Phan Tưởng Niệm: Chỉ Còn Là Kỷ Niệm

                                Chỉ Còn Là Kỷ Niệm

                       

                                                      

 

Hình ảnh một buổi sáng nào – khi Gã vừa mới lên sáu : " mẹ Gã âu yếm nắm lấy tay Gã, dẫn Gã đi trên con đường làng dài và hẹp " qua chiếc cầu tre Bến Ghành của làng Bình Thành đến lớp – lòng Gã nao nao lo sợ . Dù rằng bây giờ đã hơn năm mươi năm trôi qua , nhưng kỷ niệm của ngày xa xưa ấy như khắc ghi vào tâm khảm của Gã . Hình ảnh của mẹ Gã ngày ấy vẫn còn sâu đậm trong tâm hồn Gã .

 

Trên con đường đi đến trường mẹ Gã ghé vào một hàng bán bánh mì bên vệ đường mua cho Gã một ổ, rồi nhỏ nhẹ nói với Gã : " con hãy cố gắng học hành để sau này giúp ích cho gia đình và xã hội " – lời nói ấy đã đi suốt hành trình trong quãng đời Gã – cứ mỗi lần có điều gì khó khăn sắp xảy đến là Gã luôn nhớ lời mẹ Gã dặn : " hãy cố gắng…”

 

 Rồi tuổi ấu thơ đi qua, tuổi thiếu niên lại đến . Năm mười một tuổi , Gã bước chân vào ngưỡng cửa của bật trung học . Đối với Gã khi ấy như cảm thấy mình đã lớn hẵn ra – đã là người lớn.

Những buổi tối , Gã cùng năm bảy đứa bạn cùng trang lứa tụ tập trước sân chùa Tàu Quảng Đông chia phe đánh giặc- nào Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Ngô Quyền, Quang Trung – Gã và chúng bạn tự đặt tên cho mình, rồi tiến lên đình Cẫm Thượng đánh nhau với nhóm " phe Tàu" . " Phe ta " chỉ có năm , bảy đứa nhưng " Phe Tàu" có mấy chục tên , vì vậy nhiều lần bọn Gã bị " địch" rượt đuổi và bắt trói dưới gốc cây cổ thụ của sân đình và bảo bọn Gã – " đầu hàng, đầu hàng ". Nhưng , đã học theo sách vở và noi gương bất khuất của anh hùng Trần Bình Trọng , nên bọn Gã đều hô to : " thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vua đất Bắc", vậy là bọn Gã bị bọn " Phe Tàu" cho ngồi làm "qủy phương Nam" suốt cả đêm , khi chúng bỏ đi về nhà ngủ, bọn Gã mới nhờ người đi đường mở trói

 

Tuổi đời học sinh cứ lớn dần và dòng thời gian cũng lần lượt trôi qua – với tuổi mười tám, hai mươi –  Gã đã bắt đầu khôn lớn . Tuổi tình yêu cũng bắt đầu chớm nở – đêm về Gã cũng bắt đầu có những phút suy tư mơ mộng . Những lá thư xanh – Gã bắt đầu trao gửi và những bài thơ tình – Gã cũng bắt đầu tập tễnh làm quen .

 

              Ta còn lại đêm nay

               Bầy sao hôm thơm ngát

               Ta còn một tiếng em

               Xin đừng làm rơi mất

               

               Hoặc :

 

Trong ánh nắng dịu hiền

Anh thấy em hiện diện

Vươn vòng tay ôm trọn

Chỉ là khoảng hư không

 

Hay :

 

Trong sương đêm cuộc đời

Anh thấy mình lạc lõng

đứng chơi vơi giữa trời

trong cơn lốc cuồng quay.

 

 

Dòng thời gian cứ lặng lẽ trôi – cuộc đời cũng được sắp bày theo định số mà di chuyển – Từ giã trường học , đi vào trường đời với cuộc sống thăng trầm – sáu năm lăn mình vào lửa đạn – ngày nằm rừng , đêm vượt suối – tuổi trẻ không còn ước vọng tương lai – nhìn phía trước mặt là những đám mây mù che phũ – Gã chỉ còn biết xuôi theo mệnh số .

 

Rồi cuộc đời cũng theo vận nước nổi trôi – Gã từ nhà tù này qua nhà tù khác – từ vùng kinh tế mới này đến vùng kinh tế mới khác – và cuối cùng mười ba năm lăn lóc bụi đời nơi chốn Sài Gòn xa lạ – và bây giờ – mười hai năm sống nơi phương trời buồn , tuổi đời mỗi ngày mỗi trôi qua – Gã còn gì để mà hy vọng , để mà ước mơ !?

 

Hiện tạị! tương lai ! tất cả chỉ là hư ảo, có còn chăng là quá khứ chất đầy những kỷ niệm . Gần hết cuộc đời rồi , Gã còn lại gì cho Gã đây ? – chỉ là hai bàn tay trắng – Gã đưa lên mắt nhìn chẳng thấy được màu da – nét mặt khô cằn in hằn những vết nhăn – Gã chán ngán cho hiện tại và không còn nghĩ gì về tương lai – chỉ còn nhớ thương một thời của dĩ vãng .

