Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?

Tài liệu sưu tầm. Nguồn: Internet

Mai Thanh Truyết: Một nhà báo, nhà chính trị hay một nhà Khoa Học?

Nói đến Tiến si Mai Thanh Truyết thì đồng bào hải ngoại, nhất là những ai sống ở Nam Cali hẳn không xa lạ.  Lại càng không xa lạ đối với những ai hằng quan tâm đến những vấn đề thời sự, khoa học và môi trường v.v…

Nói về những bài viết của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chúng tôi nhận thấy ông không viết về đề tài nào khác hơn ngoài những vấn đề có liên quan đến khoa học. Ông không viết về một xứ sở nào khác ngoài đất nước Việt Nam cùng với những vấn đề nóng bỏng của nó. Và nếu có đi vào tìm hiểu một số khía cạnh thuộc về môi trường, hoặc phương thức sản xuất của một số nước nào đó thì cung chỉ là cốt để soi sáng cho tình trạng chậm tiến của đất nước Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rõ chủ trương (chính trị) của cầm quyền CSVN đã và đang “ăn thông” với CSTQ để làm hại đất nước và người dân về nhiều phương diện. Sự kiện này được thấy rõ qua việc làm vô trách nhiệm cùng thái độ ươn hèn, khuất phục của CSVN đối với sự xâm thực một cách có chiến lược của CSTQ cùng những hiểm hoạ của nó.

Những đề tài mà ông đã nói lên hoặc viết ra thực tình mà nói, trong khuôn khổ một bài nhận định ngắn này, với một kiến thức hạn hẹp của người viết như thế này, không sao kể hết và nói xuể. Sở dĩ như vậy vì các bài viết hoặc nói chuyện của ông vô cùng phong phú và đa dạng. Đại để có thể nói một cách không đắn đo rằng: Dù dưới bất cứ một đề tài nào, ông cũng chứng tỏ một sự vững vàng trong lập luận, chính xác về nguồn tin, rất khoa học khi phân tích và không thể phủ nhận chất hăng hái trong lối trình bày. Nếu bảo rằng ông là một nhà hùng biện thì cũng không đúng, và cũng không đúng hẳn khi nói rằng ông có “khoa ăn nói” như những người có tiếng là nói năng hay. Nhưng ông có một cái độc đáo riêng, “Mai thanh Truyết” là Mai Thanh Truyết. Không thể lầm lẫn với một Phan văn Song hay Nguyễn văn Trần-hai người bạn thân mà trong quá trình hoạt động Cộng Đồng chúng tôi có hân hạnh được biết. Lại càng không giống như Luật sư Trần Thanh Hiệp, một nhà tranh đấu có tiếng từ lâu, và là một trong những người bạn thân cũ của ông.

Điều quan trọng người viết muốn nhấn mạnh ở đây chính là giá trị của những bài viết của ông. Nó phản ảnh rất trung thực con người ông, lời nói cũng như việc làm. Nhất là có một tác dụng đáng kể: vừa chính xác, vừa có tính cách vô vị lợi. Và đó cũng chính là con người của ông. Có thể nói kể ra cũng bằng thừa, những điều ông đã viết, đã lên án, đã vạch trần và đã tố cáo cho mọi người, khắp nơi, trong cũng như ngoài nước biết rõ, biết chính xác về những điều ông thấy, đọc, nghe và nghiên cứu. “Tự giác, giác tha”, ông không chỉ là một nhà khoa học, một ông thầy dạy học, một đảng viên kỳ cưụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng, một nhà tranh đấu, và thêm vào đó là một Phật tử chân chính nhưng không câu nệ. Nếu đi sâu vào từng khía cạnh một thì không thể kể hết, nên chỉ còn cách là mời các thức giả vào nghiên cứu những khía cạnh ông viết, nói và chia xẻ.

Những đề tài trong quá trình tranh đấu của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết có thể nói “vô tận”, nghĩa là “không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc” (lời ông nói trong một cuộc phỏng vấn về vấn đề hâm nóng toàn cầu). Một nhà chính trị không lập thuyết, một nhà khoa học không ngồi trong tháp ngà tư tưởng để chỉ nghiên cứu trên lý thuyết, nói cách khác một nhà hoá học thực nghiệm, Ông không chỉ mãn nguyện và an vị trong phòng thí nghiệm là đủ. “Con người” ông quả có nhiều “nghịch lý”. Là một chuyên viên phụ trách vấn đề phát thải tại Mỹ lại thường xuyên nghiên cứu về môi trường mãi tận Việt Nam. Từ bãi rác Đông Thạnh miền Nam đến vấn đề những dòng sông chết ở miền Bắc. Từ vấn đề Đồng Bằng sông Cửu, đến việc khai thác Bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Ông “đi” khắp nơi, và đặc biệt chú trọng đến vấn đề môi trường ô nhiễm theo nghĩa toàn diện (không khí, đất và nước…vốn là những điều kiện cần cho cuộc sinh tồn của nhân sinh).

Đó là việc làm và là con người của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết. Nhưng vượt trên hết là một con người đấu tranh, đấu tranh theo nghĩa thiết thực nhất. Về điểm này có thể nói, ông còn nặng nợ với núi sông; mà hai điểm chính yếu và nổi bật nhất là đất nước và người dân: Nặng lòng với đất nước, quan tâm cho cuộc sống người dân. Phi tâm huyết, một người không thể làm được như vậy. Rõ ràng là ông đa đoan, cho nên:

Lại mang lấy một chữ tình,

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” (Kiều)

như một nàng Kiều nặng tình với Kim Trọng. Nhưng “tình” đây chính là tình đối với đất nước, thiên nhiên, môi trường thiên nhiên và mối quan tâm đến con người. Và, ông không chịu ngồi yên một chỗ, hết “keo” này, ông bày “keo” khác.

Cho nên khi nói đến việc làm của ông mà không nói đến con nguời thì quả là một điều thiếu sót. Tôi không sống ở Mỹ nhung qua những mẩu đối thoại cá nhân, hoặc những bài nói chuyện với cộng đồng thì có thể biết được ông nghĩ gì và muốn gì… Chưa bao giờ ông đề cập đến con người của ông nhưng qua lối diễn tả, cách tiếp xúc, và lời lẽ đặc biệt “Nam Kỳ“ của ông người ta thấy thể hiện một sự chân chất, không màu mè, kiểu cách. Ông thân thiện với tất cả mọi người, dễ dàng và cởi mở. Quả thực Tiến si MTT có một cái gì làm người ta quý mến và cảm phục. Cảm phục không phải vì “tài năng xuất chúng” nhưng vì sự kiên tâm tranh đấu không mệt mỏi của ông.  Đối với cộng đồng chúng tôi thì mối liên hệ với ông Tiến Sĩ họ Mai này lại có phần hơi đặc biệt. Đặc biệt là vì chúng tôi có những ý kiến chia xẻ cùng những nhận định về thời cuộc hay nói chung là về vấn đề liên quan đến Việt Nam. Có thể nói, không “ngoa”, rằng Mai Thanh Truyết là một người có tâm huyết với đất nước, một trong số hiếm những nhà tranh đấu chân chính hiện nay.

Hơn thế nữa, có thể nói khá chính xác rằng hiện nay ở Cali ông là người duy nhất gióng lên tiếng chuông báo động cho đồng bào thường xuyên nhất, tích cực nhất, những điều nóng bỏng nhất và cũng thiết thực nhất . Chỉ nguyên phản ứng của quần chúng đối vấn đề thực phẩm có độc tố, dù là tán thành hay phản đối- mà đa số vì muốn bảo đảm sức khỏe an toàn- đều hưởng ứng khá mạnh mẽ. …cũng đủ thấy việc làm của ông không phải là thừa. Ấy là chưa kể còn nhiều lãnh vực khác mà ông luôn luôn một mình, một ngựa có ông đi hàng đầu”.

Nhưng điều tôi muốn nói ở đây không phải chỉ là vì những hoạt động của ông đối với đất nước trong suốt hai mươi năm qua- Những đóng góp ấy không phải là nhỏ, trái lại rát phong phú và đa dạng. Đa dạng như chính con người của ông – mà là ý nghĩa và cộng đồng chúng tôi được hân hạnh gặp Tiến si Mai Thanh Truyết vào buổi xế chiều một ngày tháng 7 tại một thành phố Miền Tây Canada. Lúc ấy là vào mùa hè nên thời tiết thật đẹp, nắng vàng ấm và không khí trong trẻo. Thời tiết này giúp cho việc tham dự buổi nói chuyện của ông về một đề tài tưởng là khô khan nhưng lại vô cùng hấp dẫn.

Hôm ấy, ông đến với cộng đồng theo lời mời của Hội Ái Hữu Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là chỗ anh em thân tình cũ với ông. Chúng tôi đến tham dự buổi nói chuyện của ông về vấn đề “Dioxin và Chất Độc Da Cam” mà ông mới xuất bản không lâu trước đó và đã cho ra mắt, cách đây hai năm. Buổi nói chuyện thật sôi nổi với nhiều câu hỏi sâu sắc được đặt ra. Và ông đã giải đáp thấu đáo với những dẫn chứng cụ thể và chính xác. Thật là cần thiết để đồng bào Việt Nam có thể được nghe chính lời của một nhà hoá học đã chịu bỏ công nghiên cứu kỹ lưỡng; để có thể đưa ra những luận cứ có giá trị, hầu “giải độc” cho mọi người về tất cả những gì mà CSVN đã gây ra, và rêu rao khiến người dân hoang mang.

Nhưng đây chỉ mới là một ví dụ trong nhiều ví dụ về những công việc mà Tiến si Mai thanh Truyết đã và đang theo đuổi. Chỉ trong suốt hai năm qua kể từ ngày đó, ông đã làm không biết bao nhiêu việc. Những thức giả hằng quan tâm đến thời cuộc và theo dõi việc làm của những nhà tranh đấu thì sẽ dễ thấy. Hình như ông không chịu ngồi yên để chỉ “khóc cười theo vận nước nổi trôi” như nhiều người khác, mà ông càng tranh đấu càng hăng say. Ông không chỉ dừng ở địa hạt Dioxin để nói lên cái thực chất của sự giả dối che đậy của nhà nước CSVN khi nhân danh vấn đề nhân đạo để …vòi tiền Mỹ .

Ông còn lưu tâm đến nhiều khía cạnh thiết thực khác như vấn đề ô nhiễm Việt Nam- một sự ô nhiễm toàn diện – và là một vấn đề nóng bỏng hiện nay. Ông đã nêu lên những dẫn chứng thật cụ thể cho việc làm của mình. Ông đã báo động cho mọi người thấy đây là một vấn đề trầm trọng không thể bỏ qua. Như đã nói trên, đây là một vấn đề toàn diện và bao trùm mọi lãnh vực, từ y tế (ô nhiễm dược phẩm), kinh tế (sản xuất hàng loạt thu hoạch lợi nhuận tối đa),  cho đến đời sống xã hội (ô nhiễm thực phẩm, môi trường)… Những sự kiện này đã ảnh hưởng nặng nề đến cuộc nhân sinh (vụ nhà máy lọc dầu Dung Quất đã không thực hiện đúng tiêu chuẩn sản xuất nên có khả năng làm hại môi trường, và qua đó ảnh hưởng tai hại cho sức khỏe và cuộc sống người dân nói chung. Mặc dù chẳng bao lâu nhà máy này đã phải đóng cửa vì một số lỗi lầm trong xây cất, ông vẫn thấy có bổn phận phải nêu lên vì còn rất nhiều những công ty sản xuất với tính cách làm ăn tắc trách như vậy .

Hoặc như vụ công ty chế tạo Bột Ngọt Vedan đã mặc sức thải ra lòng sông những chất phế thải mà không hề xót xa cho sự sống của dòng sông. Sự kiện này và nhiều trường hợp tương tự cho thấy các công ty sản xuất tại Việt Nam hầu như chỉ nhắm vào nguồn lợi kinh tế mà không quan tâm đến phẩm chất của việc sản xuất cũng như của những thành phẩm. Và nhất là không hề để ý đến hậu quả của việc làm của họ. Hiện tượng này không những đã làm ô nhiễm môi trường vật lý mà còn ô nhiễm cả cuộc sống người dân v.v… Đứng trước tình cảnh và nông nỗi ấy của đất nước, ông không thể “im lặng là vàng” được.

Là một nhà hoá học, Giám Đốc một cơ quan xử lý chất phế thải (nói nôm na là rác) tại Hoa Kỳ ông đã biết lợi dụng những tiện nghi khoa học, và đem kiến thức gặt hái trong ngành ra ứng dụng vào thực tế để soi rọi vào những gì đang được CSVN thực hiện ngay trên đất nước Việt Nam. Chính cái nhìn “soi mói” cần thiết này đã mang lại tác dụng đôi:

  • Một đàng người dân có thể thấy rõ cái sai trái và âm mưu che giấu ở bên trong những việc làm lấy lệ, vô trách nhiệm và vụ lợi của kẻ cầm quyền vô minh nhưng “bá đạo”.
  • Mặt khác, việc làm này cũng không ngoài mục đích cảnh báo nhóm người nắm quyền sinh sát ở trong nước về những hiểm họa đang và sẽ xảy ra. Với một niềm mong muốn, họa may họ có còn một chút nhất điểm lương tâm mà thay đổi phương thức quản lý sản xuất và môi trường tử tế hơn. Không khó để nhận thấy rằng trong mọi vấn đề, ông luôn muốn hữu hiệu hoá kiến thức của mình, nghiên cứu, tìm tòi thêm để sau đó mới đúc kết lại và quảng bá cho quần chúng. Về phương diện này, có người đã coi ông như là một học giả và luôn đi tiên phong.

Nói về việc làm của Tiến si Mai Thanh Truyết thì còn nhiều điều để nói. Mối ưu tư toàn diện của ông đối với sự lành mạnh của môi trường là gì nếu không phải xuất phát từ một khối óc hiểu biết và một trái tim sôi sục vì sự tồn vong của đất nước, muốn làm một cái gì ích cho nước, lợi cho dân.

Trên đây, người viết mới chỉ đan cử một vài ví dụ tiêu biểu trong vô số những hoạt động của Tiến si Mai Thanh Truyết mà độc giả có thể thấy trên mạng, trên báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v…

Về phương diện chính trị, như đã nói trên, tuy ông không phải là một nhà chính trị thuần túy, hay nhà bình luận thời cuộc vì ông không “sống” vì chính trị, nhưng chính bản thân, ống đã dấn thân vào công cuộc chung. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng Đại Việt, Tiến si Mai Thanh Truyết tin vào sức vươn lên của con người trong nhiều lãnh vực, để tiến tới tương lại. Trong bài viết cũng như trong các mẩu đối thoại, ông chủ trương một thái độ lành mạnh. “Lành” trong chính trị có nghĩa là không chỉ dừng tại chỗ để ca ngợi thành quả đã qua hoặc tiếc thương những gì đã mất. “Mạnh”, vì Ông quả là một con người đa diện, mà “diện” nào cũng dám nói thẳng thắn, không do dự.

Về mặt tôn giáo, ông đã chứng tỏ là một Phật tử sống với chân tâm, không vụ hình thức. Với ông, nhận thức và hành động là một: Ông không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những gì sai trái. Biết mà không nói, không phải là hiểu biết thật sự. Ông không chỉ bo bo giữ cho riêng mình những kiến thức thâu thập trong cuộc sống, trong xã hội, trên thế giới, nhất là trong địa hạt chuyên môn của mình. Cho nên ông phải truyền bá, phổ biến sau khi đã hấp thụ thấu đáo và tiêu hóa.  Công việc này xuất phát từ một đam mê, một khối óc hiểu biết và một tấm lòng đối với đất nước.

Nói như thế, để thấy rằng Tiến sĩ họ Mai mặc dù không có ý định làm chính trị, cũng không phải là nhà lập thuyết về chính trị; nhưng cũng như bao nhiêu người có lòng khác, ông đã dấn thân vào đại cuộc từ lâu. Trong vai trò Đệ Nhất Phó Chủ Tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng, ông luôn chứng tỏ một thái độ năng động – của một người lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm cao- trong việc hướng dẫn người trẻ nhận định tình hình và đi theo đúng con đường chính bằng một cái nhìn khai phóng và sáng tạo (website daiviet.us)

Từng giữ chức Trưởng Ban Hoá học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, và Giám đốc Học Vụ Viện Đại Học Tây Ninh, nơi ông đã từng giảng dạy vừa điều hành, ông đã đem kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức trong quá khứ phối hợp với kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài để tiếp tục dìu dắt đàn em đi tiếp con đường tranh đấu cho dân tộc. Ông đã từng nhắn nhủ họ, trong những buổi nói chuyện, hội thảo, nhìn về tương lai với một niềm tin vững chãi. Vai trò hướng dẫn của một người thầy còn được thể hiện trong việc ông tham gia vào các sinh hoạt giáo dục, đóng góp ý kiến, tìm tòi tài liệu, liên lạc mọi giới. Và mỗi khi có cơ hội là ông bắt tay vào để phổ biến những kiến thức và kinh nghiệm của mình.

Để có thể hiểu thấu đáo việc làm của Tiến sĩ đa dạng họ Mai này, theo thiển ý, cách tốt nhất là xin đi vào “Blog” của ông (maithanhtruye.blogspot.com), hoặc vào trang website của Hội khoa Học kỹ Thuật (vastvietnam.com)  hay của Đại Việt Quốc Dân Đảng (daiviet.us).                    

Vancouver, một ngày Mùa Hạ, 2010

Nguyễn thị Ngọc Dung

Nguyên Chủ tịch Cộng đồng vùng Great Vancouver




Tỳ Bà Hành Mạn Đàm – Phần 2




Người thi sỹ tài hoa trong “Vang bóng một thời”

Khuất Bình Nguyên

Không phải ngẫu nhiên mà cậu Sen kẻ Bưởi – cái biệt danh thân thiết người đời gọi Tô Hoài, lại chọn Nguyễn Tuân làm nhân vật chủ chốt trong thiên hồi ký Cát bụi chân ai nhiều dí dỏm, chua cay và không biết bao nhiêu là não nùng trần ai của ông. Thảo nào mà tôi cũng như bao người khác đã và đang mê đọc Nguyễn Tuân, đặc biệt là Vang bóng một thời ngay từ khi còn trẻ. Nhưng càng về già, khi thấu hiểu lẽ đời và ở cái tuổi người ta ai nấy đều muốn tìm lại sự thanh bình của quá khứ giữa thời buổi ồn ã của xã hội thị trường, lại càng muốn đọc. Sự trải nghiệm dư vị đắng cay của lòng trung thực cũng như sự thật phũ phàng về tráo trở của người đời thì càng yêu thêm những giá trị nhân bản trong văn chương Nguyễn Tuân tỏa ra từ cái ánh sáng lấp lánh yêu thương và nhiều khi mờ tỏ của cái ngày xưa dường như mới xảy ra ngày hôm qua và cái ngày nay của lương tâm con người, làm nên vẻ đẹp kỳ lạ có một không hai trong văn chương Việt Nam hiện đại.

Tôi đọc sách Tùy viên thi thoại của Viên Mai ở quyển 2 thiên thứ 28 thấy ông ấy kể lại trong mơ một kẻ ăn mày bận áo mão đời xưa nói rằng: Văn các đời Ngụy, Tấn là thơ trong văn.Thơ các đời Tống, Nguyên là văn trong thơ. Nhiều nhà văn lớn cổ kim đông tây, trong văn của họ có thơ và họ là nhà thơ trữ tình đích thực trên chiếu trải văn xuôi mọi thời đại. Nguyễn Tuân là một người như thế trong Vang bóng một thời.

Nghe nói lúc sinh thời, ông Nguyễn Tuân cũng làm thơ. Kịp khi người bạn vong niên tóc trắng da đồng của tôi – nhà thơ Ngô Thế Oanh có chép tay cho ba bài thơ của ông Nguyễn lên trên mặt sau của mấy tờ lịch cũ. Bài SayKhúc tương tư viết theo thể lục bát, song thất lục bát đăng trên tờ An Nam tạp chí số 5 ngày 1 tháng 12 năm 1932. Và bài Giăng liềm viết về sự hồi sinh của Điện Biên Phủ theo thể thơ tự do đăng trên báo Văn học số 22 ngày 25 tháng 12 năm 1958. Cách nhau đúng 26 năm! Tôi giật mình sửng sốt vì không nghĩ đó là Nguyễn Tuân. Nếu như ông Nguyễn lấy nghiệp viết thơ làm chính thì không biết có được ngồi gần cùng chiếu với ông Tản Đà để mà nợ men gấp mấy nợ tình, cõi trần ướm hỏi Lưu Linh mấy chàng hay không ? Nhưng sự đời lại không bao giờ có chữ nếu như thế xảy ra. Cái mệnh của ông Nguyễn là làm thơ trên những dòng văn xuôi chải chuốt vô tiền khoáng hậu mà tôi được thấy.

Trên đường đi tìm cái đẹp của thời xưa yêu dấu như những áng mây cách xa chừng vài chục năm thôi, từng trang của Vang bóng một thời được viết nên bởi một tâm hồn thi sỹ tài hoa. Nguyễn Tuân viết truyện ngắn của ông không phải bằng sự lạnh lùng thường thấy của người viết văn xuôi mà bằng cảm xúc thiết tha hòa quyện tự nhiên với nghệ thuật lựa chọn ngôn từ điêu luyện vốn là đòi hỏi nghiêm cẩn và trước tiên của thi ca đã làm nên chất thơ vừa dạt dào cảm xúc vừa kiêu bạc sang trọng mà trang nhã một cách quý phái. Người ta thường nhấn mạnh cái chất khinh bạc cùng với biểu hiệu ông vua tùy bút. Nhưng trong văn ông còn đậm đà cảm xúc trữ tình say đắm của một thi nhân. Hãy xem một đôi dòng ông viết trong truyện Thả thơ: Và trên trần, có một gia đình đang lúng túng vì sự hiu quạnh … Trời đất ôi! Trên mấy gốc tre cằn không đủ gây thành bụi ấm, trận gió thanh bạch cứ lào rào thổi mãi và cảnh cô quạnh ấy của cha con quan phủ vào buổi xế chiều bên cạnh cái lâu đài quyền lực với tường thành, lầu canh đang phai tàn giống như chính cuộc đời của họ. Tiếng trống phủ trên lầu canh cứ điểm những tiếng vô vị vào một tư thất lạnh lẽo … Có những đêm mưa to gió lớn làm nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Vâng. Nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Đã như một câu thơ nguyên vẹn mất rồi.

Văn chương Nguyễn Tuân là sự trang trải giữa cái sang trọng với sự tràn ngập của cảm xúc trữ tình được đặt trên nền tảng và sự soi sáng của chủ nghĩa nhân văn.

Có người chê Bạch Cư Dị hồi ở Hàng Châu, thơ nhớ nhung kỹ nữ nhiều hơn là thơ nhớ nhân dân. Lời bàn người xưa cho là thô lậu ấy chẳng thể cản trở được sự trường tồn của văn chương Hương Sơn cư sỹ! Văn của Vang bóng một thời cũng thế. Nghệ thuật thi ca của Nguyễn Tuân là đi tìm cái đẹp thanh cao ở những kiếp đời trần tục cay đắng nhất. Nguyễn Tuân nâng niu trân trọng với cảm xúc về cái đẹp thanh nhã và sự lương thiện ở những phận người thất thế, đen bạc và cùng cực. Người hỏng thi. Lại là của Khoa thi cuối cùng. Thấy dặm hòe vùng Sơn Nam Hạ ngả màu vàng thì lòng bắt đầu bận bịu. Dưới mảnh trời sụt sùi hoa hòe nở đều, làm ấm lại lòng người sỹ tử đi thi trên những con thuyền nhỏ li ti đi về như lá tre rụng mùa thu giữa xứ đồng chiêm nước ngập nuốt hẳn bờ. Cảnh sắc tựa như san sẻ, neo về nỗi buồn không lấy lại. Tại nhà trọ ở thành Nam, người hỏng thi vẫn chơi sang bằng việc uống hết ba bình rượu cúc vào một đêm dài nhất trong một đời người … Với người tử tù chờ thi hành án chết thì hỏi còn vương vấn và khí phách nỗi gì? Vậy mà Nguyễn Tuân đã tìm ra vẻ đẹp vừa ngang tàng vừa khoáng đạt của một bậc nho gia. Chữ viết đẹp lắm, vuông lắm như nhân cách của ông Huấn Cao vào lúc đời thường thường rất khảnh. Chỉ viết chữ cho người tri kỷ. Mà có chữ ấy treo lên là một vật báu trên đời. Tôi đọc nhiều lần Chữ người tử tù, chẳng hiểu sao lại bâng khuâng nhớ nhà thơ được đời gọi là bậc thánh Cao Bá Quát mà cách đây đã lâu tôi về tận quê ông ở làng Sủi, bên kia sông Hồng, trèo lên bệ cao đánh chiếc khánh đá cổ phát ra cho đủ 9 tiếng trầm buồn, cũng như leo lên núi Sài Sơn tìm bài thơ Cao Chu Thần đã viết. Nguyễn Tuân dựng lại cảnh người tử tù Huấn Cao viết chữ mang một giọng điệu sử thi: Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ vẳng tiếng mõ trên vọng canh, dưới ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu, Người tử tù đã viết chữ trên khuông lụa trắng để viên cai ngục phải chắp tay vái với dòng nước mắt nghẹn ngào cảm phục về tài năng và nhân cách. Người tử tù trở thành người bề trên dạy bảo kẻ đương quyền kia hãy tìm nơi lương thiện mà sống. Chữ người tử tù là bài thơ hay nhất về chữ tượng hình. Cũng như thế, ông Nguyễn Tuân dựng lên khung cảnh huyễn hoặc trong sự chuẩn bị và đối thoại hết sức bình thản của những kẻ cướp giang hồ với những cái tên dân dã: bọn Huần, Cai Xanh, Phó Kinh, Lý Văn … mà ông thân ái gọi là Những kẻ bất đắc chí được gói gọn trong 3 chữ Nghèo – Cực – Khái đi lấy chỗ tiền bạc của bọn bất nghĩa đem chia cho anh em khác nghèo như mình. Cả những thứ vũ khí cũng được gọi bằng những tên thật nhã: bút chì, bút chùng… Nguyễn Tuân không mô tả trực tiếp vụ cướp mà chỉ muốn người ta nhìn thấy cái vẻ đẹp tình người của tiếng bạc ấy.

