Trần Việt Nam : Lịch Sử Việt Nam bằng tranh và hai thứ tiếng Việt, Anh

Lịch Sử Việt Nam bằng tranh và hai thứ tiếng Việt Anh cho con cháu chúng ta:

 

Trở Về Trang Gốc Lịch Sử Việt Nam    Trở Về Trang Gốc Vietlist.us

Lịch Sử Việt Nam – phần Dẫn Nhập

Kính xin hồn thiêng sông núi phù hộ cho dân tộc Việt Nam sớm chiến thắng tất cả mọi thế lực độc tài, tàn ác để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ trong tình yêu thương của dân tộc và của toàn thể loài người.
TVN.

Tặng vợ và các con thương yêu.
Mong các con sẽ là những chiến sĩ chiến đấu cho tự do, dân chủ cho Việt Nam và chiến đấu cho lẽ công bình, bác ái cho nhân loại.
TVN.

Xin tri ân đồng bào và chiến sĩ VNCH đã và đang hy sinh cuộc đời để đấu tranh cho người dân Việt được tự do, dân chủ, nhân quyền và ấm no.
Thương tặng cha, má, anh chị em và G.
CLG.


Kính thưa quý đọc giả,

Chúng tôi có những đứa con còn nhỏ, biết đọc biết nói tiếng Việt chút đỉnh. Cũng giống như các bậc cha mẹ khác, chúng tôi muốn dạy con cháu chúng tôi lịch sử Việt Nam để sau nầy dù sống ở nơi đâu chúng sẽ không quên đất nước, cội nguồn.

Chúng tôi biên soạn cuốn Việt Sử bằng tranh nầy cho các em nhỏ, có hoàn cảnh tương tự con cháu của chúng tôi . Chúng tôi nghĩ rằng một quyển lịch sử bằng tranh sống động, đơn giản với 2 ngôn ngữ Việt-Anh sẽ dể lôi cuốn đọc giả trẻ.

Đọc sách sử của tiền nhân để lại, chúng tôi bùi ngùi, rung cảm trước lòng can đảm, tận tụy của các bậc anh hùng đã hy sinh thân mình bảo vệ non sông. Chúng tôi rơi lệ khi nghe lời khuyên con của ông Nguyễn Phi Khanh nói với ông Nguyễn Trãi. Chúng tôi đã khóc khi giặc giết ông Trần Bình Trọng, chém anh hùng Nguyễn Thái Học và sát hại anh hùng Nguyễn Trung Trực của chúng ta.

Chúng tôi nghĩ rằng đọc sử sách để hiểu gốc gác nguồn cội là điều quan trọng. Nhưng hiểu rõ những gì đang xảy ra cho đất nước để có những quyết định, đóng góp cho tương lai có khi còn quan trọng hơn. Chúng tôi xin viết lên những gì chúng tôi đã nghe, đã thấy trên đất nước của chúng ta, kèm theo những lời bình luận theo nhãn quan của chúng tôi. Dù rằng Việt Nam đã hết chiến tranh từ lâu, những nỗi khổ đau mà dân tộc ta đang phải gánh chịu từ những người đã sinh ra cùng một bọc ngày càng thêm vô lý. Chúng tôi nghĩ rằng sự thật phải được trình bày để con cháu chúng ta có một lựa chọn đúng đắn cho tương lai.

Chúng tôi cám ơn họa sĩ Vi Vi đã bỏ công lao vẽ cho chúng tôi những bức tranh công phu, sống động. Xin cám ơn bạn bè đã khuyến khích và đóng góp công của cho quyển sách được thành hình. Chúng tôi sẵn sàng đón nhận lời chỉ bảo của tất cả quý vị.

 

California, ngày 12 tháng 12 năm 2000.
Thay mặt ban biên tập,
Trần Việt Nam.


INTRODUCTION

The history of Vietnam is a history of a five-thousand-year struggle for a better life both physically and mentally. The country and the people have gone through many stages, from the bottom of the pit to the peak of the mountain, from the glorious Hoa Binh civilization to the one- thousand-year Chinese domination, from the hundred-year French colonization to the days of Revolution for Independence. In 1945, Vietnam gained its Independence from France, yet, the Communist Party cunningly stole the credits from the people, stole the credit from nationalist parties, and later, imposed a brutal and totalitarian regime over Vietnam. Since 1975, approximately 2 million people fled the country to find Freedom.

The Vietnamese Communist Party has a wild dream that one day it will govern the Vietnamese overseas and it will drive the Vietnamese overseas to do things according to its wish. For this reason, the Party has sent many intelligent agents overseas to penetrate into Vietnamese Communities all over the world, and these agents tried to create schisms and divisions within the Vietnamese Communities. In 1999, Tran Truong hang the picture of Ho Chi Minh and the Communist flag in Southern California, thousands of people protested to demonstrate that they fled the country because of Communism, because they want to have Freedom.

In July, 2000, William Joiner Center of University of Massachusetts received a fund from the Rockefeller Foundation to do a study of the Vietnamese overseas. William Joiner Center phrased the title of this extensive research as “Reconstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora.” William Joiner Center invited two guests from Vietnam, Mr. Hoang Ngoc Hien and Nguyen Hue Chi, to be the writers of this research. Hoang Ngoc Hien and Nguyen Hue Chi are high rank cadres of the Vietnam Communist Party. This is an insult to Vietnamese Nationalists because the research is not objective, favoring the Communist, similarly to asking the Nazis to write the experience and the history of the Jews. The inflictor is writing the experience of the victims! Vietnamese abroad protested vehemently and requested William Joiner Center to reconsider its decision. There is a lawsuit going on against William Joiner Center because of the above event.

Young Vietnamese generations who have been raised or born and raised in Europe, in America, in Australia and other places outside of Vietnam do not have enough materials to learn the true history of Vietnam. Furthermore, the Vietnamese Communist has sent thousands of documents to American archives and library, and these documents depict falsely the modern history of Vietnam in the 20th century. This is a danger to future Vietnamese generations. For this reason, the Vietnamese People’s Action Movement publishes the history of Vietnam in picture and in bilingual for kids to help them grasp the basic understanding of Vietnam history. Hopefully this work promote a will in young Vietnamese to participate in revolutionary activities dissolving Communism and its devilish regime.

Hoang Duy Hung, Esquire.
President of the Vietnamese People Action Movement.


 

Lời Giới Thiệu

Lịch sử Việt Nam là một lịch sử 5 ngàn năm tranh đấu cho một cuộc sống tốt đẹp hơn trên cả hai phương diện tinh thần và vật chất. Đất nước và dân tộc đã trải qua nhiều giai đoạn, từ tận bùn đen đến đỉnh núi cao, từ vinh quang văn hóa Hòa Bình cho đến một ngàn năm dưới ách đô hộ Trung Hoa, từ một trăm năm thực dân Pháp cai trị cho đến những ngày Cách Mạng Cho Độc Lập. Năm 1945, Việt Nam giành được độc lập khỏi bàn tay Pháp, nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quỷ quyệt cướp công của toàn dân, cướp công các đảng phái quốc gia, và sau đó, áp đặt một thể chế tàn ác và toàn trị lên trên toàn cõi đất nước. Từ năm 1975, khoảng 2 triệu người vượt thoát khỏi nước để đi tìm Tự Do.