 

Sau bao nhiêu năm xa quê hương, hôm nay,Gã trở lại thành phố biển Quy Nhơn vào ngày mồng một tết. Thành phố bây giờ quá đổi  thay. Gã đi giữa thành phố thân quen mà ngỡ như  đi giữa phố người xa lạ. Con đường Gia Long ngày xưa, mỗi lần về phép Gã thường đưa Ngọc Yến đi dạo phố khuya – mỏi chân, đói bụng ghé vào tiệm mì Trường Đề ăn một tô mì vịt tiềm tuyệt hảo, hoặc vào quán kem Thanh Ký, Tuyết Trắng  – vào mỗi sáng chủ nhật Gã thường rũ bạn bè ra ngồi ăn kem đấu láo. Hôm nay  đâu còn nữa

Loanh quanh một vòng qua những con đường của thành phố, Gã chạy xe thẳng vô nghĩa trang Phật giáo thăm mộ mẹ, cậu, mợ Gã – Nỗi buồn xâm chiếm.

                                                                       *  *  * 

Bước qua vài dãy mộ, Gã đứng trước ngôi mộ của cố trung tá Phan Đình Thành – người anh cả của tiểu đoàn. Qua tấm hình, nét mặt anh vẫn đăm chiêu, uy nghi, hào hùng trong bộ đồ lính trận. Từng dòng nước mắt Gã rơi xuống … rới xuống … và những dòng ký ức hiện về trong tâm hồn Gã. Hình ảnh anh chết giãy dụa khi Gã để đầu anh gối trên chân Gã. Những dòng máu cứ tuông chảy …tuông chảy bởi một loạt đạn của địch quân xuyên qua thái dương. Trong phút

cuối của cuộc đời, Gã vẫn nghe anh thều thào gọi tên vợ, con anh : Ngọc Lan, Martel .

                                                  

                                                                       *   *   *

Rồi buổi chiều khi thành phố lên đèn là Gã lại phải ra đi, con tàu gầm vút lên cao đưa Gã về một miền đất lạ , miền đất đầy gấm, đầy hoa mà bao nhiêu người  đang mong ước, nhưng sao lòng Gã vẫn thấy ngậm ngùi, nhớ nhớ, thương thương vùng đất đã sinh ra Gã  và nuôi Gã lớn lên với những tháng ngày ấp yêu kỷ niệm và Gã tự nhũ thầm : – Tất cả chỉ còn Là Kỷ Niệm .

 

 Phan tưởng Niệm

 

                                                                                     

Nhiều người thường nói với Gã – dĩ vãng đã qua hãy để nó qua, đừng nhắc nhở, nuối tiếc làm gì . Điều đó, theo Gã thì không nghĩ vậy . Dĩ vãng chính là một kho tàng kỷ niệm , dù rằng trong những kỷ niệm ấy có lắm điều vui và buồn . Nhưng đối với Gã – đã là kỷ niệm thì dù thế nào Gã cũng luôn ghi nhớ và trân quý.




SƠN NAM NHÀ VĂN KHÔNG VƯỢT ĐƯỢC CÁI BÓNG CỦA MÌNH

SƠN NAM NHÀ VĂN KHÔNG VƯỢT ĐƯỢC CÁI BÓNG CỦA MÌNH

Năm 1956 thế kỷ hai mươi trong một buổi mạn đàm về văn chương chữ nghĩa nhà văn Nguyễn Đức Qùynh nói với tôi rằng trong đám nhà văn Việt Cộng không đi tập kết ở lại miền  Nam có Sơn Nam là đáng kể .Theo nhà văn Nguyễn Đức Qùynh thì Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam là một tác phẩm tầm cỡ cả về văn phong lẫn ngôn ngữ nhất làøa à cá tính những nhân vật trong truyện.

Theo nhà văn Ngọc Linh thì Sơn Nam viết từ trong  kháng chiến ch?ng Pháp vào đầu thập niên 50 của thế kỷ 20 và ký tên thật Phạm Minh Tày nhưng đúng như Sơn Nam kể lại sau này thì mãi 1955 ông mới viết truyện ngắn S?n Nam t? thu?t”Tôi sinh ra ở vùng đất  U Minh,nơi đó là những cánh rừng tràm bạt ngàn kéo dài từ Rạch Gía qua Sóc Trăng,Bạc Liêu và đến tận Cà Mâu.Tôi bắt đầu sự nghiệp viết lách bằng những truyện ngắn năm 1955 trên văn đàn Saigon để từ đó có Mùa Len Trâu,Hương Rừng Cà Mau đựoc viết ra từ  ký ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt”

Cũng theo tiết lộ của Sơn Nam thi cái tên này được đặt ra với họ Sơn là để nhớ bà ”nhũ mẫu” người Miên cho ông bú”tháp” và mớm cơm cho ông ăn thủa ấu thời họ Sơn là một họ lớn của người Miên

Năm 1964 làm tờ báo Quyết Tiến phụ trách phần văn học của tờ báo  hàng ngày

này tôi thường phải tiếp xúc với Sơn Nam nhận bài anh viết cho trang trong tờ báo tôi thấy anh có vẻ  hơi lừ đừ nhà văn Đỗ Bá Thế giám đốc chánh trị của tờ báo nói với tôi rằng Sơn Nam là một trường hợp khá đặc biệt là ”cộng sản nằm vùng nhưng lại mê nàng tiên nâu và  bồ nhíù..”

