Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?

Tài liệu sưu tầm. Nguồn: Internet

Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?

Nói đến Tiến si Mai Thanh Truyết thì đồng bào hải ngoại, nhất là những ai sống ở Nam Cali hẳn không xa lạ.  Lại càng không xa lạ đối với những ai hằng quan tâm đến những vấn đề thời sự, khoa học và môi trường v.v…

Nói về những bài viết của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chúng tôi nhận thấy ông không viết về đề tài nào khác hơn ngoài những vấn đề có liên quan đến khoa học. Ông không viết về một xứ sở nào khác ngoài đất nước Việt Nam cùng với những vấn đề nóng bỏng của nó. Và nếu có đi vào tìm hiểu một số khía cạnh thuộc về môi trường, hoặc phương thức sản xuất của một số nước nào đó thì cung chỉ là cốt để soi sáng cho tình trạng chậm tiến của đất nước Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rõ chủ trương (chính trị) của cầm quyền CSVN đã và đang “ăn thông” với CSTQ để làm hại đất nước và người dân về nhiều phương diện. Sự kiện này được thấy rõ qua việc làm vô trách nhiệm cùng thái độ ươn hèn, khuất phục của CSVN đối với sự xâm thực một cách có chiến lược của CSTQ cùng những hiểm hoạ của nó.

Những đề tài mà ông đã nói lên hoặc viết ra thực tình mà nói, trong khuôn khổ một bài nhận định ngắn này, với một kiến thức hạn hẹp của người viết như thế này, không sao kể hết và nói xuể. Sở dĩ như vậy vì các bài viết hoặc nói chuyện của ông vô cùng phong phú và đa dạng. Đại để có thể nói một cách không đắn đo rằng: Dù dưới bất cứ một đề tài nào, ông cũng chứng tỏ một sự vững vàng trong lập luận, chính xác về nguồn tin, rất khoa học khi phân tích và không thể phủ nhận chất hăng hái trong lối trình bày. Nếu bảo rằng ông là một nhà hùng biện thì cũng không đúng, và cũng không đúng hẳn khi nói rằng ông có “khoa ăn nói” như những người có tiếng là nói năng hay. Nhưng ông có một cái độc đáo riêng, “Mai thanh Truyết” là Mai Thanh Truyết. Không thể lầm lẫn với một Phan văn Song hay Nguyễn văn Trần-hai người bạn thân mà trong quá trình hoạt động Cộng Đồng chúng tôi có hân hạnh được biết. Lại càng không giống như Luật sư Trần Thanh Hiệp, một nhà tranh đấu có tiếng từ lâu, và là một trong những người bạn thân cũ của ông.

Điều quan trọng người viết muốn nhấn mạnh ở đây chính là giá trị của những bài viết của ông. Nó phản ảnh rất trung thực con người ông, lời nói cũng như việc làm. Nhất là có một tác dụng đáng kể: vừa chính xác, vừa có tính cách vô vị lợi. Và đó cũng chính là con người của ông. Có thể nói kể ra cũng bằng thừa, những điều ông đã viết, đã lên án, đã vạch trần và đã tố cáo cho mọi người, khắp nơi, trong cũng như ngoài nước biết rõ, biết chính xác về những điều ông thấy, đọc, nghe và nghiên cứu. “Tự giác, giác tha”, ông không chỉ là một nhà khoa học, một ông thầy dạy học, một đảng viên kỳ cưụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng, một nhà tranh đấu, và thêm vào đó là một Phật tử chân chính nhưng không câu nệ. Nếu đi sâu vào từng khía cạnh một thì không thể kể hết, nên chỉ còn cách là mời các thức giả vào nghiên cứu những khía cạnh ông viết, nói và chia xẻ.

Những đề tài trong quá trình tranh đấu của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết có thể nói “vô tận”, nghĩa là “không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc” (lời ông nói trong một cuộc phỏng vấn về vấn đề hâm nóng toàn cầu). Một nhà chính trị không lập thuyết, một nhà khoa học không ngồi trong tháp ngà tư tưởng để chỉ nghiên cứu trên lý thuyết, nói cách khác một nhà hoá học thực nghiệm, Ông không chỉ mãn nguyện và an vị trong phòng thí nghiệm là đủ. “Con người” ông quả có nhiều “nghịch lý”. Là một chuyên viên phụ trách vấn đề phát thải tại Mỹ lại thường xuyên nghiên cứu về môi trường mãi tận Việt Nam. Từ bãi rác Đông Thạnh miền Nam đến vấn đề những dòng sông chết ở miền Bắc. Từ vấn đề Đồng Bằng sông Cửu, đến việc khai thác Bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Ông “đi” khắp nơi, và đặc biệt chú trọng đến vấn đề môi trường ô nhiễm theo nghĩa toàn diện (không khí, đất và nước…vốn là những điều kiện cần cho cuộc sinh tồn của nhân sinh).

Đó là việc làm và là con người của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Nhưng vượt trên hết là một con người đấu tranh, đấu tranh theo nghĩa thiết thực nhất. Về điểm này có thể nói, ông còn nặng nợ với núi sông; mà hai điểm chính yếu và nổi bật nhất là đất nước và người dân: Nặng lòng với đất nước, quan tâm cho cuộc sống người dân. Phi tâm huyết, một người không thể làm được như vậy. Rõ ràng là ông đa đoan, cho nên:

Lại mang lấy một chữ tình,

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” (Kiều)

như một nàng Kiều nặng tình với Kim Trọng. Nhưng “tình” đây chính là tình đối với đất nước, thiên nhiên, môi trường thiên nhiên và mối quan tâm đến con người. Và, ông không chịu ngồi yên một chỗ, hết “keo” này, ông bày “keo” khác.

Cho nên khi nói đến việc làm của ông mà không nói đến con nguời thì quả là một điều thiếu sót. Tôi không sống ở Mỹ nhung qua những mẩu đối thoại cá nhân, hoặc những bài nói chuyện với cộng đồng thì có thể biết được ông nghĩ gì và muốn gì… Chưa bao giờ ông đề cập đến con người của ông nhưng qua lối diễn tả, cách tiếp xúc, và lời lẽ đặc biệt “Nam Kỳ“ của ông người ta thấy thể hiện một sự chân chất, không màu mè, kiểu cách. Ông thân thiện với tất cả mọi người, dễ dàng và cởi mở. Quả thực Tiến si MTT có một cái gì làm người ta quý mến và cảm phục. Cảm phục không phải vì “tài năng xuất chúng” nhưng vì sự kiên tâm tranh đấu không mệt mỏi của ông.  Đối với cộng đồng chúng tôi thì mối liên hệ với ông Tiến Sĩ họ Mai này lại có phần hơi đặc biệt. Đặc biệt là vì chúng tôi có những ý kiến chia xẻ cùng những nhận định về thời cuộc hay nói chung là về vấn đề liên quan đến Việt Nam. Có thể nói, không “ngoa”, rằng Mai Thanh Truyết là một người có tâm huyết với đất nước, một trong số hiếm những nhà tranh đấu chân chính hiện nay.

Hơn thế nữa, có thể nói khá chính xác rằng hiện nay ở Cali ông là người duy nhất gióng lên tiếng chuông báo động cho đồng bào thường xuyên nhất, tích cực nhất, những điều nóng bỏng nhất và cũng thiết thực nhất . Chỉ nguyên phản ứng của quần chúng đối vấn đề thực phẩm có độc tố, dù là tán thành hay phản đối- mà đa số vì muốn bảo đảm sức khỏe an toàn- đều hưởng ứng khá mạnh mẽ. …cũng đủ thấy việc làm của ông không phải là thừa. Ấy là chưa kể còn nhiều lãnh vực khác mà ông luôn luôn một mình, một ngựa có ông đi hàng đầu”.

Nhưng điều tôi muốn nói ở đây không phải chỉ là vì những hoạt động của ông đối với đất nước trong suốt hai mươi năm qua- Những đóng góp ấy không phải là nhỏ, trái lại rát phong phú và đa dạng. Đa dạng như chính con người của ông – mà là ý nghĩa và cộng đồng chúng tôi được hân hạnh gặp Tiến si Mai Thanh Truyết vào buổi xế chiều một ngày tháng 7 tại một thành phố Miền Tây Canada. Lúc ấy là vào mùa hè nên thời tiết thật đẹp, nắng vàng ấm và không khí trong trẻo. Thời tiết này giúp cho việc tham dự buổi nói chuyện của ông về một đề tài tưởng là khô khan nhưng lại vô cùng hấp dẫn.

Hôm ấy, ông đến với cộng đồng theo lời mời của Hội Ái Hữu Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là chỗ anh em thân tình cũ với ông. Chúng tôi đến tham dự buổi nói chuyện của ông về vấn đề “Dioxin và Chất Độc Da Cam” mà ông mới xuất bản không lâu trước đó và đã cho ra mắt, cách đây hai năm. Buổi nói chuyện thật sôi nổi với nhiều câu hỏi sâu sắc được đặt ra. Và ông đã giải đáp thấu đáo với những dẫn chứng cụ thể và chính xác. Thật là cần thiết để đồng bào Việt Nam có thể được nghe chính lời của một nhà hoá học đã chịu bỏ công nghiên cứu kỹ lưỡng; để có thể đưa ra những luận cứ có giá trị, hầu “giải độc” cho mọi người về tất cả những gì mà CSVN đã gây ra, và rêu rao khiến người dân hoang mang.

Nhưng đây chỉ mới là một ví dụ trong nhiều ví dụ về những công việc mà Tiến si Mai thanh Truyết đã và đang theo đuổi. Chỉ trong suốt hai năm qua kể từ ngày đó, ông đã làm không biết bao nhiêu việc. Những thức giả hằng quan tâm đến thời cuộc và theo dõi việc làm của những nhà tranh đấu thì sẽ dễ thấy. Hình như ông không chịu ngồi yên để chỉ “khóc cười theo vận nước nổi trôi” như nhiều người khác, mà ông càng tranh đấu càng hăng say. Ông không chỉ dừng ở địa hạt Dioxin để nói lên cái thực chất của sự giả dối che đậy của nhà nước CSVN khi nhân danh vấn đề nhân đạo để …vòi tiền Mỹ .

Ông còn lưu tâm đến nhiều khía cạnh thiết thực khác như vấn đề ô nhiễm Việt Nam- một sự ô nhiễm toàn diện – và là một vấn đề nóng bỏng hiện nay. Ông đã nêu lên những dẫn chứng thật cụ thể cho việc làm của mình. Ông đã báo động cho mọi người thấy đây là một vấn đề trầm trọng không thể bỏ qua. Như đã nói trên, đây là một vấn đề toàn diện và bao trùm mọi lãnh vực, từ y tế (ô nhiễm dược phẩm), kinh tế (sản xuất hàng loạt thu hoạch lợi nhuận tối đa),  cho đến đời sống xã hội (ô nhiễm thực phẩm, môi trường)… Những sự kiện này đã ảnh hưởng nặng nề đến cuộc nhân sinh (vụ nhà máy lọc dầu Dung Quất đã không thực hiện đúng tiêu chuẩn sản xuất nên có khả năng làm hại môi trường, và qua đó ảnh hưởng tai hại cho sức khỏe và cuộc sống người dân nói chung. Mặc dù chẳng bao lâu nhà máy này đã phải đóng cửa vì một số lỗi lầm trong xây cất, ông vẫn thấy có bổn phận phải nêu lên vì còn rất nhiều những công ty sản xuất với tính cách làm ăn tắc trách như vậy .

Hoặc như vụ công ty chế tạo Bột Ngọt Vedan đã mặc sức thải ra lòng sông những chất phế thải mà không hề xót xa cho sự sống của dòng sông. Sự kiện này và nhiều trường hợp tương tự cho thấy các công ty sản xuất tại Việt Nam hầu như chỉ nhắm vào nguồn lợi kinh tế mà không quan tâm đến phẩm chất của việc sản xuất cũng như của những thành phẩm. Và nhất là không hề để ý đến hậu quả của việc làm của họ. Hiện tượng này không những đã làm ô nhiễm môi trường vật lý mà còn ô nhiễm cả cuộc sống người dân v.v… Đứng trước tình cảnh và nông nỗi ấy của đất nước, ông không thể “im lặng là vàng” được.

Là một nhà hoá học, Giám Đốc một cơ quan xử lý chất phế thải (nói nôm na là rác) tại Hoa Kỳ ông đã biết lợi dụng những tiện nghi khoa học, và đem kiến thức gặt hái trong ngành ra ứng dụng vào thực tế để soi rọi vào những gì đang được CSVN thực hiện ngay trên đất nước Việt Nam. Chính cái nhìn “soi mói” cần thiết này đã mang lại tác dụng đôi:

  • Một đàng người dân có thể thấy rõ cái sai trái và âm mưu che giấu ở bên trong những việc làm lấy lệ, vô trách nhiệm và vụ lợi của kẻ cầm quyền vô minh nhưng “bá đạo”.
  • Mặt khác, việc làm này cũng không ngoài mục đích cảnh báo nhóm người nắm quyền sinh sát ở trong nước về những hiểm họa đang và sẽ xảy ra. Với một niềm mong muốn, họa may họ có còn một chút nhất điểm lương tâm mà thay đổi phương thức quản lý sản xuất và môi trường tử tế hơn. Không khó để nhận thấy rằng trong mọi vấn đề, ông luôn muốn hữu hiệu hoá kiến thức của mình, nghiên cứu, tìm tòi thêm để sau đó mới đúc kết lại và quảng bá cho quần chúng. Về phương diện này, có người đã coi ông như là một học giả và luôn đi tiên phong.

Nói về việc làm của Tiến si Mai Thanh Truyết thì còn nhiều điều để nói. Mối ưu tư toàn diện của ông đối với sự lành mạnh của môi trường là gì nếu không phải xuất phát từ một khối óc hiểu biết và một trái tim sôi sục vì sự tồn vong của đất nước, muốn làm một cái gì ích cho nước, lợi cho dân.

Trên đây, người viết mới chỉ đan cử một vài ví dụ tiêu biểu trong vô số những hoạt động của Tiến si Mai Thanh Truyết mà độc giả có thể thấy trên mạng, trên báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v…

Về phương diện chính trị, như đã nói trên, tuy ông không phải là một nhà chính trị thuần túy, hay nhà bình luận thời cuộc vì ông không “sống” vì chính trị, nhưng chính bản thân, ống đã dấn thân vào công cuộc chung. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng Đại Việt, Tiến si Mai Thanh Truyết tin vào sức vươn lên của con người trong nhiều lãnh vực, để tiến tới tương lại. Trong bài viết cũng như trong các mẩu đối thoại, ông chủ trương một thái độ lành mạnh. “Lành” trong chính trị có nghĩa là không chỉ dừng tại chỗ để ca ngợi thành quả đã qua hoặc tiếc thương những gì đã mất. “Mạnh”, vì Ông quả là một con người đa diện, mà “diện” nào cũng dám nói thẳng thắn, không do dự.

Về mặt tôn giáo, ông đã chứng tỏ là một Phật tử sống với chân tâm, không vụ hình thức. Với ông, nhận thức và hành động là một: Ông không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì sai trái. Biết mà không nói, không phải là hiểu biết thật sự. Ông không chỉ bo bo giữ cho riêng mình những kiến thức thâu thập trong cuộc sống, trong xã hội, trên thế giới, nhất là trong địa hạt chuyên môn của mình. Cho nên ông phải truyền bá, phổ biến sau khi đã hấp thụ thấu đáo và tiêu hóa.  Công việc này xuất phát từ một đam mê, một khối óc hiểu biết và một tấm lòng đối với đất nước.

Nói như thế, để thấy rằng Tiến sĩ họ Mai mặc dù không có ý định làm chính trị, cũng không phải là nhà lập thuyết về chính trị; nhưng cũng như bao nhiêu người có lòng khác, ông đã dấn thân vào đại cuộc từ lâu. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng, ông luôn chứng tỏ một thái độ năng động – của một người lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm cao- trong việc hướng dẫn người trẻ nhận định tình hình và đi theo đúng con đường chính bằng một cái nhìn khai phóng và sáng tạo (website daiviet.us)

Từng giữ chức Trưởng Ban Hoá học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, và Giám đốc Học Vụ Viện Đại Học Tây Ninh, nơi ông đã từng giảng dạy vừa điều hành, ông đã đem kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức trong quá khứ phối hợp với kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài để tiếp tục dìu dắt đàn em đi tiếp con đường tranh đấu cho dân tộc. Ông đã từng nhắn nhủ họ, trong những buổi nói chuyện, hội thảo, nhìn về tương lai với một niềm tin vững chãi. Vai trò hướng dẫn của một người thầy còn được thể hiện trong việc ông tham gia vào các sinh hoạt giáo dục, đóng góp ý kiến, tìm tòi tài liệu, liên lạc mọi giới. Và mỗi khi có cơ hội là ông bắt tay vào để phổ biến những kiến thức và kinh nghiệm của mình.

Để có thể hiểu thấu đáo việc làm của Tiến sĩ đa dạng họ Mai này, theo thiển ý, cách tốt nhất là xin đi vào “Blog” của ông (maithanhtruye.blogspot.com), hoặc vào trang website của Hội khoa Học kỹ Thuật (vastvietnam.com)  hay của Đại Việt Quốc Dân Đảng (daiviet.us).                    

Vancouver, một ngày Mùa Hạ, 2010

Nguyễn thị Ngọc Dung

Nguyên Chủ tịch Cộng đồng vùng Great Vancouver




Tỳ Bà Hành Mạn Đàm – Phần 2




Người thi sỹ tài hoa trong “Vang bóng một thời”

Khuất Bình Nguyên

Không phải ngẫu nhiên mà cậu Sen kẻ Bưởi – cái biệt danh thân thiết người đời gọi Tô Hoài, lại chọn Nguyễn Tuân làm nhân vật chủ chốt trong thiên hồi ký Cát bụi chân ai nhiều dí dỏm, chua cay và không biết bao nhiêu là não nùng trần ai của ông. Thảo nào mà tôi cũng như bao người khác đã và đang mê đọc Nguyễn Tuân, đặc biệt là Vang bóng một thời ngay từ khi còn trẻ. Nhưng càng về già, khi thấu hiểu lẽ đời và ở cái tuổi người ta ai nấy đều muốn tìm lại sự thanh bình của quá khứ giữa thời buổi ồn ã của xã hội thị trường, lại càng muốn đọc. Sự trải nghiệm dư vị đắng cay của lòng trung thực cũng như sự thật phũ phàng về tráo trở của người đời thì càng yêu thêm những giá trị nhân bản trong văn chương Nguyễn Tuân tỏa ra từ cái ánh sáng lấp lánh yêu thương và nhiều khi mờ tỏ của cái ngày xưa dường như mới xảy ra ngày hôm qua và cái ngày nay của lương tâm con người, làm nên vẻ đẹp kỳ lạ có một không hai trong văn chương Việt Nam hiện đại.

Tôi đọc sách Tùy viên thi thoại của Viên Mai ở quyển 2 thiên thứ 28 thấy ông ấy kể lại trong mơ một kẻ ăn mày bận áo mão đời xưa nói rằng: Văn các đời Ngụy, Tấn là thơ trong văn.Thơ các đời Tống, Nguyên là văn trong thơ. Nhiều nhà văn lớn cổ kim đông tây, trong văn của họ có thơ và họ là nhà thơ trữ tình đích thực trên chiếu trải văn xuôi mọi thời đại. Nguyễn Tuân là một người như thế trong Vang bóng một thời.

Nghe nói lúc sinh thời, ông Nguyễn Tuân cũng làm thơ. Kịp khi người bạn vong niên tóc trắng da đồng của tôi – nhà thơ Ngô Thế Oanh có chép tay cho ba bài thơ của ông Nguyễn lên trên mặt sau của mấy tờ lịch cũ. Bài SayKhúc tương tư viết theo thể lục bát, song thất lục bát đăng trên tờ An Nam tạp chí số 5 ngày 1 tháng 12 năm 1932. Và bài Giăng liềm viết về sự hồi sinh của Điện Biên Phủ theo thể thơ tự do đăng trên báo Văn học số 22 ngày 25 tháng 12 năm 1958. Cách nhau đúng 26 năm! Tôi giật mình sửng sốt vì không nghĩ đó là Nguyễn Tuân. Nếu như ông Nguyễn lấy nghiệp viết thơ làm chính thì không biết có được ngồi gần cùng chiếu với ông Tản Đà để mà nợ men gấp mấy nợ tình, cõi trần ướm hỏi Lưu Linh mấy chàng hay không ? Nhưng sự đời lại không bao giờ có chữ nếu như thế xảy ra. Cái mệnh của ông Nguyễn là làm thơ trên những dòng văn xuôi chải chuốt vô tiền khoáng hậu mà tôi được thấy.

Trên đường đi tìm cái đẹp của thời xưa yêu dấu như những áng mây cách xa chừng vài chục năm thôi, từng trang của Vang bóng một thời được viết nên bởi một tâm hồn thi sỹ tài hoa. Nguyễn Tuân viết truyện ngắn của ông không phải bằng sự lạnh lùng thường thấy của người viết văn xuôi mà bằng cảm xúc thiết tha hòa quyện tự nhiên với nghệ thuật lựa chọn ngôn từ điêu luyện vốn là đòi hỏi nghiêm cẩn và trước tiên của thi ca đã làm nên chất thơ vừa dạt dào cảm xúc vừa kiêu bạc sang trọng mà trang nhã một cách quý phái. Người ta thường nhấn mạnh cái chất khinh bạc cùng với biểu hiệu ông vua tùy bút. Nhưng trong văn ông còn đậm đà cảm xúc trữ tình say đắm của một thi nhân. Hãy xem một đôi dòng ông viết trong truyện Thả thơ: Và trên trần, có một gia đình đang lúng túng vì sự hiu quạnh … Trời đất ôi! Trên mấy gốc tre cằn không đủ gây thành bụi ấm, trận gió thanh bạch cứ lào rào thổi mãi và cảnh cô quạnh ấy của cha con quan phủ vào buổi xế chiều bên cạnh cái lâu đài quyền lực với tường thành, lầu canh đang phai tàn giống như chính cuộc đời của họ. Tiếng trống phủ trên lầu canh cứ điểm những tiếng vô vị vào một tư thất lạnh lẽo … Có những đêm mưa to gió lớn làm nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Vâng. Nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Đã như một câu thơ nguyên vẹn mất rồi.

Văn chương Nguyễn Tuân là sự trang trải giữa cái sang trọng với sự tràn ngập của cảm xúc trữ tình được đặt trên nền tảng và sự soi sáng của chủ nghĩa nhân văn.

Có người chê Bạch Cư Dị hồi ở Hàng Châu, thơ nhớ nhung kỹ nữ nhiều hơn là thơ nhớ nhân dân. Lời bàn người xưa cho là thô lậu ấy chẳng thể cản trở được sự trường tồn của văn chương Hương Sơn cư sỹ! Văn của Vang bóng một thời cũng thế. Nghệ thuật thi ca của Nguyễn Tuân là đi tìm cái đẹp thanh cao ở những kiếp đời trần tục cay đắng nhất. Nguyễn Tuân nâng niu trân trọng với cảm xúc về cái đẹp thanh nhã và sự lương thiện ở những phận người thất thế, đen bạc và cùng cực. Người hỏng thi. Lại là của Khoa thi cuối cùng. Thấy dặm hòe vùng Sơn Nam Hạ ngả màu vàng thì lòng bắt đầu bận bịu. Dưới mảnh trời sụt sùi hoa hòe nở đều, làm ấm lại lòng người sỹ tử đi thi trên những con thuyền nhỏ li ti đi về như lá tre rụng mùa thu giữa xứ đồng chiêm nước ngập nuốt hẳn bờ. Cảnh sắc tựa như san sẻ, neo về nỗi buồn không lấy lại. Tại nhà trọ ở thành Nam, người hỏng thi vẫn chơi sang bằng việc uống hết ba bình rượu cúc vào một đêm dài nhất trong một đời người … Với người tử tù chờ thi hành án chết thì hỏi còn vương vấn và khí phách nỗi gì? Vậy mà Nguyễn Tuân đã tìm ra vẻ đẹp vừa ngang tàng vừa khoáng đạt của một bậc nho gia. Chữ viết đẹp lắm, vuông lắm như nhân cách của ông Huấn Cao vào lúc đời thường thường rất khảnh. Chỉ viết chữ cho người tri kỷ. Mà có chữ ấy treo lên là một vật báu trên đời. Tôi đọc nhiều lần Chữ người tử tù, chẳng hiểu sao lại bâng khuâng nhớ nhà thơ được đời gọi là bậc thánh Cao Bá Quát mà cách đây đã lâu tôi về tận quê ông ở làng Sủi, bên kia sông Hồng, trèo lên bệ cao đánh chiếc khánh đá cổ phát ra cho đủ 9 tiếng trầm buồn, cũng như leo lên núi Sài Sơn tìm bài thơ Cao Chu Thần đã viết. Nguyễn Tuân dựng lại cảnh người tử tù Huấn Cao viết chữ mang một giọng điệu sử thi: Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ vẳng tiếng mõ trên vọng canh, dưới ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu, Người tử tù đã viết chữ trên khuông lụa trắng để viên cai ngục phải chắp tay vái với dòng nước mắt nghẹn ngào cảm phục về tài năng và nhân cách. Người tử tù trở thành người bề trên dạy bảo kẻ đương quyền kia hãy tìm nơi lương thiện mà sống. Chữ người tử tù là bài thơ hay nhất về chữ tượng hình. Cũng như thế, ông Nguyễn Tuân dựng lên khung cảnh huyễn hoặc trong sự chuẩn bị và đối thoại hết sức bình thản của những kẻ cướp giang hồ với những cái tên dân dã: bọn Huần, Cai Xanh, Phó Kinh, Lý Văn … mà ông thân ái gọi là Những kẻ bất đắc chí được gói gọn trong 3 chữ Nghèo – Cực – Khái đi lấy chỗ tiền bạc của bọn bất nghĩa đem chia cho anh em khác nghèo như mình. Cả những thứ vũ khí cũng được gọi bằng những tên thật nhã: bút chì, bút chùng… Nguyễn Tuân không mô tả trực tiếp vụ cướp mà chỉ muốn người ta nhìn thấy cái vẻ đẹp tình người của tiếng bạc ấy.

Tìm ra cái đạo lý làm người và vẻ đẹp dung dị mà cao sang của những việc sinh hoạt đời thường như uống trà, đúng hơn là uống trà tàu và việc đánh bạc bằng thơ; cảm hứng thi ca của Nguyễn tìm thấy vẻ đẹp của những kẻ hết thời, thất thế. Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm. Đánh Thơ, Thả Thơ … Những quan viên đang tại vị bây giờ, những người mà Nguyễn Tuân gọi là cái xã hội đàn ông mặc áo xanh ẩm ướt, không hiểu có giật mình và đỏ mặt khi đọc những truyện ấy trong sự thích thú ngấm ngầm hay không?

Có người so sánh Edgard. A. Poe với Nguyễn Tuân và cho rằng văn của Poe cảm xúc sơ sài thôi. Văn của Nguyễn Tuân cảm xúc lại vô cùng tinh tế. Tôi không dám chắc điều này. Bởi sự kinh dị đầy linh ứng của Poe trong nguyên bản tiếng Anh. Có điều rõ ràng là hầu hết các câu chuyện của Vang bóng một thời thật giản dị. Nguyễn Tuân tựa vào cái cốt chuyện giản dị không khêu gợi bằng những tình tiết éo le ấy để từ đó dọc theo con đường đi tìm cái đẹp phần nhiều trong nỗi hoài nhớ ngày xưa nhằm bày tỏ và đôi lúc dâng lên như lên đồng cảm xúc thi ca về vẻ đẹp muôn thuở của con người mà ta lại dễ dàng nhận thấy đó là cảm xúc và tình yêu đôi khi thiên vị cho văn hóa của cả một vùng đất với những đặc trưng riêng không gì pha trộn được. Vì lẽ ấy, văn của Nguyễn Tuân sẽ còn lại mãi.

Tôi đọc Vang bóng một thời thấy dường như phảng phất văn hóa xứ Đoài ở đâu đây. Cái xứ sở nghèo túng nhàn nhạt pha trộn giữa cái xưa cũ của mới ngày hôm qua với cái bóng dáng nghìn năm chưa mất của sông núi và cõi đời đâu đó vẫn còn ẩn hiện tới bây giờ. Đó là bài thơ ẩn chứa một tiếng thở dài của nơi tôi sinh ra và bị nhiễm vào cái đó từ buổi thiếu thời. Không có ở đâu nhiều đình chùa cổ và sự tích làm người như ở nơi đây. Đó là nơi muôn năm của cái cũ. Cái tàn lọng của quá khứ cứ che bóng người đi ở xứ sở này. Nguyễn Tuân thật kỳ tài khi viết về điều đó. Mặc dù ông không phải là người Sơn Tây. Văn hiến xứ Đoài chính là cái tàn lọng của quá khứ ấy che cái bóng nhiều huyền thoại và lãng tử trong văn chương Vang bóng một thời. Trên đỉnh non Tản. Chữ người tử tù và nhất là Ngôi mả cũ.

Hồi năm 1940, nhà văn Thạch Lam coi Ngôi mả cũ là truyện hay nhất của tập. Tôi không đồng với ý đó của ông. Nhưng rõ ràng câu chuyện ấy mang đậm phong vận xứ Đoài, trên cái chiếu đất dằng dặc mùi côi cút ở rừng Hưng Hóa. Ở thành Sơn Tây, người ta vẫn thường nghe thấy tiếng kèn tàu, loa đồng và trống trận nổi lên trong thành xây đá tổ ong của tỉnh Sơn, nơi quân cờ đen tế cờ thu quân. Rồi thì cái đoạn đường vỏn vẹn chừng trên dưới 30 dặm bây giờ vẫn còn đó mà xa xôi hoài niệm quá chứng với những cái tên xóm tên làng đến giờ còn chưa đổi. Làng Vòng. Làng Nhổn. Trạm Trôi. Phủ Hoài. Sơn … Qua con mắt thi sỹ Nguyễn Tuân mà hình dung ra cái đằng đẵng của con đường xứ Đoài cát bụi và xiêu diêu ấy. Cả cái bến đò sông Hát cổ xưa đã bị đất và cỏ vùi kín tự bao giờ mà sao Vang bóng một thời còn cho các nhân vật của mình đi qua thật là chậm chạp trong thấp thoáng bóng nước, bóng mây của thời xưa cũ. Cũng phải thôi. Vì cách thời ấy không xa, trong một cuốn du ký có tên là Một chuyến du hành đến đàng ngoài của một người phương Tây – William Dampiere viết năm 1688 nói rằng từ phố Hiến phải mất 2 ngày mới lên được Kẻ Chợ. Có người bảo với tôi truyện ngắn Trên đỉnh non Tản là thiên tùy bút, là bài thơ đặc sắc nhất về đồng đất xứ Đoài, nơi con người trong mỗi thôn làng sống chung với huyền thoại ngấm vào giọng nói của họ còn lại mãi từ ngàn xưa. Là bởi vì theo Nguyễn Tuân, trong bốn vị tứ bất tử của nước Nam ta thì người hay biến hóa nhiều nhất và tàng hình lẫn vào đám người trần mắt thịt là thánh Tản Viên. Và ông Phủ Quốc chỉ lỡ miệng nói mấy câu: đứng ở mái Nam đền Thượng nhìn xuống trông được cả khói của kinh thành Thăng Long… mà thánh phạt vì lộ thiên cơ phải lăn đùng ra chết. Viên đá cuội vô tri đã hai lần mang sứ mệnh con người trong Vang bóng một thời. Lần trước là Hương cuội làm cái cớ cho mấy vị hàn nho uống rượu ngâm thơ. Lần này đá cuội mang trộm từ đỉnh núi Tản về trong tay viên Phủ Quốc vừa lăn ra chết đập ra có mùi hương đượm của quả men rượu ủ trấu … Vỏ đá cuội còn lại đem thả vào bát nước mưa kinh niên uống thấy say ngát vô cùng! Rõ thật là Nguyễn Tuân. Và tôi biết trong mỗi người đàn ông xứ Đoài bây giờ vẫn còn giấu một mảnh vỏ đá như thế, mỗi khi họ bước vào một cuộc thành bại ở đời. Chao ôi! Bóng dàng thời xưa của văn hiến xứ Đoài cư như che lọng trong Vang bóng một thời. Văn chương của thi sỹ Nguyễn Tuân đã bảo tồn giá trị văn hóa của cả một dải đất phía tây Kinh thành Thăng Long giờ đã ít nhiều mai một. Sực đến khi Cát bụi chân ai ra đời, ông Tô Hoài viết: Cuộc đời phóng túng và nếp nhà quan các cụ nội đại thần trị nhậm đất Sơn Tây, đã in đậm, đã mờ chồng lên ngày tháng đời con đời cháu tự bao giờ … Chữ người tử tù, Đỉnh non Tản và tất cả vang bóng của ông đều phảng phất Sơn Tây. Tôi không chắc hẳn là như thế. Lúc sinh thời, không thấy nói cụ tú Hải Văn, tú tài khoa thi sau cùng, thân phụ Nguyễn Tuân đã từng trị nhậm ở đất này … Chỉ thấy Nguyễn hay cùng Tô Hoài, Nguyên Hồng lên Sơn, thường ngồi bên hào nước của tòa thành đã đổ nát dưới thời gian và dưới gốc cây sữa đã quá nhiều cằn cỗi quên cả nở hoa theo mùa ở nơi nửa tỉnh nửa quê. Nhưng tìm làm chi cái nguồn gốc xa mờ đó của văn chương. Hãy để quá khứ yên lặng như thế. Cũng giống như chúng ta không còn ai tìm nữa ai là người nguyên mẫu của Tóc chị Hoài. Mặc dầu, ở Sà Goông, có người đàn bà nhận thầm qua bao nhiêu mưa nắng năm trường trong đời người và trong cách trở Bắc Nam là bóng dáng ấy đấy thôi. Cũng như thân phận của cô đào Chu Thị Năm, người cùng thời với ca nương Quách Thị Hồ, dõi theo chàng Nguyễn lên chiến khu Việt Bắc thời kháng Pháp. Chàng đi đâu nàng cũng biết và thường gửi vàng cho chàng tiêu pha … Người ấy đã mờ hẳn, đừng có mà tìm ở phố Khâm Thiên vì cuộc bể dâu, ta chỉ còn tên phố bây giờ …?