Tìm ra cái đạo lý làm người và vẻ đẹp dung dị mà cao sang của những việc sinh hoạt đời thường như uống trà, đúng hơn là uống trà tàu và việc đánh bạc bằng thơ; cảm hứng thi ca của Nguyễn tìm thấy vẻ đẹp của những kẻ hết thời, thất thế. Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm. Đánh Thơ, Thả Thơ … Những quan viên đang tại vị bây giờ, những người mà Nguyễn Tuân gọi là cái xã hội đàn ông mặc áo xanh ẩm ướt, không hiểu có giật mình và đỏ mặt khi đọc những truyện ấy trong sự thích thú ngấm ngầm hay không?

Có người so sánh Edgard. A. Poe với Nguyễn Tuân và cho rằng văn của Poe cảm xúc sơ sài thôi. Văn của Nguyễn Tuân cảm xúc lại vô cùng tinh tế. Tôi không dám chắc điều này. Bởi sự kinh dị đầy linh ứng của Poe trong nguyên bản tiếng Anh. Có điều rõ ràng là hầu hết các câu chuyện của Vang bóng một thời thật giản dị. Nguyễn Tuân tựa vào cái cốt chuyện giản dị không khêu gợi bằng những tình tiết éo le ấy để từ đó dọc theo con đường đi tìm cái đẹp phần nhiều trong nỗi hoài nhớ ngày xưa nhằm bày tỏ và đôi lúc dâng lên như lên đồng cảm xúc thi ca về vẻ đẹp muôn thuở của con người mà ta lại dễ dàng nhận thấy đó là cảm xúc và tình yêu đôi khi thiên vị cho văn hóa của cả một vùng đất với những đặc trưng riêng không gì pha trộn được. Vì lẽ ấy, văn của Nguyễn Tuân sẽ còn lại mãi.

Tôi đọc Vang bóng một thời thấy dường như phảng phất văn hóa xứ Đoài ở đâu đây. Cái xứ sở nghèo túng nhàn nhạt pha trộn giữa cái xưa cũ của mới ngày hôm qua với cái bóng dáng nghìn năm chưa mất của sông núi và cõi đời đâu đó vẫn còn ẩn hiện tới bây giờ. Đó là bài thơ ẩn chứa một tiếng thở dài của nơi tôi sinh ra và bị nhiễm vào cái đó từ buổi thiếu thời. Không có ở đâu nhiều đình chùa cổ và sự tích làm người như ở nơi đây. Đó là nơi muôn năm của cái cũ. Cái tàn lọng của quá khứ cứ che bóng người đi ở xứ sở này. Nguyễn Tuân thật kỳ tài khi viết về điều đó. Mặc dù ông không phải là người Sơn Tây. Văn hiến xứ Đoài chính là cái tàn lọng của quá khứ ấy che cái bóng nhiều huyền thoại và lãng tử trong văn chương Vang bóng một thời. Trên đỉnh non Tản. Chữ người tử tù và nhất là Ngôi mả cũ.

Hồi năm 1940, nhà văn Thạch Lam coi Ngôi mả cũ là truyện hay nhất của tập. Tôi không đồng với ý đó của ông. Nhưng rõ ràng câu chuyện ấy mang đậm phong vận xứ Đoài, trên cái chiếu đất dằng dặc mùi côi cút ở rừng Hưng Hóa. Ở thành Sơn Tây, người ta vẫn thường nghe thấy tiếng kèn tàu, loa đồng và trống trận nổi lên trong thành xây đá tổ ong của tỉnh Sơn, nơi quân cờ đen tế cờ thu quân. Rồi thì cái đoạn đường vỏn vẹn chừng trên dưới 30 dặm bây giờ vẫn còn đó mà xa xôi hoài niệm quá chứng với những cái tên xóm tên làng đến giờ còn chưa đổi. Làng Vòng. Làng Nhổn. Trạm Trôi. Phủ Hoài. Sơn … Qua con mắt thi sỹ Nguyễn Tuân mà hình dung ra cái đằng đẵng của con đường xứ Đoài cát bụi và xiêu diêu ấy. Cả cái bến đò sông Hát cổ xưa đã bị đất và cỏ vùi kín tự bao giờ mà sao Vang bóng một thời còn cho các nhân vật của mình đi qua thật là chậm chạp trong thấp thoáng bóng nước, bóng mây của thời xưa cũ. Cũng phải thôi. Vì cách thời ấy không xa, trong một cuốn du ký có tên là Một chuyến du hành đến đàng ngoài của một người phương Tây – William Dampiere viết năm 1688 nói rằng từ phố Hiến phải mất 2 ngày mới lên được Kẻ Chợ. Có người bảo với tôi truyện ngắn Trên đỉnh non Tản là thiên tùy bút, là bài thơ đặc sắc nhất về đồng đất xứ Đoài, nơi con người trong mỗi thôn làng sống chung với huyền thoại ngấm vào giọng nói của họ còn lại mãi từ ngàn xưa. Là bởi vì theo Nguyễn Tuân, trong bốn vị tứ bất tử của nước Nam ta thì người hay biến hóa nhiều nhất và tàng hình lẫn vào đám người trần mắt thịt là thánh Tản Viên. Và ông Phủ Quốc chỉ lỡ miệng nói mấy câu: đứng ở mái Nam đền Thượng nhìn xuống trông được cả khói của kinh thành Thăng Long… mà thánh phạt vì lộ thiên cơ phải lăn đùng ra chết. Viên đá cuội vô tri đã hai lần mang sứ mệnh con người trong Vang bóng một thời. Lần trước là Hương cuội làm cái cớ cho mấy vị hàn nho uống rượu ngâm thơ. Lần này đá cuội mang trộm từ đỉnh núi Tản về trong tay viên Phủ Quốc vừa lăn ra chết đập ra có mùi hương đượm của quả men rượu ủ trấu … Vỏ đá cuội còn lại đem thả vào bát nước mưa kinh niên uống thấy say ngát vô cùng! Rõ thật là Nguyễn Tuân. Và tôi biết trong mỗi người đàn ông xứ Đoài bây giờ vẫn còn giấu một mảnh vỏ đá như thế, mỗi khi họ bước vào một cuộc thành bại ở đời. Chao ôi! Bóng dàng thời xưa của văn hiến xứ Đoài cư như che lọng trong Vang bóng một thời. Văn chương của thi sỹ Nguyễn Tuân đã bảo tồn giá trị văn hóa của cả một dải đất phía tây Kinh thành Thăng Long giờ đã ít nhiều mai một. Sực đến khi Cát bụi chân ai ra đời, ông Tô Hoài viết: Cuộc đời phóng túng và nếp nhà quan các cụ nội đại thần trị nhậm đất Sơn Tây, đã in đậm, đã mờ chồng lên ngày tháng đời con đời cháu tự bao giờ … Chữ người tử tù, Đỉnh non Tản và tất cả vang bóng của ông đều phảng phất Sơn Tây. Tôi không chắc hẳn là như thế. Lúc sinh thời, không thấy nói cụ tú Hải Văn, tú tài khoa thi sau cùng, thân phụ Nguyễn Tuân đã từng trị nhậm ở đất này … Chỉ thấy Nguyễn hay cùng Tô Hoài, Nguyên Hồng lên Sơn, thường ngồi bên hào nước của tòa thành đã đổ nát dưới thời gian và dưới gốc cây sữa đã quá nhiều cằn cỗi quên cả nở hoa theo mùa ở nơi nửa tỉnh nửa quê. Nhưng tìm làm chi cái nguồn gốc xa mờ đó của văn chương. Hãy để quá khứ yên lặng như thế. Cũng giống như chúng ta không còn ai tìm nữa ai là người nguyên mẫu của Tóc chị Hoài. Mặc dầu, ở Sà Goông, có người đàn bà nhận thầm qua bao nhiêu mưa nắng năm trường trong đời người và trong cách trở Bắc Nam là bóng dáng ấy đấy thôi. Cũng như thân phận của cô đào Chu Thị Năm, người cùng thời với ca nương Quách Thị Hồ, dõi theo chàng Nguyễn lên chiến khu Việt Bắc thời kháng Pháp. Chàng đi đâu nàng cũng biết và thường gửi vàng cho chàng tiêu pha … Người ấy đã mờ hẳn, đừng có mà tìm ở phố Khâm Thiên vì cuộc bể dâu, ta chỉ còn tên phố bây giờ …?

Trở về với văn chương Nguyễn Tuân, đâu chỉ để yêu một thời đã qua. Cuối thế kỷ 20 và tràn sang thế kỷ 21, một số người muốn đi tìm góc tối của cái ban ngày. Vết sẹo sau lưng của bức tượng thờ muôn thuở. Mùi xú khí giả tưởng của hoa tử đinh hương. Treo cái tục tĩu vào cổ tượng đài vốn được coi là thiêng liêng … Tức là mỹ học của việc đi tìm cái xâú xí trong cái đẹp. Một con đường khác ngược lại với con đường của Nguyễn Tuân. Mặc dầu con đường của Nguyễn không phải lúc nào cũng êm xuôi cả. Ví như tôi hơi ngờ ngợ khi người ta cố gắng gắn vào cái ý nghĩa xã hội nào đấy của Bữa tiệc máu hay Chém treo ngành. Trong Vang bóng một thời, chỉ có một lần duy nhất, ông Nguyễn Tuân đã để chủ nghĩa duy mĩ của mình đi hơi xa một chút. Xa đến mức thiếu chút nữa người đọc cảm thấy cái đẹp của Chém treo ngành ở cái đoạn đao phủ Bát Lê tập chém người bằng cách vừa chém chuối vừa hát, hay việc mô tả chẻ đôi cây tre đực dài ra cặp cổ người tử tù như lối cặp gắp chả chim mà nướng … Nói thế để cho hết nhẽ. Không ai phản đối và cũng không việc gì phải phản đối mỹ học đi tìm cái xấu xí trong cái đẹp. Nhưng văn chương tuyệt đối không phải là nơi tôn thờ sự tục tĩu tầm thường, đi ngược lại những giá trị  nhân bản của con người. Người xưa từng nói: Nhờ văn mà kinh luân được quốc gia. Chỉnh lý được pháp độ. Làm vẻ vang cho sự nghiệp. Làm giàu đẹp cho văn tự… Sự tục tĩu tầm thường mang dáng vẻ của sự phá cách, liệu có làm được những điều ấy chăng? Người viêt văn chưa kịp làm được việc góp phần chấn hưng đất nước mà có thể, rất có thể lại làm trầm trọng thêm những tai ương của thời cuộc trong cơn bế tắc của chính người viết. Tất cả người cầm bút không ai mong muốn điều  đó.

Sang năm 2017, đúng 30 năm Nguyễn Tuân trở về giời. Cuộc đời ông xê dịch bốn biển là nhà mà lại còn thiếu quê hương nữa. Không biết giờ này ông đang ở đâu? Cái tín ngưỡng của người Việt chúng ta muôn đời quan niệm rằng: người cõi âm ở chung với người trên dương thế.Ngày tết lễ, họ ở ngay trong nhà ngày xưa. Nhưng Nguyễn Tuân có biết bao nhiêu nhà.

Nhà số 49 Hàng Bạc. Bao lâu rồi nó vẫn khép nép đứng ở góc này bởi số 47 nhô ra một chút. Cạnh đó, nhà 51 lại được trùng tu bởi một dự án giữa tỉnh Toulouse-Pháp với Ủy ban Hà Nội. Có treo biển đồng hẳn hoi. Không hiểu họ có nhớ sát vách 51 là nơi sinh thành của một trong những văn tài đặc sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại hay không? Phía trước tầng trệt của rìa bên phải nhà 49 là quầy bán ngọc và sửa chữa đồ trang sức bằng bạc. Rìa bên trái là lối nhỏ đi vào phía trong sâu lắm. Một lối kiến trúc đặc sản của nhà phố cổ Hà nội. Có chừng 5 hộ dân đang ở. Không một  ai biết được cái vinh dự họ được ở trong ngôi nhà, cách đây hơn 100 năm-năm 1910- Nhà văn Nguyễn Tuân đã cất tiếng khóc  chào đời ở đây. Một đôi vợ chồng già ở ngay phòng đầu tiên của số 49. Như là nghiệp chướng của chủ nghĩa xê dịch, chủ nhân của 12 thước vuông ấy nghe nói là người Nam Bộ. Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc từ 1954-1955; Giờ lại trở thành dân phố cổ của kinh thành Thăng Long xưa, ngày ngày chắp nối quãng đời còn lại bắc cầu cho hai thế kỷ mịt mù sương khói. Đối chính diện bên kia đường là đình Kim Ngân – Số 42 Hàng Bạc. Ngôi đình được lập ra mấy thế kỷ trước làm nơi thu bạc nén cho sinh hoạt Hoàng Thành. Bây giờ ở ngôi đình này, cứ 20 giờ đêm thứ 4, thứ 6 và chủ nhật hang tuần đều có hát ca trù – lối hát thơ đặc biệt của người Việt, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 15 gắn với sự ra đời của cây đàn đáy. Người ta có hẳn một tờ bướm màu rượu vang đỏ giới thiệu ca trù bằng tiếng Anh. Cái thứ tiếng không có dấu – phương tiện của mấy ông thực dân, giờ đây rất quen thuộc với người phố cổ. Chẳng khác gì trẻ con mặc váy thổ cẩm, đeo vòng bạc ở phố núi gần nhà thờ đức mẹ Mân Côi trên Sa pa nói sõi tiếng Anh như tiếng Mèo. Catru – a form of Vietnamese traditional music, was recognized by UNESCO in 2009 as a world intangible culture heritage. Dường như, một lần nữa, trời đất lại chiều lòng cái xê dịch của ông Nguyễn mang tiếng tom chát bị ngắt quãng đến mức xót xa bởi 3 dây đàn đáy, nghe như nhấc lên đặt xuống của thân phận con người; cái thứ nghệ thuật vừa thượng lưu vừa trần tục đời thường lúc sinh thời ông Nguyễn rất thích, về ngay trước cửa nhà nơi ông đã sinh ra.

Cách một ngày nữa là rằm tháng 8. Không khí tết trung thu đã có mặt dểnh dang ở sân đình Kim Ngân. Người ta treo những chiếc nón quai thao với quai nón là những rải lụa buông dài đủ màu mà phần nhiều là màu hồng và màu thanh thiên. Đây đó, đặt một vài đầu sư tử nhiều màu theo kiểu truyền thống có nhẽ có từ thời Nguyễn Tuân. Tôi bước vào trong đình đặt mấy đồng bạc lẻ lên bàn thờ lễ, cầu may được thấy Nguyễn Tuân. Dường như, ở bên số 49, Nguyễn Tuân tay cầm gậy song, mặc bộ áo cánh lụa màu cậy nhà Phật, vốn là quà tặng của một người nhận thầm là Tóc chị Hoài tặng cho nhà văn sau năm 1975. Trời mùa này ở phố cổ Hà Nội dâng lên một màn sương khói của tiết thu se lạnh. Từ đình Kim Ngân này, sớm mai trời còn nhạt mặt người, nhà văn của chúng ta có thể đi bộ ra Ô Quan Chưởng để đợi bóng những cô hàng rượu từ bến Bồ Đề sang đây. Nhà văn sẽ nhập vai vào nhân vật của mình có tên gọi Bố Ô làm người ăn mày rượu đáng yêu trong truyện Yêu Ngôn như ông đã viết. Bây giờ ông không phải sang sông đến xóm Thượng Cát nghe đào nương hát ca trù trong những quán bình dân rách rưới và ẩm ướt của Một đêm họp đưa ma Phụng nữa. Uống rượu bằng bát gỗ ở Ô Quan Chưởng xong, lại về đình Kim Ngân nghe con cháu Quách Thị Hồ hát ca trù nhấc lên đặt xuống phận người như những ngày xưa. Có tiếng hỏi. Bốn biển là nhà. Ngài thường ngự tại đâu? Ông Nguyễn bảo. Cũng tùy. Nhưng thường ở bên số 90 Trần Hưng Đạo. Ở bên ấy còn để chiếc va li da cũ màu nâu nhạt trên nóc tủ sách. Dường như đó là chiếc va li trong thiên tùy bút cùng tên viết tặng bà Tuệ, vợ Ông từ hồi ở tỉnh Thanh. Cả những chiếc ấm đất đặt dưới sàn gỗ và trên những bức họa đang phôi pha dần theo năm tháng. Thi thoảng đi taxi qua mặt hồ Hoàn Kiếm lên Hàng Bạc nghe hát ca trù.

106 năm. Kể từ khi ông sinh ra. Cuộc đời có biết bao nhiêu xê dịch – Cái con người có lúc đã không biết sợ thời gian nữa. Tự nhận là kẻ không có dĩ vãng. Lắm khi lặng lẽ nhìn vào buổi chiều trơ trẽn mà cảm thán hình như buổi chiều nào cũng đều không có hoàng hôn. Nhưng lại mắc bệnh chơi mưa như thiên tùy bút Chiếc va li mới đã viết: Mỗi lần ở đâu đó gặp mưa lại tưởng như mình già thêm một ít. Con người tưởng như sớm nắng chiều mưa ấy, lại là người ngay từ khi mới cầm lấy sự bút nghiên đã cảm nhận sâu sa cái cao cả và lương tâm của người viết văn đi tìm cái đẹp. Một người viết văn để yêu sống, để tìm nhân loại, đi tìm mình trong nhân loại, để được thấy nhân loại trong mình mình. Đó là lời tâm sự nghề văn say đắm và trang trọng nhất mà ông Nguyễn đã từng nói. Nguyễn Tuân đã ra đi xa lắm. Ba mươi năm rồi. Chỉ còn lại văn chương ghi dấu ấn nhà văn như là một thi sỹ trong Vang bóng một thời đã không mệt mỏi tụng ca và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống như một phần nhân loại mang tên Việt Nam vẫn còn lại mãi cho muôn đời sau.

Mùa thu, 2016




Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

da dieu 1

Cá chết tại Việt Nam chỉ là mặt nổi của vấn đề đang được che dấu vì thực chất còn nhiều cái chết đang bị che đậy dưới ách thống trị của đảng cộng sản VN đó là những cái chết của tâm hồn VN, cái chết của lương tâm, cái chết của luân thường đạo lý, cái chết của lý trí (nhìn thấy nhưng sợ mất miếng cơm manh áo nên phải ngậm miệng là ngơ) và cái chết của sử lệ thuộc chính trị (lệ thuộc Tầu Cộng lệ thuộc Việt Cộng do đó sẵn sàng làm Hán ngụy, bán nước cầu vinh)

Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

image

 Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt nhận định: “Tôi thấy cái chết của biển cũng như của cá nó chỉ là cái ngọn vấn đề, cái chính gây ra cái chết này là do cái chết của tâm hồn con người. Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.” 

image

 

Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Nhưng khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi. 

Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết đâu là xấu – tốt thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.

image

Lý trí là sự hiểu biết để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao. 

Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Khi việc mưu cầu hạnh phúc cho con người đã chết thì biển chết, cá chết là hậu quả.” Lời nhận định của một nhà lãnh đạo tôn giáo quả thật rất sâu sắc và chí lý.

image

Đất nước VN đang đối phó với cái chết thể lý do nhiễm độc mà ai cũng thấy sờ sờ trước mắt, ngay trên mâm cơm nhà mình mỗi ngày. Nhưng sự nhiễm độc này chưa tàn phá và chết chóc cho bằng sự nhiễm độc trong tâm hồn mà Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp trong bài giảng ngày 13.06, lễ thánh Antôn tại Trại Gáo, Vinh đã nói: “Hôm nay người dân VN với mâm cơm đầy nghi nan, không biết đâu là thực phẩm bẩn – sạch và ranh giới giữa chúng rất mong manh. Một số người ham lợi nhuận, vì đồng tiền đã bán rẻ lương tâm, chế biến những thực phẩm bẩn đem bán trên thị trường.” 

Hai vị chủ chăn cùng chung một nhận định về cái chết trong tâm hồn con người. Đây là thứ chất độc đáng sợ hơn cả! Bởi độc bên ngoài, theo thời gian người ta có thể cùng chung tay loại trừ nó, nhưng độc tố hận thù trong lòng khiến người ta hại nhau, giết nhau một cách thản nhiên thì không còn thời gian để cứu vớt. 

image

Máu độc trong tâm hồn là hậu quả một nền giáo dục độc tôn do Đảng Cộng Sản VN Vô Thần cai trị hơn 70 năm ngoài Miền Bắc và hơn 40 năm trong Miền Nam. Một nền giáo dục mà theo lời nhận định của Đức Cha Phaolô là “đã bị nhiễm bẩn” bởi lòng bạo lực, thù hận và ích kỷ. Bao thế hệ trẻ VN dưới mái trường XHCN đã được “dạy” cho biết về lòng thù hận đối với Mỹ, Ngụy. Tôi còn nhớ như in ngày mình được học về lòng căm thù “thằng Ngụy”. Đầu óc non nớt trẻ thơ chưa hiểu “thằng Ngụy” là thằng nào mà nó phải đáng nguyền rủa như thế! Tôi đem thắc mắc ấy về hỏi Cha tôi, vốn là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, Cha tôi cười chua chát và chỉ vào mình: 

“Là thằng này đó con!”

image

Những khái niệm về sự quảng đại, lòng bao dung, ơn tha thứ là những mệnh đề khó hiểu. Bởi thế, khi cá chết trắng Miền Trung, bao gia đình đớn đau tuyệt vọng, đói khát lầm than, nhiều người đến làm từ thiện thì họ lại nêu ra câu hỏi: “làm từ thiện để làm gì?”, trên một chương trình truyền hình hẳn hoi. 

Sự im lặng, làm ngơ của nhà cầm quyền trước tình trạng nhiễm bẩn môi trường biển, cá chết hàng loạt hơn 70 ngày qua không phải là ngẫu nhiên. Họ thừa cơ sở dữ liệu để có thể tuyên bố nguyên nhân trong 1 ngày, nhưng cố tình che đậy. Đó chính là thứ độc hại trong tâm hồn mà CS đã chủ mưu từ khi lên cầm quyền.

image

Giả như tuyên bố nhanh nhà máy Formosa là thủ phạm thì chẳng khác nào thừa nhận việc làm phi nhân của mình khi vì lợi lộc của một nhóm lợi ích mà gây thiệt hại cho toàn dân. Nếu chỉ mặt Formosa cũng đồng nghĩa việc thừa nhận hối lộ, để làm ngơ cho Trung cộng hoàn toàn thao túng trên đất Việt. 

Vì lẽ, Cộng sản xây dựng học thuyết không phải trên lòng yêu thương, tình đồng loại hay sự dấn thân cho lợi ích cộng đồng mà hoàn toàn ngược lại. Sức mạnh của người Cộng sản hình thành trên nền tảng của lòng ích kỉ, tính thù hận và óc vụ lợi. Lúc mới hình thành, người Cộng sản đã dựa vào hạt gạo tình thương của nhân dân để mà sống, đến khi phát triển, có chỗ dựa thì họ quay sang đề phòng nhân dân và hoàn toàn xa rời nhân dân.

 

water red smoke sea moon

Đến khi nắm quyền lực trong tay, họ tồn tại bằng cách duy trì lòng thù hận, giáo dục về lòng thù hận và phát triển lòng thù hận. Lòng thù hận luân chuyển trong lòng chế độ như một thứ máu độc, nó kích thích tính ích kỉ, sự dửng dưng và vô cảm trước nỗi đau đồng loại. Và chưa bao giờ mà thứ máu độc này lại hoành hành trên dân tộc Việt Nam như bây giờ. 

Và một khi chất độc tâm hồn đã gây cái chết trong lòng người, thì mọi thứ độc tố bên ngoài chỉ còn là phụ tùy.

