Chinh Nguyên : Say Sưa

CHÉN SAY

 

Chén tôi, chén anh say ngất ngưởng

Vợ con cười gìa rồi vẫn còn ngông

Ôm lấy thơ hôn lên môi xuân thắm

Nhưng xứ người xuân tới sao lại đông…!

 

Chợt thoáng chốc ba mươi năm xa xứ

Tóc xanh xưa nay đã bạc còn đâu…!

Ngoảng mặt lại giống nòi đang cắn xé

Nhặt tóc vương lòng ôm cả khối sầu…! 

 

Chinh Nguyên

BUỒN  XANH  XAO

 

 

Tặng Tôn Thất Phú Sĩ

 

Tôi cũng như anh kiếp trôi hoang loạn

Bước chân đi nghe sóng vỗ rì rào

Lòng cứ ngỡ con sông đang réo gọi

Tóc bạc nửa đời hồn buốt xanh xao

 

Dưới chân cầu một mình ngồi chợt khóc

Trăng lạnh Trường Tiền buồn hơn lúc nào

Khi quay về chỗ cũ cỏ mọc cao

Nàng  O Huế bây giờ thôi cũng mất

 

Trăng lóng lánh trên sông tan vỡ vụn

Bên kia bờ nhoà nhạt lệ sương rơi

Thuyền ai đó nằm yên trên sóng nước

Ánh đèn khuya le lói giữa mù khơi

 

Vung tay ném bình rượu không xuống nước

Tiếng động vang những vòng sóng loang xa

Dần tan biến lẩn vào dòng nguồn mẹ.

Đêm đã tàn lòng cuộn những phong ba…!

 

San Jose May 01, 2006

 

Chinh Nguyên

ĐỌAN TRƯỜNG

 

Mây mưa vần vũ cũng hoài công

Tình hỡi trăm năm bỏ chẳng xong

Ai khóc thương thương sầu tạc dạ

Ta buồn ngẩn ngẩn buốt ghi lòng

Đêm cay phím nấc hoài tương vọng

Ngày đắng tình thơ mãi nhớ mong

Đời đó ! trăm năm thôi thế chỉ :

Đoạn trường vân khúc cuộn cuồng phong

 

San Jose May 30, 2006

Chinh Nguyên

CHỢT  MỘT  MÙA  XUÂN

 

 

Chợt một mùa xuân chinh chiến loạn

Thân trai đành bỏ mẹ với đơn côi

Trong phòng tuyến hoả châu như mắt đợi

Nhìn quanh con máu đổ thắm chân đồi…!

 

Chợt một mùa xuân về bên mẹ

Thảng thốt mừng òa khóc chạy ôm con

Mắt mẹ trũng  như hố sâu phiền muộn

Tay mẹ gầy da bọc lấy sắt son.

 

Chợt một mùa xuân về bên mẹ

Mặt kề mặt đôi giòng lệ hoà chung

Nước mắt mẹ thấm môi con nặm đắng

Giọt lệ con, mẹ nuốt lấy nỗi mừng.

 

Chợt một mùa xuân về bên mẹ

luống khoai xưa bỏ dở chẳng vun trồng

Cán cuốc nằm trơ vơ trên đất trống

Mẹ đã gìa run rẩy mỏi lưng còng

 

Chợt  một mùa xuân về bên mẹ

Tóc mẹ xanh nay trắng chẳng lược cài

Quần áo vá như quê nghèo vận nước

Mang chân trần bước hy vọng tương lai

 

Chợt một ngày đã bỏ mẹ ra đi

Vạt áo nâu mẹ thấm lệ phân kỳ

Rồi từ đó một mình con ở lại

Trên xứ người hằng đêm khóc biệt lỵ!

 

San Jose May 20, 2006

Chinh Nguyên

CŨNG NGẬM NGÙI THÂN

 

 

Tôi về nhìn bóng hình tôi

Giữa đêm sương trắng nhớ lời thầm riêng

Yêu người ngớ ngẩn du miên

Giọt tan trên má, ưu phiền mãi xoay

Thoảng mùi hương phấn đêm nay   

Phòng đêm cô tịch tơ giây hững hờ 

Tóc phai rụng xuống phím thơ

Trăm năm vẫn thế lời mơ nhắc thầm

…………………………………………..

Đàn ơi… sao vắng tri âm…!

 

 

Đêm thâu trăng ngủ bên đồi

Tơ vương sương lệ bùi ngùi tủi thân

Ước xuân sao chẳng thấy xuân

Trăm năm chỉ gặp một lần rồi qua

Trách ai trao tặng em hoa

Mắt ta ngấn lệ lời sa nửa vời

Từ đó quay quắt chân đồi

 Mình ta hiu quạnh ngậm ngùi thương thân.

 

San Jose April 13, 2006

Chinh Nguyên

 

 

 

CŨNG NGẬM NGÙI THÂN

 

Chân đồi cỏ úa vàng tôi !

Gió mùa trở lạnh… nghẹn lời rất riêng

Thời gian ru giấc cô miên

Thu Xuân Đông Hạ … ưu phiền vần xoay

Xin yêu người trọn hôm nay

Yêu đời, cả những phút giây ơ hờ…

Tóc trăng vàng nhuộm hồn thơ

Sẻ chia giọt đọng chút mơ lặng thầm

 

Mảnh hồn riêng gởi tri âm .

 

TiêuSa

 

ĐONG ĐƯA

 

 

Cây đàn bị quên lãng

Tiếng người vẫn xa xăm

Giây trùng phím còn đợi

Nhện ơi về giăng tơ..!

 

Đàn ơi sao vương vấn

Giọt lệ nhỏ ngây thơ

Trên cung mê đắm đuối

Ai về gọi trong mơ

 

Đêm tàn trên bến Ngự

Dòng nhạc thơ quyện nhau

Người đi vào nỗi nhớ

Đời ôm mấy mối sầu ?

 

Tìm yêu vần thơ cũ

Đã hòa bản nhạc xưa

Tình về như chợt nắng

Soi sợi buồn đong đưa

 

Tặng chi. Kim 3T.

San Jose May 26, 2006

Chinh Nguyên

ĐƯỢC GÌ ?

 

Qua Mỹ anh, tôi học được gì ?

Phải chăng ôm mãi mớ lòng si !

Sân tình rồi cũng hề… tay trắng..!

Nhục dục vô thường khốc…ngã dị.!

Lệ tủi nửa đời buồn bến lạ

Căm gan một kiếp hận chia ly

Ba mươi năm lẻ xuân đâu nhỉ ..!?

Tóc đã phai sương chậm bước đi

 

Tặng Anh Hai

Chinh Nguyên

EM ĐI RỒI

 

 

Tôi mê mẩn áo hồng em từ độ

Tóc cài trâm son phấn bước lên ngôi

Pháo vui nổ trước nhà em rộn rã

Em đâu ngờ, em đã giết tình tôi

 

Em ác lắm nụ cười xưa đã tắt

Khi gặp nhau trên dốc vắng sau đồi

Chân bước mau làm lá thu rơi rụng

Để hồn ta nghiêng ngả tựa mây trôi

 

Áo ngày đó còn ươm hồng không nhỉ?

Hay đã tàn theo phượng úa mùa xưa

Phai màu sắc ba mươi năm nghiệt ngã

Xuân không về, trên lối cũ lũ mưa

 

Ba mươi năm lẻ bước chân ta đã mỏi

Muốn quay về tìm suối, lá thả thơ

Nhưng tóc đã sợi rơi mang tang trắng

Em đi rồi hoang vắng cả chiều mơ…!