Trở về với văn chương Nguyễn Tuân, đâu chỉ để yêu một thời đã qua. Cuối thế kỷ 20 và tràn sang thế kỷ 21, một số người muốn đi tìm góc tối của cái ban ngày. Vết sẹo sau lưng của bức tượng thờ muôn thuở. Mùi xú khí giả tưởng của hoa tử đinh hương. Treo cái tục tĩu vào cổ tượng đài vốn được coi là thiêng liêng … Tức là mỹ học của việc đi tìm cái xâú xí trong cái đẹp. Một con đường khác ngược lại với con đường của Nguyễn Tuân. Mặc dầu con đường của Nguyễn không phải lúc nào cũng êm xuôi cả. Ví như tôi hơi ngờ ngợ khi người ta cố gắng gắn vào cái ý nghĩa xã hội nào đấy của Bữa tiệc máu hay Chém treo ngành. Trong Vang bóng một thời, chỉ có một lần duy nhất, ông Nguyễn Tuân đã để chủ nghĩa duy mĩ của mình đi hơi xa một chút. Xa đến mức thiếu chút nữa người đọc cảm thấy cái đẹp của Chém treo ngành ở cái đoạn đao phủ Bát Lê tập chém người bằng cách vừa chém chuối vừa hát, hay việc mô tả chẻ đôi cây tre đực dài ra cặp cổ người tử tù như lối cặp gắp chả chim mà nướng … Nói thế để cho hết nhẽ. Không ai phản đối và cũng không việc gì phải phản đối mỹ học đi tìm cái xấu xí trong cái đẹp. Nhưng văn chương tuyệt đối không phải là nơi tôn thờ sự tục tĩu tầm thường, đi ngược lại những giá trị  nhân bản của con người. Người xưa từng nói: Nhờ văn mà kinh luân được quốc gia. Chỉnh lý được pháp độ. Làm vẻ vang cho sự nghiệp. Làm giàu đẹp cho văn tự… Sự tục tĩu tầm thường mang dáng vẻ của sự phá cách, liệu có làm được những điều ấy chăng? Người viêt văn chưa kịp làm được việc góp phần chấn hưng đất nước mà có thể, rất có thể lại làm trầm trọng thêm những tai ương của thời cuộc trong cơn bế tắc của chính người viết. Tất cả người cầm bút không ai mong muốn điều  đó.

Sang năm 2017, đúng 30 năm Nguyễn Tuân trở về giời. Cuộc đời ông xê dịch bốn biển là nhà mà lại còn thiếu quê hương nữa. Không biết giờ này ông đang ở đâu? Cái tín ngưỡng của người Việt chúng ta muôn đời quan niệm rằng: người cõi âm ở chung với người trên dương thế.Ngày tết lễ, họ ở ngay trong nhà ngày xưa. Nhưng Nguyễn Tuân có biết bao nhiêu nhà.

Nhà số 49 Hàng Bạc. Bao lâu rồi nó vẫn khép nép đứng ở góc này bởi số 47 nhô ra một chút. Cạnh đó, nhà 51 lại được trùng tu bởi một dự án giữa tỉnh Toulouse-Pháp với Ủy ban Hà Nội. Có treo biển đồng hẳn hoi. Không hiểu họ có nhớ sát vách 51 là nơi sinh thành của một trong những văn tài đặc sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại hay không? Phía trước tầng trệt của rìa bên phải nhà 49 là quầy bán ngọc và sửa chữa đồ trang sức bằng bạc. Rìa bên trái là lối nhỏ đi vào phía trong sâu lắm. Một lối kiến trúc đặc sản của nhà phố cổ Hà nội. Có chừng 5 hộ dân đang ở. Không một  ai biết được cái vinh dự họ được ở trong ngôi nhà, cách đây hơn 100 năm-năm 1910- Nhà văn Nguyễn Tuân đã cất tiếng khóc  chào đời ở đây. Một đôi vợ chồng già ở ngay phòng đầu tiên của số 49. Như là nghiệp chướng của chủ nghĩa xê dịch, chủ nhân của 12 thước vuông ấy nghe nói là người Nam Bộ. Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc từ 1954-1955; Giờ lại trở thành dân phố cổ của kinh thành Thăng Long xưa, ngày ngày chắp nối quãng đời còn lại bắc cầu cho hai thế kỷ mịt mù sương khói. Đối chính diện bên kia đường là đình Kim Ngân – Số 42 Hàng Bạc. Ngôi đình được lập ra mấy thế kỷ trước làm nơi thu bạc nén cho sinh hoạt Hoàng Thành. Bây giờ ở ngôi đình này, cứ 20 giờ đêm thứ 4, thứ 6 và chủ nhật hang tuần đều có hát ca trù – lối hát thơ đặc biệt của người Việt, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 15 gắn với sự ra đời của cây đàn đáy. Người ta có hẳn một tờ bướm màu rượu vang đỏ giới thiệu ca trù bằng tiếng Anh. Cái thứ tiếng không có dấu – phương tiện của mấy ông thực dân, giờ đây rất quen thuộc với người phố cổ. Chẳng khác gì trẻ con mặc váy thổ cẩm, đeo vòng bạc ở phố núi gần nhà thờ đức mẹ Mân Côi trên Sa pa nói sõi tiếng Anh như tiếng Mèo. Catru – a form of Vietnamese traditional music, was recognized by UNESCO in 2009 as a world intangible culture heritage. Dường như, một lần nữa, trời đất lại chiều lòng cái xê dịch của ông Nguyễn mang tiếng tom chát bị ngắt quãng đến mức xót xa bởi 3 dây đàn đáy, nghe như nhấc lên đặt xuống của thân phận con người; cái thứ nghệ thuật vừa thượng lưu vừa trần tục đời thường lúc sinh thời ông Nguyễn rất thích, về ngay trước cửa nhà nơi ông đã sinh ra.

Cách một ngày nữa là rằm tháng 8. Không khí tết trung thu đã có mặt dểnh dang ở sân đình Kim Ngân. Người ta treo những chiếc nón quai thao với quai nón là những rải lụa buông dài đủ màu mà phần nhiều là màu hồng và màu thanh thiên. Đây đó, đặt một vài đầu sư tử nhiều màu theo kiểu truyền thống có nhẽ có từ thời Nguyễn Tuân. Tôi bước vào trong đình đặt mấy đồng bạc lẻ lên bàn thờ lễ, cầu may được thấy Nguyễn Tuân. Dường như, ở bên số 49, Nguyễn Tuân tay cầm gậy song, mặc bộ áo cánh lụa màu cậy nhà Phật, vốn là quà tặng của một người nhận thầm là Tóc chị Hoài tặng cho nhà văn sau năm 1975. Trời mùa này ở phố cổ Hà Nội dâng lên một màn sương khói của tiết thu se lạnh. Từ đình Kim Ngân này, sớm mai trời còn nhạt mặt người, nhà văn của chúng ta có thể đi bộ ra Ô Quan Chưởng để đợi bóng những cô hàng rượu từ bến Bồ Đề sang đây. Nhà văn sẽ nhập vai vào nhân vật của mình có tên gọi Bố Ô làm người ăn mày rượu đáng yêu trong truyện Yêu Ngôn như ông đã viết. Bây giờ ông không phải sang sông đến xóm Thượng Cát nghe đào nương hát ca trù trong những quán bình dân rách rưới và ẩm ướt của Một đêm họp đưa ma Phụng nữa. Uống rượu bằng bát gỗ ở Ô Quan Chưởng xong, lại về đình Kim Ngân nghe con cháu Quách Thị Hồ hát ca trù nhấc lên đặt xuống phận người như những ngày xưa. Có tiếng hỏi. Bốn biển là nhà. Ngài thường ngự tại đâu? Ông Nguyễn bảo. Cũng tùy. Nhưng thường ở bên số 90 Trần Hưng Đạo. Ở bên ấy còn để chiếc va li da cũ màu nâu nhạt trên nóc tủ sách. Dường như đó là chiếc va li trong thiên tùy bút cùng tên viết tặng bà Tuệ, vợ Ông từ hồi ở tỉnh Thanh. Cả những chiếc ấm đất đặt dưới sàn gỗ và trên những bức họa đang phôi pha dần theo năm tháng. Thi thoảng đi taxi qua mặt hồ Hoàn Kiếm lên Hàng Bạc nghe hát ca trù.

106 năm. Kể từ khi ông sinh ra. Cuộc đời có biết bao nhiêu xê dịch – Cái con người có lúc đã không biết sợ thời gian nữa. Tự nhận là kẻ không có dĩ vãng. Lắm khi lặng lẽ nhìn vào buổi chiều trơ trẽn mà cảm thán hình như buổi chiều nào cũng đều không có hoàng hôn. Nhưng lại mắc bệnh chơi mưa như thiên tùy bút Chiếc va li mới đã viết: Mỗi lần ở đâu đó gặp mưa lại tưởng như mình già thêm một ít. Con người tưởng như sớm nắng chiều mưa ấy, lại là người ngay từ khi mới cầm lấy sự bút nghiên đã cảm nhận sâu sa cái cao cả và lương tâm của người viết văn đi tìm cái đẹp. Một người viết văn để yêu sống, để tìm nhân loại, đi tìm mình trong nhân loại, để được thấy nhân loại trong mình mình. Đó là lời tâm sự nghề văn say đắm và trang trọng nhất mà ông Nguyễn đã từng nói. Nguyễn Tuân đã ra đi xa lắm. Ba mươi năm rồi. Chỉ còn lại văn chương ghi dấu ấn nhà văn như là một thi sỹ trong Vang bóng một thời đã không mệt mỏi tụng ca và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống như một phần nhân loại mang tên Việt Nam vẫn còn lại mãi cho muôn đời sau.

Mùa thu, 2016




Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

da dieu 1

Cá chết tại Việt Nam chỉ là mặt nổi của vấn đề đang được che dấu vì thực chất còn nhiều cái chết đang bị che đậy dưới ách thống trị của đảng cộng sản VN đó là những cái chết của tâm hồn VN, cái chết của lương tâm, cái chết của luân thường đạo lý, cái chết của lý trí (nhìn thấy nhưng sợ mất miếng cơm manh áo nên phải ngậm miệng là ngơ) và cái chết của sử lệ thuộc chính trị (lệ thuộc Tầu Cộng lệ thuộc Việt Cộng do đó sẵn sàng làm Hán ngụy, bán nước cầu vinh)

Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

image

 Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt nhận định: “Tôi thấy cái chết của biển cũng như của cá nó chỉ là cái ngọn vấn đề, cái chính gây ra cái chết này là do cái chết của tâm hồn con người. Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.” 

image

 

Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Nhưng khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi. 

Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết đâu là xấu – tốt thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.

image

Lý trí là sự hiểu biết để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao. 

Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Khi việc mưu cầu hạnh phúc cho con người đã chết thì biển chết, cá chết là hậu quả.” Lời nhận định của một nhà lãnh đạo tôn giáo quả thật rất sâu sắc và chí lý.

image

Đất nước VN đang đối phó với cái chết thể lý do nhiễm độc mà ai cũng thấy sờ sờ trước mắt, ngay trên mâm cơm nhà mình mỗi ngày. Nhưng sự nhiễm độc này chưa tàn phá và chết chóc cho bằng sự nhiễm độc trong tâm hồn mà Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp trong bài giảng ngày 13.06, lễ thánh Antôn tại Trại Gáo, Vinh đã nói: “Hôm nay người dân VN với mâm cơm đầy nghi nan, không biết đâu là thực phẩm bẩn – sạch và ranh giới giữa chúng rất mong manh. Một số người ham lợi nhuận, vì đồng tiền đã bán rẻ lương tâm, chế biến những thực phẩm bẩn đem bán trên thị trường.” 

Hai vị chủ chăn cùng chung một nhận định về cái chết trong tâm hồn con người. Đây là thứ chất độc đáng sợ hơn cả! Bởi độc bên ngoài, theo thời gian người ta có thể cùng chung tay loại trừ nó, nhưng độc tố hận thù trong lòng khiến người ta hại nhau, giết nhau một cách thản nhiên thì không còn thời gian để cứu vớt. 

image

Máu độc trong tâm hồn là hậu quả một nền giáo dục độc tôn do Đảng Cộng Sản VN Vô Thần cai trị hơn 70 năm ngoài Miền Bắc và hơn 40 năm trong Miền Nam. Một nền giáo dục mà theo lời nhận định của Đức Cha Phaolô là “đã bị nhiễm bẩn” bởi lòng bạo lực, thù hận và ích kỷ. Bao thế hệ trẻ VN dưới mái trường XHCN đã được “dạy” cho biết về lòng thù hận đối với Mỹ, Ngụy. Tôi còn nhớ như in ngày mình được học về lòng căm thù “thằng Ngụy”. Đầu óc non nớt trẻ thơ chưa hiểu “thằng Ngụy” là thằng nào mà nó phải đáng nguyền rủa như thế! Tôi đem thắc mắc ấy về hỏi Cha tôi, vốn là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, Cha tôi cười chua chát và chỉ vào mình: 

“Là thằng này đó con!”

image

Những khái niệm về sự quảng đại, lòng bao dung, ơn tha thứ là những mệnh đề khó hiểu. Bởi thế, khi cá chết trắng Miền Trung, bao gia đình đớn đau tuyệt vọng, đói khát lầm than, nhiều người đến làm từ thiện thì họ lại nêu ra câu hỏi: “làm từ thiện để làm gì?”, trên một chương trình truyền hình hẳn hoi. 

Sự im lặng, làm ngơ của nhà cầm quyền trước tình trạng nhiễm bẩn môi trường biển, cá chết hàng loạt hơn 70 ngày qua không phải là ngẫu nhiên. Họ thừa cơ sở dữ liệu để có thể tuyên bố nguyên nhân trong 1 ngày, nhưng cố tình che đậy. Đó chính là thứ độc hại trong tâm hồn mà CS đã chủ mưu từ khi lên cầm quyền.

image

Giả như tuyên bố nhanh nhà máy Formosa là thủ phạm thì chẳng khác nào thừa nhận việc làm phi nhân của mình khi vì lợi lộc của một nhóm lợi ích mà gây thiệt hại cho toàn dân. Nếu chỉ mặt Formosa cũng đồng nghĩa việc thừa nhận hối lộ, để làm ngơ cho Trung cộng hoàn toàn thao túng trên đất Việt. 

Vì lẽ, Cộng sản xây dựng học thuyết không phải trên lòng yêu thương, tình đồng loại hay sự dấn thân cho lợi ích cộng đồng mà hoàn toàn ngược lại. Sức mạnh của người Cộng sản hình thành trên nền tảng của lòng ích kỉ, tính thù hận và óc vụ lợi. Lúc mới hình thành, người Cộng sản đã dựa vào hạt gạo tình thương của nhân dân để mà sống, đến khi phát triển, có chỗ dựa thì họ quay sang đề phòng nhân dân và hoàn toàn xa rời nhân dân.

 

water red smoke sea moon

Đến khi nắm quyền lực trong tay, họ tồn tại bằng cách duy trì lòng thù hận, giáo dục về lòng thù hận và phát triển lòng thù hận. Lòng thù hận luân chuyển trong lòng chế độ như một thứ máu độc, nó kích thích tính ích kỉ, sự dửng dưng và vô cảm trước nỗi đau đồng loại. Và chưa bao giờ mà thứ máu độc này lại hoành hành trên dân tộc Việt Nam như bây giờ. 

Và một khi chất độc tâm hồn đã gây cái chết trong lòng người, thì mọi thứ độc tố bên ngoài chỉ còn là phụ tùy.

GNsP

22.06.2016

 
image



Khe Sanh Trong vòng Vây. William Dabney

Bình Luận
 Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
Khe Sanh Trong Vòng Vây  WILLIAM DABNEY . Việt Báo Thứ Ba, 3/3/2009, 12:00:00 AM
Khe Sanh Trong Vòng Vây
William Dabney
Lời giới thiệu: Tổng thống Obama vừa nhắc đến Khe Sanh trong bài diễn văn nhậm chức của ông như một chiến tích của nước Mỹ. Khe Sanh không phải là trận đánh có tính quyết định cuộc chiến Việt Nam như Điện Biên Phủ. Nhưng trận Khe Sanh có thể được xem là cuộc đọ sức giữa hoả lực vô giới hạn của Hoa Kỳ và sự bất chấp mức tổn thất sinh mạng bộ đội Bắc Việt của đảng cộng sản Việt Nam. Xin mời độc giả xem một góc độ của trận Khe Sanh qua bài “Under Siege – The Battle of Khe Sanh” của đại Úy William Dabney do Trà Bồng viết lại. Bài được trích từ cuốn The U.S. Marines in Action của  Villard Books New York phát hành năm 1986.
Người bắn tỉa núp rất kỹ trên sườn đồi um tùm bên kia, khoảng 200 mét về phía bắc nơi chúng tôi đóng quân, là đồi Nam 881 (881S). Anh ta đã nằm ở vị trí thuận lợi đó suốt một tuần qua. Thỉnh thoảng anh ta mới bắn, thường là khi trời nhiều mây và sườn núi không có sương mù bao phủ. Khi anh ta bắn thì chúng tôi chỉ có từ chết tới bị thương. Chỉ cần khoảng 20 phát anh ta đã gây tử thương cho 2 binh sĩ thủy quân lục chiến (TQLC) và làm bị thương năm sáu mạng.
Anh ta tỏ ra vô cùng kiên nhẫn, luôn luôn đợi lúc các pháo thủ phải ra khỏi giao thông hào để bắn đại bác yểm trợ quân bạn, hoặc khiêng băng ca ra các trực thăng tải thương. Lúc ấy chúng tôi là những mục tiêu rất ngon lành của anh ta. Một đặc tính nữa của anh ta là rất thận trọng. Một ngày quang đãng chúng tôi đã gọi phi cơ dội bom xăng xuống toàn bộ khu vực anh ta đang núp. Nhưng hôm sau, khi trời có mây bao phủ anh ta lại “cắc bùm”, và vẫn cực kỳ chính xác. Anh ta biết rõ khi có mây mù phi cơ không dám oanh tạc một mục tiêu gần chúng tôi như vậy.
Nhưng rồi cũng có lúc anh sơ xuất. Toán quan sát vẫn luôn dí mắt vào các ống viễn vọng kính cực mạnh hướng về phía anh ta, một hôm chợt thấy một lùm cây lay động. Hôm đó lại là một buổi chiều đứng gió! Biết chắc súng nhỏ không làm gì được vì anh ta núp trong hầm đào sâu vào núi, nên phải dùng súng lớn. Chúng tôi bắn cầm chừng để xác định vị trí, và để anh rút vào hầm, đồng thời cho khiêng khẩu đại bác không giật chống xe tăng qua. Vì cả đồi chỉ có hai khẩu nên phải đặt ở vị trí mà xe tăng của địch có thể tiến vào phía bên kia. Một quả đạn có sức công phá mạnh đã biến căn hầm của anh thành một hố sâu trong đó có đất đá lẫn với xác của anh ta.
Đồi đối diện khá xa, rừng lại rậm. Quân Bắc Việt di chuyển thoải mái vào ban đêm và trong sương mù, mà chúng tôi thì lại không đủ quân để kiểm soát bên đó. Cho nên chẳng bao lâu đã có một người bắn tỉa khác thay thế. Trong suốt 10 ngày sau đó anh chàng thứ hai này đã gây cho chúng tôi một tử thương và nhiều người khác bị thương. Nhưng rồi chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là lại phải khiêng khẩu không giật 106 ly qua, lại một quả đạn lọt vào hầm để biến nó thành mồ chôn xác người bắn tỉa.
Chỉ hai ngày sau chuyện bắn tỉa lại tái diễn. Mấy tay pháo binh và cứu thương là những người căng thẳng nhất. Chỉ cần xớ rớ vài giây đồng hồ bên ngoài hầm trú ẩn là lại nghe tiếng cắc bùm khô khan của anh ta. Tệ nhất là những chuyến bay tải thương. Khiêng băng ca đã nặng nhưng nghe tiếng súng là phe ta phải quẳng các thương binh xuống để tìm chổ núp. May thay mấy ngày sau chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là phải vật vã vác khẩu 106 không giật qua phía bên này. Ðang khi điều chỉnh để xác định mục tiêu thì một anh binh nhì nêu lên một nhận xét không giống ai. Anh ta cho rằng suốt một tuần nay tay xạ thủ mới này vẫn bắn đều như tay trước, nhưng chưa hề trúng một ai nên cứ để yên cho hắn sống. Nếu chúng ta loại tay này quân Bắc Việt sẽ có ngay một người khác vào thay, gặp tay bắn giỏi thì khốn cả lũ. Thật có lý! Thế là khẩu 106 không giật được đưa về vị trí cũ.
Thỉnh thoảng có quân nhân còn phá phách bằng cách vẫy lá cờ đỏ khi nghe tiếng cắc bùm của anh ta. Đó là hiệu kỳ khai hoả trong xạ trường. Nhưng rồi chúng tôi nhận thấy hình như tay này cố ý bắn trật, chứ không phải hắn bắn dở. Không chừng anh ta biết số phận của các tay xạ thủ trước nên cố ý không gây thương vong cho chúng tôi. Ðàng nào thì cấp chỉ huy của anh ta cũng không có cách nào kiểm chứng được kết quả.
Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng đó là cách suy diễn của chúng tôi. Vì thế, để hỗ trợ cho anh ta chúng tôi ngưng trêu chọc và có khi còn giả bộ trúng đạn. Anh ta tiếp tục ở đó, vẫn bắn đều đặn và vẫn không gây thương vong nào trong suốt thời gian hai tháng còn lại của cuộc vây hãm.
Đồi 881S là một trong nhiều ngọn đồi khá cao nhìn xuống căn cứ Khe Sanh, là tiền đồn xa nhất nằm phía Tây Bắc của miền Nam Việt Nam. Khe Sanh có một trung đoàn TQLC Mỹ trấn giữ, và đã bị hai sư đoàn Bắc Việt bao vây vào đầu năm 1968. TQLC đóng ở Khe Sanh đã điều nghiên rất kỹ trận Điện Biên Phủ, nơi
quân Pháp đã bị lực lượng Việt Minh tràn ngập vào năm 1954. Lỗi lầm  quân sự nghiêm trọng nhất của người Pháp là đã để cho Việt Minh có điều kiện mang quá nhiều trọng pháo lên các ngọn đồi xung quanh. Chính hoả lực của trọng pháo đã phá tan hệ thống phòng thủ của Pháp. Từ đó TQLC Hoa Kỳ rút ra bài học then chốt để bảo vệ cứ điểm lòng chảo Khe Sanh là không cho quân Bắc Việt kiểm soát các ngọn đồi quanh vùng.
Không phải đồi nào cũng là vị trí phòng thủ được, nhưng chúng tôi chạm địch thường xuyên trong cố gắng chiếm giữ những cao điểm có tầm nhìn bao quát. Các điểm này quan sát được cả đường chuyển quân về phía Khe Sanh của Bắc Việt từ hậu cứ của họ ở phía tây nằm trên đất Lào. Trong số các ngọn đồi này không cái nào quan trọng, cheo leo, hiểm trở và trống trải hơn đồi 881S. Đồi có sườn rất dốc, cao khoảng 450 thước so với khu thung lũng bao quanh. Đồi nằm cách căn cứ Khe Sanh khoảng 8 cây số về phía Tây. Nơi này đã từng là một chiến trường đẫm máu cách đây một năm, khi quân trú phòng Bắc Việt quyết định cố thủ. Vào giai đoạn đó chuyện tử thủ đồi 881S của CSBV là một chuyện khó hiểu. Nhưng sau nhiều đợt tấn công với tổn thất nặng nề lực lượng TQLC Hoa Kỳ đã chiếm được nó. Những trận đánh bom và mưa pháo yểm trợ trong các đợt tấn công đã đốt cháy rụi sườn đồi, chỉ để lại toàn hố bom xen kẻ với các hầm bê tông bị phá nát. Các hầm này đã trở thành mồ chôn rất nhiều bộ đội Bắc Việt.
Đồi 881S nhìn được cả đường số 9, một quốc lộ cũ thời Pháp thuộc. Đường 9 chạy ngoằn ngèo phía tây Khe Sanh qua biên giới Lào, lên tận Tchepone. Theo cách ví von của các tay TQLC trẻ tại Khe Sanh thì đây đích thị là “Indian Country” (tức là “vùng Việt Cộng”) vì hướng nào cũng lúc nhúc địch quân.
Còn một con đường khác ở phía đông, chạy từ căn cứ Khe Sanh xuống hậu cứ của TQLC ở dọc phía biển, gần khu Phi Quân Sự. Nhưng đường này chạy lòng vòng suốt 24 cây số qua nhiều khe núi hẹp và một số cầu cheo leo nên đã bị quân Bắc Việt cắt đứt từ mấy tháng trước. Đường tiếp tế duy nhất cho căn cứ Khe Sanh và cứ điểm trên các đồi là đường không vận. Phi trường Khe Sanh có phi đạo khá dài được lót bằng những tấm thép ghép lại, nên có một thời gian vận tải cơ C-130 vẫn đáp thường xuyên để tiếp tế thuốc men, thực phẩm và đạn dược. Nhưng sau đó các dàn cao xạ phòng không của Bắc Việt tăng cường quá mạnh, máy bay không đáp được nên phải thả dù để tiếp tế. Nước uống thì có thể lấy từ các con suối, và từ một cái giếng trong căn cứ.
Các cứ điểm trên đồi xung quanh có diện tích quá nhỏ, chỉ có thể tiếp tế bằng trực thăng. Trực thăng lại không chở được nhiều nên phải tiếp tế thường xuyên. Riêng các đơn vị phòng thủ trên những đỉnh đồi thì không lấy đâu ra nước để uống. Đưa một toán quân xuống các khe suối để lấy nước thì chắc chắn là làm bia bắn tỉa cho quân Bắc Việt đóng đầy xung quanh. Nếu toán lấy nước có người bị thương – một điều gần như chắc chắn – thì phải gửi một toán khá mạnh từ trên đồi xuống tiếp cứu, lực lượng phòng thủ trên đồi sẽ yếu đi một cách đáng kể. Mà nhiệm vụ duy nhất của đơn vị là giữ đồi, cho nên chuyện xuống suối lấy nước là chuyện không thể làm được.
Chúng tôi được hoả lực yểm trợ vô giới hạn của không quân và pháo binh. Lợi điểm của TQLC là vị trí cố định trên đỉnh đồi, xung quanh là khu oanh kích tự do. Vì thế chạm địch ngoài vòng rào, phía chân đồi là một sai lầm về chiến thuật chỉ làm phức tạp thêm chuyện yểm trợ một cách không cần thiết. Cách đơn giản nhất để thắng trong tình huống này là nằm yên trên đồi. Không quân và pháo binh biết rõ toạ độ, nên chỉ cần gọi pháo binh, B52 hoặc gần hơn thì súng cối 60 ly hoặc súng máy và lựu đạn để tấn công bất cứ dấu hiệu động binh nào của địch.
Mỗi ngọn đồi có một đơn vị tương đương một đại đội trấn giữ. Tất cả đều thuộc trung đoàn 26 TQLC có trách nhiệm toàn bộ căn cứ Khe Sanh. Đồi 881S là ngọn đồi xa nhất và khó tiếp viện nhất. Ở đó có toàn bộ đại đội “India”, hai trung đội và bộ chỉ huy đại đội “Mike” của tiểu đoàn 3 trung đoàn 26 TQLC trấn đóng. Hoả lực gồm một phân đội với 2 súng cối 81 ly, 2 súng không giật 106 ly và một chi đội pháo binh có 3 đại bác 105 ly. Vào ngày 20 tháng Giêng năm 1968 tôi có tất cả 400 binh sĩ TQLC.
Tình báo đã tiên đoán từ trước là quân Bắc Việt có ý định tấn công hoặc bao vây Khe Sanh. Vì thế hồi tháng 12 và đầu tháng Giêng tiểu đoàn trú đóng tại căn cứ Khe Sanh đã được tăng viện thêm 3 tiểu đoàn khác, với quân số mỗi tiểu đoàn là 1,000 người. Ngoài ra còn có một tiểu đoàn 300 quân nhân của quân lực VNCH. (Có lẽ đây chính là tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân của đại Úy Hoàng Phổ.) Nếu tính cả các đơn vị hậu cần và tiếp liệu thì lực lượng trú phòng ở Khe Sanh và các đồi lân cận lên tới 6,000 người.