GNsP

22.06.2016

 
image



CƠN ÁC MỘNG GIẤY NỢ

   CƠN ÁC MỘNG GIẤY NỢ
 
    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
 Từ mấy tuần qua nước Mỹ đã lâm vào một cơn bão lửa tài chính, một cuộc khủng hoảng tín dụng đe dọa kéo sập cả một tòa lâu đài vĩ đại nhất thế giới là Thị trường Chứng khoán Wall Street New York liên hệ đến các công ty kinh doanh rường cột của toàn bộ nền kinh tế Mỹ. Tín dụng là tiền cho vay có thế chấp theo luật định, các tổ chức hoạt động trong lãnh vực này là các công ty tài chính, các tập đoàn bao gồm các ngân hàng lớn nhỏ, các hãng bảo đảm cho sự thế chấp đó, và các tổ hợp các công ty bảo hiểm đủ mọi mặt kể cả bảo hiểm nhân thọ, tai nạn, đầu tư v.v… Tín dụng bị khủng hoảng vì các món nợ khó đòi, kẻ đi vay không có khả năng trả nợ. Ở đây nổi bật nhất là những món nợ đi vay để mua nhà.
Tín dụng là một tập quán rất quan trọng trong các chế độ tư bản, bởi vì vay tiền để làm ăn sinh lời lớn để có thừa tiền trả nợ và vẫn còn có lời. Đó là đồng tiền đẻ ra tiền vậy. Thế nhưng về mặt giấy nợ mua nhà, nó đã gặp khủng hoảng vì giá nhà xuống thấp trong hoàn cảnh kinh tế Mỹ trì trệ từ nhiều năm qua do nhiều nguyên nhân như ngân sách quốc gia thâm thủng, tổn phí chiến tranh chống khủng bố lên cao, kinh doanh yếu kém, nạn thất nghiệp gia tăng. Nguyên nhân chính của cơn bão hiện nay vẫn là lòng tham của giới kinh tài Mỹ. Thêm vào đó là sự lơ là chấp hành điều lệ nợ thế chấp. Nó gây họa lớn vì cơ cấu tổ chức các công ty tài chính dính liền với nhau trong một mạng lưới vô cùng phức tạp để mua bán đổi chác các giấy nợ, gọi là trái phiếu. Nếu đồng đô-la là tiền, đó cũng chỉ là một tờ giấy. Trái phiếu cũng là một tờ giấy, nhưng đô-la có sự bảo đảm của chính phủ Mỹ, còn trái phiếu chỉ có sự bảo đảm của các công ty tài chính tư doanh. Để làm cho sự bảo đảm trái phiếu có giá trị hơn, các tập đoàn tài chính họp nhau lại thành các tập thể đại công ty hay siêu công ty lừng danh trên thế giới. Họ nâng đỡ lẫn nhau để bảo đảm các món tiền cho vay. Vì thế đã dính là dính cả chùm.
Cơn bão lốc bắt đầu từ hai tuần trước khi hai công ty đầu tư lớn phải khai phá sản vì thua lỗ nặng. Sự liên hệ chồng chéo cái nọ kéo cái kia, vì liền sau đó hai siêu công ty tài chính lâu đời là Freddie Mac và Fannie Mae cũng chuẩn bị khai phá sản vì thua lỗ nặng, chỉ số cổ phiếu của họ tại Thị trường Chứng khoán tụt dốc thê thảm, tình thế này có nghĩa là phản ứng dây chuyền sẽ xẩy ra dữ dội. Chính vì thế chính phủ phải can thiệp cấp tốc trước khi quá muộn. Ngày 7 tháng 9, Bộ Tài chính bơm vào 2 công ty này 200 tỷ đô-la để cứu nguy phá sản, đặt dưới sự bảo hộ của chính phủ. Đây cũng là một hình thức quốc hữu hóa. Chỉ số Thị trường Chứng khoán nói chung chỉ nhích lên một chút nhưng rồi lại tụt xuống ngay. Sau đó một Công ty Bảo hiểm khổng lồ có ảnh hưởng đến các thị trường tiền tệ toàn thế giới là AIG (American Insurance Group) cuối tuần trước cũng chuẩn bị khai phá sản. Bộ Tài chính đã đỡ đòn cho nó ngay lập tức bằng cách bơm đến 85 tỷ đô-la vào công ty với hình thức cho vay trong hai năm, nhưng cũng một là cách quốc doanh hóa.
Tuy nhiên các giới kinh-tài Mỹ nhìn thấy ngay một sự thật phũ phàng. Cả một thành phố lộng lẫy đang bị nạn cháy, nếu chỉ cho lính Cứu hỏa phun vòi rồng dập tắt ngọn lửa cho hai ba căn nhà thì có ích gì? Vì thế chiều chủ nhật vừa qua sau cuộc họp cấp tốc giữa Tổng Thống Bush, Bộ trưởng Tài chính Paulson và Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ liên bang Bernake, đã có thông báo cho biết Chính phủ lập một quỹ 700 tỷ đô-la cứu nguy các công ty tài chính sắp khai phá sản. Theo các chuyên gia Mỹ có lẽ phải cần đến 1,000 tỷ mới đủ. Dù sao đề nghị lập quỹ 700 tỷ đã được đưa ra Quốc hội đầu tuần này để thảo luận và biểu quyết thành luật.
Ở đây hãy hỏi các số tiền 700 tỷ hay 1,000 tỷ ở đâu ra mà lắm thế? Nó không phải từ trên trời rớt xuống mà do tiền đóng thuế hàng năm của người dân Mỹ. Và bây giờ lấy hàng tỷ đô-la của dân đóng thuế giúp cho các công ty kinh-tài tiếp tục tồn tại để họ lại tung tiền cho vay thêm nữa hay sao? Vì câu hỏi đó, đạo dự luật 700 tỷ đưa ra trước Quốc hội có kèm theo những cam kết của chính phủ xét lại luật lệ và quy chế cho vay để tránh tệ nạn lạm dụng. Thứ ba tuần này, Ủy ban Ngân hàng Thượng viện họp trong khi chỉ số Dow Jones Thị trường chứng khoán xuống 375.75 điểm, tức mất 3.3%, vì  giới kinh doanh và cả dân chúng Mỹ lo sợ còn nhiều vụ báo nguy phá sản lớn nữa sẽ xẩy ra. Vậy cần phải làm cho lẹ.
Thế nhưng khó khăn không phải nhỏ. Quốc hội Mỹ đã có kinh nghiệm làm cho lẹ rồi. Đó là lúc biểu quyết cấp tốc cho phép TT Bush đem quân đánh Iraq năm 2003. Hậu quả của cái "làm cho lẹ" đó còn kéo dài cho đến ngày nay với tất cả nỗi bi đát của nó, rút ra rất khó. Bởi thế dự luật dùng tiền của dân đóng thuế để cứu các vị tài chủ vỡ nợ cần phải được cứu xét cho kỹ. Tuần này, Ủy ban Ngân hàng Thượng viện họp bàn cãi sôi nổi và có những điều đáng chú ý chẳng hạn như nếu đã muốn cứu nguy cho hệ thống tài chính trên toàn nước Mỹ sắp sụp đổ, tại sao không cứu nguy cho những người dân nợ mua nhà sắp mất nhà? Dự án quốc hữu hóa các công ty sắp vỡ nợ dù là tạm thời nhưng vẫn có nghĩa là chính phủ "mua" những món nợ khó đòi đó bằng tiền của dân đóng thuế, vậy thì dân trở thành chủ các món nợ đó. Dân đã có lỗi lầm gì mà được hưởng cái "diễm phúc" lớn như thế? Bởi vậy sau này nếu hết cơn bão lửa kinh-tài, các công ty cho vay nợ đến khi có lời, số lời đó cũng phải chia cho dân đóng thuế một phần. Đồng thời cũng phải tính đến việc hỏi thăm sức khỏe các vị tài chủ đã vơ vét hàng tỷ đô-la trong cả chục năm trước đây, rồi để lại cả đống bầy nhầy cho hậu thế phải quyét dọn cho sạch. FBI đang diều tra.
Cuộc bàn thảo tại Thượng Viện có thể rất dài, nhưng các nghị sĩ của cả hai đảng nói có thể trong 7 ngày sẽ có biểu quyết. Một một nghị sĩ Cộng Hòa, theo tin AP hôm thứ ba, nói đùa: "Không phải vì Chúa Trời tạo ra Thế giới trong 7 ngày mà chúng ta bắt buộc phải hoàn thành đạo luật trong 7 ngày". Như vậy cơn ác mộng giấy nợ rốt cuộc rồi cũng phải hết chăng? Thời nay dân Mỹ vẫn còn bị ám ảnh về cuộc đại suy thoái kinh tế kinh hoàng nhất trong lịch sử năm 1929. Tôi nghĩ tình thế mỗi thời một khác, nước Mỹ ngày nay đã tiến bộ hơn rất nhiều so với 80 năm trước. Chỉ có điều phiền là chìa khóa để chữa dứt nọc căn bệnh tín dụng là hai chữ …"tín nhiệm". Nó không nằm trong luật pháp, điều lệ hay máy móc. Nó nằm trong lòng người.
 



Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: CÁCH MẠNG TRUYỀN THÔNG

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: CÁCH MẠNG TRUYỀN THÔNG

Cách mạng đi đôi với truyền thông là lẽ tự nhiên. Cách mạng là một biến cố làm thay đổi chế độ cai trị và nếp sống xã hội, văn hóa của cả một dân tộc. Nhưng cách mạng không thể do một cá nhân làm được mà phải có một số người dân đông đảo cùng làm theo. Chính vì thế điều kiện tất yếu là phải có truyền thông, tức là phổ biến cho quần chúng. Riêng ngành truyền thông tự nó cũng có những cuộc cách mạng quan trọng do khoa học kỹ thuật đem lại. Từ thời phát minh ra điện lực, khoa học vào đầu thế kỷ 20 đã tạo ra một bước tiến mới là sử dụng “vô tuyến điện”. Người ta đã thấy những phong trào cách mạng lợi dụng máy radio để tuyên truyền vào khoảng trước và sau Thế chiến II. Rồi đến giữa Thế kỷ 20, ngành tuyền thông lại tiến thêm một bước nữa, đó là kỹ thuật sử dụng chất bán dẫn để thu nhỏ máy radio thành một vật nằm gọn trong lòng bàn tay.

Hãy nhìn xem các “chuyên gia cách mạng” lợi dụng phương tiện mới này như thế nào. Cuộc cách mạng Islam (Hồi giáo) ở Iran năm 1979, lật đổ chế độ Vương quốc đã thành công nhờ Trưởng lão Shi-a Ruhollah Khomeini sống lưu vong ở nước ngoài, dùng radio hô hào dân chúng nước này nổi loạn. Sự kiện đó đã được một người tên là Osama bin Laden, gốc Ả rập ở Arabia (Hồi Giáo Sun-ni) chú ý. Nhưng qua đến cuối Thế kỷ 20, kỹ thuật vô tuyến lại có tiến bộ nữa là truyền hình (television). Bin Laden thành lập đội quân khủng bố al-Qaida, đã nắm ngay lấy kỹ thuật TV để tấn công Mỹ vào đầu Thế kỷ 21, đồng thời tuyên truyền phát triển phong trào khủng bố Hồi giáo đi khắp thế giới. Ngay sau vụ khủng bố tấn công Mỹ ngày 11-9-01, người ta thấy hình ảnh bin Laden xuất hiện trên màn hình TV khắp thế giới.

Nhưng trớ trêu thay, sau cái mặt lợi của TV và video lại có mặt trái của nó là làm hại mọi chủ trương thiết lập chế độ độc tài độc đảng hay tôn giáo toàn trị núp sau cái bình phong gọi là Cộng hòa hay Dân chủ. Cái gương trước mắt là tình hình ở Iran hiện nay. Ahmadinejad tái đắc cử Tổng Thống và được Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei chuẩn y bất chấp sự chống đối của phe ôn hòa đối lập. Nhưng tuần trước người ta thấy có sự rạn nứt trong nội bộ phe cứng rắn là sự bất đồng ý kiến trong việc Ahmadinejad bổ nhiệm chức vụ Ðệ nhất Phó Tổng Thống. Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei đã ra lệnh cho Ahmadinejad hủy bỏ sự bổ nhiệm đó. Iran là một nước theo chế độ Cộng hòa Hồi giáo, chữ Cộng hòa có nghĩa là mọi chức vụ trong chính phủ đều do dân bầu. Lãnh tụ Tối cao không do dân bầu mà do Giáo hội bầu, nhưng lại có quyền lực tối, cao hơn cả Tổng Thống do dân bầu. Vậy ai là chủ thật sự nước Cộng hòa Iran? Làm chủ thật sự là một tổ chức gọi là “Vệ Binh Cách Mạng”, được thành lập từ năm 1979 sau khi cuộc cách mạnh thành công. Cái tên “Vệ Binh” thật hiền lành, nhưng ngày nay nó đã trở thành một sức mạnh quân sự khủng khiếp.

Vệ Binh Cách Mạng có 120,000 quân, gồm đủ quân chủng Hải, Lục, Không quân, các đơn vị phóng hỏa tiễn, võ khí và võ trang nhiều hơn gấp bội quân đội chính quy Iran. “Vệ Binh” còn điều khiển một tổ chức dân quân rộng lớn gồm cả triệu người võ trang, có tên gọi là Basij. Ngoài sức mạnh quân sự ghê gớm, trong những năm gần đây “Vệ Binh” còn tóm thâu một một mạng lưới lớn bao gồm các thế lực kinh tế và chính trị trong mọi khía cạnh đời sống của người dân Iran. Vai trò của nó đã vượt lên trên nhiệm vụ “bảo vệ” để đi đến “ngự trị cách mạng”. Một số chuyên gia bên ngoài cho rằng Lãnh tụ Tối cao Iran ngày nay có thể cũng phải tuân theo lệnh của “Vê Binh”. Các giới chức Mỹ tin rằng “Vệ Binh” làm mũi dùi tiên phong cho Iran liên kết với các nhóm Hồi giáo ở bên ngoài, như nhóm Shi-a ở Iraq, vì thế chính phủ Mỹ vẫn coi “Vệ Binh” là bọn yểm trợ khủng bố.

Ở Iran lãnh tụ đối lập ứng cử viên Tổng Thống Hossein Mousavi đã tố cáo Ahmadinejad gian lận bầu cử, ông cùng các lãnh tụ chủ trương cải cách kêu gọi các trưởng lão Shi-a ngăn cản mọi hành động võ lực chống người biểu tình. Họ cảnh cáo chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran đang mang họa mở rộng “chủ nghĩa bạo chúa”. Các chuyên gia bên ngoài cho rằng “Vệ Binh Cách Mạng” đã nẩy nở từ lâu nên khó lòng ngăn lại được. Frederic Teller, trong nhóm “Nghiên cứu các cuộc khủng hoảng thế giới” ở Brussels, cho rằng cuộc khủng hoảng ở Iran hiện nay chưa chắc đã đưa đến một cuộc đảo chính mà chỉ đưa đến những vụ đàn áp tàn bạo hơn. Tổng tư lệnh “Vệ Binh” còn nói đến việc sử dụng lực lượng dân quân Basij vào những công tác không phải quân sự. Ðiều này có nghĩa là cả triệu dân quân sẽ len lỏi vào trong đám thường dân để làm tai mắt cho bọn chỉ huy “Vệ Binh”.

Như vậy vụ nổi dậy của phe cải cách Iran rút cuộc sẽ bị diệt tan chăng? Tôi muốn trả lời bằng chủ đề “Cách Mạng Truyền Thông”. Kỹ thuật truyền thông bằng hình ảnh đã làm chấn dộng lòng người rất mau lẹ, hơn cả những bài báo viết hay báo nói của các phóng viên có mặt tại chỗ. Các phóng viên nước ngoài hay nguời Iran làm việc cho nước ngoài đều bị cấm đến những khu có biểu tình, nhưng vẫn có hàng chục hàng trăm thanh thiếu niên nam nữ Iran đã tự động làm phóng viên tài tử bằng cell phone của họ để viết nhanh vài hàng chữ kèm theo hình ảnh rồi truyền ra bên ngoài đến các cứ điểm lưới (Website) dàng riêng cho đời sống xã hội toàn cầu như myspace, facebook và twitter. Twitter sinh sau đẻ muộn, nhưng website này đang làm một cuộc cách mạng trong nghề báo viết Bình luận thời cuộc khi nó chấp nhận 140 chữ viết trên cell phone về các biến cố quan trọng đang hay đã xẩy ra. Chỉ một hình ảnh thoáng qua trong một vài giây đồng hồ, thí dụ như hình một cô gái bị bắn chết khi cầm cell phone gọi cũng đủ gây chấn dộng, hay một vài giòng chữ ngắn gọn viết ra để ghi những cảm xúc đầu tiên cũng đủ nói lên tất cả sự tàn bạo của một chế độ độc tài bịt mồm bịt mắt dân chúng. Những ý kiến đó có thể là bồng bột, nhưng trong khoảng khắc vài giây đồng hồ nó được phổ biến cho hàng triệu người trên thế giới cùng đọc và từ đó đưa đến những suy tư khác của một số đông hơn gấp bội và tiếp tục tăng nữa theo cấp số nhân, tạo thành thành một sự trao đổi ý kiến chưa từng có trong lịch sử báo chí quốc tế, do bàn tay và khối óc của thế hệ trẻ ngày nay. Kiến thức nở rộ, kèm theo ý chí của giới trẻ khắp thế giới sẽ thúc đẩy hành động.

Hiến pháp, luật pháp chỉ là những tờ giấy che đậy những gì đen tối nhất. Ở đây các nhân vật chính thức cầm đầu chính quyền sự thật chỉ là những anh hề diễn trò trên sân khấu vở tuồng độc tài độc đảng. Quyền lực trong những cái gọi là “Cộng Hòa” như vậy đều từ mũi súng mà ra, nếu không có súng bảo vệ, “bạo chúa” chỉ có chết. Cách mạng truyền thông đã làm cho giới trẻ ở nhiều nước trên thế giới nhìn thấy rõ chân lý này. Sức mạnh truyền thông sẽ làm trí tuệ giới trẻ mở rộng thêm nữa trong các thế hệ sắp tới. Tôi tin các quái thai thời đại là các chế độ độc tài bất luận từ nguồn gốc nào cũng sẽ sớm sụp đổ trên toàn cầu.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: IRAN THA TÙ MỸ

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: IRAN THA TÙ MỸ

SarahShourd

CANH BẠC CHỨNG KHOÁN (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

 
 
 
Đầu tuần trị giá chứng khoán đã nhẩy lên trở lại. Chỉ số Dow Jones industrials vọt lên đến 936 điểm, tức là lấy lại 1,200 tỷ đô- la nội trong một ngày, một mức tăng có tính lịch sử. Mọi người mừng rơn, con quỷ chứng khoán đã ngóc đầu trở lại thay vì tiếp tục lao xuống vực thẳm. Đó là nhờ chính phủ Mỹ có kế hoạch bơm 700 tỷ đô -la cứu nguy cho nó. Tình trạng này bỗng làm tôi nhớ đến một câu tục ngữ trào phúng của Việt Nam thời đại mới: "Tiền là Tiên là Phật, là sức bật của…chứng khoán". Tuy nhiên nạn xuống dốc chứng khoán vẫn chưa dứt. Qua ngày thứ ba 14-10, trị giá chứng khoán chập chờn để rồi đến cuối ngày nó mất 76 điểm. Đến sáng thứ tư 15-10 có dấu hiệu đáng ngại. Ngay lúc Thị trường Wall Street mới mở cửa, chỉ số Dow Jones mất thêm hơn 36 điểm, kéo theo sự mất giá của các thị trường chứng khoán trên toàn thế giới. Tại sao có tình trạng này?
 
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại một vài biến chuyển rất mau lẹ trong những ngày vừa qua. Hôm chủ nhật, sau khi Quốc hội Mỹ chấp thuận kế hoạch 700 tỷ cứu nguy kinh tế, TT Bush đã triệu tập một phiên họp với G7, tức 7 nước giầu nhất thế giới, và 20 nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh. Kinh tế Mỹ mạnh nhất thế giới có liên quan chặt chẽ đến các nền kinh tế khác vì mối quan hệ thương mại và tiền tệ, nên coi Mỹ là nước lãnh đạo. Cuộc họp có thành quả tốt, nên ngay sau đó chỉ số chứng khoán của các nước khác đã lên trong hai ngày. Nhưng đến ngày 15-10 khi chỉ số chứng khoán của Mỹ xuống, chỉ số chứng khoán của các nước khác cũng xuống luôn, với những số điểm nhỏ hơn của Mỹ.
 
Vậy tại sao cái đầu tầu là chỉ số của Mỹ lại chập chờn mà không tiếp tục lên nữa? Hôm thứ ba, Mỹ loan báo một kế hoạch mới là sử dụng 250 tỷ trong số 700 tỷ để mua một phần nửa các cổ phần của những ngân hàng lớn nhỏ đang lâm cảnh phá sản. Kế hoạch này có thể đã làm chỉ số chứng khoán New York chỉ tăng mạnh được một ngày rồi lại tụt dốc, dù tụt có một phần nhỏ. Nguyên nhân có thể là sự thiếu niềm tin của dân chúng vì trước mắt sự mua bán, bán buôn và bán lẻ, đang lâm cảnh tụt dốc đáng ngại, cộng thêm với nạn thất nghiệp lan rộng. Sáng thứ tư TT Bush và cả Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson đều nói sự tín nhiệm và tiền của chính phủ bỏ ra sẽ phục hồi sự lành mạnh của nền kinh tế, nhưng cần phải có thời gian và sự kiên nhẫn. Cần thời gian là đúng vì không thể có phép lạ làm kinh tế phục hồi ngay tức khắc, nhưng cũng có nghĩa là gánh nặng làm kinh tế đi lên được chuyển qua vị Tổng Thống và chính phủ sắp tới của Mỹ bắt đầu từ năm 2009.
 
Bởi vậy sự cứu nguy kinh tế cũng là một canh bạc chứng khoán. Trong khi chờ đợi kết quả canh bạc này, người ta thấy một tin từ trời Âu đưa lại. Giải thưởng Nobel về kinh tế năm nay đã được Ủy ban chấm giải tại Thụy Điển tặng cho một học giả Mỹ, Tiến sĩ Paul Krugman, về công cuộc phân tích của ông cho thấy kinh tế phát triển từng mức ảnh hưởng như thế nào đến mô hình thương mại và vị trí kinh tế của một nước. Điều đặc biệt là chuyên gia kinh tế này năm nay 55 tuổi được lãnh giải Kinh tế trị giá 1.4 triệu đô-la mà không phải chia sẻ với ai. Từ năm 2000 đến nay ông là người được lãnh giải Kinh tế một mình, bình thường giải này vẫn có đến 2 hay 3 người cùng lãnh. Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển ca ngợi Krugman đã nêu ra một lý thuyết mới để trả lời các câu hỏi về thương mại tự do, và ghi nhận lý thuyết của ông đã khích lệ cho một lãnh vực khảo cứu rất sâu rộng.
 
Trong bằng tưởng lục của giải Nobel có ghi: Thương mại tự do và tình trạng đô thị hóa trên toàn cầu ảnh hưởng đến những cái gì? Ở đây Krugman đã hợp nhất được nhiều ngành khảo cứu khác nhau trên các lãnh vực thương mại quốc tế và địa dư kinh tế. Ngoài công việc khảo cứu về kinh tế ở Viện Đại học New Jersey, Krugman còn là một nhà báo. Ông chuyên giữ cột mục kinh tế cho báo New York Times. Ông cũng thường viết bài cho một số các tạp chí Mỹ. Về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ, ông nói: "Thật kinh hoàng", ông so sánh với vụ khủng hoảng tài chính kinh tế Á châu trong thập niên 1990. Trên cột mục của tờ New York Times, Krugman cho đến nay vẫn chỉ trích gắt gao chính sách kinh tế của TT Bush và đảng Cộng Hòa.
 
Ở Mỹ việc cứu nguy chứng khoán đi song song với cuộc tranh cử Tổng Thống. Nhiều đề tài khác nhau đã được cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa nêu ra để vận động tranh cử. Nhưng từ hai tháng qua chỉ có một chủ đề nổi bật nhất và cũng là đề tài tranh cãi gay go nhất, còn những màn xuyên tạc và chụp mũ cá nhân chỉ là chuyện bên lề không mấy ai chú ý. Chủ đề đó là kinh tế bởi vì giữa lúc dân Mỹ lo sợ về đồng tiền khó kiếm, tín dụng khó trả và thất nghiệp lan tràn, các màn bới móc cá nhân chỉ quật ngược lại tác giả của nó. Đại đa số dân Mỹ quan tâm đến công việc làm ăn của họ, giới trung lưu cũng như tiểu thương và người dân nghèo đều lo lắng trước tình trạng kinh tế xuống dốc.
 
Vào tối thứ Tư tuần này, có chương trình dự liệu từ trước là cuộc tranh luận hiệp III giữa hai ứng cử viên Tổng Thống Barack Obama và John McCain. Hôm thứ ba ông McCain hiện kém điểm Obama trong các poll thăm dò, cho biết ông cũng có kế hoạch 52 tỷ để cứu nguy kinh tế, ngoài kế hoạch 700 điểm của chính phủ Bush. Đây cũng là cách ngầm cho cử tri Mỹ hiểu ông đã tách rời khỏi TT Bush hiện chỉ được 25% dân chúng tán thưởng. Nhưng đặc điểm của kế hoạch John McCain là tìm cách bớt tiền thuế đánh vào lợi nhuận của các đại công ty Mỹ. Người ta trông chờ cuộc tranh luận của hai vị tranh cử Tổng Thống, coi trận đấu chót này có thể quyết định thắng bại trong cuộc bầu cử sắp tới ngày 4-11. Theo poll của CNN sáng thứ tư, Obama được 50%, McCain 42%. Tuy nhiên không thể xác quyết ai sẽ thắng, vì còn nhiều chuyện bất ngờ có thể xẩy ra. Trước hết hãy chờ xem phản ứng của dư luận Mỹ về cuộc tranh luận hiệp chót tối thứ tư mà người ta cho rằng sẽ quyết định số phận của McCain và cả đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử sắp tới.
 
Nếu đề tài chính là kinh tế, nguồn gốc của nó hiển nhiên là hai chữ tín nhiệm. Bởi vậy vấn đề đặt ra cho người dân đi bỏ phiếu là giữa Barack Obama và John McCain, cử tri tin ở người nào, mọi vấn đề khác không còn quan trọng nữa.
 



Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sự bất đồng có tính cách cục bộ nhằm vào quyền lợi kinh tế ở các khu vực có nhiều mỏ dầu lửa ở Ðông Bắc Iraq, một vùng nằm sát biên giới của Iran. Hiện nay Mỹ đang thực hiện việc chuyển giao trách nhiệm bảo vệ an ninh cho quân đội, Cảnh sát và lực lượng an ninh của Iraq, nhưng điều đáng ngại là trong nhiều trường hợp chính quyền Iraq đã không cáng đáng nổi nhiệm vụ này. Về việc hòa giải, Maliki có vẻ đã đi một nước cờ chiến lược mới vào chủ nhật vừa qua khi ông đến Bắc Iraq mở một cuộc họp đặc biệt với lãnh tụ Kurd là Masoud Barzani, có danh xưng là Tổng Thống Chính phủ Khu vực Kurd, để tìm một thỏa hiệp về việc khai thác dầu lửa. Kết quả Barzani cho biết một phái đoàn cao cấp Kurd sẽ đến Baghdad. Tuy nhiên vấn đề còn gai góc, vì ở vùng Kurd tiếp giáp với Iraq, còn có người Á rập và sắc tộc Turk sinh sống. Những người này vẫn sợ nạn độc quyền của người Kurd. Ðầu tuần này xe bom nổ làm chết 3 người ở một thị trấn nhỏ của trong tỉnh Anbar ở miền Tây Iraq, nơi có nhiều nguời Sun-ni cư ngụ. Tính từ ngày 20/7 đã có 24 người chết vì vì bom ở tỉnh này. Tuần trước một loạt những vụ đánh bom vào các đền Hồi giáo Shi-a ở thủ đô Baghdad đã giết chết 31 người. Ðó là nạn chém giết lẫn nhau giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a.

Ở Afghanistan tình thế có vẻ còn khó khăn hơn. Hôm thứ hai một quả bom nổ do điều khiển từ xa đã làm chết 10 người, 30 người bị thương trong chợ rau quả thành phố Herat, thuộc miền Tây gần biên giới Iran. Một phát ngôn nhân của Taliban tuyên bố bom đó nhằm vào Cảnh sát trưởng quận Inji lân cận. Các vụ đánh bom đã gia tăng trong mùa hè năm nay, vì nhóm phiến loạn Taliban đã thề phá rối cuộc bầu cử Tổng Thống vào ngày 20/8. Hiện nay quân đội NATO và Mỹ có 101,000 người ở nước này. Riêng Mỹ đã gia tăng đến 62,000 quân trong tổng số kể trên, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi quân số so với một năm trước.

Trong tháng 8 quân đội đồng minh đã có 9 người chết vì giao tranh hay vì bị bom, kể cả 3 quân Mỹ hôm thứ bẩy và thêm 3 người hôm chủ nhật, 2 Gia Nã Ðại và 1 Pháp. Tháng 7 là tháng quân đồng minh chết nhiều nhất kể từ năm 2001 khi quân đội đồng minh do Mỹ lãnh đạo đánh chiếm Afghanistan, lật đổ chính quyền Taliban lúc đó bao che trùm khủng bố Osama bin Laden. Trong tháng 7 vừa qua quân đồng minh có 74 người tử trận, trong đó có 43 Mỹ. Phần lớn quân phiến loạn Taliban dùng bom chôn ngoài đường để tấn công quân đồng minh. Quân đội Mỹ cho biết bọn phiến loan nay sử dụng các loại bom có ít hay không có chất kim loại nên rất khó dò tìm. Bọn Taliban còn dùng cách chôn chồng nhiều quả bom lên nhau, và đặt nhiều bẫy bom trong một khu nhỏ. Các Tư lệnh Mỹ dự liệu các vụ đánh bom còn gia tăng thêm cho đến ngày bầu cử 20/8.

Các cuộc chiến khó khăn ở Iraq và Afghanistan làm nổi bật một vấn đề chiến lược chiến thuật rất quan trọng vào đầu thế kỷ 21. Dùng Bộ binh để đánh khủng bố hay can thiệp vào các vấn đề nội bộ của một nước để giúp xây dựng hòa bình và dân chủ là một sai lầm nghiêm trọng. Bộ binh Mỹ và đồng minh đều là quân đội hiện đại nhất thế giới, nhưng đã bất lực trước các nhóm khủng bố vài ngàn người chỉ vì đó là những kẻ lẩn vào trong dân chúng, thành ra chúng vô hình. Chúng chỉ hiện hình sau khi bom tự sát nổ. Thành ra siêu cường đem đại quân đến đánh nhau với những kẻ vô hình, khác nào đem mỡ đến miệng mèo, để chúng sơi tái từng miếng, tích lũy thành số tổn thất thương vong rất lớn.

Việc siêu cường đem quân ra khỏi nước tham gia các cuộc chiến cục bộ chỉ có trong thời gian chiến tranh lạnh sau Thế chiến II. Ðầu tiên là cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-53), khi Bắc Hàn đem quân đánh Nam Hàn với sự trợ giúp của chí nguyện quân Trung Quốc, Mỹ và đồng minh đã tham chiến chống Cộng sản. Sau khi có ngừng bắn, Quân đội Cộng sản rút về Bắc Hàn, Mỹ và đồng minh không tiến quân lên giải phóng Bắc Hàn, nhìn nhận sự chia đôi Nam Bắc. Kế đó đến cuộc chiến tranh Việt Nam khi quân Cộng sản miền Bắc tấn công miền Nam từ năm 1956. Ðến năm 1965 đại quân Mỹ đổ bộ trực tiếp tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên đến năm 1972, chính phủ Nixon ký hiệp định ngừng bắn với Bắc Việt để rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, bỏ mặc quân đội và dân chúng vùng này cho Cộng sản Bắc Việt thôn tính.

Tại sao Mỹ làm như vậy? Trước hết ở Việt Nam cũng như ở Bắc Hàn, Mỹ đem quân tham chiến tại chỗ là vì nhu cầu chiến lược của siêu cường. Mục tiêu của Mỹ chủ yếu là ngăn chặn sự bành trướng của khối Cộng sản mà kẻ cầm đầu là Liên Sô, còn chuyện giúp đỡ dân miền Nam Việt Nam chỉ là thứ yếu. Vì thế sau khi Ngoại trưởng Mỹ Henri Kissenger bất ngờ đến Bắc Kinh, TT Nixon bắt tay được với Mao Trạch Ðông, chiến lược chống Cộng của Mỹ đã toại nguyện ở Ðông Nam Á, vì đã chia rẽ được hai anh Cộng sản lớn nhất là Liên Sô và Trung Cộng, mặt trận Việt Nam không còn cần thiết nữa. Binh pháp từ thời cổ ở Âu cũng như ở Á đã có câu “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách”.

Chiến tranh lạnh đã để lại cho thế giới một di sản vô giá. Ðó không phải là một tấm gương để các thế hệ mai sau cứ theo đúng như thế mà làm. Di sản chỉ là một khối những kinh nghiệm được tích lũy trong trường đời, có kinh nghiệm tốt có kinh nghiệm xấu, tóm lại đó là những bài học chiến lược cho những kẻ đi sau. Hãy từ từ rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi Afghanistan. “Chỉ có Hồi giáo mới trừ được khủng bố Hồi giáo”. Tàn nhẫn quá chăng? Không nên quên “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách” câu nói cổ nhân đã dạy chúng ta vẫn còn đó.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Lê Văn

 

Thăng trầm quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung qua ảnh

(VnMedia) – Năm 1971, đoàn đại biểu bóng bàn Mỹ đến thăm Trung Quốc, mở ra cánh cửa đi lại giữa hai nước. Ngày 1/1/1979, Trung Quốc và Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Trải qua 30 năm, quan hệ Trung-Mỹ đã trở thành một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất, giàu sức sống nhất. Tuy vậy, mối quan hệ này đã trải qua không ít thăng trầm.

Lãnh đạo hai nước từ"nhiều năm khó gặp mặt một lần" đến hiện nay đi lại mật thiết. Cuộc đối thoại chiến lược hai nước từ không đến có, hiện nay đã xây dựng hơn 60 cơ chế hợp tác đối thoại. Kim ngạch thương mại hai chiều trong 30 năm đã tăng hơn 120 lần, hai bên đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của nhau. Sự đi lại giữa nhân dân hai nước bắt đầu từ số không, phát triển đến hiện nay mỗi ngày có hơn 5.000 người đi lại giữa hai bờ Thái Bình Dương.

Sau đây là chùm ảnh mối quan hệ giữa Mỹ-Trung Quốc 30 năm qua:

 ảnh minh họa

Sau khi đến Trung Quốc hôm 16/11 trong khuôn khổ chuyến công du Châu Á đầu tiên trên cương vị ông chủ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng mối quan hệ Mỹ-Trung “không phải không có những bất đồng và khó khăn. Tuy nhiên, hai nước không nên là đối thủ của nhau”.  Bức ảnh chụp Tổng thống Obama đang từ máy bay xuống sân bay ở thành phố Thượng Hải.

 ảnh minh họa

Đầu những năm 1970, Mỹ muốn tìm đến tới Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô và giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam. Vì thế, sau màn “ngoại giao bóng bàn” năm 1971 tại Bắc Kinh, Henry Kisinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, đã thực hiện các chuyến công cán bí mật tới Bắc Kinh. Các nhà chiến lược của hai nước lần đầu tiên gặp mặt để bàn về các vấn đề thế giới. Ảnh chụp đội tuyển bóng bàn Mỹ đến thực hiện màn"ngoại giao bóng bàn" tại Trung Quốc. 

 ảnh minh họa

 Năm sau, Richard Nixon đến thăm chính thức CHND Trung Hoa và ký Thông cáo chung Thượng Hải 1972, đặt khuôn khổ đầu tiên cho quan hệ chiến lược Mỹ-Trung. Trong ảnh, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang đón tiếp Tổng thống Richard Nixon.

 ảnh minh họa

Năm 1974-1975, khi Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang cầm quyền, ông George H. W. Bush (Bush cha) được bổ nhiệm đến Bắc Kinh làm Đại sứ (ảnh trái). Đến tháng 2/1989, ông này đã trở lại Quảng trường Thiên An Môn với tư cách là Tổng thống Mỹ (ảnh phải)

 ảnh minh họa

Năm 1997: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đến Mỹ, Đây là chuyến thăm đầu tiên của một người đứng đầu nhà nước Trung Quốc trong suốt hơn 1 thập kỷ.

 ảnh minh họa

 Đáp lại chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Giang Trạch Dân, năm 1998, Tổng thống Mỹ khi đó là Bill Clinton  sang thăm chính thức Trung Quốc. Trong ảnh, Tổng thống Bill Clinton cũng vợ và con gái thăm Vạn Lý Trường Thành.

 ảnh minh họa

Tháng 5/1999, tên lửa của NATO bắn trúng Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade trong cuộc chiến Serbia. Vụ việc này khiến người Trung Quốc nổi giận, biểu tình và ném đá vào Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh.

 ảnh minh họa

Mối quan hệ giữa hai nước càng trở nên xấu đi sau khi một máy bay do thám của Mỹ va chạm với một máy bay của Trung Quốc ở đảo Hải Nam năm 2001. Phi công người Trung Quốc đã thiệt mạng trong vụ này trong khi phi hành đoàn Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ. Trung Quốc chỉ thả tự do cho những người này sau khi Tổng thống Mỹ khi đó là George W.Bush nói lời xin lỗi.

 ảnh minh họa

Tháng 12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và Tổng thống G. Bush trao cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc vĩnh viễn, mở ra giai đoạn bùng nổ quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính giữa hai nước.

 ảnh minh họa

Ảnh trên ghi lại hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama sau bài phát biểu trước các sinh viên Trung Quốc tại Thượng Hải. Tại đây, Tổng thống Obama tuyên bố ông không tìm cách ngăn cản sự vươn lên của Trung Quốc đồng thời kêu gọi cần có sự cân bằng thương mại đôi bên.

Đan Khanh – (Tổng hợp)

 

“> 

Các tin mới khác:




CHIẾN DỊCH TỐ CÁO (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

 
 
Việc cựu Đại tướng Colin Powell quả quyết ủng hộ ứng cử viên Tổng Thống Barak Obama đã gây sửng sốt cho cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Powell là một trong số những người Cộng hòa được kính mến nhất ở Mỹ. Vị Đại tướng 4 sao này trước đây đã từng là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Ronald Reagan (CH), Chủ tịch Ủy Ban Tham mưu Hỗn hợp Quân lực Mỹ trong lúc có cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (thời TT George H.W. Bush) và Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ I của TT Bush hiện nay. Trong cuộc tranh cử Tổng Thống năm nay, từ năm ngoái Powell đã ủng hộ ứng cử viên của đảng ông John McCain. Vậy tại sao bây giờ ông đổi ý?
 
Tướng Powell là người Mỹ gốc Phi châu trước đây đã từng có ý định ra tranh cử Tổng Thống. Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài NBC hôm chủ nhật Powell nói quyết định của ông ủng hộ Obama không phải vì vấn đề mầu da, như việc ông ủng hộ McCain lúc đầu đã chứng tỏ. Từ 10 tháng trước đây ông đã thấy cần phải lựa chọn giữa hai người. Powell nghĩ Obama là "biểu tượng cho một sự biến đổi của lịch sử nước Mỹ", Obama thuộc một thế hệ mới đang lên trong cuộc diện nước Mỹ và cả thế giới. Ông nói việc bầu Obama làm Tổng Thống Mỹ sẽ như một luồng điện kích thích nước Mỹ và hoàn cầu. Ông nói: "Việc một người Mỹ gốc Phi được bầu làm Tổng Thống Mỹ sẽ là một biến chuyển lịch sử. Việc này sẽ làm người Mỹ hãnh diện, không chỉ riêng người Mỹ gốc Phi, mà tất cả mọi người Mỹ, bất luận mầu da hay sắc tộc nào". Với sự ủng hộ của Powell, Obama nói sau khi đắc cử Tổng Thống ông sẽ mời cựu tướng Colin Powell làm cố vấn cao cấp cho ông về các vấn đề an ninh quốc gia, một chức quan trọng hàng đầu cho Tổng Thống. Như vậy, Obama đã bác bỏ được những lời chỉ trích nông cạn nói ông thiếu kinh nghiệm về chiến tranh và các vấn đề an ninh nội ngoại.
 
Cựu tướng Powell nói ông đã thất vọng vì luận điệu tiêu cực trong cuộc vận động tranh cử của McCain. Ông đã thấy nghi ngại khi McCain chọn bà Sarah Palin, Thống đốc tiểu bang Alaska, đứng chung danh sách ứng cử Phó Tổng Thống. Trong những tuần lễ gần đây khi các polls thăm dò cho thấy Obama vượt trên McCain, một số người Cộng Hòa cực đoan đã cho rằng chương trình tranh cử của Palin có nhiều ưu điểm đưa ra những lời tố cáo kể cả bôi lọ, xuyên tạc cá nhân Obama, bởi vậy họ nhắm đưa Palin lên hàng đầu, biến cuộc vận động tranh cử thành một chiến dịch tố cáo. Chiến dịch này mở đầu bằng những lời rỉ tai, kể cả biểu ngữ ghi Obama "không là người Mỹ" mà là người Á rập theo Hồi giáo. Rồi đến vụ tố cáo Obama có liên hệ với "khủng bố" vì một nhóm phản chiến đã từng cho nổ bom năm 1968 (khi Mỹ tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa chống cuộc tấn công của Cộng sản Bắc Việt), Obama lúc đó mới có 8 tuổi. Sau đến vụ Palin tố cáo Obama có liên hệ với ACORN, một tổ chức thiện nguyện chuyên giúp người nghèo và người vô gia cư, bị cáo buộc đã cho nhiều dân "hôm-lét" chút tiền còm đi nộp tên giả để lấy quyền được đi bỏ phiếu. Việc này FBI đang điều tra xem nhóm nào đã có âm mưu. Obama rất tán thành cuộc điều tra này.
 
Gần đây nhất, Palin tặng cho Obama danh hiệu mới, gọi là kẻ theo "xã hội chủ nghĩa", làm nhiều người sững sờ vì từ ngữ này làm người ta nghĩ đến Cộng sản. Sự thật chủ nghĩa xã hội chỉ là một trong nhiều lý thuyết và biện pháp nhằm cải cách xã hội cho tốt đẹp hơn, tiên khởi phát sinh ở Pháp vào cuối thế kỷ 19 sau khi các nhà cách mạng Pháp lật đổ chế độ quân chủ đưa nước Pháp đến chế độ Cộng Hòa do dân làm chủ. Vào đầu thế kỷ 20, các nhóm quá khích ở Nga thúc đẩy nông nô nghèo khổ nổi lên làm cách mạng lật đổ Nga hoàng. Sau khi giết được cả gia đình Nga hoàng, các nhóm quá khích cực tả lợi dụng chủ thuyết xã hội, lập ra chế độ vô sản chuyên chính (tức là chính quyền độc tài). Chủ nghĩa cộng sản bắt đầu từ đây để bành trướng thành phong trào vô sản quốc tế, chống chế độ tư bản trên khắp thế giới.
 
Nhưng hãy nhìn đến một khía cạnh ngược chiều của chủ thuyết xã hội ở Đức vào thập niên 30 Thế kỷ trước, Hitler lập ra chế độ Quốc xã, tức quốc gia xã hội chủ nghĩa. Ở đây chữ "quốc" là chủ nghĩa dân tộc (nationalism), bởi vậy là độc tài cực hữu. Chủ thuyết quốc xã của Hitler cao ngạo, cho rằng dân tộc Đức có gốc là bộ tộc Aryan từ thời tiền sử thông minh tài giỏi, nên mục tiêu ưu tiên của Quốc xã là tàn sát người gốc Do thái trong các lò hỏa thiêu man rợ. Sau khi Đức thua trận, Hitler tự sát, những tay cầm đầu Đức quốc xã đã bị tòa án quốc tế xử tử vì tội diệt chủng.
 
Vậy giữa hai thuyết độc tài cực tả và cực hữu có thuyết nào trung dung ở giữa hay không? Chắc chắn là không vì khi đã gọi là "cực", không thể có sự dung hòa nào ở giữa. Nhưng có một chủ thuyết duy nhất có thể chống lại mọi chế độ độc tài dù tả hay hữu. Đó là chế độ dân chủ, tức dân làm chủ mà căn bản là quyền bầu cử tự do, kết quả của sự phối hợp giữa hai chủ thuyết Cộng hòa và Dân chủ. Không phải ngẫu nhiên mà nước Mỹ có hai chính đảng lớn nhất là đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ, chính vì thế Mỹ trở thành một nước mạnh nhất thế giới, đã từng hy sinh biết bao xương máu và tiền bạc để trừ khử cả hai loại độc tài cực tả và cực hữu. Sau hai cuộc thế chiến và một cuộc chiến tranh lạnh qua đến Thế kỷ 21, bất cứ một dân tộc nào ngày nay cũng biết và ghê tởm các chế độ độc tài.
 
Ở Mỹ chỉ còn 12 ngày nữa đến ngày tổng tuyển cử, nghĩa là bầu Tổng Thống, bầu Hạ Viện và một phần ba Thượng viện. Sáng thứ Tư, các polls thăm dò trên toàn quốc cho thấy Obama đã vọt lên số điểm có hai cột số trên McCain và đảng Dân Chủ có thể chiếm đa số lớn tại Quốc hội. Trong lúc tình hình nguy ngập cho đảng Cộng Hòa, người ta bỗng thấy nẩy ra hiện tượng Sarah Palin. Phe cực đoan trong đảng Cộng Hòa đã đẩy Palin vào cấp lãnh đạo vận động tranh cử cho cả đảng với những màn trình diễn đặc biệt nhẩy múa giống như các ngôi sao nhạc rock hấp dẫn nhiều người đến coi. Nhưng nếu chủ yếu là để nhắn nhủ cử tri Mỹ không nên bầu cho "tên xã hội chủ nghĩa" Obama, điều đó khác nào một sự nhục mạ, đánh giá thấp trình độ trí thức cao và kiến thức rộng của đa số người dân ở Mỹ.
 
Dù với những nỗ lực phi thuờng đó, nếu Barack Obama vẫn trúng cử Tổng Thống thì sao? Không sao hết, chỉ cần chờ 4 năm nữa, đến lần bầu cử Tổng Thống năm 2012, đảng Cộng Hòa có thể sẽ đưa bà Palin ra ứng cử làm Tổng Thống với các màn nhạc giựt gân hơn nữa để lãnh đạo cả thế giới.
 
 



Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Vậy bin Laden và bọn al-Qaida có gốc gác như thế nào? Vào cuối năm 1979 Liên Sô đã mở cuộc tấn công đánh chiếm Afghanistan, lập một chính quyền Cộng sản, bị sự phản kháng dữ dội của các nhóm du kích Hồi giáo gọi là “mujahideen”, chủ trương dùng Thánh chiến (jihad) để tiễu trừ bọn ngoại xâm. Ðó là thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ tìm cách giúp du kích Hồi giáo đánh Nga. Với sự yểm trợ của Pakistan, Mỹ cấp vũ khí, giúp cả việc huấn luyện cho du kích chống Cộng ở Afghanistan. Trong số các du kích này có một người trẻ tuổi từ Á Rập Sê-út ở Trung Ðông đến. Tên anh ta là Osama bin Laden. Năm 1989, Liên Sô chịu không thấu, phải ký kết hòa ước rút quân khỏi Afghanistan, để lại một Tổng Thống thân Cộng. Liền sau đó các nhóm du kích Hồi giáo đánh lẫn nhau để tranh cướp chính quyền. Ðến năm 1996 nhóm Taliban phần lớn gồm những thanh niên Hồi giáo chiếm được thủ đô Kabul, thiết lập một chế độ Thần quyền cai trị theo luật Hồi giáo. Ðến năm 1998 nhóm khủng bố có tổ chức xuất hiện ở một vùng núi hiểm trở phía Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan. Người cầm đầu nhóm này chính là Osama bin Laden, vốn là con nhà triệu phú Á-Rập có nhiều tiền đã lập một căn cứ huấn luyện nhóm khủng bố al-Qaida, dưới sự bao che của chính quyền Taliban.

Vậy tại sao bin Laden ra lệnh cho al-Qaida đánh thẳng vào Mỹ vào tháng 9 năm 2001? Rất có thể bin Laden đã có tư tưởng này ngay sau khi quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Hắn thấy một siêu cường tương đương với Mỹ vào lúc đó đã phải thất bại trước sức mạnh của “jihad”, vậy tại sao Hồi giáo không đánh luôn cả Mỹ và các nước Âu châu? Ðó là những nước từ lâu vẫn bị tố cáo lợi dụng di sản thời thuộc địa từ hơn hai thế kỷ trước để áp chế và trục lợi kinh tế ở các nước Trung Ðông. Tổ chức khủng bố al-Qaida lợi dụng việc Mỹ đánh Iraq trước hết để bành trướng thế lực ở Trung Ðông và sau ở nhiều nơi khác trên thế giới. Sở dĩ bin Laden cho tấn công Mỹ trước là để dằn mặt Mỹ không cho can thiệp vào việc nội bộ của Trung Ðông. Ngoài ra khủng bố đánh Mỹ mà Mỹ không ngăn chặn nổi cũng là một cách dằn mặt các nước Tây phương. Người ta đã thấy những gì xẩy ra trên hai mặt trận ở Afghanistan có quân Mỹ và quân khối NATO tham dự, và ở Iraq có quân Mỹ và quÐầu tuần này tình hình Iraq thật đáng quan ngại. Hai bom đặt trên xe vận tải đã nổ ở một làng người Hồi hệ phái Shi-a ở gần thành phố Mosul phía Bắc Iraq làm chết 28 nguòi, trong khi tại Baghdad 9 vụ nổ liên tiếp đã làm chết 22 người. Tính từ 3 ngày qua các vụ đánh bom đã giết chết 100 người Shi-a. Các vụ đánh bom đó do nhóm người Hồi Sun-ni nổi loạn hợp tác với al-Qaida (cũng gốc Sun-ni) thực hiện, nhằm gây lại các cuộc xung đột giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a đã từng diễn ra khốc liệt trong những năm 2006 và 2007, làm chết hàng chục ngàn người. Vậy quân Mỹ có thể rút ra khỏi Iraq dự liệu vào năm 2011 hay không? Thủ tướng al-Maliki (gốc Shi-a) quả quyết nói các lực lượng an ninh của ông có đủ khả năng kiềm chế nạn bạo động trong khi quân đội Mỹ chuyển dần trách nhiệm an ninh cho chính quyền Iraq. Tôi nghĩ sự xung đột giữa hai phe Shi-a và Sun-ni ở Iraq đã có từ mấy chục năm qua, đây là chuyên nội bộ của Iraq, nên để cho dân nước này giải quyết.

Trong khi đó cuộc chiến ở Afghanistan, có nhiều chuyện phức tạp hơn. Ở đây hiện có 101,000 quân NATO và quân Mỹ tham chiến. Trong số này quân Mỹ có 62,000 quân, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi số quân. Từ đầu tháng 7 bọn phiến loạn do Taliban cầm đầu đã gia tăng các cuộc tấn công, khiến tháng đó là tháng thiệt hại nhiều nhất cho quân đồng minh: 74 người chết trong đó có 43 quân Mỹ. Người ta e rằng các trận chiến còn gia tăng hơn nữa trước ngày 20/8 là ngày bầu cử nhiệm kỳ mới của Tổng Thống, hiện vẫn do ông Hamid Karzai tại chức. Tình thế đặc biệt là dân nước này nghèo khổ, ít học, chỉ sống bằng nghề trồng nha phiến, và đa số cũng nghiền nha phiến. Quân NATO theo lệnh của LHQ cấm dân trồng nha phiến, nhưng bọn Taliban lại sẵn sàng cho dân trồng để lấy nha phiến bán ra nước ngoài đem tiền về dùng làm chiến phí. Thành ra quân NATO đi đến đâu, dân làng “nghiền” cũng ngấm ngầm báo động Taliban. Ðây là cuộc chiến rất khó khăn cho Mỹ và NATO.