Đảng Cộng Sản Việt Nam có một giấc mơ huyễn hoặc là một ngày nào đó họ sẽ khống chế người Việt hải ngoại để người Việt hải ngoại làm theo ý họ muốn. Vì lý do này, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gởi rất là nhiều tình báo viên xâm nhập vào trong các cộng đồng người Việt, và những tình báo viên này cố gắng tạo những nghi kỵ và chia rẽ trong các Cộng Đồng Người Việt. Năm 1999, Trần Trường treo ảnh Hồ Chí Minh và cờ Cộng Sản ở Nam California, hàng ngàn người biểu tình để nói lên họ trốn chạy khỏi Việt Nam là vì chủ nghĩa Cộng Sản, là vì họ muốn được có Tự Do.

Vào tháng 7 năm 2000, Trung Tâm William Joiner của Đại Học Massachusetts nhận một quỹ tài trợ từ Rockefeller Foundation để làm một cuộc nghiên cứu về những người Việt ở hải ngoại. Trung Tâm William Joiner đã chọn đề tài cho việc nghiên cứu bề thế này là “Tái Cấu Tạo Căn Cước và Nơi Chốn trong Cộng Đồng Người Việt Lưu Lạc.” Trung Tâm William Joiner mời hai người khách từ Việt Nam, ông Hoàng Ngọc Hiến và ông Nguyễn Huệ Chi, làm soạn giả cho công trình nghiên cứu này. Ông Hoàng Ngọc Hiến và ông Nguyễn Huệ Chi là những cán bộ cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây là một sự sỉ nhục đối với người Việt Quốc Gia vì việc nghiên cứu này không có khách quan, nghiêng về phía Cộng Sản, giống y như là yêu cầu Đức Quốc Xã viết về kinh nghiệm và lịch sử của người Do Thái vậy. Kẻ gây ra đau khổ lại là người viết về kinh nghiệm của những nạn nhân! Người Việt hải ngoại biểu tình phản đối kịch liệt và yêu cầu Trung Tâm William Joiner hãy xét lại quyết định của họ. Vì sự kiện trên, một vụ án tố Trung Tâm William Joiner đang được tiến hành.

Những thế hệ trẻ Việt Nam lớn lên, hoặc sinh ra và lớn lên ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu, hoặc một vài nơi khác ở ngoài Việt Nam không có đủ tài liệu để tìm hiểu về lịch sử thật của Việt Nam. Hơn nữa, Đảng Cộng Sản Việt Nam gởi hàng ngàn tài liệu vào trong các thư phòng, trong các thư viện, và những tài liệu này diễn tả cách sai lạc lịch sử cận đại của Việt Nam trong thế kỷ 20. Đây là một nguy hại cho thế hệ tương lai của người Việt. Vì lý do này, Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Động in quyền sử Việt Nam bằng hình và bằng song ngữ để giúp cho những em trẻ nắm bắt sự hiểu biết căn bản về lịch sử Việt Nam. Hy vọng việc làm này kích thích ý chí trong giới trẻ Việt Nam tham gia vào những công tác cách mạng đấu tranh giải thể chủ nghĩa Cộng Sản và cơ chế ác quỷ này.

Luật Sư Hoàng Duy Hùng,
Chủ Tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Động.


INTRODUCTION

L’histoire du Vietnam est une histoire de cinq mille ans de lutte pour une vie meilleure à la fois physique et mentale. Le pays et le peuple ont parcouru de nombreuses étapes, du fond le plus obscur de la vallée jusqu’au sommet de la montagne, de la glorieuse civilisation de Hoa Binh à celle de mille ans de domination chinoise, des cent ans de colonisation française à la Révolution pour l’Indépendance. En 1945, le Vietnam a accédé à l’indépendance de la France, mais le Parti Communiste en a sournoisement volé le bénéfice au peuple, en a volé le bénéfice aux partis nationalistes et, plus tard, a institué un régime brutal et totalitaire sur le Vietnam. Depuis 1975, environ 2 millions de personnes ont fui le pays pour trouver la liberté.

Le Parti Communiste Vietnamien a le rêve fou qu’un jour il gouvernera les Vietnamiens vivant à l’étranger et qu’il les incitera à faire les choses selon son désir. Pour cette raison, le Parti a envoyé de nombreux agents secrets outre-mer pour pénétrer toutes les communautés Vietnamiennes du monde, et ses agents ont essayé de créer des schismes et des divisions au sein de ces communautés. En 1999, lorsque Trân Truong accrocha le portrait de Ho Chi Minh et le drapeau Communiste en Californie du Sud, des milliers de personnes protestèrent pour démontrer qu’ils avaient fui le pays à cause du communisme, parce qu’ils voulaient être libres.

En Juillet 2000, William Joiner Center de l’Université du Massachusetts, reçut un fond de la Fondation Rockefeller pour faire une étude sur les Vietnamiens vivant à l’étranger. William Joiner Center adopta pour le titre de sa recherche approfondie "La reconstruction de l’identité et la Place de la diaspora Vietnamienne." William Joiner Center invita deux Vietnamiens du Vietnam, M. Hoang Ngoc Hien et Nguyen Hue Chi, pour être les rédacteurs de ces travaux de recherche. Hoang Ngoc Hien et Nguyen Hue Chi sont des cadres de haut rang du Parti Communiste Vietnamien. Ceci est une insulte aux Vietnamiens nationalistes parce que la recherche n’est pas objective; elle favorise les Communistes comme si l’on avait demandé aux nazis d’écrire l’expérience et l’histoire des Juifs. Le bourreau rédige l’expérience des victimes! Les Vietnamiens de l’étranger protestèrent avec véhémence et demandèrent à William Joiner Center de reconsidérer sa décision. Un procès est toujours en cours contre William Joiner Center en raison de cet événement.

Les jeunes générations de Vietnamiens qui ont été élevés ou sont nés et ont été élevés en Europe, en Amérique, en Australie et dans d’autres pays hors du Vietnam n’ont pas suffisamment de sources d’information pour apprendre la véritable histoire du Vietnam. En outre, les Communistes Vietnamiens ont envoyé des milliers documents aux Américains pour leurs archives et leur bibliothèque, et ces documents représentent faussement l’histoire moderne du Vietnam du 20e siècle. Ceci est un danger pour les futures générations de Vietnamiens. Pour cette raison, le Mouvement d’Action Populaire Vietnamien publie l’histoire du Vietnam en images et en version trilingue pour les enfants afin de les aider à saisir les notions de base de l’histoire du Vietnam. Espérons que ce travail servira à donner la volonté aux jeunes Vietnamiens de participer à des activités révolutionnaires pour l’abolition du communisme et son régime diabolique.

Monsieur Hoang Duy Hung
Président du Mouvement d’Action Populaire Vietnamienne.