không đụng trận nào đáng kể trước ngày 20 tháng Giêng (1968), nhưng chúng tôi vẫn hành quân rất đều khu vực bao quanh đồi 881S. Vào ngày 18 và 19 chúng tôi có vài cuộc chạm súng lẻ tẻ với Bắc quân ở phía bắc đồi 881S, nơi mà trong các cuộc tuần tra trước đây chúng tôi không gặp gì cả. Vì lo lắng việc quân Bắc Việt có thể đang tập trung lực lượng về phía bắc đồi 881S nên tôi đã xin cấp trên cho mang đại đội India ra thám sát, và nếu cần phá vỡ các vị trí bố phòng của địch.
Đại đội chúng tôi được trực thăng vận xuống trước vào tờ mờ sáng 20 tháng Giêng. Đang di chuyển một cách chậm chạp và thận trọng qua vùng cây cối rậm rạp, chưa đi được quá 500 thước thì hai trung đội tiền sát bị tấn công. Hoả lực địch rất mạnh chứng tỏ một lực lượng đáng kể đang chờ chúng tôi. Trung đội của Trung uý Richard Fromme ở bên phải đã bị kềm lại, vì nhiều thương vong nên phải chuẩn bị bãi đáp cho trực thăng tải thương rồi mới tiến tới được. Chiếc trực thăng cứu thương vừa sà xuống thì bị trúng đạn phải dạt qua một bên để đáp khẩn cấp xuống một chổ trũng gần đó. Những binh sĩ TQLC trong trung đội dự phòng của Trung úy Michael Thomas lúc đó đang bảo vệ bãi đáp, không cần đợi lệnh đã phóng nhanh xuống khoảng 200 thước về hướng chiếc trực thăng. Cú đột kích bất ngờ làm cho những cán binh CS đang nấp sau trảng tranh hoảng hốt cắm đầu bỏ chạy mất dạng, không kịp bắn lấy một phát súng.
Cả phi hành đoàn đều bị thương, nhưng đã được kéo ra khỏi máy bay và được TQLC đưa về vị trí phòng thủ. Tất cả những người bị thương sau đó đã được một trực thăng khác bốc đi an toàn.
Trong khi cạnh sườn bên mặt đang chống đở vất vã như vậy thì trung đội của Trung úy Thomas Brindley bên cánh trái còn tệ hơn. Họ bị kẹt cứng giữa một vùng đất không có chổ nấp, chỉ cách gò chỉ huy của địch chưa tới 200 thước. Đạn địch bắn tới tấp làm họ không cách chi ngóc đầu lên được. Brindley là một sĩ quan rất lỳ. Biết rằng nằm đây chỉ có chết, và không cách nào giữ được vị trí này nếu không có yểm trợ. Thế là chàng kêu một loạt đại bác nhắm vào gò chỉ huy của địch. Lợi dụng đợt trọng pháo Brindley đã sắp xếp lại đội hình, ngay sau quả đại bác cuối cùng chàng đã xung phong chiếm được vùng cao điểm sau khi phải trả giá rất đắt. Nhiều người tử thương, trong đó có Brindley, và rất nhiều người bị thương. Lúc ấy đạn dược còn rất ít, và đơn vị chỉ còn một hạ sĩ chỉ huy.
Địch lui về phía sau chuẩn tái chiếm cao điểm này, nhưng đã bị diệt sạch nhờ một đợt bom xăng thả gần đến độ lông mày của nhiều quân bạn bị cháy trụi. Tình hình vẫn còn rất bi đát nên tôi để Fromme ở lại lo bên phía phải, tôi mang một trung đội qua giúp cánh trái bên kia đồi, đồng thời di chuyển các thương binh về chổ chờ trực thăng tải thương.
Chưa qua tới bên kia tôi chợt nhận ra một nhóm thám sát tám người thuộc trung đội Brandley đang bị hoả lực địch áp đảo phía dưới. Nhóm này bị lạc đội hình vì mất phương hướng trong cuộc chạm súng. Thomas đã tình nguyện tiếp cứu, nhưng chưa tiến được quá 20 thước anh đã bị trúng đạn. Ngay tức thì Trung sĩ David Jessup nắm trung đội và tiếp tục mở đường đưa nhóm thám sát và những người bị thương trở lại vị trí một cách khá an toàn.
Vào lúc này tất cả vị trí địch đã được xác định. Đại đội India xin trọng pháo và phi pháo yểm trợ với hoả lực tối đa để chống đỡ. Nhưng trời cũng bắt đầu sụp tối, và bởi vì sứ mệnh chính của đơn vị là trấn giữ đồi nên đại đội không thể rời xa đồi 881S để truy kích địch. Đại đội India đã bắt tay lại được với đại đội Mike để cùng nhau rút về đồi 881S an toàn dưới sự che chở của trận mưa trọng pháo vào các vị trí địch. So với con số xuất quân lúc sáng chúng tôi đã sụt mất 50 người, vừa chết vừa bị thương.
Ngay hôm sau, lúc 2 giờ sáng ngày 21 tháng Giêng quân Bắc Việt đã đồng loạt tấn công vào các vị trí ngoại vi quanh căn cứ Khe Sanh. Dưới các đợt tấn công biển người một cứ điểm nhỏ ở làng Khe Sanh, cách vòng đai căn cứ khoảng vài trăm thước, phải di tản. Nhưng các điểm khác đã đánh bật được mọi đợt xung phong. Nhờ pháo binh rót đều đặn vào các khu chuẩn bị dàn trận của Bắc Việt, cũng như các đường tiến quân nên địch đã không khai thác được thế thượng phong lúc khởi đầu. Đồi 881S dù là đồi ở điểm trọng yếu nhất ngoài căn cứ nhưng không bị tấn công trong đợt này. Có lẽ các cuộc chạm súng ngày hôm trước với các toán trinh sát quanh đồi đã đánh tan tố bất ngờ và gây thiệt hại đáng kể khiến họ bỏ kế hoạch tấn công 881S.
Trong suốt trận đánh từ nửa đêm 21 này các pháo thủ của hai bệ súng cối đã bắn liên tục gần 700 quả ở tầm xa tối đa để ngăn không cho địch chọc thủng vòng đai đồi 861. đồi này nằm về phía đông bắc của 881S. Nòng súng cối nóng tới độ quả đạn chưa chạm kim hoả đã được kích hoạt phóng ra sớm khiến đạn bay lệch đạn đạo quá xa. Phải dùng số nước uống rất hạn chế trong đồn để l&agrave
;m nguội ống phóng trước khi xài tiếp. Nhưng rồi hết nước uống, phải dùng tới nước trái cây. Nước trái cây cũng cạn. Cuối cùng lính phải sắp hàng thay nhau dùng nước tiểu để làm nguội nòng súng cối.
Trận đánh đầu tiên đã chấm dứt. Mọi đơn vị trên các ngọn đồi lo chỉnh đốn hệ thống bố phòng để đón những trận tấn công liên tục có thể bắt đầu bất kỳ lúc nào. Chúng tôi không phải chờ lâu. Hừng đông ngày 22 căn cứ Khe Sanh bị hàng loạt mấy trăm quả đạn pháo và hoả tiển hạng nặng gây thiệt hại dọc theo phi đạo chính và làm nổ tung kho đạn. Đại bác thì gồm có 152 và 130 ly, chính xác một cách chết người, bắn tới từ bên kia biên giới Lào, nằm về hướng tây và tây nam căn cứ Khe Sanh. Thêm vào đó là hoả tiển 122 ly, loại bó thành khối của Nga, bắn đồng loạt, mỗi lần khoảng 30 đến 50 trái từ nhiều hướng khác nhau. Dù là một căn cứ lớn, nhưng loạt pháo kích chưa từng thấy này đã làm tê liệt nhiều phần căn cứ Khe Sanh.
Riêng đồi 881S, vì đã mất yếu tố bất ngờ và biết chúng tôi sẳn sàng đánh trả nên địch đổi chiến thuật. Quân Bắc Việt quyết định cắt đứt đường tiếp liệu của đồi 881S để buộc chúng tôi phải triệt thoái. Cũng may TQLC chúng tôi có một cơ cấu tổ chức độc nhất vô nhị gọi là “Air-Ground Team”, nếu không thì không chừng quân Bắc Việt đã thành công. (Air-Ground Task Force là một công thức hành động phối hợp giữa TQLC trên không và TQLC trên bộ để hoàn tất một sứ mệnh đã định.)
Quân Bắc Việt bắt đầu đặt súng cối 120 ly phía tây 881S khoảng 5 cây số. Súng được đặt gọn trong các đường hầm ngắn đào sâu vào vách núi với góc độ cần thiết để tác xạ. Máy bay không thể nào phát hiện vị trí các ổ súng này, và nếu có biết cũng không thể nào làm nó câm họng được, trừ khi thả bom hay bắn trọng pháo lọt đúng ngay vào miệng hầm. Đồi 881S là một mục tiêu cố định, vì thế địch chỉ cần điều chỉnh một hai ly chiều thẳng đứng hay ngang là có thể bắn trúng bất cứ điểm nào trên đồi. Cả tiếng “thụp” khô khan của súng cối cũng chìm mất vào trong lòng núi. Âm thanh của súng cối khai hoả là tiếng kêu rất đục và ngắn, chỉ có những lỗ tai thính lắm mới nghe được. Ấy là trong điều kiện không có gió, không có tiếng bom hay trọng pháo, không có tiếng máy bay… tức là phải yên lặng như tờ. Điều kiện này chẳng mấy khi có được ở Khe Sanh.
Lúc đầu chúng tôi chỉ cần một trực thăng tiếp tế. Phi công thường yêu cầu chúng tôi phải sẳn sàng trong giao thông hào, đồng loạt bắn tưới lên các hướng núi dày đặc cao xạ phòng không để chặn, trước khi anh ta giảm cao độ để đáp. Nhưng kết quả thật thê thảm. Ngay khi phi công hướng về một điểm đáp, tiền sát của quân Bắc Việt báo ngay vị trí này cho các tay bắn súng cối. Các tay này chỉ tốn vài giây đồng hồ điều chỉnh là họ có thể “đặt” quả đạn vào đúng vị trí họ muốn trên đồi 881S. Họ biết rất chính xác các góc độ vì họ vẫn bắn như thực tập hàng ngày. Trong tiếng ồn của máy bay trực thăng chúng tôi không thể nghe được tiếng súng cối khai hoả, nhưng chúng tôi biết quả đạn chỉ cần 25 giây đồng hồ để bay tới mục tiêu. Chuyện cất hàng xuống và đưa thương binh lên trong vòng 25 giây là chuyện không thể làm được.
Vào ngày 22 (tháng Giêng) hai loạt súng cối chụp xuống ngay bãi đáp khi người bị thương sau cùng đang được đưa lên trực thăng tải thương. Đúng 22 người, vừa chết vừa bị thương nội trong cú đó, kể cả phi hành đoàn. Chiếc trực thăng hoàn toàn bị phá hủy cùng tất cả lính bị thương trong đó.
Tới đầu tháng Hai súng cối và hoả lực phòng không liên tục đã làm hai đại đội India và Mike thiệt hại tới 150 TQLC và 6 trực thăng. Nếu kể cả các binh sĩ chết hay bị thương vì bắn tỉa thì mức thiệt hại của chúng tôi là 50%, và không có dấu hiệu nào cho thấy tình hình bi đát này sẽ chấm dứt.
Với tỷ lệ này thì chẳng bao lâu nữa sẽ không thể giữ được cứ điểm 881S. Quân bổ sung thì thỉnh thoảng lại bị trúng đạn ngay khi chưa kịp rời trực thăng. Lính tráng thì chỉ còn được phần tư bi đông nước uống mỗi ngày. Với khí hậu tại đây thì lượng nước này không thể nào chấp nhận được. Mỗi khi phá được ổ phòng không nào thì lập tức quân Bắc Việt thay thế ngay, cũng nhanh như thay thế các tay bắn tỉa vậy.
Giải pháp cho tình hình này của chúng tôi là một giải pháp khác thường nhưng có hiệu quả ngay tức thì, và lần nào cũng y như lần nấy. Có lẽ ít quân đội nào trên thế giới có thể làm được. Kế hoạch tiếp vận được tính toán và tập dượt rất kỹ lưỡng, thời gian phải chính xác tuyệt đối để phối hợp lược lượng trên không với dưới đất. Chúng tôi thực hiện chiến thuật “Super Gaggle” – đàn ngỗng siêu hạng – vào một ngày quang đãng giữa tháng Hai.
Sau khi ra hiệu trước, các khẩu súng cối trên đồi 881S bắn hàng loạt đạn khói trắng về hướng các vị trí s&ua
cute;ng phòng không mà chúng tôi đã xác định được. Loạt đạn khói vừa chạm đất thì lập tức 4 phản lực cơ tấn công A4 Skyhawk đâm xuống bắn phá các vị trí này theo các trái khói định vị của chúng tôi. Mỗi chiếc Skyhawk đều mang dưới cánh nhiều hoả tiển chống xe tăng hạng nặng (5inch). Tiếp theo ngay lập tức là 4 phi tuần Skyhawk khác mang bom xăng (napalm) xuất hiện nối đuôi nhau tạo một bức tường lửa quanh đồi. Mục đích loạt bom napalm này là tiêu diệt các tay súng vẫn luôn luôn nằm ngữa dưới các hầm cạn quanh vòng đai để bắn vào bụng trực thăng khi phi công sà xuống chuẩn bị đáp. Rồi tới 2 phi tuần Skyhawk rãi hàng ngàn trái bom tí hon đều khắp cạnh sườn thung lũng. Loại bom tí hon này được chỉnh giờ khác nhau để phát nổ lai rai và liên tục trong nhiều phút. Sau đó đồi 881S bắn một loạt đạn trái khói khác về hướng các vị trí phòng không. Nếu họ chưa bị không quân tiêu diệt thì các cột khói phosphorus trắng này sẽ khiến họ không thấy được gì trên bầu trời.
Súng từ các vị trí địch im tiếng, chỉ còn lác đác vài quả đạn cối rơi lưa thưa. Chắc chắn quân Bắc Việt đang còn núp dưới các hầm cá nhân, nếu họ còn sống, hoặc đã bị chôn vùi dưới vài thước đất đá.
Lẫn trong khói súng và bụi đất mịt mù có 10 chiếc trực thăng CH-46 của TQLC lù lù xuất hiện. Mỗi chiếc mang theo khoảng một tấn đồ tiếp liệu và đạn dược. Khi các trực thăng CH-46 tới gần đồi 881S thì thêm 4 phi tuần Skyhawk xuất hiện. Mỗi bên 2 chiếc trải thêm một màng khói bên hai cạnh sườn giữa đồi 881S và các vị trí cao xạ phòng không của địch. Mục đích là tạo một giải không gian hẹp cho các trực thăng CH-46 đáp xuống 881S giữa hai bức tường khói.
Trực thăng cứ theo đội hình năm chiếc lần lượt đáp xuống, bỏ hàng, nối đuôi nhau cất cánh ngay vào giữa hai đám khói. Trong đội hình thứ hai có một chiếc chở các quân nhân bổ sung đồng thời mang người bị thương cũng như tử thương về hậu cứ. Vị trí đáp của chiếc này luôn luôn thay đổi, nhờ đó đạn súng cối của địch không bao giờ rơi trúng một chiếc trực thăng tải quân nào khác.
Toàn bộ cuộc phối hợp tác chiến và tiếp viện có tên gọi là Super Gaggle này kéo dài không đầy 5 phút, và từ khi màn khói chắn được trải ra cho tới lúc chiếc trực thăng cuối cất cánh không bao giờ quá 30 giây đồng hồ. Hoả lực phòng không của quân Bắc Việt vẫn quét ngang dọc qua đỉnh đồi, nhưng chỉ là bắn bừa với số lượng ít hơn nhiều cho nên không hiệu quả gì. Đạn súng cối vẫn tiếp tục rơi đều cả giờ sau khi tất cả các phi cơ đã rời trận địa, nhưng không làm gì được chúng tôi vì tất cả đã chui xuống hầm. Khoảng một chục tấn hàng tiếp liệu nằm rãi rác khắp nơi. Lực lượng bổ sung đã an vị dưới các giao thông hào, những người lính TQLC bị thương đã rời xa khỏi căn cứ. Thường thì chúng tôi không chịu thiệt hại nào về nhân sự trong các chuyến tiếp quân này.
Chiến thuật này được điều khiển từ chiếc phản lực TA-4 hai ghế do chính ông phi đoàn trưởng phi đoàn A4 lái, ghế sau là phi đoàn trưởng trực thăng lo việc liên lạc vô tuyến thường xuyên xuống đất với tôi. Tất cả đều là dân TQLC đã từng huấn luyện với nhau, cùng diễn hành, cùng tiệc tùng với nhau nhiều năm trời. Nhờ vậy chúng tôi mới có thể thực hiện một chiến thuật phức tạp đến từng giây từng khắc một cách hoàn hảo.
Màn đêm vừa phủ xuống là lúc chúng tôi bò ra gom đồ tiếp liệu, vì lúc đó quân Bắc Việt không thấy được các hoạt động của chúng tôi. Kiện hàng nào cũng đầy mảnh đạn súng cối. Sau khi phân phối xong chúng tôi phải vào vị trí ứng chiến. Từ sụp tối đến nửa đêm chúng tôi thay nhau, phân nửa thức phân nửa ngủ. Từ nửa đêm tới sáng chúng tôi ứng chiến 100%.
Lý do rất đơn giản là ban ngày địch không động binh vì sợ chúng tôi phát hiện, nên phải chờ đến tối. Từ chạng vạng tối mà leo từ chân núi lên, nếu leo giỏi thì sớm lắm cũng phải nửa đêm địch mới tới được vòng đai của chúng tôi. Bọn TQLC chúng tôi vẫn leo hoài nên biết rất rõ. Lúc ấy chúng tôi đã sẵn sàng rồi.
Đồi 881S không bị tấn công lần nào. Thỉnh thoảng địch có vài hoạt động thăm dò bên ngoài vòng đai. Đây là cơ hội để binh sĩ TQLC chứng minh rằng chúng tôi ném lựu đạn xuống dễ hơn quân Bắc Việt ném lên, và nhất là lựu đạn chúng tôi ném không bao giờ lăn ngược trở lại phía chúng tôi! Để tiết kiệm nước và tránh thương vong chúng tôi làm việc chủ yếu vào ban đêm, ban ngày chỉ tập trung vào việc quan sát. Thương vong tuy vẫn có, nhưng so với trước khi thực hiện chiến thuật Super Gaggle thì nhẹ hơn nhiều vì binh sĩ luôn ở dưới hầm.
Trong khi hoả lực của quân Bắc Việt giảm đi thì của chúng tôi lại tăng lên. Thời tiết tốt hơn nên ngày nào cũng có phi cơ yểm trợ. Các địa điểm đặt hoả tiễn của địch bị bắn phá thường xuyên. Một chuyện nhỏ nói lên lòng kiên nhẫn và sự tinh mắt của một binh sĩ trẻ, đó là Hạ sĩ Molikau Niuatoa, người Mỹ Samoan. Anh ta
dùng viễn kính 20x của hải quân đã tình cờ thấy được ánh chớp của đại bác địch khai hoả ở tít chân trời, cách chúng tôi khoảng 15 cây số. Anh ta là người vẫn quan sát ngày này qua tuần nọ, dựa vào tiếng khai hoả của trọng pháo bắn vòng qua đầu chúng tôi hướng tới căn cứ Khe Sanh. Hạ sĩ nhất Robert Arrotta, người hướng dẫn phi cơ oanh kích đã gọi ngay một phi cơ quan sát tới vùng đó, nhưng không ai có thể thấy được chiếc phi cơ ở xa như vậy để hướng dẫn đến mục tiêu.
Vì sự quan trọng của mấy khẩu đại bác này nên dù chưa xác định được mục tiêu phi công quan sát đã nôn nóng gọi mấy oanh tạc cơ đến. Lượn vòng mãi vẫn chưa có toạ độ, phi cơ quan sát bắn một trái khói trắng để làm chuẩn, nhưng ở đồi 881S không nhìn thấy được cột khói xa như vậy. Rồi tới các oanh tạc cơ sắp phải quay trở về nếu không sẽ bị cạn nhiên liệu. Sốt ruột, phi cơ quan sát đề nghị thả một quả bom 150 ký xuống một mỏm đá để làm dấu, và các quan sát viên ở đồi 881S đã thấy được điểm này. Sau vài lần điều chỉnh viên phi công quan sát cho biết đã xác định được vị trí. Kết quả là 5 khẩu 130 ly do Nga chế tạo bị phá hủy. Loại đại bác này có tầm đạn gần 30 cây số và rất chính xác nên đã gây cho chúng tôi không biết bao nhiêu là tổn thất.
Vào tháng Ba thì vòng vây quanh Khe Sanh đã nới lỏng. Đại Úy đại đội trưởng Harry Jenkins của đại đội Mike và tôi có thể chơi trò “nhạc trưởng”, dùng máy vô tuyến truyền tin làm gậy điều khiển một dàn đại hoà tấu của bom đạn. Chúng tôi có hoả lực gần như vô giới hạn của trọng pháo và phi pháo, gọi là có ngay để tấn công vào bất cứ cái gì nhúc nhích, bất cứ tiếng động lạ nào, bất cứ mùi nào khả nghi, hay bất cứ điểm nào chúng tôi chỉ linh cảm là có quân Bắc Việt. Âm thanh của giàn nhạc này kéo dài liên tục. Vùng cao nguyên xanh tươi trước đây ba tháng giờ trông chẳng khác nào mặt trăng cháy nám, đầy những hố bom nối liền nhau nằm lẫn với các gốc cây chỏng trơ.
Cuộc vây hãm không chấm dứt một cách đột ngột. Quân Bắc Việt như từ từ tan biến đi, chỉ để lại vài chốt tử thủ kháng cự một cách vô vọng cho lực lượng tăng viện làm cỏ. Cuộc tấn công toàn diện vào căn cứ Khe Sanh không bao giờ được thực hiện. Một chuyện diễn ra, hình như vào ngày 1 tháng 4, khi quân tiếp viện đã tới, rất có thể là lý do tại sao cuộc tấn công đã không diễn ra.
Giữa thanh thiên bạch nhật chợt có hai bộ đội Bắc Việt trần truồng chạy về hướng vòng đai của chúng tôi, chân chạy tay vẫy tờ truyền đơn xin gọi là “giấy thông hành” ra đầu thú. Một người bị đồng đội anh ta từ phía sau bắn hạ ngay, người kia ngã xuống ngoài vòng rào. Chúng tôi bắn yểm trợ cho một binh sĩ TQLC bò ra kéo anh ta vào. Anh ta là một người to con, cao gần thước tám, vạm vỡ, trông rất khoẻ mạnh. Chúng tôi bắt đầu hỏi cung anh ta, nhưng bị gián đoạn vì một phản lực cơ của TQLC bay ngang. Anh ta hoàn toàn biến thái, mất tự chủ mọi thứ, từ con mắt tới cơ bắp và dĩ nhiên cả chuyện tiểu và đại tiện. Anh ta run lẩy bẩy và té xụm ngay trong giao thông hào. Một tiếng vỗ tay mạnh sau lưng anh ta cũng gây nên trạng thái kinh hoàng y như vậy.
Trạng thái tâm lý của người hồi chánh đã bị bại liệt hoàn toàn vì anh ta và đồng đội đã bị hoả lực kinh hồn của chúng tôi vùi dập trong suốt 77 ngày. Những lúc tỉnh táo anh cho biết nhiều đồng đội của anh cũng bị khủng hoảng như vậy. Thế thì họ không đánh lớn vào Khe Sanh được là phải rồi.
Đại đội India trở về vùng duyên hải với quân số vỏn vẹn có 19 người, so với lúc đến đóng quân ở đồi 881S là 200. Đại đội Mike làm ăn khá hơn đôi chút. Khi dừng chân qua đêm ở một hậu cứ khá an toàn tại Quảng Trị đại đội India mất thêm 6 trong số 19 người còn lại vì một hoả tiễn rớt ngay lều trú quân của họ. Công cuộc phòng thủ cứ điểm Khe Sanh kể như thành công, nhưng với tổn thất rất cao. (Trà Bồng viết lại)



GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁOTÂM LÝ CHIẾN AFGHA?

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: TÂM LÝ CHIẾN AFGHA?

StanleyBản tường trình tóm lược lại có 5 trang, trong đó có câu viết: Nguồn tài nguyên tiếp viện không thể thắng cuộc chiến, nhưng thiếu tiếp viện có thể đưa đến chiến bại. Dù cho đến nay những nỗ lực đáng kể và hy sinh xương máu đã tạo được một vài tiến bộ, nhiều dấu hiệu cho thấy tình hình đang trở thành tồi tệ. Ông Geoff Morrell, Phó Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề thông tin, tuyên bố sự đánh giá tình hình qua tài liệu mật trước khi có quyết định của cấp cao, là nhằm để cung cấp cho TT Obama và ban An ninh Quốc gia của TT những điểm căn bản cho một cuộc thảo luận rất quan trọng về vấn đề hiện nay tình hình Afghanistan như thế nào và phương pháp nào tốt nhất để thực hiện điều chúng ta muốn có ở đó. Trong khi xét tới việc cần tăng thêm quân, tướng McChrystal còn vạch ra rằng cấp bách nhất là phải nghiêm chỉnh xét lại chiến lược chiến thuật. Ông viết Mỹ cần phải có tương tác tốt hơn nữa với người dân Afghanistan, tổ chức tốt hơn nữa với các lực lượng đồng minh NATO. Tướng McChrystal ghi: Chúng ta có mối nguy bị thất bại chiến lược trong khi theo đuổi những thắng lợi chiến thuật đã gây ra thương vong và những thiệt hại không cần thiết lây lan đến những người dân ở bên lề cuộc chiến. Nhìn nhận sự kiên trì bám rễ liều lĩnh của bọn phản loạn Taliban, tướng McChrystal cảnh giác trừ phi Mỹ và đồng minh lấy lại được thế chủ động và đảo ngược lại đà xung kích của bọn phản loạn trong vòng năm tới, nước Mỹ sẽ có thể lâm vào một giai đoạn không còn cách nào tiễu trừ bọn phản loạn được nữa.

Tờ báo đầu tiên nêu ra những đoạn viết trong bản tường trình mật là tờ Washington Post phát hành sáng thứ Hai, trong đó báo này cho biết đã giữ lại một vài đoạn không loan ra ngoài theo lời yêu cầu của chính phủ. Báo này cũng trích thêm một đoạn như sau: Tướng McChrystal mô tả chính quyền Afghanistan đầy rẫy tham nhũng và một lực lượng quốc tế bị phá hoại bởi những chiến thuật gây phẫn nộ trong dân chúng. Ông cũng bộc lộ rất rõ những chi tiết mới về bọn phiến loạn Taliban, mà ông gọi đó là một kẻ thù có gân cốt ứng cáp và thủ đoạn tinh diệu, biết sử dụng kỹ thuật tuyên truyền hiện đại và đã ngầm xâm nhập các nhà tù, tiếp xúc với tù nhân để tuyển mộ lính của chúng và ngay cả đặt các kế hoạch hành động. Bản tường trình của tướng McChrystal là một trong số các lựa chọn để Bạch Ốc cứu xét. Đề tài này có thể làm gia tăng các cuộc tranh luận với những nhân vật Dân Chủ trong Quốc hội, vì họ đã tỏ ra rất ngần ngại về việc tăng thêm quân cho một cuộc chiến tranh không được lòng dân như cuộc chiến Afghanistan. Tại Quốc hội đang có sự bất đồng giữa hai đảng về chiến tranh này, các Nghị sĩ Cộng hòa yêu cầu phải gia tăng thêm quân Mỹ ở Afghanistan, một cuộc chiến đã sắp qua đến năm thứ 10, trong số có TNS John McCain rất hăng say đòi đánh tới cùng. Trong khi đảng Dân Chủ của TT Obama lại muốn đạp thắng cho chiến tranh chạy chậm lại. Trong các cuộc phỏng vấn mới đây hồi tối chủ nhật vùa qua, Obama nói ông sẽ không để cho chính trị điều khiển các quyết dịnh của ông. Các nhà báo hỏi Obama ông hay các phụ tá của ông có yêu cầu McChrystal rút lại lời xin tăng quân hay không? Tổng Thống Obama nói: Không, không, không, không có chuyện đó. Riêng về hậu quả của cuộc chiến Afghanistan, người ta đã thấy kể từ khi có cuộc chiến này từ 8 năm trước, năm 2009 là năm số thương vong của quân đồng minh lên cao nhất cho đến nay với 350 quân tử trận, trong số này có 197 quân nhân Mỹ. Tính đến tháng 8, năm 2009 là năm chết người nhiều nhất cho quân đội Mỹ. Chính vì thế tướng McChrystal đã phải nói tình hình chiến tranh Afghanistan đang trở thành tồi tệ. Obama không đặt ra một hạn kỳ nhất dịnh nào để đưa thêm quân đến nơi hiểm họa, một khi chưa giải quyết được dứt khoát vấn đề chiến lược. Đô đốc Michael Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham Mưu Trưởng Liên quân, tuần trước nói ông nghĩ rằng tướng McChrystal sẽ yêu cầu gia tăng thêm quân và các dụng cụ chiến tranh trong tương lai gần đây. Trong khi đó Bạch Ốc lại tỏ ra mơ hồ về thời gian bao giờ sẽ có lời thỉnh cầu và nếu có, liệu có làm thỏa mãn lời thỉnh cầu đó không. Đến đây tôi liên tưởng đến một câu chuyện bên lề. Tình cờ làm sao bản tường trình mật của tướng McChrystal lại được tiết lộ vào đúng Ngày Hòa bình Quốc tế của LHQ. Nhân ngày này Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao của Afghanistan tại Thủ đô Kabul, cho biết quân đội Afgha sẽ ngưng mọi cuộc tấn công. Và cũng thật lạ, phía Taliban cũng lên tiếng vì Ngày Hòa Bình đó. Qari Yusuf Ahmadi, nhân vật vẫn được coi là Phát ngôn nhân của Taliban đã tuyên bố: Chúng tôi cũng chỉ ở tư thế phòng thủ như vẫn làm thôi. Cứ điểm (website) chuyên về cứu trợ ReliefWeb loan lời tuyên bố đó và tỏ ý hy vọng Taliban cũng không tấn công. Sự thật câu nói của Taliban có thể có dụng ý muốn nói thêm là: Chúng tôi bình thường không tấn công, chỉ khi nào bị tấn công chúng tôi mới đánh trả. Đòn tâm lý chiến chăng? Hãy chờ xem. Chờ đến bao giờ?

Sự thật ở Mỹ người ta cũng đang chờ xem đến bao giờ Mỹ quyết định tăng thêm quân. Nhưng TT Obama nói chưa giải quyết được vấn đề chiến lược chiến thuật là chưa có chuyện tăng thêm quân. Rút cuộc đây cũng chỉ là những đòn tâm lý chiến để thăm dò và chờ thời. Trong các cuộc chiến tranh từ cổ chí kim, những đòn tâm lý chiến không phải là chuyện lạ. Gần đây nhất trong Thế chiến II cũng như trong cuộc chiến tranh lạnh vào cuối Thế kỷ 20, và cả trong 9 năm đầu của Thế Kỷ 21 cũng không thiếu gì những đòn tâm lý chiến. Thế nhưng hiện nay nếu Mỹ thấy cần phải xét lại chiến lược chiến thuật như TT Obama đã nói, thiết tưởng cũng nên chờ xem tình thế có thể thay đổi đến độ nào trên thực tế. Liệu có ngừng bắn hay không và cuộc ngừng bắn đó sẽ có những chi tiết như thế nào. Lúc này còn quá sớm để đi đến một kết luận dứt khoát.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




L.m. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p. : Cánh chung luận là gì?

ÔNG GIÁM MỤC CÁNH CHUNG LUẬN

 

 

                                                                        Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Giám mục Nguyễn Văn Khảm vốn là một nhân vật nổi tiếng về khoa ăn nói, dân nhà quê như người viết gọi là  lẻo mép, còn bậc trí thức người ta kêu là hùng biện. Một nhà hùng biện làm tới giám mục giáng về vấn đề “Cánh Chung” trong đạo thì nhất định là đúng người, đúng việc rồi chứ có gì mà phải théc méc. Ấy vậy mà sau khi ngài giám mục giảng, con chiên bổn đạo nổi lên nhao nhao phản đối. Sự thể đáng sợ thật, chỉ sợ tội thôi, bởi vì Chúa dậy trong Phúc Âm rằng tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ kia mà. “Họ” ở đây là chỉ các “đấng làm thầy” (tiếng nhà đạo). Dám cãi lại lời đức cha là tội trọng, chết sa hỏa ngục chứ chẳng chơi. Thế nhưng, đọc kỹ lại đoạn Phúc Âm thì mới thấy yên tâm. Chúa khuyên người Do Thái nên nghe lời giảng dậy của các kinh sư khi họ ngồi trên tòa Moyses để giảng lời Chúa, chứ không phải Chúa bảo bổn đạo VN phải nghe lời giảng của giám mục Nguyễn Văn Khảm. Vì rằng, bài giảng của ngài giám mục không dính dáng đến Chúa, mà nói về Marx. Như vậy không những là lạc đề, mà còn đưa đến nhiều nghi ngờ trong con chiên bổn đạo nữa. 

      Ngày lễ kính Chúa Kitô Vua (Christ the King), giám mục Khảm không giảng theo nội dung của ngày lễ, mà lại lái sang vấn đề cánh chung, còn là cánh chung của Karl Marx mới chết, không lạc đề thì còn là gì nữa. Nói thế thật ra cũng chưa đúng hẳn, vì Phúc Âm ngày lễ Chúa Kitô Vua theo thánh sử Mathew có đề cập đến vấn đề Cánh Chung. Nhưng cánh chung ở đây là ngày tận thế, Chúa quang lâm ngự xuống phán xét nhân loại, người lành cũng như kẻ dữ. Cuối cùng Thánh Sử kết luận: Thế là họ (kẻ dữ) ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời. Đấy là giáo lý và là học thuyết về Cánh Chung của người công giáo.  

     Ít nữa trong ngày lễ này, người tông đồ của Chúa như giám mục Khảm phải giảng thuyết làm sao chứng minh cho giáo dân thấy, và để thuyết phục những người chưa tin Chúa, nhất là bọn cộng sản vô thần chung quanh ông rằng, Chúa Giêsu là một vị đế vương. Ngài xứng đáng là vua thật. Hơn nữa còn là một minh quân, một vị hoàng đế rất thương yêu dân, biết lo cho dân, nhưng vấn đề thưởng phạt của Ngài cũng rất mực công bình, không thiên vị ai bao giờ. Con người chết đi bị Ngài xét xử để được luận thưởng hoặc phạt theo những việc làm của họ khi còn tại thế. Đó là sự cánh chung của người công giáo. Cũng nên nói cho bọn cộng sản chung quanh ông hay rằng tuy Chúa là vua, nhưng chúng mày đừng có sợ. Ngài không tranh quyền đoạt vị của chúng mày đâu, bởi vì chính Ngài đã xác nhận trước mặt Tổng Trấn Philatô, đại diện của Hoàng Đế La Mã rằng, nước của Ngài không phải là quốc gia trần tục, mà là Nước Trời. Tài cán và hùng biện như giám mục Nguyễn Văn Khảm mà sao không vẽ ra được một thiên quốc hấp dẫn để chiêu hồi bọn cộng sản. Rằng, Nước Trời là một quốc gia có tự do, và cũng có kỷ cương, chứ không loạn xà ngầu giống như nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa của chúng mày, bởi vì ở đấy có một vị vua anh minh là Chúa Kitô. Ngài lấy đức mà trị dân. Người dân trong nước của Ngài lấy thương yêu bác ái để đối xử với nhau trong tình huynh đệ. Do đó Nước Tròi của Chúa mới là Thiên Đường thực, khác xa cái thiên đàng viển vông của Karl Marx nơi trần thế.  Ở Nước Trời không bao giờ có chuyện ngưòi bóc lột người. Ở đó mới có công bình và công lý thật. Mọi công dân trong Nước Trời của Chúa mới sống đích thực mình vì mọi người và mọi người vì mình. Họ không phải lao động cực nhọc mà vẫn sung mãn và hạnh phúc tràn trề …… 

     Thiếu gì chuyện để diễn giảng về vương quyền và lòng nhân hậu của Vua Giêsu ông giám mục không nói tới, mà lại nói về vấn đề Cánh Chung của Karl Marx, thế mới là trật duộc và sinh chuyện. Cánh Chung là gì thì lời giải thích và thí dụ ông giám mục đưa dẫn chứng cũng lại sai bét luôn. Theo từ điển Thiều Chửu, Cánh có nghĩa là trọn vẹn, sau rốt. Thí dụ như: hữu chí cánh thành nghĩa là có chí sau cùng nhất định sẽ thành công. Hoặc, cứu cánh nghĩa là xét đến cùng của sự việc. Còn chữ Chung có nghĩa là hết hoặc chết. Cánh Chung là một từ kép hán nôm, các nhà dịch giả và chú giải Kinh Thánh dùng để nói về ngày tận thế, Chúa quang lâm để phán xét loài người. Tiếng Anh chữ Cánh Chung là Eschatology, là môn nghiên cứu về những sự việc sau hết ( the study of the “last things”). Last Things trong ngoặc kép muốn nói là những sự việc sau cùng của cuộc đời sau khi con người nhắm mắt xuôi tay. Đây là một luận đề phổ thông trong các tôn giáo, nhất là Thiên Chúa Giáo và Do Thái Giáo. Eschatology bàn về số phận sau cùng của thế giới, của loài người, và của mỗi cá nhân. Cánh Chung trong giáo lý Công Giáo bao gồm các học thuyết về sự chết, sự sống lại, thiên đàng, hỏa ngục, sự trở lại của Chúa Giêsu và việc phán xét của Ngài. Như vậy Cánh Chung luận là luận về sự việc gì xẩy ra ngay sau cái ngày tàn của vũ trụ vạn vật hay cái chết của mỗi con người, hoàn toàn không phải là đường lối giải quyết những vấn đề thực tại của xã hội trần tục. Rõ ràng, một đàng là những vấn đề sau cái chết, còn một đàng là những vấn đề của con người còn đang sống. Hai vấn đề hoàn tòan khác nhau. Giám mục Nguyễn Văn Khảm đã thuyết giảng ra ngoài vấn đề của ngày lễ, và còn giảng sai về đề tài mà ông đề cập tới. Dưới đây xin trích lại phần chính diễn giải chữ Cánh Chung trong bài thuyết giảng của giám mục Nguyễn Văn Khảm: 

    “Dĩ nhiên, bất cứ một tôn giáo nào cũng hàm chứa bên trong một cánh chung luận, triết thuyết nào có khả năng cung cấp cho con người một cánh chung luận hấp dẫn, cũng có nghĩa là cung cấp một niềm hy vọng có sức thuyết phục thì triết thuyết đó cuốn hút con người. Tôi lấy một cái thí dụ, ta đang sống rất là cụ thể trong một đất nước xã hội chủ nghĩa, dựa trên cái nền tảng triết học của Marx. Thế thì có nhiều người có thể nghĩ Mác xít vốn là một hệ tư tưởng vô thần cho nên là không có cánh chung luận. Không phải thế, trái lại nó có một cánh chung luận rất là hấp dẫn, rất là cụ thể, nó đã trình bày cái điểm tới của lịch sử nhân loại, là một xã hội cộng sản hoàn hảo trong đó:

  không còn cảnh người bóc lột người,

  mà mỗi một người trong anh chị em và tôi chỉ cần làm việc theo khả năng còn như cầu có bao nhiêu là cứ việc xài.

