Nam Giao Lê Thiện Bình : CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ TIẾN BỘ VÀ NHÂN QUYỀN MỚI CHO VIỆT NAM

CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ TIẾN BỘ VÀ NHÂN QUYỀN MỚI CHO VIỆT NAM

TẤT CẢ CHO TỔ QUỐC VÀ ĐỐNG BÀO VIỆT NAM

 

I. LỜI NGỎ

 

     Thế kỷ hai mươi vừa qua là thế kỷ mà những hệ thống độc tài toàn trị và  chuyên chế nắm chánh quyền trên thế giới này. Chẳng hạn Quốc Xã Đức, Phát Xít Ý, Quân Phiệt Nhật và Cộng Sãn Liên Sô, Bắc Kinh, Hà Nội, Bắc Hàn, Miến Điện, Cu Ba, Lào, Cam Bốt vv, đã tạo nên những cảnh bạo lực, chiến tranh, diệt chủng, tàn sát hằng trăm triệu sinh linh, làm kinh hoàng và rung động toàn thể nhân loại. Sự bạo lực này rất đa hình và đa dạng do các hệ thống độc tài, độc đoán, đã làm đảo lộn  trật tự của thế giới cũng như làm thay đổi những nền văn hóa truyền thống, nhân bản và tôn giáo của các Quốc Gia đó. Những hệ thống độc tài tai hại đó vẫn còn kéo dài ăn dấu sự tàn phá ung mủ cho đến ngày nay. Cũng những hệ thống độc tài phi nhân bản, vô luân lý và bất đạo đức đó hằng thường trực làm thay đổi nhân tính con người. Từ một con nguời « nhân chi sơ tánh bổn thiện », thế mà với một mớ lý thuyết cộng sản, quốc xã, thì đã biến hẳn bản tính người hiền hòa, mộc mạc trở thành thú tính, có khi dữ dằn hơn cả loài thú.  Nói đâu xa xôi, hiện cảnh Đất Nước Việt Nam ta hiện tại dưới sự cai trị  đôc tài sắc máu và chuyền chế của Hà Nội trong mấy chục năm qua, là một bằng chứng cụ thể làm đảo lộn tất cả những giá trị văn hóa của cha ông chúng ta hằng có mấy ngàn năm nay. Để lại một hậu quả là một Dân Tộc vẫn còn triền miên trong đau khổ, và nghèo đói thì cứ dai dẳng bám chặt vào da thịt người dân Việt gầy yếu, thiếu dinh dưỡng. Một Đất Nước tự hào có gần 5000 năm Văn Hiến, có chiều dài lập Quốc anh hùng cùng có lòng bao dung độ lượng hơn người vv. Thế nhưng, dưới sự cai trị hà khắc của Hà Nội và Đảng gian phi của chúng, thì toàn  Đất Nước chỉ hiện hữu sự lạc hậu, kém văn minh hơn thiên hạ, còn thể chế chính trị thì phi đạo đức, văn hóa rặt toàn hận thù và sự chết cùng vô luân, cứ ngày này qua ngày khác luân chuyển trên Giang Sơn yêu dấu chúng ta.

   Từ những đau buồn và lo nghĩ ấy, thì chúng tôi muốn cống hiến cho Dân Tộc Việt cái sức hèn và trí tuệ học hỏi, nghiên cứu của mình qua những bài viết trước đây đã được qúy vị đón nhận trong tâm tình «  Tất Cả Cho Việt Nam Phú Cường, Tự Do, Dân Chủ, An Thái Và Văn Minh Tiến Bộ ».Từ tâm tình và tâm huyết này,  hôm nay chúng tôi xin thưa chuyện với quý vị qua bài viết mới này. Tiên khởi, chúng tôi nghĩ đến những thể chế dân chủ, được thiếp lập và sáng tạo nên những định chế ích lợi  cho những đa dạng của các nền văn hóa khác nhau, tuy nhiên những thế chế dân chủ này được sáng tạo chung thể cho hết con người : có nghĩa cái phẩm giá con người được phổ quát trong những đa dạng của các nền văn hóa nhân loại. Đây chính là quan điểm hòa hợp của nhân loại! Quan điểm hòa hợp này, người ta có thể bắt thấy sự hiệp nhất trong cái đa dạng, cũng thế ở bên trong hay bên ngoài biên giới của Quốc gia họ. Thế đó, Dân Chủ và Nhân Quyền là cùng một quan niệm xuyên qua dưới hai góc cạnh khác nhau, song cùng chung một lý tưởng, một mục đích đem lại tự do, no ấm và hạnh phúc cho con người. Kể từ thời tiến sử và thời nay, cái nhìn về dân chủ và nhân quyền luôn được con người quan tâm, trân trọng, vả nữa chúng vẫn còn mở rộng ý nghĩa hơn cho đến bây giờ, đó là hai hình thể hay hai phương diện chính trị của sự tin tưởng trong lý do sự hợp lý của dân chủ và nhân quyền cho người dân thời nay.

    Đẹp thay! Nhân Quyền được phát triển luôn trong lòng thế giới này, vì  kể từ hơn 60 năm qua, chúng ta thấy Nhân Quyền được ghi chép trang trọng trong những bản văn của các bản Hiến Pháp tiến bộ của con người. Và Nhân Quyền được xem là sự kết hợp với Dân Chủ, hầu từ đó những hệ thống dân chủ  có đầy đủ những ích lợi của những quy tắc và tiêu chuẩn mới hơn hầu xây dựng một Nhà Nước Pháp Quyền Công Minh cùng Dân Quyền Văn Minh và Tiến Bộ. Có được những Dân Quyền và Dân Chủ cụ thể này,  thì Đất Nước Việt Nam chúng ta mới khả thể cất cánh bay cao trong nhiều lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, mới làm cho dân được giàu  Nước trở nên mạnh.

 

II. DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN KHÔNG GÌ KHÁC CHÍNH LÀ SỰ HỢP LÝ CỦA CHÍNH TRỊ

 

    Qủa thưc sự hợp lý hay duy lý là ý nghĩa do lòng tin tưởng của con người trong cái khả năng tiến dần đến sự toàn hảo chung của một lý trí (để giảm bớt các hế thống sai lạc và nhầm lẫm của con người). Hơn nữa, nó được tỏ lộ rằng Dân Chủ  là sự áp dụng phổ quát vào sự hợp lý của chính trị thời nay. Những nhu cấu và hoàn cảnh hiện thực của nhân loại do Dân chủ mang lại, không những là một hệ thống lịch sử được nối kết với một tiêu chuẩn đặc thù được thể hiện qua dân chúng, lại nữa Dân Chủ là một hình thức phổ quát cho một chế độ cần có sự đối thoại và bản thảo về thể chế hóa : như  các qui tắc và tiêu chuẩn để chạy đều guống máy cai trị, và cho mọi trình độ chính trị có thể nhận thức – hầu từ đó, chánh quyền và người dân có được sự thích ứng do một việc phân chia quyền hành một cách chính xác và hợp lý, hợp nguyện vọng chung của mọi người. Nhờ đó họ khám phá và nhận ra đuợc những ích lợi hóa của những đa dạng quyền hành tự nhiên này, giúp họ làm khởi sắc cho một Dân Tộc thăng hóa, và thết tạo được sự hạnh phúc và an bình cho người dân mình.   

    Trong ý nghĩa hợp lý và duy lý chính trị này, chúng tôi mong sao có được một lần mọi người Việt ngồi lại với nhau trong ý nghĩ Con của Cha Lạc Và Mẹ Âu, với một tâm niệm cho Tổ Quốc Việt Nam và Đồng Bào Việt Kính Yêu. Để rồi qua việc hội nghị và bàn thảo, cũng như trong những nhu cầu đòi hỏi của tình thế cấp bách của Đất Nước và Dân Tộc hiện nay. Do từ đó chúng ta có thế đàm thoại và thảo luận cho một tiến trình tái xây dựng lại Đất Nước mình. Đây tạm gọi là phương sách giải quyết có lý do hơn cả, hầu với thời gian chúng ta có thể giải quyết cho những bế tắc và chậm tiến của Đất Nước Việt chúng ta hiện thực. Cũng từ đó người ta sẽ thấy được cái phương sách mới cho Quốc Gia Việt Nam thăng hóa với thiên hạ trong kỷ nguyên 21 tin học và kỷ thuật cao này.

   Tuy thế, phuơng sách giải quyết này không được hoàn toàn 100/100 sự tin cậy của mọi nguời dân trong một sự tiến triển cần thiết cho việc áp dụng vào đời sống hiện nay. Tuy nhiên chúng ta có thể khả tin nhờ vào một cảm nghiệm của sức mạnh vốn sẵn của giòng máu Việt chúng ta, lại thêm sự tôn trọng nhân phẩm con người, khả thể sáng tạo nên những lý do mới. Mặc dầu có nhiều khó khăn vấp phải hầu làm sao tránh được cái giá của những sự khủng hỏang niềm tin toàn diện của dân chúng, thường là do những sự nghèo khổ, bóc lột mà chế độ Hà Nội hiện nay tạo nên. Do vậy, chúng tôi nghĩ rằng cần đến niềm tin vào chế độ Dân Chủ khả thể có thể đem lại tự do, áo ấm, hạnh phúc, ắt làm giảm bớt cơn khủng hoảng và chao đảo niềm tin của người dân Việt hiện tại. Dân chủ là thể thức hiện thực của thời đại nay, một cách đặc biệt nó được xem là quy tắc căn bản, và là buớc khởi đầu tái xây dựng cho Đất Nuớc Việt chúng ta. Tât cả được dựa vào ý chí vươn lên cùng sự khắc phục khó khăn, nan giải, rồi kết hợp với sự vững chắc của truyền thống dân tộc, để qua đó niềm tin vào chế độ Dân Chủ là thực chất có thể giải quyết được sự tiến bộ cho Nước Nhà. Sự tiến bộ này hiệp lực và hỗ tương với niềm tin trong văn hóa, trong tôn giáo dân tộc, là nơi gặp gỡ và hội tụ, cũng như cuộc tranh luận giữa những con người địa phương, đến trình độ của những con người quốc gia, quốc tế và hoàn vũ, đóng góp và hội tụ được những hiểu biết đa dạng và phong phú của các nền văn minh nhân loại, giúp đưa Đất Nước Việt cất cánh bay cao trên con đường phú cường, an lạc, văn minh và nhân bản hơn (xin quý vị đọc thêm bài Chinh Trị Nhân Bản và Thuật Trị Quốc Và Giữ Nước , để hiểu những phương sách chúng tôi nói đây).

   Điều chúng tôi đưa ra này không có nghĩa là một chủ điểm không tưởng, nhưng là sự định vị, sự xác định cho một « kiểu mẫu lý tưởng » được dụng hành, và được xem là sự bình phẩm và phân tích trong chế dộ dân chủ hiện thực (xin quý vi xem thêm bài « Chính Trị Nhân Bản » để rỏ hơn những đóng góp nhỏ của chúng tôi cho Tổ Quốc Việt Nam) ; hay nữa là sự suy tính cân nhắc cho tiến trình thăng hóa Nước Việt. Do thế, những đề nghị của chúng tôi là sự xác thực của kiểu mẫu lý tưởng này qua việc Nhân Quyền.Thực vậy, bởi mỗi một người chúng ta biết rằng những tư tưởng về chế độ dân chủ và nhân quyền, thì vừa có tính cách lịch sử và có tính cách độc lập hợp lý. Thêm nữa, chúng ta muốn rằng khi nghị luận ở đây, thì được góp phần, góp sức cho sự trong sáng có tính cách độc lập, hợp lý của Dân Chủ và Nhân Quyền, đáng lưu ý bằng sự so sánh một cách có hệ thống các cách thức của nhân quyền và dân chủ trong cộng đồng xã hội và chính trị trong lòng thế giới ngày nay. Đơn cử cụ thể là Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Sĩ, Nhật, Gia Nã Đại, Úc, Hoà Lan, Thụy Điển, Na Uy vv.

    Chúng tôi nghĩ đến cách hay hơn, là bằng mọi khí cụ Nhân Quyền làm nên, sẽ được quy chiếu vào Dân Chủ, để tất yếu áp dụng vào đời sống của người dân, của thể chế chính trị hiện nay. Có như thế mới hy vọng xã hội thăng tiến và có đời sống an lành tự do thật. Thế nhưng, sứ mạng của chúng ta qua những việc dấn thân tranh đấu và nỗ lực của mình, hầu tạo nên một hình ảnh đẹp cho xã hội hôm nay (Việt Nam) vẫn còn thiếu  tính chất đậm nét thể chế Dân Chủ rõ ràng.

    Vì thế, chúng ta có thể quy chiều vào công thức đối ngẫu chính xác sau :

    Tiên khởi, Dân Chủ là một quyền hành và người dân được xem là đối trọng của Dân Chủ hiện thực trong một Quốc Gia Pháp Quyền, và chứng minh trong một thể chế chính trị nhân bản. Còn Nhân Quyền không phải thiết lập nên một số tiêu chuẩn hay quy tắc đồng nhất, song là xuyên qua nhũng sự đối kháng sâu thẩm cho tất cả những gì liên quan đến tính bất khả phân của phẩm giá con người. Nói một cách truyền thống và hợp lý của luật lý là Quốc quyền và thống nhất, do thế mà đòi hỏi chúng tôi cần khai triển phương cách tri thức luận là một việc cần thiết cho tư tưởng Nhân Quyền, có nghĩa là sự phổ quát và hoàn vũ, để nguợc lại với tư tưởng Luật Pháp đuợc viết thành quyền ở số nhiều.

 

2.1. Hai Tiến Bộ Song Hành 

 

    Qủa thực, với thời nay, thì tư tưởng của một thế hệ thứ ba của Nhân Quyền đuợc đề ra nhưng vẫn  còn  trong nhiều sự tranh luận. Có nghĩa với một phàm trù mới của những quyền khác nhau (tập hợp) đối với hai quyền trước (nhân quyền và dân chủ), để rồi nó tỏ lộ kể từ nay có thế hệ thứ ba trong tư tưởng của những quyền này, tối thiểu trong các Nước Tây Phương họ đã nghĩ đến việc đầu tiên này trong thể thức luật pháp.

    Quan niệm những quyền dân sự và chính trị cho phép xác thực các quyền quy tắc, hay là thể thức của xã hội dân sự, bảo đảm sự hạn chế và giới hạn đến sự hợp pháp của Nhà Nước. Có nghĩa sự khai triển tư tưởng xã hội cho phép sự mở rộng các quyền kinh tế và xã hội, tạo nên một sự giới hạn hợp lý của quyền hành Nhà Nước (nhưng cũng nhờ qua đó mà Nhà Nước can thiệp để nâng đỡ cho một trật tự của xã hội công chính và công bằng). Thế nhưng phàm trù thứ hai của Nhân Quyền được hiểu rằng là những quyền văn hóa. Theo Nhân Quyền, thì quyền giáo dục phải được khuyếch trương và mở rộng, thế nhưng những quyền văn hóa nói đây, vẫn còn bị xem thường trong các chế độ dân chủ trá hình, nhất là bị tước đoạt trong các Nhà Nước độc tài chuyên chế như Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng, Havana vv. Sự phát triển những quyền văn hóa, là điều mà chúng tôi muốn đề cập đến, hơn nữa các quyền nói này là thế hệ thứ ba, được gọi là bước tiến mới trong tư tưởng Nhân Quyền. Các quyền văn hóa này người ta có thể biểu hiện ra do một sự quân bình quan trọng trong các lãnh vực: như  môi sinh, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, chính trị, được xem hiện thực với hai chiều kích của chúng : có tính cách thời gian (để quân bình nhiều thế hệ con người) và có tính cách không gian (để hướng vế sự toàn cấu hoá).

    Phải chăng người ta có thể bắt thấy sự song hành ba bước đường trong quan niệm của chế độ dân chủ?

    Bước đường trước tiên là hiển nhiên, bởi vì nó tạo nên duy nhất và tư tưởng độc nhất : có nghĩa là xác định những quyền tự do dân sự được thiết tạo cho xã hội dân sự, tự nó bảo đảm chống lại sự độc tài chuyên chế của Nhà Nước, hay của tất cả mọi quyền hành khác đi ngược lại với các quyền tự do đó.

    Bước đường thứ hai người ta thấy được từ những lời phê bình gắt gao của Marx. Từ đó giúp các tư tưởng gia đạo đức nhân bản quan niệm rằng những quyền xã hội bảo đảm một vấn đề cho các hình thái tự do, cho phép sáng tạo nên những chế dộ dân chủ tốt đẹp ngàn lần hơn chế độ xã hội cộng sản. Thực thế chế độ xã hội cộng sản, mang tiếng cũng dân chủ như ai, cũng có các quyền tự do, nhưng bên cạnh đó hoàn toàn là những sự sai trái và gian dối được lập nên trên một tương quan hóa các quyền, song chỉ có tính cách hình thể (trong Hiến Pháp để trình làng với thiên hạ). Thế đó những quyền xã hội hiển nhiên có tính cách tương đối, cũng chính những quyền xã hội này có chiều kích kinh tế và văn hóa. Qủa sự không hội tố này trong việc khai triển các quyền xã hội đó đưa đến một sự giải quyết lưỡng nan cho việc làm chính trị hết sức khó khăn. Qủa thực không thể hội đủ để nói rằng các quyền dân sự làm giới hạn quyền hành Nhà Nước (gây nên tiêu cực), trong lúc đó các quyền xã hội được Nhà Nước quy chiếu mở rộng (gây nên tích cực), bởi người ta lưu lại trình độ của một sự điều giải không có lý do đồng nhất. Do thế, sự xác định những quyền kinh tế và những quyền văn hóa là một bước đường thiết yếu, được hiểu là sự chung thể của Nhân Quyền như một cách tất nhiên của các vai trò  Nhà Nước Dân Chủ hiện nay.

    Bước đường thứ ba mở ra cho con đường này, là nó đặc trưng và biểu hiệu cho một loại nhân quyền mới, đó là quyền môi sinh, quyền thông thương, truyền đạt ; hay là một chiếu hướng mới được vận hành trong sự thông biết, và là những công việc chung thể của nhân quyền : như quyền dân chúng, nhất là cần điều chỉnh lại hoặc khai triển cho quân bình hơn (như hòa bình và truyền thống chung của nhân loại). Sự khó khăn của việc canh tân đặt ra cho những chế độ dân chủ là : sự đồng nhất quốc gia trước việc tôn trọng những đa dạng và khác biệt của dân chúng. Từ đó tạo nên khó khăn cho Quốc Gia khi đứng trước  những câu hỏi của các sắc dân thiểu số (người Thượng, người Hoa, người Miên, Ngoại kiều), và đó cũng là câu hỏi của sắc dân đa số (người Kinh), thường đây là câu hỏi của sư đồng nhất hóa của các sắc dân (dân tộc), của vấn đề dân chủ hóa với sắc thổ-quốc gia hoặc địa phương, vùng, quận huyện, làng xã hương thôn, và vượt thổ-quốc gia như khu vực thế giới và hoàn vũ. Vì vậy những vấn đề môi sinh kinh tế và văn hóa gọi là những con đường khoa học rất tiến triển để định vị cho mỗi sự quân bình của chế độ chính trị dân chủ trong cùng một hệ thống hổ tương. Tất cả những câu hỏi và vấn đề chúng tôi đưa ra đây không những chỉ là việc biến cải, hay khuyếch trương hầu mang lại một hệ thống đã tạo được những bằng chứng cụ thể của chúng, nhưng đúng hơn chúng là một sự phẩm bình tận gốc về Nhà Nước, để đưa đến việc suy nghĩ lại cái động lực và sự sinh động cho chế độ dân chủ có được cách thức sâu sác sắc hơn cũng như phổ quát hơn trong lòng dân.

    Đây là ý nghĩa của việc song hành, ở giữa hai sự duy lý hay nềm tin trong sự hợp lý : tất cả được xem là chế độ dân chủ chiếm hữu một « đề tài vô cùng ». Bởi vì người Dân được xem là kho tàng quý báu của Nhà Nước, có nghĩa là một xã hội luôn mở rộng cực độ sự hoàn mỹ, còn Nhân Quyền là sự nhận định khách quan  về nhân phẩm của người dân thường bị tước đoạt trong các chế độ độc tài.

    Do đó, Nhân Quyền không do sự phụ thuộc trong sự xác định những quyền mới, hay hơn, Nhân Quyền là một lý do hợp lý mới, một sự tất nhiên được xem là thực chất và sự phẩm nghị xây dựng cho các chế dộ dân chủ lập nên điều hoàn mỹ và hoàn thiện của mình. Tóm lại, Nhân Quyền vừa được xem là sự phẩm nghị, và là thực chất của chế độ dân chủ đích thực, trong ý nghĩa áp dụng Nhân Quyền và tiếp tục tôn trọng nhân quyền trong đời sống người dân.

 

2.2. Sự  Đình Trệ và Tù Hảm

 

    Bước đường thứ ba mở ra về Nhân Quyền chúng ta vừa nói trên, là sự nhận thức của nhiều lời phê bình về những hệ thống dân chủ của chúng ta. Có nghĩa những việc hoàn toàn tôn trọng những quyền dân sự và chính trị phải phỏng chừng thích hợp với những văn kiện quốc tế (les instruments internationaux). Hà Nội chắc không đạt được những điều kiện này. Giờ đây chúng ta cần kể ra những điếu quan trọng hơn cả về những sự không hội đủ của Hiến Pháp, đê rồi qua đó chúng ta làm sự đối chiêu cùng so sánh với sự  phát triển của Nhân Quyền.

A.  Tước Đoạt Quyền Đấu Phiếu Và Bỏ Phiếu, Ý Muốn Dân Chúng Và Quyền Ngôn Luân Không Có.

   Đã mấy chục năm nay người dân Việt Nam không có cái quyền ra ứng cử và bỏ phiếu bầu Chánh Phủ để lãnh đạo Quốc Gia một cách đường đường, chính chính với bạn hữu Năm Châu.  Hoàn toàn là Đảng  mặc áo, đội mũ đóng kịch và đóng vai lãnh đạo Đất Nước đã bao phủ bao thế hệ qua của người dân Việt. Quyền Ngôn Luận và Phê Bình cũng không có nốt, 1000/1000 chỉ có cái phê bình một chiều, nếu trái ngược thì bị chụp cho cái « nón cối » phá hoại cách mạng, phá hoại nhà Nuớc xã hội chủ nghĩa,  thì chỉ có chiều đi tù mút mùa mưa nắng. Hai quyền nói này không chỉ vốn tại quyển bỏ phiếu bằng cuộc phổ thông đầu phiếu có thể liên quan đến vị lãnh đạo Quốc Gia, nhưng quyền bỏ phiếu chọn lựa vị Quốc Thủ Đất Nước là quyền tất nhiên trong Nhân Quyền của người dân, nói lên một chế độ tôn trọng sự tự do và ý muốn của dân.

    Hơn nữa, khi một Nhà Nước tổ chức một cuộc tuyển cử và bỏ phiếu bầu vị Quốc Thủ, thì cảm nghĩ chọn lựa của người dân mới được tự do. Người dân không những từ chối ông A vì lý này hay lý do nọ về tài dức, nhưng còn có một sự so sánh với ông B và được thông tin, nghe ngóng qua quyền ngôn luân của báo chí và truyền thanh vế phẩm hạnh, tài trí của các ứng cử viên vv. Thêm nữa, người dân được xem không những là hợp pháp chánh đáng, nhưng còn trong mức độ mà cái thành quả cuộc bỏ phiếu và tuyển chọn ứng viên được sự cung cấp thông tin nhiều phía như chánh quyền, cũng như dân sự cho nguồn thông tin về tiều sử và hoạt động của các ứng viên này. Thế đó, một Nhà Nước Dân Chủ đích thực, đương nhiên phải hiện hữu những quyến chúng tôi nói này. Thực tại Việt Nam ngày nay, người dân vẫn chưa có được các quyền nói trên.

 Qủa vậy có một sự mơ hồ lẫn lộn giữa cái quyền ngôn luận và ý muốn dân chúng mà Hà Nội luôn nhập nhằng, đánh lận con đen với người dân Việt.  Vì quyền ngôn luận là một trật tự hiện thời và là cái hữu ích cho chính trị, bên cạnh đó ý muốn dân chúng là thành quả của một việc làm đối thoại, tìm hiểu và được tiếp tục nhờ vào lý do này, là sự tự do của người dân được kính trọng. Chúng ta thấy xã hội chủ nghĩa Hà Nội sai lầm trầm trọng trong chiêu hướng nói trên, họ đã không xây dựng và biết tôn trọng sự tự do và cái quyền truyền thông của Báo Chí và Truyền Hình, cũng thế Hà Nội không biết tôn tôn trọng cái quyền ngôn luận và ý muốn dân chúng. Phỉ quyền Hà Nội nhắm mắt làm ngơ và bỏ ngoài tai tất cả các ý kiến xây dựng và đóng góp, cùng ý muốn của Dân chúng. Điển hình vấn đề khai thác quặng mỏ Bauxiste, vấn đế Lãnh Thổ và Hải Phận cùng Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

   Do thế, Hà Nội hết thất bại chua cay này đến thất bại chát đắng khác trên đường xây dưng một Việt Nam phú cường, an thái và hạnh phúc cho người dân !

B. Luật Đa Số Thắng Thiếu Số Là Hậu Qủa Thực Tế Những Gì Xã Hội Chúng Ta Chiếm Hữu

   Lâu nay thiên hạ thường có cái tư tưởng « đa số thắng thiểu số » trong mọi lãnh vực. Thế nhưng cái ý nghĩ truyền thống này đưa đến những mâu thuẫn được tỏ lộ rằng : đa số có thể trục lợi phẩn thiểu số, có thể ý kiến này dần dần được thay đổi cho phù hợp với thời thế hiện nay hơn. Vì vậy, phải có những hệ thống bảo vệ cho sự hợp pháp và chính đáng của Hiến Pháp cùng thích ứng với chính trị trong thời đại tân kỳ này. Do những lời phẩm nghị, và tiêu chuẩn nhân danh Nhân Quyền người ta có thể kiểm lại Hiến Pháp và xem lại Luật Pháp Quốc Gia mình, có còn hơp thời với trào lưu tiến hóa và văn minh của nhân loại chăng ? Cũng thế, Nhân Quyền cần có một quy tắc kiểm soát hệ thống đa số, cũng như cần có một hệ thống hiệu lực để kiềm soát đường lối chính trị và tư pháp, do bởi một nguồn tin tức cùng tài liệu được cung cấp qua các nhà báo trung thực, khả tín vv. Chúng ta thấy rằng Hà Nội, Bắc Kinh, Bình Nhưỡng hay một vài Nuớc dân chủ nữa nạc nữa mỡ,  hằng độc chiếm quyền hành, độc chiếm nhiếu quyền của người dân về nhiều lãnh vực chính trị, xã hội, quốc phòng vv. Đó là điều mà chúng tôi muốn nói đến, là thiểu hẳn một chiếu kích của đạo đức luân lý thời đại nay.   Do đó, là Chánh quyền thì phải bảo đảm xuyên qua từ cái quyền ngôn luận đến cái ý thức ý muốn chung của người dân, và đây là sự xứng hợp cái quyền tối thượng của người dân, nhờ qua thể chế hóa hệ thống như đối tượng sự đối thoại. Có nghĩa Chánh Quyền luôn lắng nghe nguồn thông tin đến từ dân chúng vá có sự tôn trọng những khác biệt và đa diện của nó. Chánh quyền cũng cần thiếp lập, tiếp xúc và thông đạt những nguồn thông tin đa diện này, và những kiểu quyền khác nhau này đến với mọi người dân mình.