 

Chinh Nguyên

KÌA  AI

 

Ngã rồi thân lụy kiếp đời

Mênh mang nỗi nhớ đầy trời lệ tim

Lối xưa mất dấu chân chim

Ai mang tóc trắng nhuộm phiền mãi thôi

Lũ mưa xương trắng trơ đồi

Phơi trong hóc núi lạnh đời niềm đau

Kìa ai nuốt lệ nghẹn ngào

Nhìn trong bóng tưởng người nào mình thương

Buồn hoa úa rụng bên đường

 

Chinh Nguyên

 

==========================

 

 

 

SAY SƯA

 

Say Sưa ngã xuống giếng đời

Quẩn quanh, suôi ngược rã rời tình đau

Tìm nhau trong mộ thảm sầu

Nghe vang tiếng quốc nỗi rầu nghiệp tan

Nếu mai trở lại giang san

Đừng quên lệ rượu cất bằng niềm đau

Uống đi ! Đổ vỡ đỉnh sầu…!

Đập tan biển nhớ, xé màu tang thương

Ngõ về hoa thắm bên đường

 

San Jose Mar. 25, 2006

Chinh Nguyên

 

 

 

 

 

 

 

SAY CHI…!

 

Say chi ngã xuống giếng đời

Để lòng ray rức rã rời con tim

Mắt hằn in dấu chân chim

Tóc pha sương trắng ưu phiền mãi thôi

Quê hương tan nát lâu rồi

Ba mươi năm lẻ ngậm ngùi thương đau

Tháng Tư lòng mãi  nghẹn ngào

Kẻ còn người mất nhuộm màu tang thương

Còn đâu… hoa thắm bên đường

 

 MinhThu206@aol.com wrote:

 Kính cảm tác qua bài thơ Say Sưa rất hay của Thi sĩ ChinhNguyen, nếu có gì sơ suất kính mong thi sĩ cùng quý vị thứ lỗi cho .

Kính cám ơn

 

  MinhThư

 




ANH CÒN NỢ EM (Chinh Nguyên)