Tôi đã viết dùng quân đổ bộ vào một nước để đánh khủng bố là một sai lầm chiến lược. Ðịa bàn chống khủng bố nhằm chỉ một khu vực rộng lớn gồm đủ mọi nơi trên thế giới, không phải để tổ chức một thế liên minh quân sự, mà để tìm một sự hòa hợp cộng tác trong hòa bình vì lợi ích chung của cả thế giới. Các thế liên minh quân sự đã hết thời. Ở Iraq, quân Anh đã rút khỏi Iraq. Ở Afghanistan quân đồng minh NATO chỉ có danh nghĩa thời chiến tranh lạnh, còn bây giờ tham chiến chống khủng bố là hời hợt, chính vì thế Mỹ đã phải tăng thêm quân. Với chiến lược hòa hợp cộng tác, Mỹ nhằm vào đâu? Âu châu đã hết thời với NATO, các nước Nam Mỹ chỉ lo chuyện địa phương trên lục địa của họ. Phi Châu phần lớn nghèo khổ, chỉ Bắc Phi có các nước mạnh, dân trí cao, bọn khủng bố không bén mảng tới. Ở Á châu có Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á là địa bàn Mỹ có thể nhìn đến để áp dụng chiến lược hòa hợp cộng tác về mặt kinh tế.

Trung Quốc đang phải đối phó với Tân Cương, nhưng không lo người Hồi Trung Á đi theo khủng bố, mà chỉ lo phát triển kinh tế cho 1 tỷ 3 trăm triệu dân khỏi nổi loạn vì nghèo khổ. Trong khi đó ở Nam Á, Ấn Ðộ theo Ấn giáo đã thẳng tay trừng trị bọn Hồi giáo quá khích sau vụ đánh bom ở Mumbai. Ở Ðông Nam Á có khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á) là một thế lực kinh tế đang lên mạnh, tạo thành một thế chân vạc với kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản. Xét trên toàn cầu, đây là một địa bàn quan trọng nhất. Mỹ nên tăng cường mối quan hệ hòa hợp với địa bàn này. Và khi Mỹ đã thay đổi địa bàn chiến lược, tất nhiên cũng phải thay đổi cả chiến thuật. Mỹ nên đánh khủng bố từ trên cao hay từ biển, thay vì dùng quân đổ bộ ở những nơi không có trận tuyến rõ rệt.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.




Phan Lạc Phúc : Qua Cơn Mê

Biếm họa Bùi Bá: Năm Tân Mão 2011, con mèo châm ngòi cho nổ banh xác pháo.


Câu Đối Tết Con Mèo.

Ba Đình tâu với Thiên Đình, thú thật Triều Đình không nói dối. Hà Sĩ Phu (xướng).

Ái Quốc bám theo Trung Quốc, e gần Phản Quốc có đâu xa.  Hữu Tình (họa).

Bài đọc suy gẫm: Qua Cơn Mê ( hay Văn Nghệ Tết Trong Trại Tù Yên Hạ) – Phan Lạc Phúc (hình ảnh sưu tầm trên net chỉ có tính cách minh họa)

…”Bạn ơi nếu tôi có một điều ước, tôi ước mong cho ngày nào trời đất phong quang, chúng ta được trở về đất nước Việt Nam yêu dấu, muốn đi đâu thì đi. Tôi sẽ đi tới những trại tù năm cũ, thăm lại người xưa, thăm lại các bạn tù chúng ta còn nằm lại. Tôi sẽ tới trại Yên Hạ, tới quận Phù Yên hỏi xem ông cụ Việt trại trưởng năm xưa còn sống hay không? Nếu gặp được ông cụ tôi sẽ nầm lấy tay mà nói “Tôi là là cựu tù nhân Yên Hạ đây, cụ còn nhớ tôi không, thưa cụ?”…Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, tôi lại về bên em…- Trần Trịnh- Nhật Ngân.

Cả nước làm bạn với khoai mì, khoai lang.

Còn gần một tháng nữa mới đến Tết nhưng không khí thi đua văn nghệ giữa 2 khu A, B đã lan truyền khắp trại. Anh em khu A đi làm ngoài, có bữa kiếm được củ khoai, miếng sắn lại dấm dúi đem cho. Chúng tôi hiểu được sự chăm lo, kỳ vọng của anh em. Cuộc chiến tranh quân sự tàn rồi, cuộc chiến tranh văn hóa còn đang tiếp diễn.
Một hôm đang nửa buổi, trại trưởng ông cụ Việt vào hội trường dự khán anh em chúng tôi tập dượt. Thấy gần trưa rồi mà ban Văn nghệ khu A vẫn xuông tình, ông cụ hỏi: “Anh em không nghỉ ăn bồi dưỡng hay sao?” Mấy người có trách nhiệm mới trình bày với trại trưởng là chúng tôi vẫn tập “xuông” không có “bồi dưỡng”. Ông cụ Việt liền cho gọi thi đua (mấy anh tù được cất nhắc lên làm chân chạy việc cho ban giám thị) lên chỉ thị: “Cung cấp ngay chế độ bổi dưong hằng ngày cho đội văn nghệ khu A”. Ông cụ còn dặn thêm: “lệnh trại trưởng cấp thêm cho mỗi đội văn nghệ của A lẫn B mỗi ngày một gói trà. Anh em tập dượt ca, kịch cần thấm giọng”. Thế là hàng ngày, “phụ tá khói lửa” là tôi lại thêm việc đun nước pha trà cho anh em nhấm nháp.

Đi vào thực hiện kịch lịch sử đối với chúng tôi, nó có ưu điểm nhưng cùng một lúc nó kéo theo nhiều điều phức tạp. Thứ nhất tập dượt cầu kỳ. Người “ngày xưa” ăn nói cử chỉ khác người ngày nay. Một ông quan văn với một ông quan võ chào hỏi, vuốt râu nó khác nhau, không giống nhau. Cách phát âm hay nói theo giọng nhà nghề “đài từ” của kịch lịch sử khác với kịch thời đại. Hơn nữa trang trí sân khấu, cách phục sức cho nhân vật kịch “ngày xưa” nó đòi hỏi nhiều nghiên cứu, nhiều phụ tùng hơn kịch “bây giờ”, cái kho đạo cụ của trại không thỏa mãn được. Vào việc đạo diễn Th. già bấn xúc xích về việc dàn cảnh, về đạo cụ nên bạn già yêu cầu tôi lo giúp về phần tập luyện.

Bạn Th. già biết dạo xưa tôi có sinh hoạt trong Sông Hồng Kịch Xã ở Hà Nội trước khi động viên vào quân đội, trong khi đó Th. già viết cho báo Giang Sơn. Chúng tôi biết nhau từ ngày ấy. Vả chăng tôi vốn sinh trưởng ở nhà quê mà làng tôi vốn là đất chèo, có một phường chèo thường trực ở trong làng nên tự nhiên tôi quen thuộc với một số ước lệ của tuồng, chèo cổ. Những năm đi kháng chiến ngoài bưng, tôi đi theo một đoàn Tuyên truyền xung phong nên tôi cũng tàm tạm có một số kinh nghiệm về sân khấu. Cho nên nhận lời bạn già, tôi đang là “phụ tá khói lửa” lại thêm một chức vụ nữa “phụ tá đạo diễn”.

Không gian kịch là tư dinh Đinh Đề Lĩnh, viên quan trấn thủ kinh thành Đông Đô (Thăng Long – Hà Nội). Thời gian là đêm mồng 4 tháng Giêng năm Kỷ Dậu đêm trước của toàn quân vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Vở kịch đòi hỏi 5 vai quan trọng: Đinh Đề Lĩnh, trấn thủ Thăng Long; thất vọng trước sự yếu hèn của hôn quân Lê Chiêu Thống, căm hận trước sự tham tàn bạo ngược của quân tướng nhà Thanh nên phút cuối cùng Đinh Để Lĩnh nghe theo lời khuyến dụ của La Sơn Phu Tử, đặc sứ của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi nghĩa quân tấn công. Vai chính Đinh Đề Linh do Nguyễn Huy T., đại úy đài Tự Do cục Tâm lý chiến đảm trách. T. là một con người tài hoa, hát hay, nhảy giỏi, dáng người cao mà thanh, vừa văn vừa võ, đã nhập vai Đinh Để Linh rất đẹp. Anh chơi kịch từ thời sinh viên nên có đủ bản lĩnh trên sân khấu vừa say mê vừa tỉnh táo.

Vai La Sơn Phu Tử do Nguyễn T. cũng đại úy bên Tổng cục Chiến tranh Chính trị (người ở Seattle vừa viết thư cho tôi) nhận lãnh. Nguyễn T. vốn là em một người bạn tôi, nên tôi biết T. từ khi chưa bị động viên vào quân đội. T. đi Hướng đạo nên quen thuộc với sân khấu. T. không dám tin ở tài sức của mình nhưng tôi khuyến khích T. nhận vai La Sơn Phu Tử. T. vốn người Thanh Hóa, nói được giọng già, dáng người văn nhã mà cứng cỏi, lại chuyển sang gíọng Nghệ An – Hà Tĩnh rất ngọt nên có đầy đủ dáng vẻ của một mưu sĩ “đàng trong”. Một vai phản diện rất gay là vai tướng nhà Thanh, nói tiếng Việt ngọng líu ngọng lo mà tham dâm hiếu sắc do Trung tá Lê Văn Hóa, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn văn nghệ Quân đoàn 4 phụ trách. Anh là người tràn đầy kinh nghiệm sân khấu lại thêm là “vua cười” của đội, luôn mồm hát, no cũng hát, đói cũng hát “Ngộ bên Tàu à… ngộ mới sang – sang Nam Việt bán buôn làm giàu…” nên vai tướng Tàu như là vai viết riêng cho anh vậy.

Người nữ độc nhất, cô chủ quán mê hoặc tướng Tàu do đại úy Tôn Thất L. thủ vai. Anh đi tù cực khổ, đói khát như vậy mà vẫn da trắng tóc dài, mắt sắc như dao làm gái Thăng long rất đẹp. Riêng có một vai quê mùa, vai ông già chăn ngựa thọt chân, luôn luôn say xỉn do một đại úy Cảnh sát đảm nhận vai mà tập mãi chưa vô. Anh có nhân dáng quê mùa, cục mịch, say mê vai diễn nhưng tiếng cười, giọng nói của anh nó văn minh quá, thành thị quá thiếu mất chất nhà quê. Mà đây là vai quần chúng vai đại diện cho nhân dân phản kháng nên trại để ý lắm. Thiếu úy Công an Q. đại diện cho phòng Giáo dục, hằng ngày theo dõi chúng tôi tập dượt, lắc đầu trước vai ông già chăn ngựa mà phê bình đủng đỉnh “chưa được”. Sau rồi, đạo diễn Th. già mới tham khảo ý kiến anh em mà bảo tôi rằng: “Ông khỏi mất công dượt cho anh ấy nữa. Ông thì vừa già, vừa chân tập tễnh, lại vừa có chất quê… thế thì ông chơi ngay cái vai ấy đi cho nó tiện việc sổ sách.” Anh em cũng ồn ào đề nghị nên tôi lại kiêm luôn vai cụ Triệu ông già chăn ngựa. Sở dĩ đạo diễn Th. già và tôi chú ý đến giọng nói là vì khi diễn kịch ở đây, chúng tôi diễn “chay” không có ban nhạc làm nền (background music). Vì vậy phải đặt trọng tâm vào giọng “thoại”, đưa vào đó nhiều màu sắc để phần nào quên đi cái thiếu vắng nhạc nền kia.

Có giọng Bắc trầm hùng cứng cỏi của Đinh Đề Lĩnh, giọng miền Trung uyển chuyển, sâu sắc của La Sơn Phu Tử, giọng ngọng nghịu của tướng Tàu, giọng Bắc pha Huế đài các của cô chủ quán, giọng quê mùa bạo liệt của ông già chăn ngựa. Nút kịch được thắt khi La Sơn Phu Tử đang đêm được ông già chăn ngựa nhà ở gần bên đưa vào gặp Đinh Đề Lĩnh ở tư dinh, thuyết điều hơn, lẽ thiệt. Kịch được thắt thêm 1 nút khi tướng Tàu sục sạo đi tìm cô chủ quán xinh đẹp bất ngờ xộc vào tư dinh Đinh Đề Lĩnh khi La Sơn Phu Tử còn đang hiện diện. Để tránh cho cơ mưu của “đàng trong” đừng bại lộ, cũng là cởi nút cho vở kịch… ông già chăn ngựa liền dũng cảm nhảy vào đâm chết tướng Tàu rồi cùng chết. Cái chết bất ngờ của ông già chăn ngựa như một giọt nước làm tràn ly khiến Đinh Đề Lĩnh còn đang do dự, chuyển hẳn sang thế nghĩa quân… mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi đại quân vua Quang Trung tràn tới. Sau đó, bình minh ngày 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu cũng vừa hiển hiện.

Để lo việc trang trí sân khấu và phục sức cho nhân vật kịch, trung tá Quân cụ Tr., nguyên sinh viên Mỹ Thuật ngày nào bây giờ là trưởng ban đạo cụ liền đem cái tài hoa còn lại của mình sửa chữa mấy đôi bốt hư của cán bộ thành hia cho văn quan, võ tướng nhà Lê , cải biến mấy cái mền dạ cũ màu đỏ, màu xám thành nhung y cho Đinh Đề Lĩnh, cho tướng nhà Thanh. Mấy cái đường kẻ đen trên tấm mền đỏ ngày nào bây giờ dưới bàn tay thần tình của Tr. đã biến thành hoa văn “thủy ba sóng rợn”. Tướng nhà Thanh thì nhung y lẫm liệt, hia mão đàng hoàng. Nhưng khi Đinh Dề Lĩnh, võ quan nhị phẩm triều đình đội mão theo đúng nghi thức thì tôi có ý kiến là Đinh Đề Lĩnh không nên đội mão chỉ nên đội khăn. Đội mão xem ra nó “cải lương” hơn, không truyền thống bằng cái khăn lượt Việt Nam. Đạo diễn Th. già đồng ý. Anh Tr. cũng đồng ý tuy rằng anh rất tiếc chiếc mão “võ quan nhị phẩm” rất công phu của anh.

Trong thành tích trang trí tư dinh của Đinh Đề Lĩnh ngày Tết, anh Tr. đắc ý nhất là 3 chữ đại tự anh viết trên bức hoành phi (bằng giấy): Huyết do hồng. Tr. vừa là nghệ sĩ vừa là trí thức. Th. già và tôi hiểu ý anh, nắm tay anh thông cảm. Thiếu úy Công an Q. người thường xuyên sinh hoạt với chúng tôi một bữa mới hỏi Th. già về ý nghĩa mấy chữ nho này. Th. giải thích: đây là 3 chữ cuối trong vế đối, nhắc lại chiến công chống xâm lược phương Bắc của tiền nhân “Đằng Giang tự cổ Huyết do hồng” (Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến nay vẫn còn đỏ máu). Tôi thấy Thiếu úy Q gật gù, ngẫm nghĩ, và từ đó thái độ đối với chúng tôi có khác. Anh em chúng tôi dù sống kiếp tội đồ khổ sở, đói khát nhưng trong công tác văn nghệ này ai củng cố gắng đóng góp một chút gì, để hi vọng nói lên rằng: chúng tôi thua trận, bị cầm tù, bị lăng mạ nhưng chúng tôi có văn hóa theo cách riêng của chúng tôi.

Đã đến ngày 30 Tết, năm Tỵ sắp sang năm Ngọ (1977-1978). Nghe anh em lưu cựu ở đây 1âu nói rằng chưa có bao giờ trại ăn Tết to như thế. Có lệnh của trại trưởng là bao nhiêu tiền quỹ của năm cũ chi cho bằng hết nên Tết đến thịt trên 10 con heo, 1 con bò; tát ao lấy cá chắm, cá chép lên ăn Tết. Mấy vườn su hào cũng nhổ “đại trà” làm dưa. Toàn là món “cao cấp” cho toàn trại, toàn thể tù nhân ăn Tết. Trong 10 năm đi tù cải tạo, tôi ngẫm lại chưa có năm nào, ở đâu được ăn một cái Tết tù như vậy. Ngoài các món ăn, anh em tù nhân còn được lĩnh mỗi người hai bánh chưng, thuốc lá, thuốc lào, và đêm 30 đi xem kịch tất niên về toàn trại còn có cháo lòng bò bồi dưỡng. Nghe phong thanh là sau Tết trại trưởng trung tá Trần Việt sẽ nghỉ hưu nên ông xã cảng “cái gì của tù là trả hết cho tù”.

Vài ngôi mộ của những người tù cải tạo.

Bữa tổng dượt có mặt đủ ban Giám thị trại, chương trình của khu A chúng tôi được cán bộ giáo dục Nguyễn Hồng L. chăm chút rất kỹ. Y ta để ý rất nhiều đến những sự “đóng góp” của chúng tôi vào vở kịch, hỏi khá kỹ về câu đối “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng “. Vốn bản tính đa nghi nên y không muốn đưa vào bất cứ điều gì không có trong kịch bản. Ông cụ Việt, có lẽ ông ta là người rộng rãi kiến văn nên ông cụ nói: “Tư dinh một viên võ tướng có tâm hồn với đất nước mà treo bức hoành Đằng Giang tự cổ huyết do hồng thì được lắm. Để đối phó với cường lân phương Bắc lại càng hay nữa .” Nhưng cán bộ giáo dục tỏ ý ngần ngại, khi chúng tôi định hát đoạn đầu của bài Thăng Long Hành Khúc của Văn Cao vào đoạn kết của vở kịch. Nguyên văn trong kịch bản chỉ có “tiếng hô sát của đại quân ta nhỏ dần rồi màn hạ”. Ỏ đây chúng tôi trong hậu trường sẽ hô “sát, sát” đồng loạt rồi hát từ từ nhỏ đến to dần lên “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng, trông khói sương chiều ám trên dòng sông. Nhị Hà còn kia Nhị Hà còn đó, lũ quân giặc Tôn sập cầu trôi đầy sông.” Màn từ từ khép và đến đó là dứt kịch. Chúng tôi muốn cho cái “coup de rideaư’ nó thêm sức thuyết phục. Đã thử lại lúc màn hạ này mà không có tiếng đồng ca Thăng Long Hành Khúc ở bên trong. Nó nguội đi nhiều lắm. Cán bộ giáo dục cuối cùng chấp nhận “cách đạo diễn” của chúng tôi nhưng nhất quyết không bằng lòng 2 chữ “giặc Tôn” mà phải đổi ra là nhà Thanh “cho nó rõ nghĩa” (chữ của y ta, bởi vì giặc Tôn có thể liên tưởng đến Tôn Đức Thắng chăng?).

Tối 30 Tết, trại Yên Hạ nôn nả hẳn lên. Mới 7 giờ đêm, mà hội trường đã chật cứng. Phạm nhân khu A ngồi bên phải. Khu B bên trái. Những dãy ghế phía trên là dành cho quan khách, gồm cán bộ khung xã sở tại, huyện ủy Phù Yên, cán bộ Công an và gia đình. Cứ như ý kiến bữa tổng dượt thì đêm 30 Tết, ban Văn nghệ sẽ diễn trong trại. Mồng 4 Tết chúng tôi sẽ ra huyện lỵ Phù Yên diễn cho dân chúng tới xem. Cho nên buổi diễn hôm nay là buổi diễn trong chương trình vui Tết đón Giao thừa, vừa là buổi phúc khảo trước khi ban Văn nghệ “đem chuông đi đấm xứ người”.

Chương trình khu B, bên hình sự được diễn đầu tiên. Cũng đồng ca, đơn ca, một màn kịch ngắn “đánh Mỹ” và kết bằng màn dân ca Quan họ Bắc Ninh. Anh em hình sự chơi chương trình này đã “thuộc” nên đối đáp, tung hứng rất là nhuần nhuyễn. Nhưng vì “bổn cũ soạn lại” nên nó làm cho tù chính trị chúng tôi chăm chú hơn là khán giả sở tại.

Bên hình sự có một ca sĩ tên Ng. hát rất hay, rất kỹ thuật; nghe nói anh ta đã tốt nghiệp thanh nhạc nên hát đâu có thua gì ca sĩ trên đài phát thanh. Ca sĩ bị tù mút mùa vì nghe nói anh mắc tội làm tem, phiếu giả. Kịch “đánh Mỹ” thì không có gì mới. Vẫn theo công thức cũ. “Mỹ cút, ngụy nhào, quân ta kẻ thù nào cũng đánh thắng, khó khăn nào cũng vượt qua”. Nhưng phải công nhận anh em hình sự chơi nhạc cảnh Quan họ “Mời trầu, giã bạn” rất đằm thắm, ý nhị và duyên dáng. Đây là một tiết mục hay. Khi anh em cúi đầu chào khán giả, chúng tôi dù ở trên sân khấu, đang sửa soạn “ra trò” mà chúng tôi cũng không ngừng vỗ tay tán thưởng. Đoàn trưởng đoàn kịch khu B. Quách H., đứng ở cánh gà phía bên kia, đứng nghiêm, để tay lên ngực cúi đầu chào lại chúng tôi như một sự cảm thông cái tình tri âm, tri kỷ.

Có lẽ “cái đinh” của đêm văn nghệ hôm nay đối với khán giả địa phương là Văn nghệ khu A, tù chính trị. Họ chưa bao giờ được biết miền Nam thật sự như thế nào? Miền Nam đã thua, đã tan nát nhưng những tàn dư của miền Nam, lũ tù chính trị chúng tôi, vẫn còn đây. Họ đã được nghe “nhà nước ta” nói rất nhiều về miền Nam, nhưng “trăm nghe sao bằng một thấy”. Văn nghệ, là một thái độ sống. Họ muốn biết thái độ sống của miền Nam thế nào qua những đại diện khốn khổ nhưng trung thực là chúng tôi Chúng tôi cũng cảm nhận được điều đó nhưng trong tình trạng tù đày, bó buộc như thế này, biết ăn, biết nói làm sao? Thôi thì “sức người có hạn, được đến đâu hay đến đó”.

Qua mấy màn ca nhạc, đồng ca, đơn ca, tôi nghiệm ra là về kỹ thuật, chúng tôi không sánh bằng anh em hình sự. Điều dễ dàng nhận thấy là tù chính trị già hơn, nên hơi hám kém hơn. Nhưng hiệu quả sân khấu thì chưa chắc ai hơn ai. Lấy ví dụ như ca sĩ Văn B . của chúng tôi hát làm sao tốt bằng, khỏe bằng Ng. bên khu B, nhưng khi anh hát xong tiếng vỗ tay có lẽ nhiều hơn, nồng ấm hơn. Ng. hát giọng ngực, lớn, vang nhưng anh hát theo lề lối thường thấy ở ngoài Bắc, không rõ lời. Nhiều khi không biết anh hát cái gì nữa chỉ thấy trước sau giọng ngân vang rền rĩ mà thôi. Còn Văn B. anh là ca sĩ tài tử (ngoài Bắc kêu bằng nghiệp dư, thích thì hát chơi không phải nhà nghề) nên hát bài nào anh phổ tâm tình vào bài hát đó. Anh không trưng bày giọng hát mà như văn nghệ thường thấy ở miền Nam, anh có một tâm sự để mà kể lại. Anh thuộc loại ca sĩ trữ tình (chanteur de charme) không phải ca sĩ Opera như khuynh hướng ngoài Bắc. Cho nên nghe Văn B . ca sĩ miền Nam, hát không giỏi bằng, không khỏe bằng nhưng nó dễ nghe hơn, nó thấm thía hơn, nó con người hơn. Mà cũng có thể vì cách hát của anh khác lạ hơn nên anh được chú ý và tán thưởng.

Tiết mục gây được nhiều tiếng cười sảng khoái là màn tốp ca. Anh em chúng tôi dựng tiết mục này theo lối AVT, nhằm kiếm được nụ cười trong tình trạng tối ám của nhà tù. Mà điều này cũng là một thực tế. Chúng tôi là phạm nhân nhưng trong đời sống chúng tôi vui cười nhiều hơn cán bộ coi tù. Ở ngoài Bắc, hoặc là người ta sống căng thẳng quá hoặc là người ta phải ngụy trang lối sống cho nên phần đông mọi người mặt khó đăm đăm. Đây là bệnh táo bón tinh thần thường thấy nơi xã hội thiếu tự do. Ba bạn Đỗ H., Văn B., Trịnh P. hát hò, đối đáp với nhau thoải mái. “Cái gì nhúc nhích là ta chén liền “. Tiếng cười đồng cảm vang lên. Từ cánh gà nhìn xuống, tiếng cười lan tỏa chỉ có người cau mặt là cán bộ giáo dục…

Màn gây ấn tượng sâu sắc là độc tấu Tây ban cầm. Đây là loại đàn nhiều người chơi. Nhưng tập tành đến nơi đến chốn chơi được nhạc cổ điển hay bán cổ điển thì có rất ít người. Người anh em chơi Tây ban cầm của chúng tôi đã có trên 10 năm cầm đàn. Anh bữa ấy độc tấu một bản bán cổ điển. Một cây đàn Tây ban cầm mà như một dàn nhạc. Có lúc réo rắt như violon, lúc nhảy nhót như mandoline, khi rộn rã như piano, khi trầm hùng như một đoàn quân nhạc đón đoàn chiến binh chiến thắng trở về . Tôi nghĩ đám đông khán giả kia chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa của bài vừa diễn tấu nhưng nhìn bàn tay buông bắt đầy kỹ xảo, nghe âm thanh tiết tấu phong phú, họ hiểu rằng chơi đàn như vậy là một kỳ công. Kỳ công ấy là văn hóa.