C. Sự Độc Chiếm Chính Trị Do Một « Giai Cấp Chính Trị » Như « Bộ Chính Trị » Hà Nội.

    Trước hết, chúng ta hiểu chính trị như thế nào và chính trị là gi? Chính trị theo ý cổ truyền định nghĩa rằng là nghê thuật cai tri hay quản trị (l’art de gouverner), đó là thiết lập hiến pháp của một giai cấp chính trị với một sự phân biệt giữa những người cai trị và những kẻ bị trị. Công việc chính trị là những sung công của Nhà Nước, và những đảng phái thì làm trọng lực chung quanh. Còn từ ngữ « Nhà Nước Pháp Quyền » của Hà Nội, thì thật ra chỉ có nghĩa duy nhất cho Nhà Nước là pháp quyền, mà Nhà Nước đó không ai khác hơn là « Bộ Chính Trị ». Còn người dân thì không có pháp quyền mà tùy quyền theo Nhà Nuớc Hà Nội. Vì thế, phải hoàn toàn có sự phân tách rõ ràng những quyền hành trong xã hội Nhà Nước Việt Nam chúng ta hiện nay, hầu tránh được những bất hạnh, sự tồi tệ thường xảy ra giữa Nhà Nước và người dân Việt. Và chỉ có theo đường lối này Nhà Nứớc mới chính danh là một Nhà Nước Pháp Quyền. Nhất là để cho giòng nước lớn dân chủ được chảy xuyên thâu qua mọi ngỏ ngách, khu phố, xóm làng, quận huyện của Việt Nam. Đẹp nữa, đó chính là sự phát sinh tản quyền, chia quyền và tôn trọng Nhân Quyền thực sự của đường lối nghệ thuật chính trị và cai trị của thời nay.

    Sau nữa, ngữ nguyên nghĩa của chính trị là nghệ thuật tổ chức (thiêt lập và duy trì). Ngữ nguyên học của từ chính trị, cũng có nghĩa là đời sống dân sự. Trong trường hợp này, thì chính trị liên quan đến tất cả mọi người dân và mới gọi họ tổ chức đời sống dân sự về nơi chốn họ làm việc và sinh sống, cũng như giữa lòng những xã hội khác nhau, để từ đó tất cả mọi người dân đều được kêu mời tham dự phần đóng góp của mình vào chính trị để thăng hoá Đất Nước. Chúng ta thấy những quốc gia theo chế độ dân chủ có được sự sung công rộng rãi các quyền hành, và họ không những tôn trọng các ý kiến  và ý muốn của đại đa số người dân, những cũng còn tôn trọng và chấp thuận những ý kiến hữu ích của phần thiểu số người dân. Tối thiểu là họ sáng tạo nên những nơi chốn mới, những thể thức mới phù hợp với những tư tưởng mới về luân lý và đạo đức cho thể chế dân chủ ngày nay.

D. Không Minh Bạch Sự Tách Biệt Các Quyền Hành    

    Thực tế, chúng ta thấy sự phân chia ba quyền hành theo thể chế dân chủ đích thực, thì thật ra không có ở Việt Nam, dù có đi nữa thì hoàn toàn không có sự tôn trọng trong xã hộị Việt Nam hiện thực. Hà Nội đừng ngụy biện và không thể nào lý giải được điều đi ngược trào lưu dân chủ này. Vì chúng ta chỉ thấy sự độc chiếm chính trị và quyền hành là quá dễ dàng đối với các chế độ độc tài như cộng sản. Bởi  Hà Nội cho phép tập trung ba quyền hành lại thành một quyền độc chiếm cho Đảng, trong lúc đó sự tách biệt ba quyền hành rất cần thiết phải có hầu sinh động chế độ, là một nhu cầu có hệ thống cho quyền hành của guồng máy chánh quyền thời nay. Do đó mà sự tản quyền và phân chia quyền hành theo chế độ liên bang, hay chế độ làng xóm hương thôn theo địa lý của ông bà ta ngày xưa, xuất hiện và sinh thành như một ý thức thiết yếu cho việc làm chính trị thời nay vậy.

E. Độc Chiếm Quyền Hành Càng Sinh Sôi Nảy Nở

    Như chúng tôi đã nói trên ba quyền Hành Pháp, Tư Pháp và Lập Pháp, thì Hà Nội gom lại một quyền cho mình là Đảng Quyền, mà nhiều lần chúng tôi đã để cập đến tính cách phi chính trị và vô văn hóa của họ. Qúy vị đã rõ báo chí, truyền thanh, truyền hình được xem là  một cái quyền đối với các xã hội tự do dân chủ. Và  quyền hành tự do thông tin và in ấn đó được Nhà Nuớc tôn trọng hầu như tuyệt đối ở các Nước Dân Chủ Tây Phương, mà có lần chúng tôi đã nói là Quyền Báo Pháp Và Ngôn Pháp. Thế nhưng cái quyền hành thông tin và in ấn này hằng luôn chịu sự áp lực và kiểm soát thường trực của Hà Nội. Tiếp nữa, các quyền văn hóa và giáo dục cũng có bàn tay thuồng luồng của Đảng thò tay vào cấm đoán và xiêt chặt. Lý thực Hà Nội muốn được tiếng là có Nhân Quyền và Dân Chủ, thì ngay từ bây giờ phải duy trì và thiết tạo lại những quyền hành văn hóa đa dạng này, hầu tạo bộ mặt xứng danh nhân bản, tiếng thơm  cho dân tộc là văn hiến, hầu làm sinh động cho xã hội dân sự có văn minh với thiên hạ bốn bể, năm châu.

F. Thiếu Sự Xác Thực Của Những Công Dụng Quyền Hành Và Nhà Cầm Quyền

    Thực thế, quần chúng và người ta thường có sự nhẫm lẫn và lẫn lộn về chính ý niệm của quyền hành và nhà chức trách (người cầm quyền). Vì khi đi theo ý niệm này, chúng tôi vẫn còn thấy được sự phổ quát trong xã hội, điểm này rất nguy hiểm dễ tạo nên cho quyền hành hay người cầm quyền có được sức mạnh và quyền lực, dễ trở thành chế độ độc tài. Trái lại, là những chế độ dân chủ, thì quyền hành và nhà cầm quyền phải mãi ở trong một tương quan yếu. Vì khi sức mạnh chính trị vẫn lưu mãi sự lẫm lẫn này với sự bạo lực của Nhà Nước và công an cùng cảnh sát, tất tạo nên những kinh hoàng cho dân chúng. Tại sao vẫn còn mãi quyền hành và Nhà Nước như thế, mà không thấy nó yếu đi ?  Lý thực là xã hội Việt Nam này không có một sức mạnh xác thực của chế độ dân chủ.

    Qua sự hiện thực của hai công dụng quyền hành và Nhà Nước (tích cực hay tiêu cực, trái quyền hay hợp quyền) mà chúng tôi đưa ra đó, tất nhiên Nhân Quyền được sinh thành như những tiêu chuẩn căn bản không thể loại bỏ cho cộng đồng chính trị đó, nhất là cho Việt Nam hiện nay.

G. Thiếu Sự Bình Đẳng Hay Vấn Đề Nan Giải Của Chủ Nghĩa Bất Bình Đẳng

    Những gì chúng tôi đã nói ở các phần trên, thì thường là những câu hỏi liên quan đến những vấn đề và những nan giải cụ thể của xã hội chúng ta sống (VN) : Có nghĩa cái quyền khác nhau không chỉ một quyền cá nhân mình được bảo vệ, song quyền đó cũng là quyền hữu ích cho xã hội. Qủa khi chúng ta quan sát xã hội Việt Nam hiện nay về những sự khác nhau, thì chủ nghĩa bất bình đẳng cho biết bao là quyền lãnh đạo của Đảng quyền cho đến quyền lãnh đạo của Bộ Chính Trị, tạo nên vô vàn thủ đọan và  những phương sách hèn hạ, làm thiết hại chung cho xã hội và Đất Nước. Hà Nội và Đảng quyền là điển hình của cái độc quyền bất bình đẳng này. Cho cá nhân người Việt, thì thiếu tự do và đôi khi nó giết chết cái quyền căn bản biện luận, quyền khai tâm và thụ giáo cùng quyền bình phẩm và phê bình.

   Thế đó, chúng ta phải tỏ thái độ định rõ về tiểu đề nói này, và nên đặt lại câu hỏi cái quyền bình đẳng căn bản giữa hết mọi người với nhau : lý do không nên có sự phân biệt, vì khi có sự phân biệt này, thì không có nhân quyền. Tuy nhiên, cũng cái quyền loại giống, chẳng hạn quyền phụ nữ, quyền trẻ em (droit des femmes, droit des enfants … thì người ta tạo nên những sự phân biệt không độc đóan và tíêu cực, đó là sự cần thiết để chúng ta cảm thấy được những con đường không bình đẳng của các quyền về loại giống và thể lý, tâm lý, từ những quyền trừ ra này là chứng minh bởi những sự không bình đẳng của bổn phận đến việc làm và sự phục vụ của sự phát triển xã hội và nhân loại . Có nghĩa chẳng hạn, phái nữ thì không thể đòi hỏi mình làm các việc nặng như phái nam, hay trẻ em cũng thế, hoặc bắt một người bệnh họan làm việc như một người khoẻ mạnh được, đó là vần đề thể lý và tâm lý như đã trên.

    Một cách nghiêm túc, chúng ta có thể lấy lại những lời phẩm nghị của Triết gia Platon. Ông nghĩ rằng chế độ dân chủ cung cấp sự bình đẳng đến cho những ai là bình dẳng cũng như cho những ai là không bình đẳng. Qua đó, có hai trình độ của sự bình đẳng, đó là quyền và đó là thẩm quyền (quyền hạn). Chớ gì chế độ dân chủ của chúng ta chắc chắc không còn có sự cảm thấy những khác nhau này, để cho phép chúng ta tôn trọng sự bình đẳng của quyền trong cái sự chấp thuận những sự không bình đẳng của quyền hạn hữu ích cho hết mọi người. Như Nietzsche đã là nhân chứng của sự phản kháng này chống lại cái tầm thường trong suốt chiều dài của hệ phổ học luân lý, khi ông khẳng định lời mình rằng phải bảo vệ bênh vực những người mạnh chống lại những kẻ yếu. Cách thức này qủa là rất nguy hiểm, song cách thức này không thể uốn cong ý nghĩ này. Đơn cử như câu nói của Mao Trạch Đông « sức mạnh của Đảng trên đầu súng » hay có thể nói sức mạnh của người mạnh trên đầu súng chống lại kẻ yếu. Vì nhân dân làm gì có súng mà chống lại Đảng.Và đây là cách thức mà các tay bạo chúa, độc tài, quân phiệt và cộng sản áp dụng triệt để với dân chúng tay không chống đối họ.  

    Để từ đây, Nhân Quyền xứng hợp với sự tự do và sự bình đẳng, nhất là sự phát triển của nó cho phép chúng ta vạch ra con đường dân chủ tiến bộ, hầu xử dụng cái hiệu năng phong phú và hợp pháp của người đối lập, là có tính cách khách quan chống lại những gì sai trái và tội ác của cái chế độ vô nhân đạo của  cộng sản.

 

III. HIỂU NHÂN QUYỀN TƯƠNG ĐỒNG VỚI NHỮNG QUAN NIỆM DÂN CHỦ

 

    Quả sự  phân loại Nhân Quyền và dân chủ là hai phàm trù hoàn toàn phân biệt rõ ràng, thì Nhân Quyền biểu lộ một đối kháng trong một chế độ : bởi vì chính xác hơn mà nói nếu chúng ta đi vào chọn một trong hai quan niệm đối kháng với quyền hành, thì thường là một sự điều giải giữa hai phàm trù này. Để quyền hành Nhà Nước không thể đu đưa giữa hai bổn phận tích cực của minh, là sự tôn trọng những quyền dân sự, le respect des droits civils, và bổn phận nữa cũng tích cực tôn trọng những quyền xã hội, le respect des droits sociaux của người dân. Nhưng trong thực tế, thì Nhà Nước như Hà Nội hầu như không bao giờ thể hiện được sự tích cực tôn trọng hai quyền này của dân Việt.

 Bởi một thể chế dân chủ như ngày nay, đương nhiên sáng tạo nên những cơ cấu mới này. Có nghĩa Nhà Nước chính xác được xây dựng trên hai xác thực của quyền hành này, nó xác định cho sự tiến bộ của việc cai trị.Thế đó, một sự tiến bộ nền tảng của dân chủ không vốn tại ngay lúc sáng tạo nên những bổn phận tích cực của Nhà Nước, hầu hữu ích cho những quyền dân sự, lý thực thì cần một sự giáo dục và học hỏi những quyền căn bản xã hội để cho mỗi một người dân có thể hiểu, rồi hưởng được những quyền dân sự hiệu nghiệm này. Để rồi từ đó những bổn phận tích cực của Nhà Nước có lợi cho những quyền xã hội, có nghĩa là sự tôn trọng những sáng kiến cá nhân và tôn trọng chung những quyền tự do thiết yếu của quần chúng, hầu phát triển xã hội dân sự cho những quyền xã hội thăng tiến luôn mãi trên đường văn minh tiến bộ.

   Quả như người ta muốn có được sự tiến bộ trong cái xác thực của các quyền hành bằng tính cách dân chủ, thì phải hiểu không chỉ là Nhà Nước nghĩ đến, mà cả những người đối lập nữa, hai bên cần  thương lượng cho những sự xem trọng các quyền này của dân, đây được xem là xây dựng trên sự cao thượng của hai bên. Trong mục đích này nó vừa xứng hợp vừa thích đáng, và lý do chính xác hơn, thì người ta dựa vào lý thuyết chính trị cho mỗi một thời thế để tôn trọng tư tưởng nhân quyền : như lịch sự, tế nhị, tính cách xã hội, quân bình và đồng nhất. Khi Nhà Nước và Dân chúng hợp tác với nhau cho một mục đích thăng tiến Đất Nước và hạnh phúc của người dân, đòi hỏi hai bên luôn có sự tưong kính và tôn trọng những quyền và thẩm quyền của nhau.

 

3.1. Sự Lịch Sự& Tế Nhị : Dân Chủ  Dân Sự Và Chính Trị

 

     Người ta khẳng định rằng việc đóng góp cho quan niệm mới của thời đại hôm nay, đó là bảo đảm một sự phân biệt rõ ràng giữa xã hội dân sự và Nhà Nước.  Như thế nguời ta xem đây là sự xem trọng nhân phẩm con người, không là theo ý Nhà Nước nhưng là theo ý dân. Vả nữa đây là phong cách lịch sự, tế nhị của dân chủ dân sự và chính trị nhân bản của thời nay.

    Tuy nhiên người ta quá thường giảm thiểu sự đối kháng nhị thức giữa cá nhân người dân và Nhà Nước. Từ đó người ta hạn chế bớt những quyền dân sự và những quyền chính trị, chính là những quyền thực chất của cá nhân người dân. Lý thực cái quyền cá nhân là một cái quyền ưu đẳng, hợp pháp phải cần được Nhà Nước tôn trọng luôn trong ý thức và trong các guồng máy chánh quyền. Quyền đó nên bộc lộ ngay từ buổi đầu mà những tự do của dân chúng được thể hiện và áp dụng vào xã hội, cũng như vào các công việc của họ.Vì khi Nhà Nước thực hành và tôn trọng các quyền dân sự này cho dân mình, thì tất nhiên phương sách chính trị hợp với lòng dân và đem đến cho Nhà Nuớc một sự hợp tác song phương được vững bền, tất nhiên nhờ vậy mà Nuớc Nhà mới thăng hoa.

    Nếu như Nhà Nước cứ khăng khăng bảo thủ lập trường mình, mà cứ hạn chế các sự tự do và quyền dân sự đó, thì Đất Nước khó thăng tiến. Vì xã hội dân sự đã là phần tử của trình độ cá nhân (góp lại), do đó, Nhà Nước phải bảo đảm cái độc quyền của những quyền hành riêng của chính trị dân sự này. Cũng thế, bên cạnh đó sự đòi hỏi tôn trọng xã hội dân sự, được xem là một sự xuất hiện bình thường của việc đòi hỏi chính đáng cái quyền tất nhiên của người dân, và xem đây là sự tôn trọng chủ nghĩa tự do mà một Nhà Nước Pháp Quyền, Dân Chủ Dân Sự phải thích nghi và đáp ứng nguyện vọng của người dân. Thế đó, tất cả những cái quyền chúng tôi nói này, không gì khác hơn là một sự đòi hỏi, một sự tôn trọng những quyền tổ chức nghiệp đoàn, những quyền đồng nhất văn hóa và khác biệt văn hóa, những quyền thiếp lập hội đoàn, hiệp hội, đảng phái đối lập vv. Bởi tất cả những quyền chúng tôi vừa nói đây, thì chúng ta thấy rõ ràng Hà Nội không theo đuổi chính sách thể chế « Dân Chủ Dân Sự », mà chỉ theo đuổi đường lối phi chính trị và phi nhân quyền, không thực thi và tôn trọng những quyền tất nhiên này cho dân chúng Việt Nam chút nào.

    Sự xác thực và khẳng định rằng những quyền dân sự và xã hội này gắn liền với chế độ dân chủ hay Nhà Nước Dân Chủ của thời nay. Bởi Dân Chủ là gì ? Dân Chủ định nghĩa là của dân.Hơn nữa nguyên nghĩa học của nó, là được cấu tạo và mặc lấy những cơ cấu xã hội do thị dân và chính trị với một nghê thuật cùng kỷ thuật cai trị và điều hành. Có thể qua cái nhìn và quan niệm này giúp chúng ta hơn cái ý nghĩa Dân Chủ và những gì Dân Chủ phải có cho dân Việt chúng ta thời nay.

    Nhất là, với quan niện Nhân Quyền vốn tại cho chúng ta lưu ý những gì là quy tắc, thì đó không phải là Nhà Nước nhưng là xã hội dân chủ. Những khoản uớc chung thường được biết đến trong chính trị, chính là những quyền tự do công chúng trong một xã hội dân chủ, nó vừa có tính cách hợp pháp vừa có tính cách nghiêm túc của Nhà Nước tôn trọng các quyền tự do này. Bởi đây là quan niệm căn bản cho ý nghĩa dân chủ tiến bộ mà một Nhà Nước văn hiến phải theo đưổi. Theo sự phân tích của chúng tôi, thì cái ước khoản này có hai chức vụ : thế công chống lại lý do Nhà Nước phi dân chủ hay là lý do không có Nhân Quyền.

    Bởi những sự tự do chỉ có thể phát triển trong sự sinh động của một xã hội dân sự mạnh mẽ, chính xã hội đó được Nhà Nước tôn trọng những quyền dân sự và sự tự do của dân chúng, và Nhà Nước đó biết xã thân phục vụ dân hết mình. Vai trò của Nhà Nước không phải là áp chế song là sự tương quan : có nghĩa là phục vụ dân, và chiếu kích quyền hành của Nhà Nước vốn tại trong cái khả năng phục vụ của mình, để ghi đậm những nét chữ thương dân, tạo sự hợp nhất và tôn trọng những đa dạng của văn hóa và các quyền lợi cùng quyền tự do của người dân. Chúng tôi đau khổ và buồn tê tái! Vì Hà Nội chưa làm được một điều tốt đẹp trên cho người dân Việt tí nào.             

     

3.2. Tính Cách Xã Hội : Dân Chủ Xã Hội Và Từng Phần Kinh Tế

 

    Qủa khi các nhà đạo đức hoặc các tư tưởng gia bình luận về các tự do mà nguời dân trong một xã hội bình thường không có, đây là một khuynh hướng thường thấy ở các Nhà Nước bảo thủ độc tài hay vi phạm. Lý ra Nhà Nước đó phải có sự tôn trọng các quyền tự do này, và cần thiết lập cho người dân mình. Như chúng tôi đã nói ở các tiểu luận trên, thì những quyền tự do này bản chất tự nhiên thuộc hẳn về xã hội. Và với quan niệm này người ta có thể nói một cách chính thức rằng đó là chiếu kích thực tế của các tự do. Thực vậy, những điều này tất cả bắt nguồn từ xã hội, hay có tính cách xã hội và đời sống dân sự.

    Vì thế người ta nhấn mạnh về những bổn phận tích cực của Nhà Nước, qua đó Nhà Nước trở lại cái trách vụ đưa ra một công việc, một chính sách và một phương trình chính trị tạo nên nhiều việc làm cho người dân, bảo đảm đời sống an sinh xã hội, bảo hiểm sức khỏe cho dân và lo nâng cao đời sống giáo dục cho dân vv. Một Chánh Quyền thương dân thật, đương nhiên các bổn phận này họ phải chu toàn đến nơi đến chốn cho dân mình. Thế đó, sự yêu sách của những quyền xã hội tự tạo nên bởi những tự do của việc làm, tự do của người làm, nhưng đáng lưu ý hơn, là một trong những quyền tự do này là sự tự do nghiệp đoàn. Điều này có nghĩa sự phát triển xã hội tất yếu có tính đối kháng : đó là  những quyền hành thuộc về lẽ sống của người dân, đó chính là những quyền hành nghiệp đoàn, quyền hành của các công nhân, của  các thợ thuyền, của những cán bộ, của những người tiêu thụ vv. Những cơ cấu nghiệp đoàn đa dạng cuả xã hội dân sự hữu ích này khi cộng tác với Nhà Nước, ắt người ta thường thấy đem lại những phúc lợi to tát cho người dân và Nhà Nước. Do thế, để thực hiện hoá các việc có tính cách xã hội dân sự này, đương nhiên Nhà Nước là người có trách nhiệm và bổn phận nâng đỡ, bảo vệ các quyền xã hội này chạy đều. Đây chính là nguyên tắc đem lại cho Đất Nước giàu mạnh và dân chủ, thế nhưng Hà Nội chưa làm được điều này cho Dân Việt chúng ta.

    Lý do Hà Nội chưa làm đưọc điều này, vì Hà Nội vẫn còn đeo đuổi mãi cái « xã hội chủ nghĩa » lỗi thời và vẫn còn đeo riết một chế độ độc Đảng và độc chiếm quyền hành, lại nữa tệ nạn tham những hối lộ, được xem như một chính sách thả lỏng của Nhà Nuớc, làm đình trệ và trở ngại cho công việc giao thương quốc tế, cùng kinh tế không thể nào phát triển mạnh được. Chúng ta biết những gì liên quan đến cái quyền đưa vào thị trường lao dộng hiện nay để làm quân bình cho cán cân kinh tế, là Nhà Nước cần tạo được sự uy tín với thương trường ngoại quốc, cũng như tạo khả tín với người dân minh. Lại nữa, Nhà Nưóc cần tạo nhiều việc làm cho dân chúng, cái quyền làm việc và có việc làm cần đi đôi với nhau. Do vậy, điều quá rõ ràng rằng những trách nhiệm phục vụ Đất Nước, là Nhà Nước và ngưòi dân đều được chia sẻ và gánh vác cùng nhau. Hơn nữa theo ý niệm đạo đức Nhân Quyền,  thì đây chính là sự tất yếu bổn phận của mọi người để xã hội con người được tiến bộ và phát triển mọi mặt.

    Nhìn lại Việt Nam hiện nay, đã một phần tư thế kỷ qua Hà Nội đi theo chính sách « đổi mới ». có nghĩa mở rộng thị trường kinh tế, nhưng phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Đảng Cộng muốn. Đúng hơn thị trường kinh tế phải ở trong chế dộ dân chủ tự do mới tươi nở được, vì nó là con đẻ từ chế độ dân chủ tự do này mà ra, tất làm phát sinh sự phú cường và hạnh phúc cho người dân. Thế nhưng những « Bộ Óc Trí Tối » của Hà Nội đi ngược đời và lội ngược giòng với định luật tự nhiên của tiến trình tiến hoá của nhân loại, nên Đất Nước cứ còn nghèo đói và lạc hậu, kém văn minh khoa học cùng kỷ thuật dài dài.

   Như đã nói trên, những yếu tố kinh tế của Hà Nội hiện thực không đủ phát triển mạnh, và những thành qủa của nền kinh tế cũng như tính cách khoa học kinh tế vẫn còn ì ạch, ì uởi như con « rùa bò »  so với Thái Lan, Mã Lai, không dám so với Đại Hàn và Đài Loan. Hà Nội không thực tế và dám đương đầu với thực tại, mà Nhân Quyền cùng thể chế Dân Chủ Tiến Bộ đòi hỏi Hà Nội phải dứt khoát rủ bỏ cái chế độ xã hội chủ nghĩa và độc Đảng lỗi thời phản lại tiến bộ và văn minh như hiện nay. Để từ đó trong thể chế Dân Chủ và trong tư tưởng Nhân Quyền mới cùng với Nhà Nước Pháp Quyền, hợp với người dân yêu chuộng tự do, ắt có được sự tương hổ và tương trợ trong những quyền tất nhiên và bổn phận đối với xã hội và Đất Nước của người dân, thì mới hy vọng đưa Việt Nam ra khỏi những bế tắc hiện nay, hầu Đất Nước mới có thể cất cao trên con đường chính trị và kinh tế, văn hóa cùng khoa học kỷ thuật với người ta.

   Thực thế những gì chúng ta tin tưởng vào các chiều kích kinh tế, trong sự học hỏi các quyền phổ quát đến sự phát triển, đưa chúng ta vào một giai đoạn thứ ba liên quan đến thế hệ thứ ba trong ý nghĩa Nhân Quyền mới hiện nay, mà chúng tôi bàn luận với Qúy Vị đây cho tiến trình dân chủ hóa cùng kính tế hoá  hoặc khoa học và kỹ thuật hoá mọi mặt và mọi phương diện cho Đất Nước Việt Nam thăng hóa.  

 

3.3. Những Sự Quân Bình : Môi Sinh Dân Chủ Và Triển Nở Kinh Tế

 

    Sự diễn tả « thế hệ thứ ba » của Nhân Quyền thường chỉ rõ những quyền mới. Thực điều này cho một cái quyền và luật quân bình môi sinh, có nghĩa là phát sinh những quyền mới được thích nghi với xã hội mới, với trào lưu mới cho quân bình với sự tiến hóa của nhân loại ngày nay, mà người ta thực hiện hóa những quyền mới nói này vào Quốc Gia của mình. Bởi thế một đôi khi người ta nhầm lẫn những quyền chỉ rõ này như những quyền chung, là quyền cộng đồng, nhưng trong lúc đó, những quyền mới này là Nhân Quyền, là một chiều kích căn bản thuộc về cá nhân được mở rộng và phát triển ra hơn.

    Do vậy để có một sự quân bình này đáng cho chúng ta lưu ý, đó là kinh tế và môi sinh của việc phát triển kinh tế phải cho người dân được tự do đầu tư cùng khai thác: nhờ đó nó mới  vượt qua được những biên giới và đến được với mọi người trong thế giới này (ý nghĩa kinh tế thị trường và toàn cầu hòa nằm trong quan niệm này). Đây vừa có tính cách những quyền cá nhân được triển nở trong một bổn phận hợp tác giữa người dân và Nhà Nước. Do thế, kể từ đây tôi là công dân của một quốc gia, thế nhưng mỗi một người cũng là công dân của thế giới, là đối tượng và chủ đích của những quyền và những bổn phận không hẳn đối với đồng bào mình thôi, song là đối với tất cả mọi người khác, những người ở xa xôi ở trong thế giới này.

    Thế đó, những quyền mới này là những quyền cần được áp dụng và trải rộng hơn cho việc toàn cầu hóa hiện nay. Những quyền mới này được đưa vào Nhân Quyền như sự hợp lý để người ta có thể thấy được cái hay, cái tốt của một phương sách chính trị tiến bộ. Những quyền mới này không đặt trọng chủ đề cá nhân nữa, nhưng trái lại, là một sự trải rộng do cái quyền mới này và cái bổn phận mới này qua những đa dạng khác nhau cấu tạo nên một xã hội phốn thịnh. Đề rồi từ xã hội đó, dần dần với thời gian người ta cảm thấy mình không những là công dân của một địa phương, song họ bước một bước nữa thì đến châu vùng, bước một nấc thang xa hơn thì minh là công dân thuộc về thế giới hoàn vũ.

    Như thế những quyền xưa và những quyền mới này là đối tượng của ý thức, với những cấu tạo của chính trị và kinh tế mở rộng của ngày nay, làm nên một sự khuyếch trương mới vượt qua khung cảnh của các Nhà Nước có tính cách địa phương và cục bộ. Thực thế, chúng ta thấy có thế hệ thứ ba trong tư tưởng nhân quyền kể từ lúc những quyền mới này càng ngày càng được trải rộng hơn, chưa thấy thu hẹp lại ở các Nước dân chủ tiến bộ. Lý hơn càng ngày vị trí của những quyền mới này có tính cách phổ quát và hoàn vũ. Chủ đích của quyền mới này không là mơ hồ, song nó đã tạo được sự vuợt qua từ sự giới hạn của Nhà Nước cục bộ, đến sự can thiệp và hợp tác của mọi Nhân Quyền tất yếu của ngày nay, đã tạo nên sự độc lập và trách nhiệm chung cho con người.     