     Người ta sống với nhau trong tình huynh đệ, một thiên đàng tại thế, và khi mà có cái điểm tới của lịch sử cả nhân loại như thế, thì mỗi cá nhân trong lịch sử đó khám phá ra cái ý nghĩa của một sự hy sinh mình chịu. Tôi chết đi nhưng sự nghiệp của tôi vẫn còn tồn tại mãi trong nhân dân. Tôi hy sinh nhưng mà sự hy sinh đấy không vô nghĩa, bởi vì nó xây dựng cho thế hệ tương lai, xây dựng cho nhân dân.

     Trong cái cánh chung luận rất là cụ thể và hấp dẫn và chính vì thế nó đã cuốn hút cả triệu con người chấp nhận bao nhiêu hy sinh để xây dựng tương lai, cho nên có chứ không phải không đâu…” 

     Trích đoạn ngắn trên đây có thể nói là bản copy bức tranh cảnh thiên đàng trần thế mà Karl Marx đã tưởng tượng ra. Đó là một xã hội trong đó mọi người yêu thương nhau như anh em, không ai hà hiếp bóc lột ai, mọi người tự giác làm việc đúng khả năng và hưởng cái công lao động tùy theo nhu cầu của mình. Khung cảnh thiên đường tốt đẹp mà Marx vẽ ra hấp dẫn đến độ có hàng triệu con người dám hy sinh cả cuộc đời để kiến tạo nên nó. Những con người này chết đi chẳng cầu Niết Bàn của Đức Phật, cũng không mơ tưởng Thiên Đàng của Chúa. Họ cho là họ đã mãn nguyện rồi vì, “sự nghiệp của tôi vẫn còn tồn tại mãi mãi trong nhân dân.” Vô thần mà, đâu còn cái gì nữa sau khi chết. Câu này nói rõ ý nghĩa “cánh chung” của người vô thần. Đấy là Cánh Chung Luận của CS theo giám mục Nguyễn Văn Khảm. Ông không bình luận, nhưng sự diễn tả của ông cho thấy ông rất ngưõng mộ luận điểm Cánh Chung của Marx. Giám mục Khảm nói: “Trong cái cánh chung luận rất là cụ thể và hấp dẫn và chính vì thế nó đã cuốn hút cả triệu con người chấp nhận bao nhiêu hy sinh để xây dựng tương lai ….” Bởi vì ông giám mục giảng cho bổn đạo trong một thánh lễ, lời giảng của ông tức là lời giáo huấn, cho nên phải hiểu rằng giám mục Khảm chủ tâm dậy bổn đạo nên noi theo hàng triệu con người CS kia mà thực hiện cái cánh chung của Marx: mãi mãi để lại sự nghiệp trong nhân dân. Thế thôi, Thiên đàng là chuyện vớ vẩn chăng? 

     Cánh Chung của Marx tốt đẹp và hấp dẫn như thế, nhưng Marx là ai, và người đầu tiên có công lao nhất thực hiện Cánh Chung Luận của Marx là Lenin đã suy nghĩ thế nào về luận điểm này thì giám mục Nguyễn Văn Khảm lại không nói tới cho giáo dân của ông biết.  

     Hầu như mọi người trên thế gian này đều cho rằng Marx là một người vô thần (atheist). Điều đó chỉ đúng trên sách vở. Thực ra Marx là một ngưòi hữu thần. Ông ta không tin có Thiên Chúa hay bất cứ thần linh nào, nhưng ông lại là một tín đồ ngoan đạo của giáo phái thờ Satan (Satanist cult). Linh mục Richard Wurmbrand, một tác giả nghiên cứu thâm sâu về Marx, phát giác ra rằng Marx là một đệ tử của giáo chủ Joana Southcott, tông đồ của thần Shiloh tức Satan. Ngay từ hồi còn là sinh viên, Marx đã sáng tác những vần thơ ma quái như thế này:

                        The hellish vapors rise anh fill the brain,
                        Till I go mad and my heart is utterly changed.
                        See the sword?
                        The prince of darkness
                        Sold it to me.
                        For me he beats the time and gives the signs.
                        Ever more boldly I play the dance of death.

(Xin tạm dịch: những luồng gió địa ngục nổi lên tràn đầy cả trí óc, cho đến khi tôi bị điên loạn, và tim tôi toàn toàn đổi khác. Có thấy không cây kiếm mà vị hoàng tử của tối tăm đã trao nó cho tôi. Nó đánh nhịp và ra dấu cho tôi. Cứ như thế tôi càng hăng tiết đùa dỡn với tử thần.)

     Một câu hỏi đặt ra là, thế thì Karl Marx xướng xuất ra thuyết duy vật vô thần không phải là vô lý sao? Không đâu, lý thuyết Marx đẻ ra chỉ là để triệt hạ các tôn giáo, nhất là Thiên Chúa Giáo, sau đó xây dựng một thế giới mới không còn có thần linh mà chỉ tôn thờ tiền tài, danh vọng, và dục vọng mà thôi. 

     Nếu như Cánh Chung Luận của Marx đáng trân quí thật như Gm Nguyễn Văn Khảm ca tụng thì người thực hiện lý thuyết của Marx là Lenin đã chẳng phải hối hận trước khi nhắm mắt lìa đời. Trên giường bệnh, Lenin đã cay đắng thố lộ tâm sự thật của lòng mình như sau: I committed a great error. My nightmare is to have the feeling that I’m lost in an ocean of blood from the imnumerable victims. It is too late to return. To save our country, Russia, we would have needed men like Francis of Assisi (*). With ten men like him, we would have save Russia

(xin tạm dịch: tôi đã phạm phải một sai lầm lớn. Cơn ác mộng của tôi là cảm thấy như mình bị rơi vào trong một đại dương toàn máu của không biết bao nhiêu là nạn nhân. Quá trễ để quay đầu trở lại rồi. Để cứu nước Nga, quê hương của chúng ta, chúng ta cần có những con người như Francis Assisi. Được 10 người như ông ta, chúng ta có thể cứu vãn được nước Nga.) 

     Giám mục Nguyễn Văn Khảm nói chắc như định đóng cột rằng, bất cứ một tôn giáo nào cũng hàm chứa bên trong một cánh chung luận. Câu khẳng định này thiết tưởng cần phải được ngài giám mục làm sáng tỏ. Một vị gám mục tiến sĩ thần học không thể nói năng mù mờ được. Nếu hiểu chữ cánh chung trong lý thuyết của Marx như giám mục Khảm diễn giải thì vấn đề khỏi bàn tới, vì sự diễn giải của giám mục sai rồi như chúng tôi đã trình bầy ở trên. Cánh chung trong triết thuyết của Marx là mục tiêu xây dựng xã hội mà ông mơ ước đạt tới. Nhưng nếu hiểu chữ cánh chung như học thuyết công giáo dậy thì quả thật câu nói của giám mục Khảm đã trở nên hàm hồ. Khổng Giáo chẳng hạn thì Cánh Chung Luận của đạo Khổng là gì. Khổng Tử đã chẳng nói: Đạo khả đạo phi thường đạo. Và ông còn muốn cho quan điểm của mình về các vấn đề siêu hình được rõ ràng hơn, cho rằng, với quỉ thần chỉ nên kính nhi viền chi mà không nên đề cập tới. Hay như Phật Giáo thì thật sự Cánh Chung Luận của đạo Phật giải thích ra sao khi mà Đức Phật dậy rằng vũ trụ vạn vật là một chuỗi tiếp nối “sinh diệt – diệt sinh.” Con người chết đi đầu thai vào một kiếp sống khác. Đó có phải là một chung cuộc đâu? 

     Cứ cho rằng trong lý thuyết của Marx có bao gồm Cánh Chung Luận như giám mục Nguyễn Văn Khảm khẳng định, nhưng điều khó hiểu là học thuyết này của Marx ngày nay đã bị cả loài người vứt bỏ vì nó sai lầm và không tưởng rồi. Thế nhưng tại sao người môn đệ tông truyền của Chúa lại nhắc lại trong ngày lễ kính Chúa Kitô Vua, vị tôn sư của mình, và còn ca tụng nó ngụ ý là khuyên tín hữu thực hành con đường Marx vạch ra. Hầu như mọi tín hữu đều băn khoăn và thắc mắc về điểm đó. Câu trả lời đã có thể tìm ra được ngay trong Phúc Âm rồi. Chúa dậy: “… Vì lòng có đầy thì miệng mới nói ra. Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu từ kho tàng xấu của mình …” (Mt 12, 34-35). Nếu giám mục Khảm không ấp ủ Marx canh cánh bên lòng thì ông đã không rao giảng về Cánh Chung Luận của Marx trong ngày lễ kính Chúa Kitô Vua, người thầy của các tông đồ. 

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất 

*  Francis of Assisi là một vị Thánh công giáo sống vào đầu thế kỷ thứ 13. Thánh nhân sinh ra trong một gia đình thương buôn giầu có người Ý, nhưng Ngài đã từ bỏ hết của cải, sống đời khó nghèo và lo giúp đõ cho những ngưòi vần cùng và bất hạnh.

 

Merry Christmas FREE WEBSITE - FREE DOMAIN - FREE HOSTING

VỀ BÀI GIẢNG CỦA GIÁM MỤC NGUYỄN VĂN KHẢM

 BS Nguyễn Tiến Cảnh

Tôi đã tính không định viết, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy “Đã Quá Sức Rồi”. Đó là lời bố mẹ trách con cái không những đã cãi lời cha mẹ mà còn chửi thẳng vào mặt cha mẹ, thành thử tôi phải viết để nói lên ý nghĩ của tôi và có lẽ cũng của đa số bà con công giáo VN nói riêng và cả thế giới nói chung. Bởi vì vấn đề đã quá rõ ràng cả trên lý thuyết lẫn thực tế mà khắp thế giới ai cũng nhận thấy.

Số là có người đã lợi dụng tòa giảng trong nhà thờ chánh tòa Saigon , mượn danh Phúc Âm tôn giáo để ca tụng chủ thuyết cs. Nghe xong bài giảng, tôi không ngờ vị giảng thuyết lại là một chức sắc lớn trong Giáo Hội CGVN, và có lẽ ông đang ngắm nghé một tước vị cao hơn nữa là Tổng Giám Mục Saigon hay Hanoi, rồi có thể là Hồng Y? Tôi không ngờ vị đó lại là GM Nguyễn văn Khảm.

Cho đến giờ này, có thể tất cả trong và ngoài nước, ai cũng biết GM Khảm ca tụng cs như thế nào rồi. Ông đã mượn bài Phúc Âm ngày lễ kính Chúa Giêsu Vua nói về thời cánh chung đê so sánh với cái thiên đàng địa giới của cs mà ông tổ Marx đã đề ra để mê hoặc con người. Gm Khảm đã đồng hóa đạo Công Giáo với thuyết cộng sản một cách bừa bãi.

KHÔNG PHẢI TRỪU TƯỢNG NHƯ KIỂU GIÁM MỤC KHẢM NÓI

Ngày Cánh Chung là ngày phán xét sau cùng của Chúa để xét sử, phân biệt giũa người lành và kẻ dữ. Người lành là những người trong cuộc sống ở trần gian đã ăn ngay ở lành, lấy tình yêu thương đối xử với nhau, không ăn gian nói dối, không hận thù oán ghét, không cướp của giết người và bóc lột nhau. Kẻ dữ là những kẻ vô đạo đức, có những hành động không giống người lành, nghĩa là họ chuyên môn ăn gian nói dỗi, có nói thành không, không thành có, dùng hận thù ganh ghét làm ân oán, cướp của giết người không nương tay, miễn sao được việc cho mình. Chúa sẽ thưởng phúc thiên đàng cho người ngay lành và phạt xuống địa ngục khốn khổ đời đời những kẻ gian ác. Như vậy quả là công bằng và hợp lý chẳng có gì là trừu tượng như Gm Khảm đã mập mờ phê phán.

MARX MỚI THỰC LÀ KHÔNG TƯỞNG

Ngược lại, Gm Khảm đã bạo gan so sánh ngày cánh chung của Chúa với thiên đàng địa giới của Marx. Ông ca tụng Marx là thực tế, cái thực tế chết người mà cả thế kỷ nay đã có bao nhiêu triệu con người phải chết đi mà chưa thấy một mảy may gì là thực tế, đến nỗi ngay chính địa danh tổ của cs là Nga Sô Viết, Đông Âu, những nước cs anh em đều đã trà đạp và từ bỏ nó, ngoại trừ Trung cộng và VN vẫn cố bám lấy để tiếp tục ru ngủ dân chúng hầu cướp đoạt tài sản của dân của nước, chia nhau miếng đỉnh chung bất kể nỗi khốn khổ cơ cực nghèo đói của dân lành cho đến khi nào không thể tiếp tục giữ được nữa mới chịu nhả ra..

Gm Khảm đã nhắc lại cái bánh vẽ mà Marx đã đưa ra. Ông rất khôn khéo, có tài ngụỵ biện, phủ dụ người nghe, giáo dân là triết thuyết nào, tôn giáo nào, cũng có cánh chung luận, nhưng nơi nào đưa ra được một cánh chung luận hấp dẫn, thực tế mới thuyết phục được lòng người. Rồi ông lấy ngay thí dụ của XHCN VN với chủ thuyết Marx và cho rằng nó có một cánh chung luận rất hấp dẫn và cụ thể, không phải là vô thần, một xã hội hoàn hảo trong đó:

-Không còn cảnh người bóc lột người
-Mỗi người trong anh chị em và tôi chỉ cần làm việc theo khả năng, còn nhu cầu có bao nhiêu cứ việc sài.
-Người ta sống với nhau trong tình huynh đệ, một thiên đàng dịa giới.

Không biết Gm Khảm được huấn luyện về Marx ở đâu mà đã trở thành Marx hơn cả Marx, cs hơn cả cs. Trước tiên ông trích lời Marx cũng sai. Nói là sai, nhưng có lẽ ông cố ý nói trại đi một tý để người nghe dễ lọt tai hơn chăng? Marx nói “Mọi người làm việc theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu”, nhưng ông lại nói: “…Nhu cầu có bao nhiêu cứ việc sài. Chắc quí vị nhận ra sự khác biệt giữa câu nói của Marx và lời trích của Gm Khảm. “Hưởng thu theo nhu cầu” hẳn phải khác với “Nhu cầu có bao nhiêu cứ việc sài”. Bao che cho cs hay đến thế là cùng. Hưởng thụ kiểu đó thì đâu còn là công bằng nhỉ? Đó là lý do tôi nói Gm Khảm ma lanh mánh khóe hơn cả cs. Còn nói không còn cảnh người bóc lột người thì thực tế cho thấy tại những nước cs, tại TQ và VN hiện nay cảnh người bóc lột người còn tàn tệ và kinh khủng hơn cả thời phong kiến thực dân nữa ai chẳng biết. Gm Khảm quả là bạo phổi thật.

Một sai lầm nữa là Gm Khảm đã cố tình so sánh bừa bãi thời cánh chung của Chúa vời thiên dàng địa giới của Marx. Sau ngày cánh chung là đời sau của con người sau khi chết, còn thiên đàng địa giới của Marx là cuộc sống trên trần thế khi cách mạng của cs, của Marx đã thàng công. Chúng ta thử chờ xem đến bao giờ mới có thiên đàng địa giới như Marx đã vẽ ra.

Gm Khảm có biết rằng để có ngày cánh chung tốt đẹp, Chúa và Marx đã dạy chúng ta thế nào không? Có lẽ ông biết rõ Chúa đã dạy những gì, nhưng ông lờ đi để chỉ ca tụng Marx với mục đích riêng tư của ông.

CĂN BẢN ĐẠO CHÚA LÀ TÌNH YÊU

Chúa Giêsu giáng trần làm người phàm như chúng ta là để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, để có ngày cánh chung tốt cho mọi người. Ngài lấy tình yêu thương làm căn bản của đạo. Hai chữ TÌNH YÊU được chính Chúa thể hiện qua cái chết của ngài trên thập giá. “Yêu cho đến chết”. Một quá trình giảng huấn của Chúa Giêsu trong 30 năm trời chỉ tóm gọn lại hai chữ Yêu Thương. Tất cả moị người không phân biệt giàu nghèo sang hèn đều như nhau, là anh em một nhà, cùng một cha chung ở trên trời ( ) Anh em hãy yêu thương nhau như yêu thương chính mình vậy (Mat,22: 39). Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói quá sâu sắc và ý nghĩa về hai chữ Tình Yêu rồi tưởng Gm Khảm cũng đã biết.

THIÊN ĐÀNG ĐỊA GIỚI CỦA CS / MARX

ĐẶT CĂN BẢN TRÊN BẠO ĐỘNG, HẬN THÙ, ĐẤU TRANH GIAI CẤP.

Vây mà GM Khảm lơ đi để ca tụng Cánh chung luận của Marx / thiên đàng địa giới

của cs. Ai cũng biết Marx chủ trương đấu tranh giai cấp, ân oán hận thù làm căn bản, đường lối thực hành để đi tới thiên đàng địa giới không cần biết việc đó tốt hay xấu. Phương Châm “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” của người cs đã bị thế giới, nhất là những nhà đạo đức và Giáo Hội CG cực lực phản đối. Cả hàng triêu triệu người chết dưới bàn tay cs từ ngày chủ thuyết cs xâm nhập và được thi hành ở Nga Sô Viết, Đông Âu và tất cả các nước cs trên thê giới, ngay cả cho đến giờ này ở TQ và VN vẫn còn tràn ngập chết chóc oán hận và tù ngục. Đọc lại những câu thơ mới đây dưới thời cs mà lòng vẫn cảm thấy rùng rợn:

Bước đi trên hè phố

Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ (Trần Dần)

Hoặc: Giết, giết, giết..…

Cho đồng cỏ xanh tươi! ( Huy Cận )

Đạo Chúa, đạo của Gm Khảm có bao giờ chủ trương “Giết, Giết.., đấu tranh giai cấp, oán ghét hận thù như vậy đâu mà ông ca tụng những người nằm xuống để có được cái gì để lại cho hậu thế, một cánh chung, môt thiên đàng địa giới của cs. Lừa bịp. Đọc suốt 4 Phúc Âm Thư, Công Vụ Tông Đồ, Sách Khải Huyền chưa hề thấy có một chữ nào nói hoặc cổ võ cho chém giết hận thù như vậy. Trái lại Chúa còn dạy “Nếu ai tát anh má này hãy đưa má kia cho họ” hay “Thầy không biểu tha thứ bảy lần, mà là bảy mươi bày lần” (Mat.18:22). Gm Khảm lại cho rằng thiên đàng địa giới của Marx thực tế hơn cả canh chung của Chúa, “không còn cảnh người bóc lột người” thì quả là bạo gan thiật. Nhìn vào VN hiện giờ thì ai bóc lột ai? Gm Khảm đã nguỵ biện, dùng duy vật biện chứng để chối bỏ học thuyết công giáo, ca tụng cs!

MARX LÀ BẤT CÔNG NHẤT

Đến đây vẫn chưa đủ, Gm Khảm còn công khai nói lên toàn bộ cái mà cs đế cao thiên đàng địa giới là :

Không còn cảnh người bóc lột người

Moị người làm việc theo khả năng, còn nhu cầu có bao nhiêu thì sài

Mọi người sống chung thương yêu nhau….

Đọc thì thấy hay lắm, đẹp lắm, nhưng :

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào….(Kiều)

Chúng tôi nghe những điều này khi ở trong nhà tù cải tạo chỉ biết bụm miệng không dám cười ra tiếng. Người cs biết suy nghĩ, có chút đỉnh lương tâm cũng phải nói thầm trong bụng: Thằng cha này tối dạ quá, đến giờ này mà vẫn chưa sáng mắt tỉnh ngộ. Có nịnh thì cũng vừa vừa thôi chứ. Có thật không còn cảnh người bóc lột người không, khi mà xã hội VN hiện nay, cái cảnh người bóc lột người còn lộ liễu tàn ác và lan tràn hơn bao giờ hết. Cán bộ nhà nước, các ông lớn chiếm đoạt tài sản, ruộng vường của dân là hiển nhiên và công khai. Tham nhũng hối lộ là chuyện bình thường không dấu diếm. Làn sóng người từ Nam chí Bắc lũ lượt vể Saigon, Hanội khiếu kiện suốt năm này tháng nọ mà nhà nước đâu thèm giải quyết. Chiếm đoạt tài sản của tôn giáo, của giáo hội CG như tòa khâm sứ, dòng chúa cứu thế Thái Hà ở Hanội v.v…làm chốn ăn chơi, thương mại, bè phái chia chác nhau làm của riêng vẫn hiển nhiên hiện đang xẩy ra. Có thật mọi người sống với nhau yêu thương tình huynh đệ không Gm Khảm ? Chắc chắn chẳng ai công nhận có tình trạng « dễ thương » đó ở nước CHXHCN-VN hiện giờ. Máu vẫn đổ, người chết oan uổng vẫn thường xuyên xẩy ra ở VN hiện nay. Công an đánh người chết tỉnh bơ chỉ vì tội rất bình thường là phạm luật giao thông, đả thương giáo dân đốt nến đòi hỏi công lý và sự thật, tranh đấu cho tự do tôn giáo một cách ôn hòa ở Thái Hà, Đồng Chiêm, ……vẫn còn rõ ràng như vừa xẩy ra hôm nay. Bắt người bỏ tù vô cớ như cơm bữa. Gm Khảm có nhìn thấy những hiện tượng đó không ? hay chỉ ngồi trong tháp ngà nghe những ông chính ủy giảng thuyết cho nhuần nhuyễn lý thuyết cũ rích của cs không một chút thực tế. Nếu bố mẹ, anh em bà con của Gm Khảm có ai chạy trốn cs từ Bắc vào Nam năm 1954, rồi liều chết chạy ra hải ngoại tỵ nạn chính trị từ 1975 thì hãy hỏi họ tại sao họ lại chạy trốn cs, bỏ lại cái thiên đàng cs mà giám mục đang ca tụng xem họ trả lời ra sao?

Có thât là làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu không ? Hoàn toàn là xạo, bịp và không tưởng. Tại sao giám mục Khảm lại ngồi mát ăn bát vàng sung sướng trong toà giám mục ở Saigòn, muốn nói gì thì nòi, muốn ăn gì thì phán trong khi các linh mục ở xứ xa xôi hẻo lánh nơi truyền giáo như ở Kontum, Ban mê Thuật…thì sống kham khổ, cơ cực, không được nói, không được ăn, không được hành đạo theo ý mình ? Họ cũng có nhu cầu như Gm Khảm vậy, có khi còn hơn nữa vì nhu cầu Chúa đòi hỏi.

Cho rằng có như vậy đi nữa thì cũng là lỗi phép công bằng . Ngụ ngôn nén bạc mà chúng ta mới nghe trong ngày Chúa Nhật gần đây nói lên sự công bằng. Làm nhiều thì hưởng hiều, làm ìt thì hưởng ìt, không làm thì không được hưởng, có khi còn bị phạt nữa (Mat.25 : 14-30). Không thể cào bằng như kiểu cs làm cho người giàu thành nghèo, hoặc Giáo hội CG miền Bắc từ xưa vẫn kiên trì với Chúa và Giáo Hội chống lại bất công của bạo quyền vô thần cs thì phải được cào bằng với GH miền Nam để cùng cúi đầu vâng phục bạo quyền chống Chúa lừa GH như trong bài giảng của Gm Khảm giảng cho các linh mục và tu sĩ của giáo đoàn Hanội mới đây trong dịp cấm phòng hàng năm với sự đồng lõa của TGM Nguyễn văn Nhơn. Té ra quí vị lợi dụng tòa giảng, lời Chúa, việc nuôi dưỡng đời sống tâm linh của giaó si, giáo dân để ca tụng cs, lôi cuốn những người không đồng ý với mình về với cs.

KẾT LUẬN :

Quá lắm rồi. Nhắc lại, tôi tính không viết nữa như đã ngồi yên từ lâu, nhưng nay cảm thấy không thể cứ thụ đông như vậy được nữa nên phải lên tiếng, mặc dù sẽ có vị cho là « chửi cha mắng chúa » thì cũng chịu. Nếu có thực như ý gán ghép của những người nào đó vì không ưa thì cũng chỉ là chửi các « cha », tức những linh mục, giám mục hay hồng y đi theo cs thôi chứ không dám đụng đến Đức Giáo Hoàng, còn « Chúa » là Thiên Chúa thì nhất quyết và tuyệt đối là không bao giờ, mà chỉ do thiên hạ đổ vạ cho thôi. Chúa và những vị hiểu lòng chúng tôi chắc không trách mà có thể còn thầm khen trong bụng và khuyến khích. Xin hết lòng cám ơn. Nhưng với bài giảng của Gm Nguyễn văn Khảm thì thực sự ông đã chửi Cha tức là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, người đã viết thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu và phê phán rất gắt gao những kẻ chủ trương chủ nghĩa thực dụng, những kẻ đầy tớ của Chúa là những con chó câm không biết sủa khi sói lang đến ăn thịt đoàn chiên của mình, nhưng ngược lại, lại đồng thanh cùng với tiếng sủa của sói, sủa inh ỏi để ca tụng rước sói vào nhà. Mắng Chúa phải chăng là chối Chúa, vì vô hình chung Gm Khảm đã đồng ý với Marx chấp nhận oán thù, đấu tranh giai cấp…trái ngược với lời Chúa truyền dạy là « Hãy Yêu Thương Nhau Như Anh Em », ca tụng kẻ chủ trương Tam Vô : Vô gia đình, vô tổ quốc và nhất là Vô Tôn Giáo. Cs rõ ràng chủ trương, không chấp nhận có tôn giáo, không có Chúa là đấng linh thiêng, không có linh hồn. Vậy mà Gm Khảm dám công khai bào chữa, vỗ vào mặt Chúa nói cs không vô thần. Đó chẳng phải là mắng Chúa hay sao.

Không biết phải nói Nguyễn văn Khảm là giám mục của Chúa hay của cộng sản ?

Fleming Island , Florida

Dec 12, 2011

NTC

 

Cánh chung luận là gì?

 L.m. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.

"Đó là một sự mạo nhận không mấy lương thiện, một sự gán ghép giả tạo, vì “Mác-xít là một hệ tư tưởng vô thần cho nên không có cánh chung luận”. Đúng như thế, chứ không phải ngược lại."

Cụm từ này khó hiểu vì không có trong từ điển và trong đời thường. Trong tự điển, chỉ thấy những từ như chung kết, chung cục, chứ không thấy cánh chung. Còn trong đời thường, chỉ thấy nói đến cánh chim, cánh cửa, cánh kiến, cánh nhạn v.v…, chứ không thấy nói đến cánh chung, sở dĩ như vậy vì từ cánh chung mới xuật hiện vài chục năm nay thôi, khi linh mục Nguyễn Thế Thuấn nói đến “nhỡn giới cánh chung” ở trang 560 trong bản dịch Kinh thánh của mình. Đàng khác, cánh chung là một cái gì rất xa lạ đối với đời thường của dân chúng.

Khi muốn dịch từ eschaton ƐσχαƮoν (những sự sau) trong Kinh thánh và eschatos logos ƐσχαƮoς λογος (lời về sự sau) trong thần học, nhiều người không biết dùng từ nào, nên mượn từ cánh chung của linh mục Thuấn cho tiện. Từ đó dần dần cánh chung trở thành chữ phổ thông trong sách báo công giáo.

Vậy chính ra, cánh chung là gì và cánh chung luận là thế nào? Theo nguyên ngữ Hy lạp eschaton là những sự sau và eschatos logos là lời về những sự sau. Eschatos logos trở thành eschatology trong tiếng Anh và eschatologie trong tiếng Pháp. Đây là môn học về những sự sau, gọi là tứ chung hay bốn sự sau, tức sự sống, sự chết, thiên đàng, hỏa ngục trong khoa thần học công giáo mà hiện nay người ta nói cách văn vẻ là cánh chung luận.

Sự sống, sự chết, thiên đàng, hỏa ngục là nội dung được bàn đến trong cánh chung luận. Đây là những tín điều người công giáo phải tuyên xưng trong các Chúa nhật và các ngày lễ trọng. Họ buộc phải tin rằng khi chết rồi, mỗi người phải ra trước tòa Chúa để bị phán xét về các việc mình làm khi còn sống. Nếu ăn ngay ờ lành thì được thưởng. Nếu ăn ở bất nhân thì bị phạt. Người lành được thưởng trên thiên đàng còn kẻ dữ bị phạt sa hỏa ngục. Bài Tin Mừng trong lễ Chúa Giê-su Vua vũ trụ cho thấy cảnh tượng đó đối với những người ăn ngay ở lành:

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng, Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” (Mt 25,34-36)

Còn đối với những kẻ bất nhân :

“Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỉ và các sứ thần của nó. vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.” (Mt. 25, 41-43)

Ngày cánh chung là ngày cuối cùng, ngày chu kỳ lịch sử loài người hoàn tất, ngày Chúa ngự giá mây trời mà đến trong tư thế lẫm liệt uy hùng, để phán xét người sống và kẻ chết.

Qua những lời Chúa phán trong ngày phán xét chung, những người được ân thưởng là những người làm những việc từ thiện bác ái. Những người này không phải là những người chỉ biết sống cho riêng mình mà là những người có các mối liên hệ với xã hội, với con người. Các Ki-tô hữu được thánh Phê-rô và thánh Phao-lô dạy rằng quê hương của họ ở trên trời: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20) và họ ở trần gian này như lữ khách : “Anh em thân mến, anh em là khách lạ và lữ hành, tôi khuyên anh em hãy tránh xa những đam mê xác thịt vốn gây chiến với linh hồn”. (1 Pr 2,11)

Quê trời là đích điểm cùa những người tin Chúa. Vì thế, cánh chung phải là ngày các Ki-tô hữu nhắm tới. Vì ngày đó mà họ cố sống theo lời Chúa dạy, khi còn ở trần gian này.

Quê hương Ki-tô hữu ở trên trời và họ ở trần gian này như những lữ khách, nhưng không phải vì thế mà họ xa lạ với trần gian. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng cũng như học thuyết xã hội của Hội thánh luôn đặt Ki-tô hữu trước những bổn phận đối với trần gian theo cái nhìn của đức tin. Phải góp phần vào việc xây dựng xã hội trần gian để đem ơn cứu độ của Chúa cho xã hội đó.

Căn cứ vào nội dung môn cánh chung luận trong thần học công giáo thì không một triết thuyết hay chủ nghĩa nào có thể mang danh hiệu là cánh chung luận, vì triết thuyết hay chủ nghĩa đó không nhìn nhận Thiên Chúa là Chủ tể càn khôn và cùng đích của loài người, Đấng thưởng người lành và phạt kẻ dữ trong ngày chung thẩm. Vì vậy, nói rằng :

ĐGM phụ tá Sài Gòn Phero Nguyễn Văn Khảm

“Bất cứ một tôn giáo nào cũng hàm chứa bên trong một cánh chung luận, triết thuyết nào có khả năng cung cấp cho con người một cánh chung luận hấp dẫn, cũng có nghĩa là cung cấp một niềm hy vọng có sức thuyết phục thì triết thuyết đó cuốn hút con người. Tôi lấy một cái thí dụ, ta đang sống rất là cụ thể trong một đất nước xã hội chủ nghĩa, dựa trên cái nền tảng triết học của Marx. Thế thì có nhiều người có thể nghĩ Mác xít vốn là một hệ tư tưởng vô thần cho nên là không có cánh chung luận. Không phải thế, trái lại nó có một cánh chung luận rất là hấp dẫn, rất là cụ thể, nó đã trình bày cái điểm tới của lịch sử nhân loại, là một xã hội cộng sản hoàn hảo trong đó: không còn cảnh người bóc lột người, mà mỗi một người trong anh chị em và tôi chỉ cần làm việc theo khả năng còn nhu cầu có bao nhiêu là cứ việc xài. Người ta sống với nhau trong tình huynh đệ, một thiên đàng tại thế, và khi mà có cái điểm tới của lịch sử cả nhân loại như thế, thì mỗi cá nhân trong lịch sử đó khám phá ra cái ý nghĩa của một sư hy sinh mình chịu. Tôi chết đi nhưng sư nghiệp của tôi vẫn còn tồn tại mãi trong nhân dân. Tôi hy sinh nhưng mà sự hy sinh đấy không vô nghĩa, bởi vì nó xây dựng cho thế hệ tương lai, xây dựng cho nhân dân, Trong cái cánh chung luận rất là cụ thể và hấp dẫn và chính vì thế nó đã cuốn hút cả triệu con người chấp nhận bao nhiêu hy sinh để xây dựng tương lai, cho nên có chứ không phải không đâu…” (Ngưng trích bài giảng về lễ Chúa Giê-su Vua vũ trụ ngày 20.11.2011 đọc thấy trên mạng NVCL của ĐC Phê-rô Nguyễn Khảm)).

thì đó là một sự mạo nhận không mấy lương thiện, một sự gán ghép giả tạo, vì “Mác-xít là một hệ tư tưởng vô thần cho nên không có cánh chung luận”. Đúng như thế, chứ không phải ngược lại.

Thuyết Mác-xít có chăng thì chỉ là một cái bánh vẽ, một sự mơ tưởng hão huyền về một tương lai tốt đẹp cho con người, một sự ru ngủ những người cả tin vào những lời đường mật của những kẻ khéo nói có tài che đậy, để lường gạt thiên hạ mà thôi. Cứ nhìn xem những gì đã xẩy ra hay còn đang xẩy ra tại những nước áp dụng chủ nghĩa Mác-xít mà Cuốn sách đen về chủ nghĩa Cộng sản, là đủ thấy.

L.m. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.