Năm 1968 tôi phụ trách tòa sọan báo Hòa Bình Ngọc Linh phu trách trang trong tôi hỏi Ngọc Linh nghĩ thế nào về trường hợp Sơn Nam,Ngọc Linh cười rồi nói với tôi rằng”ông” biết tôi ”nằm vùng ” Sơn Nam cũng” nằm vùng ”không tố cáo tôi cảm ơn nhưng  tôi” nằm vùng” khác Sơn Nam tôi không trai gái hút sách còn Sơn Nam thì”đủ món” nói thì  ”ổng” bảo phải làm ravẻ trụy lạc để đánh lừa ”địch” nhưng mình không tin vì ”bản lĩnh” đàn ông của Sơn Nam yếu lắm

Sau Hương Rừng Cà Mau Sơn Nam viết nhiều có khi một ngày Sơn Nam viết tới ba truyện dài đăng báo hàng ngày nhưng càng viết càng xuống sức càng viết càng phơi bầy sự hạn chế của ngòi bút cũng như chữ nghĩa chứng tỏ nội lực không có bao nhiêu mà S?n Nam l?i sài quá tr?n nên hêt v?n

Trước ngày 30 tháng tư năm 1975 xẩy ra. Sơn Nam nhiều lần bị cơ quan an ninh của VNCH bắt vì tội họat động Cộng Sản trong khi người chỉ huy Sơn Nam”nằm vùng” thì lại chẳng một ai đụng tới cả

Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 Sơn Nam được kết nạp vô Hội Nhà Văn nhưng không làm quan văn nghệ mà đi lang thang viết báo”chầu” kiếm tiền nuôi mấy cô bồ nhí khiến bà vợ nổi nóng đăng bố cáo Sơn Nam mất tích trên đài truyền hình tới lúc này thiên hạ mới khám phá ra nhà văn của chúng ta thích đi lang thang trong thành phố Saigon là để sưu tầm ”bố nhí”  chứ không hề đi thực tế gì ráo trọi,hẻm này ông có một cô ”bồ nhí” hẻm kia ông bao một cô gái bán nước mía Sơn Nam bị xe đụng không có tiền chạy chữa báo chí phải lên tiếng quyên góp tiền chạy chữa cho ôngSơn Nam được ”hóa giá” nhà nhưng vợ cái con cột của ông ở ông vẫn phải ở nhà thuê nay với cô bồ nhí này mai ở nhà thuê với cô bồ nhí khác

Sơn Nam bán được tòan bộ tác phẩm cho nhà xuất bản nọ ai cũng tưởng túi Sơn Nam rủng rỉnh tiền bạc nhưng có ai ngờ vừa nghe tin ông bán bản quyền sách có tiền vợ cái con cột đã lại xâu xé khiến Sơn Nam lúc nào cũng rách bươm cái chân bi tai nạn xe cộ các bác sĩ” nhà thương thí” chữa chạy sao đó lành nhưng” dị dạng” đi lại khó khăn cần giải phẫu”chỉnh hình ”thêm m?t l?n n?a,nhưng túi Sơn Nam rỗng ông đành”chịu trận” đi ”cà nhắc” cho qua ngày, báo chí lại can thiệp lại kêu gọi lòng hảo tâm của bạn đọc

Sơn Nam là anh nhà văn khá ly kỳ làm khá nhiều nghề nào cố vấn về phong tục vùng đồng bằng sông Cửu Long cho đạo diễn phim Người Tình nào làm trợ lý cho quan chức tổ chức kỷ niệm Saigon 300 năm, nào  tham gia các cuộc tế lễ các danh nhân kiếm chút cháo

Tâm hồn Sơn Nam là tâm hồn một thisĩ những vần thơ mở đầu cho Hương Rừng CàMau thật bay bổng

”Muỗi vắt nhiều  hơn cỏ

chướng khí mù  như sương

thân không là lính thú

sao chưa về cố hương

chiều chiều nghe vượn hú

hoalá rụng buồn buồn

tiễn đưa về cửa biển

những giọt nước lìa nguồn

đôi tâm hồn cô tịch

nghe lắng sầu cô thôn”

Sơn Nam đã viết xong bộ hồi ký đồ sộ tuổi đã trên tuổi ”xưa nay hiếm ”khá nhiều nhưng vẫn phải ”cày” liên tục,viết đủ thứ theo đơn đăt hàng của báo chí viết báo tết từ lúc mới bắt đầu mùa hè

Theo lời tâm sự của Sơn Nam thì ông viết nhiều nhưng càng viết càng thấy những gì mình viết ra sau này thua xa Hương Rừng Cà Mau tác phẩm đầu đời

Sơn Nam đã nhìn lại mình khá chính sác cả đời văn của Sơn Nam chỉ có Hương Rừng Cà Mau và Mùa Len Trâu là đáng kể còn lại chỉ là những thứ ..mua vui, cho thiên hạ kiếm bạc sài chơi. Không hơn không kém

Giữa năm 2008 Sơn Nam bị vợ con bỏ rơi phải tá túc nơi thư viện quận Gò Vấp rồi suy tim suy thận viêm phổi phải vào cấp cứu ở bệnh viện Gia Định chỉ mấy ngày thì rời cõi thế.Thế là thiên hạ như lũ kên kên khai thác sác chết Sơn Nam tại nhà tang lễ nhưng không dám làm trái nguyện vọng người chết là xin miễn chôn ở nghĩa trang thành phố và chôn ở nghĩa trang tỉnh Bình Dương

Hồ Nam

 




