: 1- Khi Đồng Minh tháo chạy của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng 2- Hồi ký : Đất nước tôi của cố Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn 3- Hồi ký : Tôi phải sống của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ 4- Tâm pháp Khí Công của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh 5- Bút ký, Tự truyện : Nửa Thế kỷViêt Namcủa nhà văn Song Nhị 6-Huế, thảm sát Mậu Thân của cựu Thiếu tá CSQG Liên Thành
Vài hình ảnh buổi Ra mắt sách "Nhớ về Người Lính Năm Xưa" của ông Đoàn Phương Hải, tại trung tâm VIVO San Jose, chiều ngày 10/08/11.
Hình 1 : Không Quân Lê Văn Hải, Trưởng Ban Tổ chức ( Hình Nguyễn Phước Đáng )
Hình 2 : Không quân Trương Xương, bạn cùng khoá 19 Võ Bị Đà Lạt giới thiệu tác giả ( Hình Nguyễn Phước Đáng )
Hình 3: Nhà báo Thư Sinh Phạm Tài Tấn, cũng là một người lính năm xưa, giới thiệu tác phẩm ( Hình Nguyễn Phước Đáng )
Hình 4: Cựu Thiếu Tướng Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Bùi Thế Lân và phu nhân (Hình Nguyễn Phước Đáng )
Hình 5: Toàn cảnh hội trường. Từ trái Cựu Thiếu tá BĐQ Lương Văn Ngọ và cựu Thiếu Tướng Tư Lệnh Cảnh sát Quốc Gia , Nguyễn khắc Bình ( Hình Nguyễn Phước Đáng )
Hình 6 : Mũ Đỏ Đoàn Phương Hải ( Hình Nguyễn Phước Đáng )
Hình 7: Ông Bà Đoàn Phương Hải ( Hình Nguyễn Phước Đáng )
Kính thưa Quý Vị Thi Văn Hữu thân hữu của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.
Chúng tôi xin trân trọng kính mời quý vị vui lòng tời tham dự buổi ra mắt sách viết về người lính VNCH được tổ chức tại
Trung Tâm VIVO vào lúc 1 giờ 30 ngày Thứ Bảy 8 tháng 10 năm 2011 của nhà văn chiến hữu nhảy dù Đoàn Phương Hải.
Anh Đoàn Phương Hải xuất thân khóa 19 Trường VBQG Đà Lạt là cựu Thiếu Tá Nhảy Dù, người đã từng tham dự những trận đánh
lừng danh của binh chủng Nhảy Dù. Anh cũng là người ở tại Charlie khi Đại Tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh. Anh hát bài Người Ở Lại Charlie rất có hồn với giọng ca thổn thức.
Xin mời quý vị tới bắt tay người lính VNCH có rất nhiều chiến tích và cũng để biết về cuốn sách về Người Lính VNCH do người lính viết.
Xin hẹn gặp Quý vị tại ViVo chiều Thứ Bảy này.
Cảm ơn và kính chúc Quý Vị Vạn Sự Bình An
ĐA
Ðông Anh xin chúc Quí Vi An Vui Hanh Phúc
———————————————————————–
NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA ĐOÀN PHƯƠNG HẢI
Một Tuần Tản Mạn
NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA ĐOÀN PHƯƠNG HẢI NHỚ VỀ NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA!