  Muốn được một xã hội tốt đẹp như nói đây, thì những quy tắc này cần được đào tạo, học hỏi- nhưng với  thực tế, thì là một sự khó khăn không thể tránh được : bởi từ những khó khăn của xã, huyện, vùng, địa phương, sắc dân đa số, thiểu số, những cơ cấu siêu luật pháp và hiến pháp của Hà Nội hiện nay, họ thường hành động tùy tiện làm cản trở cho phương sách áp dụng kiểu xã hội mới nói này. Tuy nhiên để đạt đến một hiện thực này, tất nhiên đòi hỏi chúng ta phải làm chủ được những quyền và bổn phận này, vì đó là điều thiết yếu để chúng ta trở về lại với những quyền thiết thực này mà người ta xem thường hay quên lãng : đó chính là những quyền văn hóa và giáo dục, mà người dân Việt cần đòi hỏi cho bằng được những quyền này.

  Đất Nước Việt Nam và người dân có giàu mạnh, thăng tiến, nhân bản, hạnh phúc, an thái cũng nhờ vào sự tôn trọng và phát huy những quyền văn hóa và giáo dục này (như loại bỏ học thuyết Marx, loại bỏ sự giáo dục trẻ con lòng hận thù và đấu tố vv.)

 

3.4. Những Sự Đồng Nhất : Những Văn Hoá Dân Chủ

 

   Khi chúng ta đã có được cái quyền giáo dục (theo ý dân), tất nhiên sự hợp lý này xuất hiện những quyền xã hội. Thế nhưng dưới chế độ Hà Nội hoàn toàn không có được những quyền dân sự này, do thề những quyền văn hoá tất nhiên vẫn còn trong tình trạng là chậm tiến kém phát triển và lạc hậu. Cái quyền nguời dân đưọc tham dự mọi mặt vào văn hóa để thăng hoá mình và thăng tiến Đất Nước, thức nó nằm trong chiều tư tưởng của Nhân Quyền. Lý ra Hà Nội không nên có tính cách áp chế, cưỡng ép dân học theo chính sách giáo dục của Nhà Nước hay Đảng. Buồn thay một Đất Nước có gần 90 triệu dân mà không có được một đại học, trung học, tiểu học tư thục do người dân sáng lập ra. Bởi qua Tuyên Ngôn về quyền phát triển vào năm 1986, thì Liên Hiệp Quốc đã nhấn mạnh đến cái quyền đồng nhất văn hóa này. Thế đó, các tôn giáo phải có được sự đóng góp vào sự giáo dục và văn hóa cho con cháu mình, thế nhưng cái quyền này đã bị Hà Nội tước đoạt. Vì với một chính sách ngu dân hóa, vô luân hoá, phi đạo đức, nay lại thêm Hán hóa, đã làm băng hoại bao thế hệ con dân Việt Nam.

    Cũng thế, cái quyền giáo dục và văn hóa này cũng liên quan đến các sắc dân thiểu số, liên quan đến các sắc dân khác sống trong Đất Nước mình, cũng như liên quan đến các người tàn tật, bệnh tâm thần vv. Tất cả những quyền này tạo nên sư đồng nhất văn hóa. Bởi sự xác thực văn hóa của Nhân Quyền cần cho chúng ta lưu tâm đến sự đồng nhất của những chiếu kích đa dạng về chủ thể cái quyền này, mà mỗi thành phần là cá nhân tham dự vào một thực thể : là gia đình, thành phần xã hội, chủng tộc, dân tộc vv.

    Như thế, chính văn hóa tạo nên sự đồng nhất của một dân tộc, và mỗi một người trong dân tộc này không cảm thấy mình lẻ loi. Cũng chính văn hóa thiết tạo nên sự sinh động của xã hội dân sự, là nơi sự gặp gỡ và hội tụ giữa những cái khác biệt căn cước. Một điều hệ trọng là người ta thường quên rằng văn hóa là nguồn gốc và nền tảng cho chế độ dân chủ. Chính quyền hành của dân tộc do người dân, thế nên văn hóa phải là đối tượng quan trọng cho chính sách của Quốc Gia. Nhất là, với những thể chế dân chủ mới hiện nay thì người ta hoàn toàn cậy dựa vào sự giáo dục và văn hóa. Chúng ta hãy xem Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Ý, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Nhật, Gia Nã Đại, Úc vv. : Nhờ đâu Quốc Gia họ tiến bộ về mọi mặt chính trị-kinh tế, khoa học- kỷ thuật một cách nhanh chóng, là vì họ biết tôn trọng văn hóa và đặt nặng cái quyền giáo dục người dân lên hàng đầu của chính sách Quốc Gia mình, và dùng một ngân sách lớn cho sư giáo dục đào tạo nhân tài, cùng trọng vọng và ưu đãi các giáo sư, giáo viên (xin quý vi xem thêm bài Thuật Tri Quốc và Giữ Nước. chúng tôi có bàn đến những sách lược này)

    Khi một chế độ xem thường văn hóa dân tộc cùng tước đoạt cái quyền giáo dục của người dân, tất đưa đẩy quốc gia mình đi đến sự lạc hậu, nghèo đói, bất ổn an sinh và lắm tệ đoan xã hội nảy sinh. Buồn thay và tủi nhục thay! Duới sự cai trị của Hà Nội, Việt Nam ta nằm trong số những quốc gia lạc hậu kém văn minh này và xã hội đầy dẫy tệ đoan cùng tội ác xảy ra từ ông cán bộ cao cấp đến người dân thường.

 

IV. DÂN CHỦ LÀ BIỆN CHỨNG PHÁP VÀ  SỰ TÔN TRỌNG NHÂN PHẨM

 

    Như chúng tôi đã nói thế hệ thứ ba này phát sinh từ trong tư tưởng Nhân Quyền, thế nên cho phép chúng ta cần nghĩ lại về  cái song quan luận của chế độ dân chủ trong những hướng luân chuyển  giữa : sức mạnh-yếu kém, ổn định-bất ổn định, khác thường-bình thường, uy quyền-đa số. Theo những tư tưởng gia kinh viện nghĩ rằng chánh quyền hay người cấm quyền thực, thì phải có bổn phận và sự hy sinh phục vụ dân. Vì hành động đó được xem như một nhân đức dân chủ tự do, tạo thành những nguyên tắc ổn định và sự hiệp nhất, cùng liên kết dân chủ đa nguyên (le pluralisme démocratique), để rồi được xem như sự tương đối. Vì vậy những sự phát triển kinh tế, chính trị và luật pháp hiện nay không thể đi ngược lại tính cách đa nguyên dân chủ, thế nên phải cần đến cái chủ nghĩa tương đối trong cái trật tự của lẽ tự nhiên, vì đây có tính cách đa số người dân ưa thích con đường dân chủ kiều này (xin dọc thêm bài  Chinh Trị Nhân Bản và Thuật Trị Quốc Và Giữ Nước).

    Thêm nữa, Nhân Quyền cung cấp những tư tưởng thiết yếu cho việc khai triển những biện chứng pháp này, bởi đó là sự tin tưởng một cái quyền con người, do thế cần hiện thực một sự đòi hỏi phải tôn trọng một cái quyền đối kháng hợp lý khác trong thể chế dân chủ đa nguyên của thời nay.

 

4.1. Những Tiêu Chuẩn Của Một Biện Chứng Pháp Xác Thực

 

  Những nhà dân chủ rất kính nể khi nhận ra ở Hegel là một tư tưởng gia lớn về lý thuyết dân chủ, bởi triết gia này được nhiều người thừa nhận là sự hữu ích cho chủ thuyết lý tưởng của Nhà Nước. Thế nhưng Hegel cũng là nguồn cảm hứng cho những chế độ độc tài, đảng trị. Tuy nhiên, nếu như người ta biết khảo nghiệm một vài điều kiện có thể cho phép thực hiện trong lịch sử (nhân loại) một tiến trình lý tưởng tự nhiên, rồi biện chứng pháp, thì người ta sẽ cảm thấy sự chính xác và sự hợp nhất của những phân tích này. Nói tóm lại, cấn có một nhu cầu để khả thể thực hiện cho những điều kiện nói đây. Tất cả những câu hỏi liên quan đến thể chế dân chủ lý tưởng, tất người ta nghĩ đến ngay đó là sức mạnh của các quyền xã hội được ẩn chứa trong ý muốn người dân.

   Quả như Dân Chủ được xây dựng trên những cuộc tranh luận của tư tưởng, của ngôn luận và cái tương quan của các sức mạnh, thì thành quả của nó là sự điều đinh, hoà giải và trọng ước, lúc đó chúng ta ắt hoàn toàn nằm trong triết lý tương đối (philosophie relativiste). Thực thế : Dân Chủ, thực chất dân chủ và giá trị của dân chủ, thì người ta cảm nhận và nhận ra đây là sợi dây tương quan giũa dân chủ và triết lý tuơng đối. Không có một thể chế nào đem lại cho chúng ta nguồn hy vọng là nó đưa đến sự hoàn hảo tuyệt đối cả. Do vậy, chúng ta có thể xem dân chủ là xây dựng trên biện chứng pháp với nghĩa xác thực của triết lý. Có nghĩa là trên sự phân tích một cách chi ly chính xác của các ly do của sư đối kháng, nó là diễn tiến của lịch sử tổng hợp, và thành qủa của một triết lý lý tưởng với nghĩa đạo đức và cái đẹp của từ ngữ này : có nghĩa là niềm tin vào sự tất yếu và cái khả thế  của những tư tưởng luật và các quyền con người, của sự công minh và công chính, và qua đó là sự thật. Sự kiện Dân Chủ đưa đến một niềm tin, đó là nhờ vào sự tiến bộ của sự xác thực Nhân Quyền. Nhân Quyền không dung túng và dung thứ cho những người độc tài, phi chính trị và vô đạo đức. Đúng hơn và lý hơn, thì Nhân Quyền tìm kiếm những nhu cầu tất yếu cho phẩm giá con ngưòi phải có : chẳng hạn các quyền tự nhiên, các quyền tất yếu mà một hữu thể con người đương nhiên phải có. Nếu không có các quyền này trong xã hội chính trị, thì dù thể chế nào đi nữa, thì cũng là sự mâu thuẫn tự nội tại của chế độ đó.

   Theo nhu cầu và điều kiện sống, chúng tôi thấy Marx và Hegel đã quên rằng mọi ngưòi có thể tạo nên những hệ thống xã hội và chính trị nhân. Những hệ thống đó duy trì nhũng điều kiện đối kháng của mỗi một sự mâu thuẫn cho đền những gì người ta cảm thấy được một sự tổng hợp đưa ra hợp lý trong một tư tưởng mới. Một cách cụ thể trong thể chế Dân Chủ có chiều kích đa dạng : mà ở đó ngưòi ta thấy hiện hữu của cái nôi đối thoại đích thực : như có đa đảng, có quốc hội hạ viện, thượng viện, làng xã, hương thôn, có hội đồng cố vấn luật pháp, tư pháp, hiến pháp, kinh tế, an ninh quốc phòng vv, và có những Ủy Ban Tư Pháp, Luật Pháp, Hành Pháp, Kinh Tế, Văn Hóa Giáo Dục vv, để đối kháng, để nhắc nhở cho những sự mâu thuần và sai lạc của Chánh Quyền và người cầm quyền.

   Thế đó, Nhân Quyền tích chứa chính xác những hợp lý đối kháng này, và vì vậy Nhân Quyền có thể được xem như là cái văn phạm của ngôn ngữ dân chủ và cái đòi hỏi của biện chứng pháp.

   Thể chế xã hội chủ nghĩa và cộng sản mà Hà Nội theo đuổi mấy chục năm qua đầy dẫy những sự mâu thuẫn tự nội tại lẫn ngoại tại. Đơn cử tước đoạt quyền tư hữu của ngưòi dân là mâu thuẫn với lẻ tự nhiên của con người về quyền tư hữu. Vì bài viết có hạn chúng tôi không thể đưa ra hết những sự mâu thuẫn mà Hà Nội cố tình vấp phạm. Hà Nội không thế  cải chày, cải chối được những sự vi phạm đến các quyền của con người và người dân mình.

 

4.2. Những Quy Tắc Đối Xứng : Sự Bất Khả Phân Của Nhân Quyền Được Bảo Đảm Nhờ Sự Chia Quyền Hành

 

    Qủa thực sự bất khả phân của Nhân Quyền xứng hợp với sự phân chia các quyền hành, trong lúc đó thì quyền hành phối hợp với Nhân Quyền do sự phân chia này. Lý do là một sự tập trung quyền hành dễ có thể tạo nên tất cả sức mạnh và quyền lực cho sự độc tài, và tước đoạt đi cái nhân phẩm con người, điển hình cụ thể như tính cách Đảng quyền cho Hà Nội tiếm hết mọi quyền hành.Cũng thế, hình ảnh và nhân phẩm con người sẽ không có trong một chế độ hoàn toàn chuyên chế độc tài, hoặc tự do phóng túng với các quyền lực và sức mạnh của một chế độ tư bản rừng rú (capitalisme sauvage), hoặc nữa trong chính thể tự do cực đoan (ultra-libéral), hay nữa là vô chánh phủ.

   Do đó mà Nhân Quyền đòi hỏi cho việc đối xứng và tôn trọng sự phân chia quyền hành, nhất là phải có một cơ quan quyền hành độc lập hằng theo dõi và kiểm sóat ba quyền Hành Pháp, Tư Pháp và Luật Pháp, hầu giúp Chánh Quyền đi vào con đường công minh và công chính cùng công bằng hay không vi hiến.

   Vì thế mà một thể chế dân chủ đa đảng, có sự đối lập là sự tương hợp với Nhân Quyền thời nay. Từ đó mới bảo đảm cho đời sống dân sự và các quyền xã hội cũng như những quyền tất nhiên của người dân được tôn trọng. Nhất là với sự tiến bộ và trình độ dân trí của các Nước Âu Mỹ thời nay, thì Nhân Quyền được người ta đánh giá như đó là các bổn phận của Chánh Quyền phải thực thi cho người dân. Cũng thế, cùng một thời gian đó là sự bất khả phân của các quy tắc Nhân Quyền, tiếp là sự đa dạng và khác biệt các hình thái quyền hành, như có tính cách dân chủ theo kiểu Liên Bang hay Hương Thôn và Làng Xã, được xem là sự tản quyền trong chế độ dân chủ thời nay, cái đẹp của nó có thể vượt qua sự phân chia ra ba quyền Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp theo phương thức vừa cổ điển vừa tân thời. Điển Hình Thụy Sĩ là Nước Dân Chủ trực tiếp theo chế độ Liên Bang, quyền hành thục sự ở người dân và các làng mạc, quận huyện, thành phố. Chẳng hạn như Chánh Phủ Liên Bang, Thành Phố, Hay Quận Huyện, Làng Xã có một kế hoạch, hay một chính sách gì hoặc thêm một đaọ luật đều phải hỏi ý dân qua cuộc bỏ phiếu kín, và trưng cấu dân ý. Chánh Phủ không dám làm càn khi chưa được hội ý và sự chấp thuận của dân chúng.

   Do thế, sự tương quan và liên hệ giữa quyền hành Nhà Nước và các quyền hành khác của người dân luôn được đối xứng và tôn trọng theo chính sách tôn trọng Nhân Quyền cả hai phía. Và đây là những lý do mà nhiều Nhà Nước tiến bô dân chủ Tây Phương hằng theo đuổi và áp dụng cùng thực thi trong đời sống xã hội của Đất Nước họ.

 

4.3. Những Nguyên Tắc Bổ Trợ : Tiêu Chuẩn Của Sức Mạnh Dân Chủ Cho Một Quyền Hành

 

   Với tiến trình văn minh của nhân loại, nhất là tiến trình dân chủ của thời đại nay cộng với sự tiến bộ của khoa học kỷ thuật và sự nhận thức tình thế của người dân hiện nay, thì những phương sách chủ nghĩa xã hội cộng sản, kiểu củ rích như Bắc Hàn. Trung Cộng, Cu Ba, Việt Nam còn tốn tại, thì hoàn toàn không thực tế chút nào với thời nay. Cho dù họ có vá víu, chắp nối, nữa nạc nữa mở theo tư bản vẫn là không thực dụng, mà chỉ làm cho Đất Nước lạc hậu và theo sau người ta luôn mãi. Bây giờ mà con độc đảng, hay kiểu nói « còn Đảng còn công an nhân dân tồn tại », thì càng ngày càng đem Đất Nước xuống hố thẳm nghèo đói thôi! Do đó quyền hành Nhà Nước cần phải tản quyền, Hiến Pháp cần có đa đảng và được chiếm hữu bởi những quyền hành khác, đó mới chính là hợp lẽ, hợp lý và hợp pháp của xu hướng thời đại khoa học kỷ thuật hôm nay.

   Đảng cộng sản không là thần thánh, nên đã vấp phạm biết bao sai lầm, do vậy không thể bắt dân chúng suy tôn Đảng cách phi lý. Nếu Đảng còn chút tự trọng, thì không thể cứ khăng khăng mãi độc quyền, độc đoán cai trị dân. Như bao lần chúng tôi đã nói không ai có quyền độc tôn quyền hành để trị quốc và xây dựng Đất Nước. Bởi vì cái linh động của ý nghĩa cái quyền (nhân quyền) nó không chỉ liên quan đến các quyền hành của Nhà Nước hay người cầm quyền, nhưng là của toàn thể nguời dân, bất luận giai cấp nào, đếu có cái quyền đóng góp vào lãnh vực chính trị và phục vụ cùng xây dựng Đất Nước mình.

   Qủa khi chúng ta nhận thức quyền hành được xem như một năng lực của một ý tưởng cái quyền của người dân, thì sự đóng góp toàn diện tài trí, khả năng vật chất và tinh thần sẽ đem đến sự phồn vinh mau chóng cho Đất Nước. Thực vậy cái quyền đó là một sức mạnh vừa tâm linh và vật chất, được cấu thành để hoàn thành nhiệm vụ của mình trong một trật tự xã hội. Thực thế, con người được diễn tả như một biểu hiệu của kiểu mẫu xã hội, qua đó con người hợp tác với nhau để đưa đẩy xã hội thăng hóa. Do thế, xã hội đòi hỏi một sự thực hiện, nên quyền hành người dân được bắt rễ trong ý tuởng này, mà nó được sinh thành để hoàn tất sứ vụ mình. Thế đó quyền hành của người dân là khuôn mặt của xã hội thời nay, mà người ta gọi là dân chủ.

   Qủa một quyền hành nảy sinh từ tư tưởng cái quyền (dân), thì nó thật là thực, là chính đáng và hợp pháp cho những người công dân. Cái quyền này đã được phổ biến rộng rãi và được tôn trọng trong nhiều Nước Dân Chủ Tiến Bộ : như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Nhật Bản vv. Thật buồn thay cái quyền của người dân Việt sống duới chế độ Hà Nội vẫn chưa có được cái quyền hành thực tế này, để mau chóng đưa Việt Nam trên đường phú cường và văn minh.

   Để hiểu được cái quyền hành này, chúng tôi xin giải thích rằng : quyền hành không thể tách biệt với người dân, còn chánh phủ (tổng thống, thủ tướng) chỉ là người phục vụ tiếng nói của quần chúng, đó chính là tạo nên xã hội và thể chế dân chủ tiến bộ. Vì vậy mà Nhà cầm quyền có sứ mạng tôn trọng và bảo vệ cái quyền hành này của người dân, ví nó là sự tạo nên các tự do dân sự và xã hội, làm sinh động đời sống an vui, hạnh phúc của toàn dân.

   Do thế, sứ mạng của Chánh Quyền và Nhà Cầm Quyền là tôn trọng sự phân quyền và cái quyền căn bản này trong việc thực hiện hóa vào đời sống xã hội người dân mình. Vì khi thực hiện hoá việc này, thì bảo đảm được sự hiệp nhất và đoàn kết Quốc Gia, vả nữa hiệp nhất được Hiến Pháp Quốc Gia cùng sức mạnh cho Quốc Gia. Nhất là tính bất khả phân của cái quyền này phải được công bố một cách công khai, chính thức hoá trong Hiến Pháp Nhà Nước, và trong sự tiến bộ cùng văn hiến, nhờ vậy mà tính bất khả phân tương xứng cho sư phân chia và tách biệt các quyền hành của thể chế và guống máy Nhà Nước.

    Một xã hội dân chủ thực sự, khi mà Quyền Hành, Luật Pháp và Hiểu Biết, là nền tảng của sư tương quan của người này với người khác, của chánh phủ với người dân, có nghĩa là được hổ tương và tôn trọng nhân phẩm của nhau. Một nền dân chủ phong phú, có nghĩa là người này và kẻ nọ làm hài lòng nhau, có nghĩa là chánh phủ và người dân ký kết với nhau một thỏa uớc tinh thần làm cho sinh động xã hội, và làm cho Đất Nước thăng tiến. Qủa thực khi Nhân Quyền và những quyền căn bản được tôn trọng thì lúc ấy Đất Nước mới có sự tiến bộ, và người ta khám phá ra rằng : Đất Nước muốn cất cánh bay cao, có sự phú cường và văn mình, đương nhiên phải đi theo con đường Dân Chủ tiến bộ  và Nhân Quyền mới này.

    Từ đó khi người ta gọi là Nhà Nước Dân Chủ, thì có nghĩa Nhà Nước phụng sự tốt đẹp những cái quyền đa dạng này của người dân, cùng một lúc Nhà Nước luôn hướng về những nguyên tắc và tiêu chuẩn của thể chế dân chủ. Để rồi làm cho sinh động những cái quyền dân sự và xã hội này của ngưòi dân triển nở,  hầu Quốc Gia mới được ổn định về mọi mặt chính trị, kinh tế và xã hội… Quyền Hành chánh phủ không phải là ở trên đầu dân nhưng là sự phục vụ.Vai trò của Chánh Phủ là hợp tác và nhận ra những năng quyền khác của nguời dân : có nghĩa những năng lực về tinh thần, tâm linh, đạo đức, khoa học, văn hóa là vượt lên trên Chánh Phủ và Nhà Nước, nhờ qua chúng mà Nhà Nước có được sự bảo đảm hợp pháp, đúng luật và dân chủ.

   Một Nhà Nước Dân Chủ Hay Pháp Quyền tất nhiên không thể tập trung tất cả quyền hành vào cho mình, cho Đảng mà phải tản quyền, phân quyền, chia sẻ quyền hành trong ba cái quyền Hành Pháp, Tư Pháp, Luật Pháp cùng chia sẻ trách nhiệm và cộng tác với nhau … Lý thực, những cái quyền này chỉ được thai nghén trong chế độ Dân Chủ tiến bộ.

 

V. NHỮNG THAI NGHÉN CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

     

    Qua những từ ngữ trên mà chúng tôi vừa trình bày cùng qúy vị, là đem đến cho chúng ta một cảm thức thảo luận vào bên trong chế độ dân chủ. Đất Nước khi (nếu) có thể chế tự do, thì mang lại một sự tương quan giữa nhà cầm quyền và người dân, lúc đó hằng có khuynh hướng tôn trọng ý kiến của nhau để xây dựng thực thể một xã hội dân chủ nhân quyền. Tự nhiên khi ấy nó đòi hỏi chúng ta một tâm tư biết người và biết ta. Biết ta và biết những yếu điểm của Đất Nước chúng ta hiện tại, để mở trí óc và sự nhận thức ra mà học hỏi những cái hay, cái đẹp của nguời, hầu đưa đẩy Nước Nhà trên đường phát triển mọi mặt : từ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, xã hội vv.

    Từ ý này, thực lòng chúng tôi xin đề nghị cần có một Bộ đặc trách nghiên cứu và thẩm tra hay điều nghiên những yếu điểm của Đất Nước : Tại sao với thế kỷ 21 rồi mà Dân Việt vẫn còn nghèo đói và lạc hậu : nguyên nhân nào ? Hay Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba..: tại sao họ vượt mặt quá xa chúng ta về nhiều lãnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỷ thuật : lý do nào ?      

    Thật thế,  là dân chủ thì phải có tiếng nói đối trọng và đối lực với Chánh Quyền, với Nhà Nước. Do đó chúng tôi nghĩ cần có một thứ quyền hành nữa được thiết lập : đó là Ủy Ban Tư Vấn và thêm cái quyền hành thứ tư nữa mà chúng tôi đề  ra tư tưởng đây với quý vị và Dất Nước, hầu làm lực đối trọng với Nhà Nước trong tiến trình đạt đến thể chế dân chủ tiến bộ và nhân quyền mới.

 

5.1. Hướng Về Quyền Hành Thứ Tư : Ủy Ban Tư Vấn

 

    Đứng trước những uy quyền của Nhà Nước, thì cấn có một Ủy Ban Tư Vấn có những điều kiện kiểm soát, theo dõi các hoạt động hay những thành quả việc làm cũng như những sai lầm của Nhà Nước có thể nguy hại đến Quốc Thể và sự sinh tồn của Đất Nước. Vi việc làm này tương hợp với chế độ dân chủ, và là lẽ sống cùng hạnh phúc và an thái của người dân. Đất Nước chúng ta hiện thực thiếu hẳn một việc trầm trọng theo tính cách dân chủ như chúng tôi đã bàn qua. Dù Hà Nội có Quốc Hội, thế nhưng Quốc Hội của họ qúa yếu kém trong tính cách mình là đại diện và tiếng nói trung thực của người dân. Lý ra những người đại diện Lập Pháp này, họ có thể được xem là người hiền triết của Quốc Gia, và họ đóng một vai trò hệ trọng, là người sáng tạo nên Luật Pháp và quyền cùng quyền lợi của người dân (Nhân Quyền). Nhưng Quốc Hội của Hà Nội chỉ là con rối, gà gật của Đảng cộng mà thôi, không làm được gì hữu ích cho Nước Việt chúng ta.

   Thế nên hơn bao giờ hết, người dân Việt nhanh chóng lập ra một Uy Ban Tư Vấn cho mọi vấn đề và  những nan giải của Đất Nước ta hiện tại. Ủy ban Tư Vấn này có thể được quy tụ mọi thành phần và giai cấp trong xã hội. Họ là những người khôn ngoan, đạo đúc và thực lòng yêu Đất Nước chí tình : họ có thể đảm nhận nhiều lãnh vực : từ chính trị, kinh tế, văn hóa và tôn giáo vv. Ủy Ban Tư Vấn này có tính cách độc lập, để phục vụ người dân và Đất Nước Việt Nam một cách hữu hiệu. Họ là tai mắt, tay chân và trí óc của người dân Việt để xây dựng và kiến tạo cho Nước Việt phú cường cùng hanh phúc an thái.

   Do thế, với thời đại văn minh kỷ thuật như hiện nay, tất Đất Nước chúng ta cần có một Ủy Ban Tư Vấn như thế này, hầu có thể theo kịp những tiến bộ của khoa học kỷ thuật, cũng như theo kịp sự tiến triển của khoa học kính tế, hầu Dân Tộc mới đặc hưởng được những quan niệm của sự phát triển và mở mang của đà tiến nhân loại như ngày nay. Đúng hơn cái quyền hành thứ tư của Ủy Ban Tư Vấn này, chỉ là hành động những điều cụ thể  trong nhận thức những tự do mới của các công dân. Những tự do này là những tự do tham dự vào cái quyền tạo nên xã hội dân sự và chính trị. Họ hành động như thế cũng bởi lý do cái quyền tham dự vào chính trị, và cái quyền xây dựng xã hội cùng Đất Nước của mình thôi. Chớ không phải như Hà Nội cưỡng chế ép buộc dân rằng « yêu Nước là yêu xã hội chủ nghĩa », để rồi cái xã hội tệ hại này đã kéo dân Việt xuống hố thẳm đói khồ và chậm tiến ngót hơn nữa thế kỷ nay !

   Như chúng tôi đã nói nhiều lần, thực là dân chủ, đó là trong ý nghĩa người dân có các tự do tham dự vào chính trị, và đây là một cái quyền tối thượng của người dân. Chánh Quyền phải nhận thức cái quyền sống của dân, cái quyền tham dự vào những giá trị xã hội chính trị cấu tạo nên những tài sản chung của cha ông, của làng xóm, khu phố họ, của cộng đồng họ hoặc của quê hương và quốc gia họ … Người ta có thể nói sự hiểu biết mới về những quyền của người dân (Nhân Quyền) này là lẽ tất nhiên và lẽ sống của hai phiá Dân và Chánh Quyền. Người ta cũng nhận thức rằng người dân có quyền trở nên một người sáng tạo văn hóa, có nghĩa muốn nói rằng đây là chân lý của cái quyền con người.