Hồ Nam : NGÂN GIANG NHÀ THƠ VẬT VÃ VỚI SỐ PHẬN THI SĨ

NGÂN GIANG NHÀ THƠ VẬT VÃ VỚI SỐ PHẬN THI SĨ

Ngân Giang là bút danh của Đỗ Thị Quế sinh ngày 20 tháng 3 năm 1916 tại phố Hàng Trống Hanội nguyên quán thôn Hướng Dương huyện Thương Tín Hà Đông. Ngân Giangsinh ra trong môt gia đình Nho Học nên sáu tuổi đã biêt làm thơ Đương

Ngân Giang là loại con gái thông minh và xông sáo, trươc năm 1945 Ngân Giang không chỉ làm thơ viêt báo mà con  lao vào con đường hành động làm chánh trị tuy mới 19 tưổi Ngân Ging đã làm ‘’giao liên’’ cho xứ bộ đoàn Thanh Niên Dân Chủ bị bắt ở tù vẫn không ngán còn tham gia Việt Minh và 29 tuổi bị hiến binh Nhật nhốt một tháng trong nhà tù ‘’khét tiếng’’ là man rợ’’nhà tù “”nhà dầu’’ ở Khâm Thiên Hànoi một tháng trời.Ra tù  Ngân Giang còn tham gia ‘’cướp’’chánh quyền ở Hà nội và trở thành trưởng đoàn Phụ nữ Cứu Quốc Hànoi

Con ngươi Ngân Giang bản chất là con ngươi đam mê văn nghệ nên  với Ngân Giang sang tácthơ là quan trọng hơn cả Ngân Giang đã viêt nên nhựng vần thơ bât hủ ca ngơi Trưng Nữ Vương, chính những vần thơ này làm nên tên tuổi Ngân Giang và cũng chính những vần thơ này đã khiến nhà thơ Đông Hồ khi diễn giảng nó trên giảng đương trừong Đai Học Văn Khoa Saigon sáng ngày 25 tháng 3 năm 1969  cảm hứng trào dâng sung sướng quá đến đứt mạch máu não về bên kia thế giới vì bài thơ này

Sau đây là trích đoạn bài thơ bất hủ của Ngân Giang

Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận

Non Hồng quét sạch bụi  trần ai

Cờ tang điểm tướng nghiêm trang trận

Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa

Giáp  vàng khăn trở lạnh đầu voi

Chàng ơi điện ngọc trơ vơ quá

Trăng chếch Ngôi trời bóng lẻ loi

Con ngươi Ngân Giang là con ngươi tài hoa đa tình và  bay bươm công danh nàng thích thật những nàng cũng ham sống và thế là nhiều chuyện xẩy ra với ngươi tài hoa nhưng Ngân Giang dám sống trên dư luận dám sống vì mình. Dù Ngân Giang là hội viên sáng lập Hội Nhà Văn nhưng bà  vẫn giao du với những Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Văn Cao, Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm những nhà văn nhà thơ cứng đầu và bị ghép vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Ngân Giang phải sống bằng nghề quét la nấu nước trà bán dộ nhật tới chết nhưng con ngươi tài hoa Ngân Giang vẫn cười nửa miệng sống hiên ngang không một lời than vãn và bà đã qua đời trong cảnh bần hàn ngày 17 tháng 8 năm 2002 mà không một lời than trách

HỒNAM

TRÍCH THƠ NGÂN GIANG

TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh

Một trời loáng thoáng bóng sao rơi

Dồn sương vó ngựa xa non thẳm

Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

Ngang dọc non sông đương kiếm mã

Huy hoàng cung điện nếp cân đai

Bốn phương gió bụi lùa chân ngựa

Tám ngả mưa ngàn táp gió mai

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ

Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai

Hồn người chin suối cười an ủi

Lệ nến năm canh nhỏ ngậm ngùi

Lạc tướng quên đau lời tuyết hận

Non Hồng quét sạch nợ trần ai

Cờ tang điểm tướng nghiêm trang trận

Gót ngọc gieo  hoa ngát mấy trời

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa

Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi

Chàng ơi điện ngọc trơ vơ quá

Trăng chếch ngôi trời bong lẻ soi

NGÂN GIANG

GỬI NGÂN GIANG

Đã đẹp lại có tài

Dám yêu và dám sống

Sẵn sàng cuộc dấn thân

Dù ngục tù vào trận

 

Ngồi trên đỉnh quang vinh

Tặc lưỡi rồi tung hê

Chấp nhận quăng đi hêt

Chêt sống chẳng hề chi

Thi sĩ là như vậy

Có gì đâu thắc mắc

Chuyện tào lao cả thôi

Sống chết cái nhếch mép

Đã sống thì phải chêt

Trăm năm cuộc vuông tròn

Có gì đâu thắc mắc

Mà phải tính thiệt hơn

 Có thơ có tât cả

Ta và thơ không rời

Thơ không thể đồng lõa

Với những  lời dối trá

Thơ không thể  đồng tình

Với n hững kẻ sát nhân

Làm, thi sĩ khổ lắm

Nhưng vinh quang vô ngần

VƯƠNGTAN

 




Phan Tưởng Niệm : Qua Phố Chiều Xưa

Qua Phố Chiều Xưa

 

anh  về qua phố chiều tắt nắng

thành phố buồn tênh – thiếu vắng  em .

anh qua trường cũ – chiều xưa đợi

tìm lại dư hương – kỷ niệm xưa .