* Thư Sinh
Vào giữa năm 2000, người lính năm xưa Đoàn Phương Hải ra mắt tác phẩm đầu tay Góc Biển Chân Trời. Cuốn sách được đón nhận khá nồng nhiệt qua 3 lần tái bản. Như vậy, Đoàn Phương Hải khởi đầu việc viết lách của anh khá suông sẻ. Một khởi đầu mà các bạn văn cùng lứa với anh như Hoàng Khởi Phong, Huỳnh Văn Phú cho là muộn màng. Vì cùng sống ở thành phố San Jose, bang California, và cùng sở thích tìm bạn bè đấu láo, nên tôi có nhiều dịp chuyện trò với Đoàn Phương Hải. Nên có đôi lần tôi thắc mắc rằng, anh viết rất tới, nhưng tại sao lại đến với văn chương trễ tràng như thế. Thì anh khiêm tốn trả lời: Anh không dám nhận hai chữ nhà văn do bạn bè gán cho anh. Mà tập truyện Góc Biển Chân Trời, chỉ là một cách để anh giải tỏa những tiếc nuối, những kỷ niệm 12 năm làm lính trong binh chủng Nhảy Dù. Nay, đúng 11 năm sau, người lính năm xưa, xưa và già hơn 11 năm trước, cho ra mắt cuốn sách thứ hai, mang tên là Nhớ Về Người Lính Năm Xưa. Tựa cuốn sách, lan man bởi ba cái dấu chấm chấm chấm, như muốn bày tỏ với bạn đọc rằng: Người lính năm xưa còn có nhiều điều để nói thêm, sau Góc Biển Chân Trời. Hay nói cách khác, cuốn sách sau là tiếp nối cuốn sách trước, với cơ man ký ức về đời lính. Cũng hừng hực lửa, cũng đầy ắp tinh huynh đệ chi binh. Nhưng những yếu tố trên không chỉ loanh quanh trong binh chủng Nhảy Dù, mà còn liên quan đến các quân binh chủng bạn đã từng sát cánh, san sẻ máu xương với Nhảy Dù trên khắp các mặt trận. Quả thế, với Nhớ Về Người Lính Năm Xưa, chúng ta sẽ tìm thấy những bài: Mũ Đõ Mũ Nâu, Dambe Mũ Đỏ Mũ Đen, Không Quân Nhảy Dù, Mũ Đỏ Mũ Xanh, Máu Lửa Trị Thiên Những trận đánh có sự phối hợp nhiều binh chủng như thế này, đều là những trận đánh lớn, đầy khốc liệt – được đánh đổi bằng xương máu, và sự hy sinh của rất nhiều người lính. Hầu hết những trận đánh ấy, đều có sự tham dự của Đoàn Phương Hải. Trong những giây phút tử sinh cận kề, những người lính vai tựa vai, lưng đâu lưng mà chiến đấu. Từ những hoàn cảnh ngặt nghèo đó, Đoàn Phương Hải và đồng đội mới cảm nhận được một cách thắm thía, thế nào là tình chiến hữu, tình huynh đệ chi binh. Thứ tình này, được Đoàn Phương Hải diễn tả nơi trang 75 như sau: Anh em nương nhau mà sống, mang tình huynh đệ vượt qua những gian nan, mang nghĩa đệ huynh dìu nhau lướt qua những cơn bão lửa Sống như thế này thì không thân thiết cũng trở thành thân thiết, không ruột thịt cũng trở thành ruột thịt. Mà khi những đồng đội ruột thịt đã rơi rụng ở chiến trường, thì làm sao những đồng đội còn sống sót sau mỗi trận chiến, không khỏi ngậm ngùi thương tiếc. Nên Nhớ Về Người Lính Năm Xưa, đầy hình ảnh bóng dáng những tử sĩ. Họ là bạn đồng khóa, các đàn anh, đàn em xuất thân từ trường Võ Bị, trong đủ mọi quân binh chủng. Tất cả những anh em đồng đội không may đó, đã để lại biết bao nhiêu kỷ niệm trong ký ức người lính năm xưa Đoàn Phương Hải. Đó chính là những chất liệu phong phú làm nền tảng cho cuốn sách này. Đến đây, thì chúng ta cũng nắm được một phần nào nội dung cuốn sách. Muốn rõ hơn, hiểu tâm tình người lính năm xưa Đoàn Phương Hải nhiều hơn, chúng ta hãy lần theo dấu vết binh lửa, trong suốt 12 năm làm lính Dù của anh. Đời lính của Đoàn Phương Hải, khởi đi từ lúc anh tình nguyện gia nhập khóa 19 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Một khóa đặc biệt, nhằm đúng vào thời nhiễu nhương, và chiến tranh bắt đầu lan rộng. Nên vì nhu cầu chiến trường, khóa rút lại còn 2 năm, với 4 lần thay đổi Chỉ Huy