 


Tượng vua Quang Trung ở Qui Nhơn

http://www.vietlist .us/VietHistory/ Index.htm

Xin click vào link để đọc tiếp lịch sử Việt Nam bằng tranh




Cao Ánh Nguyệt : Đôi lời giới thiệu tập thơ đầu tay BÊN BẾN SÔNG BUỒN của Giang Thiên Tường

Đôi lời giới thiệu tập thơ đầu tay

                                                 BÊN BẾN SÔNG BUỒN

                                                                                     của Giang Thiên Tường

 

"Bên Bến Sông Buồn" là tập thơ đầu tay của người làm thơ Giang Thiên Tường,  với gần năm mươi bài thơ tuy có khác nhau về sự diễn đạt nhưng vẫn nằm trong một chủ đề tình yêu, thân phận và nỗi ray rứt của nhớ nhung, xa cách. Nếu quan niệm vai trò của người sáng tác là thể hiện cảm xúc thì thái độ của người đọc thơ cũng cần sự rung cảm và thấu hiểu. Ở đây có lẽ chúng ta khoan vội nói đến lãnh vực của tài năng, mà hãy cùng chia xẻ với tác giả những khoảnh khắc đã thôi thúc ông bộc bạch tâm tư qua từng câu, từng chữ để tạo thành ý thơ. Quả thật khi đọc thơ Giang Thiên Tường chúng ta thấy dường như ông đang muốn đi vào cái thế giới thăm thẳm của thi ca, nơi có những dày vò khắc khoải của yêu thương, những nỗi buồn sầu miên man trong cô quạnh. Thấp thoáng đâu đó là sự nhớ nhung, dang dở. Dĩ nhiên chia ly bao giờ cũng là những tố chất tuyệt vời nhất của thi ca để đạt đến sự cao độ của đau thương. Chúng ta đang nói đến một phần của cuộc sống, ngoại trừ văn thơ được dùng để đấu tranh. Hầu như các nhà thơ thường mượn thi ca để diễn tả những con đường hiu hắt của nỗi buồn, những vời vợi chia lìa trong tình yêu, mà dường như con người cứ mãi lang thang với cô đơn và đau khổ.

 Thơ của Giang Thiên Tường cũng không ngoại lệ, tuy nhiên cách diễn tả của ông nhẹ nhàng, bình dị , đọc thơ ông không thấy có sự xung động mãnh liệt mà trái lại ẩn tàng những lời nỉ non thầm lặng.Những nỗi buồn sầu man mác. Những hạnh phúc mong manh bất chợt, có khi là sự pha trộn giữa niềm vui và nỗi buồn. Không gian và thời gian trong thơ ông là biểu tượng của mùa thu, dường như hầu hết những bài thơ đều thể hiện tính chất lãng mạn của sự chia ly, dang dở trong khung cảnh hiu hắt của trời thu. Nếu nói như một nhà văn nào đó đã định nghĩa: " Mùa thu là mùa các thi nhân đi tìm những vần thơ để sáng tác thành những tuyệt phẩm bất hủ nghìn năm…” Không ở ngoài sự lôi cuốn ấy, Giang Thiên Tường cũng đang dò tìm một hướng đi tuy không mới mẻ nhưng tràn ngập xúc cảm và đầy hăm hở. Mỗi một bài thơ của Giang Thiên Tường được ông gửi gắm thật nhiều tâm trạng, tuy không cầu kỳ, không trau chuốt, bóng bẫy nhưng mộc mạc, dung dị. Bước vào thế giới của văn thơ với nỗi niềm đam mê vô hạn, có lẽ người làm thơ nào cũng mong muốn thể hiện trọn vẹn mọi cảm xúc của mình, nhưng khốn nỗi ngôn từ đôi khi trở thành bất lực. Chỉ có sự khai mở mới hy vọng đem lại một chút gì đồng cảm. Giang Thiên Tường đang cố gắng bắt một nhịp cầu với người đồng điệu.

Quả thật là khó khăn để tạo được gạch nối rung cảm giữa người làm thơ và người đọc thơ, nói như thế không phải là phủ nhận tính cách cưu mang của người thi sĩ, bởi vì tâm tư của nhà thơ là thường xuyên ôm ấp những mộng mơ, dự ước. Nếu sáng tạo bắt nguồn từ một nỗi khắc khoải, dày vò hay một niềm đam mê vô tận thì sáng tạo cũng đầy tính chất kỳ bí và huyền diệu. Nhà thơ đã đem lời thơ, chữ thơ biến thành những di vật trao lại cho đời. Tặng vật ấy còn là sự can đảm dưới hình thức chấp nhận mọi sự khen, chê, cho nên ở đây sáng tạo phải chăng là sự tự hủy nếu vấp phải thái độ chối bỏ. Bởi vậy người cầm bút chỉ mong chờ thái độ trân trọng ở người thưởng ngoạn. "Bên Bến Sông Buồn" của Giang Thiên Tường khi đến tay độc giả, cũng mong đợi sự đón nhận đồng cảm không mang tính dễ dãi mà đầy sự cảm thông và trân trọng.

P.O . Box có trong trang sau của quyển thơ P.O.Box 246706, Sacramento Ca 95824.

 

Cao ánh Nguyệt

CN Phụ Nữ Cali Magazine




Những tác phẩm của nhà văn Vũ Ngọc Đĩnh

NHỮNG TÁC PHẨM
của
Nhà văn : VŨ NGỌC ĐĨNH

 

 

Vũ Ngọc Đĩnh : CHỬI. Sau hơn mười năm tù cải tạo tại những địa danh CSVN giết người không gớm tay,  "CHỬI" là một trong chín tác phẫm bị cấm tại quốc nội đã làm tác giả bị Công An Cộng Sản VN hỏi thăm sức khỏe.Tôi có hân hạnh được tác gỉa tin cẩn đưa cho 9 tác phẩm cấm với ngụ ý mang ra ngoại quốc phổ biến, và nếu được xuất bản hầu phanh trần tội CSVN bán nước cho Tàu, tàn ác với dân và là đảng cướp ngồi trên hiến pháp, cũng như CSVN đã lập nên một nhà tu vĩ đại nhốt dân cả nước.  Xin mời quí vị vào đọc CHƯỈ để biết tác giả đã gởi gấm gì với tuổi đời hơn 80 mà vẫn nặng lòng với đất nước KHÔNG SỢ CỘNG SẢN.    

 

 

***

 

Đã xuất bản :

(trước 1975)

     Mười Hai Sứ Quân tiểu thuyết lịch sử

     Máy cưa máy khoan truyện

     Trên tháp chuông nhà thờ truyện

     Một màn xiếc truyện

     Bàn tay trên cỏ truyện

     Tình trên non cao dịch “La Maison de Petrodava”của C.Virgil Georghiu

nhà xuất bản Âu Cơ-Saigon, ký tên Lê Vũ

     Niki truyện con chó tác giả Roumanie không nhớ tên

 

Đã xuất bản

(sau 1975)     

     Mười Hai Sứ Quân * tiểu thuyết lịch sử,nxb Trẻ tp HCM-1999

     Bắn Rụng Mặt Trời * tiểu thuyết lịch sử nhà Trần phá Nguyên Mông ,nxb Trẻ tp HCM-2000

     Hào Kiệt Lam Sơn (Lê Lợi đuổi Minh)tiểu thuyết lịch sử-1995

     Ứng Vận Thần Vũ (Lê Đại Hành Hoàng đế phá Tống)tiểu thuyết lịch sử; nxb Văn Hóa Thông Tin tp. HCM-2005

     Đôi Hài Tiên truyện thần tiên VN **

     Chiếc Mõ Sừng Trâu truyện thần tiên VN

     Ngọn Đèn Lưu Ly truyện thần tiên VN

     Thủy Thủ Khăn Vàng truyện thần tiên VN

     Cô Gái Tật Nguyền truyện thần tiên VN

Miếng Da Ếch truyện thần tiên VN

Chiếc Chiếu Thần truyện thần tiên VN

Hoa Trường Mộng truyện thần tiên VN

Ống Sáo Thần Kỳ truyện thần tiên VN ( 9 truyện thần tiên này xb năm 1993, nxb Văn Hóa tp.HCM

Tự Điển Anh-Việt Bộ Giáo Dục và Đào Tạo-Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa VN-nxb Thế Giới-1994

Tự Điển Pháp Việt nxb Thế Giới-1995 –Công ty Phát hành Sách FAHASA tp HCM

Tự Điển Thương Mại Anh-Pháp-Việt -2003 , Nhà Xuất Bản Thống Kê – Hội Ngôn Ngữ Học thành phố HCM