 

thời gian thắm thoát sao mau quá !

mới đó mà nay đã nửa đời

thành phố vẫn là thành phố cũ

người xưa giờ đã khuất – xa khơi

 

trường cũ – vẫn còn cây phượng vĩ

đứng nhìn ghế đá rũ rêu phong

lá rơi – từng chiếc vàng – lá rụng

gợi lại trong anh – phút chạnh lòng .

 

tuổi đời giờ đã – màu tóc bạc

còn lại gì đây !- kỷ niệm buồn

ước gì – trời đất xoay vòng lại

anh sẽ cùng em ngắm trăng rơi .

 

Phan Tưởng Niệm

Vĩnh Biệt Phương Triều

đã hết rồi những đêm thâu hội ngộ
ly rượu nồng tìm giấc ngủ chiêm bao
Phương Triều hỡi !- mới đây – thành quá cố
dòng thơ buồn – còn đâu để xôn xao !

xưa bút mực một đời vui ngạo nghễ
nay thi nhân ngồi tính chuyện Nam Tào
ngày từng ngày điểm danh bạn bè cũ
xem anh em còn, mất những người nào !

còn đâu nữa những đêm vui sum họp
rượu cạn ly trò chuyện tuổi về chiều
bè bạn cũ từng người đi ngủ vội
vừa Sĩ Trung giờ lại đến Phương Triều !

trang sách vở viết đầy tình thi bút
đời thi nhân tràn ngập nỗi niềm đau
xưa quê cũ từng đêm nghe tử khí
nay xứ người bè bạn tiếp xa nhau .

cuộc đời sao thoáng qua như giấc mộng
mới đêm về giờ đã sắp tàn canh
thôi chào nhé ! lần cuối lời vĩnh biệt
Phương Triều ơi ! dòng thơ mãi theo anh !

 

PHAN TƯỞNG NIỆM

 

 

Chuyện Tình Hư Ảo

chiều nay từ chỗ em ngồi
ta ôm nỗi nhớ nhìn đời đi qua
chiều nay nhìn mặt trời già
ta ôm chút nắng xót xa nỗi buồn

chiều nay qua lại con đường
nhìn cây đa cũ nhớ thương trăm bề
chiều xưa núp nắng đường quê
dưới cây râm mát – lời thề trăm năm

đêm nay từ chỗ em nằm
ta ôm gối lẻ gọi thầm tên em
đêm nay nhìn ánh trăng lên
ta ôm nỗi nhớ mông mênh tình sầu .

đêm nay ôm mảnh tình đau
gió thu se lạnh bên cầu trăng mơ
ta ngồi tìm chút nguồn thơ .
chút tình kỷ niệm – bên bờ lau xưa

Phan Tưởng Niệm

 

 

Đêm Chờ Sáng

Ta mở mắt _trừng nhìn đêm chờ sáng
Nghe niềm đau rả rích chảy về tim
Nếu mai mốt em về vòng tay lạ
Đời thênh thang _ cút bắt biết đâu tìm?!

Trời sắp sáng mà ta còn chưa ngủ
Nhớ về em qua giữa khoãng trời đêm
Nghe bên trái ngực đau _ tim vụn vỡ
Nghĩ mai này: em, kẻ lạ tình quen.

Trời sắp sáng mà ta còn chưa ngủ
Cứ nhớ hoài dòng sông nhỏ đêm mưa
Cơn gió thoảng ngút ngàn tình thánh thiện
Thức trắng đêm mà tình vẫn chưa vừa.

Tình đã hết còn gì thôi em nhé!
Đời hết vui _ dòng thơ nhỏ dư thừa
Ta viết vội bài thơ tình vĩnh biệt
Để em về bên bến lạ sông mê!

Phan Tưởng Niệm

 

Quê Hương Đâu Hỡi !

 
mai tôi về lại quê hương
xin nhen nhúm ngọn lửa hương tình người
chào nhau buổi sáng – nụ cười
em – môi má đỏ hồng tươi nắng vàng .

quê hương tôi ấy – đẹp sao
biển đêm sóng vỗ rì rào thông reo
trăng xuyên qua ngọn hải đăng
lung linh đáy nước bóng Hằng Nga soi .

mai tôi về lại quê tôi
qua vùng  Mỹ Thọ , lên đồi Đại Sơn
tìm xem bè bạn – Sư Đoàn
đứa về đất lạnh – đứa còn ra sao !

quê hương – đâu hỡi quê hương !
bao năm chinh chiến – nửa đời lưu vong
đất trời ngăn cách nửa vòng
mai xin về nhóm lửa hồng bên em .

Phan Tưởng Niệm

 

Chiều Phố Núi

chiều lên phố núi tìm em
đường qua Diệp Kính phố quen đợi chờ
xưa em nón lá bài thơ
dài tay lụa trắng , tóc thề ngang vai .

chiều xưa tay nắm trong tay
bên em phố núi – tình xây lâu đài
những ngày nằm đỉnh Chu Pao
màn sương đêm lạnh đếm sao nhớ người .

phố cao trời lạnh tháng giêng
nhớ cà phê quán Dinh Điền xưa quen
những ngày nghỉ phép chờ em
mòn con mắt đợi phố đêm lặng thầm .

xa quê cách biệt bao năm
ta về lên phố núi thăm – tìm người
tìm đâu ! nhìn lại nụ cười
cô em gái nhỏ một thời xưa yêu !