Giọt nước mắt người vợ tù cải tạo trong ngày cựu tù Bình Điền họp mặt tại Nam California, ảnh Huy Phương. Hình dưới: triển lãm hình ảnh về trại tù cũ.

Links:

Bầu cho tương lai (Sơn Điền Nguyẽn Viết Khánh)

Bu Cho Tương Lai  
 
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Barack Obama đã được bầu làm Tổng Thống Mỹ với đại đa số phiếu. Từ tuần qua, nhìn những người dân xếp hàng chờ đợi từ tảng sáng để sớm bước vào các phòng bầu phiếu, các nhà quan sát có ý thức cao đã thốt ra một câu bất hủ: "Họ đang viết lịch sử". Từ thời xa xưa hơn 200 năm trước, khi nước Mỹ mới thành hình, người da đen Phi châu bị bọn buôn người quốc tế bắt đem sang Mỹ bán làm nô lệ, có ai ngờ sẽ có ngày một người gốc Phi châu lên làm Tổng Thống Mỹ. Một chương sử mới đã bắt đầu. Thật ra từ tuần trước tôi đã có suy nghĩ về việc này nên đặt câu hỏi "Bầu cho ai?" mà không có trả lời rõ rệt "là ai" trước khi có bằng cớ cụ thể. Nhưng câu trả lời đã nằm sẵn trong đầu từ lúc đó, nên tuần này sau khi đã có kết quả bầu cử, tôi đã trả lời bằng tựa đề "Bầu cho tương lai". Bầu cho Thượng nghị sĩ Obama làm Tổng Thống, tại sao lại gọi là bầu cho tương lai?
Chữ "tương lai" quá thông thường, nên khi nói đến tương lai người ta nghĩ ngay đến những gì sắp tới. Chữ "quá khứ" cũng vậy, đó là những gì đã qua. Như vậy hiện tại cố nhiên là ngày hôm nay. Ở đây tôi muốn nhìn đến những luận lý khoa học, theo đó quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một chuỗi dài về thời gian theo một quy luật nhất định là thời gian như mũi tên bắn, có đi mà không trở lại. Bởi vậy quá khứ chỉ là những kinh nghiệm, những bài học cho hiện tại để định hướng cho tương lai. Vậy những bài học đó như thế nào? Nó đã được tóm gọn trong một câu châm ngôn của các nhà triết học trời Âu: "Hôm nay hơn hôm qua và kém hẳn ngày mai", có hàm ý nhắc đến sự tiến bộ tất yếu của loài người. Tiến bộ tức tiến hóa.
   Theo các bằng chứng cụ thể của các nhà khoa học, con người từ thời xa xưa nhất sống trên Trái Đất sở dĩ còn tồn tại được đến ngày nay là vì đã biết tiến hóa. Ở điểm này tôi thấy cần phải góp thêm một ý. Sự suy luận của con người từ cổ xưa có hai phần căn bản, một là lý trí hai là tâm linh. Khoa học là lý trí, còn tâm linh là đức tin tôn giáo. Khi nói đến tự nhiên, người ta nghĩ đến một chữ đồng nghĩa là "thiên nhiên". Thiên là Trời, mà bất cứ tôn giáo nào ngày nay đều nhìn nhận là đấng Chí tôn đã sáng tạo ra loài người, ban cho chúng ta một bản năng là tiến hóa để sống còn và phát triển, chớ không ù lỳ đứng nguyên một chỗ, để trở thành nạn nhân của mê tín và đần độn.
Nhưng làm thế nào con người sống trong hiện tại lại có thể quyết định cho một tương lai chưa thấy? Không thể quyết định, nhưng vẫn có thể chọn một hướng đi có xác suất lớn nhất cho một tương lai sáng lạn. Hãy nhìn đến một hiện tượng thông thường trong cuộc cuộc sống của chúng ta, coi hiện tại là hôm nay và tương lai là ngày mai. Thí dụ một người tham dự trực tiếp vào sinh hoạt xã hội, ngay từ buổi sáng hôm nay bắt buộc phải có dự liệu trước những gì chưa xẩy ra, như việc làm trong ngày để kiếm sống, đồng thời cũng phải dự tính cả đến những ngày mai xa hơn nữa cho sự làm ăn phát đạt để nuôi gia đình. Đó là định hướng cho tương lai. Quá khứ không thể tái diễn y trang trong cuộc sống hiện tại. Chúng ta không thể ôm lấy quá khứ để mà sống, quá khứ chỉ là những bài học kinh nghiệm hữu ích cho ngày nay. Chúng ta đang sống ở Thế kỷ 21, vậy cũng nên hít thở bầu không khí trong lành của Thế kỷ mới, đặt nặng sự tiến bộ chung của loài người, để quên đi một phần của quá khứ từng chìm đắm trong chiến tranh lạnh với khỏi lửa và hận thù. Để thực hiện việc đó, người dân Mỹ ngày nay cần phải hàn gắn sự chia rẽ do tranh chấp đảng phái gây ra, tạo lại đoàn kết nội bộ để chặn đứng nạn suy thoái kinh tế và chống kẻ thù chung là nạn khủng bố. Bởi vậy câu hỏi đặt ra là vị Tổng Thống mới của Mỹ sẽ phải làm gì?
   Ngay sau khi Obama được bầu làm Tổng Thống, người ta đã thấy những hiện tượng hiếm có hầu như cả nước Mỹ đã reo hò mừng rỡ, như hình ảnh đã thấy trên các màn hình TV của đêm thứ ba 4 tháng 11, chứng tỏ đại đa số dân Mỹ tin ở tài đức, trí tuệ và sự khôn khéo của vị Tổng Thống mới mặc dù đến tháng1-2009 ông mới tựu chức. Hãy nhìn lại một vài chi tiết của kết quả cuộc tổng tuyển cử. Obama đã thắng với 349 phiếu cử tri đoàn và 52% phiếu phổ thông, trong khi McCain chỉ được 163 phiếu cử tri đoàn và 47% phiếu phổ thông. Về Quốc hội tức ngành lập pháp, đảng Dân Chủ đã thắng với một đa số rõ rệt hơn trước. Tại Thượng-Hạ viện đảng Dân Chủ đã có thêm ghế, đủ đa số chắc chắn để từ nay loại bỏ được phần nào những màn tranh cãi kéo dài mà không có quyết định.
Và đặc biệt hơn nữa cũng nên nhìn đến phản ứng của Thượng nghị sĩ John McCain chỉ một giờ sau khi kết quả chính thức được công bố. Ông nhìn nhận sự thất bại của ông trong cuộc tranh cử và tuyên bố: "Người dân Mỹ đã nói lên tiếng nói của họ, một tiếng n&oacut
e;i thật rõ ràng. Đây là một cuộc bầu cử có tính lịch sử, tôi nhìn nhận ý nghĩa đặc biệt của cuộc bầu cử lần này cho những nguời dân Mỹ gốc Phi châu và niềm hãnh diện của họ cho đêm nay. Lúc này là thời có những khó khăn cho đất nước chúng ta. Đêm nay tôi cam kết với ông Obama, tôi sẽ làm với tất cả khả năng của tôi để giúp ông lãnh đạo chúng ta qua nhiều thử thách mà chúng ta phải đương đầu". Về phía ông Obama ngay sau khi có kết quả bầu cử, đã lên tiếng nhìn nhận việc hàn gắn lại nền kinh tế cũng như đối phó với các vấn đề đối nội và đối ngoại sẽ không thể có kết quả ngay trong một năm hay một nhiệm kỳ Tổng Thống. "Nhưng, ông nói, đêm nay hơn bao giờ hết tôi thấy có nhiều hy vọng nước Mỹ sẽ đạt được những kết quả đó. Tôi hứa với mọi người, chúng ta như một dân tộc sẽ đạt được". Cả hai ông đều có những lời lẽ làm nổi bật tư cách quý giá của những người làm chính trị.
   Tôi thiết nghĩ nước Mỹ hãy làm gương cho các nước trên thế giới thấy rằng các đảng phái chính trị làm việc cho dân chớ không làm việc cho đảng, và cần phải diệt trừ tận gốc nạn độc tài ở bất cứ nơi nào, vốn đã manh nha từ lòng tham không đáy, tính vị kỷ bảo thủ khư khư ôm lấy những gì đã có, từ đó đưa đến thói vô trách nhiệm, buông lỏng kỷ cương của đạo làm người. Người dân Mỹ đã bỏ phiếu bầu cho tương lai. Hy vọng đó cũng là tương lai của cả loài người.
 SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH



GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

Cuộc họp báo của Ðạt Lai Lạt Ma được dự liệu vào ngày thứ hai tuần này bị hủy bỏ sau khi chính quyền Ðài Loan hiện do Quốc dân đảng nắm giữ đã tỏ ý quan ngại, sợ gây rắc rối với Trung Cộng. Cũng vì thế một cuộc thuyết giảng của Lạt Ma dự liệu tổ chức ở Cao Hùng, một đô thị lớn ở Nam Ðài Loan, tại một sân vận động chứa được 15,000 nguời, rút cuộc đã phải chuyển về một căn phòng ở khách sạn Lat Ma trú ngụ, chỉ có 1,200 ghế ngồi. Trong một bản tuyên bố chính thức, Cơ sở Tổ chức Ðạt Lai Lạt Ma ở Ðài Loan nói: “Những người tổ chức vụ này rất quan ngại cho sự an toàn của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma”. Ngoài ra theo lời một phát ngôn nhân chính thức, Tổng Thống Ðài Loan Mã Anh Cửu đã từng gặp Lạt Ma hai lần trong các chuyến đi lục địa trước đây, lần này không có dự liệu hội kiến. Ngoài ra Phó Tổng Thống, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc dân đảng Ðài Loan cũng không có chương trình gặp gỡ Ðạt Lai Lạt Ma.

Trước đó chính Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng đã nói với phóng viên đài TV CNN rằng Ngài không muốn gặp Tổng Thống Ðài Loan vì e rằng sẽ chính trị hóa chuyến đi này. Ngày chủ nhật vừa qua Tân Hoa Xã của Trung Cộng đã nói Bắc Kinh “cương quyết chống” cuộc viếng thăm vì gây ra những ảnh hưởng tiêu cực giữa Hoa lục và Ðài Loan. Tân Hoa Xã còn thuật lại lời một quan chức trong Cơ quan “Ðài loan vụ” nói “Chúng tôi sẽ theo dõi chặt chẽ vụ viếng thăm”. Sự hăm dọa thật trắng trợn. Bắc Kinh vẫn coi Ðài Loan là một tỉnh “ly khai” của Hoa lục và tố cáo Lạt Ma tranh đấu cho sự tách rời của Tây Tạng khỏi Hoa lục để thành một nước độc lập.

Như vậy phải chăng một nhà tu hành coi như đứng hàng đầu của Phật giáo trên toàn thế giới đã làm chính trị? Tôi muốn trả lời câu hỏi này. Các bậc chân tu nói chung của các tôn giáo lớn trên thế giới ngày nay như Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo và các hệ phái của các tôn giáo đó đều không làm chính trị. Ở đây cũng nên xác định cho rõ việc làm chính trị (politics) có nghĩa là sự tranh đấu của các chính đảng để tranh dành những ngôi vị cầm quyền, bất luận cấp bực nào trong hành pháp, lập pháp hay tư pháp. Chức tước hay danh vọng thường đi đôi với quyền uy, lợi nhuận, tiền bạc. Thế nhưng khi một nhà tu hành hô hào vận động cho dân chủ, nghĩa là một chế độ do dân làm chủ, chuyện đó lại khác hẳn. Bởi vì dân chủ là nếp sống của người dân được tự do sống có luật pháp che chở. Ðây là văn hóa chớ không phải chính trị.Văn hóa là một nét đặn thù của dân tộc tính, tức phong tục tập quán, cách sống, nề nếp sinh hoạt trong nhà cũng như ngoài xã hội, cách ăn, ở và mặc. Chế độ chính trị cũng như thể chế xã hội do chính dân tộc đó hình thành. Hiển nhiên dân tộc tính của mỗi dân tộc một khác tùy theo hoàn cảnh, kẻ ở bên ngoài không thể dùng bạo lực cưỡng ép một kiểu xã hội nào khác. Ðó là thủ đoạn xâm lược của bọn độc tài, quân phiệt hay tài phiệt. Văn hóa là cái gốc của một dân tộc, bắt nguồn từ thời xa xưa nhất trong lịch sử của họ. Văn hóa của bất cứ dân tộc nào cũng phải đi theo một luật thiên nhiên là luật tiến hóa, bởi vì nếu không có tiến hóa ngày một tiến, mỗi ngày một mới, nền văn hóa đó sẽ chết. Tuy nhiên bất luận tiến cách nào, mỗi dân tộc qua các thế hệ trước sau đều không được quên cái gốc căn bản của mình. Ðó là tiến bộ mà không mất gốc vậy.

Giữ được gốc có lợi ích gì? Ðó là để không quên quá khứ vì quá khứ là những bài học kinh nghiệm cho cuộc sống hiện tại. Khi đã xác định được chỗ đứng trong hiện tại, chúng ta mới định hướng được bước đường tương lai, sẵn sàng tiến lên nữa, để khỏi bị lạc hậu với thời gian. Nếp sống dân chủ là nếp sống thích hợp nhất cho các dân tộc trên thế giới. Bởi vậy dân chủ bắt buộc phải nằm trong văn hóa của mỗi dân tộc. Ở đây vai trò của tôn giáo như thế nào? Tôn giáo chỉ là một thành phần của nền văn hóa mỗi dân tộc, nên tôn giáo cũng phải theo một định luật căn bản là do dân chúng một nước được tự do lựa chọn theo quy định dân làm chủ, chớ không thể dùng bạo lực hay võ khí cưỡng ép, uy hiếp phải theo đạo.

Chúng tôi thiết nghĩ: Khác hẳn thời xa xưa hơn hai ngàn năm trước khi xã hội loài người còn sơ khai, thời nay không có tôn giáo nào cầm súng cầm gươm đi truyền đạo. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một sự thật là có những kẻ lợi dụng đức tin tôn giáo để làm bậy. Những kẻ đó chỉ là một thiểu số, nhưng chúng đã phạm phải những trọng tội mà không một xã hội nào của con người có thể dung thứ. Những tin tức trên báo chỉ hàng ngày thường cho thấy những thiểu số đó đã sa lưới pháp luật và vấy một vết nhơ lên đức tin mà họ rao giảng. Về mặt quốc tế từ đầu Thế kỷ 21, một nhóm khủng bố đã lợi dụng đức tin Hồi giáo để gây ra những cuộc chém giết rùng rợn làm chấn động dư luận toàn thế giới, tạo nhiều khó khăn phức tạp cho các nước lớn.

Tôn giáo có mục tiêu chủ yếu là thức tỉnh lương tri của con người chớ không phải mê hoặc. Riêng tôi đã biết các học giả và khoa học gia trên Thế giới mới đây đã xác định “Phật giáo gần gụi với Cơ học Lương tử” hơn bất cứ tôn giáo nào khác.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.




Thiện Ý : TỪ TUNISIA QUA YEMEN, ĐẾN AI CẬP, BAO GIỜ ĐẾN CỘNG SẢN VIỆT NAM?

TỪ TUNISIA QUA  YEMEN, ĐẾN AI CẬP, BAO GIỜ ĐẾN CỘNG SẢN VIỆT NAM?

 

Thiện Ý

        

       

        Cảnh sát chống bạo động đã xử dụng vòi rồng và lựu đạn cay cùng các vũ khí chống biểu tình đưa đến những cuộc đụng độ đổ máu. Đến nay, sau sáu ngày bạo động, đã có hàng trăm  người biểu tình bị chết và bị thương, hàng ngàn người bị bắt. Một số xe của cảnh sát có cả xe bọc thép và cơ quan chính phủ, trụ sở của đảng cầm quyền đã bị quần chúng biểu tình đốt cháy. Các cuộc  biểu tình của các giới người dân Ai Cập đã có chiều hướng gia tăng cường đô xung đột và mức độ lan rông khắp nơi với hậu quả khó lường. Chính quyền của Tổng Thống Mubarak đã ban hành  lênh giới nghiêm ở những nơi có biểu tình.

         Người ta được biết biểu tình là chuyện hiếm thấy xẩy ra tại Ai Cập, nơi mà Tổng Thống Mubarak và đảng Dân Chủ Quốc Gia của ông cai trị chuyên chế suốt hơn 30 năm qua và những người bất đồng chính kiến bị đối xử một cách không nhân nhượng, chỉ thua cường độ đàn áp các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam dưới quyền thống trị độc tôn của đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Trước đây vào năm 2005 cũng đã có cuộc biểu tình lớn nhưng đã bị nhà cầm quyền dập tắt. Cuộc biểu tình lần này xuất phát từ các nhà hoạt động cho dân chủ kêu gọi quần chúng nổi dậy trong một thông điệp phổ biến trên mạng internet và đã được hàng chục ngàn người dân Ai Cập hưởng ứng .

        Theo tường thuật và hình ảnh của các hãng thông tấn quốc tế, được phổ biến rộng rãi trên màn ảnh truyền hình khắp thế giới, cho thấy những người tham gia biểu tình không chỉ thuộc giới thanh niên sinh viên nam mà cả phụ nữ, người buôn bán nhỏ; thậm chí cả công chức mang cặp và mặc veston, thắt cà vạt cũng tham dự biểu tình lần này. Mục đích của các cuộc biểu tình là đòi dân chủ, cải tổ chính trị và nhất là đòi Tổng Thống Mubarak phải từ chức vì là nguồn gốc chính yếu của tình trạng bức bách về chính trị, bất công xã hội và đời sống kinh tế khó khăn của nhân dân Ai Cập.

          Nguyện vọng của  người dân Ai Cập được thể hiện qua những biểu ngữ, khẩu hiệu được hô vang trong các cuộc biểu tình, trong đó có việc gọi đích danh Tổng Thống Mubarak là nhà độc tài và đòi ông từ chức lập tức. Vào thứ sáu tuần trước (28-1-2011) Tổng Thống Hosni Mubarak đã giải tán nội các, bổ nhiệm ông Omar Suleiman, phụ trách cơ quan tình báo Ai Cập vào chức  Phó Tổng Thống, một chức vụ bị bỏ trống từ khi Ông Mubarak nắm quyền Tổng Thống Ai Cập vào năm 1981, từ vị thế Phó Tổng Thống, vào thời điểm tổng thống Anouar el Sadate bị ám sát. Đồng thời Tổng Thống Mubarak cũng đã chỉ định tướng Ahmed Shafik, nguyên bộ trưởng bộ Hàng không làm thủ tướng thàng lập nội các mới. Nội các cũ do ông Ahmed Nazif đã bị tổng thống Mubarak giải tán hôm thứ sáu,28/01/2011.Tân phó tổng thống và tân thủ tướng Ai Cập đều là những người thân cận của tổng thống Hosni Mubarak.

         Tất cả nỗ lực cải tổ chính phủ này dường như vẫn không đáp ứng được yêu sách của quần chúng biểu tình, họ không muốn một sự cải tổ vá víu, mà muốn thay đổi hoàn toàn chế độ, với sự ra đi của cá nhân ông Mubarak và đảng cầm quyền chuyên chế, thay vào một chế độ dân chủ.

     Theo nhận xét của giới báo chí, sở dĩ lần biểu tình này có sự tham gia đông đảo,  với quyết tâm cao và không khoan nhượng là vì nhân dân Ai Cập được thúc đẩy từ sự thành công của “Cuộc cách mạng Hoa Nhài”  nổ ra ở Tunisia, cũng là một nước Hội giáo Châu Phi vào đầu tháng này, đã lật đổ được chế độ độc tài  của Tổng Thống Ben Ali. Nhiều người biểu tình ở Ai Cập tuyên bố sẽ tiếp tục cho tới khi lật đổ được chính quyền Mubarak. Chính cuộc “cách mạng Hoa Nhài” ở Tunisia thành công này cũng đã là cảm hứng cho nhân dân một nước Hồi giáo khác là Yemen xuống đường biểu tình rầm rộ ở thủ đô Sanaa,  đòi Tổng Thống  Ali Absullah Saleh phải từ chức cũng sau hơn 30 năm nắm quyền cai trị độc tài.

     Như vậy là chỉ trong một tháng đầu năm 2011 đã có các cuộc biểu tình qui mô lớn của nhân dân ở ba nước Hồi giáo là Tunisia, Yemen và Ai Cập. Tất cả các cuộc xuống đường này đều có nguyên nhân và mục tiêu giống nhau.

      Nguyên nhân là vì  nhân dân cả ba nuớc đều bị thống trị bởi ba nhà độc tài cầm đầu ba đảng độc tôn, cai trị độc quyền kéo dài trong nhiều thập niên. Hệ quả là các nhân quyền và dân quyền căn bản bị hạn chế hoặc bị tước đoạt, kinh tế bất ổn, giá cả leo thang, tỷ lệ thất nghiệp lớn, tham nhũng tràn lan và xã hội đây rẫy bất công, sự cách biết giầu nghèo sâu sắc với thiểu số chức quyền giầu có thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân lao động nghèo khổ. Hệ quả này đã gây bất mãn, phẫn nộ trong mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba nước .

      Và do đó mục tiêu tối hậu của các cuộc xuống đường biểu tình của nhân dân ba nước Tunisia, Yemen và Ai cập đều giống nhau là nhằm lật đổ những nhà độc tài đứng đầu nhà nước  và cả các đảng hậu thuẫn cầm quyền ở cả ba nước, để thay thế bằng những người cầm quyền và đảng phái chính trị biết  tôn trọng các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền và nhân quyền,  trong một chế độ dân chủ đa nguyên, một xã hội công bằng, đời sống kinh tế ổn định và bảo đảm hơn cho nhân dân lao động nghèo. Mục tiêu tối hậu này đã thành đạt tại Tunisia, một trong ba nước đã và đang muốn giành lại chính quyền bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân qua các cuộc xuống đường biểu tình lật đổ chính phủ phản dân chủ.

       Tân chính phủ Tunisia nói là  họ sẽ công nhận các đảng chính trị bị cấm hoạt động, gồm cả tổ chức Hồi giáo…, đồng thời ân xá toàn bộ tù nhân chính trị.Loan báo này được đưa ra khi nội các Tunisia họp phiên đầu tiên, gần một tuần sau khi tổng thống Zine al-Abidine Ben Ali bỏ nước ra đi trước làn sóng phản đối của dân. Điều này có nghĩa là sau cuộc “Cách Mạng Hoa Nhài” thành công Tunisia sẽ đi theo chiều hướng chế độ dân chủ đa nguyên đáp đúng ý nguyện của nhân dân, phù hợp với xu thế thời đại: dân chủ hoá chế độ độc tài các kiểu và thị trường tự do hoá về kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

       Trông người lại nghĩ đến ta. Nhân dân Việt Nam tự hỏi: Bao giờ Việt Nam sẽ có cơ hội thực hiện một biến động như thế, để nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh “Tức nước vỡ bờ” của mình, vùng lên quật ngã tập đoàn thống trị độc tôn độc quyền là đảng cộng sản Việt Nam, để giành lại quyền làm chủ đất nước, trong một chế độ tư do, dân chủ thực sự?

        Lời giải đáp đã có ngay trong câu tự hỏi, rằng Việt Nam rồi cũng phải có một ngày như thế, nếu như…Cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố. Bởi vì tiền đề dẫn đến sự nổi dậy của quần chúng thực tế đã có ở Việt Nam từ lâu, không khác mà còn có phần vượt trội các nước Tunisia, Yemen và Ai Cập, về cường độ và mức độ của các nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Tức nước vỡ bờ”.

         Thế nhưng, sở dĩ ở Việt Nam “đã tức nước”“chưa vỡ bờ” là vì tập đoàn đảng trị Cộng sản Việt Nam đã khôn lanh quỷ quyệt thực hiện chính sách “mềm nắn rắn buông”, biết “lùi kịp thời” để thoát hiểm trước áp lực của  nhân dân và đòi hỏi của quốc tế, để kéo dài tuổi thọ cho chế độ độc tài toàn trị cộng sản, đồng nghĩa với kéo dài thời gian cho một tập đoàn thống trị khai thác lợi nhuận độc quyền, bảo vệ các ưu quyền đặc lợi của giai cấp thống trị. Nhờ đó, mức độ “tức nước” của người dân khi gần đến biên độ “vỡ bờ”, thì nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tìm cách “dừng bơm thêm hay xả bớt nước”bằng chiêu bài “hoãn binh chi kế”. Thực hiện chính sách khôn lanh này, có lẽ là hơn ai hết, họ đã thuộc nằm lòng quy luật đấu tranh giai cấp với luận điểm Marxist- Leninnist về tình thế cách mạng chín mùi, rằng:

         Khi mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị phát triển thành mâu thuẫn đối kháng với mọi giai cấp trong xã hội, là lúc “tình thế cách mạng chín mùi”, cuộc cách mạnh của quần chúng nổ ra nhất định thắng lợi. Vì khi đó giai cấp thống trị hoàn toàn bị cô lập, đến ngay các lực lượng nòng cốt bảo vệ giai cấp thống trị là quân đội, công an mật vụ cũng đứng về phía nhân dân, buông vũ khí không còn giám bắn vào người dân nữa.

         Luận điểm này đã như một quy luật được thực tế chứng minh qua sự sụp đổ tan tành từ nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên Liên Xô, kéo theo sự tiêu vong của cả hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Luận điểm này cũng đã manh nha trong các cuộc biểu tình của nhân dân Ai Cập hiện nay, với sự tham gia của hầu hết giai cấp bị trị trong xã hội đang có nguy cơ biến thành mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) của toàn xã hội với giai cấp cầm quyền, và một số nơi biểu tình và nhà tù cảnh sát, quân đội đã bỏ nhiệm sở, tù nhân tự phóng thích….Phải chăng “tình thế cách mạng sắp chín mùi” ở Ai Cập, để cuộc cách mạng của quần chúng nhất định sẽ giành được thắng lợi nay mai?