Musashi Giang Hồ Kiếm Khách tác giả Eiji Yoshikawa; tiểu thuyết kiếm đạo kiệt xuất của Nhật Bản 2000 trang,dịch theo bản tiếng Pháp, nxbVăn Học tp.HCM 2008

* Hai bộ tiểu thuyết lịch sử (mỗi bộ 8 tập – 3000 trang) Mười Hai Sứ Quân, Bắn Rụng Mặt Trời, đã được Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ghi tên và bảo vệ tác quyền trên toàn thế giới cho tác giả ;

 

** Bộ 9 truyện thần tiên (tổng cộng 2000 trang)

 

Các tác phẩm chưa xuất bản :

     Ca Dao & Tục Ngữ Dẫn Giảng 6100 trang

     Ca Dao thời Cộng sản 500 trang

     Lý Thường Kiệt Phạt Tống-Phá Tống , tiểu thuyết lịch sử  1615 trang khổ lớn

     Lịch sử & các thành cổ VN

     Bảo Toàn & Ngày gặp lại

     Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…

     Buồn Cười Chả Được

     Tiếng Hát Bên Trong Cửa tiểu thuyết

     KÀMA SÙTRA bộ sách kinh điển của Ấn độ về đạo đức và thực hành tình dục có từ trước công nguyên, viết lại bằng tiếng Phạn cổ thế kỷ thứ 4 sau công nguyên, giáo sư học giả Alain Daniélou dịch trọn bộ sang tiếng Anh , bản duy nhất trên thế giới không cắt bỏ một dòng một chữ nào, nxb Park Street Press-Rochester, Vermon USA, bản dịch tiếng Việt của VNĐ năm 1997.

Núi Hồn Tanios  Le Rocher de Tanios, tác giả là nhà văn nhà báo người Liban,

từng chu du hơn 60 nước trong đó có cả VN thời chiến, tác phẩm viết bằng tiếng Pháp,là tiểu thuyết lịch sử vùng Trung đông, được giải Văn học Goncourt năm 1993, tác giả được ghi nhận là “nhà kể chuyện kiệt xuất”, VNĐ dịch xong năm 1999.

Những Âm Thanh Nhức Buốt Ngàn Đời

Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…

Chửi

Đại Đế Quang Trung –(Quang Trung đả bại Đại Thanh Càn Long–Trận đánh cuối cùng kết thúc nghìn năm Bắc thuộc)

Ngô vương Quyền

Hai Bà Trưng

Ba cuốn cuối (14-15-16 đang tiếp tục viết (2013))

 

*****

Vũ Ngọc Đĩnh sinh năm 1933 tại Hà Nội

Di cư vào Nam : 1954

Dạy học, viết báo, biên tập viên trưởng Tin Tức Đài Phát Thanh Saigon, đài Phát thanh Voice of Freedom (Saigon).

Sau tháng Tư 1975 đi tù về tội “ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 80-88”, tiếp tục viết.




Xem Tranh Hoạ Sĩ Võ Tá Đồng và phu nhân

XEM TRANH HỌA SĨ VÕ TÁ ĐỒNG VÀ PHU NHÂN.

Phòng triển lãm tranh tại số 1712 Meridian Ave, suite 1, thành phố San Jose, CA 95125.

Tranh họa của đôi hoạ sĩ Võ Ta Đồng và phu nhân Lauriane Lê,
gồm hơn 40 bức tranh bao với 3 thể loại : Chân dung, Phong cảnh và Trừu tượng. Đa số là hình chân dung nữ lưu. Trong đó có vài bức tranh nghệ thuật nude và ngựa hiền hòa đi với thiếu nữ không như tranh ngựa cuồng loạn, tự do phóng túng, tung vó như tranh ngựa của hoạ sĩ nổi danh một thời trước năm 1975, Hà Cẩm Tâm. 
Đôi hoạ sĩ đồng hội đồng thuyền Võ Tá Đồng và Lauriane Lê đã dùng mầu sắc giữa sáng và tối để bố cục tranh dường như để diễn tả nội tâm trong tranh chân dung, và tranh ngựa thì hiền hòa, ngay cả những bức tranh trừu tượng cuốn hút xoay tròn như một cơn bão nhưng cũng được gói lại với một mầu xám cố ý không cho cuồng xoáy bung ra khỏi lòng…!
Xem tranh Hoạ Sĩ Võ Tá đồng để nghe ông phát biều : "Ông vẽ để giải thoát tâm hồn khi bị lắng đọng, và để vui khi nhìn bức tranh đã thoát ra từ tâm hồn lắng đọng đó"
Buỗi triển lãm tranh của Hoạ sĩ Võ Tá Đồng rất thành công với gần hai trăm quan khách, trong số quan khách có cưụ thiếu tướng Không Quan Võ Dinh, Hoạ sĩ Rừng, nữ hoạ sĩ Trương thị Thịnh, nhạc sĩ Lê Quốc Tấn, nhà báo Cao Ánh Nguyệt, Nguyên Trung, nghị viên khu vực 7 luật sư Nguyễn Tâm, Nhà báo Nguyễn Kim Lợi, nhà báo Huỳnh Lương Thiện, nhiếp ảnh gia Trương Xuân Mẫn, nhà báo Nguyễn Vạn BÌnh…
Trong phòng tranh cũng có tiếng đàn keyboard và những giọng hát có danh tại San Jose phụ diễn văn nghệ trong khi kháck vừa dùng ẩm thực nhẹ vừa thưởng thức tranh.
Xin mời quý vị xem mấy tấm hình trong phòng tranh của họa sĩ Võ Tá Đồng và qua video vietvùngvinh .