Phan Tưởng Niệm

 

 

Người Nhớ Người

 

ngập lòng buồn tím trên môi
ôi! sao nhớ quá cái thời xa xưa
cổng trường từng bước ta đưa
ngày em mới lớn tuổi vừa mười lăm .

mùa thu vàng lá đầy sân
hồn ta đầy nỗi bâng khuâng đợi chờ
áo em trước gió bay đưa
tim ta chín rụng mấy mùa buồn trông .

bổng chiều con sáo sang sông
bay qua xứ lạ bỏ lồng quạnh hiu .
sân trường từng bước mỗi chiều
mình ta với nỗi buồn hiu nhớ người .

Phan Tưởng Niệm

 

Cảm Ơn

cảm ơn con phố Qui Nhơn
cho tôi tuổi nhỏ và cơn mưa chiều
cho tôi ngày tháng thơ yêu
bên dòng Thị Nại – cánh diều thả bay .

cảm ơn đường nhỏ Duy Tân
dẫn tôi đến lớp vào sân trường đời
chiều hè nhặt cánh phượng rơi
ép trang sách vở – một thời thư sinh

cảm ơn con nước hữu tình
biển Ghềnh Ráng lặng đẹp xinh nắng chiều
mộ Hàn Mạc Tử buồn hiu
vầng trăng khuya lạnh mang nhiều xót thương .

cảm ơn trường nữ Trưng Vương
cho tôi níu áo người thương lớp mười
bây giờ tuổi quá năm mươi
chung chăn ấm lạnh khóc cười xẻ chia .

Phan Tưởng Niệm

 

Áo Lụa Trắng Em Qua

xưa lụa trắng – em về – phơ phới gió
tà áo bay – ngang cửa ngỏ nhà tôi
em e thẹn – cúi đầu che sách vở
tôi thẫn thờ – rồi tập tễnh làm thơ.

bài thơ tình – sáng ngẩn rồi chiều ngơ
dòng mực tím – từng canh khuya thức trọn
lời thi bút – nửa đêm dài nắn nót .
trao về em – sao tình quá hững hờ !

rồi một chiều – áo lụa trắng thôi qua
cây phượng đỏ – qua bao mùa rụng lá
tôi chờ đợi – mỗi sáng trưa chiều hạ
bao năm rồi – tình vẫn mãi bay xa .

biết bao chiều – hết hạ đến đông qua
tôi vẫn đợi – bên này trời thương nhớ
tôi vẫn đợi – dù bao muôn vạn thuở
chờ áo bay – áo lụa trắng em qua !

Phan Tưởng Niệm

 

Khẻ Gọi tên Em

Ghế đá lạnh . Chiều tan trường . Rộn rã
tuổi học trò thơ ngây . Ôi ! đẹp quá
ngôi trường xưa – sao chừ như xa lạ
thoáng chút buồn – nhìn mái tóc sương pha !

Mới hôm nào !chừ như thấy thật xa
dòng chữ nhỏ mỗi ngày in trang giấy
lá tình thư ta trao em ngày ấy
bút mực nào còn đậm nét tình say ?

Tiếng cười đùa – em cô bé thơ ngây
áo dài trắng tung bay giờ tan học
ta hôn khẻ không gian theo suối tóc
và ru hồn trong giấc ngủ mơ say .

Mới hôm nào giọng thỏ thẻ còn đây
em – cô bé nữ sinh tròn mười tám
đôi ánh mắt là nguồn sao trong sáng
ta lặng thầm nghe tim đập cuồng quay .

Ghế đá cũ trong sân trường còn đấy
dấu hình em soi bóng nắng lung linh
ta khẻ gọi tên em trong trống vắng
dù bên ngoài con nắng cứ lặng thinh !

Phan Tưởng Niệm

 

 

 




Hồ Nam : ĐÔNG ANH NGƯỜI LÀM THƠ TÌNH TẦM CỠ

ĐÔNG ANH NGƯỜI LÀM THƠ TÌNH TẦM CỠ

 

Đông Anh là bút hiệu của một sĩ quan quân lực VNCH từng tốt nghiệp trường đào tạo sĩ quan hiện dịch Đà Lạt khóa Cương Quyết ra trường năm 1954 đó là sĩ quan Nguyễn Đình Tạo sinh quán tại Đông Anh trước đây thuộc tỉnh Phúc Yên nay là ngoại thành Hà nội.

Đông Anh từng đi tù Cộng Sản  tới 9 năm và ra tù năm 1984, năm 1985 Đông Anh đã vượt biển may tới đảo Galang viết hồi ký Chín năm Tù Ngục rồi tới Mỹ định cư năm 1986, ba năm sau 1989 cho xuất bản hồi ký Chín năm Tù Ngục, mười một năm sau xuất bản tập thơ Chim di trú, mười bốn năm sau xuất bản tập thơ Hoa Giáp Đông Anh khi tròn sáu mươi tuổi đời, mười sáu năm sau xuất bản Ngựa vực hồn thơ và hai mươi mốt năm sau xuất bản Vui Tuổi Hạc

Con người thơ Đông Anh là con người nặng chất thơ tình, ngay trong thơ tranh đấu Đông Anh cũng vẫn lãng đãng chất tình yêu đâu đó

Ngày anh đi Galang buồn không em?

Hải đảo vẫn thành sương chìm?

Cỏ cây vẫn gục đầu rũ rượi?

Anh đi không có gì đổi mới

Hải đảo vẫn man mác buồn thêm

Anh đi không có gì để lại

Với nỗi lòng mang nặng tình em

Một con tim

Chia em một nửa….