Thắp nến cùng Đức cha Long

Quỳnh Hương

Cho đến nay đã có ít là 3 buổi thắp nến trên nước Úc để cầu nguyện cho Thái Hà, cho 15 thanh niên công giáo vừa bị bắt, và cho cả giáo hội Công giáo Việt Nam. Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất có lẽ vẫn là buổi đầu tiên tại Melbourne. Giữa mưa gió ướt át của buổi chiều ngày 19 tháng 11 năm 2011 những ngọn nến đã thắp lên cùng Thái Hà trước tiền đình Quốc Hội Tiểu bang Victoria. Trước các vị dân biểu Úc cùng đông đảo đồng bào đến tham dự, Đức cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long, giám mục phụ tá Tổng giáo phận Melbourne đã bắt đầu bài phát biểu của ngài như sau: “Hôm nay, chúng ta, những người quan tâm đến tình hình đất nước và đặc biệt là tại Giáo Xứ Thái Hà, đến đây để bày tỏ sự liên đới của chúng ta với đồng bào quốc nội và nhất là những người đang tranh đấu cho tự do, công lý và những giá trị nhân bản đang bị một chính phủ độc tài đảng trị chà đạp coi thường. Nhân danh ban tổ chức, tôi xin chào đón và cảm ơn quý vị, Công Giáo cũng như không Công Giáo, các đoàn thể tổ chức, cũng như mọi người đến đây không những vì một Thái Hà hay một tôn giáo mà vì tương lai cho cả một dân tộc và vì tiền đồ cho cả một Tổ Quốc.”
Bài phát biểu của ngài đã đem đến niềm vui và nỗi xúc động cho nhiều người Việt Nam. Nhiều giáo dân đã bày tỏ niềm hân hoan vì cho rằng những lên tiếng từ các linh mục ở ngoại quốc vẫn còn rất giới hạn trước tình trạng đàn áp các giáo dân trong nước ngày càng gia tăng. Như mới đây, tại giáo phận Con Cuông nhà cầm quyền đã dùng loa, đá và cả hơi cay tấn công các linh mục, giáo dân đang dâng Thánh lễ, đọc kinh tại Nhà nguyện. Và lúc 2 giờ sáng ném bom vào nhà nguyện nổ sập một góc nhà. Tại xã Bình Lộc (thuộc giáo xứ Mỹ Lộc) chỉ vì giáo dân phản đối việc nhà nước lấn chiếm một con mương mà nhà cầm quyền đã ra tay đàn áp họ một cách dã man. Hơn một chục người đã bị thương, 8 người phải nhập viện để cấp cứu, 3 người bị thương nặng! Những giáo dân đi chợ bị đánh đập, hàng quán của họ bị đập nát. Thêm vào đó, ban đêm nhà cửa họ bị ném đá, tinh thần họ bị khủng bố. Trong lá thư gởi từ giáo xứ Mỹ Lộc những câu cuối là lời than phẫn uất: “… giáo dân Mỹ Lộc vẫn cô đơn, vô vọng trong đau thương của máu và nước mắt”.
Đứng trước vấn nạn của các giáo xứ nói riêng và của đất nước nói chung, Thái Hà không là biệt lệ. Tuy nhiên Thái Hà đã đối mặt với bạo quyền Hà Nội một cách bình tĩnh, chấp nhận mọi hệ quả vì sự thật và công lý. Thái Hà đã không chỉ dâng thánh lễ thắp nến cầu nguyện cho các giáo xứ, mà còn dâng lễ cầu nguyện cho những người yêu nước gặp nạn như tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, Luật sư Lê Quốc Quân, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn … dù họ có là con chiên của Chúa hay không. Đức cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long đã nhắc đến cuộc đối đầu với bạo lực của những con người chỉ có tay không và lòng nhân ái tại Thái Hà như một biểu tượng của “chí khí anh dũng của dân tộc ta”. Và ngài còn cho rằng: “sau những biến cố ở Toà Khâm Sứ, Đồng Chiêm hay Cồn Dầu, Thái Hà là thành lũy cuối cùng của lòng kiên cường có tổ chức. Đối với một chính phủ độc tài, không gì đáng sợ cho họ hơn là ý chí bất khuất có tổ chức.”
Và như ngài nói: “Chúng ta hiểu tại sao chính quyền cộng sản Việt Nam lại quyết tâm triệt hạ Thái Hà cho bằng được, họ đã dùng những thủ đoạn hạ cấp nhất để đạt mục tiêu đó. Ngày 3 tháng 11 mới đây, họ đã cho hơn 100 du đãng và côn đồ đến để nhục mạ, đe doạ tính mạng các linh mục, giáo dân. Sau đó những người này còn dùng búa lớn để đập phá khu vực thờ phượng linh thiêng. Thế mà, ở nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà nước còn “vừa ăn cướp vừa la làng” qua các phương tiện truyền thông của họ. Thử hỏi một tập đoàn lãnh đạo như thế thì sẽ đưa đất nước chúng ta đi về đâu? Thật trớ trêu, khi đất nước chúng ta đứng trước bao thử thách, từ thành thị đến thôn quê, từ Nam Quan tới mũi Cà Mâu, từ đất liền đến hải đảo, thì những người lãnh đạo lại đối xử với đồng bào một cách dã tâm như vậy.” Đức cha Long đã sót sa so sánh nghịch cảnh ấy như một con tầu lửa đang lao xuống vực thẳm mà người điểu khiển con tầu lại sách nhiễu hành khách thay vì cứu nguy cho cả tầu!
Chưa đầy một tháng sau đêm thắp nến cho Thái Hà, ngày mùng 2 tháng 12 người Việt khắp nơi đã rất tức giận và đau lòng khi nhìn thấy cảnh công an bắt bớ các linh mục, đánh đập tàn nhẫn các giáo dân Thái Hà giữa đường phố Hà Nội. Những thách thức dành cho Thái Hà không còn là những thách thức riêng của một giáo xứ, của một tôn giáo, bởi vì Thái Hà đang là một biểu tượng của những con người Việt Nam chấp nhận trả giá cho quê hương, cho đồng bào mình. Là người Việt Nam, công giáo hay không công giáo chúng ta biết ơn và hãnh diện vì Thái Hà. Đức cha Long đã bày tỏ tâm tình của ông: “ Tôi là giám mục Công Giáo, nhưng tôi vẫn mang dòng máu Việt Nam và không thể không thao thức trước một thực tế quá bi quan về hiện trạng đất nước. Nhưng con đường dẫn đến tương lai tươi sáng cho quê hương là con đuờng dài và chúng ta là những viên gạch lót đường.”
Đức Cha cũng nhắc lại lời bà Aung San Suu Kyi rằng bất cứ cuộc tranh đấu nào không thể rơi từ trời xuống hay một người nào đó ban cho ta, chính chúng ta phải tranh đấu lấy. Và Đức cha khẳng định rằng tranh đấu cho một tương lai tươi sáng cho Việt Nam là bổn phận và trách nhiệm của những người mang dòng máu Việt Nam. “Thiết nghĩ, đây cũng là cơ hội để người Việt chúng ta tại hải ngoại đồng tâm nhất trí với nhau trong cùng một mục đích chung, không phân biệt tôn giáo, khuynh hướng chính trị; không phân biệt Bắc, Trung hay Nam; thậm chí không phân biệt là công dân Úc hay còn là công dân Việt Nam. Mục đích chung đó là gì, là một Việt Nam tự do, công bằng, văn minh.”
Điều cuối, Đức cha kêu gọi rằng tổ quốc chúng ta đang lâm nguy, bóng đêm của sự độc tài gian ác đang bao phủ trên quê hương. Nhưng nếu chúng ta đều đồng lòng đốt lên một ngọn nến thì bóng đêm đó sẽ phải tan biến. Hãy cùng nhau tiếp sức cho Thái Hà “Khi hồi chuông Thái Hà vang lên, người giáo dân đã tới để cứu nguy cho giáo xứ. Hôm nay, chúng ta, những người con của Tổ Quốc ở hải ngoại hay ở trong nước cùng nghe tiếng chuông Thái Hà báo động tổ quốc lâm nguy. Chúng ta hãy cùng nhau giải cứu Việt Nam thân yêu đang đứng trước vực thẳm của sự băng hoại hoàn toàn. Tiếng chuông Thái Hà sẽ là tiếng chuông báo hiệu cái chết của chủ nghĩa cộng sản lỗi thời và sự quang phục của quê hương.”
Chắc chắn không chỉ Thái Hà mà còn rất nhiều người công giáo và không công giáo cũng đang lắng nghe nhịp tim của Đức cha, nhịp tim của một người Việt Nam đang đồng hành: “Đất nước Việt Nam muôn năm, dân tộc Việt Nam muôn năm”. Phải chăng chính vì niềm tin này, tiền nhân đã đổ bao công lao và xương máu để gìn giữ và gởi trao đất nước lại cho con dân Việt. Và trải bao can qua, không ít lần, niềm tin ấy đã được lập lại, được gởi lại cũng bằng chính câu nói ấy, như một lời nhắn nhủ cuối cùng.
Truyền thống đoàn kết đùm bọc lẫn nhau trong đức tin để đi qua những giai đoạn khó khăn là truyền thống và sức mạnh của người công giáo Việt Nam. Là một Phật tử, tôi cũng xin được cùng Đức cha Vinh Sơn Nguyễn văn Long thắp một ngọn nến cho Thái Hà; hiệp thông với tinh thần bất khuất của dân tộc Việt để sớm chấm dứt nghiệp dữ của những kẻ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau trên quê hương tôi.


                                      


Lá Thư ngỏ gởi các Linh mục, Tu sĩ và Cộng đồng Dân Chúa hải ngoại

Kính thưa qúy Đức Ông, Linh Mục, Tu Sĩ và anh chị em tín hữu,
Trong tuần vừa qua từ ngày 28 tháng 11 đến ngày 2 tháng 12, ba anh em chúng tôi là Dominic Mai Thanh Lương, Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Orange, Hoa Kỳ, Vincent Nguyễn Mạnh Hiếu, Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Toronto, Canada và Vincent Nguyễn Văn Long, Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Melbourne, Australia, đã có dịp gặp gỡ và chia sẻ những kinh nghiệm mục vụ cũng như những thao thức của các Cộng Đồng Dân Chúa nơi chúng tôi đang sống và làm việc. Chúng tôi cũng có dịp lắng nghe những quan tâm, ưu tư của các linh mục, tu sĩ và giáo dân qua những cuộc đối thoại trong tinh thần đoàn kết và xây dựng. Mặc dù đây chỉ là buổi gặp gỡ hữu nghị, chúng tôi nhận thấy cũng cần chia sẻ với anh chị em một số điều như sau:
1. Chúng tôi chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa đã thương dìu dắt khối người Việt Công Giáo hải ngoại. Sau những năm tháng nhiều đau thương, vất vả và khốn khổ, chúng ta đã ổn định và trở thành một trong những phần tử năng động nhất trong các Giáo Hội địa phưong, nơi chúng ta sinh sống. Lực lượng các linh mục, tu sĩ, giáo dân đông đảo và nhất là đời sống đạo nhiệt thành đã làm rạng rỡ cho truyền thống và di sản đức tin mà các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã đổ máu đào minh chứng.
2. Chúng tôi cũng cảm tạ Thiên Chúa vì tấm gương trung kiên anh dũng của Đức Cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận. Quá trình phong thánh đã được xúc tiến cho vị “Tôi Tớ Chúa” này với nhiều cuộc lắng nghe các nhân chứng ở nhiều nơi trên thế giới. Chúng tôi kêu gọi anh chị em tiếp tục cầu nguyện và hợp tác khi có thể, ngõ hầu Ngài sớm được tôn phong vào hàng hiển thánh, làm vinh danh Giáo Hội và dân tộc Việt Nam.
3. Chúng tôi cảm thấy cần phát huy tinh thần đoàn kết và liên đới trong các thành phần Dân Chúa, hầu tạo sức mạnh và hữu hiệu hóa các sinh hoạt của chúng ta từ trong các giáo đoàn đến giáo phận, quốc gia và quốc tế. Chúng tôi rất hoan nghênh và khuyến khích các sinh hoạt nhằm tạo tình liên đới, giúp nhau thăng tiến trong công việc mục vụ và sống đạo.
4. Chúng tôi cũng nhận thấy cần đáp ứng với các nhu cầu mới trong hoàn cảnh mục vụ mới: các anh em linh mục tu sĩ thế hệ trẻ, giới trẻ thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba tại hải ngoại, các cháu thiếu nhi… Nỗi ưu tư chung của chúng ta là làm sao duy trì gia sản đức tin và văn hóa đặc thù Việt Nam cho các thế hệ nối tiếp trong môi trường tục hóa đang đe dọa đến đời sống siêu nhiên của người tín hữu.
5. Sau cùng, chúng tôi biểu lộ sự liên đới với Giáo Hội quê mẹ Việt Nam trong cuộc hành trình tiến về tương lai tươi sáng hơn cho Giáo Hội và cho đất nước. Nhất là, chúng tôi đặc biệt biểu tỏ sự liên đới với giáo xứ Thái Hà hiện đang chịu nhiều thử thách trong khi đòi hỏi những điều chính đáng. Chúng tôi kêu gọi nhà cầm quyền hãy tôn trọng tự do tôn giáo và nhân quyền, để người dân được sống đúng với nhân phẩm theo hiến chư ơng của Liên Hiệp Quốc và có đủ điều kiện để phát huy một đất nước thật sự tự do, độc lập và thịnh vượng.
Chúng tôi cảm tạ Thiên Chúa đã quan phòng cho chúng tôi có cơ hội gặp gỡ, chia sẻ và lắng nghe. Chúng tôi cũng nhận ra sự hạn hẹp trong cuộc gặp gỡ lần đầu tiên này trước nhiều kỳ vọng của nhiều tổ chức, đoàn thể cũng như cá nhân trong khối người Việt Công Giáo hải ngoại. Ước mong của chúng tôi là tiếp tục lắng nghe và cầu nguyen để dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, chúng tôi sẽ phục vụ anh chị em một cách hữu hiệu hơn và mang lại nhiều lợi ích cho Giáo Hội.
Trong Chúa Giêsu Kitô,
Các Đức Cha đồng ký tên
+Dominic Mai Thanh Lương 

+Vincent Nguyễn Mạnh Hiếu 

+Vincent Nguyễn Văn Long

Viết tại Trung Tâm Mục Vụ Việt Nam
Orange County, ngày 2 tháng 12 năm 2011

Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/94662.htm




MẤT NƯỚC, MẤT ĐẢNG

MẤT NƯỚC, MẤT ĐẢNG

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Trung Quốc muốn cải thiện bang giao với Mỹ nên đã phái Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đến Washington để chuẩn bị cho cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và TT Barack Obama vào tháng tới khi họ Hồ đến viếng thăm Mỹ. Nhưng xui xẻo làm sao, vào lúc họ Dương đến Mỹ, giữa chính phủ Mỹ và chính quyền Cộng sản Bắc Kinh lại xảy ra hai chuyện rắc rối lớn. Trước hết là vào dịp kỷ niệm 50 năm nổi dậy của dân chúng Tây Tạng đưa đến vụ đàn áp đẫm máu của Trung Cộng, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma phải chạy qua Ấn Độ. Vụ thứ hai nghiêm trọng hơn là 5 chiến hạm Trung Cộng vây chặn và hăm dọa một tàu Hải quân Mỹ trong vùng biển ở phía Nam đảo Hải Nam ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam, phía Tây quần đảo Hoàng Sa, tức bên trong hải phận Việt Nam nơi Bắc Kinh vẫn tự nhận là lãnh thổ và lãnh hải của họ.
Vụ đàn áp Tây Tạng đã khiến Bộ Ngoại giao Mỹ ngay từ tuần trước lên tiếng nhắc nhở Bắc Kinh rằng Mỹ vẫn quan tâm đến những vụ Trung Cộng vi phạm nhân quyền. Nhưng trước mắt vẫn là việc chiến hạm của Trung Cộng bao vây và hăm dọa chiếc tầu của Hải quân Mỹ. Tầu này, có tên là Impeccable vốn là tầu không võ trang. Mỹ nói tầu này chỉ có nhiệm vụ thăm dò các hoạt động của tầu ngầm dưới biển (ngụ ý của Trung Cộng) và quả quyết tầu Mỹ hoạt động trong vùng biển quốc tế. Còn Bắc Kinh cãi lại, nói đó là vùng biển của họ. Vậy tại sao tầu Mỹ dù không võ trang lại đến phía nơi gần Hoàng Sa để thăm dò? Các giới chức bộ Quốc phòng Mỹ nói vì vùng đó là nơi có tranh cãi về quyền hải phận nên Mỹ phải quan tâm và sẽ tiếp tục làm nữa, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh. Đến tuần này vẫn không có việc gì đáng tiếc xẩy ra, nhưng vụ cãi cọ gay go đã tạo ra một một đám mây u ám trước khi họ Hồ đến Mỹ. Xét ra muốn cải thiện bang giao với Mỹ cũng không phải chuyện dễ.
Ở đây chúng tôi muốn nhìn đến khía cạnh của Việt Nam vì đó hiển nhiên là hải phận của nước này. Vậy chế độ Cộng sản Hà nội nói sao? Năm xưa khi chỉ mới chiếm được mảnh đất miền Bắc, chính quyền Cộng sản chưa vững chắc, Phạm Văn Đồng đã ký công văn mặc nhiên nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của "người anh em phương Bắc". Nhưng về sau khi đã chiếm đươc cả miền Nam, Cộng sản Hà Nội đã "đổi mới" để mở cửa đón đô-la, bằng cách công khai nói các đảo nhỏ đó là của Việt Nam. Khi sự rắc rối về vụ tầu Impeccable của Mỹ xẩy ra tuần trước, theo tin đài BBC, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Hà nội tuyên bố: "Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hành động của các bên liên quan đến vụ này mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp lý". Phía Bắc Kinh, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, trong một cuộc họp báo thường kỳ tuyên bố: "Các đảo Hoàng Nham (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo này và và bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Câu này hiển nhiên ám chỉ lời tuyên bố của Hà Nội, kèm theo một sự hăm dọa trắng trợn.
Thế nhưng chính Bắc Kinh đã có một tham vọng quá lớn đi ngược lại luật lệ quốc tế về vùng biển. Với các nước ở ven biển ngoài lãnh hải thường lệ, các nước đó còn được hưởng một vùng kinh tế đặc biệt khai thác tài nguyên dưới biển, chạy dọc theo bờ biển với chiều rộng là 200 hải lý. Nếu nước nào có thềm lục địa xa hơn nữa, vùng khai thác tài nguyên cũng xa hơn. Tài nguyên ở đây là những mỏ dầu mỏ khí nằm ở dưới đáy biển. Có lẽ vì thế mà tầu Impeccable của Mỹ cần phải thăm dò khá kỹ hơn về khoản này và còn thăm dò nhiều nơi khác ở Nam Hải. Khi có "hơi hám vàng đen" ai mà chẳng mê, chờ đến lúc thấy rồi là tranh dành nhau và đánh nhau chí mạng. Mỹ phải đo lường trước để tránh hậu họa, sợ cũng giống như lò lửa ở như Trung Đông.
Hãy nhìn bản đồ do Bắc Kinh ấn hành, đường lãnh hải Trung Quốc tự nhận ở Nam Hải  bắt đầu từ dưới đảo Hải Nam chạm cả vào đường vạch của vùng kinh tế đặc biệt Việt Nam, từ đó kéo dài xuống phía Nam theo dọc đường hình chữ S của hải phận Việt Nam thu gọn nhóm đảo Hoàng Sa vào hải phận Trung Quốc, rồi chạy xuống đến gần Mã Lai Á, bao trùm cả nhóm đảo Trường Sa, kế đó chạy vòng lên bám sát hải phận Phi Luật Tân đến gần hải phận Đài Loan. Như vậy là tất cả miền Đông của Nam Hải đều thuộc Trung Quốc của mấy anh Tầu Cộng. Và họ còn cao ngạo nói "bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Nhưng người ta cũng nhìn thấy rõ lời tuyên bố của Bắc Kinh chỉ là lời của một phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, rõ rệt để chọi lại lời của Hà Nội cũng do phát ngôn nhân bộ Ngoại giao nói ra. Tóm lại đây chỉ là lời mấy anh Bắc Kinh dằn mặt mấy anh Hà Nội.
Trong c&aacut
e;c cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đã có câu loan truyền về tình hình rất thực tế mà mấy anh lãnh đạo CSVN đã lâm phải từ lâu. Đó là câu: "Đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng". Cố nhiên nếu đi với Mỹ, mấy anh lãnh đạo Cộng sản Việt Nam làm sao còn giữ được đảng. Một khi đã mở của rước tư bản vào nhà, đảng Cộng sản chỉ còn cái vỏ như cái thùng rỗng, đánh thì kêu lớn nhưng bên trong chẳng còn cái gì. Rồi đến khi dân trí lên cao, tuổi trẻ nhìn ra thế giới bên ngoài và đòi hỏi, cái thùng rỗng chẳng bao lâu sẽ bị liệng bỏ nốt. Nếu đi với Tầu thì mất nước, vậy còn giữ được đảng chăng? Hãy quên đi cái ảo tưởng đó.
Mất nước là vì nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa sẽ không còn, mà biến thành một chư hầu của Nhân dân Trung Quốc, y hệt các chư hầu của Liên Sô trước đây. Dù vậy vẫn còn đảng của mấy anh lãnh đạo Hà Nội chăng? Cái ảo tưởng này còn lớn hơn và nguy hiểm hơn nữa. Lúc đó đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn cái tên, thực tế nó sẽ là một chi bộ của Trung ương đảng Trung Cộng.

Còn các anh lãnh đạo đảng Cộng sản VN hiện nay, may lắm là được cho về hưu đuổi gà, nuôi heo, tiền của bị lột sạch băng, bọn bành trướng Bắc Kinh không quên thái độ của mấy đồng chí Việt Nam khi các đồng chí có quyền trong tay. Còn nếu không may, các đồng chí có thể còn mất cả chỗ đội nón. Bởi vậy chớ dại ôm lấy đảng mà bỏ nước.




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: TRÁCH NHIỆM LIÊN HIỆP QUỐC

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: TRÁCH NHIỆM LIÊN HIỆP QUỐC

Hội Ðồng Bảo An LHQ năm nay họp có một điểm đặc biệt. Ðó là cuộc họp Thượng đỉnh. Kể từ khi LHQ thành lập năm 1945, đây là lần thứ 5 HÐBA họp trên cấp tối cao như vậy. TT Obama là vị Tổng Thống Mỹ đầu tiên ngồi ghế chủ tọa cuộc họp này, ông đã tuyên bố “dự thảo nghị quyết đã được đồng thanh chấp thuận”. Từ tuần trước báo chí đã loan nội dung nghị quyết này nhằm “loại bỏ vũ khí hạt nhân trên thế giới”. Nga, Trung Quốc và các nước đang phát triển tán thành bản nghị quyết do Mỹ chủ trương, tạo ra một thế mạnh và một sự yểm trợ toàn cầu. Bản nghị quyết kêu gọi tăng cường nỗ lực ngăn ngừa sự lan tràn của vũ khí hạt nhân, khích lệ giải giới và “tiết giảm hiểm họa khủng bố hạt nhân”.

Sau cuộc bầu phiếu, TT Obama tuyên bố: “Bản nghị quyết lịch sử chúng ta vừa chấp thuận đã nêu cao sự gắn bó của chúng ta đối với mục tiêu là một thế giới không có bom hạt nhân và cũng tạo ra sự thỏa hiệp của Hội Ðồng Bảo An về một khuôn khổ hành động để làm giảm bớt hiểm họa hạt nhân khi chúng ta tiến đến mục tiêu đó”. Obama còn nói: “Chỉ một vũ khí hạt nhân nổ ở một thành phố lớn trên thế giới cũng đủ gây ra một sự phá hoại lớn lao”. Ông cho biết một nỗ lực toàn cầu sẽ nhằm “khóa chặt lại mọi vật liệu hạt nhân trong 4 năm”. Ông nhấn mạnh: “Nỗ lực toàn cầu không phân biệt một nước riêng nào. Luật quốc tế không phải là một sự hứa hẹn rỗng không, hiệp ước quốc tế cần phải được thi hành. Chúng tôi giã từ cuộc họp này với một ý chí cương quyết gia tăng”.

Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-moon hoan nghênh các nhà lãnh đạo quốc gia đã tới dự phiên họp thượng đỉnh Hội Ðồng Bảo An về vũ khí hạt nhân và nói “Ðây là giờ phút lịch sử, khởi đầu cho một tương lai mới của thế giới”. Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev nói mục tiêu chung của chúng ta là “cởi mở vấn đề những nút rối” giữa những quốc gia tìm kiếm sự giải giới và chống lan tràn vũ khí nguyên tử. Trước cuộc họp HÐBA, trong phiên họp chung của các nước hội viên LHQ, với các hàng ghế đầy chật người tại Ðại sảnh đường, TT Obama đã hô hào các nhà lãnh đạo thế giới hãy kề vai tiếp sức để gánh những gánh nặng quốc tế khẩn trương, ông hứa sẽ có một sự hợp tác mới của Mỹ, Nhưng Obama cũng nhẹ nhàng nhắc nhở các nước khác không còn có thể chỉ trích Mỹ là nước cậy sức mạnh của mình để tự tung tự tác, trong khi các nước đó vẫn đòi hỏi Mỹ cứu nguy những mối họa chung của Thế giới.

Obama nói: “Những ai thường chỉ trích Mỹ một mình tự tung tự tác, nay không thể đứng ngoài mà chờ nước Mỹ một mình giải quyết các vấn đề của cả thế giới. Bây giờ là lúc tất cả chúng ta phải gánh vác phần trách nhiệm của mình để có một giải pháp chung trước những thử thách trên toàn cầu”. Ông hứa nước Mỹ sẽ tiến tới “một thời đại mới căn cứ trên quyền lợi chung và sự kính trọng lẫn nhau”. Obama đặc biệt muốn nói đến các nhà lãnh đạo thế giới trước đây đã từng dùng các cuộc họp quốc tế để nặng lời lên án nước Mỹ. Ông nói “hầu như có một sự bài Mỹ rộng lớn” đã bao trùm cả thế giới dưới thời vị tiền nhiệm của ông là TT George W. Bush. Và TT Obama nói tiếp: “Ðiều đó không thể biện minh cho thái độ chỉ biết khoanh tay ngồi nhìn mà không chịu làm gì cả”.

Vậy bây giờ có chuyện gì cần phải làm ngay? Hôm thứ Năm HÐBA chấp thuận nghị quyết “loại trừ vũ khí hạt nhân” của TT Obama, thì hôm sau thứ Sáu các nhà ngoại giao và giới chức Tình báo Tây phương bỗng tiết lộ tin “Iran có một trung tâm bí mật, trung tâm thứ hai, thanh lọc chất Uranium, ở thành phố Thánh Hồi giáo Qom, trong một vùng núi non hiểm trở”. Lập tức TT Obama, Thủ tướng Anh Gordon Brown và Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy tố cáo Iran có một trung tâm bí mật mà các thanh sát viên quốc tế không biết. Khối Liên hiệp Âu châu cũng lên án gắt gao. Thấy bị rơi vào bẫy của LHQ và cả Tây Âu khiến kế hoạch mật làm bom bị “dính chấu” không còn rồ máy được nữa, hôm Thứ bẩy vừa qua Iran đành phải tuyên bố chấp nhận cho các thanh sát của Cơ quan Nguyên tử năng LHQ được đến nhà máy này để điều tra.

Nhưng đến Chủ nhật, Iran lại có một trò chơi chiến tranh khác để hù dọa thiên hạ. Iran phóng thí nghiệm 3 loại phi đạn tầm ngắn, Fateh (120 dậm), Tonda (93 dậm) và Zelzal (130 dậm). Một ngày sau, tức Thứ hai tuần này theo đài TV nhà nước Iran, bộ Tư lệnh Vệ Binh Cách Mạng, lực lượng quân sự mạnh nhất của Iran, đã phóng thử thành công hai loại phi đạn tầm trung mới được nâng cấp, Shahab-3 và Saijil. Cả hai đều là loại phi đạn hai tầng có thể phóng đầu đạn xa đến 1,200 dậm, tức là đặt Israel, các căn cứ của Mỹ ở Trung Ðông và một phần của Âu châu vào tầm bắn của phi đạn Iran. Không thể hù dọa bằng bom nguyên tử vì bị LHQ xiết chặt, bây giờ Lãnh tụ quân sự Iran cầm quyền trong bóng tối chơi trò chiến tranh mới. Liệu nó có làm ai sợ không?

Về bom nguyên tử, theo sự ước lượng của Mỹ, Iran phải mất từ 1 đến 5 năm nữa mới chế tạo được một quả bom, mặc dù các giới chức tình báo tin rằng các nhà lãnh đạo Iran chưa quyết định chế tạo bom nguyên tử. Ðiều này cũng có lý vì trên thực tế chỉ cần một đầu đạn nguyên tử Iran bắn vào Israel hay một căn cứ quân sự Mỹ, lập tức Thủ đô Teheran hay cả nước Iran sẽ lãnh đòn trả đũa bằng những vũ khí nguyên tử mạnh gấp 10 lần hơn. Không ông Iran nào dám chơi trò đùa dai đến độ đó. Vậy Iran bắn phi đạn để làm gì?

Mục tiêu chính của Vệ Binh Cách Mạng Iran vẫn luẩn quẩn nằm trong mối lo sợ bị mất quyền hành tối cao trong nội bộ. Theo Thông tấn bán chính thức Fars của Iran, tướng Abdollah Araqi, tư lệnh cao cấp của Vệ Binh Cách Mạng tuyên bố: “Các phi đạn của Iran có thể bắn đến bất cứ nơi nào đã hăm dọa Iran”. Phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Iran Hasan Qashqavi nói “các cuộc thí nghiệm phi đạn không liên hệ gì đến sự căng thẳng về vụ trung tâm thanh lọc Uranium ở ngầm sâu dưới đất đã được công bố mới đây”.

Mặt khác, theo nguồn tin AP, vụ trung tâm hạt nhân của Iran mới bị phát giác đã khiến có một cuộc họp cấp bách vào thứ Năm tuần này ở Geneva giữa Iran và 6 nước lớn để tìm cách chấm dứt ngay chương trình vũ khí hạt nhân của Iran. Savier Solana, người cầm đầu ngành Ngoại vụ của Liên hiệp Âu châu, nói ông rất quan ngại các vụ thí nghiệm phi đạn của Iran. Cuộc họp cấp bách tuần này ở Geneva sẽ nằm trong “một bối cảnh mới”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói bà không tin trong cuộc họp sắp tới Iran sẽ có thể thuyết phục Mỹ và các đại cường khác trên thế giới là chương trình hạt nhân của Iran chỉ có mục tiêu hòa bình. Xét ra Iran đã bị đưa vào trò hát xiệc mới rồi.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Vi Anh : Cộng Sản Sợ Internet, Blog


Cộng Sản Sợ Internet, Blog

(03/10/2012) (Xem: 1870)
Tác giả : Vi Anh

Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đều sợ Internet, sợ blog chánh trị do xa lộ thông tin tòan cầu Internet chuyển tải.
 Tin mới đây của thông tấn xã Pháp AFP, lợi dụng được một trục trặc kỹ thuật của búc tường lửa do  CS Trung Cộng bố thiết để ngăn chặn không cho người dân Trung Quốc tham khảo các trang mạng không hợp ý chế độ, rất nhiều người dân TQ đã bất ngờ vào được trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama, để lại những lời bình luận về chua cay về tình trạng nhân quyền và tự do tại Trung Quốc. Đọc rất thấm thía, “nghe sao ngậm đắng nuốt cay thế nào.”

Như lời ca của hai bài hát của Việt Khang “Anh Là Ai, Việt Nam Tôi Đâu” đang làm rúng động lòng người dân Việt ở hải ngọai khiến cả một trăm bốn mươi mấy ngàn người Mỹ gốc Việt ký thỉnh nguyện thư gởi vào trang web We the People của Phủ Tổng Thống Mỹ, yêu cầu TT Obama áp lực CS Hà nội thả tù chánh trị và không mở rộng giao thương với chế độ CS Hà nội nếu không cải thiện nhân quyền.

Những người dân TQ đã bất ngờ vào được trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã có  những lời đau đớn của  phận người dân Trung Hoa là một dân tộc có một trong vài nền văn minh lớn cỗ đại – văn minh Sông Hòang Hà — lâu đờì  nhưng còn tồn tại tới ngày nay. Thuở xưa khi  người Âu châu còn sống trong rừng, chưa có quốc gia đô thị thì người Trung Hoa đã có đường sá, lữ quán, triều đình, triều cương, triều nghi rồi.

Nhưng trong thời CS thống trị nước Trung Hoa trong nửa thế kỷ, thì người Trung Hoa một dân tộc của một nền văn minh tốt đẹp và ảnh hưởng lớn ở Á châu, lại nói trong trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama, như vầy nè. «Nhiều người không hiểu vì sao có đông đảo người Trung Quốc muốn qua Mỹ định cư. Chúng tôi ao ước có được nền dân chủ và quyền tự do mà nhân dân Mỹ được hưởng ». «Chúng tôi không phải là dân man di mọi rợ, chúng tôi chỉ đơn thuần là một dân tộc bị bóp nghẹt». Có người yêu cầu Tổng thống Mỹ «hãy qua giải phóng Trung Quốc».

Cũng trong khỏang thời gian ểm tường lửa của CS ở Trung Quốc bị trục trặc kỹ thuật, thì đàn em CS VN thô bạo siết an ninh mạng mạnh hơn nữa, chặt hơn nữa. Tin đài VOA  của Mỹ cho biết chỉ trong vài tháng qua, có tới 9 nhà báo và 33 blogger bị bắt giam. Ông Phil Robertson thuộc Tổ chức Human Rights Watch nhận định Hà nội cảm thấy bị đe dọa vì các công dân Việt Nam gia tăng sử dụng mạng internet. Số người Việt Nam sử dụng Internet  tăng nhiều. Năm 2000, chưa tới 1% dân số truy cập được internet. 10 năm sau, con số ấy đã tăng vọt lên tới 27%, và có phần chắc sẽ tăng cao hơn nữa ngay tại thời điểm này. Thêm vào đó điện thọai cầm tay bây giờ như một máy computers di động, gởi tin, hình nhanh như ánh sáng. Công an trấn áp dân thì trong nháy mắt hình ảnh có trên mạng, loan truyền khắp nơi trên thế giới. VN dân số 86 triệu nhưng có tới 111 triệu điện thoại cầm tay chánh thức ghi danh sử dụng. Đó là chưa nói những người gọi điện thọai bằng thẻ, rất kín đáo, khó cho nhà cầm quyền kiếm sóat, điều mà đài Á châu Tự do của Mỹ khéo léo khuyên khán thính giả trong nước VN gọi vào đài nên sử dụng “vừa rẻ vừa thuân tiện”. 