 

5.2. Tự Do Là Quyền Lợi Của Dân

  

    Tự do phải trở thành một quyền hành thứ tư của người dân, là độc lập và tối thượng, chẳng hạn quyền tự do báo chí và ngôn luận được xem là hàng đầu và thiết yếu hơn hết. Nó được thai nghén và phát xuất từ dân chúng, nhất là tự do báo chí và ngôn luận là chiếu kích của văn hóa. Hơn nữa, Tự do ngôn luận và báo chí của người dân, thì nó nằm trong chiều hướng sự chạy đều của dân chủ dưới sự kiểm soát và hợp tác của Nhà Nước cùng người dân : vì một thế chế chính trị hoặc quyền lực chính trị chỉ hợp pháp trong chiếu hướng được kiểm soát do dân theo tính cách dân chủ, hay nói cách khác là sự kiểm soát của thế chế dân chủ. Thế đó Nhà Nước cần hợp tác với người dân trong lãnh vực này.

     Đất Nước chúng ta thiết thực cần tạo nên một kiểu mẫu, một lớp người trong sạch cho cái quyền hành thứ tư này để có đối trọng và đối lực với ba quyền Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp, là một hình thức dân chủ thực tiễn, để nói lên tiếng nói trung thực của lòng dân muốn. Những Nước Dân Chủ Trực tiếp Như Thụy Sĩ, thì cái quyền hành thứ tư này rất hiện thực làm e dè cho các đấng cầm quyền khi có hành vi vi hiến, hay các việc làm tổn hại đến Quốc Thể, và quyền lợi của người dân Thụy Sĩ. Không Như Đảng cộng và Phỉ quyền Hà Nội muốn làm gì thì làm, ăn hối lộ, tham nhũng cướp bóc của dân bao nhiêu tùy thích, tùy tiện. Phản dân Chủ và vô Luật Pháp đến thế là cùng.

    Cái sinh động của cái quyền hành thứ tư này là giúp cho Đất Nước loại bỏ dần những tệ đoan xấu của người cầm quyền, và là cái đặc trưng hiệu quả của thế chế dân chủ có thể ngăn cản được chủ nghĩa quân phiệt, độc tài, chuyên chính và các tay bạo chúa, khát máu dân.

A. Các cơ quan và phương tiện của truyền thông và báo chí được lập nên là vì Dân, vì Nước, họ có đủ khả năng đưa tin cho quần chúng. Có nghĩa là những việc làm có tính cách khách quan trong sự phân tích, thu nhận, điều tra các tín tức thời sự, hay các biến cố, từ đó các nhà văn, nhà báo phải mang tâm tình cởi mở và ngay thẳng, lương thiện của một sự mạng nhà báo. Nhất là họ phải hoàn toàn độc lập, vì cái nghề nghiệp báo chí, truyền thanh và truyền hình, đòi họ không lệ thuộc và nghiêng bên này hoặc bên nọ  do quyền lợi cá nhân, đảng phái, bè phái. Cái đạo đức của nghề nghiệp và cái sứ mạng là tiếng nói trung thực của người dân, đương nhiên đòi hỏi họ có trách nhiệm và nghĩa vụ của một nhà báo chính trực. Bởi danh dự của nghề nghiệp, họ cần sự truy tầm, khảo sát và điều tra sự thật. Nhất là đặt ý thức lương tâm trong chức nghiệp của mình bằng một sự tự đào tạo nghề nghiệp, vì đó là sự đòi hỏi cho việc phục vụ tất cả các nhu cầu và yêu cầu của quần chúng. Nhà báo như thế mới thực xứng cho cái quyền hành thứ tư, mà nguyện vọng của dân chúng mong ước thấy ở nơi các Nhà Báo Việt Nam trong Nước cũng như Hải Ngoại ngày nay. 

B. Các nhà Khoa Học Kỷ Thuật và Nhân Văn cần được Nhà Nước ưu đãi trọng dụng và cho họ những công việc thích hợp với sở trường và môi trường tìm kiếm, khảo cứu và phát minh của họ. Lý thực họ góp phần trí tuệ mà những gì chế độ dân chủ ủy thác những quyền văn hóa cho họ, để xác thực công việc phát triển và phát huy Đất Nước. Một Nhà Nước xem thường trí thức và không biết xử dụng sự hiểu biết các lãnh vực khoa học, một cách đặc biệt trong lãnh vực các khoa học về xã hội, thì tạo nên một sự hoang phí kinh khủng các chất xám và tài năng của Đất Nước. 

   Chúng ta thấy rằng tại sao các Nước như Đức, Pháp, Anh, Ý, Nhật, Thụy Sĩ, Hoà Lan, Áo, Đan Mạch, Gia Nã Dại, Úc Đại Lợi,Thụy Điển, Bỉ, Na Uy nhất là Mỹ, họ tân tiến, phú cường và văn minh hơn các nước khác. Lý do đơn giản là bởi họ có một thề chế dân chủ được xem là hơàn hảo, sau là họ biết trọng dụng các nhà khoa học kỷ thuật. Nói tóm lại họ trọng nhân tài và ưu đãi người trí thức. Vì vậy sự cần thiêt tột bực này, đựợc xem là công việc đạo đức cho các nhà khoa học và nhân văn có sự chia sẻ tri tuệ của mình trong cái quyền văn hóa, hầu xây dựng Đất Nước vậy.

C. Những tác nhân kinh tế : như giám đốc các hãng xưởng, nhà máy, các hội đòan chủ nhân và các nghiệp đoàn cùng các hiệp hội người tiêu thụ và sản xuất …, được thiết lập do tính cách dân chủ dân sự. Họ đóng góp rất lớn cho tài sản Quốc Gia thêm giàu mạnh. Như chúng tôi đã nói họ được xem là một loại quyền hành thứ tư, có tiếng nói đối với Đất Nước và Dân Tộc. Thế đó, những quyền lực kinh tế cầm nắm một hiểu biết về xã hội, và giúp Đất Nước phú cường, thế nhưng Hà Nội chưa xem trọng cái quyền lực kinh tế này làm giàu mạnh cho Đất Nước. Cho dù Hà Nội có « đổi mới kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa », thì Đất Nước vẫn lạc hậu và còn mãi nghèo đói hiện hữu. Vì Hà Nội đi ngược với bản chất của kinh tế thị trường. Bởi kinh tế thị trường phải ở trong chế độ dân chủ mới thăng hoa triển nở. Nói lý hơn, kinh tế thị trường là con đẻ của dân chủ như chúng tôi đã nói qua.

   Nếu Hà Nội muốn tránh khỏi những quyền hành kinh tế lãnh đạo chính trị (chính sách) của Nhà Nước, thì họ phải đồng hoá các quyền hành với quyền hạn, hay thẩm quyền của kinh tế phải đi vào trong con đường tranh chấp dân chủ thôi. Hà Nội muốn Nước Nhà thăng tiến và có thế đối đầu với Trung Cộng, thì chỉ có con đường này giúp Hà Nội thoát khỏi cái mớ rối của sợi chỉ thắt cổ mình, và tránh cho Đất Nước khỏi bị tình cảnh Hán Hoá, diệt vong.

D. Vai trò tôn giáo và các đấng bậc lãnh đạo tôn giáo cùng tinh thần rất hệ trọng cho một tiến trình Đất Nuớc thăng hóa. Trong một quê hương hoàn toàn thống trị bởi một chế độ chuyên chính độc tài, thì người ta nhận ra tiếng nói giá trị ngàn cân của các đấng lãnh đạo tôn giáo và tinh thần, có tầm ảnh hưởng đến quần chúng rất mạnh. Có nghĩa khi các ngài xã thân gióng tiếng nói bênh vực công lý, nhân quyền và nhân phẩm của người dân. Ở đây chúng tôi nghiêng mình kính phục và cảm phục Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Người Lãnh Dạo Tinh Thân anh dũng : vì Đạo, vì Dân, Vì Nước. 

   Vì người dân trọng vọng ở các ngài không phải ở chức phẩm, quyền cao, mũ đỏ áo vàng, áo trắng, nhưng là tiếng nói bênh vực sự thật, giúp đỡ kẻ cô thân cô thế, chia sẻ tất cả những khó khăn với giáo dân, đạo hữu. Nhất là chúng sinh thấy các ngài là người đạo hạnh, là hình ảnh Chúa Phật tại thế mà họ có thể tin cậy, rồi đặt lòng tin của mình nơi các ngài trong mọi phương diện của cuộc sống trần gian. Mong rằng các ngài là Chúa Phật tại thế như kỳ vọng của chúng sinh! Đừng để chiếc áo mình mặc không thể làm nên thầy tu. Lý thực các ngài là người trung gian thường trực trong lòng dân tộc, tạo nên sự hiệp nhất của dân chúng, và cho phẩm giá của người dân được tôn trọng.

    Đẹp thay các ngài sẽ là tai mắt, môi miệng bảo vệ, giữ gìn những giá trị đạo đức, luân lý và văn hóa truyền thống của Dân Tôc Việt ngàn đời của chúng ta.

 

5.3. HƯỚNG VỀ SỰ BÊNH VỰC QUYỀN DÂN SỰ  VÀ LÃNH THỔ CÙNG GIA SÃN VĂN HÓA

 

   Quả thực trong chiều hướng xác thực khai triển tư tưởng Nhân quyền, đương nhiên phải tranh đấu bênh vực các quyền dân sự và công lý cùng sự thật, trong đó có các quyền bất khả xâm phạm, quyền xã hội, quyền văn hóa và giáo dục mà chúng tôi đã bàn qua với qúy vị. Ở đây chúng tôi muốn thưa chuyện với quý vi thêm một cái quyền Lãnh Thổ, Lãnh Hải, Quyền Sự Sống, Quyền Gia Sản Văn Hóa, chúng được kếp hợp duy nhất với Quốc Gia trong trách nhiện chung của Nhà Nước, của quân đội hợp với toàn thể người dân cùng chung bảo vệ. Thực vậy, đây là cái nhìn thực tế, và là sự thiết yếu cho vần đề yếu kém đẩy mạnh tiến trinh dân chủ hoá hiện nay.

   Hơn bao giờ hết Hà Nội hãy nghĩ đến tiền đồ Dân Tộc cùng sự tồn vong của Đất Nước mà mở rộng hơn các quyền căn bản và các quyền dân sự và xã hội cho người dân Việt. Nên thực thi công lý và công minh, chân thật hợp tác với người dân, để tạo nên thứ vũ khí hợp nhất chiến đấu, dành lại những phần lãnh thổ, biển cả, quần đảo chúng ta đã mất. Muốn có được con đưòng sống an hoà và tiếng thơm để lại cho hậu thế, thì Hà Nội chỉ có con đường sống với dân, vì dân mà mình bảo vệ và chiến đấu cùng họ. Mong lắm thay Hà Nội sẽ chọn đúng con đường mình đi cho tiền đồ của Nước Việt.

    Không có thời nào và lúc nào người dân Việt mong muốn đưọc tự do và nhân quyền như bây giờ : một xã hội tự do, thì mới có thể phát triẻn tối đa các nhân quyền cho dân Việt, chính đây là nhu cầu bình thường chung cuả các tự do, chứng minh và thể hiện cho một Quốc Gia Dân Chủ.  Có nghĩa thể hiện như một sự tôn trọng người dân minh bằng con đường chọn lựa chủ nghĩa dân chủ tự do cho dân.  Một Nhà Nước Dân Chủ mà càng ngày càng tăng trưởng các tự do tham dự chính trị, các tự do kinh tế, các tự do sáng tạo và ngôn luận, tôn giáo…, thì đuợc xem là sự kiến tạo hòan hảo cái sinh động của nền dân chủ cho Đất Nước mình.

 

VI. TÂM TÌNH KẾT LUẬN

 

    Những gì chúng tôi đã nghiên cứu, học hỏi, quan sát, thu nhận, sống và cảm nghiệm những cái hay, cái đẹp cũng như cái tồi tệ của các chủ thuyết, của các chế độ dân chủ nhân bản, và cộng sản phi đạo đức và vô nhân đạo trong mấy thập niên qua cho chúng tôi một kinh nghiệm sống thực tế và hữu ích. Để rồi từ đó, chúng tôi xác tín rằng ở đâu người ta áp dụng chế dộ dân chủ tiến bộ và nhân quyền được tôn trọng, thì Đất Nước và người Dân ở đó văn minh và phú cường, cùng an thái và hạnh phúc. Và ở đâu còn độc đảng và đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa và quân phiệt, thì Đất Nước ấy lạc hậu và người Dân chỉ có nghèo đói, không nhân quyền, và nhân phẩm thì bị chà đạp. Đây qủa là một sự thật hiển nhiên mà thiên hạ ai cũng thấy rõ như ánh sáng mặt trời.

   Từ những mục kích và kinh nghiệm sống này, cũng như những gi chúng tôi đã học hỏi và khảo sát, điều nghiên bao tháng năm qua, để từ đó chùng tôi viết lên những bài biên khảo, nghị luận hầu «   Tất Cả Cho Việt Nam, Cho Đồng Bào Việt Nam ». Chớ gì Hà Nội nhận thức được tầm quan trọng này, mà thay đổi thế chế và áp dụng những phương sách hữu ích có lợi cho Đất Nước và cứu nguy Dân Tôc Việt Nam chúng ta.

   Không có một chế độ tàn bạo nào khi đi ngược lòng dân mà mãi mãi được trường tồn-không có tên bạo chúa nào mà không bị đời kinh tởm và lòng dân oán hờn cùng nguyền rủa. Mong Hà Nội tỉnh thức được chân lý ngàn đời này, sớm giác ngộ và mở ra con đường dân chủ nhân bản và nhân quyền mới cho Việt Nam. Để rồi gần 90 chục triệu con tim và khối óc cùng hợp lòng tái xây dựng và phục hưng Đất Nước Việt Nam, chúng tôi tin chắc rằng Việt Nam sẽ giàu mạnh, người dân sẽ an thái và hạnh phúc.    

                                                                                                            

                                                                                                                     Nam Giao Lê Thiện Bình       

                                                                                                                      

NHỮNG SÁCH BÁO THAM KHẢO

 

–  J. Binde  « La nouvelle démocratie, d’une et indivisible la République est applelée à devenir plurielle et ouvert, dans Le Monde », 27.06.1987.

–  G. Burdeau « La Démocratie », Ed. Seuil, Paris 1986. 

–   Pierre Clastres « La Société Contre L’État », Ed. Minuit, Paris 1974.

–   Cohen-Tanugi « La Métamorphose  De La Démocratie », Ed. Jacob, Paris 1999.

–   Conseil de l’Europe « Démocratie Et Droits De L’Homme », 2008.

–   Kelsen « La Démocratie, Sa Nature-Sa Valeur », Ed. Enomica, Paris 1929-1988.

–   Kolm « Les Elections Sont-Elle La Démoratie ? », Ed. Cerf. Paris 1985 et « Le Contrat Social Libéral. Philosophie Et Pratique Du Libéralisme ». Ed. PUF., Paris 1989.

–   Lefort « Essai Sur Le Politique », Ed. Seil, Paris 1999.

–   Ricoeur « Du Texte A L’Action. Essais D’Herméneutique II », Seuil, Paris 1986.

–   Viện Luật Học « Hiến Pháp Nưóc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Tập I Và II », Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1985.
–    Viện Nghiên Cứu Viễn Đông, Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô « Bản Chất Tư Tưởng-Chính Trị của Chủ Nghĩa Mao »,  
       Nhà Xuất Bản Sách Giáo Khoa Mác-Lênin, Hà Nội 1979.
           
    




Võ Thị Tuyết : Ngang Trái

Mùa Đông đang dần tàn, trời sắp bước vào Xuân, cùng với muôn hoa bắt đầu hé nụ, vườn hoa văn học nghệ thuật trên trang nhà ngày càng thêm khởi sắc với sự đóng góp dồi dào, phong phú của các cây bút NQ và thân hữu.

Xin mời cả nhà thưởng thức bài viết mới của các ChsNQ:

http://www.ngo-quyen.org/D_1-2_2-145_4-1339/ H.V.H

http://www.ngo-quyen.org/D_1-2_2-145_4-1335/ Võ thị Tuyết

http://www.ngo-quyen.org/D_1-2_2-104_4-1341/ Nguyễn Thanh Tùng

http://www.ngo-quyen.org/D_1-2_2-105_4-1336/ Võ Thị Tuyết

Và sáng tác mới của hai thân hữu NQ:


http://www.ngo-quyen.org/D_1-2_2-145_4-1343/ Nhạc Đào Lê Văn

http://www.ngo-quyen.org/D_1-2_2-105_4-1342/ Trầm Vân

 
Kính chúc cả nhà một cuối tuần thật rộn ràng, vui vẻ để chuẩn bị đón mừng Xuân Tân Mão.
Quý mến,
Ngọc Dung

Ngang Trái
 
 
Nhớ lắm người ơi! nhớ thật nhiều
Nhớ về quê cũ, nhớ những chiều
Nhớ ngày xưa ấy cùng chung lối
Nhớ quá người ơi! thuở đắm yêu…
 
Đông tàn xuân đến hoa mai nở
Dạt dào nỗi nhớ những ngày thơ
Phương trời hai lối giờ xa cách
Sóng nước thuyền trôi gió thẫn thờ
 
Ngày nào anh đã hứa với em
Tình mình mãi mãi giữ trong tim
Anh bỏ cuộc tình, xa kỷ niệm
Lời thề môi ấm nỡ nào quên
 
Xuân về em lại nhớ đến anh
Chiều ơi sương thả giọt mong manh!
Như tình ta đó người yêu hỡi
Ngang trái vì đâu mộng chẳng thành?
 
VTT
1/2011

 

ốươớ

 

 

Hè sang phượng nở đầy sân

Đợi em hai buổi Hóa An xóm nghèo

Qua đò áo trắng anh theo

Đưa em qua bến đò chèo dòng mơ

 

Thu về anh tặng bài thơ

Gió tình dào dạt quanh bờ chiêm bao

Trời mưa lá đỏ thay màu

Anh quên lối cũ lòng đau tủi buồn    

 

Đông mờ giấc ngủ cô đơn

Bao đêm xa cách giận hờn chia ly

Tình đầu thuở ấy còn chi

Con đường kỷ niệm nhớ gì không anh?

 

Vỡ tan những giấc mộng lành

Khăn tay đẫm lệ ta đành xa nhau

Mình em với nỗi thương đau

Anh về bên ấy tình sầu hai phương

 

Nhớ hoài lời nói yêu thương

Những chiều vai khoác con đường đón đưa

Chờ nhau bến hẹn thuở xưa  

Đông tàn sương lạnh cơn mưa nhạt nhòa

 

Nắng Xuân huệ cúc nở hoa

Mai vàng trổ nụ trước nhà đầy sân

Xuân đi xuân đến bao lần

Bước chân đôi ngả xa gần long đong

 

Xuân về anh có nhớ không?

Một thời hạnh phúc sao lòng quên mau

 Xa nhau năm tháng bạc đầu 

Sông trôi ra biển về đâu hởi người?

 

Võ Thị Tuyết

Xuân 2011

Nhớ Mẹ Đêm Xuân

 

Đêm xuân nhớ mẹ, mẹ ơi!

Không còn bên mẹ một thời đón xuân

Mẹ thương giờ đã lục tuần

Trông về quê mẹ bâng khuâng nhớ nhà

 

Chợ đêm mẹ dẫn mua hoa

Trái cây ngũ quả, sắm quà cho con

Ngày vui giờ đã không còn

Chưa về bên mẹ cho tròn ngày vui

 

Con đi chợ tết bùi ngùi

Lòng con nhớ mẹ một thời bên nhau 

Xin đừng thương nhớ buồn đau

 Hướng về phương ấy nỗi sầu chia ly 

 

Xuân xưa bỏ xứ con đi 

Chưa về thăm mẹ không gì buồn hơn

Tuổi già thân yếu cô đơn

Mai vàng cúc nở sau cơn mưa buồn 

 

Đêm xuân nhớ mẹ lệ tuôn

Hai phương cách trở lòng vương vấn sầu

Thương con mẹ thức canh thâu

Bao năm lệ đổ sông sâu chia dòng

 

Chưa về biết mẹ buồn trông

Mong con mẹ đợi suốt trong đêm trường

 

Mẹ già tóc đã điểm sương 

Chờ con trước ngõ con đường hẻm xưa

Bến đò, vườn bưởi, hàng dừa

Mãi chờ mòn mỏi con chưa trở về

 

Mẹ ơi! một cảnh hai quê

Xuân sang Tết đến lê thê nỗi lòng

Xứ người đếm bước long đong

Con chưa về được nhớ mong từng ngày…

 

Võ Thị Tuyết

Xuân 2011

 

 

MÙA SẦU RIÊNG

 

Đâu còn ngày cũ hẹn hò

Khoác vai nhau bước đợi chờ ngày sau

 

 

Xôn xao tiếng sóng qua cầu

Đò tình về bến bên nhau chung thuyền

Anh đi cưới vợ đẹp duyên

Vui bên người mới để em khổ sầu

 

 

Lời xưa anh nở quên sao?

Quên lời hẹn ước tình đầu đôi ta

Những trang thư cũ thiết tha

Chữ câu đã bạc thời qua chung đường

 

Những lời âu yếm yêu thương

Giờ trong ảo mộng vấn vương một đời

Chiều đau lá rụng thu ơi!

Biệt ly ngày ấy bóng trời ngả nghiêng

 

Tại anh tình mới sầu riêng

Làn sương hắt lạnh hai miền chia phôi

Sầu riêng em gánh một đời

Bây giờ gặp lại trễ rồi anh ơi!!!

 

Võ Thị Tuyết

4/14/2010

***************

 

 

 

 

Vì Ăn Sầu Riêng

 

 

Sầu riêng thơm ngát câu hò

Xa nhau vẫn nhớ dặn dò kiếp sau 

 

Chiều xưa em đã vọng cầu

Lái Thiêu vườn mộng ôm nhau dưới thuyền

Ăn sầu riêng nhỡ tơ duyên

Về mê vú sữa để em tình sầu 

 

Đêm buồn em ngắm trăng sao

Trách ai đã vẫy tay chào người ta

Chẳng còn cầu vọng thiết tha

Sầu riêng đã tách hai ta đôi đường
 

Trái tim cạn hết yêu thương

Chia hai lối mộng vấn vương suốt đời

Hè đi, thu đến anh ơi

Biên Hòa lẻ bóng nhìn trời chao nghiêng

 

Vì ta ăn phải sầu riêng?

Nên đời hiu hắt hai miền chia phôi

Trao em gánh nặng một đời

Sầu riêng ai bảo tuyệt vời đâu anh! (*)

 

Thương Việt Nhân Maryland 12/8/2010

 

* Thay VTT để nhại những lời thơ dễ thương




Du Tử Lê : Chương Năm: Thế Phong

Chương Năm: Thế Phong

(05/30/2010) (Xem: 360)

NGƯỜI ĐƯỢC MỆNH DANH CÔN ĐỒ VĂN NGHỆ, CAO BỒI TRÍ THỨC HAY NGƯỜI LỮ HÀNH SUỐT ĐỜI ĐÓNG VAI KẺ LẠ MẶT, KHẬT KHƯỠNG ĐI VÀO CUỘC ĐỜI VỚI NIỀM KIÊU HÃNH TUYỆT ĐỐI TRƯỚC MỘT ĐỊNH MỆNH BI ĐÁT.

Thế Phong, chỉ hai tiếng đó khi đọc lên, âm thanh tỏa ra chưa kịp tan loãng, nét nhăn nhó, khó chịu đã xuất hiện rõ ràng trên gương mặt người đối diện. Vì muốn hay không, ít hay nhiều, những người làm văn nghệ tại đây cũng đã hơn một lần chạm mặt hay đọc tác phẩm của người mang tên đó. Thường thì họ phải đối đầu với cái dáng vẻ lạnh nhạt, cái kiêu căng lố bịch tới “không thể chịu nổi” trong những cuộc giao tiếp hoặc “lật tẩy” hay bị soi đèn vào tim đen. Mặc dầu căm thù, hậm hực nhưng họ vẫn muốn lại gần, phải chăng để tìm hiểu kỹ địch thủ trước khi hạ nhục, đập gẫy đối phương. Hay ở một cõi sâu kín nào của tâm hồn đôi lúc họ cũng cảm thấy khâm phục? – Nhưng có một điều chắc chắn và hiển nhiên là khoảng mười năm trở lại đây, hai tiếng Thế Phong được nhắc nhở nhiều nhất. Năm 1961 trong một cuộc hội thảo ở LE CAIRE, Cù Huy Cận tác giả Lửa Thiêng xưa cũng đã nhắc tới cái tên này với nhiều ngợi ca, khen tặng. Nói như thế không có nghĩa là cai tên đó thơm tho, đẹp đẽ gì, trái lại, chung quanh nó không biết bao nhiêu giai thoại, bao nhiêu điều tiếng xấu xa, ô trọc. Nhưn nếu để ý ] một chút, chúng ta sẽ thấy: càng bị vùi dập, bôi nhọ bao nhiêu, tên Thế Phong lại càng thấy xuất hiện trên các tác phẩm bấy nhiêu (phần lớn là trên các tác phẩm in bằng ronéo). Hầu hết mỗi tác phẩm mang tên này được giới văn nghệ tại đây coi như là một cái gai, một cái gì rất chướng rất bực bội., Hồi đó, nội việc in sách vằng ronéo, in hình, in tên thật to cũng đủ làm mất cảm tình biết bao nhiêu người. Cái tôi vốn đã khó thương, lại còn sơn phết nữa thì làm sao ai chấp nhận cho nổi. Không những chỉ thế mà thôi, sau này những nhân vật góp mặt trong ĐNVH, một số cũng rập khuôn theo người chủ trương. Nghĩa là cũng ngông ngông nghêng nghêng, cũng cố tình làm ra cái vẻ bất cần đời, ra cái vẻ khác người, lấy sự khó chịu của người khác làm một điều vinh hạnh.

Riêng tôi ngay hồi chưa quen biết ông, tôi đã cho rằng thái độ của người bất cần đời là phản ảnh một trạng thái tâm lý bị phản bộ, bị hắt hủi tàn nhẫn. Những kẻ thù ghét khinh bạc cuộc đời bao nhiêu, chính là kẻ yêu cuộc đới tha thiết đắm say hơn ai hết. Những kẻ ra mặt lãnh đạm, chê  bai, không thừa nhận người khác, là những kẻ trong thâm tâm chất chứa quá nhiều mặc cảm nhiều tỵ hiềm, vì họ thấy thua sút, hèn kém hơn kẻ khác, nên cố tạo bộ mặt khinh thị, cố mặt khoác cho mình một thái độ “mục hạ vô nhân” để che dấu mặc cảm tự ty, bất lực, họ ẩn náu và thu hình trong cái thế giới không tưởng tự tạo đó. Thế Phong, con người điển hình cho trường hợp tâm lý dồn nén này? Tiếc thay, những  người làm văn nghệ tại đây lại không ngớt lời chửi rủa Thế Phong. Điều đó tuy có ve vuốt một phần nào tự ái của họ, nhưng vô tình họ đã tạo một lớp màn bí mật, huyền hoặc phủ quanh tên ông. Với bản tính tò mò, độc giả hoặc những người chú tâm tới sinh hoạt văn nghệ phải thắc mắc tự hỏi: “tên đó là ai, làm gì, mặt ngang mũi dọc ra sao mà ghê gớm láo lếu vậy? Rồi từ những, băn khoăn không được giải đáp thỏa đáng, người ta đã vẽ trong trí tưởng một hình thù, một khuôn mặt, một nếp sống, khác nhau tùy theo những giai thoại họ được nghe nhiều hay ít. Đồng thời họ cũng thích thú, ham mê khi được ai nói những gì liên quan tới người đó. Thói thường khi có nhiều người muốn nghe, biết về một trường hợp đặc biệt nào, thì tự nhiên cũng nẩy sinh một số người khác (thuộc loại thích khoác lác huênh hoang, thích tỏ ra ta đây là kẻ thao tin, biết nhiều, giao thiệp rôäng, nhất là được chứng tỏ mình rành rẽ tin tức hậu trường văn nghệ, đã không ngần ngại thêu dệt, bịa đặt thêm bớt  nhiều về Thế Phong. Cuộc sống lang thang khó hiểu của ông lại làm tăng thêm mức độ tin của huyền thoại. Thế Phong làm gì? Tiền đâu đêå sống, tiền đâu đêå in sách nhiều thế dù cho sách RONÉO! Những câu hỏi này cũng được đặt ra cho chính những bạn hữu quen biết với ông nữa. Và tôi khi chưa quen biết ông cũng đã có sẵn cảm tình với ông râát nhiều khi đọc Lược Sử Văn Nghệ Viêät Nam, môät công trình biên khảo nhận định văn học công phu, nhưng tới khi đọc báo, nghe anh em nhắc bàn, xì xầm, tôi cũng đâm ghét và thầm nghĩ nếu có dịp sẽ ‘đập” cho hắn một trận. Tôi còn nhớ trên phụ trang văn nghệ nhâät báo ngôn luận (hồi còn mồ ma Tổng Ngô) cô (?) Kiều Diễm Hồng đã viêát vài lời nhắn nhủ những bậc phụ huynh nào có con em thì hãy nhớ đừng đặt cho nó cái tên Thêá Phong và hãy coi như cái tên đó không có trong từ ngữ VN. Nguyên do có một cô hay cậu học trò nào đó đăng bài trên phụ trang báo kia với bút hiệu Thế Phong, Ông viết thư yêu cầu cải chính!