Chuyện buồn người vợ tù

Chuyện buồn người vợ tù
Ý Cơ
Chuyện buồn người vợ tù là một chuyện đã thực sự xẩy ra cho một người phụ nữ sau tháng tư năm 1975, Ý Cơ tin rằng hoàn cảnh ấy không xẩy ra riêng cho mình chị, mà câu chuyện thương tâm, phần nào phảng phất  một nét đời đã qua nhưng khó quên của mỗi chi em chúng ta, khi có chồng, có con bị tập trung trong trai cải tao. Ý Cơ đã viết lại theo lời kể của nhân vật chính, ví thế chữ tôi được dùng trong chuyện kể, không phải là tác gỉa bài viết, rồi vẫn giữ nguyên danh tánh của hai nhân vật. (Nhân vật tên Chung trong chuyện kể này là Trung Úy Trương Kim Chung, giảng viên Tâm Lý Chiến và Xã Hội Học Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat)
Ngôi biệt thự nhỏ, khiêm tốn, cuối đường Hoàng Diệu, Dalạt. Phía sau là vườn hồng, từ đó, thấp thóang nhìn thấy những mầu áo xanh lam, của nữ sinh nội trú trường Couvent des oiseux. Đó là: “Ngôi nhà hạnh phúc!” của chúng tôi, cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó.
Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc, bên ba đứa con nhỏ dễ thương, và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi, nhất là khi Tết đến, nó lại có cơ hội tiếp đón những ‘Con bà phước’, đó là những Sĩ Quan huấn luyện viên của trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, không được về thăm nhà khi Tết đến, tất cả đều quây quần vui chơi, như chính nhà của họ, bởi vì, vợ chồng tôi, luôn coi các anh như người ruột thịt.
Thời gian như thế chẳng bao lâu, và cuộc sống đầm ấm ấy đã bị đảo lộn, khi tiếng súng bắt đầu nổ vang trên bầu trời Buôn Mê Thuột, để rồi dẫn đến ngày cuối tháng tư đau thương này.
Được lệnh thượng cấp rút khỏi Dalat vào cuối tháng 3/75, Chồng tôi cùng các chiến hữu, đã lặng lẽ lên đường, giữ an ninh lộ trình di tản cho dân chúng và các đơn vị bạn thuộc Tỉnh Tuyên Đức và Thị Xã Dalat, các anh là những người sau cùng rời xa Dalat.
Phải rời xa nơi chốn hạnh phúc của chúng tôi và bè bạn, anh đi mà vẫn quay đầu nhìn lại, anh muốn ở lại để bảo vệ mảnh đất thân yêu ấy, nhưng không thể cãi lệnh thượng cấp, vì anh là một quân nhân, anh kể lại cho tôi như thế, về suy tư của anh trên đường rút quân.
Sàigon thất thủ, Anh cùng một số chiến hữu đã ra đi, sau lời tuyên bố của Tướng Dương Văn Minh. Nhưng.. .. đến chiều tối, Anh đã trở lại cùng mẹ con tôi, Anh đã rời chiến hạm của quân chủng Hải Quân để về cùng mẹ con tôi, vì anh không muốn xa lìa hạnh phúc đời mình, để ra đi, chỉ một mình anh như thế! Nếu biết, trở lại để rồi phải vĩnh viễn xa lìa mẹ con tôi, chắc anh vẫn quyết đinh như thế, tôi tin như vậy ở tình yêu của anh giành cho mẹ con tôi.. .. ..  Đó, chính là niềm đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi trong cuộc sống mẹ con tôi đến cuối đời.
Là một sĩ quan cấp uý, cuối tháng 6/75, Anh cũng như bao người khác đã trình diện để học tập cải tạo, với hy vọng sau vài mươi ngày sẽ trở về, nhưng.. .. .. ..
Vắng Anh, tôi ở lại, với bao hoang mang lo sợ, lo sợ cho sinh mệnh của anh nhiều hơn cho sự bơ vơ của mẹ con tôi. Thời gian cứ hun hút qua đi, không một tin tức nào về anh.
Tất cả chúng ta, các chị và mẹ con tôi, cũng như những người cha, ngưòi chồng yêu qúy của chúng ta, đều bị những kẻ chiến thắng lường gạt một cách một cách hèn hạ.
Anh đã cho tôi và các con anh một đời sống ổn định vững vàng, nay không có anh, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính cho tương lai con cái về sau, tôi chẳng còn gì, ngay cả mạng sống cũng mong manh bên cháu nhỏ mới chào đời.
Nhưng thực tế, vẫn là thực tế, dù là thực tế phũ phàng, tôi và hầu hết chị em chúng ta phải gánh chịu, phải tự vực mình đứng lên, và tự nhủ, phải đứng thật thẳng để là nơi nương tựa vững chãi cho chồng con.
Tự nhủ như thế để lấy lại can đảm, tôi đã phải ngược xuôi trăm đường, bán buôn đủ thứ nơi đầu đường xó chợ, trong cảnh vạn người bán mà chỉ có vài người mua, để thay chồng nuôi con.
Dân chúng tại các thành phố và tỉnh thị, không có gạo mà ăn. Khoai lang, khoai mì, bo bo .. .. đã trở thành lương thực chính, phân phối theo sổ gia đình, khi nào được mua bột mì, đã là một hạnh phúc lớn cho dân chúng miền nam, vì có thể lấy bột làm bánh mì để ăn, hoặc để bán, đi bán bánh mì cũng là một trong muôn nghề, tôi đã nhờ đó nuôi con.
Ngày tháng cứ qua đi, với buồn lo nặng chĩu hai vai, không người chia sẻ, tôi vẫn nhủ thầm, lúc này, mình không được gục ngã, không thể gục ngã, khi mà các con tôi còn qúa nhỏ, khi mà sự sống chết của người chồng yêu qúy không một chút tăm hơi.
Với một chiếc xe đạp cũ kỹ, tôi chạy ngược xuôi kiếm sống, nuôi con. Khi những người cầm quyền CS biết rằng, đa số chi em chúng ta, đang chiếm lòng lề đường, và những đầu con hẻm làm nơi kiếm sống, họ đã cho thi hành chiến dịch, dẹp lòng lề đường, để triệt hạ con đường sống của những vợ con ngụy.
Tôi đành chuyển cách kiếm sống, khi thì chạy thuốc tây, đôi khi vài ba mảnh vải.. .. để chuyển từ tay người muốn bán, đến tay người muốn mua, ở giữa mình kiếm vài củ khoai nuôi con.. ..
Có những lúc đạp xe muốn kiệt sức, vì từ sáng chưa có chút gì vào bụng ngòai một ly nước lạnh, trời Saigon nắng gắt, đạp xe mà không nhìn thấy gì phía trước, không biết vì mồ hôi từ trán chẩy xuống, hay những gọt nước mắt tuôn rơi. Nhiều lúc đầu óc muốn vỡ tung, vì những mưu toan sinh kế, trước những ách bức nặng nề do xã hội chủ nghĩa gây nên, ấy thế, những giây phút tưởng như cuồng điên ấy, có lẽ còn dễ chịu hơn những khi màn đêm buông xuống,
Ngồi cạnh giường, nhìn đàn con ngủ, những khuôn mặt ngây thơ vô tội, nhưng chắc cũng đã một chút ấm lòng, vì chiều nay mẹ đã mang về cho các con được hơn một ký gạo.
Nhưng còn chồng tôi đâu? đói-no, ấm-lạnh ra sao? Anh là người nặng tình vợ con, liệu có yên giấc ngủ, hay đang chong mắt nhớ vế gia đình, với những lo lắng, mà không sao Anh gánh vác thay vợ lúc này.. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc, nức nở khóc, để vơi chút buồn lo.
Thời gian qua, gần một năm sau ngày chồng tôi bị đưa đi cải tạo, tôi mới được tin chồng, dù chẳng phải tin vui, nhưng có vẫn hơn.
Anh đang bị bệnh sốt rét ác tính, và thiếu dinh dưỡng trầm trọng, không biết Anh có còn chờ được thấy em lần cuối hay không? Một người bạn đưa tin về, mong ước của Anh là được tin vợ con, trước khi Anh nhắm mắt.
Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi, không còn đủ sức đứng vững, hay tôi đã qùy xuống để xin người về, chỉ đường cho tôi, tìm đến với người chồng bất hạnh cho kịp lúc.
Ngay tờ mờ sáng hôm sau, tôi đã vội vã lên đường đi, tìm chồng. Băng rừng, vượt suối, muỗi, vắt, cắn bầm tím cả người, không màng tới, quần áo ướt rồi khô, khô lại ướt, gió lạnh căm căm nơi rừng sau, chẳng sờn.
Tìm được trại giam chồng, tôi chưa kịp mừng, một bọn đàn ông với đôi mắt cú vọ hạch hỏi đủ điều, chỉ với lý do, tại sao tôi biết điạ điêm của trại tù này.. .. Nhưng cuối cùng họ cũng cho tôi gặp Anh có lẽ vì: ”cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền nam”. Tôi đọc được điều đó, qua ánh mắt của họ gìanh cho tôi lúc đó.
Chồng tôi bệnh nặng, anh em cùng láng, cho mắc võng chồng tôi chính giữa, còn võng cuả Anh Em bao chung quanh để che gió lạnh cho chồng tôi, thật sự, có che được bao nhiêu, vì mỗi khi gió thôi tạt vào, thì tất cả đều phải đón nhận những làn gió lạnh và cát bụi bám đày mặt. Tôi đem lòng kính yêu những tấm lòng ấy, và ngỏ lời cảm ơn các anh.
Tôi chết sững, khi các anh chỉ cho tôi chiếc võng ở giữa, nơi chồng tôi đang nằm, Chồng tôi đó sao? Một người cao gần 1m80, nặng trên 70 ký, nay chỉ còn là một bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra, làm cho đôi má đã hóp, lại càng thấy trũng sâu hơn, đôi mắt lõm sâu không thần sắc.. .. ..  nước mắt như cùng lúc với tôi, nhào lăn đến bên Anh, tôi ôm ghì bờ vai Anh, đôi bờ vai ấy, những năm tháng qua đã là nơi nương tưa qúy báu cho tôi, những khi tôi buồn. Còn Anh, Anh không đủ sức kéo đầu tôi ngả vào vai như ngày xưa nữa. Thời gian như ngừng lại, các bạn Anh đứng bên cũng yên lặng ngậm ngùi, yên lặng đến độ tôi đã nghe thấy âm thanh của nước mắt tôi rơi trên vai chồng.