ANH CÒN NỢ EM
MỘT
noem.jpgNgày 30 tháng 4 năm 1975. Sau khi vị Tổng Thống vài ngày của miền Nam ra lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng địch, để mặc cho Cộng Sản miền Bắc cưỡng chiếm toàn miền Nam. Nguyên buông súng nhưng cha chàng không cho chàng đầu thú để đi học cải tạo vài tuần sẽ về, như cán bộ Cộng Sản nói.
Kinh nghiệm sống của ông cho biết rằng đó là cái bẫy Cộng Sản đưa ra để bắt hết quân dân cán chính bỏ tù, và sẽ giết họ dần mòn trong im lặng dưới cái danh nghe rất kêu: "Trại học tập cải tạo" để che mắt nhân dân miền Nam và quốc tế.
Cuối tháng 11/1975 vào một buổi sáng cả nhà vừa thức dậy, cha Nguyên gọi chàng ra phòng khách, dúi cho chàng cái túi có hai bộ quần áo vải, và một số tiền.
Bằng giọng nói như ra lệnh, lạnh như băng:
–           Con phải kiếm đường đi khỏi Ban Mê Thuột ngay hôm nay, Ta nghe phong phanh, chúng nó đã biết con ở đâu. Chúng nó sẽ bắt con bất cứ lúc nào..!
Nguyên nhìn cha, ngại ngùng đưa tay nhận món tiền không cần đếm, chàng đút vội vào túi quần, trong khi mẹ chàng vừa bước vào đứng bên cạnh cha nước mắt dàn dụa trên mặt. Nguyên nhìn hai đấng sinh thành trong tuổi già, chàng cúi nhìn xuống đất lắc đầu:
–           Con không đi đâu, con trốn vào rừng, tối về nhà vì thày mẹ già rồi. Đâu có ai bên cạnh, các em con đứa đi tù, đứa mất tích chưa về…! Không biết tụi nó ra sao…!
Cha Nguyên quắc mắt nhìn chàng, giọng nói gắt trong sự đau xót tột cùng : 
–           Vì con là Không Quân Kiểm Báo, rồi cứ ở phố la cà hết quán cà phê này tới nơi nhẩy đầm khác. Bạn bè của con cả tỉnh Ban Mê Thuột nhỏ bé này đều biết con là ai, thì con khỏi cần trốn vô ích. Những bạn học của con tại BanMêThuột này cũng có người theo Cộng Sản nằm vùng! Nếu con muốn ta đi lượm xác con sau khi tụi nó bằm con ra từng mảnh! Thì con ở lại BanMêThuột !
Bây giờ có hai điều: Một là con trốn đi, và chết đâu cũng được, nhưng không thể chết ở Ban Mê Thuột. Hai là con tự tử, thày không muốn con chết trong tay Cộng Sản để rồi không thấy xác. Nếu không có gan tự tử thì cầm gói này, và lấy chiếc Honda của thằng Thanh đi ngay lập tức.
Nguyên nhìn cha, chàng biết rằng cha rất cương quyết vì cha chàng đã sống trong thời Thanh Niên tiền Phong ở chiến khu Bắc Việt, đã bị tù đày trong trại tù Lý Bá Sơ, Khu Tư, và đã chạy Cộng Sản cả nửa đời. Nguyên nhìn qua mẹ và các em gái, đang khóc trong góc nhà, chàng gạt nước mắt dật cái túi trên tay cha , cúi đầu chào mẹ, và bỏ lại các em chạy vội ra chiếc Honda đang dựng ở hiên nhà. Nguyên đạp cho máy nổ rồi phóng thật nhanh mất dạng.
Nguyên xuống Nha Trang tìm người bạn tên Quang ở Trụt gần Cầu Đá, nhưng người bạn chàng đã đầu thú, và bị bắt mang đi mấy tháng chưa về, gia đình không biết tin tức. Cha mẹ Quang có đi hỏi tin tức về Quang, được cơ quan công An ở Trụt trả lời : Mai mốt anh Quang sẽ về. Nhưng càng chờ càng mất niềm tin, nên cha mẹ Quang rất buồn, và trở nên bất tín đám Cộng Sản tàn ác, trong chế độ bao cấp.
Nguyên ở Trụt vài ngày trong nhà cha mẹ Quang, rồi dùng Honda về Sài Gòn qua ngả Phan Rang, Phan Thiết, và Long Thành vào trại Bùi Phát tìm Ông Đạm, với hy vọng ông Đạm sẽ chứa chàng vài ngày, vì ngày còn đi học Văn Khoa chàng đã ở trọ nhà ông , nhưng ông Đạm đã trở nên lạnh lùng không tiếp chàng vồn vả như xưa:
–           Tôi không thể chứa cậu trong nhà, cậu phải dời khỏi nhà tôi ngay đêm nay, nếu không gia đình tôi sẽ chết với tụi Công An Cộng Sản trong khóm phường, tụi nó như lũ quỷ dữ sống lại…!
Nguyên nhìn ông Đạm hiểu hoàn cảnh của ông, do đó Nguyên xin ra đàng sau rửa mặt , lấy bộ quần áo rách thay để ngụy trang, bước ra phòng khách chào ông bà Đạm, và lên xe đi thẳng ra ngoài đường Trương Minh Giảng, lên bến xe Bình Tây mua vé xe xuống miền Nam, và trèo lên xe ngồi vào ghế cuối chỗ tối, và cố giỗ giấc ngủ vội trong lo sợ bị phát giác, sau khi đã cho chiếc Honda của chàng lên nóc xe.
Trong suốt đọan đường từ Ban Mê thuột tới Sài Gòn, nơi nào Nguyên cũng ghé mắt rất nhanh liếc qua những trạm gác giữa đường để tránh né đám Công An Cộng Sản nhiều như rươi, độc ác như lũ cướp ngày ở mọi nơi. Chúng bắt người đánh đập vô cớ không cần luật lệ, khám xét bơi móc tất cả những hàng hoá trên nóc xe, và ngay cả những gói đồ hành khách ôm trên tay để tìm những gì chúng muốn lấy, muốn khám để bắt đóng thuế, nhất là tìm vàng và tiền Mỹ kim cất giấu trong người nạn nhân.
Người dân bỗng trở thành nô lệ cho kẻ cưỡng chiếm, sợ hãi từng giây phút trong cuộc sống, và đã có vài người đã chết dưới mũi súng của Công An trước sự ngạc nhiên ngơ ngác khiếp đảm của đám đông dân chúng ngay tại cửa chợ hay bến xe.
Nhưng nếu muốn qua khỏi trạm kiểm soát chàng chỉ bỏ vào tay ít trăm, và bắt tay người kiểm soát viên mặt lạnh như muốn giết người là yên lành được đi qua không cần kiểm soát. Cũng vì thế chàng đã phải nhịn ăn để dành tiền cho việc đóng lộ phí chẳng đặng đừng dưới sự bóc lột của Công An Cộng Sản.
Khi tới Cẩn Thơ Nguyên đã hết tiền và đói, chàng bắt buộc phải bán rẻ chiếc Honda để mua chén cơm đỡ bụng rồi thất thiểu xuống đò, mà chàng chẳng biết con đò sẽ đi về đâu, vì chàng cũng không có chủ đích đi đâu. chàng là kẻ chạy trốn vòng vòng trong chiếc cũi không lồ đang nhốt người dân cả nước, và tình nguyện chết đâu cũng được nhưng đừng chết trong tay Cộng Sản, như lời cha chàng đã dặn.
Cứ thế đời Nguyên trôi theo những nắm cơm xin dọc đường, tối ngủ chợ hay chỗ nào cũng được, miễn là không có ai dòm ngó. Nhưng chàng luôn di động hết vùng này tới vùng khác, không có chỗ nào nhất định, thất thiểu như một kẻ điên. Thực ra chàng đã cho mình là kẻ điên với quàn áo rách hở lưng, rách túi, dơ bẩn hôi hám cũng may chàng chưa mắc bệnh nhưng đã còm cõi coi không ra Nguyên của mấy ngày tháng trước 30 tháng 4 với đầu tóc rối bời bết bụi không gội, râu ra lung tung và đôi mắt trũng sâu đen quầng vì thiếu ngủ lẫn với lo sợ từng giây.
Có lần trong lúc hoang mang, mềm lòng trong cơn đói, Nguyên nhẩy đại xuống thuyền từ chợ lồng Rạch Giá, rồi vì mệt và đói chàng đã ngủ quên, khi thuyền đậu vào bến và đã tối, chủ thuyền đuổi chàng lên bến, Nguyên mới biết chàng đã bỏ Rạch Giá và xuống Chợ Mới, Cà Mâu. Nguyên giật mình khi nghĩ tới hai câu nói về Cà Mâu trước khi miền Nam bị cưỡng chiếm: 
Muỗi kêu như sáo thổi .
Đỉa lội như bánh canh
Nguyên than thầm :
–           Chắc bỏ xác ở Cà Mâu này vì muỗi, chết đâu không chết, chết vì muỗi thì nhục thật..!
Nguyên đã rúc vào đống rơm để tránh muỗi giữa cánh đồng ngủ vài đêm khi mới đặt chân tới Cà Mâu, và mấy tháng chàng đánh liều vào ngủ chung với trâu trong cái mùng che cả chòi của vài nhà giàu trong vùng. Giường là những nắm rơm chàng trải phủ lên những đống phân khô, nhưng đôi khi chàng không ngủ được vì muỗi đã đổ xô tới bám đầy vào chân, tay khi chàng ngủ quên trong khi mệt mỏi lo âu, tay chân thò ra khỏi mùng, và những chỗ hở trên thân vì quần áo rách. Những lần như vậy, Nguyên bắt buộc phải ngồi dậy lấy mấy cành tre tươi nhiều lá đuổi muỗi liền tay cho chính mình và cho cả trâu, vì nếu muỗi cắn trâu, trâu sẽ không ngủ, nằm đứng không yên và lấy đuôi quật lung tung, mùng sẽ rách và muỗi được dịp tràn vào trong mùng cho tới khi trời sáng, nhưng khi trời sáng vừa ló rạng chàng lại phải lẩn vào những ruộng lúa nước để tránh chủ trâu và bắt cá, rắn, hay chuột đồng ăn thay cơm, khi buồn ngủ chàng nằm đại ra bờ ruộng, hay thửa đất khô giữa trời đất thênh thang chẳng ai để ý tới.
Đã mấy tháng ! Nguyên không thể sống như vậy được lâu, vì chàng cảm thấy đôi khi bị sốt nóng lạnh, và thèm cơm, chàng cố gắng mấy ngày bắt cho được mấy con cá nóc lớn sách ra Chợ Mới với dụng ý đổi lấy vài viên thuốc trụ sinh, hay chén gạo.
Nguyên vừa sách sâu cá nóc từ phía Sông Rạch Hào tới gần Chợ Mới vào buổi sáng sớm. Chàng đã ngạc nhiên nhìn con đường từ cầu tàu ngó qua Ty Công Chánh chạy đến rạp hát Huệ Tinh đã rộn rịp khách mua, người bán mua tấp nập. Mắt chàng đã chợt nhìn thấy một dáng dấp nữ sinh gánh một bên là nồi cháo, và bên khác là rổ bát đũa, thìa và nồi nước rửa chén. Nguyên thèm cháo nuốt nước miếng, nên đi theo cho tới khi vào tới đầu chợ, người bán hàng mới bỏ gánh cháo xuống. Nguyên không thể chờ được nữa, chàng chồm tới nói với cô bán cháo:
–           Xin lỗi cô, tôi đói quá và thèm cháo quá, cô làm ơn cho tôi đổi sâu cá này lấy tô cháo được không ?
Cô bán cháo vừa ngước mặt lên nhìn Nguyên, và đưa một cái liếc xéo thật dịu kín đáo như thầm hiểu trạng huống của Nguyên trong ánh mắt. Cô nhỏ nhẹ:
–           Được chứ anh. Sâu cá này đổi được hai tô cháo dưa muối, anh chịu không?
Nguyên vội vàng đưa sâu cá nóc cho cô bán cháo rồi ngồi bệt xuông nền đất bụi.
–           Một tô cũng được, miễn là tôi có tô cháo.
Cô hàng cháo, liếc nhìn Nguyên rồi mở nồi, lấy tô múc cho Nguyên một tô đầy , trong khi múc cháo cô hỏi Nguyên bằng giọng Ca Mâu đặc quánh.
–           Anh nghèo đến độ không có tiền mua cháo à?
Nguyên đưa hai tay cẩn thận đỡ tô cháo và gật đầu. Chàng lấy thìa múc cháo húp lấy húp để, húp xong tô cháo, Nguyên thấy tỉnh người ra và lấy tay dơ lau miệng, chàng hỏi.
–           Tôi còn tô nữa phải không ?
–           Phải rồi, anh muốn tô nữa tôi múc cho anh.
Nguyên lắc đầu.
–           Không tôi để dành ngày mai, ngày mai cô có tới đây không?
–           Ngày nào tôi cũng tới đây bán cháo dưa mưối.  Mai anh tới đây tôi sẽ trả lại anh tô cháo còn nợ anh.
Bất chợt nàng dịu giọng lại chỉ mình Nguyên nghe trong cái ồn ào của buổi chợ sớm:
–           Tuy nhiên anh phải cẩn thận kẻo nguy hiểm lắm.
Nguyên nhìn cô bán cháo trân trân bằng đôi mắt cám ơn, và đưa đôi mắt lấm lét nhìn chung quanh, chàng vội vàng gật đầu nói nhỏ :
–           Cám ơn cô, nhưng tôi muốn đổi cá lấy vài viên thuớc cảm trụ sinh chữa bệnh.
Cô bán cháo liếc nhanh mọi người, nàng gật đầu với Nguyên, nói nhỏ: 
–           Trời đất, thuốc bây giờ đắt lắm, vài con cá của anh đâu có được một viên !
–           Thì tôi cứ đưa cá cho cô, khi nào đủ một viên thuốc, thì cô đưa thuốc cho tôi .
 Cô bán cháo vừa múc cháo bán cho khách, vừa liếc mắt nháy thật nhanh về Nguyên.
–           Thôi cũng được, mai anh mang cá ra chỗ này, tôi sẽ đưa thuốc cho anh. Nhà anh ở xa đây không? Anh phải đi đi, mau lên…!
Nguyên lắc đầu.
–           Tôi nghèo không có nhà.
 Chợt cô bán cháo nhìn thẳng vào mặt Nguyên, nói như ra lệnh sau cái nháy mắt thật dài:
–           Anh làm ơn đi chỗ khác ngay, để tôi bán hàng. kẻo Công An thấy đông người như họp chợ, họ tới bây giờ thì khốn.!  
Nguyên vội vã bỏ cô hàng cháo khập khễnh, lủi thủi cúi mặt đi vội vàng, mắt ráo hoảnh nhìn quanh như chạy trốn, và biến mất vào đám dừa nước dày đặc mênh mông của Cà Mâu bên đê sông Rạch Hào cách chợ vài cây số.
 Nguyên vừa đi, lòng thầm nghĩ "không biết cô bán cháo này có ý gì, sao lại nháy mắt với mình, rồi lại đuổi mình đi ! lạ thật,,, Kệ mẹ nó… Tới đâu hay đó… đằng nào cũng chết, nhưng không chết đói là được. Đi bắt cá mai mang đổi lấy thuốc rồi sẽ hay."
 
 
 Hai   
                         
Sau hơn ba năm sống trong bếp của gia đình Nga ít đi ra ngoài với danh nghĩa anh của Nga bị tàn phế từ nhỏ và luôn mặc quần dài để ngụy trang như chân bị tật nguyền. Mỗi lần chẳng đạng đừng Nguyên phải ra ngoài, chàng phải chống một cây gậy và đi cà thọt, đôi khi gỉa bộ té như đứng không vững.
 Nguyên hiểu đưọc rằng Nga trước ngày 30 tháng 4 nàng là học sinh lớp 12 Trường Trung Học An Xuyên, cô học trò miền tỉnh nhỏ ưa ăn trái cóc ở xe bán hàng rong trước rạp Huỳnh Long , xem hát tại rạp Huê Tinh và hay qua phiá sau chợ để thơ thẩn đi bộ trên Công trường Bạch Đằng hứng gió ngàn từ biển thổi về.
Sau ngày 30 tháng 4 Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam nàng phải theo cha mẹ bỏ Tỉnh An Xuyên về miền quê mua đất gần sông Rạch Hào như một cách chạy trốn chương trình kinh tế mới đánh phá tư sản của Cộng Sản, Nga có người anh cả Biệt Động đã tử trận tại Khe Sanh, và người anh kế lính dù bỏ thân tại An Lộc. Cha mẹ Nga đã già, ông bà sống bình dị qua ngày sẽ không ai để ý bắt bớ hoặc đấu tố vì ông bà sống nghèo, hơn nữa ông bà không muốn bỏ quê hương có nắng bụi mưa xình của xứ An Xuyên để chạy ra nưóc ngoài như một vài người bạn của ông bà đã ra đi bằng thuyền qua Thái Lan trong ngày mất miền Nam. Nhưng trong tâm thức, ông bà lo cho tương lai Nga sau này, và luôn thở dài khi thấy vai nữ sinh bây giờ nặng gánh cháo trắng dưa muối mỗi ngày đi bộ trên lộ xa…!
Cũng vì thế Nga đành phải ở lại với cha mẹ, và gánh cháo dưa muối nàng thường gánh ra đầu chợ bán là một sự ngụy trang để sống trong cảnh quan tha, ma bắt dưới chế độ tàn ác khủng bố, giết chóc của Công An Cộng Sản giữa ban ngày.
Một chiều Nguyên đang ngồi ngoài hè sau đánh vẩy mấy con cá nóc mẹ của Nga mới mua về, bỗng nghe tiếng Nga khóc trong bếp và có tiếng nói của mẹ Nga:
–           Nếu con không bằng lòng lấy nó, thì chết cả nhà đó.
Tiếng Nga gằn giọng :
–           Thà chết con cũng không lấy thằng cán bộ mất dậy đó.
–           Nhưng nó đã tới nhà và ra lệnh cho cha con phải làm như ý nó muốn.
Nguyên sực nhớ tới gã cán bộ sáng nay tới nhà trong khi Nguyên trốn yên lặng trong góc bếp. Chàng nghe loáng thoáng những câu nói hống hách của hắn, và tiếng thở dài van xin của cha mẹ Nga :
–           Ông phải nhớ điều tôi nói, nếu không là chết cả nhà ! Cả thằng con què của ông tôi cũng không tha đó, nghe chưa!
–           Dạ
–           Tôi còn biết rằng ông có hai người con trai đi lính ngụy. Đó là có tội với nhân dân ông hiểu không!
–           Dạ
–           Vậy thì ông bà phải làm điều tôi muốn ông bà phải làm hiểu chưa!
–           Dạ, xin ông bỏ qua cho cháu, nó còn nhỏ quá mà!
Nguyên chợt hiểu thì ra thằng cán ngố Bắc Kỳ trên phường vừa tới hồi chiều. Mấy tháng nay hắn thấy Nga đẹp, có duyên nên hắn đã mê, và sàm sỡ với nàng mấy lần. Hắn cũng đã nhiều lần ghé nhà thăm hỏi cha mẹ nàng, nói ngọt như mía lùi, và lễ độ như con cháu, ai dè hắn manh tâm theo dõi gia đình nàng, sau khi hắn biết mọi chi tiết, hắn trở mặt khủng bố, dọa nạt ép cha mẹ Nga gả nàng cho hắn!
Nguyên bực tức bổ mạnh con dao đang đánh vẩy cá xuống con cá trên miếng gỗ làm con cá bị chặt đôi với nỗi uất hận của chàng, trong khi tiếng Nga khóc lớn hơn làm chàng đau lòng. Nguyên thầm nghĩ rồi chửi thề :
–           Đồ chó chết, để tao xem mày là ai ! Có ngày mày vào đây một mình là bố sẽ giết mày, chôn xuống mương luôn, rồi ra sao thì ra, đàng nào tao cũng sẽ chết vì tụi mày không sớm thì muộn. Nhân lúc này đánh đổi có sao đâu!
Ngay đêm đó trong khi Nguyên đang trằn trọc trong góc bếp với những ý nghĩ về Nga, và cách nào thủ tiêu thằng cán bộ chính trị chủ tịch phường. Chàng nghe tiếng chân Nga đi tới phía góc bếp nơi chàng đang nằm, nhưng chàng vẵn lặng yên xem Nga làm gì. Nga dừng lại bên mùng, nàng đứng suy nghĩ vài giây rồi cúi xuống vạch mùng rúc vào trong, tay nàng vỗ vào vai Nguyên đánh thức chàng dậy.
–           Anh Nguyên… Anh Nguyên… Dậy em muốn nói chuyện quan trọng với anh. Nguyên bàng hoàng bật dậy quơ vội cái áo định chạy ra ngoài vườn sau, trong khi Nga cần tay chàng trong bóng tối kéo lại, nàng dịu giọng :
–           Không có gì đâu anh Nguyên, Anh chạy đi đâu vậy? Em muốn đánh thức anh dậy nói vài điều với anh mà thôi.
Nguyên ngại ngùng:
–           Sao cô không thắp đèn lên, ngồi thế này hai bác biết hiểu lầm kỳ lắm, tôi mặt mũi nào còn có thể trốn ở đây. Tôi đã nhờ vả cô và hai bác…! Hai bác đã coi tôi như con ruột cô biết không ?
Nga gật đầu, giọng buồn phiền:
–           Chính vì thế em mới xuống đây với anh, không sao đâu anh, em đã nói với cha mẹ em rồi.
–           Em nói cái gì? Nguyên ngạc nhiên hỏi.
–           Chuyện em muốn lấy anh làm chồng, trước khi em làm vợ hờ của hắn.
Nguyên chạy vội ra khỏi mùng:
–           Cô Nga nói gì lạ vậy! Tôi nhất định không làm chuyện này đâu, mặc dù tôi cũng yêu cô từ lâu rồi, nhưng nhất định là không được. Tội cho em…!
Nga níu tay Nguyên ngã và lòng chàng khóc sụt sùi.
–           Anh Nguyên, em yêu anh, nên em mới chứa anh trong nhà, cha mẹ em đều biết chuyện này, và bằng lòng gả em cho anh từ lâu rồi. Em chỉ chờ thời gian và anh bằng lòng cưới em hay không mà thôi. Nhưng không ngờ sẩy ra chuyện trớ trêu này. Em phải cứu cha mẹ em, thằng khốn nạn đó nó làm thật đó. Em đã thấy nó hại nhiều người rồi! Em không muốn cha mẹ em đi tù, hay đuổi đi kinh tế mới vì em. Em bằng lòng cho anh mà!
–           Nhưng hai bác biết thì nguy lắm ! Khổ cho em… em hiểu không ?
–           Chuyện chẳng đạng đừng rồi anh… Nếu cha mẹ em biết cũng thế thôi…Ông bà đâu có muốn nó hại đời em…! Thà rằng em trao tặng anh tất cả rồi mai ra sao em không cần biết tới nữa.
–           Nga! Em nói gì vậy?
Nga úp mặt vào vai Nguyên nức nở:
–           Cũng đành như thế thôi anh à. Em yêu anh lắm, anh biết không ?
–           Anh biết. Anh cũng yêu em, nhưng hoàn cảnh anh không thể giúp em được gì cả. Chỉ có cách anh giết nó!
Nga vội bịt miệng Nguyên:
–           Anh đừng nói vậy! Em sợ lắm! Giết nó rồi anh sẽ ra sao…!
–           Không, anh phải giết nó, nó hại đời em.
Nga rúc vào lòng Nguyên:
–           Nó chẳng làm gì em được đâu, Em yêu anh, em muốn anh yên thân sống với cha mẹ em, và em cho anh tất cả mà…!
Nguyên ôm chặt Nga trong lòng, với giọng đau đớn tột cùng:
–           Anh đâu có thể sống như vậy được hả em. Đời anh phải nương tựa vào nggười đàn bà anh yêu hay sao?
Nga ôm Nguyên và hai kẻ yêu nhau đều khóc sụt sùi trong đêm tối, Nga vuốt tóc Nguyên thì thầm:
–           Vậy thì từ nay mỗi tối em đều xuống bếp ngủ với anh.
–           Không được đâu em.
–           Không em đã nhất định rồi, em sống với anh chỉ một tuần thôi, rồi em sẽ xa anh đó, anh biết không?
 
Ba
Vài tháng sau khi về làm vợ gã cán bộ chính trị phường, tên Hùng, Nga cố gắng âm thầm dùng quyền lực, tiền bạc của gã cán bộ để tìm lối thoát cho Nguyên ra khỏi Việt Nam bằng đường biển.
Một đêm tối trời, có mưa lâm râm Nga tất tả chạy xe Honda về nhà, nàng xông thẳng vào bếp giữa nửa đêm không thắp đèn, nàng kéo Nguyên dậy, và nói trong vội vàng thúc dục:
–           Anh Nguyên, anh phải theo em đi ngay, có thuyền đợi ngoài biển rồi.
Nguyên ngạc nhiên.
–           Thuyền nào ?
–           Thuyền chạy ra nước ngoài đó, anh đi theo em ngay, bỏ lại tất cả.
–           Ba má em ?
–           Ba má để em lo….!
Nguyên như kẻ mất trí chạy theo tay kéo của Nga ra sân trước , và như cái máy chàng theo lời Nga ngồi lên sau chiếc xe Honda, trước sự ngạc nhiên của ba má Nga, nhưng họ chỉ im lặng nhìn theo chiếc xe rồ ga chạy nhay trong đêm mưa, rồi âm thầm khép cánh lại không lời từ biệt.
–           Ôm chặt lấy em.
Nguyên ôm qua bụng Nga và nhận thấy bụng Nga có vẻ khác thường, nhưng chàng đã không có thì giờ hỏi Nga, và cố gắng nghe những lời chỉ dẫn của Nga để cho nàng được yên lòng.
–           Nhất định anh phải nghe em, anh phải đi …! Nếu thoát được cô gắng sống nghe anh…! Anh thương em thì anh phảo sống nghe chưa…!
Nga hối hả phóng xe chạy quanh co trong đêm, khi tới sông Rành Hào nàng thắng gấp xe, tắt máy bước khỏi xe một quãng xa. Nga dừng lại ôm lấy Nguyên khóc sụt sùi, nàng chỉ chiếc ghe sau khi với với Nguyên:
–           Anh đi được bằng an, em chờ tin anh…! Có thế nào chăng nữa cũng đừng uổng phí đời anh nghe chưa! Anh phải chờ em…!
–           Trong lúc Nguyên bịn rịn, Nga kéo Nguyên sát vào mặt nàng rồi hôn chàng thật lâu, sau đó vung tay đẩy Nguyên xuống chân đê sông Rạch Hào, và bảo chàng chạy tới chiếc ghe đang bập bềnh trong bóng đêm và có nguời bước xuống.
–           Anh xuống ghe kia đi đi…đi đi anh, ghe lớn đang chờ ngoài khơi… anh đi bằng an. Thôi em về đây… Nếu thoát được chờ em qua… Em sẽ tìm anh..
 
 
Bốn
–           Dady…! Dady…! Con vừa nhìn thấy một bà gần giống như hình ba bỏ trong bóp, trên bàn thờ, và một người khác nhìn đàng sau giống hệt dady lắm. Con tưởng là dady nên chạy theo gọi, nhưng không phải. Mắc cớ quá chừng hà…!
Nguyên trố mắt nhìn đứa con gái đầu mười tuổi của chàng, nó đang vừa thở vừa nói. Chàng ngồi xổm để nhìn vào mặt con, quở mắng :
–           Con đi đâu để ba má ti`m khắp nơi ? Cứ tưởng con bị bắt cóc rồi.
Bất chợt Hellen quay mặt nhìn mẹ , nói:
–           Mẹ à, con nhìn thấy một nguời giống dady ghê lắm, nên con chạy theo gọi. Ông ta quay lại, mặt cũng giống dady làm con hết hồn. Con mắc cỡ, bây giờ dady lại la con kìa..!
Nguyên ngạc nhiên, kéo Hellen tới gần an ủi và dò hỏi:
–           Con gặp hai người đó ở đâu ?
–           Trong parking chợ Lion mà dady vừa dắt con ra đó.
–           Con gặp ở đâu?
–           Con đã nói ở ngoài parking chợ đó mà. Người đàn ông giống ba ghê lắm. Nhưng trẻ hơn dady..
Nguyên chợt nghĩ tới Nga, chàng lay vai con gái, hỏi vội vàng trong khi đưa mắt nhìn quanh parking trước cửa chợ Lion.
–           Hai người đó đâu rồi con ?
–           Họ vừa lên xe đi rồi… Đó chiếc xe màu xám vừa quẹo ra đường King đó ba..!
Nguyên nhìn theo tay chỉ của Hellen, đầu chàng bỗng trở lên nặng trĩu, rối bời những hình ảnh của Nga, những ngày chàng sống ẩn nấp trong nhà nàng, và nhất là những đêm bên nàng trong xó bếp, và ngày nàng đẩy chàng xuống chân đê sông Rạch Hào để xuống thuyền chạy ra biển.
Hai mươi lăm năm, Nguyên sống trên đất Mỹ, mười lăm năm bặt tin Nga, chàng chỉ biết Nga đã có một con trai sau hai năm chàng sống ở trại tỵ nạn Song Kha TháiLand. 15 năm không tin tức gì về Nga sau khi chàng đã tìm lại sự cân bằng tâm hồn và công việc hàng ngày tại Hãng IBM. Chàng cố gắng làm để hy vọng có ngày đoàn tụ với Nga, nhưng tin tức về Nga đã không còn cách nào có thể gặp lại, mặc dù chàng đã có vài lần về tìm Nga, nhưng mọi người biết về gia đình Nga đều nói nàng đã vượt biển với thằng con sau khi cha mẹ nàng qua đời.
Chàng nghĩ rằng mẹ con của Nga đã chết trên biển, và chàng đã lập bàn thờ cho Nga ở trong nhà trước khi lấy Khanh. Chàng nói với Khanh : Nga là người vợ trước đã qua đời trong khi vượt biển từ Cà Mâu.
Sao bây giờ Nguyên bỗng dưng lại có người giống chàng, một ý nghĩ bất ngờ le lói về Nga! Nguyên thầm nghĩ : Biết đâu đó là Nga và đưá con của chàng d-a~ tạo ra từ xó bếp, mặc dầu Nga không nói lúc chia tay 25 năm trước.
Nguyên thầm ao ước:
–           Nga à! Có phải em và con không !!!? Sao tình chúng ta luôn oan nghiệt thế này! Em cứ như cái bóng bỗng xuất hiện trong đời anh rồi mất hút để anh mong, và tìm kiếm cả đời…! Nếu thực sự là em và con, em làm ơn xuất hiện cho anh gặp, anh vẵn còn yêu em, vẫn còn nhớ những ngày tháng cũ bên nhau. Nhớ sự hy sinh của em….!
Nguyên vội quay đi nơi khác đẻ tránh cặp mắt ngạc nhiên của Hellen đang nhìn chàng, và gạt vội vài giọt nước mắt thầm kín chạy trên má ! Chàng thở dài nhủ thầm.
"Nga! Em à…! Anh còn nợ em …!"
 
 San Jose May 6, 2008
 



Niềm Riềng : Thơ Chinh Nguyên, Nhạc Nguyễn Văn Thành

 

 

 


Hồn tôi đó rung rinh theo cơn bão
Bão vào đời, bão loạn bão tha hương
Luôn khắc khoải đêm thâu cùng lệ nến
Hỏi lòng mình chia mấy đọan sầu vương

Muốn trút bỏ, nhưng sợ tình vỡ vụn
Tình quê hương, tình mẹ, nỗi yêu thương
Đành phải gánh dù lưng còng vai mỏi
Để mai sau không thẹn nhục cuối đường

Quê hương hỡi !!! Biển sâu ngăn cách trở
Sao lòng người sâu thẳm lắm nghiệt oan
Đẩy tôi đi mỗi ngày thêm xa mãi
Cho mẹ buồn đêm trắng tủi khóc than

Đời đã hết..!! Tóc bạc chân đã mỏi
Trên đường về sẽ ngã giữa đêm tàn
Thôi đành thế, không muốn nhìn tuyết phủ
Chẳng người than để nghe tiếng hỏi han.

 

Chinh Nguyên

 




Thơ Họa : Mừng sinh nhật 91 Cụ Hà Thượng Nhân

TRƯỜNG GIANG

 




TRẦN VĂN ÂN NHÀ BÁO KIÊT XUẤT SỐNG MỘT TRĂM NĂM

TRẦN VĂN ÂN NHÀ BÁO KIÊT XUẤT SỐNG MỘT TRĂM NĂM

Trần Văn Ân sinh ngày 23 tháng chạp năm Nhâm Dần nhưng năm dương lich lai là tháng giêng năm 1902 thành ra ông nằm trong bụng mẹ xuốt năm Nhâm Dần do đó ông qua đời khi lưu vong tại Pháp vào tháng 9 nằm 2002 kể như ông đã trăm tuổi khi lìa cõi thế

Tràn Văn Ân sinh ra tại rạch Trà Cui huyện Thốt Nốt tỉnh Long Xuyên theo lời kể trong hồi ký của ông thì tuy cha là phú hộ nhưng mẹ ông lại giận tánh ‘’trăng hoa’’ của cha ông nên về với me sinh ra bà do đó ông ở nhà bà ngọai  tại vùng xa xôi hẻo lánh .Tuy nhà bà ngọai có tiền nhưng lại ăn chay trường vì bà tu tại gia theo phái Minh Sư[Phât Gíao] nên ăn chay trường

Trần Văn Ân sống với ngọai nên cũng ăn chay trương và tụng kinh Phât cho tới bốn tuổi thì bà nôi Trần Văn Ân đem ông về nuôi bà nôi cũng ăn chay trương thành ra Trần Văn Ân lại tiếp tục ăn chay.Năm tuổi Trần Văn Ân  được bác Hai đem về nuôi vì mẹ Trần Văn Ạn đã giận cha ‘’thí phát’’ vô chùa tu luôn ủy thác bà ngọai nuôi ông.Bác Hai của Trần Văn Ân cũng tu Phât và ăn chay nên mỗi ngày bác’’bới’’ cơm chay gồm cơm với chao hoăc tương hôt hay muôi ớt  cho Trần Văn Ân đem theo ăn trưa sáng thì nắm xôi hay củ khoai lang luôc lót dạ,Tuy sống đạm bạc nhưng Trần Văn Ân mạnh như con trâu’’ cui’’ và học khá giòi.Bẩy tuổi Bác Hai dẫn Trần Văn Ân  tới chùa Qủang Đức Tế qui y với pháp danh Quang Huy

11tuổi cha Trần Văn Ân và bác Hai quyết định với bất cứ giá nào cũng phải  đưa Trần Văn Ân lện Saigon học trương Tây mà phải thứ trường’’bảnh’’ nhất xứ Đông Dương đó là trương’’bổn quôc’’ có tên là Chasseloup Laubat

Với tiền bạc đầy môt va li bác Hai của Trần Văn Ân đã dẫn cậu bé Trần Văn Ân 11 tuổi xuống tầu thủy rời Thốt Nốt lên Mỹ Tho rối sang xe lửa lên Saigon.Tới  ga Saigon bác Hai và Trần Văn Ân lên xe kéo tới thẳng nhà của ông Tô Ngọc Chánh môt đồng hương hiện làm thư ký cho văn phòng luât sư Duval nhờ ông Chánh lo cho Trần Văn Ân vào hoc nội trú trương Chasseloup Laubat ở khu Tây chư không phải khu bản xư không kể gì tốn kém

Ông Chánh cười sòa nói dễ thôi nhưng hơi tốn đây,bác Hai mở va ly bạc trắng ra và trả lời gia đình sẵn sang miễn thằng nhỏ vô trương ‘’bổn quốc’’ học tại khu người Tây là đươc

Ông Tô Ngọc Chánh đã’’chạy’’ cho Trần Văn Ân vào học tại trương Chasseloup Laubat’’khu Âu Chậu[quartier Européen] đàng hòang nhưng chỉ học lớp ba thôi

Dù học lớp ba trường’’bổn quốc’’ nhưng cậu bé nhà quê Trần Văn Ân cũng phải gồng mình mới theo kịp bạn bè vì tiếng Tây trương’’bổn quôc’’ hòan tòan khác với tiếng Tây trương Thốt Nốt đã thế câu bé’’nhà quê Trần Văn Ân quen ăn chay’’dị ứng ‘’ với bơ sửa phó mát sô cô la  thit cá nên  ngày nào cũng làm môt bụng bánh mì với ‘’ma di’’ hoăc muối tiêu và rau sà lách

Tuy học trường’’bổn quôc’’ cưc như vây nhưng chỉ sáu tháng Trần Văn Ân đã hội nhập với thế giới học sinh trương bổn quôc khu Tây’’ rặc ‘’trở thành môt trong năm học sinh đứng đầu lớp.Lên trung học thì Trần Văn Ân không những học giỏi mà còn nổi tiếng nghĩa hiệp sẵn sàng giúp đỡ bạn bè khi bị bọn Tây con ỷ mạnh bắt nạt vì ở quê Trần Văn Ân có đươc bác Hai dạy cho chút võ nghệ

Năm 1923 Trần Văn Ân đậu bằng Brevet Elémentare với hạng ưu đươc chuyển thẳng lên học seconde thì đúng lúc cha của Trần Văn Ân cũng như bác Hai gặp khó khăn về tiền bạc Trần Văn Ân quyết định nghỉ học .Nghe tin Trần Văn Ân quyết định nghỉ học thầy Tullíe bạn thân với thống đốc Nam Kỳ tên Cognac đã xin ông Cognac cho Trần Văn Ân môt cái học bổng tòan phần nhưng Ttần Văn Ân chỉ nhận học bổng này có nửa năm thì bỏ học nhận kèm hai bạn hoc đi Tây du học với điều kiện đươc lo tiền tầu biển và lo chỗ ăn ở củng học phí miễn là luôn kèm cặp hai người bạn lắm tiền nhiều của nhưng đầu óc khá’’tối tăm’’.Thế là giữa nắm 1926 Trần Văn Ân cùng hai người hoc trò mà cũng là bạn hoc xuống tầu thủy đi Tây Bác Hai vét hết tiền chưa đươc trăm bạc cho cháu dằn túi

Sang Tây sau khi lo chỗ ăn ở tại Marseille Trần Văn Ân thi vào trương Cao Đẳng Công Nghệ ở Marseille và đậu khá cao.Khi ấy tại Aix-en-Provence có một tờ báo của sinh viên viết bằng tiếng Pháp cần phóng viên Trần Văn Ân đa ghi tên dự tuyển và trúng tuyển thế là Trần Văn Ân trở thành nhà báo sinh viên

Làm báo sinh viên Trần Văn Ân đã tham gia ban tổ chức Đai Hội Sinh Viên Tòan Đông Dương trên đất Pháp lần thứ nhất vào năm 1927.Kết quả của Đai Hôi này là bản tuyên bố của sinh viên tòan cõi Đông Dương đòi nhà cầm quyền Pháp phải trao trả Độc Lập cho các nuớc Pháp’’ bảo hộ ‘’ trên bán đảo Đông Dương.Mật thám Pháp khám phá ra tác gỉa cái bản tuyên bố của Tổng Hôi Sinh Viên Tòan cõi Đông Dương không ai khác hơn là đám sinh viên Việt Nam Trần Văn Ân Tạ Thu Thâu Trần Văn Thạch Phan Văn Hùm Hồ Hữu Tương.Thế là nhà cầm quyền Pháp ra tay’’trục xuất ‘’ các tác giả bản Tuyên bố của Tổng Hôi Sinh Viên Tòan Cõi Đông Dương về xứ

Bị trục xúat về nước tháng 10 năm 1928 Trần Văn Ân gặp luât sư Dương Văn Gíao và nhà nho Võ Oanh rủ ra báo liền nhận lới làm Tổng thư ký tòa sọan tờ’’cách nhât báo’’ Đuốc Nhà Nam

Nhờ làm Tổng Thư Ký tòa sọan’’cách nhật báo’’Đuốc Mjà Nam mà thảng năm 1929 Trần Văn Ân đươc mời tham dư đại hôi Quốc Dân Đảng Trung Quốc ở Nam Kinh vào tháng 3 năm 1929 và ờ lại Nam Kinh tới cuối năm mới về nươc

Về nươc Trần Văn Ận gặp lại bạn bè cũ từng làm báo Sinh Viên ở bên Tây thủa nào như Tạ Thu Thâu Phan Van Hùm Hồ Hữu Tương và quyết định cùng bạn bè phát động Phong Trào Đông Dương Dại Hôi một phong trào quần chúng đã lan rông khắp Đông Dưong làm người Pháp phải e ngại  và tiếng tăm Trần Văn ÂnTa Thu Thâu Phan Văn Hùm Hồ Hữu Tường vang dôi

Chiến tranh thế giới lần thư nhì xẩy ra người Pháp gom tất cả những nhân sĩ yêu nươc ở Saigon lại kẻ bị dưa đi Côn Đảo người bị đầy đi Bà Rá,Trần Văn Ân bị đầy đi Bà Rá,Trong lúc Trần Văn Ân bị đầy đi  Bà Rá thì bà vơ kế của Trần Văn Ân một người Hoa có giao thiệp với môt người Nhât là chủ hãng đóng tầu  biển DainamKosi bà than thở chuyện chồng bị đi đầy ông chủ DainamKosi môt lãnh tụ Đảng Hắc Long của Nhât Bản đã bảo với bà Ân là ông sẽ tổ chức cho Trần Văn Ân vượt ngục và xuất ngọai đi lưu vong

Qủa nhiên Đảng Hắc Long đã tổ chưc cho Trần Văn Ân vươt ngục và đưa sang Singapore cùng nhà sử học Trần Trọng Kim nhưng sang Singapore với đàu óc nhậy bén của môt nhà báo Trân Văn Ân đã nói thẳng với người Nhât làNhât  nên cầu hòa với Đông Minh nếu không sẽ bại trận nhục nhã đám quân phiệt Nhât bưc mình vì lời nói thẳng của Trần Văn Ân đã đưa Trần Văn Ân qua Nam Dương quần đảo may nhờ sự can thiệp của thủ tương Trần Trong Kim tháng tám năm 1945 người Nhât mới cho Trần Văn Ân về Saigon

Về Saigon Trần Văn Ân gặp lại người bạn cố tri là lụât sư Dương Văn Gíao mới ở Thai Lan về hai ngươi trao đổi và di tới thống nhất là phải đòan kết các lực lương không phân biêt chánh kiến  kể cả thân Nhât đẽ chống sư trở lại của thưc dân Pháp và nhà báo Trần Văn Ân  vôi vàng đến găp người bạn cũ là Hồ Văn Ngà hiện  đương là Phó Khâm Sai của triều đình Huế ở Saigon trong khi luât sư Dương Văn Gíao huy động hai sư đòan hài ngọai quân ở Thái Lan về nươc

Lưc lương quôc gia kháng chiến có quân Cao Đài của  đầu sư Trần Quang Vinh quân Hòa Hảo của Đức Thầy Hùynh Phú Sổ một sư đòan của Vũ Tam Anh môt sư đòan của Nguyễn Hòa Hiệp môt sư đòan của Hòang Cao Nhã và bô đôi An Diền của Đai Viêt thêm vào đó còn có hai chi đôi Bình Xuyên của Dương Văn Dương và Lê Văn Viễn

Thấy lưc lương quôc gia kháng chiên quá mạnh Trần Văn Giầu cho lệnh Hùynh Văn Nghê bắt cóc luât sư Dương Văn Gíao và ông Hồ Văn Ngà đem thủ tiêu

Trươc sư ra tay của Trần Văn Gìau nhà báo Trần VănÂn cố gắng xoay trở tình thê từ Xóm Củi qua với Lưc Lương Bình Xuyên rối liên lạc với Đức Thầy Hùynh Phú Sổ một măt chống Trần Văn Gìau mặt khác chống âm mưu lập chính phủ Nam Kỳ Quôc của thưc dân Pháp/Tương De La Toitr bực bôi trước việc làm của TRẦN Văn Ân đã tuyên chiến với nhà báo Trần Văn  Ân khiến ông phải lưu vong sang Thái Lan để vận động cho giải pháp Bảo Đai và khi vua Bảo Đai chấp nhận về nươc làm quôc trưởng cử trung tương Nguyễn Văn Xuân làm thủ tương thì thủ tương Xuân nghĩ ngay tới Trần Văn Ân và ông nhận giữ bô Thông Tin đích thân vẽ lá cờ ba sọc đỏ làm quôc kỳ

Nhà báo Trần Văn Ân tham chính không lâu nhưng chính ông là người đặt nền móng cho những chính phủ quôc gia sau này

Nghỉ làm bộ trưởng Trần Văn Ân trở lai với nghề báo ông quyết đinh ra môt tờ báo ảnh lấy tên là Đọc Thấy ,Nghe nhà báo Trần Văn Ân ra báo ảnh đai sứ Mỹ tại Viêt Nam lúc bấy giờ rất tâm đắc mời nhà báo Trần Văn Ân tới và cho biết Phòng Thông Tin Mỹ ở Viêt Nam sẵn sàng đăt mua dài hạn ba nghìn sô mỗi kỳ và trả tiền trươc