Khoảng năm sáu năm trước, khi chưa tòng quân, tôi hay la cà vào buổi chiều trên Bonard, mỗi khi ngồi quán cà phê Kim Sơn, Thế Phong đi qua, là y như có người chỉ trỏ hay mách bảo nhau nho nhỏ. Từ hồi đó, trong trí nhớ tôi đã in đậm khuôn dáng ông. Một thân hình cao lớn vạm vỡ, tóc dài như tài tử, da đen xạm, mặt hình như lúc nào cũng đầy  nét nhăn dữ tợn. Nếu không từng xem ảnh trên sách, cũng như nếu không có người cho biết, chắc tôi không thể ngờ rằng con người có vẻ thô lổ như vậy lại có thể là một nhà phê bình văn học, một văn, thi sĩ, kiên cả khảo cứu chính trị… Những thắc mắc, nghi hoặc cứ lởn vởn trong óc tôi. Không hiểu ông thuộc mẫu người nào? Đâu là khuôn mặt thực? Tôi cố để tâm dò hỏi. Nhưng như trên tôi đã nói: ông đi, ở, hiện, biến như một cái bóng. Tình trạng mù mờ kéo dài  mãi cho đến khi tôi nhập ngũ. Tuy cuộc sống đã thay đổi và chính tôi; cũng không còn là tôi ngày nào nữa. Nhưng tôi vẫn theo dõi sinh hoạt  văn nghệ ở đây. Mỗi khi giới văn nghệ xôn xao vì một cuốn sách nào đó dù chưa biết mặt mũi nó ra sao, tôi cũng có thể đoán được và ít lầm: lại Thế Phong tác giả.

Tiêu biểu nhất cho trường hợp này là những cuốn Nhận diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh, MƯỜI NĂM VĂN NGHỆ, NỬA ĐƯỜNG ĐI XUỐNG và gần đây Thế Phong  NHÀ VĂN TÁC PHẨM CUỘC ĐỜI. Tôi xin đơn cử một trường hợp, khi Thế Phong cho in cuốn Mười Năm Văn Nghệ, ông xếp của tôi cũng từng viết văn in sách đã phải lên tòa soạn tạp chí Bách Khoa xem (Thế Phong có gửi biếu một cuốn tại đây). Không phải ông ấy quí hóa hay hâm mô gì Thế Phong, nhưng ông ấy tìm đọc xem trong đó có nói gì tới ông không?

*

Điều mong mỏi, ước ao được tiếp xúc với Thế Phong tiềm tàng trong tôi. Thỉnh thoảng nó lại khuấy động tâm hồn, mỗi khi tôi nghe một giai thoại, đọc một đoạn văn một trang báo có nói tới con người, “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” này.

Cho tới một hôm, tôi cùng TTK xuống nhà in Nguyễn Trọng Gia Đình, điều đình in cuốn thơ của tôi. Bất ngờ, tôi gặp Thế Phong ở đầu ngõ cùng anh Năm Cao (chủ nhà in NT), TTK giới thiệu tôi với TP. Vừa bắt tay tôi ông vừa nói: “A! Tác giả mai em lấy chồng em đừng quên tôi đây. Em đã lấy chồng thì hơi đâu em còn nhớ nữa!”. Tôi không kịp nói gì, chỉ mỉm cười vì ông nói rất nhanh, rất nhiều và cũng rất lớn. Ngay từ phút đầu, không khí thân mật, cởi mở đã đến với chúng tôi. Ông kéo chúng tôi đi “vào đây uống tý cà phê nói chuyện thú hơn”.

Suốt buổi, ông nói chuyện huyên thuyên, tiếng sang sảng, giọng cười như thủy tinh vỡ, hầu như ông quên rằng trong quán còn có nhiều người khác nữa. Sau này tôi mới biết rằng đó là bản tính ông: coi thường tất cả, kể cả cuộc đời, mạng sống, tình yêu, tiền bạc…

Ông nói chuyện rất hấp dẫn, lôi cuốn, mặc dù rất lung tung, đang từ chuyện này, nhảy sang chuyện khác. Phần lớn những chuyện ông kể là những chuyện cười ra nước mắt, những gì xấu cũng như tốt về ông. Thí dụ ông kể chuyện trong một bữa tiệc tổ chức tại một biệt thự ở ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Thanh Giản (do Lý Trung Dung thết nhân dịp lễ giáng sinh 1959). Hồi đó ông và Lê Xuân Khoa đại diện cho văn hóa Á Châu. Ông ăn mặc rất xuề xòa, lại không ngồi cùng bàn với LXK, sang bàn Uyên Thao, Lý Đại Nguyên, bàn những người trẻ. Tới lúc vào tiệc, thay vì được như uống sâm banh Moet Chandon bằng ly đặc biệt như những bàn khác thì tên bồi ba lại mang ra ly thường (có lẽ tại thấy bàn này không có vẻ gì là đại khách), ngoài ra tên này còn không mang bánh bích quy “LU” tới. Ông lên tiếng hỏi tên bồi ba lần, tên này lơ đi, không thèm trả lời. Ông liền bảo cho gặp chủ nhân tức LTD , lúc đó, ông bồi giật mình, trở vào nói cho Dung biết, không còn cách nào hơn, LTD liền nhờ Phạm Xuân Thái (Tổng trưởng thông tin 1954 mà Thế Phong làm ủy viên báo chí) ra giàn xếp, nhưng khi PXT ra tới nơi đã muộn, ông đã dùng sâm banh cổ trắng rửa tay, tiếp theo là Uyên Thao rồi Lý Đại Nguyên lần lượt rửa theo ông vì lịch sự… Trước sự cởi mởi, giản dị không kiểu cách, không mầu mè của ông, tôi ngạc nhiên vô cùng.

Với khuôn mặt đen xám, cùng những vết nhăn nheo chằng chịt trên trán, hai bên má, lại thêm cái cằm bạnh, tóc húi “cua” dựng ngược, lởm chởm, vẻ dữ tợn lại tăng thêm nữa. Khi hỏi ra, tôi mới biết lý do cạo tóc “để con nợ khỏi nhận diện”. Ngày xưa, ở ông đã không có cái dáng vẻ nghệ sĩ, nay lại càng không hơn nữa. Tôi có cảm tưởng nếu người nào không biết qua sách báo, lần đầu gặp ông, chắc chắn sẽ có cảm tưởng vừa tiếp xúc với một tên côn đồ, một anh lơ xe, chứ không thể nghĩ rằng ông là nhà văn, hay một người có tâm hồn nghệ sĩ.

Buổi sơ ngộ này, ông đã chiếm trọn vẹn cảm tình của tôi. Tôi cũng không ngờ  cảm tình quý mến lại đến với tôi nhanh thế.

Trước khi về, TTK bảo tôi nên đưa tập thơ của tôi cho ông đề tựa. Ý kiến thật hay. Nhưng tôi còn ngập ngừng e ngại. Vì tuy giữa tôi và ông đã có được cái không khí cởi mở thân mật thật đấy, nhưng tôi cũng từng biết, đã hơn một lần, ông vứt tập thơ của một vị trung úy nhờ ông viết tựa, từ chối đề tựa cho một cuốn sách của nhà văn kiêm ký giả báo Dân Chủ. Nên tôi sợ ông từ chối lời ngỏ ý của tôi. Tôi không sợ thơ tôi dở, khiến ông phải từ chối, nhưng tôi sợ ông từ chối để thỏa mãn bản tính tự kiêu, tự đại, hay để lập thêm một thành tích “hiển hách”. Như vậy chẳng hóa vô tình tôi biến thành một thứ phương tiện để ông quảng cáo cái “TÔI” của ông trong những lúc vui với bạn bè. Cuối cùng tôi  nghĩ: thì cứ thử một lần xem sao, biết đâu từ đây, chả  nhìn thấy khuôn mặt thực của họ. Tôi ngỏ ý, ông nhận lời ngay với lời phụ chú: “nếu thơ anh hay, tự nhiên tôi sẽ viết, còn nếu dở, xin trả lại anh”. Lời nói làm tôi an lòng một phần nào.

Sáng hôm sau trở lại nhà in, ông đã có mặt tại đây. Ông lại rủ tôi và anh Năm Cao ra quán. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất nhiều về nhiều vấn đề, từ văn hóa chính trị, tới xã hội, quân sự, lãnh vực nào ông cũng tỏ ra rất thông thạo, nhất là khía cạnh quân sự, ông tỏ ra rành rẽ hơn tôi rất nhiều về chiến thuật, cả về súng ống… Thì ra xưa ông vốn là cựu sĩ quan của quân đội Pháp. Ở đây, ông cũng cho tôi biết đã đọc xong tập thơ tôi đưa và ngỏ ý khen. Bao nhiêu lo âu, áy náy về tập thơ đã tan biến.

Tối hôm đó, tôi lên nhà ông ở ngã tư Bảy Hiền, sát cạnh rừng cao su. Qua chiếc sân rộng, tôi bước vào nhà, gian ngoài, trên tường treo rất nhiều đối trướng. Qua chiếc cửa nhỏ, vào gian buồng trong rộng hơn, kê hai cái giường và hai tủ sách lớn, một bàn viết, trên có một chiếc máy chữ loại nhỏ. Khi thấy tôi, ông reo to, chạy ra. Có lẽ vì đang đánh máy, nên ông ở trần chỉ mặc mỗi một chiếc quần tắm bó sát. Trong lúc đó ông không khác gì một võ sĩ (mà sự thực ông cũng đã từng là võ sĩ hồi còn ở Hà Nội. Tôi được nghe một người bạn: nhạc sĩ Tiên Yên kể rằng, ngày xưa học cùng một lớp với ông ở trường Thăng Long, suốt ngày ông chỉ đánh nhau. Hồi đó người ta chưa dùng tiếng cao bồi như bây giờ mà người ta dùng chữ “Dân Càn” để chỉ chung những tên du đãng, đánh lộn. Có một điều khác biệt là thời Hà Nội 1950, học sinh du đãng cũng đánh nhau, nhưng đùối tượng chính bao giờ cũng là Tây, nhất là Tây đen rạch mặt).

Chỗ làm việc của ông, rất gọn gàng, không bừa bãi vô trật tự. Trên tường phía tay phải, ngay chỗ kê chiếc giường ngủ, tôi đếm được 11 bức hình vừa vẽ vừa chụp đủ loại: nhìn ngang, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, có cả một bức ảnh phóng to, chụp năm ông 22 tuổi, mặt mũi trông rất hiền lành,  ngây ngô. Nhìn bức ảnh đó người ta khó mà đoán được rằng sau đó không bao lâu, ông đã thành một kẻ đập phá, ngang ngược nhất trong làng văn nghệ. Với những bức ảnh, tranh la liệt này, tôi có cảm tưởng ông mắc bệnh tự tôn? Một thứ bệnh mà nếu là kẻ thực tài, nó sẽ giúp họ tin tưởng mãnh liệt hơn nơi tài năng và là nguồn động lực đưa họ tới chỗ hăng say trong công việc. Nhưng nếu, nó chỉ phản ảnh một tâm hồn yếu đuối, bất tài, dựa vào đó để tự lừa dối mình, đánh lừa kẻ khác, thì ngược lại sẽ là một điều hết sức nguy hiểm. Bởi lâu dần, họ không còn nhìn thấy con người thật của họ nữa, ảo ảnh đã che mờ lý trí soi sáng chân dung đích thực.

Ông ngồi vừa nói chuyện với tôi vừa đánh máy, cuốn Thế Phong nhà văn tác phẩm cuộc đời. Nghĩ tới đâu ông đánh máy tới đó, không viết trước. Bên cạnh chiếc máy chữ là một ly cà phê to (loại ly sành) cùng hai bao bastos xanh “goũt” đặc biệt của ông. Ông uống cà phê như uống nước trà, và hút thuốc liên miên, ngay cả lúc đánh máy. Ngồi một lát, ông rủ tôi ra quán cà phê.

Sau một thời gian giao tiếp, tôi cũng không biết ông lấy tiền đâu để sống. Vì ngoài việc viết sách, ông không hề làm gì khác, cũng không hề viết báo. Chỉ biết ông về sống tại đây; nhà một người anh họ. Điều lạ hơn nữa là không bao giờ thấy ông than phiền về vấn đề tiền nong, hay kêu ca về những đau khổ mà cuộc đời đã dành cho ông. Không phải đời sống ông đầy đủ, không phải cuộc đời đã hậu đãi ông. Dĩ nhiên là thế! Hay ông là con người vô tư, đang sống trong hạnh phúc trong tình yêu tràn đầy? Tôi biết chắc cũng không phải. Thơ văn và thái độ của ông đã chứng tỏ hùng hồn điều đó. Tất cả những chuyện ông nói với tôi, tuy có chua chát, đắng cay, nhưng ông kể lại với một giọng hài hước dí dỏm, không một chút hậm hực, không một chút oán hờn than trách. Bất cứ ở đâu, chỗ nào ông cũng chỉ có một vẻ mặt: tươi cười, vui vẻ, một giọng nói vang động, vỡ nát. Nhưng tôi không tin tiếng cười, giọng nói đó đã phản ảnh mặt thực của tâm hồn ông.

Ở quán về, đêm đã khuya lắm, ông còn cố giữ tôi lại. Chúng tôi ra ngồi một chiếc ghế băng gỗ ngoài sân, dưới dàn hoa hồng giấy. Chiếc transistor để bên cạnh, phát ra  những âm thanh kích động của một bản nhạc ngoại quốc… Chúng tôi im lặng hút thuốc. Mỗi khi đốm lửa xòe lên, lại một lần soi sáng khuôn mặt nhăn nheo, dữ tợn, lì lợm của ông. Nhưng không như mọi lần, ở đây mỗi khi liếc nhìn, tôi thấy ẩn sau những nét nhăn, có vẻ hung hãn kia, có một cái gì rất mỏng manh, rất khó nhận nhưng cảm được. Một nỗi buồn, một vẻ ưu tư trầm kín; cái cảm giác mơ hồ về một đớn đau, một khoắc khoải quằn quại, một chán chường, khốn nhục… Tôi không biết trong thâm tâm, lúc đó ông nghĩ gì? Hay không nghĩ gì? Tôi bỗng thấy buồn…. Bỗng thấy một niềm thương tiếc không đâu dâng lên rạt rào trong hồn tôi. Xa xa tiếng súng đại bác từ miệt Phú Lâm vọng tới. Ông thở dài nói như một mính: “tôi không còn gia đình thân thích nào ở đây cả. Trong đời tôi, tôi chỉ quý mến và nghe lời một người, đó là mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi không có ở đây, bố tôi cũng vậy. Tôi không anh em ruột thịt, một thân, một mình, chả cần! Sống theo những gì mà mình muốn, làm những cái gì mà mình thích làm. Vợ con chưa có, lỡ có chết có tai tiếng, điều gì, cũng chỉ một mình mình gánh chịu!” Dừng một lát, ông tiếp, giọng thật nhẹ, xa xôi, khác hẳn ngày thường, khiến tôi có cảm tưởng như tiếng nói đó không phải của ông mà của một ai xa  lạ: “tôi khôngmuốn để ai biết tôi buồn, nỗi buồn của tôi chỉ có tôi biết mà thôi, tôi cũng không muốn nhận hay mang ơn ai cả”.

Đốm lửa lóe lên soi sáng khuôn mặt u uẩn của ông một lần chót, rồi bị bắn vút vào khoảng tối đen. Tôi cũng rụt nốt mẩu thuốc. Hành động bắt chước, không mang theo ý nghĩa nào… Còn mười lăm phút nữa đến giờ giới nghiêm. Tôi đứng dậy ra về, sau khi nắm chặt bàn tay lạnh lẽo của ông (hay của tôi?) tiếng động cơ chiếc solex cũ, hơi đêm buốt giá làm tôi tỉnh táo. Nhưng nỗi buồn vơ vẩn lại lớn dần, lớn mãi, lấp đầy khoảng trống mênh mông trong lòng tôi.

Từ đó, tôi tìm đến với Thế Phong nhiều hơn, và chúng tôi cùng lang thang nhiều hơn. Mỗi lần giao tiếp, ông lại làm tôi thêm một lần ngạc nhiên vì tất cả những ức đoán ban đầu, cũng như những huyền thoại tôi được nghe về ông mất dần nội ý. Tôi bắt đầu nghĩ về ông với tất cả những mâu thuẫn, tương tranh. Càng muốn vào sâu tâm hồn ông, tôi càng cảm thấy bối rối, mù mịt, bất lực. Tôi không còn phân biệt nổi đâu là hư, đâu là thực nữa. Nếu sự thực ông là con người bất cần đời, coi thương tất cả, thì tại sao ông lại có thể hăng say tới độ cuồng nhiệt, đam mê tới độ khủng khiếp trong một ý thức sáng suốt về những hoạt động nghệ thuật văn chương. Ít nhất ông cũng phải có một niềm tin tưởng khẩn thiết về một giá trị nào đó, ông mới có thể mê man, hiến dâng như vậy.

Một hôm, một người bạn đã từng chung sống với ông trong những ngày đói rách nhất, những ngày chạy vạy từng đồng bánh mì, hay gói xôi, uống nước lã cầm hơi và trốn nợ, đã nói với tôi: “bọn chúng tôi đã bất công rất nhiều với nó (chỉ TP), nó là thằng nghĩ thế nào làm thế đó, không ác tâm, không ẩn ý, tại sao khi đến với nhau cứ phải đeo mặt nạ rồi đòi người ta phải thành thật với mình!”

Tôi băn khoăn rất nhiều về câu nói hàm xúc ý nghĩa này. Và giữa lúc bị dày vò, day dứt, tôi nảy sinh khao khát tìm kiếm đối diện với gương mặt tâm hồn ông.

*

TIỂU SỬ

Thế Phong tên thật là Đỗ Mạnh Tường, sinh ngày 10-7-1932 tại Nghĩa Lộ, Yên Bái. Ông là đứa con cầu tự duy  nhất còn sống sót trong số 5 anh em. Thân sinh ông là một nhà giáo, tham gia VNQDĐ, chống Pháp và Việt Minh, nên bị đày lên vùng thượng du. Bị bất đắc chí vì công đã không thành, danh lại chẳng toại, thân phụ ông sinh ra nghiện hút, bê tha. Tôi thấy hầu hết những người mắc bệnh nghiện thuốc phiệân thường rất ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình và chỉ mình mà thôi, ngoài ra không kể gì hết, dù cho vợ con cha mẹ. Thân phụ ông cũng thế. Nên mặc dù là con cầu tự, nhưng ngay từ hồi bé, ông cũng chỉ nhận được một tình thương yêu nồng nàn của mẹ. Còn cha ông, không  những không thương mà lộ tỏ thái độ ghét bỏ và đánh đập hành hạ ông.

Một kỷ niệm sớm hằn sâu trong trí ông hồi 11 tuổi. Tại một nông trại làng Bửu (thuộc Yên Bái) cha ông sai ông đi mua thuốc phiện. Muốn đến nơi bán thuốc phiện phải lội qua một con suối, mà con suối đó đang ở vào thời kỳ nước lũ, nó chảy xiết vô cùng. Lần đi, trót lọt. Nhưng lần về, phần ngựa đã yếu sức, phần nước lại chảy xiết hơn, thác nước đã cuốn trôi mất ngựa và ông chới với giữa giòng. May sao ông bám được một rễ cây lềnh bềnh trên giòng nước, trong khi đó bên kia bờ cha mẹ ông đang đứng chờ. Tới lúc tìm cách lội về được bên bờ, cha ông không nói một lời an ủi thăm hỏi, cầm thuốc đi thẳng về nhà, chỉ có mẹ ông ôm lấy con mà khóc nức nở…

Mối oán giận người cha nghiện ngập này bắt đầu in hằn trong tâm trí ông. Sống giữa thiên nhiên, giữa núi rừng, suối thác, giữa cái rét thâm da, tím thịt của mùa lạnh trời Việt Bắc, ông sớm có một tinh thần chịu đựng, dẻo dai, cam đảm. Một trí hướng thích phiêu lưu mạo hiểm, tự lập, cộng thêm bản chất vốn hiếu động đã ảnh hưởng rất lớn tới thái độ, sự nghiệp văn chương của ông. Năm 11 tuổi dục tình nơi ông bộc phát.

Người con gái đầu tiên mà ông mê đắm là một cô bé cùng tuổi, học cùng trường, khi chiến tranh Pháp – Việt ngày càng tới độ khốc liệt, gia đình ông phải tạm lánh nạn ở một làng khác, tương đối bình yên hơn. Tại đây, ông gặp một cô gái Thái (đồng bào thiểu số tại miền thượng du BV) vợ một người lính, và đem lòng yêu, mê. Vì chuyện này, một lần nữa ông lại suýt chết, người lính kia dọa bắn ông. Mẹ ông hay biết, sợ quá, vội vàng gửu ông ra Hà Nội.

Thế là chưa quá 12 tuổi, ông đã xa gia đình, xa người mẹ mà ông yêu kính. Ông không ngờ lần đầu tiên và cũng là vĩnh biệt. Sống giữa Hà Nội, một đô thị phù hoa, lại thêm không phải lo nghĩ gì về mặt tài chính, ông cho rằng đó là khoảng thời gian đẹp nhất của đời niên thiếu. Những chuỗi ngày huy hoàng, gấm nhung, kéo dài tới năm 1952 thì ông mất liên lạc với gia đình (quân Pháp thất trận hoàn toàn tại Nghĩa Lộ). Sau này, năm 1957, tại Saigon, ông được một người quen biết xưa với gia đình cho biết: mẹ ông đã chết ngay khi Việt Minh chiếm được Nghĩa Lộ.

Năm đó ông vừa được 20 tuổi. Đang từ một học sinh ngày hai buổi rong chơi, trai gái, không biết lo nghĩ mưu sinh là gì,  nay phải lăn xả vào đời, tranh tìm miếng sống. Nhờ hoàn cảnh xưa đã huấn luyện cho ông một sức chịu đựng, một tinh thần cam đảm, tự lập, nên ông vẫn sống được tại Hà Nội mặc dù lây lất đói khát. Sự mất liên lạc với gia đình đã biến đổi hẳn tâm tính con người ông. Sự tuyệt vọng, linh cảm một ngày mai đen tối, nỗi buồn ghê lạnh của một ý thức mất hết, ông bắt đầu có ý nghĩ mượn thơ văn giải tỏa phần nào nỗi cô đơn hoang mang. Bài đầu tiên được đăng trên báo là truyện ngắn “đời học sinh” nhật báo Tia Sáng tháng 11 năm 1952 với biệt hiệu TƯƠNG HUYỀN.

Sau gần hai năm trường, ngày lang thang ngoài phố, đêm tìm về ngủ dưới mái hiên nhà HÁT LỚN Hà Nội. Nơi đây, đêm đêm tập trung đủ mọi hạng từ ăn cắp, đánh giầy, đấm thuê, chém mướn v.v… Nếu đêm nào về chậm, sẽ không còn chỗ và phải ngủ ngoài trời hay vườn hoa. Từ đây ông bắt đầu làm quen với văn nghệ. Ông viết bài gửi cho các tờ Thân Dân, Dân Chủ. Tuy mỗi khi bài được chọn đăng, mấy ông chủ báo cũng có trả tiền nhuận bút, nhưng chả bao nhiêu vì bài của một tên vô danh tiểu tốt… Trong khi tất cả bạn bè, thân thuộc hầu như đều xa lánh và lẩn tránh ông như lẩn tránh một tên hủi, chỉ có một người bạn đã tận tình giúp đỡ ông đó là ông Nguyễn Thế Hiển.

Qua bao nhiêu cố gắng, chịu đựng, ông vẫn không thoát khỏi cái cảnh màn trời chiếu đất, đói rách. Thêm vào đó, sự hắt hủi xa lánh của mọi người, ông nghĩ không còn cách nào hơn là bỏ đi tìm cách khách.

Ông vào Nam trước khi có hiệp định Genève.

Tôi nhận thấy, thường khi đời sống của một người mà giá trị làm người bị chà đạp phũ phàng thì người đó hoặc sẽ buông trôi và chìm sâu trong cơn lốc của định mệnh bi thảm, hoặc, nếu vượt qua được, họ sẽ trở nên kiêu căng, liều lĩnh, dám làm những chuyện mà một người bình thường không dám làm hoặc không dám nghĩ tới.

Theo tôi có lẽ Thế Phong đã rơi vào trường hợp thứ hai. Dĩ vãng với hai lần suýt chết. Với thiên nhiên, giữa núi rường Việt Bắc. Tất cả đã sớm nung nấu cho ông một lòng tự tin, kiêu hãnh, ngạo mạn, cái vẻ hiên ngang thách đố thiên nhiên, định mệnh. Thêm một tâm hồn  náo nức chân trời xa rộng… Mộng mạo hiểm, phiêu lưu bấy lâu tiềm tàng trong mạch máu, nay lại được dịp bộc phát mãnh liệt với niềm khát khao tìm bắt cả một tương lai huy hoàng sáng rực. Cuộc giang hồ từ Bắc vào Nam đã khơi hứng cho ông viết cuốn “nửa đường đi xuống” (ĐNVHXB 1961).

Những tưởng miền đất phù sa mầu mỡ như miền Nam, sẽ chịu cho người lãng tử bất đắc dĩ, tứ cố vô thân, nương náu; ai ngờ định mệnh vẫn chưa chịu buông tha con người bất hạnh đó. Ở Saigon ông lại tiếp nối cuộc sống tối tăm, khốn khổ, nhục nhã như xưa và có phần còn hơn thế nữa! Những ngày đầu tiên tại đây ông tìm về Xóm Chùa tá túc. Một khu đặc biệt tập trung những người thất cơ lỡ vận,  chờ thời, đợi thế, và những người thuộc giai cấp thấp hèn nhất của cái xã hội công bình bác ái, như xã hội Việt Nam!

Từ đây, những trang sách của cuốn biên khảo phê bình văn học lược sử văn nghệ Việt Nam (4 cuốn), mà theo tôi mang một giá trị đáng ghi nhớ hơn cả trong sự nghiệp văn nghệ của ông.

Cũng bắt đầu từ đây, hoàn cảnh xô đẩy, dồn ép, ông đi đến chỗ không thể dừng: một tên bất nhân, quỵt tiền cơm trọ, trốn nợ tiền cà phê thuốc lá trong suốt sáu tháng liền. Cũng từ đấy, những mối tình lăng nhăng nảy sinh. Kết quả cụ thể nhưng đau đớn: một đứa con rơi, với một người đàn bà cùng xóm có chồng đi làm xa.

Thói thường, sự đói rách, nhục nhã là một mảnh đất mầu mỡ để tài năng bộc phát trọn vẹn. Hoàn cảnh xã hội đã tạo nên một Thế Phong với gần 40 tác phẩm đủ loại.

Thời gian ông sáng tác mạnh nhất có lẽ là thời gian ông yêu LB một cây bút nữ lưu. Sau nữa, CMN một người làm thơ  nhanh như ống nước. Sự có mặt của hai người này đã khiến ông viết điên cuồng. Bằng chứng cụ thể là vì yêu LB mà ông cố gắng hoàn thành bộ lược sử văn nghệ VN. Cũng như nhờ mối tình thiết tha đắm đuối của CMN mà ông thêm vững tin nơi tài năng. Ông cho rằng CMN là người hiểu ông nhiều hơn ai hết và cũng cùng gánh chịu với ông rất nhiều điều tiếng xấu xa, nhiều nhục nhã, dè bỉu của thiên hạ, của cả gia đình nàng nữa.