Làm sao tôi có thể quyên được đêm ấy, bên đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt, mà tôi chắc, trước kia oai phong và đẹp trai lắm, trong bộ quân phục VNCH .. .. nhưng.. .. bây giờ.. .. quanh tôi.. ..  chỉ còn là những bộ xương biết cử động. Hai mắt tôi đã đau nhức vì khô cạn nước mắt, tôi khóc cho tôi, tôi khóc vì các anh, và chắc các anh cũng đang cùng tôi khóc cho quê hương dân tộc.
Chồng tôi nằm đó, thoi thóp thở, miệng vẫn cố cười, nụ cười héo hắt, chắc Anh đã mãn nguyện, khi biết rằng vợ con Anh còn sống?
Đứa con gái út của Anh mới được tám tháng, nên mẹ nó còn sữa, hai bầu sữa căng nhức đã kéo tôi ra khỏi cơn mê, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi các bạn Anh tránh ra xa môt chút, để tôi có thể san xẻ phần sữa của con tôi cho bố nó.
Bưng bát sưã, vừa bỏ thêm hai muỗng đường, xúc từng muỗng đưa lên miệng Anh, tôi hy vọng là không có giọt nuớc mắt nào của tôi, rơi vào bát sữa, để Anh không phải uống thêm những đắng cay  của cuộc đời vào lúc này.
Không hiểu vì bát sữa, hay vì tôi đã đến, sáng ra Anh đã tỉnh lại nhiều, các bạn Anh bảo, nhờ có sữa tiên nên Anh mới khoẻ lại như vậy, tôi biết các bạn Anh nói đùa, vui, cho chồng tôi lên tinh thần. Xin cảm ơn các Anh.
Chiều đó tôi bắt buộc phải rời trại giam.
Trên đường về, đầu óc lại làm việc, mong sao tìm được cách kiếm tiền đi thăm nuôi chồng, càng sớm càng tốt, nếu không tôi sợ không kịp.. .. không kịp,.. .. không kịp?.. .. tôi không dám nghĩ tiếp.
Sau lần thăm ấy, tôi bị mất liên lạc, vì chồng tôi bị chuyển qua nhiều trại khác.. Mãi đến giữa năm 1977, tôi mới nhận được giấy báo của trại cho phép đến thăm Anh, tại trại an dưỡng Biên Hòa. Sau lần đó, chồng tôi cùng các bạn bị chuyển ra Bắc.
Thời gian này thật khủng khiếp, vì Anh luôn bị chuyển trai, hết Lào Cai, rồi Yên Bái, rồi Lạng Sơn.. .. .. .. !
Vừa được tin anh ở trai này, đến nơi, anh đã bị chuyển đi trại khác, tôi rượt đuổi theo anh nhiều ngày tháng, nhưng không sao bắt kịp bước đi của anh. Phải trở về, vì bốn đứa con nhỏ còn đang cần mẹ. Tôi phải hối lộ cho bọn cán bộ Bưu Điện để có những tấm phiếu gơi qùa, qua đường bưu điện, mỗi phiếu được ba ký. Phải tính tóan làm những món ăn để được lâu, một chút thịt mỡ cũng phải kho thật mặn.. .. .. trông thấy tôi làm những món ăn gởi cho Anh, các con Anh nói:”Bố sướng qúa, bố có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình !”.. .. ..  còn gì đau khổ và xót sa cho tôi trước những câu nói so sánh ngây thơ ấy, nhưng cũng có chút an ủi cho chúng, là còn được vét xoong.
Cuối cùng tôi cũng tìm ra, họ đã chuyển Anh về Nghệ Tĩnh, tôi vội ra thăm Anh, dù không có giấy phép, đủ mọi mưu kế, đủ mọi tính toán .. .. ..  .. tôi không biết mình đã trở thành người nhiều mưu kế như thế tự bao giờ, và cuối cùng tôi đã xin được giấy chứng nhận bị mất cắp tòan bộ giấy tờ và tiền bạc, trong đó có giấy phép được thăm nuôi, nhờ thế tôi đươc vào trại giam chồng tôi. Tôi đến được trại giam vào tối thứ bẩy, qua ngày chủ nhật sẽ được gặp mặt chồng, nhưng qua hôm sau cán bộ ở trại họ cho biết, đến thứ hai mới gặp được vì chồng tội bị đi lao động xa, và họ sẽ cho gọi Anh về.
Đêm chủ nhật trằn trọc mãi không ngủ được, phần vì lạ chỗ, phần thì mừng, mai được gặp mặt chồng sau nhiều năm xa cách, hơn nữa, xem Anh có mạnh khỏe hơn, sau lần được uống sữa tiên hay không? Nhiều ý nghĩ dồn dập tới.. .. .. Nhưng mệt qúa nên tôi cũng thiếp đi được một chút. Trong giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy anh về báo tin cho tôi là anh đã chết.. .. .. .. Tôi chòang thức giấc, mà miệng còn ú ớ, như đang nói điều gì, tôi tỉnh dậy, lo buồn, khóc thành tiếng, làm thức giấc các chị cũng đến thăm chồng thăm con như tôi. Các chị biết chuyện, hùa vào an ủi, thôi, sinh dữ tử lành, yên tâm ngủ đi, rồi mai thế nào cũng được gặp, tôi cũng tự an ủi mình như thế.
Hôm sau, mờ mờ sáng, tôi đã cùng chị em nấu cơm cho chồng, cho con một bưã, mong được ấm lòng cả hai. Trời sáng hẳn, qua màn sương mỏng, từ cao nhìn xuống, tôi thấy từng lớp người lũ lượt theo từng tóan đi lao động. Tôi như kẻ mộng du, như có ai xô đẩy sau lưng tôi, tôi chạy ào xuống chân núi, nơi cấm những thân nhân tù cải tạo đến gần, tôi thấy, toán 1, rồi tóan 2, rồi tóan 3 .. .. Tôi chợt nghe tiếng gọi: ”Chị Chung.. .. à .. .. Chị Minh” và tiếp theo có tiếng người la to: ”Anh Chung chết rồi”. Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình bị trói chặt tay chân vào một chiếc chõng tre, một người y tá đang chích thuốc cho tôi. Tôi nghe kể lại, tôi đã bị ngất xỉu hơn một giờ đồng hồ, họ phải khiêng tôi lên từ chân núi, họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã, làm gãy kim chích. Tôi nói, tôi không sao, cởi trói cho tôi.
Sau cơn chóang qúa đau đến dại người, tôi trở nên bình tĩnh lạ thường, bây giờ nghĩ lại tôi vẫn còn sợ cho sự bình tĩnh cuả tôi lúc đó, miệng tôi luôn lẩm bẩm: ”Anh linh thiêng đến thế sao?” Khi nhớ lại giấc mơ đêm qua.
Tôi được gặp trại trưởng, tôi yêu cầu gì, họ cũng chấp thuận. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kg qùa tôi mang đến cho chồng, tôi nói với các Anh rằng, ai cần gì thì lấy thức đó, rồi  thư về cho vợ con, trả tiền lại cho tôi sau, phải nói thế các Anh mới chịu nhận, thực trong lòng tôi thương các Anh như thương chồng mình vậy.
Sau đó, cán bộ trại mang đến cho tôi một xách tay, bên trong không có gì khác hơn ngòai một bộ bà ba đen đã bạc mầu.
Họ cho tôi một chén cơm hẩm, còn hôi mùi mốc, trên có một qủa trứng luộc, để mang ra mộ Anh, tôi đi như một xác không hồn, mắt mở căng như tóat ra nỗi căm hờn, phẫn uất, nhưng nào nhìn thấy gì phiá trước, bước thấp, bước cao, theo hai người diù tôi đi.
Tôi không thể chết bên mộ chồng, vì ở nơi xa kia, còn có bầy con thơ đang chờ mẹ về, kể chuyện đi thăm bố.
Vài tháng sau, tôi nhận được hai gói qùa trả lại với hàng chữ: ”Người nhận đã chết, trại yêu cầu hoàn lại”. Ra bưu điện nhận lại hai gói qùa, tới bưã ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành, những món qùa trả lại, vì bố các cháu không còn cần nữa, mắt tôi lại một lần mờ lệ thương thân.
Vài năm sau, tôi dời mộ chồng về Saigon, trong ngày bốc mộ Anh, tôi được vài người bạn tù của Anh giúp đỡ, một trong các Anh lấy lên từ dưới mộ, đưa cho tôi một kỷ vật, do chính chồng tôi làm  ở trong tù, nó được chồng tôi làm từ những sợi giây kẽm nhỏ, thành sợi giây chuyền, với chiếc mặt nhựa kính máy bay, có khắc hình hai đứa đứng cạnh nhau. Anh đã dấu diếm từng ngày để không bị cán bộ CS tịch thu, các bạn Anh đã tìm thấy trong khi liệm xác Anh, họ đã chôn nó cùng Anh trong huyệt lạnh.
Hơn một năm, sau ngày Anh mất, phường khóm đưa đến cho tôi một biên bản ”Phạm nhân chết”, trong đó ghi rõ tội ác của chồng tôi can tội: ”Giảng viên tâm lý chiến, xã hội học, Trường Võ Bi Quốc Gia Dalat. Án phạt: 3 năm tập trung cải tạo”. Nhưng khi chồng tôi chết, Anh đã bị tù đúng 3 năm 7 tháng. Bẩy tháng oan nghiệt giết chết chồng tôi.
Đến năm 1994 tôi được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO vì có chồng chết trong khi bị tập trung cải tạo.
Nay các con tôi đã khôn lớn, đã thành đạt, và các cháu rất hiếu thảo. Tôi đã và luôn tự nhủ, phải đứng thẳng làm nơi nương tựa vững chắc cho chồng cho con, trách nhiệm phần nào đã nhẹ gánh.
Em đã sống vì anh, thay anh nuôi dậy con chúng ta, tôi vẫn thì thầm cùng anh như thế, ”Hãy đợi em đến cùng anh”. Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên như thế, để được xum họp với chồng tôi, để nối lại gánh hạnh phúc của chúng tôi  bị gẫy sau 4 năm 5 tháng chung sống. Tôi chắc Anh có nhiều nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đến cùng Anh.
 