Hơn nữa, các cuộc nổi dậy ở các nước Á rập, đa số người dân dùng tiến bộ khoa học kỹ thuật Tin Học để loan truyền tin tức và nghị luận cũng như vận động, huy động biểu tình lật đổ độc tài. Nên Ông Robertson nói  những gì xảy ra trong thế giới Ả rập đã gây rất nhiều quan tâm cho nhà cầm  quyền VNCS nên họ siết mạnh Internet.

CS siết thô bạo Internet và blog vì sợ Internet và blog giải thóat con người ra khỏi vòng kềm kẹp của chế độ.

Nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ. Đảng Nhà Nước CS Hà nội có công an đông như kiến cỏ trang bị tận răng, cái gì cũng dám làm dù phi pháp, phi nhân nhứt. CS Hà nội cũng  có hàng ngàn “báo đài” làm cái loa tuyên truyền cho Đảng Nhà Nước. Nhưng CS Hà Nội thua  lực lượng  bloggers chánh trị của người dân, được tiến bộ khoa học tin học yểm trợ, giúp cho một vũ khí êm nhưng rất thấm trong việc chống độc tài, làm CS bị tự “diễn biến hòa bình” thành  diễn biến không còn hòa bình nữa, như vụ kỹ sư Đòan văn Vươn dùng súng và mìn tự chế bảo vệ tài sản mình khi công an đến cướp chế.

Vì blog nguy hại cho nhà cầm quyền CS độc tài, nên CS thường xuyên đánh phá blog, kiểm soát Internet. Đặc biệt trước đại hội Đảng  CSVN vào tháng 1 năm 2011, vì sợ blog khui thâm cung bí sử, những bế bối, đấu đá nhau thúi cả Đảng Nhà Nước, CS Hà nội  mở chiến dịch đánh phá blog khốc liệt..

CS sợ blog vì trong đấu tranh chánh trị trường kỳ có những thứ êm mà thấm đau lắm, chẳng những ê ẩm cả mình mẫy mà còn bầm gan tím ruột, lồng phổi trụy tim  nhà cầm quyền nữa. Nó ép phê hơn bạo động và võ lực thường là chuyện xảy ra sau cùng kết thúc của cuộc đấu tranh.

Nên CS mở chiền dịch đánh phá blog khốc liệt. Cơ quan chuyên môn an ninh mạng SecureWorks, ở thành phố Atlanta, Hoa Kỳ, đã từng tố cáo vũ khì CS xài là virus tin học có tên là Vecebot. Nó đã phá  hơn 10 ngàn máy tính kết nối vào các diễn đàn trên mạng phê bình, chỉ trích Đảng CSVN.

Thoạt kỳ thủy, blog trên phương diện khoa học, kỹ thuật  tin học chỉ là những trang nhựt ký trên mạng Internet. Những người dân yêu nước thương dân, những nhà báo có đức nghiệp, có trách nhiệm với độc giả đồng bào và có lương tâm Việt với nước nhà VN đã biến phát minh khoa học của thời đại là blog thành blog chánh trị, thành khẩu thần công nã vào  chế độ độc tài CS.

Những người viết blog chánh trị đó đã dùng tình yêu nước, thương dân, hận cái nhục do nhà cầm quyền gây ra cho quốc gia dân tộc làm thuốc nổ. Loại thuốc nổ bằng tinh thần quốc gia, tình tự dân tộc, tình yêu  Tổ quốc, quê hương, tánh ghét kẻ mạnh hiếp yếu, tình thần kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng, tạo thành sức xuyên phá tuy êm mà rất thấm cho đảng và nhà cầm quyền CS. Nhờ những đức tính đó mà người Việt trong 4000 năm lịch sử đã chống chọi, đánh đuổi giặc Tàu 1000 năm, đã chiến thắng đội quân Tàu Nguyên Mông sừng sõ nhứt đã chiếm cả Á Châu và Đông Âu.

CS Hà nội sợ Internet,  blog vì càng ngày càng nhiều người viết blog chánh trị. Nhiều tổ chức theo dõi báo chí toàn cầu như Phóng Viên Không Biên Giới bản doanh ở Pháp và Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo CPJ ở New York và người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung và ở hải ngoại nhận thấy càng ngày càng có nhiều những người Việt, nhà báo, trí thức, đấu tranh, trẻ già, suốt từ Bắc chí Nam viết blog chính trị va blog chánh trị tràn ra hải ngoại VN. Theo tìm hiểu mới dây của trang mạng xã hội Facebook, việc viết blog đã phát triển rất nhanh tại Việt Nam kể từ 2005. Hiện có tới 24 triệu người dùng internet.

CS Hà nội phải cầu viện “Anh Cả Đỏ TC” giúp kiểm soát internet, xa lộ chuyên chở những phát minh thông tin nghi luận trong đó có blog giải thoát con người ra khỏi ách độc tài. Các cơ quan an ninh của CS Hà nội đã học, đã nhờ sự giúp đỡ của TC để đối phó mặt với những đe dọa đến từ các nhà ly khai dùng internet. Trước đây, họ cố gắng ngăn chặn truy cập, giờ đây, họ tìm cách đánh sập các website.

Nhưng CS Hà nội bắt một blogger thì hai ba người xông tới. CS Hà nợi chận nẻo này thì blogger quay sang nẻo khác, mới hơn. Xu thế thời đại và tiến bộ khoa học kỹ thuật đứng về phía dân blog, giải toả con người khỏi vòng kềm toả và tuyên truyền giả dối  của độc tài./.

Ý KIẾN ĐỘC GIẢ (3)
 Được gửi bởi Ba D (Guest) vào 03/10/2012

Nghĩ mà tức thật ! Mình là TT của 3 triệu đảng viên và là "đầy tớ " của 85 triệu dân VN , xin vào Tòa Bạch Ốc thì họ lại cho mình đi cửa hậu…Còn chúng nó chỉ là nhóm nhỏ mà có đến 148 ngàn người xin vào, họ lại cho cả 200 người mang cờ xí rợp trời vào khắp nơi từTòa Bạch Ốc và Quốc Hội mà vào cửa chính những 2 ngày cơ ! Rõ là nhân quyền ! Internet lợi hại đến thế này cơ ! Các đ/c công an đâu?(ủa sao mà hô có ít vậy?) bắn hết " in- tờ- nết "cho tui! 
 Được gửi bởi Lối Mòn (Guest) vào 03/10/2012

Cộng sản sợ internet là phải rồi.Cũng như quỷ xứ mà sợ Trơì ,Phật vậy thôi.
 Được gửi bởi Việt (Guest) vào 03/10/2012


Đúng vậy Vi Anh ! 
CSVN sợ Internet, Blog ! Nếu hàng trăm ngàn Việt Kiều chống Cộng đã về Việt Nam mà trực diện với chính quyền CSVN…có lẽ họ sẽ càng sợ hơn ! Nhưng rất tiếc là mới chỉ có vài người dám nói, dám làm !



THỊNH NỘ VÌ TIỀN

THỊNH NỘ VÌ TIỀN

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Tuần trước người ta đã chứng kiến một cơn thịnh nộ lan rộng từ Quốc hội cho đến đại đa số dân chúng Mỹ vì có tin Tổ hợp AIG, sau khi lãnh 170 tỷ đô-la gọi là tiền cứu nguy các ngân hàng, đã dùng 165 triệu để tặng thưởng (bonus) những cấp lãnh đạo của tổ hợp. Điều khó coi nhất là tiền cứu nguy đó là tiền của dân chúng đóng thuế, thay vì lo thay đổi cấu trúc và sách lược để sống còn, AIG tiếp tục dùng tiền đó để thưởng công cho những cấp lãnh đạo đã vì tham lam, vô trách nhiệm gây ra cơn khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ và cả thế giới. Ngay sau đó Quốc hội đã đưa ra đề án lấy lại những món tiền thưởng đó để làm dịu cơn giận của người dân.

Đầu tuần này chính phủ Obama đã loan báo một nỗ lực mới nhằm chấm dứt tình trạng tê liệt của hệ thống ngân hàng không muốn cho vay tiền để dân chúng làm ăn. Nỗ lực chủ yếu là chính phủ sẽ hợp tác với các nhà đầu tư để góp tiền thành một ngân quỹ 500 tỷ đô-la mua lại những những tài sản xấu, nói chung là những món nợ khó đòi. Loan báo kế hoạch này Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner nói dân chúng hãy kiên nhẫn để chính phủ cứu nguy các ngân hàng, trong khi dân chúng tức giận vì AIG đã dùng tiền cứu nguy để cấp tiền thưởng cho nhân viên lãnh đạo của mình từ năm ngoái khi chính phủ Bush đưa ra ngân quỹ 700 tỷ để cứu nguy ngân hàng. Từ lúc đó cái tên AIG đã nổi bật. AIG (American Insurance Group.Inc) là một Công ty Bảo hiểm và đã trở thành một công ty tài chính quốc tế từ lâu. AIG thành lập cách đây 90 năm ở Thượng Hải, nó lớn lên rất mau lẹ vì năm 1919 là thời nhà Mãn Thanh mới bị lật đổ, chính phủ Cách Mạng của Tôn Dật Tiên ra đời, nhưng mấy năm đầu Trung Hoa gặp nạn nội chiến, đến đầu thập niên 20, chính phủ Tưởng Giới Thạch lên cầm quyền, nạn tranh chấp nội bộ vẫn chưa dứt hẳn, nhưng dân chúng đã có dịp làm ăn buôn bán và Thượng Hải là nơi kinh doanh lớn nhất. Đã làm ăn là cần có tiền và cần có bảo hiểm, công ty Mỹ AIG mở cửa ở đó là chọn đúng thời điểm để làm ăn phát đạt mau lẹ.

Nhưng đến năm 1939 trước họa Thế chiến, Tổ hợp AIG phải dọn trụ sở chính về New York và tiếp tục trong mấy chục năm sau AIG đã hoàn tất một hệ thống quốc tế có mặt ở nhiều nước Âu châu để rồi sau Thế chiến đến năm 2005 AIG đã trở thành một trong những tập đoàn công ty lớn nhất thế giới, liên hệ đến nhiều ngân hàng và tài chính quốc tế. Bây giờ khi nói đến cứu nguy ngân hàng, lẽ tất nhiên ngoài AIG còn nhiều ngân hàng khác như Golden Sachs, Société Générale, Deustche Bank, Barclays, Merryll Lynch, Bank of America, UBS, BNP Paribas, HSBC, Dresdner Bank, cũng được nhận tiền cứu nguy tùy theo mức lớn nhỏ của mỗi ngân hàng. Nói chung một khi hệ thống ngân hàng tê liệt, nền kinh tế không có cách nào ngóc đầu lên được. Bây giờ nói đến việc chính phủ chủ trương lấy lại những khoản bonus tất nhiên các ngân hàng khác cũng phải chịu, không riêng gì AIG.

Theo dự định tiên khởi loan báo từ cuối tuần trước, chính phủ sẽ lấy lại đến 90% những khoản tiền bonus mà AIG và một số các Ngân hàng khác đã trả cho cấp lãnh đạo của họ. Nhưng ngay sau đó trong Quốc hội có những sự dè dặt bởi vì tính chung như vậy có thể sẽ bất công. Nhất là các dân biểu Cộng Hòa chỉ trích luật lệ đó chỉ nhắm đánh vào những người giầu có, nên phản đối. Đầu tuần này khi Bộ trưởng Tài chính Geithner ra trước Ủy ban Tài chính Hạ viện trình bày chi tiết về đạo luật cứu nguy ngân hàng, nói đến việc lập ra ngân quỹ 500 tỷ, có thể lên đến 1,000 tỷ để mua những món nợ khó đòi. Chiều thứ hai tuần này, chỉ số Chứng khoán Dow Jones ở Walt Street đã vọt lên đến gần 500 điểm, điểm vọt cao nhất nội trong một ngày kể từ hơn một năm qua. Đến sáng thứ ba, chỉ số Dow Jones khựng lại và đến chiều xuống 50 điểm. Trong khi đó có tin cho biết 15 trong số 20 cấp lãnh đạo của AIG sẽ trả lại món tiền bonus họ đã lãnh.

Chưởng lý New York Andrew Cuomo tỏ ý hy vọng sẽ có thêm nhiều nhân viên khác của AIG sẽ đem trả lại tiền bonus. Tính chung các nhân viên của AIG quốc tế sẽ trả lại khoảng 50 triệu trong số 165 triệu tiền thưởng mà tổ hợp này đã phát từ đầu tháng. Sáng thứ ba, Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang Ben Bernanke ra điều trần trước Ủy Ban Tài chính Hạ viện nói ông muốn đưa AIG ra Tòa về tội cấp hàng triệu đô la tiền thưởng, nhưng ông không muốn làm Tổ hợp Quốc tế này tan vỡ. Ông nói AIG là người khổng lồ quốc tế, nó có 74 triệu khách hàng trên thế giới và hành sự mọi việc ở 130 quốc gia. Nếu AIG tan vỡ, cả một hệ thống toàn cầu về tài chính và kinh tế cũng tan luôn với tất cả những hậu quả của nó. Cũng vào dịp này, Bộ trưởng Geithner đã yêu cầu Hạ viện cho phép ông có quyền tương đương với quyền của Tổ hợp Liên bang Ký thác Bảo hiểm là quyền được kiểm soát các Ngân hàng, tịch thu tài sản xấu và bán lại tài sản tốt cho những hãng cạnh tranh.

Tối thứ ba, vào giờ cao điểm của tin tức trên các đài TV, TT Obama mở cuộc họp báo tại Bạch Ốc có rất nhiều ký giả tham dự. Ông đã trình bày toàn bộ kế hoạch làm việc của ông về các mục tiêu như tạo thêm công ăn việc làm, giải quyết các vụ nợ thế chấp mua nhà, tăng thêm quỹ để nâng cấp nền giáo dục, bảo hiểm y tế cho mọi người dân, tìm nguồn năng lượng mới v.v…Để thực hiện những chương trình đó, TT Obama dự liệu cần phải chi đến 3.6 ngàn tỷ đô-la, trong khoảng 5 năm tới. Đây là một con số khổng lồ, Mỹ đang lâm nạn kinh tế khủng hoảng, ngân sách đã sẵn thâm thủng hơn 1,000 tỷ, làm sao chịu nổi? Số chi quá lớn này được loan truyền từ cuối tuần trước đã làm Quốc hội Mỹ dội lại, đảng Cộng Hòa và một số phần tử ôn hòa của Dân Chủ cũng không tán thành.

Vào những giờ đầu của sáng thứ tư 25-3, chỉ số Dow Jones đã vọt lên trở lại đến 150 điểm. Trong khi đó TT Obama đến Quốc hội để bàn thảo về dự chi ngân sách 1 năm cho tài khóa từ 10-09 đến 10-10. Quốc hội do Dân Chủ nắm đa số sẽ quyết định về ngân sách quốc gia, nên Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Thượng viện Ken Conrad (Dân Chủ) hứa sẽ giảm bớt thâm thủng 1.7 ngàn tỷ năm nay xuống còn 508 tỷ năm 2014. Tại Hạ viện, Chủ tịch Ủy ban Ngân sách là John Spratt (Dân Chủ) nói Konrad sẽ dùng biện pháp biểu quyết cấp tốc, tránh thủ đoạn kéo dài thảo luận của Cộng hòa để dự án cải tổ hệ thống bảo hiểm sức khỏe cho người dân của TT Obama được thông qua.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Canh Bạc Nguyên Tử

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Canh Bạc Nguyên Tử

iranCuộc họp ở Geneva tuần trước giữa đại biểu của Iran và các đại biểu của 6 nước: Anh, Trung Quốc, Pháp, Ðức, Nga và Mỹ là cuộc họp đầu tiên sau 15 tháng ngừng trệ về vấn đề này. Các nước thỏa thuận sẽ họp lại vào ngày 19 tháng 10 để thảo luận tiếp về chương trình nguyên tử của Iran. Tuần này Phát ngôn nhân Hassan Ghashghavi của bộ Ngoại giao Iran trong một cuộc họp báo ở Teheran nhắc lại rằng chương trình nguyên tử năng của Iran là một chương trình hòa bình, song lại không nhắc đến lời yêu cầu của Tây phương là Iran phải cam kết bảo đảm cho mục tiêu đó. Phát ngôn nhân nói ông ta không có nhiệm vụ “phán xét” về các cuộc họp lần tới sẽ đi về chiều hướng nào, nhưng quả quyết Iran sẽ “tiến mạnh về mục tiêu tích cực đó”. Ông ta nói: “Chúng tôi nghĩ là tích cực vì các cuộc thương lượng đã có tiến bộ. Sự tiến hành thảo luận cho thấy có chất lượng để bàn bạc trong các cuộc thảo luận tiếp trong tương lai. Chúng tôi không thấy có lý do gì để bi quan.”. Các cuộc thảo luận kế tiếp ngày 19-10 chỉ nhằm mục đích giúp Iran thanh lọc quạng Uranium tốt hơn. Hai năm trước đây, các cơ quan tình báo Mỹ công bố một báo cáo đầy dủ chi tiết kết luận Teheran đã đình chỉ nỗ lực đặt kế hoạch làm một quả bom hạt nhân vào năm 2003. Nhưng trong những tháng gần đây, Anh, Pháp, Ðức và cả Israel đã đưa ra những tranh cãi bất đồng về kết luận nói trên để nói rằng Iran đã tiếp tục trở lại kế hoạch làm bom. Tuần vừa qua một giới chức cao cấp Mỹ cho biết hiện nay Mỹ đang xét lại những kết luận tình báo của năm 2007. Cơ quan Nguyên tử quốc tế cũng đưa ra những chứng cớ cho thấy ngoài việc thâu thập những tiến bộ về cách làm bom do các tay chuyên gia bất lương đưa ra cách thức chế tạo bom đem bán chợ đen để vơ vét tiền bạc, Iran đã tự khảo cứu và thử những máy móc làm nổ hạt nhân. Cuối tuần qua, Chủ tịch Cơ quan Nguyên tử năng LHQ ông Mohamed ElBaradei đã đến thăm Teheran để thảo luận với nhà cầm quyền Iran về thủ tục cho các thanh sát viên LHQ đến điều tra cơ sở thanh lọc Uranium mới bị tiết lộ ở Qom. Sau mộl loạt hội họp với các giới chức Iran, ElBaradei cho các phóng viên biết các chuyên gia LHQ sẽ đến nhà máy nói trên vào ngày 25 tháng 10. Ông cũng cho biết sự tranh cãi về vụ Iran làm bom nguyên tử cũng sẽ được giải quyết vào dịp đó. Ông nói về mối quan hệ giữa Iran và cơ quan Nguyên tử năng như sau: “Hiện nay chúng tôi đã chuyển đổi từ thế đối đầu qua thế hợp tác và tôi đã yêu cầu Iran mọi việc cần phải công khai hóa cho minh bạch. Lúc này chúng tôi đã theo con đường thích hợp nhất. Cơ quan chúng tôi, cộng đồng thế giới và Iran đã có những cuộc thảo luận xây dựng”. Dù vậy, một câu hỏi quan trọng nhất vẫn còn: Lần này Iran có giở trò “tháu cáy” trong canh bạc xì phé quốc tế để chế tạo bom hay không? Chúng tôi nghĩ Iran không dám bịp bợp như trước, vì 3 nguyên nhân. Trước hết là luật lệ quốc tế, thứ hai là sự trói buộc của khoa học kỹ thuật và thứ ba là một thực tế đơn giản: Nếu có “bom”, Iran định làm gì với quả bom đó? Về mặt luật pháp quốc tế, LHQ hôm nay đã khác LHQ hôm qua. Sau khi Hội đồng Bảo An LHQ gồm 5 nước lớn vì lý do sống còn của chính mỗi nước đã biểu quyết “chống sự lan tràn của vũ khí hạt nhân, nghĩa là cấm nước nào chưa có bom, không được bí mật làm bom nguyên tử”. Ðể trừng phạt kẻ vi phạm HÐBA sẽ ra lệnh cấm vận, phong tỏa. Một nước như Iran vốn yếu kém về kinh tế, trong nước lại có mầm mống chia rẽ, khi bị phong tỏa tất nhiên trong nước sẽ có nội loạn. Hiện nay đa số dân Iran không muốn có bom nguyên tử, họ chỉ muốn được hít thở không khí trong lành, thay vì bị nghẹt thở trong bầu không khí u ám tàn bạo của bọn Vệ binh Cách mạng. Chế độ đương quyền sẽ sụp đổ, Vệ Binh Cách Mạng Iran đang sợ bị mất quyền nên không dám chơi trò lừa bịp lần này. Về mặt khoa học kỹ thuật có lẽ còn nhức nhối hơn. Muốn có một quả bom nguyên tử, trước hết anh phải có đủ dụng cụ và vật liệu làm ra nó. Rồi sau khi làm ra bom, anh có thể chôn ngầm nó dưới đất và xoa tay thoải mái chăng? Kỹ thuật học không cho làm như vậy, nó bắt buộc anh phải cho nổ thử một quả xem có đúng là bom không hay chỉ là một cái túi phóng xạ làm hại mọi người sống quanh nó, kể cả kẻ làm ra “quả” phóng xạ. Chính vì lý do đó nên Bắc Hàn đã phải cho nổ thử một quả bom thô sơ, làm cả thế nổi lên phản đối. Hơn nữa dù đã có bom rồi, anh còn cần phải có khí cụ để phóng nó đi. Iran đã thử các loại phi đạn tầm ngắn và tầm trung. Nhưng bắn được phi đạn vẫn chưa đủ, mà còn phải làm thế nào chế tạo một đầu đạn nguyên tử nhỏ xíu để gắn vào phi đạn. Và sau hết một vấn đề nhỏ nhưng nhức nhối vô cùng. Ðó là vấn đề điều khiển phi đạn cho nó bay đi trúng đích, không bay lạc hướng để trúng nơi khác, nhất là không bị những lá chắn chống phi đạn của nước thù nghịch bắn hạ nó trên đường bay. Sau hết một lý do rất thực tế. Phi đạn bom nguy&ecirc
;n tử của Iran nhắm bắn ai? Bất cứ nhằm vào Israel hay một căn cứ quân sự nào của Mỹ hay một nước Tây Âu đã sẵn có cả kho bom nguyên tử, kẻ đánh bom sẽ lãnh đòn trả đũa nguyên tử thê thảm. Chiến tranh hạt nhân đã hết thời rồi.

Hồi cuối Thế kỷ 20, chiến tranh nguyên tử là hình bóng một con quái vật hăm dọa toàn thế giới. Nhưng qua Thế kỷ 21, con quái vật chiến tranh hạt nhân đã chết, bởi vì từ nước lớn cho đến nước nhỏ với các kho vũ khí hạt nhân hiện nay đã được tích lũy ở 5 nước lớn trong Hội Ðồng Bảo An, người ta đã biết chắc đánh bom nguyên tử chỉ là một cách tự sát không hơn không kém.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Cơn đói cá của Trung Quốc và thảm họa

Cơn đói cá của Trung Quốc và thảm họa

Lữ Giang

Hôm 23.11.2013 khi Trung Quốc công bố quyết định lập vùng nhân diện phòng không (ADIZ) bao trùm lên vùng trời trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Nhật, ông Minh Hiền, Giám đốc Sở nghiên cứu Chiến lược và sự vụ quốc tế thuộc Đại học Đạm Giang của Đài Loan đã nói với Thông tấn xã Đài Loan rằng việc Bắc Kinh tuyên bố ADIZ trên Hoa Đông chỉ là cái cớ Trung Quốc nghi binh, Biển Đông mới thực sự là chuyện phiền phức. Cách đó một năm, tờ Wall Street Journal ngày 27.12.2912 đã đăng một bài dưới đầu đề “China’s Hunger for Fish Upsets Seas” (Trung Quốc đói cá làm biển rối tung) nói về những tai họa do cơn đói cá của Trung Quốc gây ra. Tiến sĩ Ian Storey, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, còn nói rõ hơn: năng lượng và nguồn cá là nguyên nhân chính của các cuộc tranh chấp. Như vậy Trung Quốc có ý đồ gì trên Biển Hoa Đông và Biển Đông, các chuyên gia đều thấy trước. Nói một cách tổng quát, Trung Quốc đang đói cả thực phẩm lẫn nhiên liệu và đang biến Biển Đông thành nguồn cung cấp riêng cho họ.

Ngày 26.11.2013, Trung Quốc cho hàng không mẫu hạm hạng bét Liêu Ninh rời cảng Thanh Đảo ở Hoàng Hải đi qua biển Hoa Đông và xuống Biển Đông để thực hiện cái gọi là “sứ mệnh huấn luyện và nghiên cứu khoa học”. Khi tàu Liên Ninh vừa trở lại cảng Thanh Đảo vào ngày 1.1.2014, Trung Quốc bắt đầu công bố lệnh cấm đánh cá trên một vùng rộng lớn ở Biển Đông.

 

LỆNH CẤM ĐÁNH CÁ CỦA TRUNG QUỐC

Theo các bài báo đăng trên một số trang web của tỉnh Hải Nam hôm 3/12/2013, lệnh ngư nghiệp Trung Quốc được chính quyền tỉnh Hải Nam ban hành ngày 29/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, tàu cá nước ngoài phải xin phép trước khi đánh bắt hay dò tìm trong khu vực rộng tới 2 triệu cây số vuông, chiếm 2/3 diện tích Biển Đông. Lệnh này được coi là một phần của chính sách thực thi Luật Thủy sản của Trung Quốc.

 

Vùng cấm đánh cá do Trung Quốc thiết lập

 

Như vậy Trung Quốc đã “địa phương hóa” Biển Đông, biến nó thành một vùng nước thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc (xem bản đồ sẽ thấy rõ).

Ngày 24.12.2013, Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc còn ra thông báo về thời gian nghỉ đánh bắt cá bằng lưới tại một số khu vực, bao gồm cả khu vực quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

Theo quy định của Trung Quốc, các tàu cá nước ngoài tự ý đi vào vùng nước trên Biển Đông mà họ tuyên bố do tỉnh Hải Nam quản lý để thực hiện sản xuất ngư nghiệp và các hoạt động điều tra tài nguyên nghề cá sẽ bị buộc phải rời khỏi khu vực, bị phạt 500.000 nhân dân tệ (tương đương 82.600 USD) và số cá đánh bắt sẽ bị tịch thu. Trong một số trường hợp, tàu đánh cá nước ngoài còn có thể bị tịch thu và thủy thủ đoàn bị truy tố theo luật pháp Trung Quốc.

Dĩ nhiên, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Việt Nam và cả Đài Loan đã lên tiếng phản đối lệnh cấm của Trung Quốc vì nó không phù hợp với quốc tế công pháp. Nhưng Trung Quốc đã dựa vào căn bản nào để đưa ra quyết định nói trên?

Như chúng tôi đã nói nhiều lần, Trung Quốc đã dựa vào lý thuyết “vùng nước lịch sử” (historic waters) được học lý và án lệ về luật biển cũ công nhận, đó là vùng nước sinh tồn đã lâu đời của một quốc gia, để thiết lập đường 9 đoạn và coi đó là ao nhà của Trung Quốc. Nhưng vì lý thuyết “vùng nước lịch sử” quá phức tạp, nên Luật Biển 1982 không còn công nhận lý thuyết đó nữa mà thay bằng “vùng đặc quyền kinh tế” dành cho mỗi quốc gia là một vùng 200 dặm tính từ đường cơ sở. Nói cách khác, Trung Quốc đã dựa vào một lý thuyết không còn tồn tại trong Luật Biển 1982 để tuyên bố chủ quyền của mình. Trung Quốc biết rõ như thế là sai nhưng cứ cãi chày cãi cối rồi dùng sức mạnh để áp đặt. Trung Quốc lại biết Mỹ chỉ phản đối lấy lệ chứ không can thiệp nên làm tới.

 

THẢM HỌA CHO NHÂN LOẠI

Trong bài “China’s Hunger for Fish Upsets Seas” nói trên, hai chuyên gia là Chuin-Wei Yap và Sameer Mohindru đã mở đầu bài nhận định của mình như sau: Cơn đói cá ngày càng trầm trọng của Trung Quốc đang thử thách quan hệ với nhiều nước khác nhau, đồng thời làm cho các viên chức và các khoa học gia ngoại quốc lo lắng về tiềm năng thiệt hại mà đội tàu cá khổng lồ của nước này có thể gây ra cho khối lượng cá tồn trữ trên toàn cầu”

Tài liệu chính thức của Trung Quốc, một nước có số lượng tiêu thụ cá cao nhất thế giới, cho biết đến năm 2015 Trung Quốc sẽ sản xuất 60 triệu tấn hải sản, so với 57,3 triệu tấn của hai năm trước. Tuy nhiên nhu cầu hải sản của Trung Quốc rất lớn và ngày càng tăng. Theo ước tính của ngân hàng Rabobank của Đức, vào cuối thập nhiên này trị giá khối lượng hải sản nhập cảng của Trung Quốc sẽ lên đến 20 tỷ USD thay vì 8 tỷ USD như hiện nay. Peru là nước bán nhiều hải sản cho Trung Quốc, nhưng nguồn hải sản của Peru ngày càng cạn kiệt.

Để có đủ cá cung cấp cho nhu cầu trong nước, Trung Quốc đã tung ra 2300 tàu đánh cá xa bờ, tới tận Nam Mỹ và Tây Phi, trong khi Mỹ chỉ có 200 chiếc. Tài liệu của Trung Quốc cho biết trong 2 năm 2010 và 2011 các tàu đánh cá xa bờ của họ chỉ bắt được có 368.000 tấn hải sản, nhưng các chuyên gia nói rằng con số đó lên tới 4,6 triệu tấn.

Riêng trong Vịnh Bắc Việt, một cuộc nghiên cứu cho thấy kể từ thập niên 1960, các loài cá trong vùng này đã giảm từ 487 loại xuống 238 loại. Khối lượng dự trữ chạm đến mức thấp nhất năm 1998, chỉ bằng 16,7% so với năm 1962!

Trước đây Trung Quốc có trên 200.000 tàu đánh cá, nhưng năm 2004 đã loại đi trên 8.000 tàu nên hiện nay còn khoảng 192.000 tàu. Đây là một khối lượng tàu đánh cá khổng lồ.

 

THẢM HỌA CHO VIỆT NAM

Với vùng cấm đánh cá mà Trung Quốc vừa vạch ra, vùng đặc khu kinh tế 200 hải lý của Việt Nam không còn. Muốn đánh cá xa bờ trong Biển Đông, Việt Nam phải xin phép Trung Quốc.

Lực lượng Hải Giám của Trung Quốc đang kiểm soát các tàu thuyền đánh cá trên Biển Đông. Lực lượng này là một bộ phận của Cục Quản Lý Biên Phòng thuộc Bộ Công An, được tổ chức theo mô hình của Liên Xô cũ. Hiện nay lực lượng này có khoảng 40.000 quân nhân với 304 thuyền nhỏ trên 100 tấn, 149 tàu tuần tra nhỏ trên 500 tấn, 19 tàu tuần tra vừa trên 1500 tấn và 8 tàu tuần tra lớn trên 3.500 tấn. Tàu tuần tra cao tốc của Trung Quốc có tên là Hải cẩu HP1500-2 với thủy thủ đoàn từ 6 đến 8 người, có thể đạt tốc độ lên đến 52 hải lý và tầm hoạt động trong khoảng 250 km. Chúng ta chưa nói đến lực lượng của Hải Quân Trung Quốc.

So với Mỹ hay Nhật, lực lượng hải giám của Trung Quốc chẳng có nghĩa lý gì, nhưng với các nước trong khối ASEAN, khó có lực lượng nào có thể địch nổi. Học giả Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu biển Đông của Việt Nam, nói với phóng viên đài RFA  rằng với lực lượng tàu hải giám hùng mạnh, Trung quốc hoàn toàn có khả năng thực thi quy định mới của mình. Trong thời gian qua chúng ta nhìn diễn biến trên biển Đông thì chúng ta thấy rõ là Trung Quốc đưa nhiều tàu hải giảm để ức hiếp ngư dân, phạt tiền… mà phản ứng của các nước như thế nào chỉ là phản ứng cho có, mà chủ yếu là không làm gì được với Trung Quốc. Sự đoàn kết của các nước ASEAN trước tham vọng bá quyền của Trung Quốc là không có.

Ngày 25.12.2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết một hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Việt với tổng diện tích là 33.500 km², chiếm khoảng 27,9% diện tích vùng Vịnh. Một vùng đệm cho các tàu đánh cá nhỏ qua lại ở ngoài cửa sông Bắc Luân đã được thiết lập. Nếu phát hiện tàu cá loại nhỏ của bên kia vào hoạt động nghề cá trong vùng đệm, có thể cảnh cáo và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tàu đó rời khỏi vùng nước đó, nhưng nên kiềm chế: không bắt bớ, giam giữ, xử phạt hoặc dùng vũ lực. Thế nhưng tàu đánh cá Trung Quốc vẫn đánh cá trên vùng nước của Việt Nam. Ngày 3.11.2013, tỉnh Thanh Hóa còn khám phá ra 276 dân Việt Nam đang làm việc cho các tàu đánh cá bất hợp pháp đó.

Chuyện Trung Quốc cho tàu họ húc tàu đánh đá Việt Nam đã trở thành“chuyện thường ngày ở huyện.”  Việc Việt Nam mua tàu ngầm của Nga cũng chỉ để bảo vệ vùng đặc khi kinh tế 200 hải lý của Việt Nam chứ không phải để khai chiến với Trung Quốc. Với việc Trung Quốc quy định vùng đánh cá mới, Lê Thanh Nghị, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hà Nội chỉ nói: “Việt Nam yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái nói trên, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực.”

Đài Á Châu Tự Do (RFA) đang xúi Hà Nội đi kiện Trung Quốc trước các tòa án quốc tế. Đây là vấn đế chúng tôi sẽ nói sau.