Sở dĩ tôi chỉ nói về hai người đàn bà này, mà không nhắc tới những người khác, mặc dù họ có tham dự, có chi phối ít nhiều cuộc sống ông, vì ảnh hình họ chỉ là một thứ ảnh hình mờ nhạt, thoảng qua. Hơn nữa tôi khó có thể kể hết, vì họ quá đông đảo, đủ mọi thành phần, mọi giai cấp: lao động, me tây, gái nhẩy, đĩ điếm và cả học sinh… Với ông hầu  như tất cả đều nhẹ, rất nhẹ, kể cả tình yêu, ông có tính thích cái gì thì làm cái đó, càng khó càng thích, nhưng phải làm cho bằng được, xong rồi lại chán và rất dễ quên. Kể cả chuyện hy sinh tính mạng, phẩm giá, ông cũng không ngần ngại, nếu đó là một phương tiện tốt cho mục đích tối hậu là phục vụ văn học nghệ thuật.

Về những hành động ngang tàng ngỗ ngược, khinh mạn kiêu căng ở trên, tôi đã có dịp nói tới với ý nghi ngờ, cho rằng đó chỉ là những hành vi giả tạo, để che dấu cái thực chất yếu đuối  bất mãn, bi quan bất lực. Nhưng sau này, qua những lần đi chơi với ông, tôi mới thấy rằng đó là đặc tính cố hữu, phát xuất từ tâm hồn. Ông đã từng nói với tôi: “tôi biết con đường tôi đi, thái độ tôi chọn sẽ đưa đến cho tôi rất nhiều kẻ thù, rất nhiều điều tiếng, nhưng tôi nghĩ; thà có nhiều kẻ thù còn hơn tự dối gạt lương tâm mình. Nếu cảm thấy rằng không thể chịu nổi búa rìu dư luận, thì tốt nhất là đừng cầm bút, đừng làm văn nghệ, hãy bỏ đi buôn, làm công chức để được nhiều người yêu thích. Riêng tôi khi nào cảm thấy không còn đủ cam đảm để sống thực với cảm nghĩ, với ý thức của tôi, tôi sẽ thôi làm văn nghệ”.

Cũng vì thế, cho nên bước khởi đầu, ông đã gặp rất nhiều gian nan nhục nhã. Không những nhục nhã, đau xót về vật chất mà còn ở cả lãnh vực tinh thần. Chung quanh ông, những người không ưa, những người ghen ghét đã không tiếc lời dè bỉu, họ bịa đặt thêu dệt nhiều giai thoại, với mục đích làm sao loại trừ ông khỏi hàng ngũ những người cầm bút. Dĩ nhiên không phải đó là thái độ của hết thảy những người cầm bút tại đây, chỉ có những tên hoạt đầu, những tên bồi bút, bán rẻ lương tâm, quên hẳn thiên chức cầm bút của mình, mới hằn học, tỵ hiềm như vậy mà thôi. Thêm nữa, ông còn bị một số bạn bè bội phản một cách đê hèn, trắng trợn.

Nhưng, càng nhục nhã, càng khốn khổ bao nhiêu ông càng hăng hái, bất chấp tất cả, vượt lên trên để sáng tác nhiều hơn nữa, càng thẳng thắn phê bình, vạch mặt chỉ tên, phanh phui mọi bỉ ổi thối tha, điếm nhục của bọn đánh đĩ tâm hồn, bán rẻ lương tâm.

Dưới ngòi bút vũ bão, ngang bướng của Thế Phong, bao nhiêu tệ đoan, bao nhiêu bẩn thỉu bất công của xã hội, của chế độ, của cả những người đang được xung tụng là thần tượng v.v… đều bị phơi trần trên giấy trắng mực đen. Cảm kích trước thái độ cương trực của ông, một số anh em nghệ sĩ khác đã quy tụ lại, hợp tác với ông thành lập nhóm Đại Nam Văn Hiến, như Uyên Thao (tác giả bộ Lược khảo về thơ (3 cuốn), Nhị Thu (tác giả “mây Hà Nội” Bùi Khải Nguyên … (tác giả “Thiết Tha”, cũng chỉ vì nhất định in tập thơ này mà nhà thơ họ Bùi Nguyên trung úy, đang tùng sự tại ủy hội quốc tế đã bị thuyên chuyển lên cao nguyên, sau khi công an mời ra cảnh sát cuộc lấy khẩu cung).

Mặc dù dưới chế mật vụ như chế độ Ngô Đình Diệm, ông vẫn cố gắng lần lượt cho in bằng RONÉO (không giấy phép) những tác phẩm nội dung lên án chế độ độc tài áp bức, bất công, thối nát của chính quyền. Hành động gan liều này đã làm điên đầu, gây lo sợ cho những vị giám đốc thông tin thời đó như Trần Văn Thọ, Phan Văn Tạo là những vị giám đốc, tổng lý bộ thông tin. Các ông sợ nếu cứ để Thế Phong tiếp tục in tác phẩm chửi chế độ “ấm no hạnh phúc” của các ông, có ngày các ông sẽ mất ghế, sẽ bể nồi cơm không chừng. Hơn nữa, rất có thể các ông sẽ bị đi ở “tì” vì tội để cho một tên văn nghệ “làm loạn”. Các vị này, ngay cả ông bộ trưởng Hiếu cũng tìm đủ mọi cách khuyên dụ Thế Phong hãy bỏ lối in đó đi, nếu cần in tác phẩm, cứ đưa cho ông ta, ông ta sẽ bảo nhà in Quốc Gia in cho! Nhưng Thế Phong có dại gì nghe theo những lời dụ dỗ ngon ngọt đó! Thấy chiến thuật mềm dẻo không có kết quả, các vị quay ra dùng quyền hành đe dọa, lấy áp lực hầu mong ông sẽ hoảng sợ mà bỏ dở công việc, nhưng Thế phong vẫn thản nhiên, lặng lẽ, âm thầm làm công việc của mình. Tôi xin trích dẫn một thí dụ để độc giả thấy rõ thêm về trường hợp in RONÉO không giấy phép. Tháng 4 năm 59, ông cho in cuốn “Nhà văn tiền chiến”, thấy sách được tiếp đón nồng nhiệt (mặc dầu in RONÉO), ông liền cho in cuốn tự truyện “nửa đường đi xuống”, nội dung lên án gắt gao chế độ độc tài đầy thối nát nhơ bẩn, biết chắc rằng nếu có xin phép cũng chẳng ai chịu cấp cho, nên ông cứ cho in và lấy giấy phép của cuốn “hình ảnh một cái đám cưới” số 300 TXB thời nhà văn phóng sự Trọng Lang phụ trách kiểm duyệt. Thêm nữa, khi cho xuất bản cuốn “nếu anh có em làm vợ” (nói về tình yêu của ông với CMN không những ông không xin phép mà cũng không ghi số kiểm duyệt ma nữa.

Nhờ tựa đề hấp dẫn nên sách đã bán khá chạy và dĩ nhiên các tiệm sách vẫn nhận bày bán. Như bị tát vào mặt, bộ thông tin không còn cách nào khác là mời ông đến bộ để đối chấp và nếu ông tới, có thể sẽ bị áp tải đi luôn.

Nhưng Thế Phong nhất định không đến, mặc dù công văn gửi đi ba lần, đều đề Thượng Khẩn (chúng tôi xin nói thêm để độc giả rõ: thời đó, muốn được cấp một tấm giấy phép in sách phải trải qua đủ ba cơ quan: Văn hóa vụ, hội đồng kiểm duyệt, nha CTTL).

Dưới đây, tôi xin chép lại nguyên văn một trong hai công văn mà ông Phan Văn Tạo tổng giám đốc thông tin xưa và cũng là tác giả tập truyện ngắn “cái bong bóng lợn”.

Saigon, ngày 25 tháng 7 năm 1963
Số 4044 CDV/TT/HĐKD
Tổng giám đốc thông tin

Kính gởi

Ông giám đốc Đại nam văn hiến xuất bản cục Phú nhuận

Thưa ông giám đốc,

Quý ông đã có nhã ý gởi tặng tôi bản dịch cuốn LA CRAVACHE của GHEORGHIU do Đại Nam văn hiến phát hành, tôi xin kính gửi lời chân thành cảm tạ. Song le, trên phương diện kiểm duyệt, nha tôi nhận thấy Đại nam văn hiến xuất bản cục đã hiển nhiên vi phạm luật lệ hiện hành vì đã không nạp duyệt tác phẩm trước khi xuất bản.

Ông tổng giám đốc cũng đã thừa rõ những phiền phức có thể xảy ra với hành vi phạm pháp trên đây, nhất là ngay khi nhận được lá thư gửi “Anh chị em làm nghệ thuật và độc giả” nha tôi đã tùng tại công văn số 3491/TT/HĐKD ngày 2 tháng này lưu ý và yêu cầu ông giám đốc gửi duyệt những tác phẩm mà ĐN VH XBC định cho ra mắt độc giả? Vì  lẽ đó và mặc dù tôi rất quý trọng các văn phẩm, tôi không thể nào với tư cách tổng giám đốc thông tin nhận gởi tặng một bản dịch không kiểm duyệt dù là bản này in RONÉO. Tôi xin phép được gửi lại quý cục cuốn sách trên.

Tôi cũng xin dành lại quyền hành động theo các điều 6 và 7 nghị định số 275-PTT/TTK 5-4-1954 ấn định thể thức kiểm duyệt các ấn loát phẩm xuất bản trong nước.

Vài lời thành thực mong ông giám đốc thông cảm và xin trân trọng kính chào ông giám đốc.

Kính thư Phan Văn Tạo
(chữ ký và con dấu) (1)
(1) Trích trong TP Nhà văn Tác phẩm cuộc đời, trang 99 – ĐNVHXB.

Đọc kỹ công văn trên, hẳn độc giả đã thấy rõ cái nguy hiểm, cũng như sự liều  lĩnh bất cần của Thế Phong nó nói lên được phần nào thực chất tâm hồn ông.

Tới đây tôi xin nói về nguyên nhân khơi nguồn loại sách RONÉO mà Thế Phong là người đầu tiên thực hiện (sau này cũng có rất nhiều người bắt chước, mặc dù trước kia họ đã từng lên tiếng chỉ trích, chê bai như thiếu tá thi sĩ Hoàng Trinh với tập “Tiếng hát TỰ DO” rồi Minh Đức Hoài Trinh… gần đây có Nguyễn Văn Trung, giáo sư, với tập báo Hành Trình).

Hồi đó, Uyên Thao, người bạn thân nhất của Thế Phong, nói với ông rằng: “tình trạng bế tác này, nếu không tìm ra một lối thoát thích hợp với hoàn cảnh (chính trị cũng như kinh tế, tài chính), bản thảo của mình chắc sẽ thất lạc mất. Hay là mình cho quay RONÉO”. Như bắt được vàng, Thế Phong thực hiện ngay. Hôm sau, Uyên Thao đi mượn ở đâu về được một cái máy chữ cũ tới độ khó có thể khảo trợ nổi. Nhưng ông cũng đem đi sửa chữa qua loa, rồi không nói không rằng gì cả, xoay trần ra đánh máy suốt ngày tại nhà mẹ nuôi của Uyên Thao. Lúc đó khoảng đầu năm 1959, với tên chọn đầu tiên là “loại sách đại nam văn hiến”. Dần dà, ông được một số anh em cùng chí hướng góp sức mới đổi thành ĐNVHXBC, danh hiệu trên còn được dùng tới bây giờ và tôi chắc cũng không còn xa lạ gì với bạn đọc.

Tuy phải chịu đựng khốn khó trăm bề, nhưng đền bù lại ông được giới thanh niên ưa thích. Với ông, đây là một khích lệ lớn lao. Ông kể truyện, có một sinh viên văn khoa đã chặn ông lại ở giữa phố Bonard hỏi ông: “tôi nghe nói ông phải nhịn đói thường xuyên, vậy bây giờ ông đã ăn cơm chưa? Nếu chưa, tôi có thể giúp ông một bữa được”. Những điều trên, đã cho tôi thấy rõ nhận xét sai lầm của tôi về hành vi, tư cách của Thế Phong. Nó không phải là những gì giả tạo, bày đặt cố tình. Nó chính là khuôn mặt tâm hồn ông, không son vẽ, không hóa trang, ngụy tạo. Ở ông, trong cuộc sống cũng như trong tác phẩm, có sự đồng thể? Trường hợp Thế Phong có người cho rằng rất gần gũi với trường hợp một Cao Chu Thần… (theo tôi thì sự thực không hẳn thế, ở một Cao Bá Quát là một tâm hồn muốn vươn thoát, bay trên cuộc đời và không bao giờ muốn nhìn xuống, muốn quay về nhân gian. Cái khinh mạn của cuồng sĩ tài danh họ Cao là cái ngạo nghễ ngất ngưởng của một người biết mình có tài mà không được đời trọng dụng, không được đời biết đến dù đã từng bon chen trên con đường quan hoạn, và số mệnh vẫn là cái số mệnh bi đát. Cho nên họ Cao sinh ra yếm thế, mượn mộng, mượn rượu để quên, để chửi cuộc đời, chửi xã hội tham quan ô lại). Sự so sánh này quá đáng – tuy nhiên, nó cũng nói lên một phần nào khía cạnh nổi loạn, đập phá, tiềm ẩn trong tâm thức ông (tôi sẽ nói rõ hơn trong phần nhận định tác phẩm).

Với những ghi nhận trên, tôi thấy đã tạm đủ độc giả có khuôn mặt bằng những nét phác, nhưng là những nét chính của khuôn mặt đời-Thế Phong.

Để kết thúc, phần này tôi xin trích lại một đoạn văn trong một bài đả kích Thế Phong, đăng trên Văn Hữu (1) “hắn chụp cả ảnh, thuê sao ra để biếu không sợ xẩy ra chuyện gì như bị đưa vào trại tế bần cải hóa chẳng hạn, thì người đời sẽ khỏi quên mất hình ảnh của một thiên tài”.

(Văn Hữu số 6 năm 1963)

(1) Văn Hữu là tạp chí của cơ quan Văn hóa vụ xưa, bài của Hoàng Trọng Miên, tác giả cuốn VĂN HÓA TOÀN THƯ, đã bị một số anh em văn nghệ lật tẩy là ăn cắp nguyên văn và từng đoạn trong Lược khảo về THẦN THOẠI của Nguyễn Đồng Chi xuất bản tại Hà Nội. Trong số những người đả kích có cả ThP với bút hiệu Đường Bá Bổn.

THƠ THẾ PHONG

“Trong giới văn học và quần chúng độc giả hôm nay thường xem Thế Phong như một nhà phê bình văn học, một tiểu thuyết gia có khuynh hướng xã hội cấp tiến. Sự thực Thế Phong là một nhà thơ. Thơ của ông mới đủ tư cách và bảo đảm cho ông một ngôi vị xứng đáng trong văn đàn dân tộc”

(Trích trong XI nhà thơ tự do của Cao Đan Hổ trang 26)

Tôi đồng ý với tác giả họ Cao, khi ông chủ trương thẩm xét tiếng thơ Thế Phong để định vị, xếp chiếu hay chụp vẽ chân dung linh hồn nhà thơ này. Nhưng với lập luận viện dẫn trên, tôi thấy thiếu phần xác đáng. Sự thực, khi đại chúng coi thế Phong như một phê bình gia vì suốt sản nghiệp tinh thần tác giả này, người ta thấy hầu hết đều nghiêng về loại phê bình nhận định… Hơn nữa, tác phẩm được nhiều người biết tới và cũng là tác phẩm đầu tay của nhà xuất bản ĐNVH là cuốn LSVHVN, một bộ sách gồm 4 cuốn  mang giá trị một công trình biên khảo công phu. Còn nói rằng “coi thế Phong như một tiểu thuyết gia” thì hầu như không ai lầm tưởng như vậy cả, có chăng cũng chỉ là một thiểu số quá ít oi không đáng kể. Nếu chỉ cần có một số truyện ngắn mà trở thành tiểu thuyết gia thì quả là quá dễ dãi, giản dị. Như vậy chắc Việt Nam là một nước có nhiều tiểu thuyết gia nhất thế giới!

Ở đây tôi đi vào thế giới tâm hồn Thế Phong cũng bằng tiếng thơ của ông, Nhưng không phải vì muốn để độc giả nhìn thấy khía cạnh thi sĩ của Thế Phong hay vì chỉ có “thơ của ông mới đủ tư cách và bảo đảm cho ông một ngôi vị xứng đáng trong văn đàn dân tộc”. Nhưng tôi nghĩ: thơ là tiếng nói trung thực, tha thiết nhất của một tâm hồn, được kết tinh bởi những cảm xúc, những dằn vặt, những suy nghiệm của con người trước cuộc đời. Thơ là một cái gì vượt cao trên mọi bày đặt giả tạo của một bối cảnh, một kỹ thuật  bao gồm tình tiết, màn, cảnh… Vì là tiếng nói của linh hồn nên âm hưởng vang vọng đi thẳng vào lòng người, vào tình người, khi tiếng thơ đạt tới mức độ truyền cảm, rung động của nó.

Cho nên, nếu không nhìn về  khía cạnh lớn nhất thời, ảnh hưởng trực tiếp, hiện ngay,  mà chỉ muốn nhận diện vóc dáng đích thực khuôn-mặt-linh-hồn ẩn chìm của một tác giả, tôi nghĩ không gì bằng đến với họ, đi vào vũ trụ tâm hồn họ bằng tiếng nói linh hồn tức bằng cửa ngõ thi ca.

Hơn nữa, nếu phân loại tác phẩm Thế Phong, người ta thấy số  lượng thi phẩm cũng chiếm một phần đáng kể.

Khởi đầu là “Đàn bà với tổ quốc”, qua tới “Nếu anh có em làm vợ”, rồi “Vương miệng Mai A”, “Sai biệt”, “Cho thuê bản thân”, “Trước mắt nhìn thi sĩ”. Và gần đây “Thơ làm lớn dậy con người”. Điều đó chứng tỏ nồng độ đam mê nơi Thế Phong vẫn nghiêng lệch về thi ca – vẫn là thơ, hay thơ vẫn là nguồn suối cuộn chảy, mãnh liệt, sôi réo trong tiềm thức Thế Phong.

Những người đọc báo ít biết thơ Thế Phong, phần vì ông ít đăng báo, phần vì tiếng thơ thiếu quyến rũ, lôi cuốn của âm điệu, ngôn từ trong thơ ông lại không vụ ở sự chải chuốt hào nhoáng, êm tai mà chỉ chuyên chú ý tới ý tưởng, tới những suy tư, phơi bầy, những khao  khát  muốn thể hiện, những dằn vặt, ưu tư muốn giải tỏ mà thôi. Chính sự khó khăn, khúc mắc này, đã khiến đám đông xa lánh và quay lưng lại trước những tiếng gào thét, những vấn đề thiết yếu của giá trị làm người. Tôi cam chắc, với một độc giả ở mức trung bình, hoặc quen coi thơ để mong tìm thấy một phần nào kỷ niệm ái tình, một phần nào những cảm xúc yêu đương mà họ đã trải qua hoặc đang khao khát thèm nếm, sẽ vô cùng thất vọng khi đọc thơ Thế Phong. Họ không thể hiểu nổi cũng như không thể nào cảm nổi tác giả với những câu thơ đại loại như:

chiếc xe đạp dưỡng bệnh về nằm yên một chỗ
để cùng chủ nó nghe cô gái 18 tuổi phê bình về thơ

hay:

bệnh lý hàng ngày nhiều hơn phép lạ
hiện tượng nào đưa đến cho tiếng thở dài chau mày suy tưởng

Dù cho muốn nói đến cái thân phận bi đát, cái sự ô uế, phân rác của xã hội đang khỏa lấp mặt nước trong suốt của cái tâm thánh thiện. Với lối diễn tả mà nhiều người cho là cầu kỳ, lập dị đó, cũng ngăn trở, cản chắn không ít những tâm hồn nhiệt thành muốn bước lại gần, soi dáng trong nguồn hứng thi ca của nhà thơ này, cũng ngại ngần, định xét lại thái độ.

Chính Thế Phong cũng nhìn nhận điều đó, nhưng ông quan niệm, không còn cách diễn tả nào khác hơn trước một hiện tại bế tắc, đầy rẫy bất bình, nhàm chán tới độ muốn tự tử, muốn  nôn mửa, khạc nhổ vào cuộc đời điên loạn này. Giữa những bộ mặt son phấn, trơ trẽn, thi nhau sắm tuồng, đóng kịch không những với đám đông, mà còn đóng kịch phản bội chính lương tri của mình nữa. Những khuôn mặt lợm lì chạy bám theo thị hiếu, thấp kém – thay vì hướng dẫn, nâng cao trình độ thưởng ngoạn của đại chúng – của những tên con buôn văn nghệ, những tên hoạt đầu văn hóa. Nên ông cố gắng giữ  nguyên bản chất cũng  như cố thể hiện ý thức của người làm nghệ thuật là vạch một hướng đi, khai thông một lộ trình vào tương lai, bằng tất cả lòng thành khẩn, cuồng tin nơi việc làm.

nên tôi hiểu thơ văn triết lý của những thi sĩ làm
lớn dậy ngày mai chủ nghĩa đi lên của con người
đàn bà con gái đều ghét bỏ

Khi phẩm bình về tiếng thơ Thế Phong, có đôi người cho rằng ông là thi sĩ thuộc phái hiện thực, hoặc xã hội… Với tôi, đó là một việc làm hết sức gượng ép, một sự bắt chước thiếu cân nhắc, thận trọng. Bởi xã hội Việt Nam nói riêng và Đông phương nói chung, người ta phải nhìn nhận một đặc tính cố hữu, một truyền thống bất di dịch, đó là tinh thần tổng hợp, không phân rẽ, không hệ thống điều lệ gò ép. Thứ nữa, cụ thể hơn, lịch sử văn nghệ Việt Nam chưa ghi nhận một khuôn phép, một hệ thống phân định rõ rệt nào của những người làm văn nghệ để ta có thể căn cứ vào đó mà khẳng định rằng nhà thơ này thuộc phái này, nhà văn kia thuộc phái khác. Tôi cho rằng đó cũng là một trong những yếu tố tạo cho bộ mặt văn chương đông phương thêm phong phú, thanh sắc. Ngày xưa chỉ có một Nguyễn Xuân Sanh tính áp dụng một cách máy móc, rập khuôn theo thi phái Tượng Trưng của Pháp, nhưng đã thất bại đáng thương hại * cuối cùng, cũng chẳng đem lại gì cho vườn hoa văn nghệ chúng ta. Sau nữa, ta cũng nên nhắc tới một Nguyễn Vỹ, với Tao Đàn Bạch Nga, nhưng nó chẳng ra phái gì cả, nó chỉ là một trò hề nhố nhăng, quy tụ một số đàn em ngâm vịnh, tâng bấc, công kênh lẫn nhau, cũng như để vị thủ lãnh dễ bề thỏa mãn bản tính háo danh, hảo ngọt mà thôi.

*Thí dụ muốn diễn tả nước mắt trên mi một người con gái, phái này dùng 2 tiếng mi sương

Ở đây, tôi không muốn ép uổng tiếng thơ dũng mãnh, bạo cuồng của Thế Phong vào một khuôn khổ hữu hạn. Vì không một khoảng trời nhỏ hẹp nào có thể dung chấp nổi tiếng thơ giàn trải đủ mọi chiều hướng của nhà thơ này. Chính tâm hồn ông cũng đã là cả một vũ trụ náo hoạt, gồm chứa đủ mọi suy tư, mọi khía cạnh nghịch phản, nhận đón đủ mọi triều sóng tư tưởng cấp tiến âu tây, cộng chung với một vốn liếng to tát, gồm những kinh nghiệm bản thân mua bằng nước mắt, bằng trên ba chục năm chinh chiến, bằng tủi nhục, ê chề, khốn khó, của một thân xác nhược tiểu điêu tàn.

“Tôi lớn dậy mang đầy sương mù Việt Bắc
quê hương tôi cây đứng thẳng nhiều hơn chông rừng
người tình đầu đã bỏ tôi vào điểm giờ cách mạng 1945
núi rừng ơi nhớ mãi cũng bằng không
những cái nấp mô gồ ghề, hình ảnh cuộc đời không mềm như thạch trắng”.

Ở cao độ đam mê, tiếng nói linh hồn thi nhân như bước chân cô độc dã thú đi giữa vùng biển cát. Thi nhân kiên nhẫn, âm thầm trong niềm hiu quạnh băng giá ngạo mạn, tìm cho mình một ý nghĩa giữa cuộc sống phồn tạp, chênh vênh của tình người, của cuộc đời, của hiện tại với một ý thức khai thoát, phát huy một nhân bản mới không phải là thứ nhân bản ngụy tạo, mặc khoác làm duyên. Cho nên trước bao nhiêu bội phản, thi nhân vẫn tìm về tình người và tin nơi tình người như một tín đồ tìm về tôn giáo ngưỡng vọng:

Còn gì nữa đâu em?
Thành phố cũ đôi mắt mới  nhìn tôi vẫn khác lạ với mọi người trong thành phố quen
….