Trần Mộng Tú : Công Chúa Mùa Xuân

Trần Mộng Tú

 

                                                      CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN

 

 

         Khí trời vẫn còn lạnh lắm, sáng tây bắc Mỹ vẫn mù sương. Chiếc hồ chạy dài trước nhà như có như

không, đứng ở tả ngạn không nhìn thấy hữu ngạn, dốc thấp không nhìn thấy đồi cao, xe sau không nhìn thấy

 xe trước. Bình minh, hai tay vẫn phải giấu kỹ vào trong túi áo khoác khi tản bộ trong xóm, những ngón tay

 thỉnh thoảng lại co vào nhau như hỏi xem có ngón nào đã ấm chưa? Đi vòng mấy con dốc vừa hết một bình

 minh, vẫn không hết lạnh.

 

Thế mà buổi trưa, sương vừa tan từng chỗ như lụa được mang cắt chia nhau từng khúc; đoạn dài may áo,

đoạn ngắn may khăn. Nhìn ra vườn sau, trên sườn đá hai con nai ở mé bìa rừng tây nam đang lững thững vào

 vườn, chúng đi tìm nụ non của mấy bụi hồng dại, chúng đi tìm những cánh hoa báo xuân ( Primroses). Hóa

 ra mùa xuân đã thực sự đến rồi.

Chúng lững thững đến, ngơ ngác nhìn quang cảnh, cúi xuống tìm hoa ăn, xong lại lững thững đi. Người

ở trong cửa kính, nín thở, không dám gây tiếng động, người nhìn nai, nai nhìn người. Cuối cùng, có đến,

phải có đi.

 

Nai tìm về vườn sau, có nghĩa là xuân đang đến. Ai đó hấp tấp chạy ra vườn tìm mùa mới. Hai cây đào ngoài

 kia, một cây bên trái, phía tây nam, cao ngang với mái nhà, hoa cánh đơn phơn phớt hồng, có hương thơm rất

 nhẹ; một cây giữa vườn sau, cây chiết, có hai loại hoa khác nhau, mầu hồng cánh kép, và mầu trắng như hoa

mơ. Cả hai cây, chíu chít nụ, những nụ đã nứt ra một chút ở đầu như báo hiệu sự có mặt sắp đến. Đứng hết

dưới gốc cây này, sang gốc cây kia, nhìn lên những cành nụ vươn ra trong nắng mới; không khí ngọt ngào,

 tinh khiết, khe khẽ lạnh; người ngồi xuống, cúi nhìn đất, tìm những nụ hoa Daffodils (thủy tiên đất), hoa

Tulips (kim hương) đang thi nhau chồi lên khỏi mặt đất. Người biết chỉ còn hai tuần nữa thiên nhiên sẽ cho

 những đóa hoa tuyệt đẹp. Hoa Irish (diên vỹ) và Rhododendron (sơn lựu) hoa Peony (mẫu đơn) cũng đang

 chồi lên, ra nụ. Đây là những đóa hoa sẽ nở vào tháng năm.

Cây Magnolia (mộc liên) sát cửa sổ buồng ăn, sẽ cho những đóa hoa như bông sen trắng với những chiếc

 lá dầy xanh biếc như được cắt ra từ một khối ngọc nào đó, vào tháng sáu.