       Có thể nhờ thấm nhuần luận điểm đã như một quy luật về đấu tranh giai cấp Marxist-Lennist trên đây, cùng những bài học thực tiễn về sức mạnh của quần chúng nhân dân, mà Cộng đảng Việt Nam mới có được kinh nghiệm, thủ đoạn kéo dài được sự tồn tại, không chỉ 30 năm như các nhà độc tài ở các nước đang có sự nổi dậy của quần chúng, mà đã kéo dài chế độ độc tài toàn trị CS, áp bức, bất công hơn nửa thế kỷ qua (1954-1975 trên nửa nước và từ 1975- 2011 trên cả nước).

       Tuy nhiên, kéo dài được tuổi thọ cho chế độ, không có nghĩa là không có ngày tận vong, tập đoàn thống trị độc tài, độc tôn và độc quyền CSVN cũng thừa biết điều này. Có điều, rồi dây liệu tập đoàn thống trị này có đủ khôn ngoan để chọn “một cái chết êm ả trong môi trường mật ngọt” (tự nguyện tự giác trao trả lại quyền làm chủ thực sự cho nhân dân) hay chấp nhận “Một cái chết đau đớn trong môi trường mật đắng” ( bằng sức mạnh vùng lên của quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột tận qua lâu đến tận cùng).

     Câu trả lời chính xác xin dành cho những người lãnh đạo chóp bu chế độ giả hiệu “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” bao gồm: Bộ tứ  Nguyễn Phú Trọng, , Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, các thành viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng “Cộng Sản Việt Nam” (giả danh)

       Để góp ý thêm cho câu trả lời và hành động phù hợp với thực tiễn của tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam, xin được lấy cái nhìn của kinh tế gia, nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng của Pháp là Jacques Attali, trong bài viết tựa đề "Tunisia, rồi sau đó?" đăng trên tờ L’Express hôm 19/01/2011, bình luận về sự kiện ở Tunesia mà ông gọi là “Cuộc cách mạnh hoa nhài”, rằng những gì xảy ra tại Tunisia không phải là điều bất ngờ. Cả thế giới biết rằng thực tế trong ít nhất hai mươi năm nay, làn sóng dân chủ đã tràn qua cả thế giới. lý do không phải bởi các diễn biến chính trị, mà chính vì nền kinh tế thị trường. Đất nước Tunisia, chuyển sang kinh tế thị trường, chỉ có thể trở thành một quốc gia dân chủ. Attali viết, “sau đó sẽ là các trường hợp của Ai Cập, của Việt Nam, Trung Quốc, các nước hạ Sahara ở châu Phi; và sau nữa có thể tới Algeria rồi Syria…”.

       Bởi vì, cũng đúng  như chúng tôi đã nhiều lần dùng thuật ngữ “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường” để lý giải về quá trình  tiêu vong của “chế độ độc tài toàn trị cộng sản” tại Việt Nam theo ý nghĩa câu tục ngữ Việt Nam có giá trị như quy luật “Mật ngọt chết ruồi”. Nghĩa là “Con ruồi cộng sản Việt Nam” đã và đang sa vào và sẽ chết dần trong môi trường “ mật ngọt kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”.

         Vì chính trong môi trường này: các cán bộ đảng viên cộng sản đã và đang được “Tư sản hoá” (thành các nhà tư bản đỏ, các đại gia…)- Nhà nước cộng sản đã và đang được “Tư bản hoá” (Giải tư các ông ty quốc doanh…) và chế độ độc tài toàn trị đã và đang được “dân chủ hoá” từng bước ( Nhà cầm quyền đã phải trả dần các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền…).

         Vấn để chỉ còn là ở cuối quá trình “diễn biến hoà bình” này, tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam có biết khôn ngoan hơn, tự nguyện tự giac trả lại đúng lúc toàn bộ quyền làm chủ cho nhân dân (chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng), hay phải để nhân dân nổi giận dùng bạo lực của quần chúng để đạp đổ bạo quyền, giành lại quyền làm chủ, như nhân dân các nước Tunisia, Yeman và Ai Cập đang làm.

Thiện Ý

Houston, ngày 31 tháng 1 năm  2011

 




Đấu Tranh Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền VN (Vi Anh)

Đu Tranh T Do, Dân Ch, Nhân Quyn Vn…  
Vi Anh

Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN của người Việt trong ngoài nước có còn hợp thời không? Việt Cộng nói lỗi thời. Nhưng sự thật không phải như Việt Cộng nói .
Chủ Nhựt 26 tháng Mười, tạp chí điện tử Cộng Sản có đưa ra một bài  "Dân chủ, nhân quyền – chiêu bài đã lỗi thời của các thế lực thù địch với cách mạng VN", của Ô Nguyễn duy Quý, một cán bộ cao cấp của CS theo thông lệ có nhiều chức lắm, Giáo sư, Viện sĩ, Cựu Viện Trưởng Viện Viện Khoa Học Xã Hội VNCS.
Nhà lý luận CS này có đưa ra một vài luận điểm để biện minh cho quan niệm nhân quyền của Đảng. Thí dụ như Tây và Đông khác nhau, Tây Phương không thể áp đặt quan niệm tự do, dân chủ của mình cho dân tộc VN và Ong còn lôi ra cả nguyên tắc chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc Việt để chứng minh quan niệm "nhân quyền cao hơn chủ quyền" là sai.
Lý luận của nhà lý luận CS trên tạp chí CS này không có  gì mới lạ. Từ khi Thế Giới Đại Đồng của chủ nghĩa CS tan vở theo Đông Au và Liên xô; từ khi cuộc đấu tranh giai cấp vô sản tiến lên Cộng sản trở thành đóng tro tàn sau Chiến Tranh Lạnh; từ khi  hai chế độ CS còn sót lại ở Á châu, Trung Cộng và Việt Cộng, " chuyển hệ tư duy, đổi sang kinh tế thị trường", CS Bắc Kinh và CS Hà nội  thường lợi dụng quốc gia chủ nghĩa để tiếp tục lợi dụng người dân, hoá giải áp lực nhân quyền của xu thế thời đại tư do, dân chủ trên thế giới.  Đó là lý luận mà phát ngôn viên ngoại giao của chế độ CS Hà nội, Lê Dũng, đã ra rả lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần rồi khi CS Hà nội bị nhân dân, chánh quyển các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế phê bình, chỉ trích, phản đối vì đã vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền đối với chính người dân của mình.
Vì tự  do, dân chủ, nhân quyền là vấn đề của Con Người, của thời đại, có giá trị phổ biến, có tính toàn cầu, một tiến hoá của Nhân Loại.
Quyền sống của Con Người xứng đáng là người không thể nào thấp hơn chủ quyền quốc gia dân tộc mà người dân là người chủ, người làm ra, dựng nước, giữ nước. Không thể lấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan để thủ tiêu, hy sinh quyền của người dân là chủ thể như  Trung Cộng và Việt Cộng đang làm sau khi huyền thoại thế giới đại đồng đổ vở sau Chiến Tranh Lạnh.
Nhưng đừng tưởng những lý sự cùn này của những người CS còn sót lại đang thống trị VN, đã và đang chà đạp nhân quyền  của người dân Việt không có tác dụng đối với ngưòi Việt.
Ở hải ngoại nếu Tú Xương sống lại thời này ắt sẽ than, "Chống Cộng ngày nay đã hết thời, Mười người chống Cộng chín người thôi. HO về nước tìm bò lạc. Tỵ nạn về quê kiếm sự đời" như nhiều người bi quan đã thấy. "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" những người Việt tỵ nạn CS ở Mỹ, nơi chứa hơn phân nửa tổng số người Việt tỵ nạn CS trên thế giới. Mỗi năm người Việt tỵ nạn CS gởi về nước khoảng 8 tỷ. Mỗi năm không dưới 300 ngàn lượt người Việt hải ngoại đi về VN. Càng ngày Mỹ càng phát triển bang giao giữa Washington – Hà nội. Nhiều người trẻ tỏ ra cấp tiến, hòa nhập sâu sát với Mỹ, chủ trương bỏ quá khứ ra sau nhìn về tương lai phiá trước, muốn "hoà giải hòa hợp" với CS Hà nội. Thương buôn thì len lỏi về làm ăn, lợi dụng việc CS kềm giá tiền công, bóc lột mồ hôi nước mắt đồng bào, "ăn theo" với CS. Một số báo chí tiếng Việt ở hải ngoại đổi chiều, cầu an, núp dưới chiêu bài độc lập, vô tư của nghề  báo, âm thầm đón gió trở cờ hy vọng CS cho về VN ra báo và  cho quảng cáo ở Mỹ.
Càng ngày càng có nhiều người ở Mỹ, đặc biệt ở Little Saigon thủ đô của người Việt tỵ nạn CS, bớt đi biểu tình chống Cộng, sợ  CS có hình chụp được mình, không được đi VN hay đi VN bị công an làm khó dễ. Càng ngày CS Hà nội càng chiêu dụ Việt Kiều đem chất xám,  giấy xanh về về phục vụ quê hương, miển chiếu khán nhập cảnh, cho tamua nhà đất. Càng ngày CS Hà nội càng mở rộng và làm mạnh Nghị Quyết 36, để lũng đoạn hàng ngũ, phá hoại tinh thần Quốc gia của người Việt hải ngoại.
Tại sao? Tại vì bên cạnh những lý sự cùn đó, CS Hà nội đã dùng nhiều hư chiêu nhưng thực dụng câu móc và lũng đoạn tập thể người dân Việt trong ngoài nước. Trước Nghị Quyết 36 nhằm nhuộm đỏ VN Hải ngoại, Ô Võ văn Kiệt, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn minh Triết nói nhiều, nhiều chuyện lắm, kể cả kiếm chuyện và vẽ chuyện để chiêu dụ "Việt Kiều.". Nào là chuyện quên quá khứ hướng về tương lai đất nước; chuyện ra quyết định dân sự hóa Nghĩa Trang Quân đội Biên Hòa; chuyện ra quyết định giải tư một số lớn quốc doanh; chuyện Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi diện kiến Giáo Hoàng Công Giáo La Mã; chuyện Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN sẽ xét không cho đảng, quân đội, và Mặt trận Tổ quốc làm kinh tế trong đại hội sắp tới; chuyện có thể mời một số "Việt kiều yêu nước" về làm quan sát viên tại Quốc hội; chuyện phát hành sách trắng về Tôn giáo và chánh sách tôn giáo tại VN; chuyện miển chiếu kh&aa
cute;n cho Việt kiều về VN; chuyện cho Việt kiều mua nhà ở VN; và chuyện Việt kiều được ứng cử bầu cử không.
Đừng tưởng những tuyên truyền CS nói trên không có ảnh hưởng trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại. Tin ghi nhận được ở Au châu, có người định đến thảo luận dân chủ với nhân viên sứ quán Cộng Sản Việt Nam ở Hoà Lan vì cho rằng họ rất cởi mở. Có luồng tuyền truyền ngầm về hạ trào chống Cộng "10 người chống Cộng 9 người thôi". Tại sao không về nước nhà cho rõ sự tình, đất nước bây giờ xây dựng lại "giàu mạnh" lắm. CS cũng là người Việt tại sao không đem tiền bạc và kinh nghiệm, kiến thức về xây dựng quê hương. CS bây giờ đâu còn là CS nữa, Mỹ đã vào rồi, tại sao không dựa vào Mỹ về "tham chánh", chia ghế, "dựa vào chánh quyền" phát triển đạo;  chống Cộng làm gì nữa, đấu tranh với CS rồi "tránh đâu." Số ấy tuy tối thiểu số, nhưng có người lén về VN, đi bằng hai đầu gối định xin "chia ghế" nếu không được dân biểu thì làm quan sát viên…
Thực ra đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, là một cách nói tích cực của việc chống Cộng,  là sự nghiệp của đời người, công trình của thế kỷ, là sự sống còn của  đất nước dân tộc, tuổi thọ tính bằng đơn vị, trăm hay ngàn năm. Không có chuyện hợp thời hay lỗi thời. Tình hình thay đổi, chiến thuật có thể quyền biến. Nhưng cứu cánh chưa đạt thì không thế nói công cuộc đó hợp thời hay lỗi thời. 75 năm  dai dẳng và âm thầm đấu tranh bằng nhiều cách, người dân Nga, các dân tộc bị Liên xô đồng hoá thành cộng hòa trong Liên bang sô viết, và các nước Đông Au mới lật được chế độ CS, có ai nói lỗi thời hay lạc hậu đâu. 
 
                                                                                                                               VI ANH
 




GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁOTinh Thần Lưỡng Đảng

Tinh Thần Lưỡng Đảng

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Tổng Thống Barack Obama đã từ trại David trở về Bạck Ốc kết thúc vụ nghỉ hè của ông, sẵn sàng đối phó với những khó khăn đang chờ đợi. Quốc hội cũng hết hạn nghỉ hè và tái nhóm thứ Ba tuần này. Đến thứ Tư, Obama sẽ ra trước Lưỡng viện Quốc hội đề cập đến tất cả những khó khăn đối nội cũng như đối ngoại. Trong các vấn đề này về mặt đối ngoại có hai chuyện cấp bách cần phải có quyết định sớm chớ không thể chần chờ để thương lượng như mọi vấn đề ngoại giao thông thường. Đó là hai cuộc chiến tranh Iraq và Afghanistan, nơi số thương vong Mỹ và đồng minh cũng như dân chúng tiếp tục gia tăng.
Tại Iraq trên toàn quốc hôm thứ Hai đầu tuần có 12 người dân, kể cả 2 trẻ em bị chết vì bom. Trong số này có 8 người chết vì xe bom tự sát ở một trạm kiểm soát tại thị trấn Ramadi, một cứ địa trước đây của al-Qaida. Thị trấn này có 540,000 dân, thuộc tỉnh Anbar nằm ở phía Tây Iraq, tức gần nước Syria. Hồi tháng 9 năm ngoái, Thủy quân Lục chiến Mỹ đã trao quyền kiểm soát bảo vệ an ninh của Anbar cho 28,000 Cảnh sát và 8,000 binh sĩ Iraq. Ngoài ra cũng trong ngày thứ Hai, các vụ tấn công xe hơi ở thủ đô Baghdad đã khiến 2 thường dân chết và 11 người khác bị thương. Đồng thời tại Kirkuk, một thị trấn ít người, hai anh em nhỏ 9 và 14 tuổi đã bị chết vì bẫy mìn trong khi chúng vui chơi. Tính từ ngày 1 tháng 9 đến nay ở Iraq có 450 người Iraq chết – 393 thường dân, 48 Cảnh sát và 15 lính – con số cao nhất từ tháng 7 năm 2008 khi có 465 người chết. Ngày 19 tháng 8 vừa qua, vụ khủng bố tấn công các bộ Ngoại giao và Tài chính của chính phủ Iraq đã giết chết 19 người và làm 600 người bị thương ở ngay Thủ đô Baghdad. Dư luận Mỹ đang đặt câu hỏi liệu chính quyền của Maliki có giữ nổi Baghdad sau khi quân Mỹ rút lui hay không?
Trong khi đó mặt trận Afghanistan còn tệ hại hơn. Đầu tuần này một nhóm độc lập tranh đấu cho Nhân quyền loan báo một vụ bắn phi đạn của chiến đấu cơ NATO hôm thứ Sáu tuần trước nhắm vào 2 xe bồn chở xăng bị quân khủng bố cướp đi, đã làm chết 70 thường dân khi bồn xăng trúng đạn bị nổ tan. Hai phi cơ này là của Không quân Mỹ đã hành động theo lời yêu cầu của bộ Tư lệnh Đức trong thành phần đồng minh của NATO. Ngay từ tuần trước sau khi đánh phá 2 bồn xăng, bộ Tư lệnh Đức đã nói cần phải đánh ngay các bồn xăng vì e ngại bọn khủng bố sẽ dùng làm xe bom tự sát đánh thẳng vào đồn binh của quân Đức trong tỉnh Kunduz gần đó. Mohammad Omar, Thống đốc tỉnh Kunduz nói ông ủng hộ vụ đánh bồn xăng, vì có đến 72 tay súng Taliban vị chết cùng một lúc. Nhưng bọn Taliban cũng ra một thông cáo kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra vụ oanh kích vì có đến 500 dân làng chết. Vụ Taliban đưa ra con số dân chết quá lớn hiển nhiên là bịa đặt, nhưng vụ đánh hai xe bồn xăng chỉ có 2 tên khủng bố chết, còn dân làng ùa ra ngoài để múc xăng khi xăng chẩy lênh láng, đến lúc lửa bắt tới làm nổ bồn xăng đã khiến 70 người dân chết.
Vụ quân đồng minh NATO dùng võ lực quá đáng cũng gây ra sự bất mãn. Một nhóm Từ thiện đầu tuần này tố cáo quân lực Mỹ đã phá cửa xông vào một bệnh viện hàng tỉnh, bắt trói nhân viên bệnh viện và cả những người từ bên ngoài đến bệnh viện thăm người nhà nằm ở đó. Các vụ dùng sức mạnh quá lố như vậy đã làm dân chúng Afghanistan nổi giận và cả dư luận bên ngoài cũng phê phán. Vì thế tướng Mỹ Stanley McCrystal, vị tư lệnh cao nhất của Mỹ và NATO đã đưa ra những lệ luật rõ ràng để tránh gây thương vong cho người dân. Ông hứa sẽ điều tra vụ phi cơ đánh 2 bồn xăng. Trước tình thế đó đa số dư luận Mỹ đã tỏ ý muốn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan.
Vụ tấn công 2 bồn xăng cũng làm dư luận ở Đức phẫn nộ, báo chí Đức loan tin và đưa ra những hình ảnh những người chết nằm la liệt ở gần nơi xẩy vụ không kích, làm gia tăng phong trào chống chiến tranh Afghanistan ở nước Đức. Hiện có 4,200 quân Đức đóng ở Bắc Afghanistan – đây là thành phần quân lớn thứ ba sau Mỹ và Anh trong khối NATO. Đức rất ngần ngại, không muốn gia tăng thêm quân ở nơi này, trái với chủ trương hiện nay của NATO. Dân Đức sợ lính của họ sẽ chết thêm. Đối với dân Đức hiện nay, vụ quân Đức tham chiến ở nước ngoài chỉ gợi lại cho họ những hình ảnh không vui của thời quân phiệt Đức Quốc xã. Tổng Thống Obama đã có quyết định từ trước là sẽ tăng thêm quân Mỹ ở Afghanistan. Nhưng tình thế có vẻ đã có những biến chuyển mới. Ngày 28-8, Afghanistan đã có cuộc bầu cử Tổng Thống, cho đến nay vẫn chưa có kết quả chính thức. Tin mới nhất cho biết cựu Tổng Thống Karzai đã dẫn đầu 54%, nhưng đối thủ Abdullah Abdullah liên tục tố cáo Karzai gian lận trong việc kiểm phiếu. Một Ủy hội kiểm tra độc lập được LHQ ủng hộ đã yêu cầu xét lại kết quả bầu cử. Sự nghi ngờ có gian lận sẽ gây khó khăn cho Tây phương trong nỗ lực ổn định tình hình Afghanistan và tạo sự ủng hộ của dân chúng trong công cuộc tiễu trừ bọn Taliban.
Về mặt đối nội TT Obama gặp những khó khăn chồng chất về việc biểu quyết ngân sách quốc gia, liên quan đến một vụ đã được dân ch&uacute
;ng theo dõi từ lâu qua các màn tranh cãi đối nghịch gay go giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ về Bảo hiểm Y tế. Tối thứ Tư khi ông ra trước Quốc Hội Lưỡng viện, đó là một sự thử thách rất lớn cho 8 tháng đầu của nhiệm kỳ Tổng Thống của ông. Mặc dù đảng Dân Chủ có đa số tại cả hai viện, nhưng cả hai đảng đều có những phần tử cực đoan chống lại sự cải cách Bảo hiểm y tế. Khi còn ở trại David thứ sáu tuần trước, Obama đã nói chuyện với Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosy, và Thượng nghị sĩ Harry Reid, lãnh tụ đa số Dân chủ tại Thượng viện.
Tại Ủy ban Tài chính Thượng viện hiện nay có một nhóm 6 Nghị sĩ, 3 Cộng Hòa và 3 Dân Chủ, đang nỗ lực tìm một sự dung hòa giữa hai đảng để thông qua đạo luật Cải tổ Bảo hiểm Y tế của TT Obama. Trong nhóm này có TNS Max Baucus (Dân Chủ) đề nghị kế hoạch lập các hãng bảo hiểm không lấy lời để cạnh tranh với những công ty bảo hiểm lấy lợi nhuận như hiện nay vẫn có. Baucus cho biết ông sẽ đưa ra đề nghị này nếu cho đến ngày 15 tháng 9 vẫn không đạt được sự dung hòa giữa hai đảng về Bảo hiểm Y tế. Báo New York Times cũng ghi nhận một yếu tố rõ rệt nhất của đề nghị cải tổ Bảo hiểm Y tế do Obama đưa ra là làm cho kế hoạch của chính phủ cạnh tranh với Bảo hiểm của các đại công ty tư nhân, để bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Liệu hai bên Cộng Hòa và Dân Chủ có đi đến sự dung hòa theo tinh thần hợp tác lưỡng đảng không? Chúng tôi mong có chuyện đó. Chúng tôi thiết nghĩ tinh thần lưỡng đảng có nghĩa là làm việc có lợi cho dân, không phải cho bất cứ đảng nào hay cho cả hai đảng. Nếu thiếu yếu tố đó, tinh thần lưỡng đảng sẽ không còn ý nghĩa gì nữa.

 SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH




Nguyễn Phúc Bảo Ân : VIETNAM SE BIEN THANH MOT TINH CUA TRUNG-QUOC ?

VIETNAM SE BIEN THANH MOT TINH CUA TRUNG-QUOC,
DIEU DO CO THE KHANG-DINH ROI "ME VIETNAM OI" ! !

XEM KẾ HOẠCH CHIẾM VIỆT NAM TỪNG PHẦN CỦA BỌN TRUNG CỘNG, ĐƯỢC SỰ TIẾP TAY CỦA BỌN VIỆT CỘNG BÁN NƯỚC. THEO KIỂU NÀY THÌ BỌN TÀU CỘNG SẼ TỪ TỪ NHUỘM  HẾT VIỆT NAM CỦA MÌNH RỒI.

 

 

 Một tiểu vương quốc của Thiên Triều của Mao Xếnh Xáng: "China Town" đầu tiên vừa được bác Hồ Cẩm Đào cho khởi công xây dựng tại tỉnh Bình Dương, Việt Nam vào hôm 22 tháng 5 vào đúng dịp bầu cử quốc hội bù nhìn của chư hầu Nam Man.

Phác thảo thiết kế Chinatown tại tỉnh Bình Dương.

Báo lề phải cho biết công trình này là một trung tâm thương mại có tên Ðông Ðô được xây dựng tại thành phố Bình Dương trên một diện tích hơn 8,000 m2, cao 3 tầng, “mang đậm nét kiến trúc truyền thống của Trung Hoa Mẫu Quốc”.

Cũng theo lề phải, Trung Tâm Thương Mại Ðông Ðô là trung tâm điểm của dự án “Ðông Ðô Ðại Phố” – khu thương mại đầu tiên dành cho người Hoa tại Bình Dương, rộng 26 ha với tổng vốn đầu tư lên hơn 6,000 tỉ đồng, tương đương 300 triệu đô la Mỹ.

Mặc dù chưa xác định chừng nào thì công trình xây dựng hoàn thành nhưng nguồn tin này nói trước rằng Ðông Ðô Ðại Phố sẽ là “khu thương mại phồn thịnh và sung túc nhất của thành phố Bình Dương và là cầu nối thương mại giữa tỉnh Bình Dương và Bắc Kinh, đây là một nổ lực của chính quyền trung ương Bắc Kinh nhằm kéo dài lãnh thổ của Thiên triều xuống tận Vĩ Tuyến 10”.

Từ xa xưa, khu vực Chợ Lớn được coi là vùng đất qui tụ đông đảo người Việt gốc Hoa đến sinh sống, làm ăn từ trước năm 1975. Sau cuộc chiến tranh giữa mẫu quốc Trung cộng và Việt Nam cộng sản hồi năm 1979 tạo ra một thảm cảnh “nạn kiều – bài Hoa” và các chiến dịch “bài trừ tư sản mại bản” của chế độ Cộng Sản Việt Nam đã đẩy hàng vạn người Hoa cùng với người Việt ào ạt xuống tàu vượt biên đi tìm tự do ở khắp các châu lục.

Gần đây, cháu con của Mao Chủ Tịch từ Mẫu Quốc Trung Cộng được chính quyền trung ương Bắc kinh đưa đi xây dựng kinh tế mới ở khắp các tỉnh thành của Việt Nam từ ải nam Quang đến tận mũi Cà Mau, với số lượng ngày một đông dần. Người ta ước tính tại tỉnh Bình Dương hiện có khoảng 120,000 “người Hoa mới” đến làm ăn sinh sống, đông nhất là vùng Lái Thiêu, thị xã Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một, Tân Uyên…
Với dân số trên 1 tỷ 300 triệu người như hiện nay, chính quyền Trung Ương Bắc Kinh đang có kế hoạch mở rộng lãnh thổ Đại Hán xuống Đông Dương bằng cách di dân đường dài đến xây dựng các khu kinh tế mới tại hầu khắp các tỉnh thành của Ai Lao, Cam Bốt và An Nam. Với việc khởi công xây dựng khu China Town tại Bình Dương vào sáng 22 tháng 5 vừa qua, lãnh thổ Đại Hán của Bác Hồ Cẩm Đào đã kéo dài xuống tận vĩ tuyến 10.