Trưởng. Mà theo Đoàn Phương Hải, đây là cách thanh trừng hạ bệ giữa các phe phái thuộc thế hệ lính đàn anh. Toàn khóa 19, gồm ngót nghét 4 trăm người, ra trường đều chọn các binh chủng tác chiến; mà giờ kiểm điểm lại, đã gần một nửa hy sinh cho Tổ Quốc. Riêng Hải, anh chọn và được nhận vào binh chủng Nhảy Dù, là do cao lớn hơn các bạn khác! Và trong hầu hết 12 năm làm lính dù đó, anh phục vụ ở hai tiểu đoàn 7 và 11 Dù. Về Tiểu Đoàn 7 anh đụng trận Đồng Xoài, tưởng đã chết, nếu không được các chiến sĩ Mũ Nâu vào giải cứu kịp thời. Ở trận này, anh mất người bạn thân cùng khóa: Trần Trí Dũng. Cái chết của người bạn thân này, còn ám ảnh Đoàn Phương Hải đến tận hôm nay, và được Đoàn Phương Hải tả lại một cách gián tiếp, qua hình ảnh người Mẹ trong bài viết Mẹ Việt Nam. – Về Tiểu Đoàn 11 Dù, anh đụng trận Charlie. Trên ngọn đồi đầy máu lửa này, anh chứng kiến tận mắt cái chết của vị Tiểu Đoàn Trưởng: Trung Tá Nguyễn Đình Bảo. Sự ra đi của người đàn anh mà anh kính phục cả về tư cách lẫn tài năng, là đề tài cho anh viết hai bài: Máu Lửa Charlie và Nhang Khói Charlie. – Sau trận đánh, Đoàn Phương Hải l
ê đôi nạng gỗ về hậu cứ, anh nhìn thấy khu gia binh, khăn số quấn trắng trên đầu những góa phụ (trang 192) Hoặc lúc được hoán chuyển về đơn vị cũ, thì: Cảnh cũ vẫn còn đây, nhưng những người lính năm xưa không biết ai còn ai mất. Chiến trường đã cướp đi hầu hết những người lính cũ mà tôi quen mặt biết tên (trang 71). Những câu văn được trích dẫn trên đây, đã cực tả được hậu quả tàn khốc của cuộc chiến trong từng đơn vị tham chiến. Tất cả những đau thương của đời lính đã là quá khứ, lâu đến mấy chục năm trời. Vậy mà, người lính năm xưa Đoàn Phương Hải vẫn nhớ từng chi tiết. Vì anh là người dự cuộc, và sống sót trở về. Vì anh là người chọn đời lính, yêu màu áo hoa dù. Như anh từng tâm sự cách đây 11 năm, trong lần ra mắt tác phẩm Góc Biển Chân Trời: Một phần tư thế kỷ đã trôi qua với bao vật đổi sao dời, dù ở góc biển chân trời nào, công việc, đời sống thay đổi ra sao, tôi vẫn yêu thích và nếu có dịp tôi vẫn mong muốn mặt bộ áo hoa dù với chiếc nón đỏ trên đầu. Vì tự thâm tâm tôi, tôi biết chắc một điều: người ta có thể đưa tôi ra khỏi quân đội, nhưng không ai có thể đưa quân đội ra khỏi tôi. Một phần thư thế kỷ cộng thêm 11 năm. Tâm sự của người lính năm xưa Đoàn Phương Hải trong cuốn sách Nhớ Về Người Lính Năm Xưa, vẫn y nguyên như vậy. Cuốn sách gồm tổng cộng 12 bài được anh viết trong những thời điểm khác nhau. Và cái thời điểm cuối cùng, là lúc anh trở về quê hương, thăm lại những chiến trường xưa. Trước hết, anh về thăm trường Mẹ, rồi lần theo quốc lộ 1 thăm lại những nơi xảy ra những trận đánh lớn: Thường Đức, Huế, Quảng Trị, Gio Linh đến tận đầu giới tuyến. Về thăm trường mẹ, anh không được phép vào, mà chỉ đứng ở ngoài quan sát, để không khỏi đau xót trước những nét tàn tạ của ngôi trường, vốn từng là quân trường qui củ nhất vùng Đông Nam Á. Cám cảnh, anh ghi lại: Tự dưng tôi hối tiếc, giá đừng về, đừng thấy, đừng thăm, thì hình ảnh trường mẹ, Lâm Viên của một thời gươm súng ngày xưa mãi mãi êm đềm và đẹp mãi trong ký ức. Đúng vậy, cảnh cũ người xưa có quá nhiều thay đổi. Nên lần theo dấu binh lửa năm xưa, chỉ còn là kỷ niệm giữ trong ký ức. Những kỷ niệm đó, cứ ùn ùn kéo về trong tâm hồn người lính năm xưa Đoàn Phương Hải. Và có thể nói, trong tất cả những nơi anh về thăm lại, thì việc anh trở lại ngọn đồi Charlie, được anh sửa soạn kỹ nhất. Ngoài phần nhang khói, một bó hoa