Chao ôi! Nói về hoa thì làm sao kể tên cho hết. Mỗi mùa một loài hoa nở, ngay cả mùa thu, lá thu cũng khác

 gì những cành hoa gấm trên cây, mùa đông lạnh giá cũng còn có hoa xuyên tuyết (Croquets), và ai kia còn

 nhìn sông nước gọi: “Hoa sóng,” nhìn trời gọi: “Hoa mây”

   Mỗi lần người nghe thiên nhiên cựa mình theo gót chân nai trở về, mang mùa xuân vào vườn, bỗng có câu

 thơ cũng chợt trở về:

 

 Huyền Trân Huyền Trân ơi

 Mùa xuân mùa xuân  rồi

 Ngoài kia chín vạn bông trời nở

 Riêng có tình ta khép lại thôi.(Nguyễn Bính)

 

Mấy câu thơ của Nguyễn Bính tả mối tình huyền hoặc của Huyền Trân và Trần Khắc Chung

Cô công chúa ở tuổi xuân và đẹp như hoa xuân đó có đoạn sử nói cô là người yêu của quan Thượng

Tướng Trần Khắc Chung trước khi cô sang Chiêm quốc.  Huyền sử kể lại rằng: Công chúa ngại đường sông,

 sang Chiêm về nhà chồng bằng đường bộ, quan thượng tướng Trần Khắc Chung đi tháp tùng, khi đến đèo

 Hải Vân, đoàn lữ hành dừng lại nghỉ chân, công chúa đã viết bài thơ “Nước Non Ngàn Dậm Ra Đi” để gửi

tâm tình mình cho người yêu vào đó:

 

Cái tình chi !
Mượn màu son phấn,
Đền nợ Ô Ly,
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì,
Độ xuân thì,
Số long đong, hay là duyên nợ gì ?
Má hồng da tuyết,
Quyết liều như hoa tàn, trăng khuyết.
Vàng lộn theo chì.
Khúc ly ca,
Sẽ còn mường tượng nghe gì ?
Thấy chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng,
Hướng dương hoa Quì
Dặn một lời Mân Quân :
Như chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân,
Vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần…

 

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Trần Khắc Chung có mang lòng yêu  công chúa Huyền Trân. Cứ tưởng

 tượng huyền sử trên là có thật thì mối tình của hai người đẹp và đáng thương biết nhường nào; Nhưng

cũng theo quốc sử Trần Khắc Chung lại là một trong những người đồng ý đem gả công chúa cho vua

Chiêm để đổi lấy hai châu Ô, Ly. Tại sao? Có phải Trần Khắc Chung đặt tình yêu nước lên trên tình riêng

hay không? Ta hy sinh tình yêu của ta cho bờ cõi nước Đại Việt được mở mang. Nào ai biết rõ được tâm

tư ấy!

 

Trong dân gian, người ta thương tiếc một vị công chúa sắc nước hương trời, cành vàng lá ngọc, phải

 đem gả cho Chế Mân (còn được coi là Mán) nên đã có câu đồng dao:

 

 Tiếc thay cây quế giữa rừng

 Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

 

Khi vua Chiêm mất, Trần Khắc Chung sang cứu công chúa khỏi dàn hỏa và hai người lênh đênh trên

 sông nước một năm mới trở về đến quê nhà. Nhưng sử sách của nước non Chiêm phủ nhận điều đó. Ta

 hãy đọc một đoản tài liệu sử Chàm dưới đây:

 

“Vua Champa Jaya Simhavarman đệ tam (tiếng Việt gọi là Chế Mân) đã dâng hiến cho Ðại Việt vào năm

1306 hai vùng Ô và Ly (lãnh thổ của Huế hôm nay) để được kết hôn với công chúa Huyền Trân của Ðại

Việt. Sự kết hôn này đúng là một vở bi kịch tình sử. Vì rằng chưa đầy một năm chung sống với công

chúa Ðại Việt, Jaya Simhavarma đã tử trận trong một khung cảnh vô cùng mờ ám, để rồi Huyền Trân tìm

cách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung mà chưa ai hiểu được nguyên nhân nào để giải thích

 cho sự hiện diện của Trần Khắc Chung trong bối cảnh lịch sử này. Nhiều câu hỏi thường được nêu ra

vì cái chết đột ngột của vua Jaya Simhavarma đệ tam. Nguyên nhân nào giải thích cho mưu mô chạy

trốn của công chúa Huyền Trân, trong khi ai cũng biết rằng công chúa Ðại Việt này không thể hội đủ

điều kiện để xin lên giàn hỏa. Nếu theo truyền thống Champa, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được

 phép để hiến thân trên giàn hỏa với chồng của mình.” ( *)

 

    Cũng theo sử, tuân lệnh di ngôn của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, khi về đến hoàng cung

(năm 1308), công chúa được gửi vào chùa để tu đến hết đời (Khi sang Chiêm công chúa 19 tuổi, hơn

một năm sau vua Chiêm mất; lúc Trần Khắc Chung đón công chúa mới 20 tuổi) Lênh đênh sông nước

 một năm, ở tuổi 22, công chúa được đầu gia Phật giáo, tu tại núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh), năm

 1311 Công Chúa cùng một thị nữ về tu ở dưới chân núi Hổ (Huyện Thiên Bản, Nam Định) công chúa

 qua đời ở tuổi 53.(1287-1340).Hiện nay ở Huế có điện thờ Công Chúa Huyền Trân.

 

Người thời nay, ngẫm lại, chỉ trong vòng ba năm, cuộc đời của công chúa Huyền Trân

đã qua bao nhiêu thay đổi và thay đổi nào cũng là những đánh dấu ngàn thu.

 

 Công chúa Huyền Trân sang làm vợ vua Chiêm để mang về hai châu Ô, Ly (lãnh thổ Huế ngày nay)

là có thật trong quốc sử, nhưng chung quanh bộ ba: Công chúa Huyền Trân, quan thượng tướng

Trần Khắc Chung, và vua chiêm Chế Mân, có rất nhiều huyền sử.

 

Theo huyền sử kể lại:  Khi sang Chiêm gặp chồng là vua Chế Mân, một vị vua oai phong, trẻ đẹp công

 chúa không hề oán ghét, công chúa sanh cho vua một vị hoàng tử, và bình tâm sống trong địa vị và hoàn

cảnh của một bà hoàng hậu nước Chiêm. Nhưng sang năm thứ hai, Trời mở ra một trang đời khác cho công

 chúa không kém phần ngoạn mục, cho nàng được lênh đênh trên sông nước với người yêu hơn 365 ngày

. Trai tài, gái sắc, tình xưa; chắc chẳng còn gì đẹp bằng!(theo huyền sử). Năm thứ ba Trời lật trang sách

 kế tiếp (theo quốc sử.) Công chúa đi vào sau cánh cổng chùa. Nét mặt còn đẹp như hoa mận, tóc còn

 mướt như liễu xanh. Công chúa qùy xuống, cổng chùa đóng lại. Thật may mắn thay khi trang kinh được

 mở ra, những trang quốc sử, tình sử, huyền sử, được Trời đóng lại như gắp một cuốn sách, để lên kệ.

      

Một bài thơ để lại cho hậu thế về cái giá trị của một trang quốc sắc.

 

 

Công Chúa Huyền Trân

 

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô, Ly vuông ngàn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
Lòng đỏ khá khen lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn nhẩn nhau mấy đứa Hời. (Hoàng Cao Khải)

 

Chỉ sau ba ngày đầy nắng, mùa xuân thực sự đã về trên những cây hoa đào trong vườn nhà, trên những

 con lộ trong làng, chúng nở tung những chùm hoa kiều diễm. Hoa có biết là những người con gái, không

 phải là hoa nhưng nhan sắc của nàng đã viết lên những trang sử diễm lệ hay không?

 

Tháng Tư/2009

 

    (*) Để Hiểu Thêm Về Lịch Sử Champa- TS Po Dhama.

    –  Tài liệu: Tự Điển Bách Khoa