Tờ Đoc Thấy đả là tờ báo ảnh đầu tiên ở Viêt Nam bán khá chạy nhưng Trần Văn Ân thấy báo ảnh không phổ cập bằng báo chữ nên đã đổi tơ Đoc Thấy thành tờ Đời Mới và mời nhà văn Hòang Trong Miên làm thư ký toa sọan riêng Trần Văn Ân làm chủ nhiệm kiêm chủ bút mỗi sô viêt bốn bài ký các bút hiêu Dương Văn Đưong Bất Hủ Văn Lang và Trần Văn Ân

Sau môt thời gian Trần Văn Ân thấy Hòang Trong Miên thân Cộng đã mời nhà báo Tế Xuyên tưc Léon Sanh tưc Hòang văn Tiếp con trai bà Cả Môc người nổ phát sùng đầu tiên của khởi nghĩa Yên Bái bắn nhà mộ phu Bazin tại Lò Đúc làm Tổng thư Ký tòa sọan và nhà văn Nguyễn Đưc Qùynh làm phu tá chủ bút

Cuôc đới làm báo của Trần Văn Ân nổi đình đám nhất là xuất bản tờ báo Đời Mới tờ báo có thể so sánh với tap chí Nam Phong của Pham Qùynh hay tùần báo Ngày Nay củaNhất Linh Nguyễn Tương Tam

Tiếc rằng nhà báo Trần Văn Ân vì nghĩa lớn đã cùng với Đức Hộ Pháp Pham CôngTắc lập Măt Trận Thống nhât tòan lực Quốc Gia và nhận làm Tổng Thư Ký Măt Trận Thống Nhất Tòan Lưc Quôc Gia mà phải đi đầy Côn Đảo nên tuần báo Đời Mới phải đình bảnTheo nhà báo Trần Văn Ân ông bị án tử hình mới thấy bạn bè năm châu bốn biển thương ông như thế nào và ở tù ông mới có dịp làm thơNgười sống có đưc nhu Trần Văn Ân bị án tử hình không chêt trở về còn hai lần làm bô trưởng đó là bộ trưởng bô Chiêu Hồi rồi bô trưởng Thông Tin và cuối cùng làm phu tá Tổng Thống kiêm cố vấn Phái Đòan VNCH tại hòa đàm Paris

Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 nhà báo Trần Văn Ân đã bẩy mươi hai tuổi ông trở về vơi nghề báo và ông viết báo tiếng Viêt tiêng Pháp tiếng Hoa thêm hai mưoi tám năm nữa mới rời cõi thế

Nhà báo Trần Văn Ân cuối thế kỷ trươc có viêt thư cho kẻ viết những dòng này la đời ông có cái sung sương là đươc chứng kiến những tiên dóan của mình thành hiên thưc đó la tiên đóan sư tan rã của Liên Xô va khối Đông Âu

Theo Trần Văn Ân thì cuôc đời ông nhờ thủa bé ăn chay học Phật nên ông trải qua biết bao sóng gió vẩn sống vững vàng cái học ngòai đời đã quan trọng nhưng cái học trong kinh nhà Phật còn quan trọng hơn nhiều với đời sống của Trần Văn Ân


Hồ Nam

TRÍCH THƠ TRẦN VĂN ÂN


Tôi và làng thơ

Trời phú tôi thương cảm

Thường sôi sục với mình

Viết chơi nhiều ít chữ

Phơi một người đa tình

 

Cấm cố tử hình Côn Đảo

Trần Văn Ân

 




LÊ THỊ Ý VÀ BÀI THƠ THƯƠNG CA 1

LÊ THỊ Ý VÀ BÀI THƠ THƯƠNG CA 1

Lê Thị Ý là con nhà nòi mẹ là em gái nhà văn hóa Phạm Quỳnh anh la nhà thơ Vương Đức Lê[Lê Đức Vương] chi gái là nhà văn nữ Kiều Phương  em gái là nhà báo nữ Lê Thị Nhi và bản thân Lê Thị Ý là ngươi yêu đầu đời của nhà thơ Mai Trung Tĩnh

Khi nhà thơ Vương Đức Lệ làm chủ bút tuần báo Gào Thét tuần báo mà nhà thơ Vương Đàm làm chủ nhiệm đã đem bài Thương Ca 1  trích trong tập thơ Thương Ca gồm 10 bài của cô em gái Lê Thị Ýđăng tải trên Gào Thét báo vửa phat hành nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh đoc được thích quá điện thoai kêu nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc ngay bài thơ này nhạc sĩ Phạm Duy liền phổ nhạc toàn bài thơ mà chỉ sửa  hai câu

Chiếc quan tài phủ mầu cờ

Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng’’ thành  có một câu

Bây giờ anh phủ mầu cờ

Và đổi tựa đề Thương Ca 1 thành Tưởng Như Còn Người Yêu

Theo Lê Thị Ý thi Ý  sang tác Thương Ca khi Ý ở Pleiku ngày nào cũng thây thiên hạ đi nhận sác chồng nên súc cảm và sang tas1c chư không phải ngươi trong cuộc

Ví mối tình với nhà thơ Mai Trung Tĩnh Lê Thị Ý  dã làm rât nhiều thơ và chung tình tới độ nay bươc vào tuổi 70 vẫn không kêt duyên với ai cả dù Mai Trung Tĩnh đã có vợ có con và về với chúa rồi

Yêu anh thủa ấy địa đàng

Tình trong cuộc chiến muôn vàn âu lo

Măt  em lệ đã hoen mờ

Ngày xưa cô bé học trò trinh nguyên

Tóc mây dài những ưu phiền

Thấy anh chợt biết chuân chuyên phận mình

Thắp lên ngọn nến lung linh

Ta là ta vẫn nòi tình thế thôi

Lỏng vòng tay để xa người

Chia ly la để một đời còn nhau

Gạc tên anh tấy vết đau

Quê hương bỏ lai nỗi sầu nguôi đi

Vẫn ta một kẻ tình si

Vẫn ta bươc hẫng xuân thì lướt nhanh

Vùng trời kỷ niệm xanh xanh

Trong nhau ân ái long lanh thủa nào

Dài tay với giấc chiêm bao

Có anh và có ngọt ngào nụ hôn

Chiều nay nhuộm tím cõi hồn

Nhớ anh và nhớ đường mòn năm xưa

Vì tình yêu với nhà thơ Mai Trung Tĩnh  Lê Thi Ý  đã có tập thơ Quê Hương và Ngươi Tình có điều đáng tiếc là Lê Thị Ý  đã không vượt qua đươc cái bóng Thương Ca thành ra những sáng tác sau này chỉ là phiên bản của Thương Ca .Chính bản thân Lê Thị Ý cũng nhận ra điều này nên đã có những vần thơ sau

Ngày mai em sẽ ghé

Thăm dâu bươc chân đi

‘’Thât thập cổ lai hi’’

Đoạn trường ai cũng tới

Một bà già tóc trắng

Xe chậm tay lái rung

Ngậm sâm cho ấm bụng

Lăn trong cõi vô cùng

Bạn bè tiếp nối nhau

Yếu trước phần khỏe sau

Điếu văn dài vô tận

Mộ hoang xanh một mầu

Thơ văn in để đó

Quyển hay thư viện to

Sách tôi nằm một xó

Riêng thơ tôi mang cho

Nhà thơ nào trên cõi đới không vượt được chính mình chẳng buồn  nhưng Lê Thị Ýđã có đươc Thương Ca 1 để đời  cũng  là một niềm hãnh diện

TRÍCH THƠ Lê THỊ Ý

THƯƠNG CA I

Ngày mai đi nhận sác chồng

Say đi để thây mình không là mình

Say đi cho rõ người tình

Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ

Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ

Như môi thiêu phụ nhạt mờ dấu son

Tình ta không thể vuông tròn

Say đi mà trưởng như còn người yêu

Phi cơ đáp xuống một chiều

Khung mây bang bạc mang nhiều sót xa

Dài hơi hát khúc thương ca

Thân côi khép kín trong tà áo đen

Chao ôi them nụ hôn quen

Đêm đêm hẹn sẽ chong đèn đợi nhau

Chiếc quan tài phủ cờ mầu

Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng

Em không thấy được sác chồng

Ai thêm lon nữa hai hàng nến trong?

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ta

LÊ THỊ Ý