Tình cảm vô cùng cần thiết như nhu cầu cơm áo
Không có em rồi anh mới thấy đời buồn nôn

Mỗi thi nhân, ngoài cái thể giới phức biệt của tâm hồn hiếu chân, hiếu thiện hay hiếu mỹ, họ thường phải gánh vác ít nhiều mặc cảm, cái mặc cảm nhiều khi vô cùng phi lý, không giải thích nổi! Thế Phong cũng không thoát khỏi định lệ khắc nghiệt đó, ngoài cái dĩ vãng ấu thơ vướng vít sương mù Việt Bắc, cùng thảm trạng gia đình rách nát, nhà thơ này còn bị cái mặc cảm bị phản bội,  bị ruồng rẫy lãng quên không những của người thân mà còn của cả bạn hữu, tôi không muốn nói tới những người từng chia xẻ với ông một điếu thuốc, một nắm xôi, một vài đồng bạc, khiến ông nhiều khi trở nên hoài  nghi mất niềm tin trước tất cả mọi giá trị tinh thần, ông cũng trở nên ngờ vực chính sự có mặt và giá trị của con người mình:

Mỗi lần tôi muốn làm ngơ rút đôi mắt sáng phản
ứng tự động rằng mình là một thằng hèn nhát
không dám đứng trước gương nhìn khuôn mặt đáng yêu
ở đâu và chỗ nào sự tự khinh mình cũng trỗi dậy
nên tôi lại dán ngươi tròn nhìn đời thẳng tắp
cả đống rác cả ruồi muỗi từng đàn theo ra ngoại ô

Từ mặc cảm dập vùi, phụ rẫy đó, thi nhân lao thân vào cuộc đời với nồng độ đam mê cùng tột, ông tìm đến tình người, mặc dù biết rằng sự tự dâng hiến của mình sẽ chỉ được đền bù bằng những tẻ lạnh, những vùi dập xua đuổi. Nhưng không còn cách nào khác hơn nữa, thà đón nhận những mũi dao đâm chém xuống triền tâm hồn tuyệt vọng để còn thấy mình, còn thấy có một ràng buộc, có một sự nhìn vào, ngó tới để tự tạo một cõi trú tạm thời khoảng khắc giữa cái quen thuộc mòn nhẵn không còn một ghi nhận sinh khí nào:

vẫn là khách quen chào hỏi nhau bằng mắt nhìn
vẫn bồi bàn nhẵn mặt thuộc lòng thức gì khách uống
nhạc thính phòng bao vây tâm hồn cô quạnh
nhìn quanh tôi bạn bè cũ bỏ thành phố xa rồi
trời mưa thu sương mù nào lũng bản xa xăm
tôi đứng dậy góp hình hài mình làm tĩnh vật

“góp hình hài mình làm tĩnh vật” nỗi cô đơn khủng khiếp tưởng chừng như đã kết thành khối, làm ta liên tưởng tới hình ảnh một hòn vọng phu, một thiếu phụ nằm sương mà chinh phu ở đây là tình người, là một khung cảnh đời sống hạnh phúc no tròn giữa những người mang thân xác người và tâm hồn người. Nhưng ao ước bao giờ cũng chỉ là ao ước và khát khao chỉ là khao khát vô vọng mà thôi. Người ta vẫn không ngớt nghe thấy những tiếng than dài, những réo gọi khản giọng trong tuyệt vọng, trong tiêu sơ thảm đạm của thi nhân. Đau đớn và chua xót hơn nữa, khi nhà thơ phải đối diện với ý thức sáng suốt về sự bất lực trước một định mệnh khe khắt, một thân kiếp nhược tiểu tối tăm bên những thương tích quê hương nghèo khó, rỉ máu tương tranh. Thi nhân không dừng được xót xa ngậm ngùi, ông liên tiếp gióng lên những khúc bi ca nhược tiểu trường thiên trên sân khấu hài kịch xã hội đổ nát. Ngày xưa, chúng ta đã hơn một lần xúc cảm trườc tiếng than nức nở âm thầm vang vọng của cả một thế hệ khốn đốn mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã ghi nhận: “lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ”. Thế hệ lạc lõng đó đã lùi dần vào quá khứ cùng những đau thương của nó. Sân khấu nhược tiểu Việt nam nhường lại cho thế hệ tiếp liên kế tục. Họ sống, họ múa may, đi đứng trong một cảnh trạng mới, giai đoạn mới với những vấn đề mới được đặt ra cho họ, nhưng vẫn cùng chung một không gian bi thương tủi nhục, nhục hờn. Là một trong những nạn nhân bất đắc dĩ của thế hệ hiện đại, của  lửa máu hôm nay, thi nhân cũng phải thắc mắc, băn khoăn tự hỏi:

tôi đã nhìn thấy gì ngoài những dây thép vòng xoáy móc máu phun
tôi đã nhìn thấy gì người thị thành ra phố buồn giới nghiêm
tôi đã nhìn thấy gì người nhược tiểu dân tộc đều là công an
tôi đã nhìn thấy gì áo mầu ka ki trận nhiều hơn thác lũ
ở ngã tư thành phố hôm nay áo đen nhiều hơn áo màu sặc sỡ

Giữa cảnh huống bi đát, bi đát từ thân phận tới quê hương, tới tổ quốc, nhà thơ đã rơi vào mặc thức lưu đầy, lìa xa sinh hoạt bình thường như muốn trốn chạy sự thật, trốn chạy những dằn vặt, những âu lo tủi thẹn như đa số những nhà thơ khác. Nhưng ở Thế Phong, con đường giải thoát lại ngược hẳn. Đó là thái độ phản kháng, phá phách. Tính chất hiện sinh sôi động rạo rực trong tâm hồn thi nhân. Ở Thế Phong người ta không tìm thấy cái tính chất hiện sinh  làm dáng, vay mượn ngụy tạo. Nếu dĩ vãng đủ để ta định giá cho hiện tại thì cuộc sống của ông thừa đủ để bảo chứng cho tiếng thơ ông. Một tiếng thơ chất chứa đầy khắc khoải ưu tư. Cũng bởi trung thành với sự thực, dù sự thực phũ phàng, nhơ bẩn, cũng vì không muốn lừa đảo lương tri, phấn son thêu dệt cho tấn kịch xã hội nát rữa, tiếng thơ Thế Phong nhiều khi trở nên sỗ sàng sống sượng, trần truồng:

Mày có biết mày tự do vào buồng mẹ tao bắt nạt
tình mẫu thân được san sẻ qua cái vòng tay của mày
sự khôn khéo làm gì có để cho mày lên mặt mô phạm

những câu thơ đại loại,người ta đã bắt gặp không ít, nhất là trong tập “thơ làm lớn dậy con người” Tôi nghĩ, những nhà “đạo đức vỏ” tức bọn giả đạo đức, nếu đọc đoạn thơ trên, chắc không phải nhăn mặt chau mày, sẽ không ngớt lời lên án tác giả: kẻ phá hoại đạo đức luân thường bằng những lời lẽ thô tục…  Nhưng sự thực bao giờ cũng là sự thực. Xã hội ta càng ngày càng đầy rẫy những thảm trạng xiêu đổ. Trước những tấn hài kịch đầy nước mắt tiếp diễn không ngừng quanh ông, lòng tin nơi một đấng thiêng liêng, cứu rỗi cuộc sống đọa đầy này không hề thấy dù phảng phất trong vũ trụ tâm hồn nhà thơ:

vì xã hội nay nhiều ê chề nhục nhã
cho dẫu có lửa và nước
nhiều nhiều hơn hết thảy gột rửa biến tan
khởi thủy hình thành thiên nhiên
cái gì gọi là tạo hóa

hoặc:

ở đâu có ruồi là có thượng đế,
ở đâu có thượng đế là thanh niên có lứa đôi

Bị ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng của NIETZCHE không những ông chỉ chấp nhận sự khai tử từ thượng đế của NIETZCHE, ông còn đem thượng đế ra mỉa mai, riễu cợt, ông ví thượng đế với đàn bà (câu trích dẫn trên) mà đàn bà thời đại này dưới mắt ông chỉ là:

Một chiếc mô tô huê kỳ đáng giá bẩy chục ngàn
xe hạc lây lao vút trên đường không biết nói
xe đàn bà hai xy lanh biết nói chỉ để lao vút lên giường
hai thứ này được trao đổi như truyện thần tiên

Ý nghĩ này ở thi nhân không có nghĩa tuyệt đối. Vì trong thơ ông, người ta vẫn tìm gặp được một vài khuôn dáng, một vài chân dung đông phương thuần hậu, khả ái, thỉnh thoảng lóe sáng trong tầm sâu vùng yên tĩnh tâm hồn. Tôi muốn nói ở nhà thơ đập phá sỗ sàng này, vẫn còn có một niềm tin tiềm ẩn thu vén trong một vài khuôn trang VN khả kính:

tôi đem theo hình ảnh mẹ tôi xưa
tóc đuôi gà khuôn trang đầy đặn, da trắng bóng mầu trong suốt sương thu
miệng nam mô đi về phía quan thánh yên bái từ ba mươi năm ngoài để có tôi là con cầu tự, tôi hành hương với niềm nhớ người…

hoặc:

một bàn tay ngọc ngà cho anh buồn vui theo nét chữ
một lần nhìn âu yếm đủ cho anh tin cẩn cuộc đời
dù phải ghé vai lãnh đủ đời nằm gai nếm mật
thì ý nghĩ còn em có mặt làm anh vui lòng

Theo tôi, ở nhà thơ này, điểm nổi bật nhất là sắc diện khật khưỡng đi từ cô đơn đến nổi loạn – từ đời sống đến thi ca – từ thi ca đến khát vọng cách mạng xã hội – từ cách mạng xã hội tới luận lý nhân sinh – ngay với những giòng thơ tình cảm yêu đương, người ta cùng soi thấy hay trực cảm một hệ thống luận lý ẩn lồng:

nội tâm anh náo động từ khi có em ở bên
sự quấy nghịch làm đời sống hàng ngày anh thôi buồn
để thấy mình trẻ lại con trai 18
soi gương trong đôi mắt em đen giòng nước biếc

hoặc:

em ơi tình duyên xưa bạc bẽo cũng hơn nhiều
chúng ta bỏ quá khứ vì chúng ta làm người tiến bộ

Hơn nữa ta có thể khẳng định: với Thế Phong, thơ là sản phẩm của ý thức bị dằn vặt dồn nén cao độ – là sức đối  kháng quyết liệt trước xã hội ung nhọt, trước viễn tưởng suy sụp, bật gốc của những giá trị tinh thần của nề nếp truyền thống dân tộc, trước cường lực sung mãn của văn minh vật chất… ông ôm hoài bão làm mới xã hội, làm lớn dậy tâm hồn, phục vụ cho những giá trị tinh thần, tình cảm thiêng liêng đang bị dày xéo, xô đạp dưới những bước chân dập dồn, cuốn trôi của một hỗn trạng vong bản nô lệ.

Khát vọng cao xa đó, đã đưa tiếng thơ Thế Phong chạm kể triết lý –  thế giới thi ca của ông không còn là thế giới của vần điệu âm vang ngọt ngào quyến rũ của hình ảnh đẹp, của tình yêu huy hoàng như một Xuân Diệu hay gãy đổ bi thiết như một  Nguyễn Bính xưa – mà mỗi bài thơ của ông là một bản cáo trạng, một tiểu luận về xã hội luận lý nên phần lớn thường khó hiểu, mặc dù ông đã vận dụng tới những ngôn ngữ dung dị hầu làm sáng tư tưởng muốn diễn đạt, nhưng đôi khi cũng không tránh khỏi sự tăm tối bí hiểm, gây cho lớp độc giả trung bình muốn tìm vào vũ trụ tâm hồn nhà thơ gặp nhiều trở ngại, nhiều khó khăn, chán nản:

ong bầu về đây từ sáng sớm đầy vòi
đêm qua chú thắp đèn sáng chú học bài trong màn
chú nhăn mặt trước phút giây ong bầu gẫy cánh
để nhăn nhó khi ngón tay bị thương, con ong đồng bạn trả thù
chú bảo nó sẽ chết vì nọc độc truyền sang qua máu
nên chú phải băn khoăn tại sao nó đốt chú

Từ đây, tôi nghĩ: nếu ai  kia, nói rằng thơ Thế Phong là thơ của người lớn, của những ai băn khoăn muốn tìm một ý nghĩa cho cuộc dời bần cùng, hữu hạn này không phải là lời nói vội.

xã hội nhược tiểu bi thảm chúng tôi
chức vụ gì cao hơn đỉnh chóp
tu sĩ còn là mật thám
thi nhân còn sản xuất phiếu thơ đặt hàng để
có xe hơi chạy nhanh hơn người đi bộ

*

Như cánh chim lần đầu tiên tung chiếc thân vào vùng trời cao rộng, ôm niềm khát vọng tràn đầy trong tâm hồn trinh nguyên bằng đôi cánh tự tin và lòng thành khẩn, thiết tha tin vào một thiên đường nhân bản, Thế phong đã lầm, đã thất vọng, chua cay ngay từ khởi điểm – cánh chim đã nhiều lần rướm máu trước trăm muôn làn tên cung thủ vút tới. Nhưng thành khẩnvới mình, thiết tha với đời, đắm đuối mê say trong cái bập bềnh chới với của những ước vọng thầm kín giữa một không gian tàn rữa, một tổ quốc chênh vênh khắc khoải, thi nhân dám nói lên thực trạng và kêu gọi ý thức trỗi dậy vươn lớn của những kẻ còn quay lưng, ngoảnh mặt, của những kẻ đã tách rời và bội phản quê hương, bội phản nòi giống

ai từ bỏ đời sống căm hờn thiêu thân ngoài kia đó
giòng chữ nổi loạn giòng chữ giải độc
giòng chữ nào mang chính nghĩa
diễn biến sự thật thì không biết không nói như thằng câm
mà lòng tràn đầy hy vọng âm thầm
ngày mai tương lai tổ quốc tương lai đời sống cá nhân

Dù muốn dù không, khuôn mặt linh hồn Thế Phong,soi qua thi ca của ông, cũng là khuôn dáng độc đáo không ẩn lẫn, nhạt mờ với tất cả những gì tạo nên khoảng trời Thế Phong, và chỉ của riêng Thế Phong mà thôi.

 




Flash Ebooks của những tác giả trong Văn Thơ Lạc Việt.

 

FLASH E-BOOK

Flipping flash Ebooks gồm những tác phẩm thơ, văn của thành viên và thân hữu Văn Thơ Lạc Việt.

Xin đón chào quí vị.

Xin ghi chú: Sau khi mở ebook, quí vị muốn chữ lớn cho dễ đọc xin mở full screen.
Cách tìm trang : Sau khi mở E-Book và đóng lại trong khi đang đọc dở dang. Lần sau quí vị mở lại và muốn tìm trang đã đọc dở. Quí vị nhìn xuống góc dưới phía phải có số trang của sách. 
Quí vị high light số trang này và đánh vào số trang mà quí vị muốn tìm, sau đó hit enter. Số trang quí vị muốn tìm sẽ tự động mở ra ….    

Nếu quí vị cần Flash player để đọc, xin mở link dưới để install flash player 9 : 

http://en.softonic.com/s/install-adobe-flash-player-9 

Thành thật cám ơn.Lời Tình Buồn. Anh đã buông trôi nửa kiếp mặc bể dâu, nhưng nợ nghiệp anh vẫn gói ghém làm hành trang cho trọn nghĩa đời người. Sóng đời vẫn như giông bão dâng cao trong khúc mắc não nề cuộc sống. Anh chẳng còn gì ngoài vòng tay không trọn ấm, tóc nhuộm sương chiều, lòng mỏi mòn trải dài trên lộ vắng thêng thang xứ lạ với sầu muộn vô bờ.

Tình nào cho nhau tha thiết đêm hồng ngày cũ, hôm nay?

Ái ân dấu yêu nào sẽ đến?

Chia cách nào sẽ tới rồi đi? Nước mắt nào cho nhau giây phút biệt ly?

Mẹ Tôi là những mảnh hồi ức mà tác giả gom lại để viết ra thành một tuyển tập. MẸ TÔI hay QUÊ HƯƠNG TÔI cũng là một nghĩa, nó bàng bạc chập chùng lẫn lộn nhau trong hồn tác giả như những khúc mắc không thể tách rời, và từ trong những kỷ niệm gắn chặt vào đời sống, tác giả đã chắt chiu mang theo như một hành trang của ba lần tỵ nạn cộng sản. Một chút xúc động hay một chút suy tư  nếu có của quý vị thì đó cũng là nỗi niềm của quý vị đối với quê hương Việt Nam mà tôi đã thay quý vị viết ra, và kể như đó cũng là một mảnh tình quý vị lưu lại trong MẸ TÔI.
Nỗi Đau Dài. Hãy lắng nghe lời Mẹ gọi ! Hãy nhìn lại quê hương đang điêu tàn và trả lại tôi những dấu yêu hạnh phúc giống nòi cùng lịch sử oai hùng xưa..!

Nỗi Đau Dài trong tôi vẵn luôn mãi là phiến buồn khi đường về bị ngăn lối và giọt lệ lăn dài trên má khô của Mẹ…!

Cung phím kìa ai dạo, nguyệt mờ
Dòng sông còn đó lệ nhòa thơ
Lòng tôi trong đục suôi dòng nước
Hồn vẫn ngả nghiêng theo bóng cờ
 


Dòng Thơ Kỷ Niệm. Năm nay 2010, kỷ niệm 35 năm lưu lạc, chúng tôi Đông Anh và Chinh Nguyên kết hợp ấn hành một cuốn thơ để lưu giữ chút tình. Tình với nhau và tình với Văn Thơ Lạc Việt.
Tháng Tư thường được nhắc nhở những điều bất như ý. Tháng Tư này, ba mươi lăm năm sau của cuộc đổi đời, chúng tôi ấn hành tập Dòng Thơ Kỷ Niệm này cũng là để kỷ niệm những bước chân hoang đi ngoài Tổ Quốc. Nhắc kỷ niệm xưa để luôn luôn thôi thúc một ngày về quê hương trong ánh nắng vàng tự do hạnh phúc. (Đông Anh)

Đôi Mắt. Ồ người đàn bà trẻ này đẹp thật ! Nàng có cặp chân dài và làn da trắng, mặt trái soan sống mũi cao nét đẹp Tây phương. Chắc khi tuổi còn đương thì nàng đã làm nhiều chàng trai mê đắm… Bước chân nàng đi thật nhẹ nhưng nàng luôn cúi đầu như che dấu đôi mắt biết nói của nàng, cả khi nói lẫn lúc cười. Hình như nàng luôn nghĩ tới dĩ vãng đã qua đi, và giữ một khoảng cách nào đó giữa những câu trao đổi xã giao. Nét buồn phiền còn đó với dung nhan tuổi mộng phảng phất một thời nét kêu xa lạnh lùng, hấp dẫn người đối diện 

 

 

                            

Lm Ng. Văn Lý : Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân chủ Nhân Quyền I.
Giả như đảng CS VN bịt được tai của toàn Dân và cấm mở các đài truyền   thanh  từ nước ngoài được thì đảng đã làm như thời trước 1985 rồi. Nhưng nay đành bất lực không thể cấm được điều đó nữa, thì đảng lại tìm mọi cách khóa con mắt của người Dân. Các vấn đề về Nhân quyền cơ bản nhất, về Tự do, Dân chủ nền tảng nhất, người Dân không sao công khai tiếp cận để trưởng thành tìm hiểu minh bạch, tinh tế, tận bản chất được…

Lm Phan Văn Lợi : Cuộc Đời Đấu Tranh Cho Tôn Giáo và Dân chủ Nhân Quyền II .
Hai cuốn sách đã được in và phát hành trong sự gúp đỡ của nhóm hổ trợ Tinh Thần Linh Mục Nguyễn Kim Điền gồm có : LVH, DH, NSH, NVT và CN .
Linh Mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, và nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền đã vì lý tưởng tự do cho dân tộc, nên nhất quyết tìm con đường tranh đấu rất khó khăn bất bạo động, Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điễn là những nhân chứng …..

 

 

Chinh Nguyên : CD Nỗi Đau Dài (Tao Đàn)
CD Nỗi Đau Dài. Dường như mỗi bước tôi đi là mỗi bước xa dần quê hương để làm kiếp sống bèo trôi bồng bềnh xứ lạ. Mỗi bước tôi đi là mỗi lần vơ vội vàng kỷ niệm, để dấu kín trong lòng làm hành trang cho đời bọt bèo lỡ dở cưu mang với nỗi đau dài không dứt.


CD Lời Tình Buồn. Bạn bè, có ai đã gọi tôi để hẹn về chốn cũ mai sau ? Yêu thương, có ai nhắc nhở tôi tình về cho trọn kiếp với lối cũ phượng mơ ? Người thân, có ai ôm dùm tôi mớ hành trang đã vỡ vụn một đời ?

      

Vũ Ngọc Đĩnh : CHỬI. Sau hơn mười năm tù cải tạo tại những địa danh CSVN giết người không gớm tay,  "CHỬI" là một trong chín tác phẫm bị cấm tại quốc nội đã làm tác giả bị Công An Cộng Sản VN hỏi thăm sức khỏe.Tôi có hân hạnh được tác gỉa tin cẩn đưa cho 9 tác phẩm cấm với ngụ ý mang ra ngoại quốc phổ biến, và nếu được xuất bản hầu phanh trần tội CSVN bán nước cho Tàu, tàn ác với dân và là đảng cướp ngồi trên hiến pháp, cũng như CSVN đã lập nên một nhà tù vĩ đại nhốt dân cả nước.     

                                             

Chiều Bến Đợi : Mỗi người đều có một thời để nhớ, Với tôi là những ngày ở độ tuổi hoa niên giữa 36 phố phường Hà Nội. Hằng ngày cáp sách đi học còn nghe tiêng leng keng của xe điện. Cắt ngang phố Hàng Khay trông sang quầy hoa chéo góc của Hồ Hoàn Kiếm có mặt nước trong xanh, liễu rũ bốn mùa khiến hồn thơ lên men.  

 

 

 

                                                   




Cửu Bình: 1 – Đảng cộng sản là gì?

Cửu Bình: 1 – Đảng cộng sản là gì?

Tài liệu gốc: http://dajiyuan.com/gb/4/11/19/n722529.htm

0 – Dẫn nhập | 1 – Đảng cộng sản là gì? | 2 – Đảng cộng sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào? | 3 – Chính quyền bạo lực của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 4 – Đảng cộng sản, một lực lượng phản vũ trụ. | 5 – Giang Trạch Dân và Đảng cộng sản Trung Quốc lợi dụng lẫn nhau để đàn áp Pháp Luân Công. | 6 – Đảng cộng sản Trung Quốc phá hoại văn hoá dân tộc. | 7 – Lịch sử giết chóc của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 8 – Bản chất tà giáo của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 9 – Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Lời mở đầu

Hơn 5000 năm qua, dân tộc Trung Hoa xuất phát từ châu thổ sông Hoàng Hà và sông Trường Giang gây dựng giống nòi, trải bao triều đại, mới dựng xây được một nền văn minh sáng lạn. Thịnh suy, hưng vong, truyền đời lưu lại một lịch sử cho đến ngày nay.

Năm 1840, theo các sử gia nhìn nhận, là mốc đánh dấu điểm bắt đầu của lịch sử Trung Quốc cận đại, cũng là chuyển từ một Trung Quốc cổ đại sang một Trung Quốc hiện đại. Từ bấy giờ, nền văn minh Trung Hoa về cơ bản đã nếm trải bốn làn sóng thách thức và phản ứng lớn. Ba cuộc chiến tranh đầu là: liên quân Anh-Pháp đánh vào Bắc Kinh hồi đầu thập kỷ 1860, chiến tranh Trung – Nhật vào năm Giáp Ngọ 1894, và chiến tranh Trung – Nga ở vùng đông bắc vào năm 1906. Đáp lại những thách đấu ấy, Trung Quốc đã phản ứng bằng súng ống nhập từ phương Tây, cải cách chế độ (tức là Hiến pháp năm Mậu Tuất 1898 và Đại Thanh lập hiến), và cách mạng Tân Hợi 1911.

Kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, mặc dù Trung Quốc thuộc về bên thắng cuộc, nhưng không được tính là nước mạnh thời bấy giờ. Nhiều người Trung Quốc nhìn nhận rằng Trung Quốc thực ra đã thất bại sau ba làn sóng phản ứng nói trên. Do vậy mới có cuộc vận động mùng 4 tháng 5, dẫn đến làn sóng phản ứng thứ tư: một làn sóng phản ứng cuối cùng, hoàn toàn chuyển sang ‘Tây’ hoá. Rốt cuộc dẫn đến cách mạng cực đoan: phát động chủ nghĩa cộng sản.

Bài này nói lên quan điểm về kết quả của làn sóng phản ứng thứ tư, về phong trào chủ nghĩa cộng sản và đặc điểm của Đảng Cộng sản. Nhìn lại lịch sử 160 năm qua tại Trung Quốc với gần 100 triệu người bị sát hại, rồi phân tích những gì xảy đến với văn hoá và văn minh truyền thống dân tộc, kể cả những gì dân tộc Trung Hoa đã chọn và những gì bên ngoài cưỡng bức lên dân tộc, để xem kết quả thực sự là gì?

1. Dựa vào bạo lực để thâu đoạt và duy trì chính quyền

“Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành.” Đó là câu trích dẫn từ đoạn cuối bản Tuyên ngôn Cộng sản, một tài liệu nòng cốt của Đảng. Trên thực tế, bạo lực là phương tiện mà Đảng Cộng sản Trung Quốc dùng để thâu đoạt chính quyền, hơn nữa còn là phương tiện duy nhất. Đó là nhân tố di truyền tiên quyết xuyên suốt từ ngày chào đời của Đảng cho đến hôm nay.

Đảng Cộng sản đầu tiên trên thế giới, như mọi người đều biết, phải nhiều năm sau khi Các-mác qua đời mới được hình thành. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), Đảng Cộng sản Nga (Bôn-sê-vích) đã chính thức khai sinh, đó là tiền thân của Đảng Cộng sản Liên Xô sau này. Đảng Cộng sản Nga là kết quả của đấu tranh vũ trang với các ‘kẻ thù giai cấp’ mà thành, và trong quá trình duy trì sự tồn tại của Đảng, Đảng đã liên tục dùng bạo lực để đàn áp những đảng viên và những người dân bất đồng chính kiến. Riêng trong cuộc thanh trừng nội bộ thời Xta-lin vào những năm 1930, đã có 20 triệu người bị tàn sát vì bất đồng chính kiến với những tội danh như ‘gián điệp’, hoặc ‘phản quốc’.

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) được hình thành với xuất phát điểm là Đảng Cộng sản Liên Xô khống chế Cộng sản Quốc tế đệ tam để lập ra một chi bộ Đảng. Vậy nên ĐCSTQ tự nhiên đã kế thừa truyền thống bạo lực ấy. Riêng trong thời kỳ nội chiến giữa ĐCSTQ và Quốc dân Đảng từ 1927 đến 1936, dân số tỉnh Giang Tây đã giảm từ hơn 20 triệu xuống khoảng 10 triệu. Chỉ riêng con số ấy đã nói lên bạo lực thời bấy giờ.

Có thể viện cớ rằng đoạt binh quyền sao tránh khỏi binh đao, nhưng trên thế giới chưa từng có chính thể nào mà trong thời bình cũng khát máu như Đảng Cộng sản. Tính từ năm 1949 đến nay, số người do ĐCSTQ dùng bạo lực giết hại đã vượt quá số người chết trong thời chiến từ 1927 đến 1949.

Một trong những ‘đỉnh cao’ thành tích về khát máu của ĐCSTQ mà ai cũng biết, là hậu thuẫn toàn lực vũ trang cho Khơ-me Đỏ. Thời Khơ-me Đỏ nắm quyền, một phần tư người dân Cam-pu-chia, trong đó có rất nhiều Hoa Kiều, đã bị ám toán. Đến tận hôm nay chính quyền của ĐCSTQ vẫn không ngừng ngăn cản cộng đồng quốc tế đưa Khơ-me Đỏ ra công lý, vì muốn che đậy vai trò của ĐCSTQ trong cuộc diệt chủng ấy.

Như một hệ quả tất yếu, các cát cứ vũ trang và chính quyền tàn bạo nhất trên thế giới hiện nay đều có quan hệ mật thiết với ĐCSTQ. Không chỉ có Khơ-me Đỏ, mà còn các đảng cộng sản ở In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Việt Nam, Miến Điện, Lào, Nê-pan,… tất cả đều đều có bàn tay ĐCSTQ hậu thuẫn từ khi gây dựng. Nhiều lãnh tụ của các đảng ấy là người Hoa, mà một số trong đó giờ đây vẫn đang ẩn nấp tại Trung Quốc.

Một số đảng cộng sản lấy chủ nghĩa Mao làm tôn chỉ như Đường Quang Minh ở Nam Phi, Xích Quân ở Nhật bản, đều là những tổ chức khủng bố bị cộng đồng thế giới lên án.

Một trong những lý luận ban đầu của chủ nghĩa cộng sản là học thuyết tiến hoá của Đác-uyn. Trong đó Đảng Cộng sản lấy hình thức cạnh tranh sinh tồn của loài vật, để suy diễn ra đấu tranh giai cấp trong xã hội nhân loại. Họ tin rằng đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất giúp xã hội phát triển. Chính vì điều ấy, Đảng cộng sản mới sùng tín vào đấu tranh, cho rằng đó là phương tiện để thâu đoạt và duy trì chính quyền. Một trong những ‘danh ngôn’ của Mao Trạch Đông — “Tám trăm triệu người, không đấu đá là không được” — đã nói trắng ra quan điểm ‘cạnh tranh sinh tồn’ trong chính trị của Đảng.

Mao Trạch Đông còn có một ‘danh ngôn’ tương tự, rằng Cách mạng Văn hoá cần “bảy tám năm làm lại một lần”. Sử dụng bạo lực nhiều lần lặp lại là một trong những thủ đoạn quan trọng bậc nhất của ĐCSTQ nhằm duy trì quyền thống trị của mình. Dùng bạo lực là để dân sợ, là để khủng bố người dân. Mỗi phong trào đấu tranh của ĐCSTQ, đều là một lần huấn luyện bằng bạo lực của Đảng, nhằm dằn mặt người dân Trung Quốc khiến họ run sợ mà khuất phục. Đó là một hình thức nô dịch bằng khủng bố.

Ngày nay chủ nghĩa khủng bố đã trở thành kẻ thù số một của toàn nhân loại văn minh. Nhưng ĐCSTQ không hề từ bỏ chủ trương bạo lực, mà trái lại còn triển khai sâu rộng hơn nữa dựa vào bộ máy chính quyền đương thời. Nó đã có quy mô lớn hơn, có sức công phá mạnh mẽ hơn. Nhân loại nay đã sang thế kỷ 21 rồi, chúng ta không thể không nhớ rõ đặc tính di truyền này của cộng sản, vì điều ấy sẽ quyết định tương lai như thế nào.