Nguyễn Phúc Bảo Ân


Chuyện Xứ Người:

Thật khó ai có thể hình dung được rằng vào tháng 10 năm 1949, khi vệ binh Trung Cộng cưỡng chiếm một quốc gia hoàn toàn độc lập chủ quyền – Cộng Hòa Đông Thổ- East Turkistan – của người Duy Ngô Nhĩ – Uyghur để sát nhập vào nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Chủ tịch, thì tỷ lệ người Hán trên cả xứ Tân Cương này chỉ xấp xỉ 4% vậy mà chỉ với 60 năm cai trị và áp đặt chính sách Hán hóa trên lãnh thổ tự trị Tân Cương này, đến nay, tỷ lệ người Hán đã lên đến 46%, nghĩa là chiếm gần một nữa dân số của xứ tự trị này.

HOA LÀI CUỘC CÁCH MẠNG THẦN TIÊN

 

Cách mạng Hoa Lài chính là bão lửa,

Ta hãy châm mồi cho lửa cháy bùng lên.

Kìa lửa thiêng như tiếng trống vang rền,

Làm nung nấu ngàn trái tim dũng liệt.

Cách mạng Hoa Lài chính là tiếng thét,

Hun đúc ta bầu nhiệt huyết Ông Cha.

Thúc giục ta bừng dậy cứu Sơn Hà,

Dân tộc thoát can qua cơn quốc nạn.

Cách mạng Hoa Lài có tôi bên bạn,

Đứng lên đi hỡi tuổi trẻ Việt Nam.

Hoa Lài đó bạo quyền đang run sợ,

Hoa Lài kia nhân loại ở cùng ta.

 

 

Đừng sợ nữa toàn dân hãy đứng dậy,

Đừng sợ nữa Hoa Lài khắp đó đây.

Hoa Lài đó trào lưu của thế giới,

Hoa Lài ơi ! Tổ quốc gọi ta đi.

Bao năm sống cuộc đời ô nhục,

Bao năm rồi sông núi ngả nghiêng.

Bao năm dài tang thương vì bạo quyền,

Bao năm dân máu lệ chảy triền miên.

Trịnh Xuân Tùng chết trong tay bạo quyền,

Lê Xuân Dũng, Nguyễn Hữu Nam chết oan khiên.

Và lớp lớp dân oan trong xích xiềng,

Đây Hoa Lài cuộc cách mạng thần tiên.

 

LÊ CHÂN

 

Đứng Lên Việt Nam!

Đứng Lên Việt Nam!

Tiếng kêu từ đất Mẹ,

Đang rên xiết quặn đau.

Tiếng kêu từ đất nước,

Sôi sục máu dâng trào.

 

Tiếng kêu hồn dân Tộc,

Đạp sóng dử trùng dương.

Xóa cuộc đời tăm tối,

Bừng lên ánh thái dương.

 

Mẹ ! Mẹ Việt Nam ơi!

Tiếng kêu vang đất trời.

Tiếng Mẹ kêu quật khởi,

Hãy trổi dậy con ơi !

Mẹ gọi con nữ kiệt,

Mang dòng máu Trưng vương.

Mẹ gọi con chiến sĩ,

Hãy mau tiếp lên đường.

Ôi ! trái Tim của Mẹ,

Là biển trời bao la

Mẹ Việt Nam rướm máu,

Trong con lệ sót xa

Tuổi trẻ Việt Nam ơi !

Giờ lịch sử đến rồi,

Cờ vàng bay phất phới,

Hồn sông núi rạp trời.

Hãy trổi dậy con ơi !

Hãy khắc ghi trong đời

Quốc gia là tất cả

Đây xương máu Ông Cha.

Nhìn non sông nghiêng ngả

Ai vò nát tim ta.

Vì tương lai thế hệ

Là ước vọng vươn xa.

 

LÊ CHÂN

 


http://www.youtube.com/watch? v=5MDYMN7DqIk

 

Đời Đời Nhớ Ơn quân cướp nước? (Ngô Nhân Dụng)

Đời Đời Nhớ Ơn quân cướp nước?
Ngô Nhân Dụng
Đảng CSVN xuống tệ đến như vậy rồi sao?
Tôi đi thăm La Phù Sơn ở tỉnh Quảng Đông vào đầu Tháng Hai 2009. Trong sân trước Xung Hư Cổ Quán, một ngôi đền theo Đạo giáo rất đông đảo khách thập phương, với những lư thắp nhang khổng lồ nghi ngút khói, một người Trung Hoa tò mò hỏi chúng tôi người nước nào. Khi biết chúng tôi là người Việt Nam, anh ta đã lớn tiếng nói, như giải thích cho những người Trung Hoa đứng chung quanh cùng nghe. Tôi nghe lỏm bõm, nhưng biết anh muốn nói rằng họ nên “hữu hảo” với ông già người Việt này. Vì các nước Miến Điện, Cao Ly, và Việt Nam cùng với Trung Quốc, bốn nước thực ra chỉ là một nước mà thôi, tất cả cũng như là đồng bào! Anh có dáng điệu mạnh bạo, quả quyết khi đưa tay giảng cho những người đang xúm lại lắng nghe. Nhưng khi nhìn tôi anh có đôi mắt sắc khiến tôi cảm thấy rờn rợn.
Đúng là vào đời Đường thì nước ta, Hàn Quốc, Tây Tạng, có lúc đã được nhập vào nước Trung Hoa hàng mấy thế kỷ. Nếu không có Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền, nếu không có Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, thì có thể biên giới Trung Quốc bây giờ lan tới tận Pleiku và Hà Tiên hoặc Xiêm Rệp! Người Quảng Đông đã từng lập vương quốc Nam Việt khi văn hóa của họ còn khác hẳn người Hán, nhưng bây giờ họ hãnh diện là con dân của Trung Quốc. Nước Đại Lý cũng là một quốc gia hùng cường, độc lập, cho tới thế kỷ 12 bị quân Mông Cổ xâm chiếm, từ đó người Bạch trở thành người Tầu. Nhưng rất khó giải thích cho người Trung Hoa hiểu rằng dân Việt Nam đã độc lập từ thế kỷ thứ 10, và nhóm người Việt này không bao giờ muốn được hơn một tỷ người Trung Quốc coi là đồng bào cả.
Mười năm trước, tôi đã có lúc thấy cảm giác rợn người giống như vậy, trong một chuyến đi thăm Quế Lâm. Một cô hướng dẫn địa phương đón chào nhóm du khách chúng tôi cũng hỏi thăm mọi người từ nước nào tới. Sau khi cho biết cả đoàn gốc đều là người Việt Nam, mắt cô sáng lên. “Việt Nam?” Cô hỏi, phát âm theo tiếng Việt chứ không gọi là “Duế Nàn” theo tiếng Tầu. Xác nhận rồi, cô bèn nhoẻn miệng cười rất tươi và cất tiếng hát, bằng tiếng Việt: “Việt Nam, Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông!” Giọng ca cô rất tốt và hát đúng giai điệu, phát âm tiếng Việt rõ từng chữ!
Nghe câu hát đầy thiện cảm của cô gái xinh đẹp và lịch duyệt đó, tôi cảm thấy ớn lạnh dọc đường xương sống. Nghe hãi thật. Núi liền núi, sông liền sông, đi mấy bước là tới! Có lẽ tôi thuộc loại người dễ xúc động quá nên mới có phản ứng như vậy. Nhưng có lẽ nhiều người Việt cũng sẽ cảm thấy thế sau mấy ngày đi qua các thành phố ở nước Trung Hoa thấy họ đầy những người là người, người đi nờm nợp, người bước ào ào, chen chân nhau trên lề đường, lách tránh nhau trên xa lộ, đông người quá. Và sau khi đã chứng kiến cảnh muôn ngàn người Trung Hoa làm việc, buôn bán, rán dầu cháo quẩy, đẩy xe, rao hàng, mặc cả, tiêu thụ, ăn uống trong nhà hàng, cười nói oang oang, ca hát, nhẩy múa, tập Thái Cực quyền khắp các chỗ đất trống ngoài công viên, bên bờ hồ, ngay ngã tư đường, khắp nơi. Ai cũng phải cảm thấy nước họ lớn quá, dân họ mạnh quá, và đông người quá, cảm thấy điều đó ngay trong da trong thịt muốn tức thở của mình! Nghĩ đến nước Việt Nam mình thì thấy người mình ít, dân lại nghèo, kinh tế còn chậm tiến hơn họ rất nhiều. Khi tai nghe một người Trung Quốc hát câu “núi liền núi, sông liền sông” đúng giọng y như người Việt, thấy hãi quá! Giá như có thêm núi, thêm sông ngăn cách xa hơn một chút, thì chắc yên tâm hơn!
Tôi đoán nếu có người Việt Nam nào sang Campuchia mà hát một bài đại ý, “Việt Nam, Cam Bốt, núi liền núi, sông liền sông” thì nhiều người Campuchia nghe cũng sẽ cảm thấy lạnh gáy, tự hỏi những người Việt này có “ý đồ” gì!
Khi Hồ Chí Minh còn sống, đảng Cộng Sản Việt Nam thân thiện với Cộng Sản Trung Hoa cho nên đã có những bài hát ca ngợi mối tình “trước là đồng chí, sau là anh em” giữa hai đảng, rồi kéo cả nước Việt Nam vào làm anh em hữu hảo với Trung Quốc luôn, di hưởng đến bay giờ.
Trong bài hát của Đỗ Nhuận có những câu thân thiện, nghe còn rợn người hơn nữa: Bên sông tắm cùng một dòng – Tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây – Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng. Á a! Chung một ý, chung một lòng – Đường ta đi rực mầu cờ cách mạng. Á a, nhân dân ta ca muôn năm: Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông!”

Thử tưởng tượng người dân Việt ở Thanh Hóa hay Pleiku mà hát Á a như điệu Hồ Quảng, rồi nghĩ mình có ngày “tắm cùng một dòng sông” và “sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy” cùng với các đồng chí Trung Quốc ở Quảng Đông, thì cũng hãi thật! Nếu tránh được thì ai cũng cố tránh! Bây giờ đảng Cộng Sản Trung Quốc dù không theo chủ nghĩa nào thì chắc họ cũng không bỏ ý muốn “núi liền núi, sông liền sông!”

Tôi xin xác nhận trong lòng không nuôi mối thù oán nào đối với người Trung Hoa. Trái lại, đi thăm đất nước họ nhiều lần, chỉ vì tôi rất yêu văn hóa Trung Hoa, từ ông Khổng Tử đến các ông Đỗ Phủ, Lý Bạch, Tô Đông Pha, cũng như Chiêu Quân, Thúy Kiều. Trong chuyến đi vừa rồi tôi đã “gặp lại” Tô Đông Pha ở Tây Hồ thành phố Huệ Châu, ở cây cầu Hội Tiên Kiều bên cạnh hồ Bạch Liên ở La Phù Sơn. Cả trong đường hầm với những hang động đào xuyên ngọn núi này, nơi các sư tổ đời xưa luyện công phu và thiền quán, cũng có tượng Tô Đông Pha nữa! Mỗi lần, lại thấy như gặp cố nhân từ nhiều kiếp trước!
Nhưng người Việt Nam quý mến văn hóa Trung Hoa đến đâu cũng không quên được là phải giữ mình, không nên bất cẩn, nếu không dân mình sẽ thành dân Trung Quốc hết. Và khi chìm trong cái nước vĩ đại đó, cả dân tộc mình sẽ thành một nhóm thiểu số, một nhóm rất nhỏ, giống như người Hồi, người Bạch, người Choang, người Tây Tạng vậy.
Nhiều người Việt Nam thán phục nền văn minh Trung Hoa, chúng ta đã học hỏi được rất nhiều và sẽ còn học thêm nhiều nữa. Nhưng trên mặt chính trị, ngoại giao, thì không người Việt Nam nào không dè dặt, lo ngại khi nghĩ đến chuyện phải đối đầu với quốc gia vĩ đại này.
Một điều nguy hiểm là chính quyền nước đó hiện giờ là một nhà nước độc tài, họ không chịu trách nhiệm với dân chúng. Họ có thể hy sinh dân họ, vì những lý do không ý nghĩa, không bổ ích, mà không lo sẽ bị dân bỏ phiếu bất tín nhiệm. Thí dụ như cuộc chiến tranh Trung Việt năm 1979. Đặng Tiểu Bình xua quân sang đánh Việt Nam, san thành bình địa những thành thị, những xóm làng, nhiều lần giết tập thể hàng trăm thường dân, chỉ vì muốn dậy cho đảng Cộng Sản Việt Nam một bài học về tội vong ân. Cuộc chiến kéo dài hai, ba tuần làm chết hàng chục ngàn người mỗi bên, cuối cùng không ích lợi gì cho nước Trung Hoa cả. Nhưng không một người Trung Hoa nào dám tỏ ra bất đồng ý kiến với nhà lãnh tụ cộng sản.
Đứng ở địa vị người dân Trung Hoa thì nếu nước họ không do một đảng độc tài cai trị, nếu họ có quốc hội độc lập để kiểm soát Hành pháp, nếu có báo chí tự do phê phán nhà nước, thì chắc bao nhiêu binh lính của họ không phải bỏ mạng ở Việt Nam vào năm 1979, những cai chết vô ích. Cái hại của những chế độ độc tài là như thế. Cho nên trong lịch sử không thấy những nước theo chế độ dân chủ tự do lại gây chiến với nhau. Khi người dân được quyền phán xét và quyết định thì bao giờ dân cũng tìm cách tránh chiến tranh.
Cái hại của chế độ độc tài ở Việt Nam cũng giống hệt như ở Trung Quốc. Tại sao Đặng Tiểu Bình muốn dậy Cộng Sản Việt Nam một bài học? Vì Lê Duẩn đã vong ân đối với Cộng Sản Trung Quốc thật. Sau bao nhiêu năm được Bắc Kinh viện trợ từ cây đinh, từ sợi chỉ đến nắm cơm sấy nuôi quân để xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Lê Duẩn đã quay ngược lại, suy tôn Liên Xô là tổ quốc thứ hai, đoạn giao đến mức ghi vào hiến pháp gọi Trung Quốc là một kẻ thù truyền kiếp! Đó là nguyên nhân chính gây ra tất cả những xung đột giữa hai nước sau đó, kể cả cuộc xâm lăng năm 1979. Nếu Việt Nam được sống trong một chế độ tự do dân chủ thì người dân không bao giờ cho phép chính quyền có những chính sách ngoại giao dại dột như vậy. Gây thù hận và làm mất thể diện một quốc gia lớn láng giềng là điều không thể tưởng tượng nổi. Một chính quyền độc tài đảng trị, khi họ chỉ cần theo ý đảng không cần hỏi đến ý dân, mới có những quyết định điên rồ, để đưa tới một cuộc chiến tranh tàn hại như cuộc chiến Việt Hoa vào Tháng Hai năm 1979.
Một điều đáng kinh ngạc là cũng chính đảng Cộng Sản Việt Nam đó, bây giờ lại đổi thái độ quay ngược chiều, không những kết thân với Trung Quốc mà còn hoàn toàn thần phục, quỵ lụy đến mức lố bịch đối với nước đàn anh cộng sản. Có chứng cớ hiển nhiên.
Ngày hôm qua trên Nhật Báo Người Việt đã đăng tin về cảnh những người Việt được dẫn đi thăm nghĩa trang “Long Châu, Thủy Khẩu Trung-Việt Liệt Sĩ Mộ Viên,” nơi chôn những người lính Trung Quốc chết khi sang đánh Việt Nam, và những người lính Việt Nam bị thương và bị bắt mang về Trung Quốc rồi chết ở đó nhưng không được trả xác về quê hương mình.
Chúng ta kính trọng những tử sĩ hy sinh vì quốc gia của họ, người Việt hay người Trung Quốc cũng thế. Dù họ làm theo lệnh chế độ nào chỉ huy, họ đều xứng đáng được tưởng niệm và ai điếu. Những ai đến biên thùy Pháp Đức, đi thăm nghĩa trang chôn tử sĩ của hai đạo quân thù nghịch qua bao trận chiến tranh, đều có thể đến nghiêng mình trước những người lính đã hy sinh cho tổ quốc của họ.
Nhưng người Việt Nam khi đến thắp hương trên mộ những tử sĩ của quân đội Trung Quốc có thấy mình phải tỏ lòng “biết ơn” các chiến sĩ Hồng quân Trung Hoa đã sang đánh nước mình hay không? Chắc chắn là không.
Nhất là những người dân xã Đề Thám, thuộc thị xã Cao Bằng. Hai thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn đã bị quân đội Trung Quốc “làm cỏ” trong hai tuần lễ xâm lăng. Đài phát thanh BBC mới kể chuyện bà Hoàng Thị Lịch, năm nay 72 tuổi, đã chạy trốn khỏi nhà ở huyện Hòa An, Cao Bằng khi quân Trung Quốc đánh, trước đây 30 năm. Bà cho biết, 18 ngày sau khi quân Trung Quốc phải rút về, họ đi qua vùng bà ở, và họ đã bắt 43 thường dân, gồm những đàn bà, trẻ con, người già không chạy được, đem chém giết hết. Ngày hôm qua Nhật Báo Người Việt đã in bức hình tấm bảng ghi lại cuộc thảm sát này, chôn dưới chân một bụi tre ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An. Trong tấm bảng ghi nguyên văn là “Quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi, đập chết 43 phụ nữ và trẻ em, quăng xuống giếng nước.” Cảnh tàn sát thường dân không phải chỉ xẩy ra ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An. Nơi nào quân Trung Quốc đi qua trong cuộc xâm lăng năm 1979 đều có thể diễn ra những cảnh như vậy.
Bên cạnh hình ảnh tấm bảng đó, hôm qua báo Người Việt in hình ảnh một vòng hoa ở nghĩa Trang Long Môn, với hàng chữ viết: “Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Xã Đề Thám – Đời Đời Nhớ Ơn Các Liệt Sĩ Trung Quốc.”

Không tưởng tượng nổi! Nếu vì phép lịch sự khi viếng mộ, người ta có thể viết hai chữ “Kính Viếng” hoặc “Thương Xót” những người đã chết, dù họ từng là kẻ thù của dân tộc mình. Nhưng tại sao phải nói “Đời Đời Nhớ Ơn?” Ơn gì? Ơn cướp nước, ơn đốt nhà, phá cầu, phá đường, ơn tàn sát những thường dân vô tội hay sao?
Chúng ta biết rằng chính quyền một xã như xã Đề Thám không bao giờ dám quyết định viết “Đời Đời Nhớ Ơn” những người lính Trung Hoa đã sang giết dân mình. Họ phải được lệnh của cấp trên. Hoặc ít nhất họ đã hỏi ý cấp trên trước khi đặt vòng hoa, và được khuyến khích viết những hàng chữ “Nhớ Ơn” như thế. Cấp trên nào? Cấp huyện? Cấp tỉnh? Không chắc những người ở những cấp này dám quyết định bắt dân chúng Việt Nam “Đời Đời Nhớ Ơn” những người lính đã đánh nước mình. Chỉ có những người chỉ huy trên cao nhất, là Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam mới có quyền quyết định những điều quan trọng như vậy.
Họ quyết định như vậy để làm gì? Có phải cũng vì những lý do giống như khi họ cho các công ty Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Việt Nam, mặc dù các chuyên gia người Việt đã yêu cầu ngưng để nghiên cứu lại ảnh hưởng trên môi trường, hay không?
Nhưng khi bán tài nguyên quốc gia cho nước ngoài một cách mù quáng thì cũng chỉ làm thiệt hại của cải vật chất mà thôi. Còn khi bắt người dân Việt Nam phải “Đời Đời Nhớ Ơn” những người lính Trung Quốc đã sang nước mình tàn sát người mình, thì đó là một hành đồng làm nhục cả một dân tộc, một mối nhục ngàn đời khó rửa sạch.
Giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc có muốn người Việt mình phải cúi đầu chịu một mối nhục tập thể hay sao? Nếu là những người có học, chắc họ không làm việc đó. Hay là chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam tự nguyện làm công việc nhục nhã này? Chỉ những người vô học mới có những hành động quỵ lụy ngu dốt như vậy.
Khi các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng đi Trung Quốc, không biết các ông ấy đã được giới lãnh đạo Bắc Kinh hứa hẹn những gì mà họ nhẫn tâm bắt dân Việt Nam phải “Đời Đời Nhớ Ơn” đám quân xâm lược giết thường dân vô tội đó? Họ có được tặng những biệt thự ở gần Trung Nam Hải để về nghỉ hưu (khi cần sống lưu vong) hay không? Bắc Kinh có yêu cầu Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam lập đền thờ để ghi công ơn của Toa Đô, Liễu Thăng, nữa hay không? Những ông đó cũng là những “liệt sĩ Trung Quốc” vào thế kỷ 13 và 15, họ cũng bị tử vong trong các hoàn cảnh giống như những “liệt sĩ Trung Quốc” đánh nước ta năm 1979 vậy!
Một chính quyền do dân bầu cử tự do không bao giờ dám làm những việc nhẫn tâm làm nhục dân nước mình đến mức bắt dân phải Đời Đời Nhớ Ơn quân xâm lược. Chính quyền nào làm như vậy sẽ bị dân bỏ phiếu đuổi đi ngay. Vì không một dân tộc nào lại chấp nhận sống nhục nhã.



GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁONHÂN QUYỀN THẾ GIỚI

NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI
Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

Từ 10 năm qua, tôi vẫn nghĩ Liên Hiệp Quốc là một ông già vô dụng không còn hiệu năng nào nữa. LHQ được thành lập năm 1945, năm nay mới có 64 tuổi, lẽ nào đã hết hiệu năng? Sự thật LHQ chỉ là một tổ chức, có cơ cấu như một bộ máy chớ không phải là người. Một tổ chức cần phải tiến mau tiến mạnh cho kịp với sự phát triển rất mau lẹ của bộ óc con người. Ðó là sự phát triển của trí tuệ của tư duy, dễ thấy nhất là những tiến bộ về khoa học kỹ thuật tạo ra những máy móc, những tiện nghi của cuộc sống mà chúng ta đang sử dụng hàng ngày. Và lạ lùng thay chính những tiến bộ đó lại thúc đẩy thêm cho sự mở mang trí tuệ của con người gia tăng đến độ dù không phải là cấp số nhân cũng là cấp số cộng. Tại sao nhanh như vậy? Ðó là vì một ngành gọi là truyền thông đại chúng, tức là ngành trao đổi tin tức giữa con người và con người. Có trao đổi thông tin, con người mới học hỏi thêm được những gì thật mới, những kinh nghiệm của người khác. Dù muốn dù không, khi đã sống trong xã hội hiện đại, trí tuệ con người bắt buộc phải học để tiến lên chớ không thể đứng ỳ một chỗ… như một ông già dậm chân tại chỗ. Một thí dụ dễ thấy là hãy nhìn lại các liên mạng toàn cầu đã tiến như thế nào năm 2009 so với năm 1999, nghĩa là chỉ có 10 năm. Còn so với năm 1945 khi LHQ mới thành hình lúc đó chưa có TV, nói chi đến những cell phone hay những cứ điểm lưới đầy rẫy trên tầng không gian Internet hiện nay. LHQ đã quá già rồi. Bản Hiến chương cũ đã trở thành đồ cổ. Không những nó vô dụng mà còn có khi làm hại cho nền hòa bình thế giới và cản trở sự tiến hóa của nhân loại. Hãy trẻ trung hóa LHQ bằng một bản Hiến chương mới.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




CỬU BÌNH : ĐÂY LÀ TẬP SÁCH DO CHÍNH NGƯỜI TRUNG QUỐC VIẾT VỀ CHÍNH HỌ.

ĐÂY LÀ TẬP SÁCH DO CHÍNH NGƯỜI TRUNG QUỐC VIẾT VỀ CHÍNH HỌ.

video 9 Bình Lun V Đng Cng Sn Trung Quc

 

Bình luận 1: Đảng Cộng Sản là gì
http://www.youtube.com/watch?v=TcdkbFNn5m4

 
Bình luận 2: Đảng Cộng Sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào
http://www.youtube.com/watch?v=otHPNk-TUzM
 
Bình luận 3: Chính quyền bạo lực của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
http://www.youtube.com/watch?v=gBCjeOn53Sg
 
Bình luận 4: Đảng Cộng Sản – một lực lượng phản vũ trụ
http://www.youtube.com/watch?v=mgHJ9Bh_usk
 
Bình luận 5: Giang Trạch Dân và Đảng Cộng Sản Trung Quốc lợi dụng nhau đàn áp Pháp Luân Công
http://www.youtube.com/watch?v=p1BsIXr9nc8
 
Bình luận 6: Đảng Cộng Sản Trung Quốc phá hoại văn hóa dân tộc
http://www.youtube.com/watch?v=NQrBG_AKN8A
 
Bình luận 7: Lịch sử giết chóc của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
http://www.youtube.com/watch?v=CKcWFH8ejl4
 
Bình luận 8: Bản chất tà giáo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
http://www.youtube.com/watch?v=LBBYOyfoxyU
 
Bình luận 9: Bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
http://www.youtube.com/watch?v=d_HNAggSEEA
 
Giới thiệu Cửu Bình và phong trào thoái Đảng ở Trung Quốc
http://www.youtube.com/watch?v=-7CMIgWGnp4
 
Video thêm (optional)
Cựu quan chức công khai thoái Đảng Cộng Sản Trung Quốc
http://www.youtube.com/watch?v=3AP13PWahN4