Ngày 16.1.2014

Lữ Giang




BẮT TAY KẺ THÙ

BẮT TAY KẺ THÙ
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Trong cuộc họp thượng đỉnh các nước Mỹ châu tại Port-Of-Spain, Trinidad, Tổng Thống Barack Obama đã nêu rõ sự bớt găng trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và nước Cộng sản Cuba và cả nước Venezuella thiên tả. Đại biểu Cuba không có mặt vì Cuba đã bị loại ra khỏi tổ chức này từ năm 1962, nhưng tuần trước Obama đã giải tỏa sự cấm đoán việc gửi tiền giúp đỡ thân nhân cũng như sự thăm viếng của những công dân Mỹ và dân gốc Cuba. Có thể Mỹ sẽ lập lại quan hệ ngoại giao với Cuba . Cũng trong cuộc họp này Obama đã bắt tay niềm nở với Hugo Chavez, Tổng Thống Venezuella, khi ông này lên chào hỏi và tặng quà kỷ niệm. Chavez là người thiên tả, khi ông Bush còn cầm quyền, Tổng Thống của Venezuella, vốn thuộc loại hăng tiết vịt, đã từng lên tiếng đả kích Bush dữ dội trước Hội đồng LHQ họp ở New York.
Bây giờ thấy Obama thân thiện với kẻ thù, mấy ông cực đoan trong đảng Cộng Hòa phản đối và Newt Gingrich, cựu Chủ tịch Hạ viện, kêu ré lên: “Làm như vậy là hợp thức hóa nó rồi!”. Sự thật chẳng cần chờ đến bây giờ, Chavez đã được LHQ công nhận là Tổng Thống từ lâu rồi. Kể cả Cuba , Mỹ đã đoạn giao từ 52 năm qua, chế độ Cộng sản vẫn không chết. Một bài báo Mỹ lấy tin của AP, nêu lên tựa đề hấp dẫn: “Obama: Đưa tay ra với kẻ thù làm nước Mỹ mạnh hơn”. Để nêu rõ chủ trương đặc biệt của ông về chính sách đối ngoại, Obama nói ông “tăng cường sức mạnh cánh tay của chúng ta” bằng cách với tới những kẻ thù của nước Mỹ, để cho thấy chúng ta là một nước lãnh đạo, chớ không phải ông thầy diễn giảng về dân chủ. Riêng tôi rất thích câu nói này. Từ lâu tôi vẫn nghĩ dân chủ không phải từ bên ngoài áp đặt cho một nước, dân chủ phải do chính người dân của nước đó quyết định. Đem dân chủ “dạy” cho nước đó là sai. Nhưng dân chúng ở nước đó bị đàn áp đẫm máu không thể ngóc đầu lên được thì sao? Kinh nghiệm của mấy năm gần đây đã cho thấy có nhiều cách – chớ không chỉ có một – làm sụp đổ một chế độ độc tài độc đảng.
Tuần này lại có chuyện đặc biệt nữa. Đó là cuộc Hội nghị của LHQ chống nạn kỳ thị chủng tộc, họp ở Geneva . Cuộc họp này đã bị rắc rối ngay từ đầu, vì Tổng Thống Iran Mahmoud Ahmadinejad, đích thân đến trong khi phần lớn các nước khác chỉ có các phái đoàn đến tham dự. Các vị trưởng phái đoàn có lệ đọc diễn văn trong buổi lễ khai mạc nên các bài diễn văn đó đều được dịch ra Anh ngữ trước để tiện bề theo dõi. Trong bài diễn văn của TT Iran có những đoạn thóa mạ Israel rất dữ dội, chẳng hạn nói Holocaust (lò hỏa thiêu của Đức quốc xã thời Thế chiến II để đốt sống dân Do Thái) là chuyện mơ hồ, đáng hoài nghi. Ahmadinejad còn tố cáo các nước Tây phương dùng chuyện Holocaust làm “cái cớ” để gây hấn chống dân Á rập Palestine .
Sáng thứ ba lễ khai mạc bắt đầu, hàng loạt các đại biểu của các nước Liên Âu đã đứng dậy lũ lượt kéo nhau ra ngoài. Nhưng các đại biểu của các nước khác, kể cả đoàn đại biểu của Vatican đã ngồi lại, vì có tin Ahmadinejad đã sửa lại vào giờ chót đoạn chối bỏ Holocaust. Riêng phái đoàn Mỹ và 8 nước Âu châu khác đã tẩy chay lễ khai mạc, vào dịp đêm trước là Ngày Tưởng niệm Holocaust, nơi hơn 2 triệu người Do thái bị đốt sống, và tỏ ý quan tâm về tính vô tư công bằng của buổi họp. Trong lễ khai mạc tại Geneva có tin diễn văn của Ahmadinejad đã được sửa lại, nhưng cả LHQ và phái bộ Iran ở Geneva cũng không cho biết tại sao có thay dổi. Người ta chỉ biết Tổng Thư Ký Ban Ki-moon hôm thứ hai nói ông đã gặp TT Iran, trước khi ông này đọc diễn văn, và nhắc nhở ông ta rằng LHQ đã từng chấp thuận các nghị quyết “bác bỏ quan niệm coi chủ nghĩa Zionism (đề cao dân tộc tính Do thái) là chủ nghĩa kỳ thị sắc tộc”, và xác nhận những sự kiện lịch sử kể cả vụ Holocaust.
Lúc mở đầu phiên họp, cả hội trường đã nhốn nháo, vì hai người phản đối đã ném lên diễn đàn những lỗ mũi mầu đỏ, đồ trang sức quen thuộc của mấy anh hề sân khấu, khi Ahmadinejad mở đầu bài diễn văn bằng một câu tụng kinh Hồi giáo. Nhóm sinh viên gốc Do thái từ Pháp đến, nói đó là họ muốn vạch trần một sự lừa bịp. Một số người phản đối bị đuổi ra khỏi phòng họp. Thói ba hoa chính chòe của Ahmadinejad không xa lạ gì với thế giới, nhưng ông ta chọn đúng thời điểm này để ra trò cứng rắn, có thể sẽ gây khó khăn cho những nỗ lực của Mỹ muốn làm bớt tình trạng đông lạnh trong mối quan hệ với Teheran. Tại Teheran trước đó một ngày, Tòa án Cách mạng đã lên án 8 năm tù một nữ ký giả 31 tuổi, Roxana Saberi, bị tố cáo làm gián điệp cho Mỹ. Nhưng qua ngày thứ ba tuần này, phát ngôn nhân Tư pháp Iran nói “bản án có thể được xét lại nếu chống án” – ý nói bản án có thể giảm. Trước đó các giới chức Mỹ nói Iran sẽ được hưởng thiện chí của Mỹ, nếu đáp ứng cụ thể điều Mỹ muốn là phóng thích nữ ký giả.
Hồi đầu tháng Tư, khi Mỹ đề nghị cải thiện bang giao với Iran Ahmadinejad đã nói: “Nước Iran hoan nghênh bàn tay chìa ra của Mỹ, nhưng nó phải chân thật và phải căn cứ trên trung thực, công bằng và tôn trọng lẫn nhau”. Nhưng chưa đầy một tuần sau, Ahmadinejad lại trở giọng chống Mỹ và tại Hội nghị Geneva, tuy đã bỏ đoạn nói đến Holocaust, nhưng vẫn tố cáo Israel là “kỳ thị chủng tộc”. Tại sao vậy? Đó là vì đến ngày 12-6, Iran sẽ có cuộc bầu cử Tổng Thống, Ahmadinejad hết nhiệm kỳ, sẽ ra tranh cử lại. Đối thủ của ông ta là cựu Thủ tướng Mir Hossein Mousavi, một người chủ trương cải cách và ủng hộ mối quan hệ tốt hơn với Mỹ. Mousavi có hy vọng thu được nhiều phiếu của giới trẻ, chiếm 40% cử tri. Những người ủng hộ Ahmadinejad đều thuộc phe phái cực đoan, nhưng tình hình kinh tế Iran hiện nay rất khó khăn, vì nạn lạm phát và thất nghiệp lan tràn, nên phe cực đoan càng ngày càng giảm. Tuy nhiên Ahmadinejad vẫn phải tỏ ra cứng rắn để vớt vát được phần nào hay phần nấy vào giờ chót.
Như vậy TT Obama chìa tay ra với cộng đồng thế giới, bạn cũng như thù,là…"hòa cả làng” chăng? Xin đừng tưởng bở. Cái chìa tay đó là thực tâm không phải giả dối, nhưng nó cũng có một ý nghĩa thật sâu sắc. Đó là Obama muốn mớm cho một chút tinh thần trách nhiệm, mỗi nước phải gánh vác lấy một phần đóng góp của mình vào việc giải quyết những khó khăn chung của thế giới, từ khủng hoảng kinh tế, môi sinh cho đến nạn binh đao mà có địa phương đang xẩy ra hay có thể sẽ xẩy ra vì bất cứ lý do gì. Nếu có mấy anh ngang bướng lấy le, không chịu thì sao? Dễ dàng thôi. Mấy anh cò con xé lẻ đó sẽ bị gạt ra ngoài sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Vận mạng sống chết ra sao, mấy anh hãy ráng chuốc lấy mối họa do chính mấy anh đã gây ra.
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.



GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Bom Tự Sát Ở Iran

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Bom Tự Sát Ở Iran

Bom nổ ở thành phố Pishin, trong tỉnh Sistan-Baluchi thuộc miền Ðông Nam của Iran, nơi tiếp giáp với Pakistan. Hôm chủ nhật nhà cầm quyền Iran đã chính thức loan báo tin này và cho biết có 6 Tư lệnh của Vệ Binh Cách mạng, trong đó có Phó Tổng Tư lệnh và 26 người khác bị chết, ít nhất có 28 người bị thương. Vụ đánh bom xẩy ra vào lúc có cuộc họp cao cấp của các giới chức Iran và những người cầm đầu cư dân địa phương.

Gốc dân Baluchi ở vùng này sống rải rác trên một miền đất rộng lớn bao trùm cả hai bên biên giới Iran và Pakistan. Ðầu tuần này Ðại tướng Mohammad Ali Jafari, Tổng tư lệnh Vệ Binh Cánh Mạng, một lực lượng quân sự lớn nhất của Iran, đã tố cáo ba nước Mỹ, Anh và Pakistan, có liên hệ với dân quân Hồi giáo Sun-ni gây ra vụ đánh bom tự sát, theo kiểu thường thấy là khủng bố cột bom vào người rồi trà trộn vào đám đông, nhấn nút cho bom nổ, tóm lại là “bom người” của al-Qaida. Jafari thề sẽ trả đũa dữ dội.

Ðây là lần đầu tiên Iran nói 3 nước Mỹ, Anh và Pakistan đã xúi dục khủng bố. Nhưng Jafari tố như vậy chỉ nhằm vào một nhóm dân quân nhỏ ở trong nước. Từ nhiều năm qua Iran gặp rắc rối nghiêm trọng ở tỉnh Baluchi. Dân thiểu số Sun-ni sống ở đây có nhóm tranh đấu địa phương gọi là Judallah tức Thánh Quân (cũng giống như Jihad là Thánh Chiến). Nhóm này xuất hiện năm 2002, đã tố cáo từ bao thế hệ qua, dân Baluchi hệ Sun-ni đã bị đa số gốc Shi-a ở Iran ngược đãi. Theo một cứ điểm lưới (website) của đạo Hồi vẫn thường đưa ra những lời tuyên bố của bọn al-Qaida, một bản tin nhân danh nhóm Judallah đã nhìn nhận trách nhiệm đánh bom tự sát. Không thể kiểm chứng sự nhìn nhận này là thật hay giả, nhưng cũng không hề thấy nói đến có sự tiếp trợ từ bên ngoài.

Hiện nay nội tình Iran đang có chuyện bất ổn lớn kể từ khi kẻ độc tài Ahmadinejad được tái đắc cử Tổng Thống vào tháng 6 năm nay, mặc dù phe đối lập có đa số dân ủng hộ đã nhiều lần biểu tình chống đối. Sự đàn áp dữ dội bằng vũ lực đã dẹp tan các vụ chống đối, nhưng niềm bất mãn vẫn âm ỷ trong đa số quần chúng. Bây giờ nếu nhóm Judallah mồi thêm ngọn lửa bùng lên, tình thế sẽ nguy hiểm vô cùng. Vào lúc này đại diện của hai nước Tây phương đang hội họp với đại diện Iran ở Vienna để thảo luận kín về chương trình hạt nhân của chính quyền Teheran. Ðại diện Iran đã hăm dọa gây khó khăn, nói Iran có thể không chấp nhận thỏa hiệp mới đạt được là Iran sẽ chuyển ra nước ngoài 3/4 kho dự trữ nhiên liệu nếu Tây phương không cung cấp cho Iran những loại nhiên liệu mới. Ngoài ra Iran cũng có một ý đồ khá độc đáo khi tố cáo bọn khủng bố đã từ Pakistan xâm nhập Iran.

Sự thật tin tức cho biết đây chỉ là hành động riêng của nhóm Judallah gốc Baluchi ở miền Nam, chớ không liên hệ đến nhóm Taliban và al-Qaida hoạt động ở miền Bắc Pakistan. Theo đài TV chính thức của Iran, Ahmadinejad đã điện đàm với Ali Zardari, Tổng Thống Pakistan, để nói: “Sự hiện diện của bọn khủng bố ở Pakistan là điều không thể chấp nhận được. Chính phủ Pakistan cần phải giúp vào việc bắt giữ chúng và trừng phạt bọn tội phạm càng sớm càng tốt”. Vẫn theo TV trên, Ahmadinejad còn nói: “Chúng tôi nghe nói một vài giới chức của Pakistan đã hợp tác với các phần tử gây ra các cuộc tấn công chúng tôi, nên chúng tôi có quyền đòi bắt các phần tử đó giao cho chúng tôi”.

Theo môt bản tuyên bố từ Phủ Tổng Thống Pakistan trong cuộc điện đàm, Zardari đã lên án gay gắt vụ đánh bom tự sát ở Iran và nói vụ này là “một hành động ghê tởm và mọi rợ, mang dấu tích của những bọn thù nghịch đang trốn chạy”. Thiết tưởng cũng nên nhắc lại từ hơn tuần qua quân đội chính quy Pakistan đã mở trận đánh dữ dội nhằm vào bọn khủng bố al-Qaida và Taliban ở vùng núi Nam Waziristan, tiếp giáp với Afghanistan. Vùng này ở phía Bắc cách xa với vùng Baluchi tiếp giáp với biên giới Iran ở phía Nam. Từ cuối tuần qua 30,000 quân chính quy Pakistan tăng cường tấn công khoảng 10,000 loạn quân, gồm có các nhóm khủng bố Taliban và al-Qaida ở Afghanistan đã xâm nhập từ lâu. Mỹ đã đặc biệt quan tâm tới trận đánh này. Ðầu tuần Ðại tướng Mỹ David Patreus, Tư lệnh vùng Trung Nam Á, đã hội kiến với Thủ tướng Raza Gilani và Tư lệnh quân đội Pakistan ở Islamabad. Tướng Artar Abbas, phát ngôn nhân quân đội cho biết 78 tên phiến loạn đã bị giết. Cuộc hành quân chủ yếu nhằm loại trừ bọn Taliban trên lãnh thổ Pakistan, bọn này liên kết với bộ lạc Mehsud đang kiểm sót lối một nửa vùng núi Nam Waziristan. Chính bọn này đã gây ra lối 80% vụ đánh bom tự sát ở Pakistan. Hôm thứ hai Abbas cho biết quân đội Pakistan chia ra làm ba mặt tiến quân sâu vào vùng bọn phiến loạn kiểm soát, tấn công chúng bằng rốc-kết, các chiến đấu cơ bắn phá và thả bom ở các khu phiến loạn như Ladha và Makeen. iranTheo tin tức dân chúng địa phương di tản, lần này bọn phiến loạn kháng cự dữ dội hơn so với cuộc hành quân ở Thung lũng Swat miền Bắc hồi đầu năm nay. Các giới chức Pakistan cho biết cuộc hành quân này có thể kéo dài hai tháng, khi mùa Ðông tới các hoạt động quân sự sẽ trở thành khó khăn. Trong khi đó Mỹ gửi gấp các chiến cụ đến giúp quân đội Pakistan, trong đó có cả kính nhìn ban đêm. Về mặt viện trợ Mỹ, ông John Kerry, cựu ứng viên Tổng Thống năm 2004, đã đồng bảo trợ một đạo dự luật viện trợ mỗi năm 1.5 tỷ đô-la cho các chương trình kinh tế và xã hội của Pakistan, trong 5 năm liền. Tổng Thống Obama dã ký đạo luật này tuần vừa qua. Chính phủ Pakistan tán dương luật viện trợ này, nhưng các phe đối lập và quân đội than phiền một số khoản viện trợ lại có những sự trói buộc khiến Mỹ có thể can thiệp vào việc nội bộ của nước này. Trói buộc gì vậy? Không có tin nào nói về khoản này, nhưng chúng tôi thiết nghĩ nó có thể liên hệ đến nỗ lực hòa giải giữa Pakistan và Ấn Ðộ, để quân đội Pakistan bớt canh phòng biên giới miền Ðông tiếp giáp với Ấn Ðộ, dồn sức mạnh vào biên giới miền Tây tiếp giáp với Afghanistan, nhất là để truy lùng bọn khủng bố len lỏi vào vùng Kashmir, nơi có sự tranh chấp lâu đời về lãnh thổ giữa Ấn và Hồi. Hôm thứ hai Cảnh sát Pakistan cho biết họ đã bắt sống được tên cầm đầu nhóm Taliban ở Karachi. Xét những diễn biến như trên, người ta có cảm tưởng cuộc chiến chống khủng bố đang trở thành phức tạp. Chống khủng bố là nhằm loại trừ những thành phần Taliban và al-Qaida của hệ phái Hồi giáo Sun-ni. Nay Iran theo hệ phái Shi-a chỉ muốn lợi dụng chiến dịch chống khủng bố al-Qaida để loại trừ nhóm Judallah ở trong nước, với mục tiêu tối hậu là củng cố chế độ độc tài ở Iran, đó chỉ là ảo tưởng.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tiến sỹ Alan Phan và làm ăn ở Việt Nam

Tiến sỹ Alan Phan và làm ăn ở Việt Nam

gocnhinalan.com – được ra mắt tại hội quán báo Thằng Mõ ở San Jose vào trưa Chủ nhật 23/8.
Trên 100 khách đã đến tham dự, trong đó có nhiều doanh nhân vùng Vịnh San Francisco như ông David Dương, Tổng giám đốc California Waste Solution; ông Trần Hồng Phúc Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam Oakland; ông Đỗ Vẫn Trọn của Truyền hình Viên Thao; ông Nguyễn Xuân Nam của TV và báo Calitoday; ông Huỳnh Lương Thiện của Tuần báo Mõ SF.
Ngoài ra còn có cựu phó thị trưởng Madison Nguyễn, kĩ sư Đỗ Thành Công và ủy viên giáo dục Vân Lê, là ba ứng viên cho chức Dân biểu Tiểu bang Địa hạt 27 vào năm tới.
Còn lại đa số là các bạn trẻ, trong đó có những sinh viên du học đến từ Việt Nam.
Tình hình còn mù mờ

Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông

 

Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông


Tái bố trí lực lượng tàu ngầm, một phần trong Kế hoạch Thái Bình Dương của Quân đội Mỹ

Trước sự lớn mạnh không ngừng của Trung Quốc, Ấn Độ cả về kinh tế và quân sự mà theo ông Lawrence Korb, cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ và bây giờ là nhà phân tích quốc phòng thì Trung Quốc và Ấn Độ đang nhanh chóng trở thành cường quốc hải quân, cũng như mối đe doạ từ một số quốc gia khác trong khu vực và nguy cơ bất ổn tại khu vực Châu Á, Chiến lược Quốc phòng mới của Mỹ đã có sự chuyển hướng chiến lược rõ rệt từ, coi Châu Á – Thái Bình Dương là chiến trường trọng điểm trong thế kỷ XXI.

Cùng với kế hoạch tái cơ cấu lại quân đội Mỹ tại tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam, xây dựng Guam thành một trung tâm hải quân, hải quân lục chiến và không quân chính tại Thái Bình Dương, cũng như tăng cường sự hiện diện liên tục của các loại máy bay ném bom chiến lược B-1, B-2 và B-52 và các loại máy bay tiêm kích thế hệ mới, Quân đội Mỹ cũng đang triển khai kế hoạch tái bố trí lực lượng tàu ngầm tấn công tại đây.
Kế hoạch Quốc phòng Bốn năm một lần 2006 – lộ trình 20 năm của Quân đội Mỹ – đã đưa ra kế hoạch đến năm 2010 sẽ bố trí 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công tại Thái Bình Dương và 40 % tại Đại Tây Dương. Theo Hải quân Mỹ thì trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công được bố trí ở Đại Tây Dương, sau Chiến tranh Lạnh thì lực lượng này đã được cân bằng 50-50.
Ngày 03 tháng 4, Tàu ngầm tấn công USS Jacksonville lớp Los Angeles đã cập cảng Trân Châu Cảng ở Hawaii.
Ngày 13 tháng 5, tàu ngầm USS Hawaii đã rời Căn cứ Tàu ngầm Hải quân ở Groton, bang Connecticut đến Trân Châu Cảng, theo kế hoạch sẽ đến đây vào tháng 7, và là tàu ngầm lớp Virginia đầu tiên có căn cứ tại Trân Châu Cảng. Đi sau tàu USS Hawaii sẽ là một tàu ngầm lớp Virginia khác, USS Taxas.
Theo kế hoạch, đến cuối năm 2009, sau khi tàu ngầm USS Hawaii và USS Texas đến Trân Châu Cảng, sẽ có 31 trong tổng số 53 chiếc tàu ngầm tấn công của Hải quân Mỹ sẽ có căn cứ chính ở Thái Bình Dương và 22 chiếc khác sẽ có căn cứ chính ở Đại Tây Dương. Trong tổng số 31 chiếc tàu ngầm có căn cứ chính tại Thái Bình Dương thì 13 chiếc có căn cứ tại Trân Châu cảng.
Hải quân Mỹ cho biết hàng chục quốc gia, trong đó có Bắc Triều Tiên và Iran, có tàu ngầm diesel, và hơn 180 tàu ngầm nước ngoài hoạt động tại Thái Bình Dương trong phạm vi các vị trí và các tuyến đường biển quan trọng.
Australia có kế hoạch mua thêm 12 chiếc tàu ngầm mới và Trung Quốc đã có 08 chiếc tàu ngầm lớp Kilo mới và một căn cứ hải quân mới trên Đảo Hải Nam, được gọi là “Hawaii” của Trung Quốc.
Ngọc Linh (Theo Honoluluadvertiser)

Mỹ đã đưa B-2 Spirit tới khu vực Thái Bình Dương, bọn chệt chó chớ có lộng hành

Chiếc máy bay ném bom tàng hình B2 của quân đội Mỹ vượt qua "bức tường âm thanh" giống như một chú cá đuối bứt lên làn nước.
Bộ quốc phòng Mỹ mới công bố bức ảnh máy bay B-2 đạt tốc độ âm thanh trong chuyến bay qua Palmdale, gần Los Angeles. Giới quân sự thường dùng hình ảnh "vượt qua bức tường âm thanh" để nói việc các máy bay loại này vượt ngưỡng tốc độ âm thanh.
Khi máy bay đạt vận tốc lớn hơn hoặc gần bằng vận tốc âm thanh, không khí xung quanh đột ngột giảm, dẫn tới nhiệt độ không khí giảm theo khiến hơi nước tụ lại thành những đám mây… Chuyển động của máy bay khiến các đám máy có hình chóp nón.
Ngăn chặn Trung Quốc, Mỹ chuyển 2/3 số tầu ngầm đến khu vực Thái Bình Dương

HAWAII 12-5 (NV) – Dồn dập một số biến cố trên biển Đông từ đầu năm đến nay, sự tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và sự gia tăng quân sự nhanh chóng của Trung quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ chuyển một loạt tàu ngầm tấn công tối tân nhất từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương.

__________________

There are three sides to any argument: your side, my side and the right side.

FBI sẽ huấn luyện và trang bị giúp CSVN siết chặt an ninh !!!??????????????!!!

San Francisco – Nguồn tin ẩn danh từ Hoa Thịnh Đốn cho hay một phái đoàn an ninh tình báo cao cấp nhất của CSVN gồm trên 10 tướng lãnh an ninh CSVN đã do Đại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An CSVN hướng dẫn đã đến làm việc với các ngành cao cấp nhất về an ninh của Hoa Kỳ trong suốt tuần lễ vừa qua. Phái đoàn nầy hôm Thứ Hai 20-4-2009 đã rời Washington DC bay về San Francisco để nghe Tổng Lãnh Sự CSVN tại San Francisco tường trình về những vấn đề liên quan đến tình hình Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt và các việc thi hành chính sách vận động Việt Kiều mà CSVN coi là “khúc ruột ngàn dặm”.

Tin tiết lộ cho biết phái đoàn cao cấp nhất ngành an ninh của CSVN lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ông Robert Muller, Giám Đốc cơ quan FBI Hoa Kỳ (Federal Bureau of Investigation). Cuộc tiếp đón có cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các ngành an ninh quốc nội và quốc tế của Hoa Kỳ cùng tham dự. Đại Tuớng Lê Hồng Anh sinh năm 1949 tại tỉnh Kiên Giang là cùng quê với Nguyễn Tấn Dũng. Lê Hồng Anh cũng giữ chức đại biểu quốc hội các khóa 11 và 12.

Trong tình hình Trung Cộng đưa tàu chiến vào biển Đông, ngang nhiên chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, muốn tấn công vào tàu thăm dò hải dương của Mỹ và khiêu khích chiến hạm Mỹ; tin nhận định rằng cuộc họp an ninh cao cấp nhất Việt Mỹ trong tuần qua có tính cách cấp bách và làm nổi bật sự hợp tác sâu rộng hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cũng theo tin nầy thì Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ bắt đầu việc dẫn độ các người phạm án tại Hoa Kỳ bị trả về cố quốc Việt Nam, trong khi những Việt Kiều Mỹ về Việt Nam hoạt động băng đảng, buôn lậu, trốn thuế và những hình thức phạm pháp khác đều sẽ bị an ninh của Bộ Công An bắt và chuyển thẳng cho Hoa Kỳ truy tố trước luật pháp Mỹ.

Tin cũng nóí rằng HK sẽ giúp huấn luyện về nghiệp vụ an ninh, cung cấp cho ngành an ninh cộng sản Việt Nam những trang bị tối tân nhất để chống tội phạm, chống xâm nhập biên giới và sẽ giúp Việt Nam có một hệ thống theo dõi công dân như hiện nay tại Hoa Kỳ. Việt Nam có trên 86 triệu dân, đi đâu cũng phải khai báo, nhưng cuối cùng rất khó theo dõi. Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam đơn giản hóa và quản lý bằng hệ thống điện tử nối mạng trên toàn quốc.

Việt Nam đang rất lo ngại việc Trung Cộng sẽ tiến thêm nhiều bước xâm lược và hai quốc gia Hoa Kỳ – Việt Nam sẽ cùng hợp tác trong việc chống lại chính sách bá quyền nầy của Trung Cộng. Điều khó khăn là nếu như để cho Trung Cộng tiếp tục khai thác Bauxit thì có thể có những khủng hoảng chính trị trong nội địa Việt Nam và phong trào bài xích từ bên ngoài Việt Nam. Nhưng nếu không để cho Trung Cộng tiếp tục thi hành hợp đồng khai thác Bauxit mà Việt Nam đã đặt bút ký tên, thì có thể có những đụng chạm đưa đến chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Cộng. Đó cũng là vấn đề mà theo tin tiết lộ, có thể là nội dung chính của cuộc hội đàm cao cấp Việt Nam và Hoa Kỳ về ngành an ninh trong tuần qua. Việt Nam đang cần Hoa Kỳ che chở trước hiểm họa Trung Cộng bành trướng, trong khi Hoa Kỳ cần Việt Nam như là điểm khai hỏa gần trái tim Trung Cộng nhất. Có thể một ngày gần đây, lá chắn phi đạn vùng Á Châu của Hoa Kỳ sẽ đặt tại phía Bắc Việt Nam.
Trong một bản tin của Tòa Đại Sứ CSVN tại Hoa Thịnh Đốn loan rằng: ”Nhận lời mời chính thức của một số cơ quan Chính phủ Mỹ, đoàn đại biểu Bộ Công an Việt Nam do Đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an, dẫn đầu thăm và làm việc tại Mỹ từ ngày 12/4 đến ngày 21/4.

Tại các cuộc gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật của Mỹ, hai bên thống nhất cần tiếp tục thúc đẩy và khai triển các quan hệ hợp tác trao đổi thông tin, nghiệp vụ, kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động chống khủng bố, các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, buôn người và rửa tiền.__________________

Kiềm chế bọn chó Chệt mắt hí mất dạy, Mỹ điều Hàng Không Mẫu Hạm USS Ronald Reagan tới Tây Thái Bình Dương

Myoko DDG-175 and the USS Ronald Reagan CVN-76 in the Philippine Sea conducting an underway refueling.

Hạm đội USS Ronald Reagan (CSG-7) sẽ xuất phát từ San Diego vào ngày 27/5/2009 để triển khai đợt hoạt động mới tại khu vực Tây Thái Bình Dương.
Đây được coi là một động thái tăng cường lực lượng quân sự, nhằm bảo vệ các quyền lợi của Mỹ cũng như để kiềm chế sự gia tăng của lực lượng Hải quân Tàu Chệt ở Thái Bình Dương.

Hạm đội (CSG-7) bao gồm tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76) chạy bằng năng lượng hạt nhân; Liên đội Không quân hạm số 14 (CVW-14); tuần dương hạm mang hoả tiễn điều khiển USS Chancellorsville (CG 62); các tàu chỉ huy; đội tàu khu trục số 7 (COMDESRON-7) gồm các tàu USS Decatur (DDG-73), USS Howard (DDG-83) và USS Gridley (DDG-101); khinh hạm USS Thach (FFG-43) và một phân đội thuộc đơn vị hậu cần cơ động số 11 (EODMU).

Trong đợt triển khai hoạt động lần này hạm đội Ronald Reagan CSG sẽ thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là phục cho nhiệm vụ chiến lược biển của quốc gia nhằm bảo vệ các lợi ích sống còn của Mỹ, cũng như thực hiện các hoạt động duy trì an ninh trên biển và sẵn sàng ngăn chặn những nguy cơ xung đột theo như cam kết với các nước đồng minh thân cận với Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương.
Tàu sân bay USS Ronald Reagan thuộc lớp Nimitz chạy bằng năng lượng hạt nhân, Ronald Reagan là mang tên của Tổng thống thứ 40 của Mỹ.
Trong đợt triển khai hoạt động lần trước, CSG-7 đã tiến hành các nhiệm vụ trợ giúp nhân đạo, hỗ trợ cho các lực lượng quân sự của Philippines, cung cấp hơn 519.000 pounds nước ngọt, gạo và thuốc men cho nhân dân Philippines bị ảnh hưởng trong trận bão Fengshen. Liên đội Không quân hạm số 14 của hạm đội cũng đã xuất kích 1150 lượt bay từ vịnh Oman để hỗ trợ cho Liên quân ở Afganistan. Đội tàu khu trục COMDESRON 7 cũng đã yểm trợ các hoạt động duy trì an ninh cho hạm đội số 5.

Trong đợt triển khai hoạt động lần này Liên đội Không quân hạm số 14 được biên chế gồm: 04 phi đội tiêm cường kích "Redcocks" (VFA) 22, "Fist of the Fleet" VFA-25, "Stingers" VFA-113 và "Eagles" VFA-115; 01 phi đội máy bay cảnh báo sớm "Black Eagles" (VAW) 113; 01 phi đội máy bay tác chiến điện tử "Cougars" (VAQ) 139; 01 phi đội hỗ trợ hậu cần "Hustlers" (VRC) 30 và 01 phi đội trực thăng chống ngầm "Black Knights" (HS) 4.

__________________

Hạm Đội USS George Washington (CVN 73) chuẩn bị cho đợt hoạt động mới tại Tây Thái Bình Dương để ngăn ngừa sự lộng hành của bọn chó chệt mắt hí


Theo tin từ hạm đội 7 cho biết, ngày 20/5/2009, Hạm đội USS George Washington (CVN 73) cùng với khoảng 5000 quân đã xuất phát từ Yokosuka, Nhật Bản để bắt đầu tiến hành các hoạt động ở khu vực Tây Thái Bình Dương, nhằm đánh giá khả năng tác chiến của tàu sau khi được trang bị một số thiết bị mới.

__________________

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..

Hiện nay HKMH và thuỷ thủ đoàn đã cùng với Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) đang thực hiện các khoa mục cất hạ cánh trên boong theo như chương trình huấn luyện từ đầu tháng 5/2009.
Theo trung tá Vincent Aiello, sỹ quan chỉ huy Liên đội Không quân hạm số 5 cho biết “Khả năng tác chiến (COE) là đánh giá khả năng hạ cánh trên boong và kỹ năng điều khiển máy bay theo các tiêu trí hoạt động của Hải quân”
Chứng chỉ COE là một dấu mốc quan trọng, bởi nó khẳng định khả năng tác chiến, kỹ năng hạ cánh an toàn trên boong và phục hồi lại các cú hạ cánh trượt của tàu sân bay và Liên đội Không quân hạm. Việc hoàn thiện COE sẽ cho phép Liên đội Không quân hạm và tàu sân bay thực hiện các phi vụ bay trên khắp đại dương mà không cần đòi hỏi phải có một sân bay đúng hướng.