có màu sắc lá cờ vàng ba sọc đỏ, anh còn mang cả chiếc máy thu thanh, cho phát lại bản nhạc Người Ở Lại Charlie, để gởi gió mang lời ca tiếng nhạc bay khắp rừng xanh núi đỏ Charlie, để tiếc thương Anh (cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù) cùng đồng đội. (trang 208). Khi đọc đoạn văn trên, chỉ c01 nhữngù người lính năm xưa mới cảm nhận được một cách sâu sắc tấm lòng người lính năm xưa Đoàn Phương Hải. Còn những kẻ đứng ngoài cuộc chiến, thì cho đây là hư cấu! Tôi cũng là một người lính năm xưa, nên tôi tin rằng, cảnh trên đây, là có thực. Vì tôi đã từng muốn khóc với Đoàn Phương Hải, khi anh hát bản nhạc này, trong một chương trình văn nghệ vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hòa, do niên trưởng Vũ Văn Lộc tổ chức tại trường Foot Hill College cách đây vài năm. Và, cũng vì vô tình nhắc đến mấy chữ hư cấu và có thật, nên tôi đâm ra không đồng ý lắm với Đoàn Phương Hải, ở hai chữ Tâp Truyện mà anh in trên bìa cuốn sách. Cái sự không đồng ý này, không dính dáng tới nội dung cuốn sách. Mà nó dây dưa tới một câu hỏi: Lối văn mà Đoàn Phương Hải xử dụng để viết cuốn sách Nhớ Về Người Lính Năm Xưa, là thể ký hay thể truyện? Hỏi xong, tôi cũng chẳng bắt người bạn văn của tôi phải trả lời. Vì nói cho cùng, tôi cũng chỉ là một kẻ bị méo mó bởi nghề nghiệp, với ý nghĩ -phải phân biệt rạch ròi giữa thế ký và thể truyện. Với lại, ký hay truyện chỉ có giá trị, khi người viết đạt được sự cảm thông nơi người đọc. Đó mới là giá trị đích thực của một tác phẩm. Cụ thể tôi xin ghi ra đây 1 đoạn văn tả tình tả cảnh. Nếu đoạn văn này được Đoàn Phương Hải viết vào thời gian tôi đang dạy môn Việt văn ở bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp, chắc chắn là tôi sẽ đem ra giảng dạy cho lũ học trò của tôi: Tôi ghé thăm hậu cứ tiểu đoàn. Vẫn những căn nhà thân yêu nằm dưới những hàng cây xanh mát. Vẫn những tiếng rơi khô cứng của những quả cao su khô rơi trên mái tôn. Hàng cây trước sân đại dội 72, nơi tôi vẫn tập họp binh sĩ ngày xưa, không có gì thay đổi. Trên cao, những chiếc lá vàng khô vẫn bay như bươm bướm, phủ đầy sân đại đội, mỗi khi có cơn gió thổi về. Cảnh cũ vẫn còn đây, nhưng những người lính năm xưa không biết ai còn ai mất. Chiến trường đã cướp đi hầu hết những người lính cũ mà tôi quen mặt biết tên. Tiếng kèn hạ cờ buổi chiều tan loãng trong không gian, lướt thướt trên rặng cao su, quyện tròn theo những căn nhà
vòm, len lỏi thật sâu trong ký ức, để tôi nhớ về những người lính năm xưa. Văn chương đến thế, là . số dzách! Và chắc hẳn, đoạn văn trên, sẽ gây xúc động nơi tâm hồn tất cả những người lính năm xưa như bạn. Phải không! Hẹn gặp lại bạn trong buổi ra mắt tác phẩm này, được tổ chức vào lúc 1:30 chiều Thứ Bảy 8 tháng 10 nam 2011 tại Trung Tâm VIVO. Thư Sinh
Buổi Ra Mắt Sách Đầy Ắp
Tình chiến Hữu
Của Thời Binh Lửa!
Tác Giả Đoàn Phương Hải
Qua nét tốc họa của Mõ
Tưởng nhớ người anh cả Không Quân
Niên trưởng Phạm Long Sửu (1925-2011)
* Nguyên Tham Mưu Trưởng Không Quân VNCH
* Nguyên Tổng Giám Đốc Hàng Không Việt Nam
Trần Dật/Ngô Ái Lan
Sáng sớm hôm đó, trong lúc đang mơ màng ngái ngủ, chuông điện thoại nhà reo. Ai gọi vào giờ này nhỉ? Mới chưa đầy 6 giờ sáng! Thói quen nghe điện thoại mỗi sáng sớm vào 6 giờ đã lâu không còn nữa, kể từ ngày chị Thân Thị Hảo, người chị cả trong Hội Ái Hữu QH/ÐK chúng tôi qua đời cách đây gần một năm. Nhấc điện thoại lên, bên kia đường dây một giọng nói quen thuộc, yếu ớt:
– Anh Dật ơi, tôi Sửu đây.
– Tôi chắc không còn sống được bao lâu nữa anh ạ! Xin anh nhớ những điều tôi nhờ anh trước đây.
– Khi tôi qua đời, xin đừng phủ quốc kỳ cho tôi.
Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao? “Anh là người đã từng vào sinh ra tử, từ Nam ra Bắc, chinh chiến nhiều năm vì tổ quốc, anh quá đủ tư cách và xứng đáng được phủ quốc kỳ. Tại sao anh lại khước từ.”
Anh không trả lời câu hỏi của tôi mà bâng quơ hỏi lại tôi:
– Anh còn nhớ không? Tôi qua đây đã hơn 20 năm, hầu như ai qua đời cũng được phủ cờ, có phải thế không anh Dật?
Tôi lặng yêu không trả lời. Tôi hiểu ý anh.
Anh nói tiếp:
– Sau khi tôi qua đời, không muốn bạn bè, người thân nhìn khuôn mặt khô héo, tiều tụy của mình, chỉ nên để di ảnh, bình tro của tôi, bên cạnh bàn thờ Phật trang nghiêm là đủ.
– Ngày tang lễ tôi, nên tổ chức lễ cầu siêu, thăm viếng, di quan, an táng, chỉ một buổi, để khỏi phiền hà con cháu, bạn bè.
Những lời dặn dò ấy khiến tôi bùi ngùi xúc động, vì tôi biết rằng đây là những lời trăn trối cuối cùng của anh. Anh là một người bình dị, được tất cả anh em bạn bè cũng như thuộc cấp mến phục, và tính bình dị của anh vẫn còn thể hiện trước khi nhằm mắt lìa đời.
Hai ngày sau, cũng vào khoảng 6 giờ sáng, tôi được tin anh ra đi, thanh thản, nhẹ nhàng. Anh qua đời ngày Hai tháng Bảy, 2011.
Xin ơn trên phù hộ cho anh và mong anh siêu thoát về miền lạc cảnh.
Anh Phạm Long Sửu hưởng thọ 87 tuổi.
Niên trưởng Phạm Long Sửu tại trường bay phi cơ phản lực
‘Ecole de Chasse at meknes’, thập niên 1950s. (Hình: Tác giả cung cấp)
Kỷ niệm về anh lại dồn dập trở về trong ký ức tôi. Vào một ngày đầu hạ năm 1990, tôi tổ chức một buổi họp mặt, gây quỹ của nhóm “không gian thân tình” để giúp đỡ các anh em Không Quân và gia đình cô nhi quả phụ gặp khó khăn tại quê nhà. Tình cờ gặp lại anh sau nhiều năm tháng, anh đến nhà tôi cùng với người bạn thân cùng khóa, phi công Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Oánh. Cuộc họp mặt thân tình và kết quả tốt đẹp. Trước khi ra về, anh xiết mạnh tay tôi, nói: “Việc làm của anh có ý nghĩa rất đáng khuyến khích. Tuy nhiên, trong vấn đề tài chính cần phải rõ ràng, minh bạch, và sử dụng đúng.”
Tính anh vốn cương trực nên lời nói của anh thẳng thắn, chân tình. Tôi càng quý mến anh hơn từ dạo đó.
Niên trưởng Phạm Long Sửu sinh ngày 25 tháng 11 năm 1925 (Ất Sửu) tại Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình trung lưu, chỉ có hai anh em, một trai và một gái. Anh là con trưởng. Thân phụ anh mất sớm, lúc anh mới 17 tuổi, người mẹ đảm đang, tảo tần, ở vậy nuôi còn thành tài.
Sinh ra ở Hà Nội nhưng tuổi thơ và cuộc đời của anh lại gắn bó với xứ Huế thân thương. Ðỗ tú tài năm 20 tuổi (1945) Ất Dậu. Vào thời điểm này, phong trào chống Pháp bùng phát khắp nước. Anh từ giã gia đình, mẹ và em gái để gia nhập lực lượng thanh niên tiền phong yêu nước ấy. Sau một thời gian, anh thấy phòng trào bị Việt Minh lợi dụng và anh bỏ về hậu phương tìm nguồn an ủi bên mẹ và em gái. Anh dành nhiều thì giờ trau dồi thêm ngoại ngữ và quyết tâm thực hiện giấc mộng trở thành phi công.
Trong thời gian này, anh gặp người yêu Hà Thị Bích Hà, thứ nữ của cụ Phó Thủ Hiến Trung Việt Hà Văn Lan. Năm sau, hai người thành hôn, hôn lễ Phạm Long Sửu và Hà Thị Bích Hà được cử hành tại Sài Gòn. Dịp may đến, mộng trở thành phi công của anh trở thành hiện thực. Vào năm 1951, khóa phi công đầu tiên được tổ chức, khóa thi và thụ huấn tại căn cứ Nha Trang. Anh là một trong 15 khóa sinh trúng tuyển. Trong kỳ thi tốt nghiệp, anh đậu thủ khoa với cấp bậc thiếu úy. Ðến bây giờ, hơn 60 năm qua, khóa anh chỉ con lại hai chiến hữu là Chuẩn Tướng Võ Dinh và Ðại Tá Trần Bá Quy. Ðặc biệt khóa học này có người hùng phi công Mai Văn Hạnh, nay cũng đã qua đời.
Ngày họp mặt của nhóm không gian thân tình tại tư gia ông Trần Dật vào mùa Thu 1990. Hàng ngồi, đầu tiên bên trái là niên trưởng Phạm Long Sửu. Hàng đứng, thứ nhì từ phải là tác giả Trần Dật. (Hình: Tác giả cung cấp)
Sau khi tốt nghiệp khóa phi công đầu tiên (bằng phi công số I của Không Quân VNCH), anh được điều động về phục vụ Phi Ðoàn I quan sát. Không lâu sau, anh được đề cử làm Biệt Ðội Trưởng sân bay thành nội Huế.
Ðầu năm 1954, anh lại trúng tuyển khóa phi công khu trục phản lực của trường “Ecole de L’Air at Salon de Provence,” trường không quân nổi tiếng của Pháp. Thời gian thụ huấn bốn năm, sau khi tốt nghiệp, sẽ được cấp bằng tương đương kỹ sư. Với tất cả ý chí, nghị lực, sau hai năm rưỡi miệt mài địa huấn và phi huấn, anh đỗ và được chuyển tiếp sang trường bay phi cơ phản lực “Ecole de Chasse at Meknes,” khóa học này thêm một năm rưỡi nữa, khóa sinh được huấn luyện trên các loại phi cơ khu trục và khu trục phản lực gồm có T33 của Hoa Kỳ, loại Vampire của Anh Quốc và Ouragan của Pháp Quốc. Trường gồm nhiều khóa sinh ngoại quốc, và bản xứ; với niềm đam mê, lòng quyết tâm và năng khiếu, lại một lần nữa anh tốt nghiệp thủ khoa.
Trước tài năng xuất sắc của anh, một người ngoại quốc, nhà trường và quân đội Pháp mời anh ở lại, sẵn sàng trả lương, với cấp bậc và quyền lợi như sĩ quan hiện dịch của quân đội Pháp. Ðiều này là một ước mơ của nhiều người. Nhưng với anh, dù vợ con, hiện đang sống trên đất nước Pháp đã lâu, vẫn không hề bị tiền bạc, danh lợi làm lung lạc. Anh từ chối lời đề nghị ấy, và nói: “Tôi đi du học để thêm kiến thức, trau dồi kỹ thuật mới để về phục vụ quê hương, đất nước đang cần tới.” Một quyết định đầy khó khăn, sáng suốt và can đảm!
Về nước, đầu năm 1958, anh được bổ nhiệm trưởng phòng hành quân Phi Ðoàn 1 khu trục đóng tại Biên Hòa. Suốt thời gian này, anh huấn luyện nhiều phi công nòng cốt cho Không Quân VNCH. Sau đó, chính anh thành lập và cũng là chỉ huy trưởng Phi Ðoàn 2 khu trục đồn trú tại Nha Trang.
Năm 1964, Không Quân VNCH bành trướng, anh là người tiên phong tổ chức đưa căn cứ Không Quân Ðà Nẵng trở thành Không Ðoàn Bốn Mươi Mốt Chiến Thuật. Khi còn là một chỉ huy trưởng Phi Ðoàn 1, và Phi Ðoàn 2 khu trục, cũng như lúc đảm nhiệm chức vụ Không Ðoàn Trưởng Bốn Mươi Mốt chiến thuật, anh là cấp chỉ huy luôn nhận lãnh nhiệm vụ trong các phi vụ hiểm nguy. Ðặc biệt trong các phi vụ Bắc phạt, anh tiên phong chỉ huy 6 phi tuần khu trục nặng, gồm 24 phi cơ chiến đấu trực chỉ không tập Vĩnh Linh, Quảng Bình. Mặc dầu hỏa lực phòng không của địch ác liệt và vô cùng nguy hiểm, anh vẫn bất chấp và can đảm tiếp tục các phi vụ sau này. Trong những phi vụ Bắc phạt ấy, anh hùng Phạm Phú Quốc – người từng là chỉ huy phó Phi Ðoàn 1 khu trục của anh trước đây – đã hy sinh trên đất địch.
Ðầu năm 1965, anh được bổ nhiệm chức vụ tham mưu trưởng Không Quân. Ngay sau khi nhậm chức, anh muốn cải thiện và xây dựng quân chủng Không Quân có tầm cỡ. Ý định chưa được hoàn tất thì tháng sau anh lại được thuyên chuyển vào một chức vụ hoàn toàn dân sự: Tổng Giám Ðốc Hàng Không Việt Nam.
Ðối với gia đình, bạn bè, đây là một thăng tiến, một vinh dự cho gia đình; nhưng trái với sự vui mừng trước quyết định bổ nhiệm này, anh tâm sự: “Ðó là họ đuổi khéo mình ra khỏi Không Quân đấy!” Mặc dầu biết vậy, sau ngày nhậm chức tổng giám đốc Hàng Không Việt Nam, chỉ trong vòng hai năm, anh chỉnh đốn lại và đưa hàng không Việt Nam vào hàng tầm cỡ trong khu vực Ðông Nam Á. Trong việc canh tân này, cần phải tạo mãi thêm nhiều phi cơ tối tân và hiện đại hơn. Trong suốt thời gian đảm trách chức vụ tổng giám đốc trên đà phát triển, đã có nhiều đại diện hãng thầu cung cấp tiếp cận và thương lượng để được trúng thầu, dĩ nhiên là kèm theo những đề nghị huê hồng cho vị tổng giám đốc. Anh khước từ những đề nghị này. Sau đó, anh chỉ chấp thuận ký hợp đồng với hãng nào cung cấp đúng tiêu chuẩn, giá cả phải chăng, có lợi cho quốc gia, mà không cần đem lợi nhuận, huê hồng về cho cá nhân anh. Việt Nam Hàng Không đang trên đà vươn lên, thì được lệnh thuyên chuyển giã từ chức vụ về làm giảng viên trường chỉ huy Tham Mưu Trung Cấp Ðà Lạt. Với tinh thần của một quân nhân, anh luôn hoàn thành trọng trách được giao phó, cho mãi đến ngày mất nước.
Rồi biến cố tháng 4, 1975 xảy ra. Ðà Lạt thất thủ, anh trở về Sàigòn. Trong những ngày đầu rối ren, hỗn loạn của thủ đô, người người chạy tìm bằng mọi cách để ra khỏi nước. Gia đình các con anh cũng tìm được phương tiện và chuẩn bị di tản. Anh vẫn thản nhiên, các con anh năn nỉ và van xin anh hãy cùng ra đi. Anh bảo: “Ba đã từng này tuổi, đã từng sống và làm việc nhiều nơi ở nước ngoài, bây giờ chỉ muốn ở lại quê hương, dù sống nghèo ở quê nhà vẫn tốt hơn sống giàu ở nước ngoài.” Ðây là quyết định sai lầm quá lớn trong cuộc đời anh, anh phải trả một cái giá quá đắt: 13 năm tù.
Trong suốt thời gian tù đày, anh luôn giữ đúng tư cách của một sĩ quan, một cấp chỉ huy của QLVNCH, không luồn cúi, không nịnh bợ, không sợ sệt, không cầu xin, anh trải lòng sống với mọi người, biết hy sinh, san sẻ nguồn tiếp tế dồi dào của gia đình anh đến các bạn tù mà mọi người và ngay cả chính anh đã và đang đói lạnh triền miên.
Anh nhớ lại một sự việc khó quên. Vào một buổi sáng Mùa Ðông giá lạnh ở rừng núi Việt Bắc, tên cán bộ quản giáo cho gọi anh lên văn phòng và bảo: “Tờ khai lý lịch của anh thiếu sót.” Với thái độ hách dịch cố hữu, tên quản giáo quát lớn: “Anh ngoan cố! Anh có biết đại sứ Hà Văn Lâu không?” (Hà Văn Lâu là anh họ vợ anh). Anh vẫn từ tốn và bình tĩnh trả lời: “Vâng, tôi từng nghe tên ông ấy cũng khá nhiều nhưng chưa hề quen biết. Vả lại, suốt gần hai năm rồi, tôi vẫn ở trại giam này, chưa từng nhận được sự thăm hỏi, thư từ, hay viếng thăm của ông ấy. Ông đại sứ chẳng biết tôi là ai. Xem ra tôi cũng như mọi người trong trại giam này, thì tại sao tôi phải khai báo trong tờ khai lý lịch.” Sau câu trả lời rõ ràng và dứt khoát đó, tên cán bộ để anh về trại.
Suốt thời gian mười ba năm tù đày trong các trại chuyển tiếp từ Bắc vào Nam, anh cảm nhận thấm thía được sự quý giá của tự do. Vì vậy, vừa ra khỏi tù sau mười ba năm khổ nhục, anh quyết định bằng mọi giá phải rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn này, càng sớm càng tốt. Nhờ sự vận động của người con gái làm việc ở tòa đại sứ Pháp, anh được rời Việt Nam sang Pháp vào cuối năm 1988. Một năm sau, anh sang Mỹ do sự bảo lãnh của con gái đầu.
***
Hơn hai mươi năm, chúng tôi sống cùng trong một thành phố nhỏ ở miền Nam Cali, giữa anh và tôi có nhiều kỷ niệm. Cách đây gần hai năm (2009), một buổi sáng cuối Thu đẹp trời, anh gọi tôi thật sớm, sớm hơn mọi ngày và hỏi: “Anh Dật ơi! Hôm nay trời đẹp, có rảnh không? Chúng mình cùng đi ăn trưa và tiện thể ghé lại thăm chị Hạnh Nhơn, bạn thân của em gái mình, nhưng đừng báo trước.” Khi hai anh em chúng tôi đến, chị Hạnh Nhơn đã rất đỗi ngạc nhiên, niềm nở trách: “Ôi! Răng mà không điện thoại trước để cho tôi sửa soạn đón tiếp quý khách”. Nhìn trên bàn làm việc của chị, một chồng hồ sơ thương phế binh và cô nhi quả phụ đang còn làm dang dở. Anh Sửu nói đùa: “Thượng cấp đi thanh tra mà báo trước thì còn ý nghĩa gì nữa hè!” Cả ba đều cười, trong lòng chúng tôi, mọi người mang cùng một niềm vui chung. Lúc ra về, anh nói: “Chừng ấy tuổi mà chị Hạnh Nhơn vẫn con hăng say làm việc, đáng phục!” Cầu mong sao chị ấy khỏe mạnh và sống lâu.
Mỗi độ Xuân về, anh thường đến nhà tôi, tâm sự, có một lần anh hỏi tôi: “Năm nay, anh có về quê không?” Tôi đáp: “Dạ có.” Có lẽ anh đang buồn, hỏi tiếp: “Dân quê mình ở vùng xa xôi, hẻo lánh vẫn còn nghèo khổ lắm phải không anh?” “Thưa anh, dạ vẫn còn.”
Anh trầm ngâm, suy tư, anh lại hỏi tiếp: “Tại sao đất nước mình giàu tài nguyên mà dân ta vẫn cứ nghèo mãi thế?” Tôi chưa kịp trả lời, anh cười tự tin và nói: “Anh cứ yên trí đi, tin tưởng vào thế hệ tương lai con cháu mình sẽ đưa đất nước đến phú cường, thịnh vượng và tự do trong một ngày không xa.” Chúng tôi mỉm cười, xiết chặt tay nhau với ý nghĩa đồng tình và hy vọng.
Ngày thất tuần của anh được tổ chức trong vòng thân mật, con cháu và một số bạn bè thân hữu tham dự. Ðứng trước bàn thờ Phật uy nghi, trước di ảnh của anh, tôi thầm cầu nguyện cho hương linh anh siêu thoát về miền tịnh độ. Kể từ nay, tôi không còn nghe giọng nói thân thương, tiếng cười hồn nhiên và những tiếng chuông điện thoại vào mỗi sáng sớm nữa. Nhưng hình ảnh hào hùng, khí phách can trường của một phi công đầu đàn trong Không Lực VNCH với nhân cách cao đẹp, liêm khiết, tốt bụng và lòng yêu nước vẫn luôn luôn hiện hữu, sống mãi trong tâm hồn tôi.
Xin cám ơn trên đã cho tôi cơ hội được gặp và quen thân anh ở thành phố Glendalenày. Tôi đã học được rất nhiều điều quý giá từ nơi anh.