2. Dùng lừa dối để hợp thức hoá bạo lực

Để xét một xã hội, một chế độ có mức độ văn minh đến đâu, người ta có một thước đo là xem bạo lực ở đó xuất hiện ở tỷ lệ nào. Nhìn nhận như vậy, thì hiển nhiên xã hội của chính quyền của Đảng Cộng sản là lạc hậu vào bậc nhất, thua xa chuẩn mực văn minh chung của nhân loại hiện nay. Nhưng tiếc thay, vẫn có người coi Trung Quốc là một nước đang trên đà phát triển, vì họ cho rằng để xã hội tiến bộ thì bạo lực là một quá trình tất yếu và tự nhiên.

Phải thừa nhận rằng, đó là kết quả của chính sách lừa dối thâm hiểm có một không hai của Đảng Cộng sản. Thực ra lừa dối cũng là một nhân tố di truyền của ĐCSTQ.

“Từ thủa bé thơ, ai ai trong chúng ta cũng đều thấy nước Mỹ là một quốc gia thật đáng mến. Chúng ta thật sự tin vào điều ấy, vì trên thực tế Mỹ chưa từng xâm phạm Trung Quốc, cũng chưa hề gây chiến với ai. Suy nghĩ sâu sắc hơn nữa, thì người Trung Quốc chúng ta luôn mang ấn tượng tốt đẹp về Mỹ quốc, chính là vì Mỹ luôn đề cao dân chủ và cởi mở.”

Đó là trích đoạn trong xã luận đăng ngày 4 tháng 7 năm 1947 trên ‘Tân Hoa nhật báo’ (tờ báo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc). Nhưng chỉ vẻn vẹn 3 năm sau đó, ĐCSTQ phát binh đánh nhau với quân Mỹ tại Bắc Hàn, và người Mỹ được ĐCSTQ mô tả như những phần tử đại gian đại ác của đế quốc sài lang. Bất kể ai sống ở Trung Quốc hôm nay, nếu đọc bài xã luận 50 năm trước đó của ĐCSTQ cũng phải thấy ghê tởm. Bây giờ ĐCSTQ đã cấm tất cả các tham chiếu về những xã luận hay bài viết như thế.

Từ ngày nắm quyền đến nay, ĐCSTQ vẫn diễn đi diễn lại những thủ đoạn lừa dối cũ rích — thanh trừ phản cách mạng, công tư hợp doanh, thanh trừ phần tử cánh hữu, Cách mạng Văn hoá, thảm sát 4 tháng 6 năm 1989 tại Thiên An Môn, và gần đây nhất là đàn áp Pháp Luân Công — trong mỗi một cuộc vận động ấy ĐCSTQ đều dùng thủ đoạn lừa dối này. Tai tiếng nhất phải kể đến cuộc trấn áp trí thức năm 1957. Đảng Cộng sản Trung Quốc kêu gọi các phần tử trí thức đề đạt ý kiến, để rồi sau đó lấy ngay những bài họ viết làm ‘bằng chứng’ khép họ vào tội ‘theo cánh hữu’ để thanh trừ họ. Đến khi bị người ta phê phán tại sao lại dùng “âm mưu” như thế, thì Mao Trạch Đông nói thẳng: “Không phải âm mưu, mà là ‘dương’ mưu — làm công khai đấy chứ.”

Lừa đảo và dối trá đóng vai trò cực kỳ đắc lực giúp Đảng Cộng sản Trung Quốc thâu tóm và bảo vệ quyền lực. Từ xưa đến nay, giới trí thức Trung Quốc vẫn tự hào về lịch sử của mình. Trung Quốc có lịch sử được ghi chép lâu đời nhất, hoàn chỉnh nhất và chính xác nhất trên thế giới. Giới trí thức người Hoa vẫn lấy lịch sử làm tấm gương phản chiếu để soi xét hiện tại, và thậm chí noi theo những nhân vật mẫu mực trong lịch sử để tự răn dạy bản thân nâng cao đạo đức. Nhưng cũng vì thế, mà ĐCSTQ đã chủ trương bóp méo lịch sử, lấy đó làm thủ đoạn duy trì quyền lực thống trị. Các giai đoạn lịch sử từ thời Xuân Thu Chiến Quốc xa xưa (770-221 trước Công nguyên) cho đến Cách mạng Văn hoá ngày nay đều bị Đảng Cộng sản Trung Quốc không ngừng nhào nặn bóp méo bằng những tuyên truyền lừa mị và xuất bản sách mới đã bị sửa lại trong suốt 55 năm qua (từ năm 1949). ĐCSTQ cũng phong toả tất cả những cố gắng khôi phục lại lịch sử nguyên gốc.

Khi chỉ dùng bạo lực mà không đủ đạt mục đích, thì lừa đảo và dối trá lập tức được Đảng Cộng sản dùng đến. Thực ra lừa dối và bạo lực chẳng qua chỉ là hai mặt của một đồng tiền mà thôi, và lừa dối chính là để hợp thức hoá bạo lực.

Cũng phải nhìn nhận rằng, lừa dối không phải là thủ đoạn do Đảng Cộng sản phát minh, nhưng tự cổ chí kim chỉ có Đảng mới dùng thủ đoạn này một cách công khai không biết lợm giọng là gì. Đảng Cộng sản Trung Quốc hứa hẹn đất đai cho nông dân, nhà máy cho công nhân, tự do và dân chủ cho trí thức, hoà bình cho dân chúng. Nhưng đến nay không hề có lời hứa nào được thực hiện. Một thế hệ người Trung Quốc bị lừa dối và đã qua đời, nay lại một thế hệ người Trung Quốc cũng đang bị Đảng Cộng sản Trung Quốc mê hoặc bằng bưng bít thông tin và tuyên truyền lừa đảo. Đây chẳng phải là điều đau xót nhất của người Trung Quốc hay sao? Chẳng phải là nỗi bất hạnh lớn nhất của dân tộc Trung Hoa hay sao?

3. Không ngừng cải biến lập trường nguyên tắc

Trong đợt bầu cử tổng thống Mỹ năm 2004 vừa qua, có một vị phát biểu rằng, người ta có thể thay đổi quan điểm về một vấn đề, nhưng không thể liên tục thay đổi nguyên tắc nhìn nhận vấn đề được, nếu không người ấy rất khó đáng tin. Câu nói đó có ý nghĩa rất sâu sắc.

Đảng Cộng sản là một điển hình về mặt này. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã qua 16 Đại hội Đại biểu toàn quốc, thay đổi đường lối của Đảng 16 lần. Trong hơn 50 năm cầm quyền, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có 6 lần sửa đối lớn Hiến Pháp Trung Quốc.

Lý tưởng của Đảng Cộng sản là một xã hội công bằng, để rồi cuối cùng tiến đến xã hội theo mô hình chủ nghĩa cộng sản. Nhưng dưới sự ‘lãnh đạo’ của Đảng, Trung Quốc hôm nay là một trong những quốc gia phân biệt giàu nghèo nhất thế giới. Rất nhiều đảng viên ĐCSTQ giàu sụ, trong khi hàng trăm triệu người dân đang phải thắt lưng buộc bụng lo ăn từng bữa.

Tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc ban đầu là chủ nghĩa Mác-Lê. Sau đó nhồi thêm tư tưởng Mao Trạch Đông. Rồi đắp thêm vào đó là lý luận Đặng Tiểu Bình. Và giờ đây lại có thuyết “tam đại biểu” của Giang Trạch Dân được gắn lên nữa. Thực ra ngay chủ nghĩa Mác-Lê và lý luận của Đặng đã trái nhau như chó với mèo, nay lại thêm thuyết “tam đại biểu” của Giang vào nữa, thì có thể nói là một mớ hổ lốn. Ấy vậy mà ĐCSTQ vẫn đang lập đài tôn thờ cái thứ ấy, thật là một ‘kỳ quan’ của lịch sử nhân loại.

Lập trường nguyên tắc của cộng sản thay đổi luôn xoành xoạch. Đảng ban đầu không có tổ quốc, rồi đề xuất chủ trương toàn cầu đại đồng, và hôm nay khuyếch trương chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Ban đầu Đảng tịch thu mọi tài sản tư hữu, đả đảo giai cấp tư sản, nhưng hôm nay chính sách của Đảng là thâu dụng kim tiền, đảng viên làm giàu. Nguyên tắc lập trường của Đảng đổi trắng thay đen thật chớp nhoáng. Để duy trì quyền lực cai trị của mình, hôm nay Đảng sẵn sàng vứt bỏ lập trường nguyên tắc đang được tuyên truyền hôm qua, và ngày mai, có thể Đảng lại có một lập trường nguyên tắc mới. Thực ra dù có ‘cải cách’ thế nào đi nữa, thì Đảng vẫn có mục tiêu xuyên suốt rất rõ ràng: thâu tóm và duy trì quyền lực, lũng đoạn xã hội bằng quyền lực tuyệt đối.

Trong lịch sử của ĐCSTQ, đã có hơn mười phen đấu tranh được coi là ‘chí chết’. Thực ra những tranh đấu đó không có gì khác hơn là những đợt thanh trừng nội bộ do chuyển giao quyền lực sau mỗi lần Đảng thay đổi nguyên tắc và lập trường.

Mỗi một lần thay đổi lập trường nguyên tắc ấy đều phát sinh khi ĐCSTQ phải đối mặt với khủng hoảng không tránh khỏi có liên quan đến việc hợp pháp hoá và vấn đề sống còn của Đảng — hợp tác với Quốc Dân Đảng, ngoại giao theo hướng thân Mỹ, cải cách và mở cửa kinh tế, khuếch trương chủ nghĩa dân tộc — lần nào cũng là do Đảng phải thoả hiệp để thâu tóm hoặc bình ổn quyền lực. ‘Đàn áp — sửa sai’ phát sinh thành chu kỳ tuần hoàn cũng vì thế mà ra: một nhóm bị đàn áp rồi sau lại được nới lỏng là có liên quan đến những đợt Đảng thay đổi lập trường nguyên tắc.

Tây phương có câu ngạn ngữ rằng: chân lý là bất biến không đổi, còn giả dối là biến hoá không ngừng. Quả là đúng đắn!

4. Thay ‘nhân tính’ bằng ‘đảng tính’

Đảng Cộng sản Trung Quốc là một chính đảng theo thể thức của Lê-nin. Từ ngày thành lập, đã xác lập ra ba đường lối lớn làm nền tảng cho Đảng: đường lối chính trị, đường lối tư tưởng, và đường lối tổ chức. Diễn đạt nôm na cho dễ hình dung là thế này: đường lối tư tưởng là cơ sở triết học của Đảng Cộng sản, đường lối chính trị tức là xác lập mục tiêu, rồi đến đường lối tổ chức là làm sao để đạt được mục tiêu ấy.

Đảng viên và những ai do Đảng chỉ đạo trực tiếp được nhận chỉ thị trước và họ phải tuyệt đối phục tùng. Đấy chính là toàn bộ nội dung của đường lối tổ chức.

Ở Trung Quốc, người ta nói chung đều biết đến hai tính cách của một đảng viên ĐCSTQ. Tại gia đình và hoàn cảnh riêng tư, một đảng viên ĐCSTQ vẫn có đầy đủ ‘nhân tính’ như một con người bình thường, buồn vui hờn giận, có cái ưu cái khuyết của con người. Họ có thể là cha mẹ, là vợ chồng, là bè bạn… Nhưng đặt lên trên nhân tính thường tình ấy, chính là ‘đảng tính’. Một người cộng sản là vậy: Đảng yêu cầu họ phải đặt Đảng lên trên, vì theo yêu cầu của Đảng, chủ nghĩa cộng sản là tối thượng, là vĩnh viễn vượt trên nhân tính thường tình của con người, và ‘nhân tính’ chỉ là tương đối, là có thể đổi thay, còn ‘đảng tính’ là bất biến, và không được phép hoài nghi hay thách thức.

Hồi Cách mạng Văn hoá, cha con giết nhau, vợ chồng đấu nhau, thầy trò phản nhau, mẹ con coi nhau như kẻ thù,… là những việc thường xảy ra trong quần chúng. Đó là do đảng tính kích động mâu thuẫn và thù hận mà nên. Thời kỳ đầu khi Đảng nắm quyền, có nhiều quan chức cao cấp của ĐCSTQ bó tay không cứu nổi người nhà khi người nhà của họ bị liệt vào giai cấp thù địch và bị đàn áp. Đó cũng là do tôn sùng đảng tính.

‘Đảng tính’ là kết quả của những huấn luyện thâm sâu do Đảng tổ chức, nó được thực hiện ngay từ tuổi nhi đồng một cách có hệ thống. Tại các trường mẫu giáo ở Trung Quốc, trẻ em được khuyến khích bằng khen thưởng khi trả lời đúng, và ở đó đáp án thường không theo luân thường đạo lý và nhân tính. Từ tiểu học, trung học, cho đến các cấp học vấn, học sinh phải học môn chính trị tuân theo hệ tư tưởng do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Ai không học theo và không trả lời đúng đáp án sẽ không thể tốt nghiệp.

Một đảng viên, lúc ở nhà có thể thể hiện ý kiến riêng của mình, nhưng hễ ra ngoài với cương vị một đảng viên, thì họ dứt khoát phải nhất trí với đường lối của Đảng. Với tổ chức nhất quán từ trên xuống dưới, Đảng Cộng sản Trung Quốc tựa như một kim tự tháp khổng lồ, với điều khiển tuyệt đối từ trên xuống. Cách thức tổ chức này đóng vai trò trọng yếu trong chính quyền của ĐCSTQ, nhằm đảm bảo sự phục tùng tuyệt đối.

Ngày nay Đảng Cộng sản Trung Quốc đã biến thái trở thành một tập đoàn chính trị chỉ biết đấu tranh bảo trì lợi ích bản thân. Nó từ lâu đã không còn theo đuổi mục tiêu ‘cao cả’ xây dựng xã hội theo mô hình chủ nghĩa cộng sản nữa. Nhưng nguyên tắc tổ chức không hề thay đổi: tất cả phải tuyệt đối phục tùng đảng tính. Nó tự đặt mình cao hơn hết thảy, cao hơn nhân dân, cao hơn nhà nước, cao hơn pháp luật; đảng tính được đặt cao hơn cả nhân tính và tự nhiên. Do đó, nó sẵn sàng thanh trừ tất cả tổ chức hoặc cá nhân nào mà nó cho rằng có thể ảnh hưởng đến quyền lực của Đảng hoặc lãnh tụ của Đảng, không phân biệt đó là thường dân hay lãnh tụ cao cấp của Đảng.

5. Một con quỷ tà ác phản tự nhiên và phản nhân tính

Vạn sự vạn vật trong cõi trời đất này đều có quá trình sinh thành hưng vong của mình.

So với chính thể cộng sản, thì tất cả các xã hội phi cộng sản đều có điểm khác biệt là: dù chuyên chế hay cực quyền đến mấy, nó đều chấp nhận tồn tại đến một mức độ nào đó trong xã hội những thành phần tổ chức tự phát tự chủ. Xã hội Trung Quốc cổ đại, về bản chất, là thuận theo kết cấu nhị nguyên. Nông thôn cũng có tổ chức tự phát với dòng tộc làm trung tâm, thành thị cũng có tổ chức tự phát với phường hội ngành nghề làm trung tâm, còn cơ cấu tổ chức từ trên xuống của vua quan về cơ bản chỉ quản lý sự vụ từ cấp huyện trở lên.

Đến thời hiện đại, Đức quốc xã — có thể sánh với đảng cộng sản về mức độ hà khắc và cực quyền chuyên chế — vẫn cho phép có quyền tư hữu, cho phép người dân có tài sản riêng. Vậy mà các chế độ cộng sản đều tiêu diệt sạch những tổ chức tự phát và thành phần tự chủ, để thay vào đó là kết cấu tập trung quyền lực với tổ chức tập quyền từ trên xuống.

Nếu nói rằng cơ chế xã hội cho phép tổ chức tự phát và thành phần tự chủ với cơ cấu từ dưới lên nói trên là đã hình thành một cách tự nhiên trong lịch sử, vậy thì chính quyền cộng sản chính là một xã hội phản tự nhiên về bản chất.

Triết lý cộng sản không chứa đựng tiêu chuẩn nhân tính phổ biến của con người. Khái niệm lương thiện và tham ác, pháp luật và nguyên tắc đã bị bóp méo một cách tuỳ tiện. Luật của cộng sản cấm sát nhân, nhưng giết những ai mà Đảng cho là kẻ thù lại được coi là đúng và được khuyến khích. Hiếu cha kính mẹ là tốt, nhưng nếu cha mẹ là giai cấp thù địch của Đảng thì không được hiếu thuận. Nhân lễ nghĩa trí tín vốn là giá trị đạo đức nền tảng của nhân loại, nhưng Đảng không cho đó là gì quan trọng, lúc nào Đảng không thích thì Đảng liền bỏ qua. Những tiêu chuẩn làm người trong truyền thống dân tộc nay bị Đảng tẩy chay và xoá bỏ. Đảng Cộng sản là một thứ phản nhân tính.

Tại tất cả các xã hội phi cộng sản, người ta nói chung đều thừa nhận hiện thực là nhân tính có hai mặt thiện ác, do đó lấy khế ước cố định trong xã hội để đạt được quân bình trong xã hội. Tuy nhiên, xã hội cộng sản không thừa nhận nhân tính, không thừa nhận cái lương thiện trong nhân tính và cũng không thừa nhận cái tà ác trong nhân tính. Theo cách nói của Các-mác, xoá sạch quan niệm thiện ác chính là triệt để tiêu trừ kiến trúc thượng tầng của chế độ cũ.

Đảng Cộng sản không tin vào Thần, và cũng không tôn trọng vạn vật tự nhiên. “Đấu với trời, đấu với đất, đấu với người, thật sướng vô cùng”, đó là khẩu hiệu của Đảng thời Cách mạng Văn hoá. Ganh đấu với trời đất, tàn sát nhân dân.

Người Hoa chúng ta xưa nay vẫn tin rằng con người phải hoà hợp với đất trời mới là đúng. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử giảng rằng: “người theo đất, đất theo trời, trời theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên”. Con người hoà hợp với tự nhiên trong vũ trụ xoay vần.

Năm 1848, mở đầu Tuyên ngôn Cộng sản, Các-mác đã tuyên bố: “Một bóng ma đang ám ảnh Châu Âu: Bóng ma Chủ nghĩa Cộng sản”. Đảng Cộng sản cũng là sinh linh. Nhưng trong vũ trụ này, nó là sinh linh phản tự nhiên, phản nhân tính, phản thiên phản địa. Nó là một con quỷ tà ác.

6. Những đặc trưng của một con quỷ ngoại lai ăn bám

Tổ chức của Đảng Cộng sản tự nó không bao giờ có hoạt động sản xuất hay phát minh gì hết. Ngay từ thời điểm nắm chính quyền, nó liền gắn nó vào nhân dân để thao túng và khống chế nhân dân. Chân rết của nó găm xuống từng đơn vị nhỏ nhất trong dân chúng để nắm chắc quyền lực, đồng thời là để lũng đoạn tài nguyên của quốc gia và để vơ vét tài vật của xã hội.

Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản có tổ chức len lỏi đến tất cả mọi nơi, quản lý tất cả mọi thứ. Ấy vậy mà không ai biết được thu chi tài chính của Đảng. Người ta chỉ thấy có báo cáo thu chi của quốc gia, của chính quyền địa phương, của doanh nghiệp,… chứ không bao giờ có báo cáo thu chi của Đảng. Từ chính phủ trung ương cho đến uỷ hội nông thôn, tất cả quan chức hành chính đều xếp dưới nhân viên của Đảng ngang hàng. Chi tiêu của Đảng là do các đơn vị hành chính chu cấp, nhưng không có hạng mục thống kê báo cáo.

Cách tổ chức ấy của Đảng — giống một con quỷ ngoại lai ăn bám (tà linh phụ thể) — đang gắn chặt như hình với bóng vào từng tế bào nhỏ nhất của xã hội Trung Quốc, len vào từng thớ thịt, găm vào từng mạch máu, để khống chế và thao túng nhân dân cũng như rút kiệt tài nguyên xã hội.

Kết cấu ma quái của một sinh linh ngoại lai như vậy trong lịch sử nhân loại đã từng có lúc xuất hiện, hoặc có tính cục bộ, hoặc có tính nhất thời, nhưng chưa bao giờ tồn tại vừa triệt để rộng khắp, vừa kéo dài quá lâu như Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cho nên, nông dân Trung Quốc mới bần cùng nghèo khổ đến thế. Họ đang cõng trên lưng không chỉ những quan chức hành chính theo thông lệ, mà còn cả các quan chức trong tổ chức Đảng với số lượng không kém.

Cho nên, công nhân Trung Quốc mới lúc nào cũng sợ thất nghiệp đến thế. Các vòi hút của con quỷ ăn bám kia, bao năm nay vẫn len vào tham nhũng, hút cạn những đầu tư cho nhà máy và cơ sở hạ tầng.

Cho nên, trí thức Trung Quốc mới thấy tự do sao mà xa vời đến thế. Ngoài cơ cấu hành chính chủ quản ra, thì Đảng Cộng sản đang chụp xuống mọi thứ, len vào mọi nơi, chỉ để giám sát và khống chế nhân dân mà thôi, chứ không làm điều gì vì dân hết.

Con quỷ ngoại lai ăn bám có một đặc điểm rất đặc trưng: nó bắt vật chủ phải chịu khống chế tuyệt đối về tinh thần, từ đó nó mới có thể thâu nạp năng lượng để duy trì cuộc sống của mình.

Chính trị hiện đại nhìn nhận rằng quyền lực trong xã hội có từ ba nguồn: vũ lực, tài lực, và trí lực. ĐCSTQ lạm dụng vũ lực trắng trợn và ngang ngược: chiếm đoạt tài sản của dân chúng — và nghiêm trọng hơn — tước bỏ quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí của người dân, trấn áp tự do ý chí và tinh thần của nhân dân, tất cả là để đạt đến quyền lực khống chế triệt để toàn xã hội. Xét về mặt này, thì ĐCSTQ là một con quỷ ngoại lai ăn bám có năng lực khống chế tinh thần rất hung bạo, từ xưa đến nay chưa từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại.

7. Nhận thức và thoát khỏi khống chế của con quỷ ĐCSTQ

Sau khi Các-mác nói về ‘bóng ma chủ nghĩa cộng sản’ không đầy một thế kỷ, cộng sản đã không còn là ‘bóng ma’ nữa mà đã hiện diện rõ ràng. ‘Bóng ma’ ấy đã trở thành con quỷ, và trong thế kỷ qua, như một trận đại dịch lan tràn trên thế giới, nó đã cướp đi hàng trăm triệu sinh mạng, tước đoạt của cải vật chất và tự do tinh thần của biết bao dân chúng.

Nguyên tắc sơ khai của chủ nghĩa cộng sản là tước đoạt tất cả tài sản tư hữu, tiến đến xoá bỏ giai cấp ‘bóc lột’. Thực ra, tài sản tư hữu là quyền lợi nền tảng của tất cả quyền lợi xã hội mà người dân được hưởng, và thường được nhìn nhận là một bộ phận góp phần gìn giữ văn hoá dân tộc. Người dân một khi đã bị tước bỏ tài sản riêng tư, thì như một hệ quả tất yếu, sẽ bị tước đoạt cả tự do tinh thần và tự do ý chí, rồi cuối cùng sẽ mất nốt quyền lợi xã hội và quyền lợi chính trị.

Khi đối mặt trước nguy cơ sụp đổ đầu những năm 1980, ĐCSTQ buộc phải tiến hành cải cách kinh tế. Người dân được khôi phục một số quyền lợi về tài sản tư hữu. Điều ấy tạo nên một lỗ hổng trong cỗ máy chính quyền của ĐCSTQ, một cỗ máy điều hành vốn đòi hỏi độ chính xác cao. Đến nay, lỗ hổng ấy càng ngày càng bị khoét rộng, nhất là vào tình trạng giờ đây khi mà toàn thể đảng viên của ĐCSTQ đều chạy đua ganh sức tích cóp tiền của.

Đó chính là dấu hiệu cho thấy ĐCSTQ — con quỷ ngoại lai ăn bám, cường bạo và gian dối, liên tục thay đổi bộ mặt — đã đến lúc suy vong. Nó run sợ và cảnh giác trước bất kể khuấy động nhỏ nào. Hơn bao giờ hết, nó đang điên cuồng tích cóp của cải và tăng cường quân cảnh xiết chặt điều khiển dân chúng mong kéo dài mạng sống. Nhưng chính những động thái ấy đang khoét sâu thêm lỗ hổng khủng hoảng, đẩy nó đến chỗ chết nhanh hơn.

Cái vỏ phồn vinh hôm nay tại Trung Quốc là đi kèm với những mâu thuẫn chồng chất trong xã hội đang được đẩy tới mức độ căng thẳng chưa từng có. Không thay đổi tập tính của mình, ĐCSTQ vẫn đang tái diễn những thủ đoạn xưa cũ dù đã có phần thoả hiệp và tinh vi hơn — đàn áp biểu tình tại Thiên An Môn năm 1989, đàn áp Pháp Luân Công,… sau đó tìm cách ‘sửa sai’ — tất cả đều là thủ đoạn tách một bộ phận thiểu số dân chúng mà Đảng gọi là ‘kẻ thù’ để ra oai vũ lực nhằm duy trì thống trị với hình thức nô dịch bằng khủng bố.

Dân tộc Trung Hoa trong quá trình mấy trăm năm phải đối mặt với những thách thức lớn, đã từ nhập khẩu vũ khí, cải cách chế độ, cho đến bạo lực cách mạng cực đoan. Tổn thất vô số sinh mạng, đánh mất đi một bộ phận lớn văn hoá truyền thống, như vậy, thực tế minh chứng rằng làn sóng phản ứng này cũng là một thất bại. Vào hoàn cảnh quần chúng phẫn uất, thù hận, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cướp lấy thời cơ đoạt chính quyền, và con quỷ ngoại lai ăn bám ấy đã lũng đoạn và khống chế một dân tộc có truyền thống văn minh lâu đời bậc nhất thế giới này.

Thấy rõ thức thách của tương lai, đại dân tộc Trung Hoa sẽ không tránh khỏi phải có quyết định lựa chọn một lần nữa. Nhưng dù là chọn thế nào, thì người dân Trung Quốc nhất định phải tỉnh táo, cần nhận thức rõ rằng mọi níu kéo vào ảo ảnh do Đảng Cộng sản Trung Quốc tô vẽ đều chỉ là thêm dầu vào lửa, đều làm tình huống trở nên khó khăn hơn, đều là trợ giúp con quỷ hung ác có thêm cơ hội chiếm hữu lâu hơn nữa.

Chỉ có cách suy xét thật tỉnh táo, vứt bỏ tất cả những ảo ảnh, không để cho mưu cầu lợi ích cá nhân làm ảnh hưởng, thì chúng ta mới có thể thoát khỏi giấc mộng do con quỷ cộng sản thêu dệt nên. Là một dân tộc tự do, chúng ta có thể tái lập nền văn minh Trung Hoa với nền tảng tôn trọng giá trị nhân văn, tôn trọng hoà bình hữu hảo và văn hoá truyền thống.

Copyright © 2004 DAJIYUAN.COM, thời báo Đại Kỷ Nguyên




Famous People Painting with Wiki Links & mouse over tagging

 

Đây có thể nói là một bức tranh độc đáo, vì người tạo ra nó đã tốn khá nhiều thời gian để lập trình. Qua sự sắp xếp các nhân vật nổi tiếng từ Cổ chí Kim, những người đã sống cách đây vài chục năm, vài trăm năm lại với nhau, tác giả đã hoàn thành bức tranh như một bức hình chụp. Nếu muốn thưởng thức trọn vẹn phải mất nhiều thời giờ, có khi cả ngày.
Bức tranh có kích thước rất rộng và phải rê chuột từ phải sang trái mới thấy hết được. Muốn biết tên nhân vật nào chỉ cần chỉ mũi tên vào thì tên nhân vật đó sẽ hiện ra, và tiếp tục double click (nhấp chuột 2 lần) vào nhân vật đó thì sẽ hiện ra toàn bộ thân thế và sự nghiệp của nhân vật đó.
Khi hiện ra thân thế sự nghiệp của nhân vật bằng tiếng Anh. Lúc hiện bảng tiếng Anh thì xin mời nhìn sang phía bên trái, mục languages  và chọn ngôn ngữ của mình ( Ex: tiê’ng  Việt ) thì  ngôn  ngữ  đó  sẽ  được  tự động chuyển.
Chúc mọi người thành công.
Xin mời click vào đường link dưới đây để thưởng thức.

Click vào đây để xem tranh