Nửa kia mang đi muôn phương

Chất chứa tình đau quê mẹ…

Galang buồn kẻ ở ngươi đi

Đã thấm vào lòng bao nhiêu nước mắt

Khóc làm chi em

Con đường trươc mắt

Là đang đi mang hoài bão quay về

Con người thơ Đông Anh rõ ràng là người thơ của tình yêu, của đôi lứa của những nỗi lòng, của những trái tim đang thổn thức vì những tình cảm yêu đương

 

Ngàn năm không bao giờ khác

Mơ màng trong bóng hình em

Bên nhau đời đời kiếp kiếp

Nhưng thuyền trôi bóng sông riêng

Khi yêu nói lời chân thật

Từ lòng từ cả con tim

Cho nhau cả từng mảnh vụn

Tưởng rằng cho đến ngàn năm….

Tình yêu muôn vàn đô lượng

Ai ngươi đi trước về sau

Nước mắt hòa tan trong máu

Chỉ vì một phút bôn ba

Vươn tay với hoài không tới

Cuộc tình như gió thoảng qua

Phải nói là thơ tình Đông Anh thuộc loại tầm cỡ, những lời tình yêu của Đông Anh là những lời xuất phát từ trái tim, những lời  xuất phát từ  những rung động chân thật nhât từ những rung động từ cõi lòng thổn thức không cùng

Cái cõi tình của Đông Anh rất là bất hủ muôn mầu muôn vẻ nó vào thơ Đông Anh như một cõi riêng làm cho người đã vào cõi thơ tình Đông Anh như vào mê trận vậy, đã vào là đắm say là ngây ngất.

HÔ NAM

 

TRÍCH THƠ ĐÔNG ANH

Phụ Tình

Ngàn năm không bao giờ khác
Mơ màng trong bóng hình em
Bên nhau đời đời kiếp kiếp
Nhưng thuyền trôi bóng sông riêng

 

Khi yêu nói lời chân thật
Từ lòng, từ cả con tim
Cho nhau cả từng mảnh vụn
Tưởng rằng cho đến ngàn năm

 

Đời có bao điều huyền hoặc
Bên em hay ở anh nào?
Tình yêu muôn vàn độ lượng
Ai người đi trước về sau?

 

Nước mắt hòa tan trong máu
Chỉ vì một phút bôn ba
Vươn tay với hoài không tới
Cuộc tình như gió thoáng qua

 

Cho rằng tình yêu trí trá
Cho nên hết cả tình thương
Cho rơi tan tành hạnh phúc
Cho đời ngăn ngắt sau lưng

Đông Anh

 

GỬI ĐÔNG ANH

Người chín năm tù làm thơ tình

Giọng yêu đương  mật rót vào tim

Lời tình tự như chim gù buổi sáng

Chắp cánh bay bổng chin tầng  mây

 

Tình yêu như hoa nở buổi sáng

Đóa mặt trời rực rỡ bình minh

Tình yêu như dạ lan buổi tối

Hương nồng nàn bí mật trong đêm

 

Cõi tình yêu có nhiều nước mắt

Và cũng nhiều ẩn ức trong lòng

Ai đã yêu mà chẳng từng khóc

Bước vào trường tình  không thót tim

 

Tình yêu như một huyền tích mở

Con đường tình luôn lắm chông gai

Và người tình như nhấp men say

Luôn lao đao chồng chềnh bước tới

 

Cõi tình như thế giới có bùa mê

Thi sĩ như tửu đồ đang quá chén

Uống uống nữa bao nhiêu cho đủ

Cuộc vui nào cũng mãi triền miên

VƯƠNG TÂN

 




Chinh Nguyên : Đôi Lời Về Mẹ của Chinh Nguyên

Đôi Lời Về Mẹ của Chinh Nguyên

Thay mặt cho cơ sở Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi viết bài này để chia buồn cùng Chinh Nguyên và tang quyến. Anh em bằng hữu khắp nơi cũng gửi lời qua E-Mail, bằng điện thoại. Có người làm thơ khóc cụ. Có người chia buồn trên báo chí, cũng có tiếng phân ưu trên đài phát thanh. Chinh Nguyên và Văn Thơ Lạc Việt xin chân thành cảm tạ những cảm tình nồng hậu mà Quý vị đã dành cho. Tang gia bối rối, đường xa diệu vợi tất nhiên có nhiều điều không vừa ý xin quý vị cũng vì tình thương mà thứ lỗi cho.

Đông Anh                                     

(Bài viết này có hai đoạn: 1- viết từ lâu để giới thiệu tác phẩm Mẹ của nhà văn Chinh Nguyên.

2- viết để tiễn mẹ Chinh Nguyên về cõi vĩnh hằng)

 

Đôi Lời Về Mẹ của Chinh Nguyên

1-

Mẹ già như chuối ba hương

Như cây khế ngọt, như đường mía lau

Mẹ như nước trong nguồn, với tình thương yêu vô tận dành cho đàn con. Mẹ Việt Nam có những niềm đau vì đất nước, có những nỗi khổ vì chồng, lại có cả những cay đắng vì con. Tất cả những cay đắng, niềm dau và nỗi khổ ấy đã làm còng lưng mẹ, nhưng ý chí mẹ vẫn quật cường, vẫn vươn lên, vẫn vượt muôn ngàn khổ ải để bao bọc đàn con, để tiến về phía trước. Mẹ của Chinh Nguyên là một trong những bà mẹ Việt Nam đó.

Bà gánh việc nhà chồng, chịu đựng những bất hòa do chính kiến giữa anh em bên chồng. Chồng đi xa vì lý tưởng, bà sống trong nỗi cô đơn qua tháng năm dài quạnh quẽ. Cánh tay gầy guộc làm mọi việc cực nhọc để nuôi con, mong cho nên người.

Suốt những tháng năm dài cô quạnh giữa phồn hoa đô hội, sống nghèo nàn giữa xa hoa. Chồng thì biệt tăm, gia đình chồng ở xa biền biệt, không biết trông cậy vào ai. Một mình bà, chỉ một mình bà bương chải kiếm ăn. Sống trong một căn lều rách nát trên đất chùa. Đem tấm thân còm cõi làm phu hồ kiếm cơm nuôi ba con bé dại. Chinh Nguyên lớn nhất cũng chỉ có 7 tuổi đã phải trông hai đứa em cho mẹ đi làm. Thảm nhất là hôm mẹ đau, nằm trong góc căn lều tối tăm, không thuốc, không cháo, không cơm! Ba đứa con chỉ biết nhìn nhau khóc. Lời dặn dò của mẹ như lời chối chăng: “Nếu mẹ ốmï không đi làm được, con dẫn hai em lên chùa gặp sư cụ”. Chinh Nguyên đã phải đi lên chùa, đến từng nhà xin thuốc về cho mẹ uống.

Mẹ làm bất cứ việc gí miễn là nuôi được đàn con. Hai mẹ con, một bóng gày gò dắt theo đứa con nhỏ ra bến Phà Đen hốt than vụn về đun bếp chiên bánh cam. Sáng tinh mơ mẹ gánh bánh cam và chảo mợ sôi đi bán dạo dọc phố. Chiều về có chút gạo chút mắm nuôi con.

Mẹ Việt Nam không bao giờ nghĩ đến bản thân, chỉ nghĩ đến gia đình và luôn nghĩ đến đàn con. Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ bao la như trời như biển.ï Mẹ không bao giờ kể công và luôn dấu nỗi khổ cho riêng mình. Giọt nước mắt nếu có thì cũng là những giot nước mắt âm thầm giữa canh khuya mà không bao giờ con thấy được.

Mẹ là dòng suối ngọt. Bất cứ lúc nào và bất cứ hoàn cảnh nào mẹ vẫn cứ mỉm cười. Nói với con ngọt ngào như đường như mật, nhẹ nhàng như gió như mây. Mẹ đem tất cả tình thương nồng ấm cho con. Không những cho trái tim mà cho cả cuộc đời.

 

Đông Anh

2-

Hôm nay ngày 7 tháng 1 năm 2010 Mẹ đã ra đi. Trong mấy tuần qua mẹ đã phải vào nhà thương vì đường xuống thấp. Sau đó về nhà và trở lại bình thường. Chinh Nguyên hy vọng mẹ còn khỏe và sẽ gặp mẹ dịp tết Canh Dần này. Vé máy bay đã sẵn sàng, chương trình chúc thọ mẹ cũng đã hình thành. Đây là một cái tết đoàn tụ các con cháu từ Mỹ về, từ Sài Gòn lên, từ Hà Nội vào. Tất cả họp lại để mừng thọ mẹ 98 tuổi. Từ nhà thương về, mẹ muốn có một chiếc xe lăn để tiện bề di chuyển. Con trai ở Mỹ gửi về liền. Ngày 7 khi nhận xe, mẹ đã ngồi thử và con cháu xúm lại đẩy cụ đi một vòng quanh xóm. Mẹ khen xe đẹp nhỉ. Sau đó cụ ăn chiều và đi nghỉ. Ai ngờ cụ đi luôn và không bao giờ dậy nữa.

Hai giờ sáng, tiếng điện thoại vang lên đánh thức hai vợ chồng nhà thơ dậy. Bốc điện thoại lên là tiếng nức nở đầu giây vọng từ chốn xa xăm báo tin buồn Mẹ đã ra đi!

Một buổi sang tất bật, vợ đi đổi vé, sắm dụng cụ chịu tang, chồng lo đăng báo cáo phó, làm chương trình phát tang, gọi điện thoại thúc dục con cháu về Việt Nam gấp. Buồn thì thật là buồn nhưng không có thì giờ để khóc. Ngay đêm 7 tháng 1 cả gia đình chiếm giữ một khoang máy bay để bay về Việt Nam. Đúng ra mẹ là công dân Hoa Kỳ, nhưng mẹ lại muốn về sống tại quê hương lúc cuối đời. Cụ còn căn dặn Chinh Nguyên là khi cụ nằm xuống thì con phải đem ba về nằm cạnh mẹ tại Ban Mê Thuột là nơi hai cụ sinh sống, lập nghiệp và nuôi dạy đàn con khôn lớn.

Ngày 12 tháng 1 năm 2010 toàn gia đưa tiễn mẹ đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Trời Ban Mê Thuột mát mẻ, êm đềm, ngào ngạt hoa cà phê. Mẹ đã nằm lại với quê hương. Mẹ đã yêu quê hương và quê hương đã thương mẹ. Nhục thể của mẹ đã hòa vào lòng đất quê hương để ơn đức cao dầy của những Mẹ Việt Nam ngày thêm thiêng liêng và vinh hiển.

 

Đông Anh

12/1/10