Đồng thời Liên đội Không quân hạm của Biên đội CVN-73 cũng sẽ thực hiện các khoa mục huấn luyện tấn công không-đối-đất từ biển vào. Đây là một hoạt động thử nghiệm tốt của tàu sân bay và khả năng của Liên đội Không quân hạm, nhằm quản lý các loại vũ khí, cài đặt vũ khí lên máy bay và nhắm vào các mục tiêu trên bộ của đất chệt một khi bọn chúng dở trò mất dạy.
Biên đội tàu sân bay USS George Washington được biên chế gồm: tàu sân bay USS George Washington, Liên đội Không quân hạm số 5, đội tàu khu trục số 15, tuần dương hạm mang tên lửa điều khiển USS Shiloh (CG 67) và USS Cowpens (CG 63), đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Kevin M. Donegan; tàu sân bay USS George Washington do đại tá David A- Lausman chỉ huy; Liên đội Không quân hạm số 5 do đại tá Michael S. White chỉ huy.
Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) được biên chế các phi đội sau: Phi đội máy bay tiêm kích VF-154 Black Knights (các máy bay F-14A TARRS); các phi đội máy bay tiêm cường kích VFA-27 "Royal Maces" (F/A-18C), VFA-192 "Golden Dragons" (F/A-18C) và VFA-195 "Dambusters" (F/A-18C)va; phi đội máy bay trinh sát điện tử VAW-115 "Liberty Bells" (E-2C), phi đội máy bay cảnh báo sớm VAQ-136 "Gauntlets" (EA-6B), phi đội trực thăng chống ngầm HS-14 "Chargers" (H/SH-60F/H), phi đội máy bay đa chức năng VS-21 "Fighting Redtails" (S-3B) và phi đội máy bay VQ-5 "Shadows" Det A (ES-3Ava.
Căn cứ vào đánh giá COE, Biên đội CVN-73 sẽ bắt đầu đợt triển khai hoạt động đầu tiên vào mùa hè này nhằm bảo đảm an ninh và duy trì ổn định trong khu vực Tây Thái Bình Dương để khống chế sự lộng hành ngày càng gia tăng của bọn chó chệt mắt hí.

 

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..




GS Sơn Điển Nguyễn Viết Khánh : BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ

BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ


Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

 

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: QUAN HỆ ẤN-HỒI


GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: QUAN HỆ ẤN-HỒI

Trước hết cũng nên nhìn qua cuộc bầu cử ở Afghanistan vào ngày Thứ năm tuần trước. Loạn quân Taliban đã đánh phá rất dữ dội, ít nhất đã có 27 người chết trong ngày bầu cử, một số phòng phiếu bị đánh bom, trong khi người đi bầu chỉ có một nửa số 15 triệu cử tri đã ghi danh. Sau cuộc bỏ thăm, hai ứng viên hàng đầu là đương kim TT Hamid Karzai và cựu Ngoại trưởng Abdullah Abdullah đã có sự tranh cãi gay go. Abdullah tố cáo phe Karzai đã gian lận bầu cử ở các phòng phiếu do chính quyền kiểm soát. Kết quả chính thức sẽ được công bố trong hai tuần nữa. Các nhà quan sát cho rằng Karzai có thể tái đắc cử Tổng Thống, nhưng nếu số thăm của ông không đủ 50% cộng thêm 1 phiếu, một cuộc tái bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 10 năm nay. Tóm lại tình thế còn bấp bênh và căng thẳng kéo dài. Và cũng phải ghi thêm rằng Karzai và chính phủ của ông quá yếu, không đủ khả năng xây dựng quân đội và lực an ninh hiệu quả để bảo vệ an toàn cho người dân. Taliban đã chiếm đến 1/3 phần lãnh thổ do chúng cai trị, các phần khác vẫn bị đánh bom khủng bố, kể cả Thủ đô Kabul.

Rồi đây Mỹ và NATO từ từ rút hết quân, nếu Taliban chiếm được Kabul và toàn thể lãnh thổ thì sao? Trước hết phải nói rằng đây sẽ là một cơ may mới của Mỹ trong chiến thuật đánh khủng bố. Từ xưa đến nay Mỹ đem quân vào nước nào đánh khủng bố cũng giống như đánh nhau với một kẻ tàng hình. Chúng không lộ diện để đánh Mỹ. Nay nếu một nhóm khủng bố al-Qaida hay đại diện chính thức của nó ra mặt để thành lập một chính quyền có trụ sở có dinh cơ của các giới chức lớn nhỏ, kể cả những trại binh của chúng, Mỹ có thể tấn công khủng bố bằng mọi thứ vũ khí từ trên không hay từ ngoài biển mà không cần đến quân bộ chiến. Tính hiệu quả của thứ vũ khí này đã được chứng minh từ tháng 6 năm nay khi Mỹ dùng phi cơ không người lái (trên phương diện chính thức Mỹ không hề nói là của ai, từ đâu đến) để bắn phi đạn tấn công rất hiệu quả và chính xác vào những nơi ẩn náu ở nước Hồi (Pakistan), sát biên giới phía Ðông của Afghanistan.

Thứ sáu tuần qua, một nguồn tin chính thức từ Thủ đô Islamabad cho biết một tư lệnh của Taliban là Siraj Haqqani, có liên hệ với al-Qaida, đã bị phi đạn Mỹ bắn chết cùng với 12 tên Taliban khác ở vùng Bắc Waziristan, sát biên giới phía Ðông Afghanistan. Dân làng trong vùng này cho biết những người sống trong căn nhà bị phi đạn đánh đều là người Afghanistan. Trước đó vào ngày 5 tháng 8, một phi cơ không người lái đã bắn chết Baitullah Mehsud, một tay cầm đầu Taliban rất nguy hiểm từng bị Mỹ treo giải thưởng cho ai bắt sống hay giết được hắn. Cho đến nay Mỹ đã thực hiện chiến thuật phi cơ không nguời lái 40 lần tấn công rất hiệu quả bọn Taliban và al-Qaida lén qua Pakistan đánh chiếm vùng nghỉ mát Swat lừng danh ở Tây Bắc nước này. Quân đội chính phủ Pakistan đã mở các cuộc đánh lớn chống bọn ngoại xâm, nên rất tán thưởng chiến thuật đánh bằng phi cơ không người lái.

Nhiều lần xung đột bằng vũ khí bạo lực đã xẩy ra, nhưng rút cuộc vẫn phải có hòa giải tạm thời để hai bên còn bàn thảo đến việc phân chia lãnh thổ này thành 2 phần rõ rệt. Ðến khi Afghanistan có chính quyền Hồi giáo sau khi Liên Sô rút đi, dân đạo Hồi (Islam) đổ sang Kashmir để tranh đoạt toàn bộ lãnh thổ, chống lại người Ấn Ðộ vốn theo Ấn giáo. Những sự rắc rối nghiêm trọng bắt đầu từ đây.Trong các tôn giáo lớn trên Thế giới, đạo Hồi đứng hàng thứ 2 sau đạo Thiên chúa. Hồi giáo có 2 hệ, đông nhất là Sun-ni (80%), và hệ Shi-a (20%). Ðạo Hồi là đạo giảng dạy điều hay lẽ phải rất quý giá cho cuộc sống, chỉ có một thiểu số của hệ Sun-ni lợi dụng tôn giáo để lập ra nhóm khủng bố al-Qaida. Bởi vậy nếu nói vụ tranh chấp Kashmir do xung đột tôn giáo là sai. Sự thật đó là vấn đề hai chủng tộc Pakistan và India đã sống lẫn lộn với nhau từ nhiều thế kỷ qua. Về tôn giáo, những tín đồ Hồi giáo và Ấn giáo ở India đã chung sống rất hòa hợp trong suốt thời bị người Anh cai trị như một thuộc địa gồm cả hai phần Pakistan và India. Sau Thế chiến II, Ấn Ðộ được độc lập và người Hồi xin được tách riêng thành một nước gồm có 2 phần, mảnh phía Tây gọi là Pakistan và mảnh phía Ðông gọi là Ðông Hồi, nhưng về sau mảnh này cũng xin tách riêng để trở thành nước Bangladesh độc lập, một phần lãnh thổ tiếp giáp với Miến Ðiện.

Chính vì tình trạng phức tạp như vậy nên tôi nghĩ nếu Mỹ tìm cách hòa giải được Pakistan và India là có một chiến lược chống khủng bố thuận lợi nhất cho toàn thế giới. Pakistan chống khủng bố vì bọn Taliban đang xâm nhập nước này, khiến quân đội chính quy kể cả du kích và dân quân chính quyền cũng phải xuất trận để bảo vệ lãnh thổ. Còn India căm phẫn nhóm khủng bố al-Qaida từ Pakistan và Kashmir đã lén qua Mumbai gây một cuộc đánh phá và tàn sát làm chấn động cả thế giới hồi cuối năm ngoái. Với sự hợp tác này, Mỹ có thể nhìn đến cả vùng Ðông Nam Á, với Indonesia là nước có đông dân Hồi giáo nhất thế giới. Ðạo Islam truyền đến Indonesia bằng đường biển có vẻ hiền hòa, ít gặp tranh chấp như mối đạo truyền bằng đường bộ từ Trung Ðông qua các nước Trung Á.

Ðổi mới chiến lược chiến thuật về quân sự là điều cần phải làm, càng sớm càng tốt để giảm bớt thương vong cho quân sĩ, đồng thời tiết giảm những chi phí về chiến tranh kéo dài từ gần 10 năm qua tạo một gánh nặng cho ngân sách quốc gia và cũng là một phần của nguyyên do gây ra nạn suy thoái kinh tế trầm trọng nhất trong lịch sử. Ðổi mới chiến lược quân sự còn đem lại một cơ may về một sự hợp tác kinh tế đôi bên cùng có lợi với các nước trong toàn vùng Ðông Á và Ðông Nam Á, để giúp đẩy mạnh sự phục hồi kinh tế Mỹ.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Hoán Chúa Cầu An

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Hoán Chúa Cầu An

 Việc bổ nhiệm Jang đã được công bố sau một cuộc họp hiếm có của Quốc hội Tối cao Nhân dân Bắc Hàn, với sự hiện diện cũng hiếm có của Chủ tịch Kim Jong-il mà người ta đã biết đang bị chứng đau tim nặng từ 2 năm nay. Qua màn hình TV Bắc Hàn người ta chỉ thấy thoáng hình ảnh của họ Kim 68 tuổi, nên không rõ tình trạng của ông ta lúc này đã trầm trọng đến độ nào. 
(Ảnh: “Lãnh tụ kính yêu” Kim Chính Nhất và con trai vào 1981)Theo thông lệ ở các nước Cộng sản, Quốc hội Tối cao Nhân dân chỉ là mộtcơ quan “gật đầu đóng triện”, nên mỗi năm họp một lần để “thôngqua” những quyết định của đảng và Nhà nước. Quốc hội này đã họp hồi tháng 4, đến tuần này lại họp nữa nhưng không thấy nói tại sao phải họp thêm?
 

Báo chí trên thế giới không chú ý đến chuyện họp thêm này. Riêng tôi nghĩ chắc là việc cấp bách lắm rồi nên mấy ông cầm đầu CS Bắc Hàn không thể chờ đến sang năm. Cấp bách gì vậy? Bắc Hàn đang trải qua một cơn bĩ cực gay go về kinh tế chẳng thể làm ngơ, trong khi Nam Hàn đang ráo riết vận động LHQ trừng phạt Bắc Hàn về vụ tấn công một chiến hạm Nam Hàn làm chết 45 Hải quân. Cho đến nay Bắc Hàn đã chối cãi vụ này và báo chí nhà nước Bắc Hàn không thấy nói rõ cuộc họp “Quốc hội” Bắc Hàn có bàn thảo vụ này hay không.

Tuy vậy người ta cũng được biết thêm là trong cuộc họp tuần này ở thủ đô Bắc Hàn, nhân vật giữ chức Thủ tướng là Kim Yong Il cũng bị mất chức và được thay thế bởi Choe Yong Rim, một dân biểu Quốc hội. Như vậy các phe nhóm tranh chấp còn tìm cách đưa người vào ngồi ở những chức vụ quan trọng. Việc thay thế Thủ tướng đã được quyết định từ lâu, vì hồi tháng 2 năm nay Kim Yong Il đã làm một việc hiếm có là công khai lên tiếng xin lỗi nhân dân sau khi thất bại trong việc chỉnh đốn lại giá đồng tiền Bắc Hàn đã tạo ra bất ổn xã hội và nạn đói lan tràn.

Vậy các ông Cộng sản đổi tiền như thế nào? Hồi tháng 11 năm 2009, dân chúng Bắc Hàn được lệnh “đổi tiền”, theo thể thức đem một số giấy bạc cũ của Nhà Nước nhưng hạn chế số tiền là bao nhiêu để đổi lấy một số bạc đặt tên lại giấy bạc mới cũng của Nhà Nước. Thế nhưng toàn bộ giấy mới này xuống giá thê thảm vì Nhà Nước đã in ra quá nhiều để trả lương cho quân đội và Công an, khiến đồng tiền bị lạm phát. Kiểu đổi tiền này nghe cũng hơi quen với người dân Việt Nam sau năm 1975.

Các nhà phân tích nước ngoài về thời sự Bắc Hàn nói việc thay ngôi hoán vị người lãnh đạo thường là để chuẩn bị một sự thay đổi ngoạn mục của chế độ. Vậy thay đổi như thế nào? Tất cả còn phải chờ xem, nhưng chúng tôi nghĩ ở một chế độ mà lãnh tụ trường kỳ đau ốm, nội bộ đã ngấm ngầm có biến với những rạn nứt gay go, bởi vì các phe nhóm ở sát cấp thượng tầng đã âm thầm kèn cựa lẫn nhau với mục tiêu tối hậu là cướp lấy quyền lực tối cao để nhất thống giang hồ. Kim Jong-il là người đã nối chức cha từ năm 1994 trong cương vị độc tài tàn bạo, tất nhiên đã nhìn thấy rõ những nguy cơ đó có thể làm tan nát chế độ.

Vậy tại sao Kim không truyền “ngôi” cho con trưởng là Kim Jong Nam năm nay 39 tuổi? Nhưng chính anh Jong Nam này đã “dính trấu” mất rồi. Năm 2001 Jong Nam đã bị thất sủng sau khi bị bắt vì đã đáp một chiếc tầu chở khách đến Nhật Bản với Thông hành giả mạo của nước Cộng hòa Dominican để du hí tại vuờn Disney ở Tokyo. Hôm thứ hai tuần này, một tờ báo của Nam Hàn là Joong Ang Ilbo xuất bản đại đa số kiểu bán chợ trời ở Nam Hàn, cho biết người ta đã tìm thấy tung tích của cậu cả Jong Nam ở một khách sạn tại miền Nam Trung Quốc trên phần đất gọi là Macao.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi ở trên thang máy, Jong Nam đã cải chính tin nói anh ta đã xin tỵ nạn chính trị ở Âu châu, vì anh ta đã mất hết quyền lực trong vụ đấu đá tranh “vương quyền đỏ” với người em út của anh ta. Jong Nam nói: “Tôi không có kế hoạch qua Âu châu sinh sống. Tại sao tôi phải làm thế? Tôi qua Âu châu là để đi nghỉ hè”. Có lẽ mùa hè ở nước băng tuyết năm nay rực lửa, nên cần phải “nghỉ mát”, thật cũng hợp lý thôi.

Thế còn con trai út của họ Kim thì sao? Anh này tên là Kim Jong Un, 28 tuổi, còn quá trẻ nên 9 năm trước khi anh cả Jong Nam bị quần thần chống đối, Chủ tịch Kim Jong-il đã có định chuẩn bị cho Kim Jang Un lên kế vì. Khốn nỗi lúc đó Jong Un quá trẻ nên bị quần thần dị nghị, nhất là ông đồng hao ngày nay Jang Song Thaek cũng chống đối nên Kim Jong-il phải từ bỏ ý định lập con út kế vị ngai vàng…”đỏ”.

Thế nhưng việc lập ra một tay lãnh đạo mới nghe chừng vẫn chưa đủ. Trước mắt việc khó khăn nhất chế độ Bắc Hàn phải đối phó là vụ bắn chìm chiến hạm của Nam Hàn. Bắc Hàn chối cãi, Nam Hàn đã đưa vấn đề ra trước Hội đồng Bảo an LHQ. Cố nhiên hai bên còn tranh chấp bằng mồm chớ chưa dùng súng, nhưng tình trạng này đã khiến các nhà đầu tư quốc tế thấy ngại ngùng, không muốn bỏ tiền ra làm ăn ở bán đảo này nữa. Ðầu tư hết, mậu dịch cũng hết. Khó cho Bắc Hàn hơn Nam Hàn vì ở Nam Hàn còn có quân Mỹ đóng ở đó, sư giao lưu kinh tế Mỹ-Nam Hàn còn tiếp tục. Quân đội Mỹ và Nam Hàn có kế hoạch thao diễn quân sự trong tháng này, để xem quân đội hai nước đã sẵn sàng đến độ nào nếu Bắc Hàn gây hấn.

Trung Quốc là đồng minh chính của Bắc Hàn và là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Nếu muốn có nghị quyết lên án Bắc Hàn, Hội đồng Bảo an cần phải có lá phiếu của Trung Quốc. Sáng thứ Ba lại có chuyện bất ngờ. Bắc Kinh loan tin quân biên giới Bắc Hàn đã bắn chết 3 người Trung Quốc bị nghi là buôn lậu. Vậy Trung Quốc sẽ có thái độ ra sao tại Hội đồng Bảo an? Tôi thích theo dõi vụ này, để xem Bắc Hàn có chịu biến đổi một chế độ cai trị, từ một chủ thuyết chính trị đã lỗi thời để cập nhật hóa thành một chế độ mới làm việc cho dân, lấy quyền lợi của dân tộc làm ưu tiên, thứ mới đến quyền lợi cho đảng hay bất cứ phe nhóm nào. Tôi tin nhiều người cũng đang theo dõi cuộc thí nghiệm này.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tân Cương & Việt Nam

Tân Cương & Việt Nam

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Trong những ngày qua, cuộc xung đột của sắc tộc Uighur tại Tân Cương đã gợi lại cho người Việt Nam phải nhớ đến dòng lịch sử của dân tộc. Nhớ về lịch sử để hãnh diện và cám ơn tổ tiên và đồng thời cũng lo lắng cho hiện tại của đất mình. Thực sự mà nói, nếu không có cuộc xung đột của người Urumqi vừa qua, có lẽ người Việt Nam chúng ta cũng ít người biết đến họ là ai và bối cảnh lịch sử của họ ra sao.

Nói về Tân Cương, Tân Cương là một vùng chiến lược, sát biên những nước như Nga, Iran, Afghanistan, nhất là các nước Trung Á cùng theo Hồi Giáo và ngôn ngữ và chủng tộc liên hệ với người Uighur. Theo sử sách ghi chép sắc tộc Uighur đã bị đế quốc Mông Cổ thống trị từ thế kỷ mười hai, bắt đầu khoảng năm 1218, sự thống trị này rất dài dưới nhiều hình thức và cho đến thế kỷ thứ mười tám, họ lại tiếp tục bị nhà Thanh chiếm đóng và trở thành Tân Cương, một cái tên mang ý nghĩa một cương giới mới của người Tầu. Trong khoảng thời gian thuộc nhà Thanh, vào thế kỷ thứ mười chín, người Uighur và người Hồi cũng đã có những cuộc nổi dậy giành độc lập, nhưng rất tiếc những tháng ngày độc lập của họ chỉ giữ được từng giai đoạn rất ngắn, và sau cùng đến năm 1949 thì hoàn toàn thúc thủ để trở thành một khu tự trị thuộc quyền khống chế của Trung Cộng cho đến hôm nay.

Hiểu về bối cảnh lịch sử của người Uighur và Tân Cương, chắc chắn người Việt Nam không thể quên được những giai đoạn lịch sử hào hùng nổi bật của dân tộc trong suốt hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Cùng trong thời gian thế kỷ thứ mười hai, khi người Uighur bị thúc thủ, thì tại Việt Nam, với truyền thống bất khuất, Hưng Đạo Vương đã anh dũng đánh tan quân Mông với trận Bạch Đằng, giành được chủ quyền để tiếp tục xây dựng bờ cõi… Tiếp theo sau, vua Lê Lợi đại phá quân Minh vào năm 1428 và các cuộc kháng chiến nối tiếp, kéo dài với nhiều thế hệ đến thế kỷ thứ mưới bảy, sau khi Lê Chiêu Thống “Cõng rắn cắn gà nhà”, Quang Trung Đại Đế đã xuất hiện với những chiến tích lẫy lừng và để lại trên dòng lịch sử một “Gò Đống Đa” với hàng vạn xác quân Thanh vào năm 1789. Tiếp nối dòng lịch sử với những thăng trầm, suy, thịnh của nhà Nguyễn và để lại cho con dân Việt Nam một giải giang sơn gấm vóc hôm nay. Một điều đau buồn, khi vận nước suy vi trong thế trận của các cường quốc trên thế giới, đất nước đã bị bọn tham tàn, hèn nhược CSVN chiếm lĩnh, để ngày nay từng phần đất từng được vun, bồi bằng xương máu của biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ, đang tức tưởi mất dần trong tay Tầu cộng…

Hôm nay nhìn về Tân Cương, là con dân Việt Nam, chắc chắn ai cũng thấy được những niềm tự hào của lịch sử, nghĩ về những công lao xương máu của tiền nhân. Tuy nhiên, không phải chỉ biết ôm ấp những tự hào ấy một cách thụ động yếm thế. Ngược lại, phải làm sao đoàn kết, vực dậy sức mạnh hào hùng bất khuất, cùng nhau đòi lại quyền tự quyết, hầu có thể giữ vững bờ cõi, bảo vệ và phát huy niềm tự hào ấy trong vĩnh cửu.

Trong hoàn cảnh đau buồn, uất nhục của đất nước dưới ách thống trị dã man và hèn nhược cuả tập đoàn CSVN, nếu người dân Việt Nam, không thể vứt bỏ những vị kỷ thấp hèn của nội tâm, để cùng nhau vùng lên tận diệt bọn sói lang này, chắc chắn Việt nam sẽ là một Tân Cương thứ hai trong một tương lai gần. Bằng chứng hiển nhiên cho thấy những hiện tượng đã và đang xẩy ra, có thể coi như những thông điệp báo trước cho một viễn cảnh uất nhục vong quốc gần kề. Những hiện tượng người dân Trung cộng tràn vào Việt Nam không cần Visa; Trung cộng lấn chiếm biển đông, cấm ngư dân Việt Nam hành nghề trên chính vùng biển của quốc gia mình; Trung cộng khai thác Boxite tại tây Nguyên, và mới đây 200 công nhân Trung cộng tấn công, hà hiếp một làng Việt Nam, nhưng đám lãnh đạo CSVN vẫn cúi đầu ú ớ lấy lệ như một con chó trung thành, khiếp nhược dưới chân ông chủ.

Sự thật hiển nhiên trong cuối tháng sáu vừa qua, bọn lãnh đạo CSVN đua nhau chạy sang Bắc Kinh vuốt ve quan thầy như sự kiện Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đã “phấn khởi, hồ hởi” tung hô “16 chữ vàng”; Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng cũng xum xoe với ”Tình hữu nghị truyền thống giữa hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước Việt Trung là tài sản qúy báu, cần hết sức giữ gìn và không ngừng phát huy mạnh mẽ..”. Còn Nông Đức Mạnh, nhân vật cao nhất của đảng thì gập mình, ngóc cổ “cảm ơn sự giúp đỡ to lớn mà đảng, nhân dân trung Quốc đã dành cho Việt Nam”. Đó là chưa kể đến hành động bán nước qua công hàm xác nhận chủ quyền của Trung cộng mà Phạm Văn Đồng đã ký năm 1958; Lê Công Phụng thay mặt cho đảng, nhà nước CSVN ký hai Hiệp định, phân định biên giới và đã dâng hiến một phần giang sơn vào năm 1999-2000, để rồi Nam Quan, Bản Giốc đã vĩnh viễn tách rời thân thể mẹ Việt Nam một cách tức tưởi, đau thương…

Nhìn lại hoàn cảnh người Uighur tại Tân Cương hiện tại, có thể nói khó khăn hơn Việt nam rất nhiều, theo nhiều tài liệu cho biết, trong 60 qua qua kể từ năm 1949, sau khi Trung cộng hoàn toàn chiếm đóng và khống chế, con số người Hán ở Tân Cương đã tăng từ 6% lên 40%, chưa kể các lực lượng quân đội đồn trú và gia đình của họ. Như vậy, nếu dân Việt Nam không kết hợp được các lực lượng Tôn giáo, đảng phái, phe nhóm để cùng vực dậy sức mạnh của dân tộc, hầu có thể đòi lại quyền tự quyết từ bàn tay độc tài toàn trị CSVN thì tương lai trong vài chục năm nữa sẽ ra sao???…

Xoay quanh vấn đề xâm lăng chủng tộc, chiếu theo thống kê hiện tại, khoảng 20 triệu thanh niên Tầu cộng không thể lập gia đình vì nạn trai thừa gái thiếu. Vì vậy, hiện nay đã có rất nhiều thanh niên Tầu cộng xin tình nguyện sang Việt làm việc và tìm cách lập gia đình ở lại. Hơn nữa, trong chính sách độc tài toàn trị của CSVN, tham nhũng đã được phát triển rất mạnh như một quốc sách, đại đa số người dân Việt càng ngày càng đói rách tận cùng. Trong khi đó, với bản chất hèn nhược tay sai của CSVN, thanh niên Tầu cộng tất nhiên sẽ được đối xử ưu tiên, o bế như “quốc khách”, phần tài chánh cũng khá hơn người Việt Nam rất nhiều. Như vậy thử hỏi, trong vài chục năm nữa, sẽ có bao nhiêu dân Tầu cư ngụ trên đất nước Việt, và lúc đó hoàn cảnh Việt Nam sẽ có thể thê thảm hơn Tân Cương và Tây Tạng hiện nay.

Sau cùng, trước viễn cảnh đen tối của đất nước, thiết nghĩ người dân Việt Nam hãy cam đảm dứng dậy như người dân Uighur tại Tân Cương trong mọi lãnh vực và mọi hoàn cảnh, chỉ có sức mạnh dân tộc mới có thể cứu nguy cho đất nước như đã từng thể hiện qua những giai đoạn của tiền nhân trên dòng lịch sử. Thực sự mà nói, lý do nổi dậy của người Uighur tại Tân Cương có thể tạm ví như những người dân oan, những trù dập đàn áp tôn giáo, bắt bớ, khủng bố những nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam..v..v… . Vì thế, ngay trong thời gian này, CSVN đang mở cửa bang giao với các nước tự do trên thế giới và nội bộ cũng có nhiều lúng túng. Đồng thời các phong trào đấu tranh đang dâng cao trong và ngoài nước. Đo đó, thiết nghĩ đây là cơ hội tốt nhất để có thể vực dậy được sức mạnh dân tộc, nếu mọi người Việt nam trong và ngoài nước, chúng ta cùng ý thức được trách nhiệm của chính mình với tổ quốc, chắc chắn chế độ tham tàn, dã man, hèn mạt CSVN phai ra đi, đất nước và dân tộc sẽ được an vui trong ánh sáng vinh quang, tự hào của lịch sử.

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

http://nsvietnam. com/online/ binhluan/ 071909-tancuong. html




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh : Âm Mưu Nguyên Tử Iran

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Âm Mưu Nguyên Tử Iran

ÐSự cảnh giác nói trên cho biết hồi tháng 1 năm 2010 Iran loan báo đã thực hiện được vài lần thí nghiệm thanh lọc uranium mà trên lý thuyết có thể dùng để làm một đầu đạn nguyên tử. Sau đó Iran chối cãi và nói các cuộc thí nghiệm chỉ diễn ra mấy tháng sau. Vào tháng 5 năm nay, khi các thanh sát viên quốc tế đến xem Phòng Thí nghiệm Jaber Ibn Hayan ở Teheran, những dụng cụ thí nghiệm thanh lọc nguyên tử đã bị đem dấu ở nơi khác rồi. Tuy nhiên đến tháng 6, Iran nói không hề thí nghiệm lọc nguyên tử và cũng không hề có việc đem dấu các dụng cụ thanh lọc. Iran ra tuyên bố nói bản báo cáo của Cơ quan Nguyên tử quốc tế là “giả tạo chỉ nhằm gây ảnh hưởng đối với dư luận quốc tế”.

Về vụ cấm hai thanh sát viên, người cầm đầu Tổ chức Nguyên tử năng của Iran, Ali Akbar Salehi nói trên TV Teheran rằng Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế đã được thông báo về vụ cấm hai thanh sát viên, như ông ta không chịu nói rõ tên tuổi hai người đó. Salehi nói: “Tuần trước chúng tôi đã nói rõ cho Cơ quan quốc tế tên hai thanh sát viên bị cấm vào nước Iran. Hai người này từ nay không được phép đến Iran. Báo cáo của hai người đó là giả tạo và họ đã tự công bố ra trước khi được Cơ quan quốc tế cứu xét”. Salehi còn nói Iran trung thành với những sự giao ước quốc tế và các thanh sát viên của Cơ quan Nguyên tử năng vẫn được đến thanh tra các phòng thí nghiệm và nhà máy thanh lọc nguyên tử của Iran.

Thiết tưởng cũng nên nhắc lại từ năm 2006, sau khi hồ sơ về vụ nguyên tử của Iran được đệ trình Hội Ðồng Bảo An LHQ, Iran chỉ giới hạn sự hợp tác của họ với quốc tế trong Hiệp ước Cấm sự lan tràn của Vũ khí Hạt nhân. Ðến năm nay từ hồi đầu tháng 6, Hội đồng Bảo An LHQ ra lệnh trừng phạt Iran đến đợt thứ 4 về Chương trình Nguyên tử của nước này. Sở dĩ có lệnh đó là vì Iran đã không chịu ngưng việc thanh lọc chất uranium. Như mọi người đã biết công cuộc thanh lọc này tạo ra hai loại nguyên liệu: uranium để chạy máy tạo ra điện và uranium để làm bom nguyên tử nếu thanh lọc uranium đến độ cao.

Ðến thứ Ba tuần này Iran đã phải đổi giọng và nói sẵn sàng nói chuyện lại với Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế theo sự gợi ý của Pháp. Nước Pháp cho đến nay đã 4 lần biểu quyết trừng phạt Iran về âm mưu chế tạo vũ khí nguyên tử. Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy đề nghị mở cuộc đàm phán giữa Iran và Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế, trong đó có đề nghị trao đổi nhiên liệu hạt nhân. Ngoại trưởng Iran Mottaki trong một cuộc phỏng vấn trên đài TV, hoan nghênh đề nghị của TT Pháp và nói: “Chúng tôi tin có những dấu hiệu nghiêm chỉnh do Pháp đưa ra để đưa đến một hành động vô tư”.

Ðiều này trên thực tế cho thấy Iran đã phải lùi một bước vì một lý do dễ hiểu. Iran đang gặp phải những khó khăn kinh tế rất gay go. Trong nội bộ Iran đã có những cuộc biểu tình chống đối lớn và liên tiếp mặc dù đã có những sự đàn áp đẫm máu của bọn Vệ binh Cách mạng và đám “dân quân” làm tay sai của chúng. Ở đây thiết tưởng cũng nên nhìn đến chế độ cai trị của nước này. Tổng Thống Iran Ahmadinejad là người nổi tiếng cho đến nay vì những lời lẽ huênh hoang phách lối đả kích Mỹ và các nước Tây phương, thật ra chỉ là bù nhìn tay sai của bọn Vệ Binh Cách mạng. Chế độ cai trị của Iran sự thật là một chế độ độc tài của một nhóm quân nhân quá khích, chớ không phải là một kẻ độc tài duy nhất như các tên độc tài khét tiếng vào khoảng giữa Thế kỷ 20: Hitler của Ðức Quốc Xã và Stalin của Cộng sản Nga.

Chỗ yếu của Vệ Binh Cách Mạng Iran là chúng không phải một cá nhân duy nhất nắm quyền sinh sát, mà là một tập hợp của một bọn người võ biền cuồng tín, lấy tôn giáo làm cái khiên để che đậy những tham vọng cá nhân của chúng. Nhưng khi đã là một nhóm tham vọng mù quáng, lẽ tất nhiên chúng có sự ghen tị ngấm ngầm lẫn nhau. rút cuộc chỗ yếu nhất của chúng là không tránh được sự tan vỡ. Chúng tôi thiết nghĩ đây là một tấm gương lớn cho các “nhóm” độc tài, độc đảng còn rơi rớt trên thế giới ngày nay.

Riêng đối với Iran, TT Ahmadinejad chỉ là một anh bù nhìn có lẽ cũng muốn thoát ra khỏi cái gông cùm đó, nên rất có thể đang tìm cách thoát ra khỏi sự kiềm chế của Vệ Binh Cách Mạng. Bởi thế Ahmadinejad đã nắm lấy cơ hội đề nghị của Pháp để Iran một mặt giải quyết được vụ phong tỏa kinh tế, một mặt giải quyết được nạn “tập đoàn độc tài” đang lần át quyền hành của một Tổng Thống. Nhưng sẽ là một sai lầm lớn nếu Ahmadinejad âm thầm tự xây dưng một chế độc độc tài cá nhân. Bởi vì dân Iran ngày nay đã thức tỉnh hơn thời xưa rất nhiều, họ sẽ nhân cơ hội này tranh đấu quyết liệt để xây dựng một chế độ tự do dân chủ theo xu thế không thể tránh của Thế kỷ 21.

Cũng vào sáng Thứ ba tuần này, đài TV quốc gia Iran loan báo nước này sẽ gửi một tầu viện trợ đến Gaza mang theo 1,000 tấn đồ viện trợ cho người dân ở đây. Iran coi Israel là kẻ thù không đội trời chung, và cho đến nay vẫn ủng hộ bọn khủng bố Hamas. Có thể chuyến tầu tiếp cứu này sẽ đụng độ vói quân lực Do thái. Theo đài TV Iran thuật lời phát ngôn nhân Adibzadeh, chuyến tầu chở hàng đã khởi hành vào Chủ Nhật trong chuyến đi dự liệu trong 14 ngày. Chuyến tầu được mệnh danh là “Trẻ em của Gaza” chở theo 10 hành khách, trong đó có 5 ký giả, ngoài những thủy thủ trên tầu. Hãy theo dõi chuyến đi này và chúng ta không quên hồi tháng 5, quân đội Israel đã ngăn chặn một đoàn 6 tầu chở đồ tiếp tế của Thổ Nhĩ Kỳ đến Gaza và bắn chết 9 người trên tầu.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh