• Biên khảo

    Khổng Trọng Hinh : Mẫu Đơn, Trà Mi có phải là

    Mẫu Đơn, Trà Mi có phải là "hữu sắc, vô hương"?

    Nhân trả lời 1 ngươì bạn, hỏi có phải hoa mẫu đơn là hoa trà trong Thiên Long bát bộ, tôi tìm thêm được một điểm chung của mẫu đơn và Trà mi: cả 2 cô đều bị người đời chê là "hữu sắc, vô hương", từ ngữ dành cho những cô gái đẹp nhưng vô duyên.
     
     1/ Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh và Chậu Trà Mi hữu sắc vô hương
    Xem hoa ta chỉ xem bằng mũi,
    Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà!"

    Chu Mạnh Trinh có lần dự thi làm thơ vịnh Kiều mà Chủ Khảo là Nguyễn Khuyến.
    "Nguyễn Khuyến chấm thơ Chu Mạnh Trinh cho là khá; nhưng đọc đến hai câu trong bài vịnh Sở Khanh:
    "Làng nho người cũng coi ra vẻ,
    Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay!"
     Nguyễn Khuyến tỏ vẻ không bằng lòng, phê ngay vào bên cạnh rằng:
    "Rằng hay thì thực là hay,
    Đem "nho" đối "xỏ" lão này không ưa".
     Chẳng mấy chốc, chuyện ấy lọt ra ngoài rồi lan khắp trong làng nho, ai nghe cũng lấy đó làm một giai thoại để giễu họ Chu.
    Chu Mạnh Trinh từ đấy giận Nguyễn Khuyến. Khi làm án sát Hưng Yên, nhân ngày Tết, Chu cho người mang đến biếu Nguyễn Khuyến một chậu hoa trà với dụng ý cũng khá thâm: Nguyễn Khuyến lúc ấy đã bị lòa cả hai mắt, mà họ Chu lại tặng hoa trà – loại hoa chỉ có sắc mà không có hương, như thế là có ý xỏ Nguyễn Khuyến.
    Hiểu thâm ý của Chu, Nguyễn Khuyến bèn làm bài thơ mỉa như sau gửi lại cho Chu Mạnh Trinh:
    Tết đến người cho một chậu trà
    Đương say ta chẳng biết là hoa!
    Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ,
    Áo tía đai vàng, bác đó a?
    Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
    Gió to luống sợ lúc rơi già!
    Xem hoa ta chỉ xem bằng mũi,
    Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà!"
     
    2/ Mẫu Đơn và trí thông minh của Song Đức Nữ Vương
    Bạn nào mê phim bộ Đại Hàn không thể không biết đến bộ phim mới có tên "Song Đức Nữ Vương". Đây là 1 nhân vật có thật trong lịch sử Đại Hàn cùng thời với nhà Đường bên Trung Hoa. Bà được ví với Elizabeth 1 của Anh Quốc. Có nhiều giai thoại truyền lại nói đến sự thông minh, dĩnh ngộ của nữ vương này trong đó có câu chuyện dưới đây có liên quan đến hoa mẫu đơn hữu sắc, vô hương. Tôi chưa xem bộ phim này nên không biết trong phim có nhắc đến giai thoại này không.
    Hồi nữ vương mới có 7 tuổi, có lần ngồi bên vua cha xem vua mở quà do vua Đường gởi qua. Trong gói quà có 1 số hạt giống hoa mẫu đơn và một bức tranh vẽ hình loại hoa này.
    Được vua cha hỏi ý có thích hoa này không, Song Đức trả l;ời:
    – Bẩm phụ vương, hoa này đẹp, nhưng không có hương thơm.
    – Loại hoa này, nước ta chưa có. Dĩ nhiên, cả ta lẫn con đều chưa bao giờ thấy hoa. Nay chỉ mới thấy hạt giống, làm sao con dám nói hoa này không thơm?
    – Phụ vương xem tranh vẽ này: hoa, lá, cây, cành… có đủ cả, nhưng không thấy một con bướm nào. Nếu hoa thơm, tất phải có bướm lượn chứ?
     
    3/ Trà mi trong truyện Kiều
    "Tiếc thay một đóa trà mi
    Con ong đã tỏ đường đi, lối về"
    Tôi không biết loài ong đến với hoa là vì sắc hay vì hương nên không dám nhận xét về 2 câu Kiều này của Nguyễn Du, tôi cũng không dám quả quyết tất cả mọi loại trà mi, mẫu đơn đều là "hữu sắc, vô hương" như 2 câu chuyện đầu của email này, chỉ biết chắc rằng đây là 2 lọai hoa đẹp hiện đang có bán ở mọi nurseries trong vùng bắC CA.
    Bạn nào yêu hoa, tha hồ lựa chọn.
     
     
    Camellia_japonica.jpg picture by hinhkhongTrà mi (Camelia japonica)
     
     
    — On Sat, 4/3/10, Hinh KHONG <hinhkhong@yahoo. com> wrote:

    From: Hinh KHONG <hinhkhong@yahoo. com>
    Subject: Đóa Mẫu Đơn màu đen
    To:
    Date: Saturday, April 3, 2010, 6:30 PM

    Đóa mẫu đơn màu đen
    (mẫu đơn = peony)
     
    Thưa các bạn
    Khác hẳn những lần trước, email bàn về hoa lần này không có tấm ảnh nào do tôi chụp. Muốn biết lý do, xin vui lòng đọc đến phần cuối, sẽ rõ.
    Trung Hoa có 2 bà hoàng, một bà rất ghét mẫu đơn, ghét cay, ghét đắng, trong khi bà kia lại mê loài hoa vương giả này, mê say, mê đắm.
    1) Võ Tắc Thiên một hôm ngự du vườn thượng uyển, nhìn cỏ cây xác xơ, trơ trọi, liền thảo một bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn, lệnh cho tất cả loài hoa phải nở nội trong đêm nay (*).
    Rạng sáng hôm sau, bà hoàng dạo vườn, hài lòng khi thấy muôn hồng ngàn tía ngoan ngoãn đua chen nở rộ. Nhưng kìa, những cây Mẫu Đơn bất tuân thượng mệnh. Cả vườn, không có lấy một đóa mẫu đơn nào nở, thậm chí đến lá cây cũng không có chiếc nào. Giận loài hoa "ngoan cố", Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam. Nhưng mà lạ lùng thay ! Vừa đến đó, cả bầy mẫi đơn bừng nở hoa! Nghe tin này, Võ Hậu giận lắm, ra lệnh đốt hết mọi vườn mẫu đơn, nhưng sau khi bị đốt, mẫu đơn vẫn vươn lên từ đống tro tàn và nở ra những đóa hoa rực rỡ. Biết chuyện, dân gian càng yêu qúy mẫu đơn và họ tin rằng anh linh của loài hoa xinh đẹp này đã khiến cho Giang Nam trở nên 1 vùng có nhiều cô gái mỹ miều nhất Trung Hoa. Hèn chi vài trăm năm sau, vua Càn Long lâu lâu lại trao việc triều chính cho đình thần, giả dạng thường dân mò về GiangNam hoài.
     
    2)  Ngược lại, với Từ Hi Thái Hậu, mẫu đơn là loài hoa đáng yêu nhất. Trong Di Hòa Viên, bà cho trồng nguyên một khu vườn toàn hoa mẫu đơn.
    Một hôm, sau khi tắm xong, lòng xuân phơi phới, Lan nhi, Từ Hi Thái Hậu, chỉ khoác một tấm lụa trắng mỏng manh, đi dạo đến vườn mẫu đơn. Cả một vườn hoa vắng lặng, không một bóng người. Theo sau nàng chỉ có chàng thái giám Lý Liên Anh, người nghệ sĩ tài hoa mà nàng yêu nhất trên đời. Nàng đang suy nghĩ vẩn vơ thì chợt một làn gió thổi qua làm bay đi tấm áo khoác cùa nàng. Lý Liên Anh hốt hoảng, phóng mình, đuổi theo chiếc áo đang lồng lộng bay theo gió. Mãi một lúc sau, gã mới dành lại được áo, chạy lại, đáp vội lên tấm thân hình mỹ miều, lồ lộ của bà thái hậu khát tình.
    Lan nhi Từ Hi nhận áo rồi chẳng hiểu nghĩ sao, nàng đỏ mặt cất giọng:
    “Liên Anh, ngươi đã thấy gì ?”.
    Lý Liên Anh bối rối. Thật kẹt. Tâu không thấy gì là nói dối, mắc tội khi quân, phải chém. Tâu thật những gì đã thấy, cũng là khi quân, cũng phải chém
    Liếc nhìn những vườn mẫu đơn khoe sắc, Lý Liên Anh chợt nẩy ra ý mới. Gã tủm tỉm cười, ung dung lên tiếng:
    “Khải bẩm Thái Hậu, hạ thần vừa được chiêm ngưỡng một đóa mẫu đơn màu đen, đóa hoa đẹp nhất trên cõi đời này"
    Xạo. Thằng này xạo. Di Hòa Viên làm gì có hoa màu đen, Lan nhi biết rõ điều đó, nhưng nàng rất hài lòng với câu trả lời thi vị của gã thái giám dễ thương, mồm mép đỡ tay chân này. Thế là Lý liên Anh chẳng những không bị chém đầu mà còn được bà Thái Hậu nửa chừng xuân khen thưởng đặc biệt.
    Ngày nay, với kỹ thuật lai giống tân tiến, Mỹ đã có Hoa Mẫu Đơn màu đen. Tôi đã gặp hoa này ở một nursery nhưng kẹt một điều hôm đó là ngày đầu năm, tôi không dám mua mà cũng không dám chụp hình. Mồng một Tết mà "rinh" thứ này về nhà, xúi quẩy cả năm.
    Đó là lý do tại sao mà trong email này, bạn không thấy một tấm hình nào do tôi chụp. Tất cả hình hoa đều là do thu lượm trên mạng.
    Hình 1: mẫu đơn màu trong tranh cổ
    Hình 2: hoa mẫu đơn trắng
    Hình 3: Liên Anh trả áo cho Lan nhi Từ Hi
    Hình 4: có lẽ là loại mẫu đơn mà Lý Liên Anh tâu là màu đen tuyệt đẹp. Coi kỹ thì cũng không thấy đen lắm.
    Hình 5: cây bông trang
     
    HoaMauDon-1.jpg picture by hinhkhongHình 1: mẫu đơn màu trong tranh cổ
     
     AHoaMauDon2.jpg picture by hinhkhong Hình 2: hoa mẫu đơn trắng
     
     
    hoamaudonden.jpg picture by hinhkhong Hình 3: Liên Anh trả áo cho Lan nhi Từ Hi
     
     
    hoamaudonden2.jpg picture by hinhkhong Hình 4: có lẽ là loại mẫu đơn mà Lý Liên Anh tâu là màu đen tuyệt đẹp. Coi kỹ thì cũng không thấy đen lắm
     
     
    (*) Lai triều du thượng uyển
    Hỏa tốc báo xuân trị
    Bách hoa liên dạ phát
    Mạc đãi hiểu phong xuỵ
        Dịch:
    Bãi triều du thượng uyển
    Gấp gấp báo xuân haỵ 
    Hoa nở hết đêm nay
    Đừng chờ môn gió sớm.
     
    (**) Có 1 thứ hoa, ngoài Bắc gọi là hoa mẫu đơn hay hoa đơn thật ra là cây bông trang ở miền Nam. Bông trang có 3 loại màu đỏ (Ixora Coccinca L.), màu vàng (Ixora Nigricans Br.) và màu trắng.
    Đây là loại bông được nhắc trong ca dao và nếu coi hình dưới đây, bạn sẽ thấy đâu là búp, đâu là bông:
    Gió đưa gió đẩy bông trang,
    Bông búp về nàng, bông nở về anh…
    (Ca dao)
     
    MauDonngoaibac3.jpg picture by hinhkhongHình 5: cây bông trang ở miền Nam mà người Bắc gọi là mẫu đơn
     
     
    ATrangIxoraCoccincaL.jpg picture by hinhkhongHinh KHONG 
  • Biên khảo

    PTA : VIỆT GIAN HẢI NGOẠI TIẾP TAY VIỆT GIAN CỘNG SẢN BÁN NƯỚC CHO TẦU CỘNG …

     

     

     

     

    HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG NAM Á

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRÍ THỨC VIỆT GIAN HẢI NGOẠI TIẾP TAY

    VIỆT GIAN CỘNG SẢN BÁN NƯỚC CHO TẦU CỘNG …

     

    Đồng bào Việt Nam trong nước và Hải ngoại nghĩ gì về quan điểm của “TS GIẤY” Việt gian Vũ Quang Việt khi trả lời phỏng vấn của Đài BBC? Chúng ta sẽ ăn nói làm sao nếu Trung Cộng, Đế quốc mới của thời đại sẽ công bố chính những trí thức Việt Nam ở Hải từ Ngô Vĩnh Long đến Vũ Quang Việt đã xác nhận là Không thể nói chắc chắn rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Cho tới bây giờ chưa tìm thấy chứng cứ tài liệu nào trong lịch sử Việt Nam rõ ràng để nói rằng Trường Sa là của Việt Nam!!!.”

    Đây là cuộc hội thảo do nhóm “Trí thức cò mồi” của Việt Gian Bán nước tập đoàn CSVN cùng với Tình Báo Sở của Trung Cộng phối hợp tổ chức để mặc nhiên thừa nhận lời tuyên bố độc chiếm 80% Biển Đông của bành trướng xâm lược Trung Cộng và để hợp thức hóa hành động bán nước dâng biển cho Trung Cộng của Việt gian CS qua việc nạp 2 hồ sơ cho Liên Hiệp Quốc ngày 6 và 7 tháng 5 năm 2009. Chúng ta hãy nghe trí thức cò mồi Vũ Quang Việt đề nghị: Nhưng nếu ta thừa nhận đây là một vùng hải đảo không thuộc về ai, thì sẽ vận dụng công pháp quốc tế để giải quyết vấn đề. Điều này sẽ có lợi cho khu vực???”.

    Một bên Trung Cộng là kẻ xâm lược, một bên là dân tộc Việt Nam chúng ta bị xâm lược mà Vũ Quang Việt nhân danh ai mà lớn tiếng trả lời với BBC cò mồi là : Vì thế nếu các bên bây giờ đẩy mạnh tinh thần dân tộc, vận động người dân trong nước chiến đấu bào vệ, sống chết với nó thì sẽ tạo ra một cuộc chiến tranh hết sức vô ích”.

     

    Đồng bào Hải ngoại chúng ta phải làm gì để phản bác luận điểm bán nước của bọn trí thức vong bản thân cộng ở hải ngoại?

     

    Toàn thể đồng bào VN yêu nước chúng ta sẽ cùng nhau lên tiếng trong cuộc Hội thảo Quốc tế về Biển Đông Nam Á được tổ chức vào lúc 11am ngày 12-9-2010 tại Wesminster Civic Center.

    TÊN THÁI THÚ “XÁC VIỆT HỒN TÀU” NGUYỄN CHÍ VỊNH CAM KẾT VỚI MẪU QUỐC TRUNG CỘNG:

    RFA 26.08.2010:

    Thái Thú Nguyễn Chí Vịnh (trái) khúm núm trước bộ trưởng Quốc phòng Tàu cộng Lương Quang Liệt (phải) trong chuyến sang chầu Tầu Cộng ngày 25-8-2010

    Lên tiếng trong chuyến viếng thăm Trung Quốc trong 4 ngày, bắt đầu từ Chủ Nhật vừa rồi, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, tướng Nguyễn Chí Vịnh, cam kết về chính sách quốc phòng “ba không”: “Việt Nam không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ quốc gia nào và không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam và khẳng định rằng mối quan hệ quốc phòng Việt – Trung rất tốt đẹp”.

    Tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Việt Nam và Trung Quốc có đại cục quan hệ tốt đẹp, Việt Nam ủng hộ sự phát triển của Trung Quốc, kể cả sự phát triển quốc phòng”.

    Qua thái độ ngồi khúm núm trước tên Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng cùng với lời cam kết “Ba Không” thì tập đoàn Việt gian bán nước hứa là dù trong bất cứ tình huống nào Việt Nam cũng không chống lại Trung Quốc,  dù chủ quyền quốc gia của Việt Nam có bị Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm. Việt gian Bán nước còn tự nguyện cam kết trước quan thầy là dù Trung Quốc có xâm phạm, chiếm đoạt lãnh thổ Việt Nam, thì chính sách quốc phòng của chúng tôi là thà chịu chết chứ không chống lại. Đây đúng là một thông điệp bật đèn xanh, tiếp tay cho hành vi ăn cướp của Trung Quốc đối với lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ các nước trong vùng Đông Nam Á.

    Lời cam kết của Thái Thú Nguyễn Chí Vịnh hết sức nguy hại đến vận mệnh của Dân tộc Việt Nam, quốc tế sẽ không can thiệp giúp đỡ khi Trung Cộng xâm lược vì tập đoàn Việt gian CS từ chối liên minh quân sự với bất cứ nước nào khác để chống Trung Quốc trong mọi trường hợp !!!

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TÂM THƯ

     

    KÍNH GỬI ĐỒNG BÀO QUỐC NỘI VÀ HẢI NGOẠI

     


        Kính thưa Đồng Bào quốc nội và Hải ngọai.

        Đất nước Việt Nam của chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của suy vong, nguy cơ mất nước cận kề. Trong lịch sử Việt, chưa có một triều đại nào lại cam tâm bán nước như nhà cầm quyền CS hiện nay. Đây là thời kỳ đau thương ô nhục nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Thật bất hạnh cho cả một dân tộc khi một tập đoàn Việt gian “Xác Việt hồn Tàu”, bọn Thái thú thời đại đã cam tâm bán nước để duy trì địa vị thống trị tha hồ bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân. Chưa bao giờ hiểm họa mất nước lại đè nặng lên con tim khối óc của những người Việt Nam yêu nước như bây giờ.

         Chủ trương cố hữu của các triều đại Hán tộc xưa và Trung Cộng ngày nay là xâm chiếm Việt Nam bằng mọi giá. Ngay sau khi Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa lục địa đã công khai tuyên bố: "Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã bị phe Đế Quốc chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Cách Mạng 1911, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Hồng Kông, Macao cùng những đảo tại Thái Bình Dương như Sakhalin, Đài Loan, Bành Hồ sẽ phải được giao hoàn cho Trung Quốc". Mao Trạch Đông tuyên bố trắng trợn ý đồ xâm chiếm Việt Nam: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”. Cuốn Sơ Lược Lịch Sử Trung Quốc hiện đại nhắc lại những lời tuyên bố ngang ngược của Mao Trạch Đông: “sẽ vĩnh viễn thuộc về Trung Quốc bằng sự chinh phục và khai hóa của văn minh chống man di”. Đế quốc đỏ Trung Cộng còn láo xược gọi chúng ta là An Nam, là Man di như “Thiên triều” Đại Hán xa xưa của chúng. Chúng còn ngang nhiên vẽ bản đồ Trung Quốc bao gồm nhiều nước chung quanh kể cả Đông Nam Á và biển Đông.

        Sau hiệp định dâng đất 25-12-1999 đến hiệp ước nhường biển ngày 30-12-2000, ngày 1-11-2007 CSVN lại chính thức cho Trung Cộng khai thác bauxite và sản xuất nhôm tại Lâm Đồng và Đắc Nông ở Cao nguyên. Đây là một hình thức “nhượng địa”, một “Tô Giới Trung Hoa” trên đất nước Việt Nam !!! Khi quan thầy Trung Cộng công khai thành lập huyện Tam Sa để quản lý Hoàng Sa và Trường Sa thì tập đoàn cộng sản Việt gian bán nước lại trâng tráo tổ chức lễ mừng “Bán nước thành công tốt đẹp” rồi đặt vòng hoa “Đời đời nhớ ơn liệt sĩ Trung Cộng” là những kẻ đã thẳng tay giết hại dân lành từ trẻ em đến cụ gìa trăm tuổi. Tháng 11 năm 2007, Trung Quốc công bố quyết định thanh lập huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để sát nhập Hoàng Sa Trường Sa của VN vào lãnh thổ TQ. Ngày 13-5-2009, nhà nước CHXHCNVN đệ nạp hồ sơ thềm lục địa tại Liên Hiệp Quốc để hợp thức hóa việc nhường biển cho Trung Quốc.

     

         Hiện nay, Trung Cộng đã xây dựng căn cứ quân sự qui mô trên Hoàng Sa và Trường Sa để sẵn sàng xuất kích đổ bộ tiến chiếm Việt Nam.Từ vị trí chiến lược cao nguyên kết hợp với hải quân TC từ các căn cứ Hải quân ở Hoàng Sa, Trường Sa  đánh chiếm miền ven bể thì sự sống còn của dân tộc như sợi chỉ treo chuông. Đây là một hiểm họa không lường được ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc.

     

         Chúng ta sẽ trở lại thời “ngàn năm đô hộ giặc Tàu”?

     

         Lịch sử của ngàn năm Hán thuộc với những đau thương tủi nhục, những u uất căm hờn lại tái diễn trên đất Việt, không phải là lên rừng tìm ngà voi xuống biển mò ngọc trai nữa mà tinh vi hơn, thâm độc quỉ quái hơn ngàn lần. Đế quốc Trung Cộng chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đã ngậm ngùi cay đắng thốt lên:

     

    Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn qúi gía hơn mạng sống của họ, nay đã gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước Trung Cộng đã biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian”!!!

     

         Tất cả đồng bào Việt Nam chúng ta, trong và ngoài nước phải làm gì trước khi đã quá muộn !!!

         Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ trở thành một Tân Cương, một Tây Tạng thứ hai trong thế kỷ 21 này…???

     

     

    Kính thưa toàn thể đồng bào,

     

         Chúng tôi, những  người Việt Nam ở trong và ngoài nước, ý thức được sự sống còn của dân tộc, tiếp nối truyền thống hào hùng bất khuất của tiền nhân mạnh dạn đứng ra vận động đồng bào quốc nội và hải ngoại cùng tham gia HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á, nhằm nói lên trước dư luận quốc tế tất cả những sự thật về Biển Đông Nam Á và khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền lịch sử của Việt Nam.

     HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á là một Hội Dân lập, hoạt động độc lập được thành lập để nghiên cứu, tổ chức những cuộc hội thảo quốc tế tại nhiều quốc gia trên thế giới, với sự tham dự của các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế về Biển Đông.
       Trong tinh thần đó, kính mời quý Hội Đoàn và quý Đồng Bào trong nước và Hải ngoại đóng góp ý kiến, ủng hộ và tham gia vào Hội Quốc tế Nghiên cứu về biển Đông Nam Á ngõ hầu tiến tới việc tổ chức những buổi hội thảo quốc tế để góp phần vào công cuộc vận động các quốc gia vùng Đông Nam Á và công luận quốc tế ủng hộ chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Xin chân thành cảm tạ Đồng Bào.

    Làm tại California ngày 20 tháng 04 năm 2 010

    Nhóm vận động thành lập

    Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Về Biển Đông Nam Á

      1. Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm.

      2. Nhà nghiên cứu Lịch sử Phạm Trần Anh.

      3. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

      4. Dr Jerry Livingstone Voorhis.

      5. Nhà bình luận Chu Chi Nam.

      6. Nhà văn Cựu Sĩ quan QLVNCH Chu Tấn.

      7. Giáo sư Nguyễn Chính Kết.

      8. Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn.     

      9. Bác Sĩ Nguyễn Quốc Quân

     10. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết

     11. Luật sư Nguyễn Thành.

     12. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh.

     13. Tiến sĩ Phan văn Song.

     14. Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện

     15. Ông Nguyễn Hy Vọng. 

     16. Nhà truyền thông Đỗ Thị Thuấn.

     17. Nhà văn Chu Tất Tiến.

     18. Ông Cao Đường

     19. Nhà báo Chu Vũ Ánh

     20. Nhà tranh đấu dân chủ Phan Hữu.

     21. Bà Phạm Kim.

     22. Giáo sư Trần Đức Thanh Phong 

     23. Giáo sư Lưu Trung Khảo.

     24. Giáo sư Dương Ngọc Sum.

     25. Ông Trần Ngọc Bính.

     26. Nhà báo Đỗ Tiến Đức

     27. Mục sư Nguyễn Công Chính và 651 Mục sư Hiệp hội Thông công Tin Lành VN (VPEF). 

     

     

    HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á

     

     

    TUYÊN BỐ CHUNG

     

     

    Nhận định rằng:

     

    1. Ngày nay, các nhà nghiên cứu đều công nhận một thực thể “ Văn hóa Đông Nam Á” là một khu vực lịch sử bao gồm nhiều ngôn ngữ, nhiều dân tộc cư trú trên địa bàn này. tất cả đều có chung một hoàn cảnh địa lý nhân sinh, cùng chung một hoàn cảnh lịch sửđồng nhất về nhân chủng. Đông Nam Á nằm án ngữ trên con đường biển giao thương quốc tế khiến vùng đất này trở thành một vị trí địa lý chiến lược hết sức quan trọng. Ngoài vai trò địa lý chiến lược, Đông Nam Á còn được xem như nguồn tài nguyên vô tận.

     

    2. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á được thành lập để hợp tác cùng xây dựng một vùng Đông Nam Á hòa bình, Dân chủ và không có vũ khí hạt nhân. 

     

    3. Để thực hiện tham vọng bành trướng bá quyền, nhà cầm quyền Trung Quốc công khai gọi vùng biển Đông của Việt Nam nói riêng và biển Đông Nam Á nói chung là biển Nam Trung Hoa bất chấp quyền lợi của các quốc gia Đông Nam Á. Tháng 6 năm 2007, Trung Quốc công bố bản đồ biển Nam Trung Hoa trong đó vẽ vùng “Lưỡi Bò” trong biển Đông của Việt Nam kéo dài xuống giáp ranh Phi Luật Tân, Nam Dương. Ngày 13-5-2009, Trung Quốc đã công khai tuyên bố vùng biển của họ trải dài tới tận ngoài khơi phía Đông Malaysia và quần đảo Natuna của Indonesiachiếm 80% diện tích biển Đông Nam Á .

     

    4. Trong suốt dòng lịch sử, từ các triều đại Tàu Hán năm xưa và Trung Cộng bành trướng ngày nay, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc vẫn tìm cách xâm lấn đất đai, biển cả của chúng ta. Đất nước Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm của sự suy vong. Hiểm họa mất nước cận kề với thù trong giặc ngoài đang đe dọa sự sống còn của dân tộc Việt.

     

    5. Chủ trương xâm lược bành trướng của Trung Quốc là xâm chiếm Việt Nam bằng mọi giá để mở đường xuống Đông Nam Á. Mao Trạch Đông tuyên bố trắng trợn ý đồ xâm chiếm Việt Nam và các nước Đông Nam Á: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Cao Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”.

     

    Trước hiểm họa độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc

    Căn cứ vào những nhận định nói trên:

     

    Chúng tôi, Hội Quốc tế nghiên cứu về biển Đông Nam Á bao gồm những thức giả yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới được thành lập để nghiên cứu, tổ chức những cuộc hội thảo quốc tế tại nhiều quốc gia trên thế giới, với sự tham dự của các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế về Biển Đông Nam Á để vạch trần ý đồ bành trướng xâm lược của Đế quốc Trung Cộng  trước công luận quốc tế để chúng ta cùng cất lên tiếng nói của lương tri nhân loại của toàn thể quốc gia văn minh trên thế giới ngõ hầu hành động cấp thời ngăn chặn bá quyền xâm lược Trung Quốc.

    Hội Quốc tế Nghiên cứu Biển Đông Nam Á cùng với các tổ chức, đoàn thể, các công dân Việt Nam yêu nước hiện sinh sống ở quốc nội và Quốc ngoại long trọng tuyên bố:

     

    1. HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á  là một tổ chức độc lập, phi chính phủ, hoạt động vô vụ lợi. Hội không chỉ đấu tranh cho quyền lợi dân tộc mà còn tranh đấu cho quyền lợi chung của toàn vùng Đông Nam Á để liên kết toàn khối tranh đấu cho một Đông Nam Á hòa bình Dân chủ và Thịnh vượng trước hiểm họa xâm lược của Trung Cộng.

    2. Toàn thể các quốc gia trong vùng Đông Nam Á lục địa và Hải đảo có cùng chung một cội nguồn Hoabinhian, cùng một hoàn cảnh lịch sử nên vấn đề bảo vệ chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Nam Á là một nhiệm vụ chung của tất cả các nước Đông Nam Á chúng ta. Để tranh đấu cho một nền hòa bình công chính của các quốc gia Đông Nam Á, để  hóa giải mọi mâu thuẫn dẫn tới xung đột, Hội Quốc tế Nghiên cứu Biển Đông Nam Á cùng toàn thể nhân loại tiến bộ đề nghị đổi tên “cái gọi là biển Nam Trung Hoa” là vùng Biển Đông Nam Á Châu.

    3. Để bảo vệ chủ quyền lịch sử Đông Nam Á, bảo vệ nguồn tài nguyên vô tận của khu vực Đông Nam Á, tất cả các nước Đông Nam Á phải cùng chung một tiếng nói của cả khu vực, không thảo luận riêng rẽ mà phải đa phương hóa, quốc tế hóa Biển Đông Nam Á theo đúng Hiến chương Đông Nam Á ký kết tháng 11 năm 2007. Mặt khác, các quốc gia Đông Nam Á phải hợp nhất sức mạnh trong một liên minh Phòng thủ chung .(SEATO) tạo một đối trọng quân bình quyền lực với đế quốc mới Trung Quốc.

    4. Tất cả chứng cứ lịch sử Việt Nam kể cả sử Trung Quốc cũng như tất cả bản đồ Việt Nam lẫn ngoại quốc đều xác nhận một sự thật lịch sử là Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Toàn dân Việt Nam trong nước và Hải ngoại quyết tâm đứng lên tiêu diệt thù trong giặc ngoài để cứu dân cứu nước. Tất cả hiệp định do nhà cầm quyền Cộng sản không do nhân dân bầu lên ký kết với nhà cầm quyền Trung Cộng hoàn toàn vô giá trị.

    5. Ngày nay, Trung Cộng thực sự là một hiểm họa không những của các nước Đông Nam Á mà còn của toàn thế giới nữa. Tất cả các quốc gia Đông Nam Á quyết tâm  bảo vệ an ninh khu vực, quốc tế hóa biển Đông Nam Á để xây dựng và phát triển một Liên minh Đông Nam Á Hòa bình, Dân chủ và phú cường.

    Việt Nam Hải ngoại  ngày 12 tháng 9 năm 2010.

    Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á

    Giáo sư Tiến Sĩ  Nguyễn Thanh Liêm.

     

      1. Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm

      2. Nhà nghiên cứu Lịch sử Phạm Trần Anh.

      3. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích.

      4. Dr Jerry Livingstone Voorhis.

      5. Nhà bình luận Chu Chi Nam.

      6. Nhà văn Cựu Sĩ quan QLVNCH Chu Tấn.

      7. Giáo sư Nguyễn Chính Kết.

      8. Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn.     

      9. Bác Sĩ Nguyễn Quốc Quân

     10. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết

     11. Luật sư Nguyễn Thành.

     12. Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh Ph.D, Sc.D.

     13. Tiến sĩ Phan văn Song.

     14. Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện

     15. Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng. 

     16. Nhà truyền thông Đỗ Thị Thuấn.

     17. Nhà văn Chu Tất Tiến.

     18. Ông Cao Đường

     19. Nhà báo Chu Vũ Ánh

     20. Nhà tranh đấu dân chủ Phan Hữu.

     21. Bà Phạm Kim.

     22. Giáo sư Trần Đức Thanh Phong 

     23. Giáo sư Lưu Trung Khảo.

     24. Giáo sư Dương Ngọc Sum.

     25. Ông Trần Ngọc Bính.

     26. Nhà báo Đỗ Tiến Đức

     27. Mục sư Nguyễn Công Chính và 651 Mục sư Hiệp hội Thông công Tin Lành VN (VPEF). 

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kính  thưa

      QUÝ HỘI ĐOÀN ĐOÀN THỂ ĐẤU TRANH

     QUÝ NHÂN SĨ TRÍ THỨC, QUÝ ĐỒNG BÀO trong nước và Hải ngoại

    NẾU QÚI VỊ ĐỒNG TÌNH ỦNG HỘ TÂM THƯ VÀ TUYÊN BỐ CHUNG ĐỔI TÊN  BIỂN ĐÔNG NAM Á

    KÍNH MỜI QUÍ VỊ CÙNG KÝ TÊN.

     

     Xin quý vị vui lòng trả lời bằng điện thoại hay hồi âm bằng Điên Thư   (EMAIL) về địa chỉ của Ông Phạm Trần Anh hay bà Đỗ Thị Thuấn  theo địa chỉ  liên lạc sau đây:

     

    1. Ông Phạm Trần Anh: Website Việt Nam Ngày Mai

                                     Phone : (714) 603-9291

                                     Email: quocvietanhpham@yahoo.com

    2. Bà Đỗ Thị Thuấn : Website ÁNH D Ư ƠNG

                 (714) 995-5113 (714) 423-0577

                                          Email:butvang.golden@gmail.com                        Xin ghi rõ tên họ, điện thoại, địa chỉ e-mail để chúng tôi có thể cập nhật và thông báo rộng rãi trên mạng lưới toàn cầu và trên blog của Biển Đông Nam Á, Việt Nam Ngày Mai, Ánh Dương, Câu Lạc Bộ Dân Chủ Tự Do và Hội Á Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.

    Xin mời vào trang nhà:

              Biendongnama.net

              Vietnamngaymai.worpress.com.

              clbdanchutudo.wordpress.com.

              tunhanchinhtritongiaovietnam.wordpress.com

              anhduong.net

              hoangvan.net

              http://anhduong.net/PetitionOnline.htm

              http://biendongnama.tk/

    DANH SÁCH CẬP NHẬT

    CÁC CÁ NHÂN TIÊU BIỂU, CÁC TỔ CHỨC ĐOÀN THỂ

    ĐÃ ĐỒNG KÝ TÊN VÀO BẢN TUYÊN BỐ:

     

    1.       Hội Tả Quân Lê Văn Duyệt: Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm.

     

    2.       Hội Ái Hữu Tù Nân CT và Tôn Giáo VN: Nhà Nghiên cứu Lịch sử Phạm Trần Anh.

     

    3.       Nghi Hội Người Việt Toàn quốc Hoa Kỳ: Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

     

    4.       Điện Báo Ánh Dương: Chủ bút Đỗ Thị Thuấn.

     

    5.       Đại Diện Khối 8406 tại Hải Ngoại: Giáo sư Nguyễn Chính Kết.

     

    6.       ỦB Phối hợp Đấu tranh chống CS và Tay sai Nam Cali: GS Nguyễn Thanh Liêm.

     

    7.       Mặt Trận Dân tộc Việt: Ông Huỳnh Hưng Quốc. 

     

    8.        Đại Việt Quốc Dân Đảng: TS Phan Văn Song.

     

    9.       Câu Lạc Bộ Dân Chủ Tự Do: Ông Phạm Tú.

     

    10.     Nhóm Công Lý và Hòa Bình vì Hoàng Sa Trường Sa của VN: LS Nguyễn Thành.

     

    11.     Ủy Ban Hòa Hợp Tôn Giáo và Dân Tộc: TS Nguyễn Anh Tuấn.

     

    12.     Cộng Đồng Việt Nam Cleverland Ohio: CT Nguyễn Hữu Lễ.

     

    13.     Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức,Tây Nam HK: Lê Quang Dật.

     

    14.     Cộng Đồng Việt Nam Riverside: Ô Phan Đa Văn.

     

    15.     Ủy Ban Phối Hợp Hành Động Bảo Toàn Đất Tổ Nam Cali: Ô Đoàn Thế Cường.

     

    16.     Hội Đồng Việt Nam Tự Do – Nam California: Ô Phan Như Hữu.

     

    17.     Cộng Đồng Việt Nam Vancouver (Canada): Ông Nguyễn Hữu Ninh.

     

    18.     Phong Trào Yểm Trợ Khối 8406 ancouver: Mr Trần Ngọc Bính.

     

    19.     Hội Cựu Sinh Viên QGHC – Nam California: Ô Trần Ngọc Thiệu.

     

    20.     Diễn Đàn Dân Chủ và Tự Do: Ô Nguyễn Duy Nghiêu.

     

    21.     Liên Minh Dân Tộc Việt Nam: Ô Huỳnh Trung Đạo.

     

    22.     Báo Thời Luận: Nhà văn Đỗ Tiến Đức.

     

    23.    Trung Tâm Văn bút Nam Cali: CT Nhà Văn Trần Thy Vân..

     

    24.    Văn Bút Việt Nam Hải ngoại Tây Nam Hoa Kỳ: PCT Nhà văn Nguyễn Hữu Của.

     

    25.     Câu Lạc bộ Thi Văn Tao Đàn Hải Ngoại: Nhà Thơ Vũ Lang.

     

    26.    Chi Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Cambodia: Ô Nguyễn Phùng Phong.

     

    27.     Hội Nữ Quân nhân QLVNCH Nam Cali: Bà Phạm Thị Diệu Chi.

     

    28.    Hội Đồng Hương Biên Hòa: Bà Duyên Trang.

     

    II. ĐỒNG BÀO TRONG NƯỚC HƯỞNG ỨNG:

    1.       Mục sư Nguyễn Công Chính (Hiệp Hội Thông Công Tin lành Các dân tộc VN.

    2.       Nhạc sĩ Nguyễn Thế Dũng (Sài Gòn VN).

    3.        Ô Trần Hưng Quốc (CLB Dân chủ Tự do Việt Nam.

    4.       Chiến sĩ Dân Chủ Trần Việt Nhân Sài Gòn Việt Nam.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

        HỘI QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VỀ BIỂN ĐÔNG NAM Á             

                                                                                                                                                                           

    I. MỤC ĐÍCH

    Hội Quốc Tế Nghiên Cứu về Biển Đông Nam Á  là một tổ chức độc lập, phi chính phủ, hoạt động vô vụ lợi được thành lập bởi một nhóm chuyên gia và trí thức Việt Nam hải ngoại hợp tác với các học giả, sử gia và chuyên gia quốc tế cùng tham gia nghiên cứu về biển Đông Nam Á. Hội nhằm các mục đích sau:

    1. Nghiên cứu về Biển Đông nam Á và đặc biệt nghiên cứu về các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trên các phương diện địa lý, lịch sử, khảo cổ học, địa chất học, hải dương học, thổ nhưỡng học, tài nguyên thiên nhiên dưới lòng biển cũng như dưới thềm lục địa và lãnh hải của Việt Nam.

    2. Hội chủ trương trao đổi kiến thức và các công trình nghiên cứu về Biển Đông với các Quốc gia trong Vùng Đông Nam Á. Hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là sự thực không ai có thể chối cãi được. Hội quyết tâm tranh đấu bảo toàn lãnh thổ  lãnh hải và biển đảo của Tổ Quốc Việt Nam.

    3. Hội vận động thành lâp Uỷ Ban Vận Động Tổ Chức Hội Thảo Quốc Tế về Biển Đông Nam Á tại các Tiểu bang cũng như tại các thành phố lớn (Hoa Kỳ & Úc châu) tại các Quốc Gia (Âu Châu) và Tỉnh bang (Canada) .

    4. Vận động đổi tên Biển Đông mà Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa ( South China Sea) là Biển Đông Nam Á (Southeast Asia Sea ) để quốc tế hóa biển Đông ngăn chặn tham vọng bành trướng xâm lược của Trung Quốc.

    5. Hội sẽ vận động người dân của các quốc gia trong vùng Đông Nam Á để tiến tới thành lập một Diễn Đàn Thường Trực Dân Lập Đông Nam Á. Hội đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu và vận động hình thành một giải pháp đem lại hòa bình, ổn định, lâu dài cho tất cả các quốc gia trong vùng Đông Nam Á.

    II. TÔN CHỈ:

     Tôn Chỉ của Hội Quốc tế nghiên cứu Biển Đông Nam Á:

    – Quyết tâm Bảo Toàn lãnh thổ, lãnh hải và Biển đảo của Tổ Quốc Việt Nam cũng như của toàn vùng Đông Nam Á.

    – Góp phần tranh đấu cho Công lý, Hòa Bình, Thịnh Vượng   Ổn định  lâu dài tại Vùng Đông Nam Á. 

    III. CHỦ TRƯƠNG ĐƯỜNG LỐI :

    1. Hội làm công tác nghiên cứu dài hạn về Biển Động Á trên nhiều lãnh vực như: lịch sử, địa lý, luật pháp, công pháp quốc tế, địa chất học, hải dương học để cùng trao đổi kiến thức và các công trình nghiên cứu với các quốc gia bạn trong vùng  Đông Nam Á nói riêng và toàn thế giới nói chung.

    2. Hội phổ biến các kiến thức về biển Đông để nhân dân Việt Nam với lòng yêu nước vô biên sẽ ý thức được trách nhiệm, bổn phận của một công dân Việt Nam  quyết tâm đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Đồng thời, hội sẽ liên kết với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á đấu tranh Quốc Tế Hóa Biển Đông Nam Á để bảo vệ quyền lợi chung của toàn vùng Đông Nam Á.

    3. Hội không chỉ ngoại giao, vận động với các quốc gia trong vùng Động Nam Á mà còn vận động khối nhân dân các nước trong vùng Động Nam Á cùng lên tiếng về những vấn đề an ninh để tranh đấu xây dựng một Liên minh Đông Nam Á hòa bình, giàu mạnh và không có vũ khí hạt nhân.

    4. Trong chiều hướng đó, Hội luôn luôn chủ trương tôn trọng và sẵn sàng hợp tác với tất cả các Tổ chức Đảng Phái, Hội Đoàn và Cộng Đồng  trong nước cũng như Quốc Tế có cùng một mục đích và tôn chỉ của Hội Quốc tế Nhiên cứu Biển Đông Nam Á.

    IV. TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH:

    Các thành viên sáng lập đã đồng ý bầu Ban Điều Hành Lâm thời của Hội Quốc Tế Nghiên cứu về Biển Đông Nam Á như sau:

    – Chủ Tịch: Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm.

    – Phó Chủ Tịch Điều Hợp: Nhà Nghiên Cứu Lịch sử Phạm Trần Anh.

    – Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ: Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

    – Tổng Thư Ký: Nhà văn Chu Chi Nam.

    – Thủ Quĩ: Bà  Kim Phạm.

    ỦY BAN ĐIỀU HÀNH

              Ban Kế Hoạch: Nhà văn Chu Tấn, KS Nguyễn Thanh Nam.

              Ban Nghiên cứu Pháp lý: TS Phan văn Song.

              Ban Nghiên cứu Chính trị: TS Nguyễn Anh Tuấn.

              Ban Nghiên cứu Môi Trường Biển ĐNÁ: TS Mai Thanh Truyết.

              Ban Ban Truyền Thông: Bà Đỗ Thị Thuấn.

              Ban Vận Động Tài Chánh:  Ông Tiêu Phi Hùng, Bà Duyên Trang.

              Ban Vận Động: Ô Hoa Thế Nhân, Ô Trần Văn Minh, Ô Lê Quang Dật, Ô Trần Ngọc Thiệu, Ô Vũ Hoàng Hải, BS Nguyễn Hy Vọng, Ô Nguyễn Nam Hà, Ô Phạm Tú, Bà Diệu Chi.

    MISSION STATEMENT

    OF

    THE INTERNATIONAL ASSOCIATION

    FOR THE STUDY OF

    THE SOUTHEAST ASIAN SEA

     

                    Considering that the international body of waters variously known as the South China Sea, Nanhai (to the Chinese) and Bien Dong (or Eastern Sea, to the Vietnamese), plays a vital role since antiquity in the history of Southeast Asia, not only in commerce and fishing and other marine products but also in the strengthening of peace among its various riparian nations;

     

                    Considering that this sea currently constitutes the second most busy international body of waters in the world, through which much of the raw materials, oil and fuel, and finished products feeding into the economy of Japan, Korea, Taiwan and China depend on its shipping lanes;

     

                    Considering that in recent years, the encroachments and exorbitant claims of a major power in the area have threatened the stability of the region, imperiled the delicate balance acquired over many centuries among the various players in the area, including most of the ASEAN nations;

     

                    Considering that the peaceful code of conduct agreed to and adopted in 2004 by the countries surrounding this body of water have not solved the increasingly contentious relations between that hegemonic power and other legitimate powers in the region,

     

    The International Association for the Study of the Southeast

    Asian Sea hereby declares:

     

                    One, that in fairness to all riparian nations it would advocate the renaming of the above international body of waters “the Southeast Asian Sea.”

     

                    Two, that it would seek international cooperation, in particular the cooperation of scholars from ASEAN countries, in order to study all aspects of the question relating to the Southeast Asian Sea, including geopolitical aspects, historical sovereignty claims, oceanography, climatology and meteorology, fishing and other natural resources (including oil and natural gases), fauna and flora, soil and geological makeup of the continental shelves, marine archeology, and all other questions involved in the UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).

     

                    Three, that it would in clear conscience and all fairness try to establish the legitimate claims, historical or otherwise, that various nations have over such archipelagoes as the Paracel and Spratley Islands or individual islands and reefs thereof.

     

                    Four, that it would seek to organize international meetings at which all the above-mentioned issues could be presented and debated so as to arrive—to the extent possible—at an international consensus on such issues.

     

                    Five, that through such meetings and a program of publications it would be able to present to the world a most reasonable and well-argued case for the solution of various individual claims by contending nations.  And,

     

                    Six, that it would call on the cooperation of various nations in the area so as to come up with a collective front in facing the hegemonic power with the ambition to claim 80 percent of the Southeast Asian Sea.

     

                                                                                                    Overseas, this… day of … 2010

     

    Read and subscribed to

    By the following organizations and associations:

     

    1. Lê văn Duyệt Foundation: Dr Liem Thanh Nguyen.

     

    2. Vietnamese Political and Religeous Prisonners Fellowship Association:                Historian Anh Tran Pham.

     

    3. National Congress of Vietnamese Americans: Professor Bich Ngoc Nguyen

     

    4.  Anh Duong E-Magazine: Thuan Thi Do, Editor

     

    5.  The Vietnamese Canadian Community In Gr. Vancouver (Canada): Mr. Ninh Huu Nguyen, President

     

    6.  Supporting Movement of 8406 Block in Vancouver: Mr. Binh Ngoc Tran, Representative

     

    7.  Office of Progressive Party in Paris: Mr. Ha Son Nguyen, Representative.

     

    CHÚ THÍCH:

     

    1. Đó là khu vực của nghề trồng lúa nước với đặc trưng “văn hóa Trống Đồng”. Địa bàn khu vực lịch sử văn hóa này bao gồm lãnh thổ các nước Việt Nam, Lào, Cambodia, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Indonesia, Philippine kể cả Nam Trung Hoa,địa bàn cổ của Bách Việt và Đài Loan, trừ vùng đảo Adam Moluque và Tây Irian. Đông Nam Á với nền văn hóa Hòa Bình của những cư dân Hoabinhian, là một trong những cái nôi cổ nhất của nhân loại, nơi phát xuất nền văn minh của nhân loại. Vùng Đông Nam Á có cùng một hoàn cảnh lịch sử, một nền văn hóa cổ và cùng chung một ngọn nguồn Hoabinhian bị Hán tộc (Trung Quốc) đánh đuổi từ lưu vực 2 con sông Hoàng Hà Dương Tử chạy xuống Đông Nam Á lục địa và Hải đảo. Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm giao lưu của các nền văn hoá nên Việt Nam là nơi hội tụ hầu hết mọi đặc trưng văn hóa của khu vực và thế giới.

     

    2. Nằm trên con đường biển quốc tế giao thương từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc Thái Bình Dương xuống Nam, sang Ấn Độ Dương tới Địa Trung Hải, là con đường biển huyết mạch của Đông và Tây phương mà tự xa xưa đã được xem là đường hàng hải xuyên Thái Bình Dương. Ngay từ thế kỷ thứ nhất trước Dương lịch, nhà Địa lý Pomponius đã gọi Đông Nam Á là “đất vàng” và “Đảo vàng”, nơi sản xuất hương liệu gia vị và những sản phẩm kỳ lạ khác mà không nơi nào có được.  Năm 1995, viện nghiên cứu Địa dư các nước ngoài của Nga Sô đã ước lượng có khoảng 6 tỉ barrel dầu ở vùng biển trên thềm lục địa của Việt Nam tính từ bờ lục địa ra đến 200 hải lý. Nhà cầm quyền Trung Quốc đã tuyên bố độc chiếm biển Đông Nam Á vì họ xem đây là vịnh Iran thứ hai với trữ lượng ít nhất khoảng 210 tỉ barrels dầu hỏa và khí đốt .

     

     

    3.  Ngày nay, Đông Nam Á là một khu vực tự do thương mại bao gồm 11 nước là Brunei, Cambodia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái lan và Việt Nam . Đông Nam Á  bao gồm Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo có diện tích 4.494.047 km², dân số toàn vùng xấp xỉ 600 triệu người. Với tinh thần yêu chuộng hòa bình Dân chủ, cùng hợp tác để phát triển, các nước Đông Nam Á đã tuyên bố là một khu vực Hòa bình Dân chủ, không có vũ khí hạt nhân.

     

    4. Trước đây, các nhà hàng hải Tây phương không hiểu rõ chủ quyền lịch sử của vùng biển này nên một số bản đồ ghi là biển Nam Trung hoa để chỉ lộ trình hải hành chứ không hề xác nhận vùng biển đó là của Trung Hoa. Trong khi đó, bộ Tân Từ Điển Thực dụng Hán-Anh” xuất bản ở Hồng Kông năm 1971 viết: “ Nam Hải là vùng biển kéo dài từ eo biển Đài Loan tới Quảng Đông” mà thôi. Đặc biệt, chính bộ “Từ Nguyên Từ điển” của Trung Quốc  xuất bản năm 1951 và 1984 ghi rõ: “Người ngoại quốc gọi Nam Hải là Nam Trung Quốc Hải (Biển Nam TQ)”.

     

    5. Năm 1992, Quốc hội Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên biển Đông và công khai nghiêm cấm tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua vùng biển này phải xin phép nếu không sẽ bị đánh chìm.

     

    6. Hán tộc chủ trương tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá, ngay cả sau khi Việt tộc đã giành lại độc lập tự chủ. Các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều đem quân xâm lược Việt Nam nhưng đều bị quân dân ta đánh cho tan tành không còn manh giáp. Sự thật lịch sử này đã được chính các bộ sử của Trug Quốc xác nhận, đặc biệt tại Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học tại đại học Berkerley Hoa Kỳ năm 1978 kể cả các học gỉa Trung Quốc và Đài Loan đã xác nhận “Di Việt làm chủ Trung nguyên TQ trước khi Hán tộc từ Tây Bắc tràn vào đánh đuổi Bách Việt (Malaya-protoviets)”. Chính sử Trung Quốc “Hậu Hán Thư” đã viết là năm 111 TDL, Hán Vũ đế đánh chiếm Nam Việt, Lộ Bác Đức nhờ “Việt Quế Lâm Giám Cư Ông dụ dỗ Âu Lạc thuộc Hán”, triều Hán đổi tên nước Nam Việt là Giao Chỉ bộ thành 9 quận gồm Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố (Quảng Châu), Giao Chỉ (Bắc VN bây giờ), Cửu Chân (Từ Vân Nam chạy dài xuống Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An), Châu Nhai (Đảo Hải Nam TQ bây giờ), Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam). Hán sử cũng chép rõ là 2 viên Điền sứ lên quảng Đông giao nộp sổ sách Âu Lạc. Như vậy, nước Âu Lạc trên thực tế vẫn hoàn toàn độc lập, ngay cả đảo Hài Nam hán sử cũng chép là Hán triều phải bỏ Đạm Nhĩ năm 81 TDL và Châu Nhai năm 46 TDL rút quân về nước. Chính vì vậy, cả nước Âu Lạc kể cả đảo Hải Nam vẫn thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam thì nói gì quần đảo Hoàng sa và Trường Sa. Mãi tới năm 1909, Trung Quốc mới chỉ vẽ bản đồ Hải Nam là phần cực Nam của TQ mà không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa, trong khi đó chính “An Nam Đồ chí” do Phó Tổng Binh châu Quỳnh Nhai đời triều Minh (1573-1620) ghi chú về lãnh thổ VN bao gồm các đảo Hoàng Sa, Đại Trường Sa. Đây là chứng cứ lịch sử cụ thể rõ ràng nhất về chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam bao gồm hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa là một sự thật lịch sử không thể phủ nhận được.

     

    7. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc về kinh tế lẫn quân sự. Trung Quốc đã chủ động chiến lược tấn công bằng cách bành trướng về mọi lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự để thiết lập ảnh hưởng tại Á Châu và trên thế giới. Trung Quốc đất rộng người đông với sức mạnh kinh tế đã công khai bộc lộ ý đồ bành trướng bá quyền của Trung Quốc trong vùng này. Trung Quốc ráo riết xây dựng lực lượng hải quân hùng hậu và Hoàng Sa, Trường Sa thành căn cứ tiền đồn cho các cuộc hành quân quân sự để khống chế biển Đông tiến chiếm các nước Đông Nam Á. Bộ Trưởng Quốc phòng Trì Hạo Điền đã công khai bộc lộ ý đồ siêu Phát xít, siêu đế quốc thời đại với tham vọng thực hiện “Một thế kỷ của Trung Quốc” như sau: Chúng ta đã có được kỹ thuật và khoa học tối tân, kể cả kỹ thuật nguyên tử sạch, kỹ thuật về vũ khí di truyền cũng như vũ khí sinh học, chúng ta có thể dùng những biện pháp mạnh mẽ để tiêu diệt dân Mỹ trên một qui mô lớn. Chỉ bằng cách xử dụng những vũ khí không hủy diệt mà có thể giết nhiều người càng tốt, chúng ta mới có  thể chúng ta tạo dựng được “Thế kỷ của người Tàu”, một thế kỷ trong đó đảng CS Trung Quốc lãnh đạo thế giới”.

     

     

     

  • Biên khảo

    Thế Phong : TAM LANG- VŨ ĐÌNH CHÍ, CÁI UẤT ( LÊN ) CỦA VĂN CHƯƠNG… TRẦN TRUỒNG

    TAM LANG- VŨ ĐÌNH CHÍ (1900-1986 ) :

    “… CÁI UẤT ( LÊN ) CỦA  VĂN CHƯƠNG… TRẦN TRUỒNG… “

    Thếphong.

     

    1.- Trong đời văn  chương Tam Lang có 2 buổi mừng thọ  . Nói như Tam Ích –  đây là cách tôn vinh  Tam Lang- Vũ Đình Chí ,  tác giả :”…” Tôi kéo xe “ vẫn hay như xưa. Cho uất lên, thì cái uất cũng là rất trần truồng – altitude zéro…”

    Ngày 20-2-1971, trùng năm sinh thượng thọ. Tam Lang –   Vũ Bằng , Thượng Sỹ…. khởi xướng , cùng một số  bạn bè họp mặt- với sự cộng tác nhiệt tình  tạp chí” Văn học

    ( Saigon- chủ nhiệm : Phan kim Thịnh)..

     

    Vũ Bằng  : ” Tao phùng đêm 20, tao phùng để làm gì?”, tác giả giải thích:

    “…tao phùng đêm hai mươi, khẩu hiệu nhỏ bé ấy truyền đi từ anh em này cho đến anh  em kia, tờ báo này qua tờ báo nọ trong vòng một tuần lễ, không có một lời đăng báo. . Vậy mà từ 5 giờ chiều 20-2 tới đây, anh em văn nghệ (…) đã gặp gỡ nhau đông đảo tại Nhà hàng Thanh Thế chật hơn cả một “ lầu nhì”. Ngoài các anh em văn nghệ tiền chiến như : Lãng Nhân , Thượng Sỹ ,Phạm Cao Củng, Đỗ Hồng Nghi ( Trương Linh Tử, Hoàng Ly )  Hoàng Lan – Nguyễn Xuân Huy , Phạm Minh Kha ( Ngọ Báo)… đến Tam Ích, Trần Văn Bảng ( bác sĩ săn sóc sức khỏe một số văn nghệ sĩ hậu chiến- TP chú thích) người  ta còn thấy nhiều văn nghệ sĩ hiện đại như giáo sư Thanh Lãng  / Đại học Văn Khoa, họa sĩ Tú Duyên…nhạc sĩ Phạm Duy…

    Gặp mặt  là để  chúc thọ Tam Lang vào tuổi 70.

     Thượng Sỹ  dõng  dạc tuyên bố:

     

    ”…đó là đại hội thường  niên  của anh em văn nghệ sĩ còn sống hay sắp chết, đúng hơn là cảm tạ” Trời thương đến tuổi này vẫn được khỏe mạnh cả tinh thần, vật chất(…). Ấy là vì nghề cầm bút    “ cái nghề ăn gỏi sức lực thể chất và tinh thần của con người ta” vào bậc nhất, vì nhiều lý do hùng hồn nhất,: điều kiện sống của các văn nghệ sĩ trước, cũng như bây giờ “:

     

                                                          “ Văn nhân tự cổ như danh tướng

                                                             Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu “

     …đã đành  là văn nhân  cũng như mỹ nhân, cũng có người sống dai; nhưng đa số  thì không để cho nhân gian thấy đầu mình bạc. 

    Cái chết của những Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Nhược Pháp,  Nguyễn Đình Lạp, TCHYA ( Đái Đức Tuấn ) , Lê Văn Trương …. chứng tỏ sự việc đó đã được phần nào … làm nghề cầm bút thiệt chốc đã năm  mươi ba, tư năm nay – anh  Tam Lang  cùng chúng tôi  đã trải nhiều buồn vui, qua nhiều biến cuộc.  Anh đã góp phần  không nhỏ cho làng báo, làng văn – nay đã được 70 – mà vẫn thiết tha với anh em. Thế là đáng quí !. Chúng tôi lấy làm vinh dự có một người anh em tận tụy với văn nghệ như anh (…) “.

     

    Trong một bài viết khác-  Tam Ích rất “ tếu” , hơi hướm  hỗn xược”  gọi ba chàng văn sĩ cùng” họ Vũ ” là ” ba thằng họ Vũ”  điều này hơi’ lố bịch”!.  Giản dị,  Tam Ích-Lê Nguyên  Tiệp chưa hề  được coi ” đồng lứa, đồng sàng”với  Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Vũ Đình Chí-Tam Lang, và chưa bao giờ được ngồi chung, viết chạ với’ 3 thằng họ Vũ” kia , từ thời gọi là  tiền chiến ?!

     

    Trở lại cùng Vũ Bằng kể chuyện  mừng thọ – Tam Lang được tặng một món quà thật độc đáo – ấy là Thượng Sỹ có sáng kiến đặt họa sĩ Tú Duyên vẽ bức họa- một trái đào thật lớn  tượng trưng thời còn để chỏm .( có lẽ Thượng Sỹ đã nhớ  “ tóc chỏm đào” các em bé còn thơ ấu được cha mẹ’ cắt tóc chỏm đào” chăng ? – và bây giờ” em bé Tam Lang  rất xa xưa nay đà 70 ). Bức tranh ấy có đủ tên , chữ ký các  văn hữu tham dự buổi mừng thọ tác giả” Tôi kéo xe” vào 1971 .

     

    Có người  nào đó lên tiếng nhắc Phạm Cao Củng ( 1913 –       ) – cha đẻ nhân vật tiểu thuyết Kỳ Phát xưa kia.:…” sao nay  anh chàng lại thu mình ngồi trong góc khuất, chẳng nói năng, chẳng tham gia xướng, họa, hay là óc bố mày giờ này chỉ có “cút” – không thể có thơ nào hay bằng nuôi ” chim cút”  phải không?”

    Tới lượt một chàng ồn ào nhất , đi tới đâu” ba hoa” tới đó, sao bữa nay  lại” tịt ngòi”- đó là Phạm Duy.

    Một văn hữu trêu ;

              Ca dao  dành riêng cho   Phạm Duy “.. văn chương chữ nghĩa bề bề / Thần “lờ “ ám ảnh cũng mê mẩn đời  (  đúng ra “ văn chương bề bề” phải dành cho nhà văn Phạm Duy Tốn ,cha hắn mới đúng, còn hắn chỉ  là”  nhạc sĩ “ thôi !” ) bây giờ chàng ta chỉ mê thần tiềnthần tiên mà thôi !

    Một bạn văn khác hùa theo:

                          Phạm Duy và Phạm cao Củng  chẳng chịu nói gì,  vác  thân xác tới mừng thọ’, còn” hồn phách vật vờ nơi chin suối, mười khe ?! 

    Bỗng  nhiên Duy phản pháo :

              Im lặng là một” bí mật”.  Khi các  bạn được nghe ” tục ca”  của tôi sẽ rõ, chứ bây giờ sao đành ” “tiết lộ thiên cơ” được !

                          Tục ca” – lấy hứng từ nguồn  người nữ – “ thần” lờ” ám ảnh trở thành” tục ca” đấy thôi !  một văn hữu khác chêm vào .

                          Duy tiếp:

                          – .. đàn em rất thụ cảm với bài thơ của” đại ca Tam Lang ” :” sớm đầu xanh, tối đã bạc rồi!”, còn sống ngày nào còn phải tận hưởng’ của  Trời cho”,” chơi cho  phỉ chí, kẻo “ sớm đầu xanh mà tối đã bạc “ thì thật uổng !!”

                          ( có tiếng xì  xào nhắc chuyện  Phạm Duy tằng tịu “với vợ  của em vợ “ – rủ ca sĩ Khánh Ngọc “sớm  Nhà Bè ăn chè , trưa ngửa bàn đèn hâm tục ca, tối đêm mầu hồng vi vút tiếng ca tình ái” –  Khánh Ngọc tên thật  Lan Nam, vợ Phạm Đình Chương. – sau vụ báo chí làm rùm beng, Khánh Ngọc đành ly dị chồng , xin đi  du học ở  Huê Kỳ, sau lấy  chồng, một Việt kiều., bỏ hát, sống rất hạnh phúc. )

                                               

    Anh em văn hữu dự tiệc- rượu vào, lời ra, mỗi người mỗi vẻ, mỗi  câu mỗi ý – bỗng có  người lên tiếng:

    .. tại sao Vũ Hoàng Chương không có mặt ?

    -.. chắc  Vũ Hoàng Chương sợ” giáo bão can qua, lùa ám khí vào cuộc đời,”, chàng ta’ tự cấm quân,” cấm trại 100 %  rồi !

    – có tiếng  ai ngâm thơ Chương sáng tác

    :

                                                         “…Ta van cát bụi trên đường 

                                                         Dù dơ dù sạch đừng vương gót này

                                                         Để ta tròn một kiếp say

                                                         Cao xanh liều một cánh tay níu trời

                                                         Thơ ta chẳng viết cho đời…” (…)

     

    Vũ Bằng tiếp:

    -.. có tin tung ra, Vũ Hoàng Chương gửi thơ  dự giải Nobel văn chương năm nay đấy!  Thơ V.H.Chương đã được dịch sang Pháp , Anh, Đức  ngữ. Nào là “ Poèmes Choisis”,” Nouveaux Poems”, “ Communions Poems”, “ Die achtundzwanzig Sterne”..

     

      Mọi người im lặng, khi chủ xị Tam  Lang  rời chỗ ngồi , tới bục đọc thơ:

     

                                                  “ Còn bao năm nữa cái đêm tận cùng?”

    nghe sao não lòng đến vậy !

     

    Mọi người lục tục ra về.

    Tiệc mừng thọ Tam Lang- Vũ Đình Chí 70 tuổi chấm dứt.

    Đèn đường đã  bật sáng từ lâu !

     

                                                                       ***

      2.-Mừng thọ Tam Lang lần hai được tổ chức tại nhà  Mai Hồng  Khương ( bây giờ đổi tên Trần Hồng Khương ,  con gái “ thứ  thiếp”- Á Nam-Trấn Tuấn  Khải) tại 75 đường Lê Quốc Hưng, quận 4 .( tp. HCM) ngày 10-4-1983.

    Khoảng 60 văn hữu tham dự.  Khởi xướng ý tưởng là Vũ Bằng, Giang Kim-Nguyễn Thế Bình, Trần Hồng Khương…

     Giang Kim tiết lộ:

    -… với sự phân công rõ rệt. địa điểm : 75 Lê Quốc Hưng- nhà Mai Hồng Khương. Chạy đi mời là tôi, tường thuật, tiếp khách là Vũ  Bằng, làm văn tế sống là Trạng Đớp- Nguyễn Xuân Tài. Việc nào vào việc ấy, chúng tôi đã thực hiện được nhu dự định, với số  khách tham  dự gần 60 anh , chị em, già, trẻ- vào một ngày” cúp điện” nên phần khai mạc tới 11 giờ trưa ngày 10-4-83 mới khai mạc được…”(….)

     

    Khác  buổi gặp mặt vào năm 1971  (trước 30-4-1975) – lần này có  tiếng xầm xì :

    “… đây có phảimừng thọ, mừng thiếc” gì đâuchỉ là  vụ đầu cơ chúc thọ Tam Lang 83 tuổi  thôi   !”

     

    Một bài viết của Trạng Đớp – đúng ra   thư Trạng Đớp gửi Chàng Ngô ( Ngô Trọng Hiến – nguyên chủ Nhà sách, xuất bản” Như Ý” ở Phú Nhuận trước 1975 ). Có đoạn  viết:

     

    “…bàn của đệ cụ Tam Lang chủ tọa, nên anh em đều xoay quanh về tiêc thọ ngày 10-4-1983 vừa qua.  Có một vị khách nhắc đến chàng Ngô – bồ ruột của cụ Tam Lang. mà sao bữa đó không có mặt ?”

    Như một cái máy phát thanh ( …) CảTếu trả lời lý do tại sao hôm nay chàng ngô không  đến ?  Đệ mới hỏi Cả Tếu vì lý do gì, thì Cả Tếu trả lời:

    “…Cậu đ.. biết gì ? Thằng cha đó hiện nay có đủ giấy trăm để đốt chúng mình( ngay) tại đây .  ( Nó) là lái giấy, lái” óc” , cả tá con đi Mỹ, ( nhưng tại sao) hôm nay lại không đến ? ( Có phải) là vì ?

                                         “Tam Lang ơi hỡi Tam Lang

                                           Hôm qua tôi chửi” cả làng” nhà anh !”.

     (Nếu ) nó đến, anh em gặp( thì) sẽ khui ra, nên vắng mặt thì có gì là lạ ?

    …-thế làm sao lại có tin, bữa tiệc thọ Tam Lang, do’ hai tên Lã Bất Vi Vũ Bằng và Giang Kim-Nguyễn Thế Bình ” lợi dụng xác sống tác giả” Tôi  kéo xe”  để” bắt tí tiền còm”.  Bữa ăn không đáng 6 đồng  / người, ( nên) Vũ Bằng cảm thấy không thể” xơ  múi”  gì nên “ lỉnh” trước   ( chứ gì ?” (….)

     Trạng Đớp tế sống Tam Lang ( anh em làng văn nhớ ra ngay – trước đây nhà thơ Tế Nhị  từng  có bài    tế sống Vương Hồng Sển.”.

     

     .. và dưới  đây  trích đoạn “tế  sống tác giả” Tôi kéo xe” , dịp mừng thọ lần 2 , của Trạng Đớp-Nguyễn Xuân Tài :

                                                  (………………………… )

                                               Khi nhắm mắt ma to ma nhỏ

                                               Rồi điếu văn, ai có nghe đâu ?

     

                                                    Nên nhất tề quyết định :

     

                                              “ Phúng anh phúng sống mấy câu:

                                                Anh nghe chắc sẽ gật đầu nhếch môi

                                                 Rượu đế đây kính mời cụ Thủ

                                                 Hãy hưởng đi cái thú trần gian

                                                 Vững tay lèo lái làng văn

                                                 Chừng nào đến 400 năm thì về

                                                 Lúc ấy đệ cặp kè  chín chục ( 90)

                                                  trời Tây lập tức “ điện” ngay  (*)

                                                 Chia vui cùng đất nước này

                                                 Tiễn đưa” văn nghệ một tay hào hùng !”

                                                 “ Giới xe kéo”  vô cùng kiêu hãnh

                                                  Đường luân hồi chuyển bánh muôn năm

                                                   Làng văn nhớ mãi Tam Lang

                                                “ Làng xe” nhớ mãi  anh chàng” kéo xe”

                                        (………………………………….)

                                                                                     tháng 3.1983

                                                                                           TRẠNG ĐỚP

    ———-

    (*)Nguyễn Xuân Tài được bảo lãnh đi Pháp, chưa đi thì đã qua đời.( T.P. chú thích) 

                                                                                      

     

    Khi nhắm mắt ma to ma nhỏ” – ấy là nói về Tam Lang còn sống sờ sờ “ lúc sống thì  chẳng cho ăn / khi chết lại làm văn tế ruồi ! “. Trạng Đớp lên án “ ngầm” bạn thân Giang Kim, và nhà văn Vũ Bằng tận dụng hoàn cảnh”  ăn bo bo” lại gọ là ” cao lương”, khẩu phần  bo bo mỗi người , thực ra chỉ” vo viên làm được một cái bánh cỏn con đút vào miệng, ăn  rồi,  sao vẫn  còn thòm thèm  !“.

    Vậy tại sao không nghĩ ra “ cách tế sống  Tam Lang, nhà văn tiền chiến  không di tản, xứng đáng vai” tiên chỉ làng văn”: – vừa được tiếng với bè bạn vừa “ cấu véo” chút đỉnh kiếm miếng cơm gạo trắng’ cải thiện  ?

     

    Trạng Đớp vốn tay ” thợ thơ châm biếm  làng báo Saigon- ai  đặt hàng chỉ nháy mắt có bài” nộp, nhận tiền “ sống” ngay ”-  luôn khoe “….trong  làng “ choang” (lính )- “ –…trên là  tướng ,dưới   -đều biết  danh :” ông tiên sư  I ( trung sĩ 1)  Trạng Đớp-Nguyễn Xuân Tài đấy !”

     

    Nhắc  tới “ tiên chỉ làng văn  Tam Lang”- Trạng Đớp không thể không thể không nhớ “ trương tuần làng báo tài danh Anh Hợp”.  Đó là môt  nhà báo nổi tiếng từ Hà Nội trước 1954 ( thư ký tòa soạn báo” Thân Dân “ / Nguyễn thế Truyền ,

     Dân Chủ” / Vũ Ngọc Các )..người thấp bé, mặt “ rỗ” ‘ nghiện hút- ở Hà Nội có vợ hẳn hoi ,  sau di cư  chỉ còn một thân  một mình bệ rạc.   Ký giả Anh Hợp nghèo, đói, quần áo  lếch thếch cáu bẩn, “ bạ đâu cũng là nhà”, “ nằm đâu cũng là giường  – so sánh với  một hành khất, thì : “ mày mười, tao mới được năm  thôi. !

    Gặp lúc  Phật giáo gặp đại nạn 1963, Anh Hợp bèn nghĩ kế’ tuyệt thực phản đối chế độ độc  tài Ngô Đình Diệm   nằm vạ trước  chùa, nơi phóng viên quốc tế đến săn tin – dịp may bắt gặp – Trạng Đớp  bèn  xuống  bút “ tế sống đoạn đời bi đát Anh  Hợp: 

      

     “…chợt nhớ  lại trước đây , đệ giữ mục “ Tầm đại bác “  báo “ Sống”( chủ nhiệm: nhà văn  Chu  Tử – Chu Văn Bình  ) – có làm một bài tế sống nhà báo Anh Hợp- nhân dịp anh ta tuyệt thực trước Viện Hóa Đạo để phản đối nhà Ngô đàn áp Phật giáo.  Các hãng thông tấn, các phóng viên trong và ngoài nước đến quay phim, chụp hình, ghi âm, phỏng vấn rầm rộ.  Và sau đó nhà Ngô phải mang xe cứu thương đến rước Anh Hợp vào bệnh viện Grall điều trị, lại lót tay 500 ngàn đồng.  Lâu ngày nhớ lõm bõm bài đó như sau:

                                                  “… Nấp vào bóng thiên đàng ma túy

                                                    Hồn cố quên tục lụy nhớp nhơ

                                                    Quên đi cái kiếp bơ vơ

                                                    Cơm  nhờ nhà thổ, thuốc nhờ nhà thương

                                                    Nghe đàn áp nằm đường tuyệt thực

                                                    Nhà Ngô bèn bực tức gớm ghê

                                                     Phóng viên ngoại quốc chạy về

                                                    Nào là phỏng vấn xè xè quay phim …”

     

    “Toàn quốc gửi tiền về giúp đỡ Anh Hợp qua nhật báo” Sống” do Chu Tử chủ trương. Anh Hợp “ ẵm bộn bạc” , bèn mời đệ đi ăn cơm tây, tắm hơi ở Chợ lớn, và đưa ra một ngàn bạc cho Trạng Đớp – nhưng Trạng Đớp từ chối không nhận, đáp lời:

              Tao đâu cần tiền, tao thích viết thi tao viết, vì tao thấy hành động tuyệt đẹp của mà. Thế thôi ! Tao nghèo như mày, nhưng vẫn khinh” thằng trọc phú”.

               Nghe rồi, Anh Hợp đọc ngay thơ Nguyễn Bính:

               

                                                   “ Trọc phú ti toe bàn thế sự 

                                                     Đĩ già tấp tểnh nói văn chương

                                                      Đã coi đồng bạc to hơn núi

                                                      Lại học đòi theo thói Mạnh Thường  “.

               Hơn nữa, cái việc” tế sống”  trên đất này ( hình như) chưa có ai nghĩ tới;

               thì ( chỉ) việc phát minh này ( thôi), cũng đáng giá ngàn vàng ( rồi )  ! …”

               

    Trạng Đớp chưa hết bất bình với Chàng Ngô, nhưng ý của  tác giả không nói thẳng thừng ra.  Qua 2 câu thơ Chàng Ngô gửi Tam  Lang  trích dẫn trên kia, Trạng Đớp đặt câu hỏi  trực diện  :

     

    “…-vì một dư luận không đẹp cho giới văn nghệ xứ này, ( chỉ qua) một câu” chửi tục” cho là “ đùa đi nữa, song đã  loan truyền khắp “ nước Sài Gòn”  ( rồi) ! (…).  (Vậy là ) cả làng đều được nghe” nó” chửi anh, ( vậy) anh nghĩ sao  ? Đây không  cần phải đến ban Tổ chức trả lời” đại huynh” , mà chỉ  là cá nhân” đệ”. Bởi” đệ” là 1 trong” 4” người chịu trách nhiệm trước dư luận anh em trong làng” văn).  ( Vậy thì) xin” đại huynh” một lời giải thích:

     

                                                 “… Tam Lang anh hỡi Tam Lang ?

                                                “ Thằng Ngô”  nó chửi cả làng chúng tôi

                                                   Chắc có lẽ anh’ tồi”,  anh”  hủi” ?

                                                   Nên  nó dám chửi :

                                                                             ” thằng này” láo ghê ?!

                                                         Xin anh vì nghiệp vì nghề

                                                                                      lý do

                                                                                         cho biết

                                                                                              để” ghè thằng Ngô “…

     

     Chuyện giai thoại văn chương  chẳng bao giờ  hết chuyện,  từ xưa tới nay chẳng bao giờ hết chuyện đâu? Các cụ thời xưa chẳng từng nhắc”… viết chẳng bao giờ hết lời, còn lời có bao giờ nói hết ý ? “ sao ?!

     

    3 “… Hiện nay Tam Lang không còn sáng tác được một tác phẩm văn chương nào, có thể tương đối gọi là gía trị- để tiếp nối sự nghiệp văn nghệ của mình. Sự viết lách của ông bây giờ – cũng như Thiếu Sơn-Lê Sỹ Quý  chỉ là cách  ” kiếm cơm độ nhật “  qua những”mầu báo giá trị trong ngày …”  ( Lược sử văn nghệ Việtnam / Nhà văn hậu chiến: 1950-1956 / Thế Phong / Đại Nam văn hiến xb,  Saigon 1959)

     Đọc  lại nhận xét về Tam Lang cách đây đúng 39 năm  – (1956 bắt đầu viết sách nhận định văn học ) tôi nhận  ra ngay :

    ”… vội vã, xốc nổi, hấp tấp, thiếu chin chắn.. lai “ rất bất công” nữa …!“

      khi bàn về sự nghiệp văn học rạng rỡmột trong ba nhà phóng sự tài danh hàng dầu tiền chiến ?! ( Tam Lang là 1  trong bộ 3  họ Vũ ). Tôi không thể    bắt voi bỏ giọ”, kết luận  hời hợt, vu vơ về sự nghiệp phóng sự  to lớn của Tam Lang- Vũ Đình Chí như vây được ?!

     Chi cần đọc lại  toàn bài diễn  thuyết” Cuộc đời làm văn, viết báo từ 1932- 1971”, Tam Lang kể lại thật nhiều chi tiết cảm động  – nào chuyện áp bức, chống tham quan, ô lại, phản quyền lợi tổ quốc (….)…Tam Lang đã  dùng ngòi bút sắc bén diễn tả bằng một giọng văn châm biếm, tế nhị ( để) đả kích mặt trái xã hội, lên án mọi bất công gây ra bởi lớp người này với người khác …”

    Đó là nhận định về Tam Lang qua  Thượng Sỹ  – một nhà phê bình văn học nổi tiếng tiền chiến, một cây bút bình luận văn học báo” Tin Mới”- bây giờ  gần 90 tuổi lại chưa có một tác phẩm nào được in thành sách.

    Thương Sỹ đặt câu hỏi, vậy quan niệm viết văn Tam Lang ra sao ?    Cây bút ấy phải có lương tâm nghề  nghiệp, bởi đó là điều tối ư cần thiết.   Viết báo phải trung thực, không thể nói dở thành hay, hay thành dở, đen phải ra đen,  nếu đổi trắng ra đen, thì dầu  có biện minh thế nào đi nữa vẫn đáng khinh. – và chỉ được coi  trọng, đáng kính – khi  cây bút ấy thật sự hiểu công việc viết báo là phơi bầy được đúng sự thật vì công chính.  Thật rõ ràng vậy , nên  Tam Lang đã theo gương của  một nữ nhà báo Pháp, Maryse Choisi, tự khoác  vào mình thân phận một con điếm ,để viết được một tác phẩm trải nghiệm bằng  kinh nghiệm bản thân : hai tay  phu-xe-kéo cầm hai càng xe chạy kiếm khách đổ mồ hôi trán hạt lớn, hạt nhỏ…

     

    Tam Lang  bỏ nhà, xin  đi làm báo. Được chủ nhiệm chấp thuận, Tam Lang  vào” bộ  ” một phu- xe- kéo    đến nhà Cai xe thuê chiếc xe kéo, hai tay cầm hai càng xe, lao ra đường kiếm khách.  Có đêm chạy suốt,như để  tự hành  hạ bản thân , và có được  cảm giác thật sự của  kiếp sống nhọc nhằn một  phu- xe -kéo chuyên nghiệp.  Sau đó, một phóng sự  điều tra xã hội về phu – xe -kéo được đăng tải  trên” Ngọ báo” nhiều kỳ .( chủ nhiệm Bùi Xuân Học).  Đăng báo xong, sách đươc in ra, trên đầu trang  tác giả  ghi :

     

                                                   “ Kính tặng:

                                                      Ông Bùi Xuân Học, chủ nhiệm” Ngọ Báo” ,

                                                      người đã đội lên đầu tôi chiếc nón phu xe kéo”.

                                                                                                                           T.L.

    .. sau khi sách phát hành, tác giả đọc được bài báo ,  gật đầu tán thành lời bình sắc sảo  của Vũ Ngọc Phan :

     

     “….dù những nhân vật được mô tả trong thiên phóng sự “ Tôi kéo xe”  đã là những xác chết thối tha, người ta cũng cần thấy cần phải khai quật cả lên, nếu người ta cũng chung quan niệm với Vũ Ngọc Phan- nhà phê bình văn học đã ghi lại trong” Nhà văn hiện đại” câu này : “…Không có lối văn nào giúp ích cho việc cải cách, cho nhà đương chức pháp luật, và cả nhà xã hội học bằng các thiên phóng sự ….”

     

     Năm 1971,  “ Tôi kéo xe” tái bản, vì tập phóng sự xã hội này được đưa  vào chương trình học lớp 8 ( 8/12)  miền Nam – bây giờ  thân phận phu-xe-kéo đã được đổi mới  khác hẳn     tác giả tự đánh giá:

     

    “…( chỉ) hơn 10 năm sau, khi tập phóng sự” Tôi kéo xe” xuất bản, trên toàn quốc không còn bóng dáng chiếc xe kéo nào nữa, và hơn 30 năm sau, với chính sách chủ xe được phép mua xe trả góp , thành tư hữu, để làm phương tiện sinh sống; chế độ cai xe tuy hành nghề.   Từ ngày ấy đến nay, tính ( ra) đã được ngót thế kỷ- tôi thấy đạt được một  phần ước vọng đó, nhưng ( vẫn) là một phần nhỏ, chẳng thấm tháp gì….”.

     

    Kể từ 1942 , lời  bình Vũ Ngọc Phan  về “ Tôi kéo xe”  – thì những năm trước đó  –Trương  Tửu, Hoài Thanh đã có nhận xét về tác phẩm phóng sự độc đáo ấy trên “ Tiểu thuyết thứ bẩy “(  Hoài Thanh ), báo “Loa”( 1938-  Trương Tửu,).

    Qua bút danh Nguyễn Bách Khoa, Trương Tửu   viết nhiều bài viết  phẩm bình “ Giọt lệ sông Hương”, “Một đêm trước”,” Đời niên thiếu “…-  riêng” Tôi kéo xe” –  thì hết lời ca ngợi  tác giả :

     

    “(…)… ” Tôi kéo xe là quyển tiểu thuyết tả chân giá trị nhất trong văn học Việtnam hiện đại – bởi lẽ  Tam Lang đã thu góp chất liệu sống cực khổ, nhọc nhằn của phu xe kéo, tác giả biết loại bỏ những đoạn kịch trá hình (  détails mélodramiques )  để làm gì ?  Để nhìn rõ  : trong cặp mắt sâu hoắm như hai cái lỗ đáo ở chiếc đầu lâu,  anh ta để rơi xuống đất mấy giọt nước mắt khô khan như pha lẫn máu.  Những tình tiết ấy tạo thành cuốn tiểu thuyết ông có trí tưởng tượng của một thi sĩ, ông có ( sự) bình tĩnh của một  nhà báo- với 3 đức tính  này, ông có thể trở thành một nhà văn đại tài…”.

     

     đến Hoài Thanh, nhận xét về tác phẩm” Một đêm trước” của Tam Lang – Hoài Thanh cho rằng tác giả chuộng cảnh tả thực, qua sự ghê tởm thấy được, hơn là ghê tởm hình dung, tác giả đã sống trải nghề phu xe kéo-  nên khi tả về phu- xe- cao –su ( công nhân  được tuyển đi Tân Thế Giới làm đồn điền, trồng  cây cao su ) – thì Hoài Thanh rất tâm đắc với  lối nhìn’ của Tam Lang-  và Hoài Thanh dẫn  chứng :

     

    “…trước mắt tôi, một bát canh bò bốc khói lên ngùn ngụt, nóng sốt như thế nào mà tôi đoán chừng nó chẳng ngon lành gì cho lắm; vì trong bát canh  đục ngầu như nước cống, mấy khoanh lòng bò  lều bều như nổi mấy xác chết đuối mấy đám hành răm …” ( Một đêm trước ) .

          Hoài Thanh kết luận:

    “…… ông Tam Lang không tìm cái ghê tởm ấy trong tưởng tượng, ông chỉ tả cái ghê tởm ( mà ) mắt ông trông thấy, cho nên lại càng làm cho người xem ghê tởm ! Tôi đã có dịp nhận thấy cái đặc sắc này của văn Tam Lang trong “ Một đêm trước “.

     

       .. lại không đồng tình cùng Trương Tửu – Hoài Thanh chê” Tôi kéo xe” có “ những đọan văn thừa “.

      Vậy đoạn văn thừa kia là  đoạn nào, ở tác phẩm nào ?  Theo Hoài Thanh –  chính đoạn thừa là ” câu đề tặng  mà Tam Lang gửi ông chủ nhiệm” Ngọ báo” .

    Kể ra Hoài Thanh khá khắc nghiệt, lại phi lý nữa –  xét tận  cùng kỳ lý : ” nếu không có chủ nhiệm “Ngọ báo” Bùi Xuân Thành’ đồng tình cho đăng tải, trước khi in thành sách, hẳn là  không thể có tuyệt phẩm ” Tôi kéo xe” được !? 

    – kể  cả “ câu đề tặng” cũng  được Hoài Thanh  soi mói – “nên , hay không nên có ?

    ”…kiểu soi mói “ bần tiện” – giả thiết thôi-  nếu đặt dưới lăng kính “ nhìn bởi ”  Chế Lan Viên :  “…nhà phê bình khó trở thành nhà văn , nhưng nhà văn chỉ cần nghiên cứu ít lâu dễ trở thành phê bình ..”

     ( trích theo “ Phê bình trong cơ chế tự thỏa mãn trong văn học “ / Vương Trí Nhàn / Tạp chí “ Văn học và dư luận”, số 9/1991 xuất bản ở tp. HCM. ).Ở  đất nước ta, chỉ nói ở  thời tiền chiến thôi – rất khó có  nhà  văn nào trở nhà phê bình văn học tài ba như André Gide được?  Ấy là, tôi muốn bàn tới trường hợp André Gide viết sách phê bình văn học-  nói về Fédor Dostoievsky. -(“một cuốn phê bình văn học tuyệt vời của  Gide!”).

     

    Trở lại Hoài Thanh phê bình” Tôi kéo xe’ – Hoài Thanh nhận xét  về cái nhìn “ ghê tởm cảm thấy được trong đội ngũ phu-xe-kéo “:

     

    …” Tôi kéo xe “ vẫn là tập phóng sự giá trị. Tác giả đã làm cho ta nghe thấy những điều ở ngay trước mắt ta, bên tai ta, mà ta không nghe thấy …”

     

    Trên kia vừa  trưng dẫn vài ý kiến các nhà phê bình văn học tiền chiến – vậy “ thời hậu chiến  nhận xét về “ Tôi kéo xe’  ra sao ?

     

    Tam Ích, nhà phê bình văn học khuynh hướng mác xít ở miền Nam  – ông khởi nghiệp viết từ 1945, chủ soái nhà xuất bản” Chân trời mới “ ( với Thiên Giang và Thê Húc-Phạm Văn Hạnh ) –  Tam Ích nói huỵch toẹt,  rất không đồng  tình với Hoài Thanh lên án  ông Bùi Xuân Học được” Tam Lang đề tặng” ( sách ) là chụp cái mũ phụ xe lên đầu Tam Lang’ là thừa ? … vẫn theo Tam Ích  lý giải :”… bởi Hoài Thanh không thể hiểu được cái” altitude zéro” mà thôi ! “:

     

    “…” Tôi kéo xe” vẫn hay như xưa. Cho có uất lên , thì cái uất cũ rất  là trần truồng – altitude zéro.” (in chữ đậm – TP).  Khi tâm sự  bối rối thì hỏi mình một cách trắng trợn.  Tại sao tôi lại chịu kéo người ? Thật lúc chính tôi cũng không biết : đó là một câu hỏi

     ( của) mình vào lúc đầu, sau khi ông Bùi Xuân Học chụp cái mũ lên đầu Tam Lang ! Cái ý của câu hỏi đem ra hỏi tâm tư,  lại cũng ở” altitude zéro”..?

     

    Xem ra chỉ phê về một việc nhỏ : “… cái mũ được chụp lên đầu Tam Lang cũng rắc rối việc ?!”. Với Hoài Thanh là” thừa”- Tam Ích  thì” phải lắm”, còn hay là khác , hay một cách tự nhiên, sống dộng, trần truồng, không cần thêm bớt, màu mè mà vẫn hay !… “

     

    4 .-Bàn về nhân cách trong văn chương nhân bản Tam Lang –  qua một chuyện thật trong đời tác giả , tác giả không muốn ai biết. Và không có ngày 20-4-1971 –  tại  giảng đường Đại học Văn khoa  ( Saigon)  – giáo sư Thanh Lãng mời tác giả tới diễn thuyết- hẳn  chuyện tình nhà văn phóng sự kỳ tài  sẽ được giấu kín mãi mãi.

     Tác giả cho rằng nhà văn rất cần có nhân cách ở ngòai đời thường,  thì  mới phản ánh  được nhân cách ấy trong nhân vật  văn chương được.

     Tam Ích  rất  tán dương quan niệm ấy  , một khi đem  áp dụng vào đời viết văn Tam Lang. Ông  phê : ” Thật hay tuyệt !”.

     Đó là sự trung thực ngay đối  với chính  bản thân, tránh được tình trạng :  hãy làm theo lời tôi nói, đừng theo sự tôi làm “và, cũng  là điều tôi dẫn chứng; “  đời sống riêng tác giả và văn chương là một “…

     

    Câu chuyện kể dưới đây, giữa tác giả và Ngô Văn Mậu ( phóng viên, đồng nghiệp) – có một buổi , ông  Mậu đi  nhặt tin các quận , rồi trở về  tòa soạn –  còn Tam Lang  ở nhà biên tập viết lại tin  đăng báo .

    Môt buổi khác ,  phóng viên Mậu đi nhặt tin, lại không có tin  – thư ký tòa soạn Mai Du Lân mắng nhiếc  phóng viên lười biếng  thu nhặt tin tức, kể cả “  tin chó chết “.Phóng viên Mậu cho  biết toàn thành phố Hà Nội bữa nay chẳng có chuyện gì xảy ra,  thì  lấy đâu ra‘ tin với tức, dù là tin” chó chết”  “- chẳng lẽ phóng viên muốn có tin giật gân để đăng  -thì” đút cẳng”  vào bánh xe ô tô để có tin chăng ?”  Điều qua tiếng lại, Mai Du Lân ỷ quyền chức vụ lớn, chửi mắng   phóng viên Mậu:”..  cho rằng cậu có đưa đầu vào xe ô tô thì vẫn chỉ là tin vặt, loại “ tin tức chó chết” mà thôi !“.

    Tam  Lang chứng kiến, ức lòng,  bênh đồng nghiệp, bèn đứng phắt dậy, ném mạnh cán bút xuống bàn để  phản đối –tên quản lý kiêm chủ báo Mai Đăng Đệ ngồi gần đó ra mặt  bênh cháu ( Mai Du Lân) chêm một câu: “… chó chết vị tất đã hết chuyện !”

    Tam Lang thấm thía  câu nói kia , cho đây là bài học nghề nghiệp cần  khắc ghi trong nhật ký: “…gieo vào đầu óc tôi một cảm nghĩ miên man, mà tôi cho là có giá trị của bài học khôn ngoan nghề nghiệp “.

    Cả tòa soạn – phóng viên, biên tập phản đối , bỏ việc không cộng tác với báo” Thực nghiệp” nữa.  Riêng Tam Lang  mất 15 đồng lương hàng tháng, gia đình túng quẫn  tài chính.  Dầu vậy buổi tối, ông vẫn theo học Pháp văn, và không chịu được cảnh gia đình nói vào, nói ra   ông lẩn tránh tới nhà một bạn quen xin ở nhờ. Chủ hiệu Trực Thành, mở cửa hàng bán xe đạp  Place Négrier ( Cửa Nam bây giờ ) Chủ tiệm Tiết Hiếu Trung  tính tình quảng giao, tuy bán xe đạp lại  có máu “ văn nghệ”.  Trung dành ngay  cho bạn một phòng riêng, buộc bạn phài viết xong một  cuốn  tiểu thuyết, cốt truyện do Trung kể lại . Trung  nói với bạn –  cơm hầu nước dót, đệm ấm, giường êm, nhưng cửa  khóa  hàng ngày – chỉ khi nào viết xong cuốn tiểu thuyết này mới được  tự do. 

    Câu chuyện kể lại đời sống một cô gái gốc Huế- người nhân tình cũ Tiết Hiếu Trung – bị cha mẹ cô gả bán   cho gia đình thượng quan triều đình Huế.  Trung hứa  viết xong bản thảo, cuốn tiểu thuyết  sẽ được  in ngay, phát hành trên toàn quốc, tiền bạc  do chủ tiệm lo chu toàn.

     

    Vậy là” Giọt lệ sông Hương” ra đời. Tác giả chưa sống ở Huế bao giờ – bây giờ truyện  có bối cảnh ở Huế thì làm sao đây ? Tiết Hiếu Trung   trả lời , chuyện này đã có  Vệ Lan ‘ cố vấn” . Lần đầu Tam Lang  nhìn thấy  vợ  Trung, đã khen thầm, đó là : ” một giai nhận tuyệt sắc !”.

     Vệ Lan  được chồng  giới thiệu, nàng cầm bút vẽ sơ đồ phố xá cố đô Huế, nào đây sông  Hương, kia núi Ngự, xa hơn  Vườn Tĩnh Tâm, thôn Vỹ Dạ, cửa Thượng Tứ,  quán Âm Hồn .. vv.. tâm tính dân xứ Huế ra sao được Vệ Lan  kể vanh vách, rành rọt cho nhà văn nhập tâm.

    Tam Lang nghĩ ngay đến thể ”văn biền ngẫu” sẽ được dùng trong cuốn tiểu thuyết này, nhà văn ghi ngay tiếng tây lên giấy” parallélisme littérature “ cùng tựa truyện tình” Giọt lệ sông Hương”.

    Mỗi khi viết xong một đoạn, Tam Lang đọc , Vệ Lan nghe, nước mắt nàng giàn giụa, thông cảm “ mối hận tình  của chồng , và nàng” ới” ngay chồng lên phòng văn  cùng thưởng thức . Vệ Lan  quan sát  nét mặt buồn rượi,  khi chồng nghe đoạn  văn  vừa đọc, hẳn chồng  nàng còn nặng lòng với giọt lệ sông  Hương chảy vào triều đình quan cách.

    Tác phẩm viết xong, năm sau Tiết Hiếu Trung bỏ vốn  in – sách in xong, Trung trao cho Tam Lang 50 cuốn để tác giả tặng báo chí, bạn bè – bản thảo” gốc’ Trung cho đóng gáy da, chữ mạ vàng giữ  làm kỷ niệm. 

    Và cũng từ đấy, chuyện tình âm thầm giữa Vệ Lan và tác giả “Giọt lệ sông Hương” xảy đến.   Vệ Lan bắt đầy “ yêu thực sự  tác giả- bằng cách thêu một tấm khăn nhỏ lụa trắng   với hàng chữ” Giọt lệ sông Hương , chắc anh không ngờ giọt lệ châu của Ngọc  đã đổ ra suốt một năm trời “.  Vệ Lan dùng khăn này lau nước mắt, và dặn :” …đừng cho Trung biết chuyện này . Lan xin anh giữ kín để làm kỷ niệm của Lan “.

    Ở giữa trang sách, Vệ Lan gài  ảnh chân dung chụp nghiêng, với lời : ” đề tặng Tam Lang”- dưới hàng chữ ghi thêm “…dáng đứng nghiêng nghiêng trên lan can căn gác nhìn ra đường “.

    Tác giả nhìn thấy khăn, bàng hoàng, vội vã  tìm  gặp Vệ Lan- khi  nhà văn tới trước cửa phòng , định đưa tay  vào quả đấm – bỗng trùn tay  buông ra, ngập ngừng không dám xoáy vặn quả đấm nữa.   Tác giả bỏ ra ngoài,  một mình lang thang, suy nghĩ vẩn vơ  vào một đêm khuya dưới trời mưa  phùn  Hà Nội.

    Đó là chuyện tình giấu kín tác giả” Giọt lệ sông Hương” từ bao năm trước – nay hé mở toang trước  đám sinh viên Văn khoa  Saigon của mấy chục năm sau.

      Từ 16 giờ 30, ngay tại giảng đường mang số P-202, sinh viên Văn khoa ngồi chen chúc, chật ních chờ đợi buổi nói chuyện của nhà văn phóng sự kỳ tài tiền chiến: Tam Lang- Tôi kéo xe.  Một số sinh viên tới trước có ghế ngồi, còn lại đều đứng hàng  một dọc theo hành lang . 

    Tôi tự hỏi:” .. nếu không có giáo sư-nhà  phê bình văn học Thanh Lãng biết gía trị văn phóng sự Tam Lang, hẳn rằng bữa nay chúng ta sẽ không có một” tư liệu văn học” rất qúy giá này, bởi lẽ tác giả không tự bạch, làm sao ai biết ?..” 

    Đó là nhân cách đáng  trân trọng của tác giả, rất đáng ngợi ca- bởi  trước đây,  khi đưa tay vào quả đấm định mở cửa phòng  Vệ Lan – rồi ngưng –  tác giả bỏ ra phố  lang thang, và  đó cũng là” nhân bản  trong văn chương  Tam Lang” cũng bắt đầu khởi nguồn  ở điểm này.

     Rồi sau hơn 10 năm lưu lạc- một ngày kia- tác giả nhận được một cánh thiệp từ Sài Gòn gửi ra Hà Nội  trước 1954 .( tôi đoán chừng, khi ấy, tác gỉa đang nắm chức vụ chủ bút nhật báo” Giang sơn”( chủ nhiệm: Hoàng Cơ Bình).

    Mặt sau cánh thiếp có 4 câu thơ:

     

                                       “… Yêu nhau chỉ biết là yêu

                                         Có bao giờ nghĩ đến điều dở dang

                                         Mười năm mưa gió phũ phàng!

                                         Để ai nát Ngọc tan vàng vì ai ?”

     

    Chính là Vệ Lan năm xưa ở Huế rồi !Vệ Lan với tên thật  Đào Thị Ngọc.

    Say này, tác giả biết thêm Vệ Lan đã vào Saigon làm” thứ thất” cho một vị quan đứng đầu chính phủ khi ấy.

     Nhớ lại khi Vệ Lan sống cùng chồng Tiết Hiếu Trung ở Huế, được chồng giới thiệu với Tam Lang, mối tình câm bắt đầu nẩy nở, rồi lụi tàn  âm thầm. Đào Thị Ngọc yêu thầm, giấu trộm nhà văn- nàng nhớ lại chồng cũ nước mắt giàn giụa sau khi nghe nhà văn đọc một đoạn truyện mới viết xong- nàng đã ghi khắc hình bóng nhà văn từ khi ấy. Không được đáp trả, sau  nàng ly dị chồng vào  Nam, làm” thứ thất” một thượng quan đứng đầu chính phủ Quốc gia,  sau nàng bị bệnh hoạn, lại từ chối vào bệnh viện   Grall , qua đời  ở một nhà” thương thí” tự nguyện-   với 4 câu thơ gửi” người tình cũ”. Chuyện tình chưa được viết ra ấy chẳng kém gì chuyện tình viết lối” biền ngẫu” “Giọt lệ sông Hương !”

    Tam Lang cầm tấm thiệp với 4 câu thơ của Đào Thị Ngọc- lại không quên lần bà Ngọc đến tìm tác giả ở nhà một người bạn, có phương danh  là Chính. Giữa buổi trưa, Tam Lang đang ngủ bỗng giật mình – bởi  cánh tay “ ai đó” ôm chầm lấy, đặt lên môi  ông nụ hôn  nồng nàn. Mở mắt ra, đó là Vệ Lan- Đào Thị Ngọc- vợ cũ  Tiết Hiếu Trung. Mặt nàng bữa ấy có vết máu bầm đọng, chuyển màu tím bồ quân- bởi nàng  bị đòn thù” chồng cũ.

     Một lời giải thích:

    “(…)- việc ( này) không thể thực hiện được”, vì trên tình cảm của tôi còn có pháp luật, của tòa án, và lễ giáo gia đình( nữa)…

     Nàng vụt đứng lên, vẻ căm hờn, bước ra khỏi phòng, không thèm chào tôi và cả Chính nữa, cũng không( thèm) lau nước mắt..( đang rơi trên má nàng)… “

    Đó là tác giả Tam Lang- Vũ Đình Chí ; một trong 3 vị viết phóng sự lừng danh tiền chiến, mà Tam Ích từng  gọi là ’ ba  thằng họ Vũ”.

     

    Chẳng biết buổi sinh thời, nhà văn phóng sự kỳ tài Vũ Trọng Phụng có làm thơ   bút danh Thiên Hư không ? hay cô Hoàng thị Trâm ( một bút danh khác  Vũ Bằng)  có múa bút làm” thơ tình” ?  Không ai được biết điều này” có’ hay” không” ? Còn lại một chàng  tên VŨ Đình Chí, bút danh Tam Lang đã  từng có bài thơ tặng Vệ Lan:

     

                                             “…Yêu nhau, năm tháng cách xa nhau

                                               Ngấn lệ chưa khô đã bạc đầu

                                               Một sớm em đi, tình đã lỡ

                                               Trọn đời anh chịu kiếp thương đau ! “

     

    Lại phải nhớ tới  Tam Ích thôi  – “Tam Lang : 1 trong’ ba thằng họ Vũ”- Tam Ích khen Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền    bởi” chàng” được Tam Ích   khen hết lời, hết nhẽ:

     

    “… Thanh Lãng  và Phạm việt Tuyền in lại” nó “: ( đây là” Tôi kéo xe ? Tam Lang- TP chú thích)  thật cũng đã là những người tinh đời. Chứ ai in lại mấy cuốn dở –  dở là dở bút pháp ấy. Ai dám nói bài” Phở” của Nguyễn Tuân viết sau này là” dở’ ? Đã có Jérôme Lindon nói rằng một nhà văn lớn là nhà văn “ renouveler” nếp viết và suy tư của mình, chứ không sùng bái người mình đã biết rồi. Hình như Lindon nói về Samuel Beckett ..”(…) Tôi đã chuộc, vì văn anh vẫn hay . ( Tam Lang- TP chú thích) Đó là điều quý nhất. Mọi chuyện là thứ yếu …” ( 14)  ”.

     

     Khi Tam Ích  thấy” Tôi kéo xe” được tái bản , Tam Ích lầm tưởng là ‘ con mắt tinh đời của chủ biên” Cơ sơ Tự do” in ấn . Thật ra Tam Ích” khen” lầm “Cơ sở Tự do” cùng chủ biên Phạm Việt  Tuyến “ có con mắt tinh đời” khi  thấy “ Tôi kéo xe” tái bản . Chính xác hơn,” Tôi kéo xe’ được đưa vào chương trình học lớp 8 ( ban trung học miền Nam), thì nhà xuất bản Sống Mới liền cho” tái bản “ ngay để bán cho “thầy và trò dạy và học văn  Tam Lang”.

     

    Tam Ích, nhà phê bình văn học hậu chiến thông minh – nhà viết sách chính luận sắc sảo-  viết bình luận “khen” hoặc” chê”,  “ đúng nhiều”, “ sai ít –  nhưng  rất hết lòng:

    “…Tôi đã chuộc, vì văn anh vẫn hay; đó là điều quý, ích.Mọi chuyện khác chỉ là thứ ` yếu ….”

    (Lần gặp anh- ở nhà  tôi thuê,  351 / 15… Trương Minh  Giản ,Saigon 3.(trước 1963) – tôi  nói đùa : ” Vous êtes   jusqu’auboutiste , Mr Tam Ích !”.) ( sau  anh  thắt cổ tự vẫn ở gác  trọ đâu đó, gần Nhà thờ Nguyễn Thiện Thuật, Saigon 3).

     

    Còn tôi- viết bài  này  về Tam Lang, đó cũng là”  tôi đã chuộc  … “tội”… . ( nói theo kiểu Tam Ích) đây là chuộc tội của một người  trẻ 25 tuổi viết phê bình văn học, hình như tuổi này viết phê bình văn học  hơi quá sớm thì phải ?  Đúng ra,  tôi chẳng có ý viết “phê bình văn học, văn hiếc” –  và bộ” Lược sử văn nghệ Việtnam : 1900-1956”( 4 tập) – chỉ là  kết quả khi đọc các tác phẩm văn học tiền chiến, kháng chiến, hậu chiến, sau cùng viết tổng kết 60 năm văn nghệ- để làm vốn đời văn của tôi  ở bước đầu mà thôi.

     

    Riêng tập 4 “ Tổng luận 60 năm văn nghệ Vietnam, 1900-1956 “ được chuyển ngữ” A Brief Glimpse at the Vietnamese literary scene, 1900-1956, translated by Đàm Xuân Cận / Dai Nam Van Hien Books, Saigon  1974  được  một số mạng toàn cầu tung lên mạng, dạng ebook :

    – Amazon.com, Booknear, Theis,  Open Library,  vv…

     

    (Amazon.com : Vietnamese Literature : Books A Glimpse  of Vietnamese  Oral Literature: Mythology, Tales, Folklore by Loc…Vietnamese Literature : A Brief Survey- by Nguyen Dinh Hoa ( Paperback- 1994)

    www.amazon.com /s?ie- UTF8&index- books&field-keywords-Vietnamese %

    ( tóm tắt : Gs Nguyễn Đình  Hòa đem cuốn này  đi thuyết giảng tại các giảng đường đại học Mỹ, rồi  tự in ấn  ( paperback) , không thông qua tác giả , và Thư viện Quốc gia Úc mua được một “ bản in bất hợp lệ  từ giáo sư Hòa  in ra .

     

    Amazon còn phổ biến một tác phẩm khác nữa của Thế Phong:

    Thephong by  Thephong;: The writer, the work & the life, autobiography; The Phong Books ( www.amazon.com /Thephong-writer-work-life-autobiography/dp/B0007JUSLA-150F-Similar

     

    tại Thư viện Quốc gia Úc:

    -A Brief Glimpse at the Vietnamese Literary scene, 1900-1956 / The

    Available in the National Library of Australia Collection . Author ThePhong; 1932-

    Format, 42p.;27cm

    ula.gov.au/cat-vn2 196750-26k-Cached-Similar

     

    tại www.Booknear.com:

    DaiNam Publisher Books: Booknear.com: A Brief Glimpse at the Vietnamese Literary Sene, 1900-1956 by The Phong…

    www.Booknear.com/Dai-Nam-publisher_html-19kCached-Similar pages

     

    tại Book Catalog:abri-vol.15 :

    A Brief Glimpse at the Vietnamese scene, 1900-1956, The Phong Saigon,  Dai Nam Van Hien Books   [1974], 42p. A brief grammar and vocabulary of the…

    col.bookmaps.org/a/abr 15html-34k- Cached-Similar pages

     

    tại Open Library beta

    [Edit][History] last modified april 1. 2008

     

    A brief glimpse at theVietnamese literary scene, 1900-1956

    Published in 1974, Dai Nam Van Hien Books

    (Saigon)

     

    CHANGE COVER

    Other tittles        : Vietnamese literary scene from 1900 to 1956

    By  Statement     :ThePhong, translated by Dam Xuan Can

    Language             : English

    Pagination            : 42.;

    LCCN                  : 76368219

    Dewey                  : 895.9/22/09003

    LC                        :  PL 4378.9.T562 B71974

    Subject                  : Vietnamese literature – 20 century

                                     -History and criticism.

    http://openlibrary.org/b01. 4940841 M/brief-glimpse-at-the-Vietnamese-literary-scene %2C..

     

    và môt vài cuốn khác:

    I was an American militiaman , translated  by Dam Xuan Can .Dai Nam Van Hien Books, Saigon 1970.

     Bản việt ngữ:”Tôi đi dân vệ Mỹ” Saigon 1967, ký Đinh Bạch  Dân. Đại Nam văn hiến xuất bản, Saigon 1967).

    The summing up of ten years of writing , translated by Dam Xuan Can, Dai Nam Van Hien  Books ( Saigon)

    ( bản  việt ngữ:” Mười năm văn nghệ tôi hứa hẹn điều gì ?“

      ký Thế Phong.

    Uplipting  Poems, translated by Dam Xuan Can, Dai Nam Van Hien Books,  Saigon 1974.

    ( bản việt ngữ:” Thơ làm lớn dậy con người” ký Thế Phong.

     

    vv…

     

     

     Trở lại Tam Lang : đó là  một  nhà phóng sự kỳ tài tiền chiến Tam Lang “, một tác phẩm” tuyệt hay”  Tôi kéo xe” – và đây, lời tạ tội chân thành của tôi , với bậc trưởng thượng.

     

    Bởi lẽ, trước kia tôi  rất hồ đồ khi nhận định về sự nghiệp văn chương- phải thế này thế kia- là” láo toét” ; hoặc tại sao thời hậu chiến , ông chỉ viết báo lăng nhăng kiếm cơm, giá trị trong ngày – hoặc không có một tác phẩm nào để đời ? vv…

     Vẫn theo chân Tam Ích , cần “ renouveler” – tôi cũng phải” làm mới lại”  câu văn  xưa kia viết rất chưa chin chắn, lại vội vã, mơ hồ…bằng một cuốn sách nhỏ bé ra mắt bạn đọc:

                                          Cuộc đời viết văn, làm báo

                                       TAM LANG – TÔI KÉO XE (*)

    ——

     (*) ‘ Cuộc đời viết văn, làm báo: Tam Lang- Tôi kéo xe / Thế Phong / Nxb Văn hóa – thông tin  /  Hà Nội 1996 – Nxb Đồng Nai,( miền Nam  )  /  2004. Bài  tu chỉnh : tháng 3 / 2011 ).

     

    T.P..

     

  • Biên khảo

    Chân Mây : Hình Ảnh Chiến dịch thủ tiêu các cột mốc biên giới VIỆT TRUNG

    Chiến dịch đã phát động vào ngày 20/07/2010.
    Hàng loạt những cột mốc lịch sử quốc giới Trung-Việt đã bị Trung Cộng và CS Việt Gian tất bật tháo gỡ đưa vào các Bảo Tàng Lịch Sử địa phương mà chúng gọi:
    Chiến dịch “bài trừ các mốc biên giới cũ
    Tại sao bọn Trung cộng xâm lược có quyền làm như thế? Đảng CS Việt Gian đang câm lặng?

    Hình Ảnh

    altDiễn Tiến Sự Kiện Thủ Tiêu Cột Mốc Biên Giới TRUNG VIỆT  

    altMốc 18 trên Ải Nam Quan mà Đảng CSVN đã bịa đặt nên câu chuyện bị Trung Cộng cho xe tăng ủi nát trong chiến tranh biên giới. Thực tế  hình ảnh này cho biết mốc 18 vẫn còn tồn tại trong tấm ảnh chụp của quân Trung Cộng năm 1988.
     
    altMốc 19 tại Hà Giang (khu vực núi Đất, tức Lão Sơn) với sự chiếm giữ của
    quân đội Trung Cộng năm 1980.
    Lãnh thổ bị chiếm đoạt nhưng Đảng CSVN và lực lượng “Quân Đội VN Anh Hùng” đã không dám kháng cự và năn nỉ qua nhiều năm xin đi vào đàm phán.
    Năm 1993, hai bên chính phủ CS Trung-Việt bắt đầu đi vào đàm phán các vùng “tranh chấp”. Đến ngày 30.12.1999, hai bên Trung-Việt hoàn thành 16 lần đàm phán và cho ra kết quả là bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” (中越陆地边界条约). Một phần nội dung “nổi” của văn bản này cho biết rằng có 227Km2 diện tích “tranh chấp” trên dường biên giới Trung-Việt được giải quyết sau đàm phán là …chia đôi: 113Km2 thuộc Việt Nam, 114Km2 thuộc Trung Quốc.
    Không khác gì văn bản dâng lãnh hải cho Trung Cộng của Phạm Văn Đồng vào năm 1953, những văn bản giải quyết đường biên giới lục địa Trung- Việt của Đảng CSVN là một trong nhiều vết dơ nhục nhã của Đảng CSVN chàm khắc lên tổ quốc của người Việt Nam và họ, những người người lãnh đạo Đảng CSVN, với kết quả giải quyết tranh chấp đường biên giới như trên vẫn vui mừng đặt thành “thắng lợi”.
    Khi bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” hoàn thành, hai bên Trung-Việt tiếp tục đi vào công tác giải tỏa các khu vực gài mìn, tức là những vùng đất biên giới trên lãnh thổ Việt Nam. Một cách tự nhiên, những vùng trong qui hoạch gỡ mìn được dựng bảng bằng tiếng Trung và người dân trong khu vực trở thành công dân Trung Quốc.
     
    altLực lượng công binh Trung Cộng đi vào lãnh thổ Việt Nam (Hà Giang) năm 2002 thực hiện chiến dịch gỡ mìn với sự đón chào niềm nở của Quân Đội NDVN Anh Hùng. Các chữ Trung văn trên đầu xe tải có thể đọc được là: “Vi Nhân Dân Bài Lôi…” (gỡ mìn cho nhân dân…). Nhân dân nào đây?
     

    alt  altaltaltaltalt 

    Các khu tử thần trên núi đồi Việt Nam (vùng Hà Giang) và vô số nạn nhân nay
    đang được chính phủ Trung Quốc bảo hộ.
    Lý Văn Vật Hu“Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” đặt ra 1537 tọa cột mốc biên giới cần thiết lập trên 1347 Km tuyến biên giới Trung-Việt. Vào tháng 9 năm 2002, Cục Đo Đạc Quốc Gia Trung Quốc phái 39 nhân viên kỹ thuật thường trú đến 12 tọa điểm biên giới kết hợp với công binh chính quyền Vân Nam, Quảng Tây và chính phủ CS Việt Nam thực hiện công tác gỡ mìn. Tháng 11 năm 2005 sơ bộ hoàn thành, đến năm 2008 thì tuyên bố hoàn thành công tác gỡ mìn, phân giới, cắm mốc. Ngày 23.2.2009 đặt thành Lễ Hoàn Thành Phân Giới Cột Mốc Trung Việt (Chân Mây đã đưa tin qua bài “Đại Lễ Dâng Ải Nam Quan Cho Trung Cộng”).
    Tuy nhiên những điều đó chưa phải là chấm dứt. Vào ngày 14.07.2010, phía Trung Cộng tuyên bố các văn kiện phát sinh hiệu lực là “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Khám Giới Nghị Định Thư” (中越陆地边界勘界议定书), “Trung Việt Biên Giới Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越陆地边界管理制度协定), và “Trung Việt Biên Cảnh Khẩu Ngạn Cập Kỳ Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越边境口岸及其管理制度协定). Theo nội dung pháp luật yêu cầu trong nội dung các văn kiện, thì việc trước hết là phải tiến hành bài trừ ngay tất cả các cột mốc cựu thời. Phía Trung Cộng phát lệnh bài trừ các cột mốc cũ bắt đầu tại đoạn Vân Nam, Hà Khẩu vào ngày 20.07.2010, tại đoạn này có tất cả 22 cột mốc đã được bài trừ, hiện tại được biết có các cột 15, 17, 21 đã mang vào lưu trữ vĩnh viễn tại Phòng Quảnyện Hà Khẩu (河口县文物管理所), số còn lại chuyển lên trung ương quản lý. Căn cứ theo tài liệu “Trung Pháp Điều Ước”, 22 cột mốc quốc giới Việt Nam-Trung Hoa tại đoạn Vân Nam được xây dựng trong 12 năm, từ tháng 8 năm 1885 cho đến tháng 6 năm 1897. Khi Trung Cộng tiến hành bài trừ, trên các cột mốc này vẫn còn rõ các chữ “Trung Hoa” và “An Nam”.
    Tiếp theo đoạn Vân Nam, vào ngày 10.08.2010 tỉnh Quảng Tây tuyên bố đã hoàn thành sứ mệnh bài trừ 33 cột mốc cũ, một nữa số do các địa phương sở hữu bảo tồn, nữa số còn lại phân chia vào quản lý tại Bảo Tàng Quốc Gia Trung Quốc (中国国家博物馆) và Bảo Tàng Quảng Tây (广西博物馆)
    Hàng trăm trang mạng, báo đài Trung Cộng đang truyền tải sự kiện, nhưng bên Việt Nam thì không ai được biết đến. Vì sao? Không cột mốc cũ nào còn nằm trên lãnh thổ Việt Nam! Đây chính là những chứng cứ không thể chối cãi cho việc mất đất ở biên giới, lãnh thổ bị xâm phạm, mất chủ quyền hàng chục năm và sự đê tiện của Đảng CSVN khi họ vẫn tươi cười bất chấp dư luận!
    Chân Mây đã lên diễn đàn Trung Cộng thăm dò và nhận các câu trả lời như sau:
    Hỏi: Ni Hao! Có thể cho tôi biết tại sao Chính Phủ Trung Quốc phải loại trừ các bia giới cũ vùng biên giới Trung-Việt?
    Đáp: Tồn tại các bia giới cũ là điều không thể chấp nhận được.
    Hỏi: Bia giới cũ vẫn còn giá trị lịch sử chứ!
    Đáp: Việt Nam cũng như Triều Tiên là phiên thuộc của Trung Quốc từ thời xưa, các bia giới không có giá trị. Ngay cả các cột mốc hiện tại cũng không có ý nghĩa phân chia quốc giới.…
    Không như cách trả lời thô thiển của tên Trung Cộng này. Một thực tế man rợ là Đảng CSVN cấu kết với Trung Cộng nhằm xóa mọi dấu tích của đường biên giới cũ!
    Tập hợp rất nhiều hình ảnh thu thập từ các trang thông tin, diễn đàn của Trung Cộng sau đây sẽ làm rõ hơn vấn đề. Những hình ảnh có ghi rõ địa chỉ cần tham khảo, tuy nhiên nếu bạn đọc cần thêm chi tiết xin vui lòng dán các chữ Trung Văn sau lên Google để kiểm chứng:
    – 中越拆除陆地边界旧界碑工作正式启动 (Trung Việt Sách Trừ Lục Địa Biên Giới Cựu Giới Bài Công Tác Chính Thức Khải Động: Trung Việt chính thức khởi động công tác tháo bỏ mốc bia giới biên giới đất liền)
    – 中国云南河口县辖区内的旧界碑开始拆除 (Trung Quốc Vân Nam Hà Khẩu Huyện Hạt Khu Nội Đích Cựu Giới Bài Khai Thủy Sách Trừ: Bắt đầu tháo bỏ bia giới cũ trong địa hạt huyện Hà Khẩu, Vân Nam Trung Quốc).
    – 中越边界拆除旧界碑 (Trung Việt Biên Giới Sách Trừ Cựu Giới Bài)
    – Hoặc tham khảo hình ảnh nhiều nhất tại diễn đàn sau (truyền tải từ ngày 03.11.2010):

    altMốc 15 tại Hà Giang

    alt 

    altMốc 17 tại Vân Nam (Hà Khẩu)-Hà Giang
    altalt“Tân Kinh Báo” (Quảng Tây) đưa tin tức ngày 13.08.2010
     

    alt  Ảnh tham khảo: “Nhất xứ tam bài” (một nơi có 3 cột mốc) là hiện tượng sau các đợt đặt mốc quốc giới của hai bên Chính phủ CS Trung-Việt. Hình trên là giao giới Trung-Việt tại khu vực Đông Hưng, bờ bên kia sông là mốc mới của quốc giới Việt Nam (mốc 1325). Trên mỗi cột mốc xưa đều chia ra một mặt là Việt Nam, một mặt là Trung Quốc. Tình trạng của mốc mới tạo nên vùng đệm và rõ ràng lãnh thổ Việt Nam đã nằm ngoài đường biên giới xưa.

     

    altBiên dân Việt Nam tham gia bài trừ cột mốc dược Trung Cộng gọi trìu mến là
    “đồng bào tôi ơi!”.

    altaltaltalt 

    [IMG]Mốc giới mới (1050) và cũ "Trung Việt Quốc Giới, Khang Anh Ngoại Sách Số 5" trên đỉnh Bình Cương Lĩnh nay thuộc Quảng Tây. Có cả mốc cũ bị đập bỏ!
     

    altaltaltaltaltTiêu mốc số 18 đoạn Quảng Tây-Việt Nam vẫn còn rõ hai mặt chữ

    "Đại Nam", "Đại Thanh" và năm tạo lập là 1893.
     
    altMốc "Đại Nam Quốc Giới" tại Phòng Thành-Quảng Tây

    altaltaltalt
    altKhu vực Quảng Tây: Có cái bị đập vụn, có cái bị chôn dưới đất nhờ dân địa

    phương chỉ điểm để đào lên. Trơ trọi chiếc lõi cột mốc trăm năm!

    altaltaltViệt Nam tham gia khuân vác cột mốc quốc giới dâng cho Trung Cộng

    altaltaltaltaltĐưa lên xe tải phi tang!

    Trâu biên giới làm nhân chứng!

     

    Nguon: MỘT GÓC PHỐ

    Xin quý dộc giã duy trì dễ làm tài liệu lịch sử.
     

    “>Ô Nhục Nam Quan   <===

         Chân Mây
     
    Nhận thấy dư luận rất quan tâm về sự kiện thủ tiêu các cột mốc (cũ) phân chia biên giới Trung-Việt, là người đã đăng tải sự kiện kèm theo các hình ảnh đầu tiên trong bài viết “Từ lễ tế Mã Viện đến ngày Đảng CSVN cho Hai Bà Trưng mặc váy” (chuyên mục “Chuyện Phải Nói” của Diễn Đàn TGNV ngày 14.11.2010), Chân Mây sẽ trình bày rõ ràng hơn để giải tỏa các thắc mắc và ngờ vực về tính xác thực của sự kiện này.
    Những gì đang xảy ra…

CỘT MỐC OAN HỜN

( tin báo :  Đầu năm 2002, nhà đương quyền CSVN đã đặt cột mốc cái thứ nhất mang số 745 tại Móng Cái, phần đất trước của Việt nam, nay là điểm phân chia biên giới mới giữa Việt Cộng và Trung Cộng. Cột mốc cái cao gần hai mét và làm bằng đá khối. Ngoài chữ số ghi kilomet, mốc cái còn có quốc huy của CSVN và cờ đỏ sao vàng. Ngày 13/7/2002 CSVN khánh thành đặt cột mốc thứ hai mang số 102 tại tỉnh Lào Cai.  Phần đất này trước đây cũng thuộc Việt Nam)

Ai đem phiến đá vô hồn
Biến thành Cột Mốc Oan Hờn, hỡi ai !!!
Núi cao soi bóng sông dài
Sao thu hẹp để u hoài núi sông ?
Nỗi đau đã nhức mọi lòng
Nỗi hờn tươm máu triệu dòng lệ chan
Bao đời mốc tại Nam Quan
Sao nay Móng Cái, Hà Giang hở Trời !?
Vết dao, cột mốc, còn tươi
Cắt da thịt Mẹ chao ơi, bạo tàn !!!

Hỡi Bản Giốc, hỡi Nam Quan
Sao đem đất nước Việt Nam  dâng người ?
Đất ta, xương máu, cơ ngơi
Ông cha ta đã bao đời dựng xây
Quyền chi cắt đất dâng thày ?
Tại sao làm nước non này đau thương ???
Niềm đau, nỗi nhục quê hương
Hỡi ai, tráng sĩ, tuốt gươm báo đền!

Ta ơi, toàn quốc đứng lên !
Nhổ phăng cọc mốc oan khiên, xây đời …

Xa cách nghìn trùng cố quận ơi
Người đi góc bể kẻ chân trời
Quê cha đứng đó trong hờn tủi
Sông núi ngàn năm cũng ngậm ngùi !
 
Hương Saigon

Ngô Minh Hằng

Web Một Thời Phan Châu Trinh Ðà Nẵng

 

  • Biên khảo

    Ải Nam Quan trong lịch sử (phần 2)

    Ải Nam Quan trong lịch sử (phần 2)

     

    II. Biên giới lịch sử và biên giới pháp lý

    1) Đường biên giới tại ải Nam Quan dưới thời nhà Nguyễn

    Vào lúc thực dân Pháp bắt đầu quá trình xâm lược nước ta, nhà Nguyễn vẫn chưa đạt tới trình độ vẽ bản đồ ngang với phương Tây. Giữa nhà Nguyễn với nhà Thanh cũng chưa ký kết các hiệp định về biên giới theo quan niệm của thời hiện đại. Tuy vậy, giữa nước ta và Trung Quốc đã hình thành một đường biên giới rõ rệt, một đường biên giới hiện thực được cả hai bên công nhận. Dọc theo biên giới, một hệ thống các ải đã hình thành từ tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) cho đến tận Lào Kay. Và giữa các ải đó, người ta đã dùng nhiều biện pháp để xác định đường biên giới, mặc dù vẫn còn khá thô sơ.

    Như phần trên đã trình bày, chỉ riêng trong tỉnh Lạng Sơn thời đó đã có đến 12 ải mà trung tâm là ải Nam Quan. Trong quyển XXIV của bộ Đại Nam nhất thống chí (nói về tỉnh Lạng Sơn), có cả một phụ lục về “địa giới” giúp chúng ta hiểu được người xưa đã dùng cách nào để phân định đường biên giới. Qua phụ lục này, chúng ta được biết: ở những nơi là “núi rừng”, người ta lấy sống núi (tức đường phân thủy) làm ranh giới; ở những nơi là “núi đất”, người ta lấy sống núi hoặc bia đá, bờ tre làm giới mốc. Ngoài ra, người ta còn dùng các biện pháp khác như: rào gỗ, đường đất hoặc đắp tường đất, trồng tre, đóng vào gỗ, v.v…

    Trong bài bút ký công bố năm 1888, bác sĩ P. Neis có kể rằng ngoài ải Nam Quan, phần lớn các ải ở vùng Lạng Sơn đều không xây cửa quan mà nhiều khi chỉ là một hàng giậu (palissade). Trong ĐNNTC cũng có kể tên ải Quì Ma, một cửa ải ở tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) “không đặt nơi phòng thủ sở”, nghĩa là không canh gác. Mặc dù vậy, tất cả các ải đó đều được tôn trọng, đều được coi là mốc biên giới. Một hệ thống các đồn và bảo được thiết lập để canh giữ các ải. Chính điều đó giải thích tại sao người Pháp và nhà Thanh lại có thể xác định được đường biên giới Việt-Trung. Trong tác phẩm của P. Neis, có đoạn văn sau đây:

    "Sau hơn hai tháng rưỡi tranh cãi không dứt, sau hai lần cắt đứt các cuộc hội nghị và hỏi ý kiến các chính phủ liên quan, sau cùng người ta thỏa thuận những cơ sở sau đây: người ta sẽ bắt đầu bằng việc thừa nhận đường biên giới cũ, mà đối với chúng tôi là đường biên giới duy nhất đang hiện hữu, rồi sau đó người ta sẽ thỏa thuận với nhau về những sửa đổi chi tiết có thể thực hiện, và người ta chỉ đặt ra những đường phân giới sau khi đã hoàn thành hai động tác nói trên."

    Đường biên giới cũ (l’ancienne frontière) mà P. Neis nói đến chính là đường biên giới mà nhà Nguyễn và nhà Thanh đã công nhận trong thực tế.

    Vấn đề đặt ra cho chúng ta là: đường biên giới tại khu vực Ải Nam Quan có từ lúc nào? Và đường biên giới đã thay đổi bao nhiêu lần kể từ đó đến nay?

    Một số tài liệu sử học nêu tên ải Nam Quan trong những giai đoạn rất sớm. Trong bộ sử rất thông dụng có tên là Việt Nam sử lược, học giả Trần Trọng Kim nêu tên Ải Nam Quan ngay từ đời nhà Trần, trong thời kỳ quân Mông Cổ (nhà Nguyên) âm mưu xâm lược nước ta. Như trong đoạn văn sau đây:

    "Sài Thung đưa bọn Trần Di Ái đến gần ải Nam Quan, có tin  phi báo về Kinh đô. Nhân Tông liền sai tướng dẫn một đội quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần. Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về Tàu, còn lũ Trần Di Ái bị bắt, phải tội đồ làm lính."
     
    Nếu đọc trực tiếp bộ Đại Việt sử ký toàn thư, ở đoạn liên quan đến sự kiện này, chúng ta không hề tìm thấy tên “Nam Quan”. Ngay cả câu chuyện rất nổi tiếng li&e
    circ;n quan đến cuộc đời Nguyễn Trãi, Trần Trọng Kim cũng nêu tên ải Nam Quan:


    "Ông Nguyễn Trãi là con ông Bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh. Đời nhà Hồ, ông đã thi đỗ tiến sĩ (1400). Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim Lăng, ông theo khóc, lên đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. Ông Phi Khanh bảo rằng: ‘Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?’ Từ đó ông trở lại, ngày đêm lo phục thù. Nay ra giúp Bình Định Vương bày mưu định kế để lo sự bình định."

    Thật ra, căn cứ vào các bộ sử cổ, chúng ta không tìm thấy cái tên “ải Nam Quan” trong giai đoạn này mà chỉ thấy cái tên “ải Pha Lũy”. Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (thường gọi tắt là Cương mục) được biên soạn vào đời vua Tự Đức và công bố vào đời vua Kiến Phúc (1884), có lời chua (chú) ở quyển XII, tờ 14 như sau: “Pha Lũy quan: ở xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn, nay là Nam Quan”. Điều đáng ngạc nhiên trong khi các nhà sử học – tác giả của bộ Cương mục, kết luận Pha Lũy là tên cũ của ải Nam Quan thì trong bộ sách địa lý quan trọng nhất của thời nhà Nguyễn (tức bộ Đại Nam nhất thống chí, ĐNNTC), cũng được soạn vào thời Tự Đức, lại không thấy ghi điều này. Như vậy, ải Pha Lũy có phải là ải Nam Quan hay lại là một cửa ải hoàn toàn khác, vẫn còn là một vấn đề cần tiếp tục làm rõ.

    Theo ĐNNTC, hai chữ “Nam Quan” được nhắc đến lần đầu tiên là vào đời nhà Mạc:

    "Sử chép: ‘năm Nguyên Hòa thứ 8, Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là bọn Nguyễn Như Khuê qua Trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng’. Đến đây mới thấy Sử chép tên Trấn Nam Quan."

    Đây là một thời kỳ mà nội bộ của nước ta bị phân hóa trầm trọng. Vào năm 1522, Mạc Đăng Dung làm đảo chính lật đổ vua Lê Chiêu Tông, đưa hoàng đệ (em vua) tên là Xuân lên làm vua. Mùa đông năm Bính Tuất (1526), Mạc Đăng Dung cho người giết Lê Chiêu Tông và năm sau (1527), lật đổ hoàng đệ Xuân, chính thức cướp ngôi vua của nhà Lê, tự xưng là hoàng đế. Những người ủng hộ nhà Lê tìm con cháu của nhà Lê để tái lập ngôi vua, dựng ngọn cờ chống lại nhà Mạc. Nguyễn Kim (cha của Nguyễn Hoàng – người sau này xây dựng nên cơ nghiệp của nhà Nguyễn ở phía Nam) trốn sang Lào, lập căn cứ ở châu Sầm Nưa, lập con trai của Chiêu Tông lên làm vua vào năm 1533, đặt niên hiệu là Nguyên Hòa (tức là vua Lê Trang Tông). Vua Lê cho người sang Trung Quốc cầu cứu nhà Minh. Nhà Minh cử Mao Bá Ôn và Cừu Loan tập trung hơn 20 vạn quân kéo sang đánh nước ta. Sợ hãi trước đạo quân của nhà Minh, Mạc Đăng Dung đầu hàng vào năm 1540 (tức năm Nguyên Hòa thứ 8). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại sự kiện này như sau:

    "Mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban cho chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết định khác. Lại sai bọn Văn Minh và Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh."

    Qua đoạn văn trên, chúng ta biết mạc phủ (tức bộ tư lệnh) của nhà Minh do Mao Bá Ôn chỉ huy đóng gần ải Nam Quan. Như các tác giả của ĐNNTC đã nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên tên của ải Nam Quan được nhắc đến trong sử ký của nước ta.

    Theo ước đoán của đốc trấn Nguyễn Trọng Đang, ải Nam Quan “hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hòa nhà Lê nước ta)”. Niên hiệu Gia Tĩnh kéo dài từ 1522 đến 1566, trong khi niên hiệu Nguyên Hòa nhà Lê (đời Lê Trang Tông) ở nước ta kéo dài từ 1533 đến 1548. Mặt khác, tên của ải Nam Quan xuất hiện lần đầu trong sử ký vào năm 15
    40. Do đó, chúng ta có thể phỏng đoán thời gian xây dựng ải Nam Quan là từ 1533 đến trước năm 1540.


    Việc nhà Minh xây dựng cửa ải ở Nam Quan vào thời điểm đó chứng tỏ phía Trung Quốc mặc nhiên thừa nhận vị trí của cửa ải chính là đường biên giới giữa hai nước. Trước đó, có thể hai bên (nhất là phía Trung Quốc) chưa đồng ý với nhau về đường biên giới tại khu vực này. Mặc dù sử ký của nước ta không nói đến, nhưng Minh sử (Sử ký của nhà Minh) có ghi rõ: vào năm Hồng Vũ thứ 29 (tức năm 1396), Hoàng Quảng Thành, thổ quan tri phủ Tư Minh – một phủ giáp giới với Lạng Sơn, đã tâu với vua Minh rằng người Giao Chỉ (tức người Việt Nam) đã nhân cơ hội Trung Quốc loạn lạc vào cuối đời nhà Nguyên, đem quân cướp 5 huyện thuộc phủ Tư Minh. Ông này cho rằng đất Đồng Đăng thực ra là đất của phủ Tư Minh và đề nghị vua nhà Minh đòi lại vùng đất ấy. Minh Thái Tổ đã sai hai viên quan sang để đòi đất, nhưng “bàn luận qua lại mãi không quyết, việc bèn thôi”. Như vậy là suốt thế kỷ 15, phía Trung Quốc vẫn còn chưa hoàn toàn từ bỏ tham vọng giành lấy vùng Đồng Đăng và mãi đến thập niên 30 của thế kỷ 16, họ mới chấp nhận đường biên giới dừng lại ở ải Nam Quan.

    Có thể nói từ khi nhà Minh cho xây dựng ải Nam Quan, một thứ hiệp định không thành văn về đường biên giới tại khu vực này đã được ký kết. Người Mãn Châu sau khi chiếm Trung Nguyên, thành lập nên nhà Thanh, cũng mặc nhiên thừa nhận điều đó. Theo ĐNNTC, vào năm Ung Chính thứ 3 nhà Thanh (1725), án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai đã cho tu bổ lại cửa quan này. Vào năm Ung Chính thứ 6 (1728), nhà Thanh đã cho treo một tấm biển ở cửa ải, đề ba chữ “Trấn Nam Quan”. Đến năm Tân Sửu (1781) đời vua Càn Long nhà Thanh, lại cho treo một tấm biển trên trùng đài, đề 4 chữ “Trung ngoại nhất gia”, có nghĩa là “trong ngoài một nhà”.

    Vào năm 1813, đại thi hào Nguyễn Du có dịp đi sứ sang Trung Hoa. Nhân đi qua ải Nam Quan, ông có làm bài thơ trong Bắc hành tạp lục trong đó có hai câu như sau:

    Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện
    Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm…


    Nghĩa là:

    Hai nước chia đều nhau bởi mặt chiếc lũy lẻ loi
    Một cửa quan oai hùng trấn giữa muôn quả núi…


    “Mặt chiếc lũy lẻ loi chia đều hai nước” mà Nguyễn Du nói đến chính là bức tường xây hai bên sườn núi (người Pháp gọi là la Muraille de Chine, bức Trường thành của Trung Hoa), có cửa quan (tức ải Nam Quan) nằm ở giữa. Như vậy, có thể nói từ thập niên 30 của thế kỷ 16 cho đến khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ, trong khoảng 3 thế kỷ rưỡi, đường biên giới ở vùng này được xác định ngay tại vị trí của ải Nam Quan. Nó được đánh dấu bằng cửa ải và bức tường xây ở hai bên cửa ải. Không hề có “vùng đệm” hoặc “hai cửa khẩu” như người thời nay thêu dệt.

    Nếu nhìn vào tấm ảnh trên đây (ảnh 9) và xóa đi cái cửa nhỏ và bức tường gắn liền với nó, chúng ta có thể hình dung ra cảnh tượng mà Nguyễn Du đã miêu tả trong bài thơ nói trên.

    Trong một bài trả lời phỏng vấn vào đầu năm 2008, ông Vũ Dũng – lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, tuyên bố một cách chắc nịch:  

    “Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan. Trấn Nam Quan do Trung Quốc xây dựng vẫn thuộc Trung Quốc, chứ không phải đường biên giới đi qua Ải Nam Quan như một số người vẫn hiểu.”

    Nếu dựa trên văn bản pháp lý (tức là văn bản ký kết giữa nước Pháp và nhà Thanh) thì có thể nói đường biên giới nằm ở phía nam ải Nam Quan. Nhưng nếu dựa trên những văn bản lịch sử như trên vừa trình bày thì đường biên giới “đi ngang qua ải Nam Quan” chứ không nằm ở phía nam của cửa ải. Chỉ những người tin vào sử Tàu mà không tin vào sử Việt mới cho rằng đường biên giới lịch sử nằm ở phía nam ải Nam Quan. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi đã xác lập quyền thống trị trên toàn bộ lục địa Trung Hoa vào năm 1949 đã “bê nguyên xi” luận điệu của nhà Thanh vào quan niệm sử học và địa lý học của họ. Trong khi đó, những người cộng sản Việt Nam không hiểu do đâu mà trở nên mơ hồ, mù mờ, thay vì dựa vào sử liệu của tổ tiên lại thừa nhận luận điểm của phía Trung Quốc, thậm chí coi đó là luận điểm chính thống của mình?

    2) Đường biên giới pháp lý theo Hiệp ước Pháp-Thanh

    Vậy thì tại sao đường biên giới từ giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 18 vẫn chạy ngang ải Nam Quan, bỗng dưng lại bị đẩy lùi xuống phía Nam ải Nam Quan? Điều này có liên quan đến hoàn cảnh lịch sử của nước ta vào thập niên 80 của thế kỷ 19.

    Vào ngày 25.8.1883, nhà Nguyễn phải ký Hiệp ước Harmand (còn gọi là Hòa ước Quý Mùi) chấp nhận chế độ bảo hộ (protectorat) của nước Pháp đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ngày 11.5.1884, tại Thiên Tân, nhà Thanh ký hòa ước công nhận quyền bảo hộ của nước Pháp đối với Việt Nam và đồng ý rút quân khỏi Bắc Kỳ. Nhưng do quân Pháp bị phục kích bất ngờ tại Bắc Lệ, một cuộc chiến tranh không tuyên bố lại bùng nổ giữa quân đội hai nước Pháp và Trung Hoa, kéo dài mãi đến giữa năm 1885. Mặc dù đạt được thắng lợi trên mặt biển (như phá hủy hạm đội đóng tại quân cảng Phúc Châu, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hạm đội Nam Dương) cũng như đạt được một số thắng lợi trên chiến trường ở miền Bắc Việt Nam, nhưng do cuộc rút quân đột ngột tại Lạng Sơn vào cuối tháng 3 năm 1885, chính phủ Jules Ferry bị phe đối lập (đứng đầu là Georges Clémenceau) công kích kịch liệt, dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ này vào ngày 30.3.1885. Do đó, nước Pháp không muốn kéo dài cuộc chiến và đồng ý ký Hiệp ước Thiên Tân (ngày 9.6.1885) chấm dứt cuộc chiến tranh Pháp-Thanh. Để thực hiện hiệp ước này, hai phái đoàn đã được thành lập để tiến hành công tác phân định đường biên giới, bắt đầu bằng việc xác định ranh giới ở ải Nam Quan và vùng lân cận.

    Như bác sĩ Paul Neis đã kể lại, công tác này đã gặp trắc trở ngay từ đầu, không phải do phía Pháp mà do phía nhà Thanh cố tình gây rắc rối và tìm cách lấn chiếm. Có thể kể ra hai ví dụ. Một là ngay khi phái đoàn Pháp đến ải Nam Quan để dự phiên họp chính thức đầu tiên, phía nhà Thanh đã cho quân chính quy mang cờ tràn đến chiếm các vị trí thuộc lãnh thổ Việt Nam và cho dù có sự phản đối, họ cũng không chịu rút, có lẽ muốn uy hiếp phái đoàn Pháp về mặt tâm lý. Về sau, khi phái đoàn Pháp chính thức phản đối, các nhà ngoại giao của nhà Thanh thanh minh rằng họ hoàn toàn không biết về hành động của giới chỉ huy quân sự, và hành động vừa qua có lẽ cũng chỉ nhằm để thể hiện nhiệt tình chào đón phái đoàn Pháp. Ví dụ thứ hai là việc phía nhà Thanh tìm cách dời vị trí của ải Bosa (Bochaï) để lấn chiếm bốn làng của người Việt; nếu không có sự phản đối của đại diện các làng này thì có lẽ phái đoàn Pháp cũng không biết gì về sự thực này.

    Về phía Pháp, vì họ đàm phán mà không có mặt của triều đình nhà Nguyễ
    n nên sự am hiểu về vấn đề biên giới cũng có phần hạn chế; hơn nữa chính phủ Pháp cũng không muốn kéo dài cuộc đàm phán để có thể rảnh tay trong việc ổn định tình hình ở Việt Nam. Phía Trung Quốc biết chuyện đó, nên họ cố tình dây dưa và cố tìm phần lợi về cho mình. Bác sĩ Neis đã kể như sau về đường biên giới ở cửa Trung Hoa (tức ải Nam Quan):


    “Cửa Trung Hoa nằm ở đáy một khe núi (gorge) không sâu lắm, những ngọn đồi dốc đứng nghiêng bóng trên cửa ải chỉ có độ cao từ 50 đến 60m. Từ khi có hòa bình, người Hoa đã tái thiết lại cổng bằng đá chẻ và nó được nối liền với một bức tường có lỗ châu mai với những doanh trại phòng ngự bao quanh các ngọn đồi. Các ủy viên người Hoa giữ vững đòi hỏi rằng cái cổng và bức tường có lỗ châu mai không phải là đường biên giới; họ muốn có ít nhất là vài thước đất hoang nằm trước đó. Người ta đến tận nơi, và như một sự nhượng bộ lớn lao về phía chúng ta mà sau đó chúng ta không ngừng khoe khoang, chúng ta đã thỏa thuận rằng biên giới sẽ dựa theo dòng suối chảy dưới chân những  ngọn đồi của cửa Trung Hoa, cách khoảng 150 m trước cửa ấy. Đó là cái mà tôi gọi là phiên họp đầu tiên để xác định biên giới, sáu tháng sau khi chúng tôi khởi hành từ Pháp, ba tháng sau khi chúng tôi đến Đồng Đăng.”

    Trong thực tế, đường biên giới được xác định cách ải Nam Quan không phải là 150 m, mà là 100 m. Tác giả Trương Nhân Tuấn đã tìm thấy trong các thư khố ở Pháp một biên bản (procès-verbal) ký ngày 7 tháng 4 năm 1886 Đồng Đăng giữa hai phái đoàn Pháp và nhà Thanh với nội dung như sau:

    Ủy ban Phân định biên giới Pháp –Hoa thừa nhận, vào ngày 7.4.1886, rằng: tính từ một điểm cách 100m phía trước Cổng Nam Quan, trên con đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng, đường biên giới đi về phía tây lên đến đỉnh của núi đá trên đó trên đó có một cái đồn đánh dấu bằng chữ A trên tấm phác đồ kèm theo, từ cái đồn đó chạy theo đường đỉnh của dãy núi đá nhìn xuống con đường Đồng Đăng cho đến tận điểm B trên bản vẽ. Điểm B này nằm ở nơi giao nhau giữa con đường mòn với dãy núi đá, con đường mòn này tách ra khỏi đường lớn chạy từ Đồng Đăng đến Nam Quan dẫn đến cửa làng Lũng Nghiêu (Lung-Ngieu). Sau đó đường biên giới sẽ theo cùng con đường đó chạy đến cửa làng Lũng Nghiêu. Từ cửa làng đó nó chạy theo đường đỉnh của núi đá bọc quanh lòng chảo của làng Lũng Nghiêu để đi đến một điểm được đánh dấu bằng chữ C. Từ điểm C này nó chạy đến ải Kida .

    Ải Kida là ải nào? Để có thể hiểu rõ hơn, chúng ta có thể xem lại tấm bản đồ của đại úy Chapès năm 1894 (ảnh 10) do tác giả Trương Nhân Tuấn công bố, mà tôi xin mạn phép trích đoạn và phóng lớn như sau:

    Ảnh 10: Bản đồ Chapès (trích) 


    Chúng ta thấy đường biên giới đáng lẽ chạy ngang cửa quan (porte) đã phải lùi một quãng (100 m) về phía Việt Nam. Đường biên giới này chạy về phía tây đến đỉnh của núi đá, sau đó chạy dọc theo đường đỉnh của dãy núi đá vôi, vòng xung quanh làng Lũng Nghiêu (trong ảnh ghi là Lung-Ngau) thuộc địa phận Trung Quốc, rồi lại chạy theo đường đỉnh để đến ải Kida. Trong ảnh, ải này được ghi là Khua Da Aï (Neis phiên âm là Ki-da). Ngoài ải Ki-da, trong bản đồ ta còn thấy Bo Sa Aï (ải Bo Sa, chính là Bo-chaï đã kể trong bài bút ký). Hai ải này thuộc loại không cho phép thông thương, vì ĐNNTC cho biết tất cả các ải ở phía tây của ải Nam Quan đều không được phép thông thương.

    Cũng trên tấm bản đồ của Chapès, chúng ta thấy đường biên giới ở phía đông chạy theo một đường gần như thẳng góc với con đường đi Đồng Đăng, nối từ cột mốc số 18 với đường phân thủy của dãy núi ở phía đông. Ở phía đông-nam của ải Nam Quan, trên một ngọn đồi nối liền với dãy núi đất, có một vị trí của phía quân Pháp có ghi chữ “Blockhaus Francais en construction” (lô-cốt của Pháp đang xây dựng). Chính nhờ ngọn đồi có lô – cốt này và những vị trí cao hơn ở hướng đông-nam mà các sĩ quan và nhà nhiếp ảnh người Pháp đã chụp được những tấm ảnh toàn cảnh về ải Nam Quan mà chúng ta thấy trên đây.

    Như vậy là do Việt Nam bị mất chủ quyền, không có mặt trong đàm phán cho nên đã mất một phần đất tại ải Nam Quan do sự nhượng bộ của người Pháp đối với nhà Thanh. Đường biên giới vì thế lùi sâu vào lãnh thổ Việt Nam 100 m trước ải Nam Quan. Điều này giải thích rõ nghi vấn mà chúng ta đã nêu trên đây: tại sao ĐNNTC mô tả ải Nam Quan “có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở”, trong khi trên một số tấm bưu ảnh chụp vào thời Pháp thuộc, chúng ta thấy có đến hai cửa và hai lớp tường gạch chạy song song – ít nhất là ở phần dưới thấp, tiêu biểu là tấm ảnh sau đây do Chân Mây sưu tầm (ảnh 11):

    Ảnh 11: Ngõ vào Cửa Trung Hoa và bức trường thành


    Vào năm 1908, cuộc nổi dậy của những người thuộc phái Tôn Trung Sơn đã bắn phá và làm thiệt hại cho hai bức tường cũng như hai cửa ải ở Nam Quan. Dòng chữ in bằng tiếng Pháp và dòng chữ viết thêm trên tấm bưu ảnh này có nghĩa là: “Lối vào cổng Trung Hoa (tức ải Nam Quan) và bức trường thành: cách Lạng Sơn 15 km. Các thành lũy và trạm gác bị bắn phá bởi những người cải cách (réformistes) vào năm 1908 và đã có nhiều thiệt hại về vật chất.” 

    Việc đẩy lùi đường biên giới 100 m về phía Việt Nam rõ ràng là một hành động xâm phạm lãnh thổ Việt Nam. Nếu coi đó là một căn cứ pháp lý thì đó cũng chỉ là sự hợp pháp hóa một hành vi bất hợp pháp, do chỗ Việt Nam bị mất chủ quyền ở Bắc Kỳ vào tay người Pháp kể từ Hiệp ước Patenôtre (1884). Nếu như ở cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc đều có những chính quyền thật sự đại diện cho nhân dân hai nước, và nếu hai quốc gia đều thực hiện đúng đắn chính sách về một đường biên giới hữu nghị thì phía Trung Quốc phải xóa bỏ văn bản ký kết bất bình đẳng đó và trả lại cho Việt Nam 100 m mà nhà Thanh đã lấn chiếm bất hợp pháp, chứ không thể lợi dụng điều đó để tiếp tục lấn chiếm thêm đất đai nhằm xóa bỏ hình tượng “ải Nam Quan” trong lòng người dân Việt.

    Tóm lại, đường biên giới lịch sử tại Ải Nam Quan và đường biên giới pháp lý do Hiệp ước Pháp-Thanh quy định vào cuối thế kỷ 19 là hai đường biên giới hoàn toàn khác nhau. Đường biên giới lịch sử hình thành vào khoảng thập niên 30 của thế kỷ 16 nằm ngay tại vị trí của ải Nam Quan và được xác định bằng cửa ải cũng như hai bức tường xây hai bên cửa ải, đúng như ĐNNTC mô tả. Đường biên giới lịch sử đó đã tồn tại ba thế kỷ rưỡi và tạo ra hình tượng “ải Nam Quan” trong văn học và sử học Việt Nam. Nhiều thế hệ người Việt – như thế hệ chúng tôi và nhiều thế hệ trước đó, mỗi khi nhắc đến cái tên “ải Nam Quan”, đều hình dung đó là điểm khởi đầu của Tổ quốc. Còn đường biên giới pháp lý hình thành vào cuối thế kỷ 19 thật ra là hậu quả của một thứ hiệp ước bất bình đẳng được ký giữa nhà Thanh với nước Pháp, trong hoàn cảnh dân tộc ta bị mất chủ quyền.

    Bất cứ người Việt yêu nước nào cũng không thể chấp nhận luận điểm “đường biên giới luôn nằm phía nam ải Nam Quan” và coi đó là chân lý, bởi vì luận điểm đó là do nhà Thanh ngụy tạo nhằm lấn chiếm biên giới. Những người cộng sản Trung Quốc tiếp tục nêu luận điểm đó là do ý đồ tiếp tục lấn chiếm biên giới theo gương các tiền nhân của họ. Về phía người Việt Nam, bất cứ ai tự nhận mình là người Việt đều phải có nghĩa vụ tìm hiểu cặn kẽ lịch sử của đất nước thông qua các tư liệu lịch sử do cha ông để lại, đối chiếu chúng với thực tế và các tư liệu khách quan khác (ví dụ: các tư liệu của người Pháp), chứ không thể vội vàng tin vào các chứng cứ ngụy tạo mà phía Trung Quốc trao cho và nhiệt tình làm người phát ngôn hay người bảo vệ luận điểm cho phía họ.

    Lịch sử bao giờ cũng công bằng. Cho dù người ta cố tìm cách xuyên tạc, bóp méo lịch sử vì ý đồ cá nhân hay phe phái, lịch sử bao giờ cũng căn cứ vào sự thật, mà che giấu sự thật là điều bất khả thi; bởi vì người ta có thể lừa dối một người nào đó suốt đời hay lừa dối nhiều người trong một quãng thời gian nào đó, nhưng không ai có thể lừa dối mãi mãi cả một dân tộc!

    Nhân kỷ niệm 64 năm ngày Cách mạng Tháng Tám 19.8.1945 – 19.8.2009
    Đà Lạt, 4.8.2009

    Bài do tác giả gửi đến Đàn Chim Việt

    Tài liệu tham khảo
    1) Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển, Trường Thi, In lần thứ 3, Sài Gòn 1957
    2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản cũ (đời Tự Đức), bản dịch của Phạm Trọng Điềm do Đào Duy Anh hiệu đính, Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, 1997, 6 tập
    3) Docteur P. Neis, “Sur les frontières du Tonkin”, in Tour du monde,
    Vol LIV: 1888 – 1er semestre, pp. 312-416. Bản điện tử đăng ở địa chỉ:

    http://collin.francois.free.fr/Le_tour_du_monde/textes/Tonkin/Neis.htm
    4) Đại Việt sử ký toàn thư, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1679), Hoàng Văn Lâu và Ngô Thế Long dịch và chú thích, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, 4 tập
    5) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học, Nxb Giáo dục tái bản, 2001-2007, 10 tập
    6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Viện Sử học, Nxb Giáo dục tái bản, 2007, 2 tập
    7) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Trung tâm Học liệu – Bộ Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1971, 2 tập
    8) Trương Nhân Tuấn, “Tìm hiểu về Ải Nam Quan qua một vài tài liệu”, talawas 10.10.2008,
    http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14450&rb=0302
    9) Trương Nhân Tuấn, “Trao đổi với ông Lê Công Phụng về lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và hai hiệp ước biên giới Việt – Trung”, talawas 21.20.2008,
    http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14530&rb=0302
    10) Trương Nhân Tuấn, "Tìm hiểu Đại Nam Quan và giới thiệu sách Biên giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành hình và những tranhchấp“, Đàn Chim Việt Online, 22.8.2005:
    http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=493
    11) Trần Gia Phụng, “Vài sử liệu về Ải Nam Quan”, Thư viện Tiếu Lùn, 2003-06-21
    http://tieulun.hopto.org:25000/download.php?file=VaiSuLieuVeAiNamQuan
    12) Trần Gia Phụng, “Ải Nam Quan trong lịch sử”, Thư viện Tiếu Lùn, 2006-12-25:
    http://tieulun.hopto.org:25000/download.php?file=AiNamQuanTrongLichSu
    13) Institut Franco-Asiatique (IFA), Bản điều trần của các sĩ Trần Đại Sỹ, 10.11.2001,
    http://www.mevietnam.org/lanhtho-lanhhai/tds/tds-dieutran-a.html
    14) Hà Mai Phương – Lưu Chu Thanh Tao, “Từ Cửa Nam Quan đến Ải Chi Lăng, Châu Ôn và núi Phân Mao”, Thư viện Tiếu Lùn, 2002-06-18:
    http://tieulun.hopto.org:25000/download.php?file=CuaNamQuanDenAiChiLang
    15) Từ Mai, “Một số sử liệu liên quan tới biên giới Việt Hoa”, Mạng Ý kiến: http://www.ykien.net/tl_tm_sulieu.html
    Do trang “Mạng Ý kiến” bị phá hoại, hiện nay không thể tìm được bài này ở địa chỉ nói trên.
    16) Nguyễn Đình Sài, “Biên giới Việt-Trung: Đi tìm sự thật sau những che giấu”; Sự thật về Ải Nam Quan (phần 2), Hội chuyên gia Việt Nam, 11.12.2002: http://www.vps.org
    17) Chân Mây, “Tài liệu hình ảnh hiếm quý chứng minh Ải Nam Quan là của Việt Nam”, Diễn đàn Một góc phố, 18.6.2009:
    http://motgocpho.com/forums/showthread.php?t=11258&goto=nextoldest
     


    Chú thích:

    1) ĐNNTC, sđd, tập 4, tr. 390-391
    2) Bảo là trại lính lớn hơn đồn. Đồn là một chỗ đóng quân không có thành lũy, bảo là chỗ có đắp đất làm thành nhỏ đóng quân. Xem ĐNNTC, sđd, tập 4, tr. 406, chú thích 1.
    3) P. Neis, sđd, ch. 3
    4) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, sđd, tập I, tr. 134-137
    5) Trần Trọng Kim, sđd, tập I, tr. 220

    6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử  thông giám cương mục, Chính biên, XII, 14; sđd, tập 1, tr. 705
    7) ĐNNTC, sđd, tập 4, tr. 385-386
    8) Đại Việt Sử ký toàn thư, sđd, tập III, trang 121
    9) Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư địa chí , NXB Tự Do Sài Gòn, 1959, trang 451. Trích theo Nguyễn Đình Sài, bđd, http://www.vps.org
    10) ĐNNTC, sđd, tr. 366
    11) ĐNNTC, sđd, tr. 384-385
    12) "Hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc là nguyện vọng chung và lợi ích lớn của nhân dân hai nước”, báo Nhân dân 2.1.2008.
    Ngày 26.2.2009, ông Vũ Dũng được Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì vì những thành tích xuất sắc trong công tác biên giới lãnh thổ và ngày hôm sau, lên đường nhận nhiệm vụ Đại sứ, Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc ở Geneva, Thụy Sỹ (tin Vietnam Net).
    13) Hiệp ước này đã không được Quốc hội Pháp thông qua, và được thay thế bằng Hiệp ước Patenôtre ngày 6.6.1884, được ký tại Huế giữa Jules Patenôtre với Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật. Hiệp ước Patenôtre (còn gọi là Hòa ước Giáp Thân) lặp lại những nội dung chính của Hiệp ước Harmand, nhưng có sửa đổi một số điều khoản cho nhẹ hơn.
    14) Docteur P. Neis, bđd, chap. VI
    15) Tác giả Trương Nhân Tuấn cho rằng ải Kida (Khua Da) là ải Du. Thật ra, ải Du hay ải Du Thôn là Ai Ro, nằm ở hướng đông-bắc của ải Nam Quan, còn ải Kida (Khua Da) nằm ở phía tây – tây-bắc của ải Nam Quan. Ải Du là ải được phép qua lại, trong khi ải Kida là ải cấm qua lại.
    16) Trương Nhân Tuấn, “Tìm hiểu về Ải Nam Quan qua một vài tài liệu”, bđd,
    http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14450&rb=0302
    17) Trong ĐNNTC có tên núi Khiếu Đá, có thể đó chính là tên mà người Pháp phiên âm thành Kida hay Khua Da. ĐNNTC, sđd, t.4, tr. 390.


  • Biên khảo

    Trung Hoa cầm nhầm : TỬ CẤM THÀNH

    TỬ CẤM THÀNH 

    …Nguyễn An là kiến trúc sư trưởng của công trình này. Thiết kế bậc thầy của ông dựa trên những chuẩn mực lâu đời. Không có chi tiết nào được phát thảo một cách ngẫu nhiên, mà tất cả đều mang một ý nghĩa biểu trưng nào đó.

    “Làm thế nào mà Nguyễn An lại có thể xây dựng một cung điện đồ sộ như thế chỉ trong có 3 năm?…
     

     

     – – – oOo – – –

     

     
     
    Trong một bộ phim do đài truyền hình Ðức thực hiện và được phụ đề Việt ngữ vì nội dung của cuốn phim nhằm ca ngợi công trình kiến trúc tuyệt vời của một người Việt Nam. ma người Tàu cầm nhầm hàng mấy trăm năm qua, nay đã bị thế giới phanh phui.
     
    TRẺ VIỆT ÂU CHÂU PHỤ ÐỀ VIỆT NGỮ CHO PHIM ÐỨC CA NGỢI NGƯỜI VIỆT XÂY TỬ CẤM THÀNH BẮC KINH
     
     

    Tử Cấm Thành – Bản di chúc của một bạo chúa – Phần 1/6
     
    Tử Cấm Thành – Bản di chúc của một bạo chúa – Phần 2/6
     
    Tử Cấm Thành – Bản di chúc của một bạo chúa – Phần 3/6
     
    Tử Cấm Thành – Bản di chúc của một bạo chúa – Phần 4/6
     
    Tử Cấm Thành – Bản di chúc của một bạo chúa – Phần 5/6
     
    Tử Cấm Thành – Bản di chúc của một bạo chúa – Phần 6/6
    http://www.youtube.com/v/6ESJMIAtbRk&hl=en&fs=1
     
     


    Trên các diễn đàn Internet vừa xuất hiện một bộ phim do đài truyền hình Ðức thực hiện và được phụ đề Việt ngữ vì nội dung của cuốn phim nhằm ca ngợi công trình kiến trúc tuyệt vời của một người Việt Nam. Kiến trúc này đã được người Tàu cầm nhầm hàng mấy trăm năm qua, nay đã bị thế giới phanh phui.
    Công việc phụ đề Việt ngữ cho bộ phim lịch sử này do 3 người trẻ ở Âu châu khởi xướng và thực hiện. Thoạt tiên do cô Phương Thùy (Finland) giới thiệu và Xuân Trường cùng Cẩm Vân (Germany) bắt tay thực hiện và hoàn tất vào giữa tháng 9, 2009.
    Mọi người có thể download và xem thoải mái trên YouTube hoặc vào trang nhà
    Bộ phim “Tử Cấm Thành: Bản Di Chúc Của Một Bạo Chúa” được phát hình rộng rãi từ tháng 11 năm 2008. Nội dung phim xoay quanh bạo chúa Tàu triều Minh, Thành Tổ Vĩnh Lạc, tức Chu Ðệ, con thứ tư của vua khai sáng triều Minh Chu Nguyên Chương. Từ bé, Chu Ðệ được đánh giá là người đa mưu, túc trí. Khi mới 9 tuổi đầu, Chu Ðệ đã một mình, không cần tùy tùng, có thể tự mưu sinh được trong rừng sâu núi thẳm.
    Sau khi dấy binh cướp ngôi vua từ tay ấu chúa vốn là cháu của mình, Chu Ðệ đã ra tay tàn sát tất cả triều thần cũ để trừ hậu hoạn và thay vào đó, ông trọng dụng thái giám.
    Trong đám thái giám cận thần, có Nguyễn An, nguyên là tù binh từ Việt Nam, được Chu Ðệ giao cho việc vẽ kiểu và chỉ huy hàng triệu nhân công để xây dựng cung đình, nội phủ cho Minh triều.
    Phim có đoạn mở đầu thật hay:
    “Tử Cấm Thành giữa trung tâm Bắc Kinh, một thời là nơi ngự triều của những hoàng đế Trung Hoa hùng mạnh, ngày nay vẫn là cung điện lớn nhất trên thế giới. Lịch sử của nó gắn với hoài bão của một con người. Tên ông ta là: Chu Ðệ.
    “Chu Ðệ là một kẻ tiếm ngôi, ông đã dùng bạo lực để dành quyền thống trị Trung Hoa. Chu Ðệ đày đọa tất cả những ai cản trở tham vọng quyền lực tuyệt đối của mình. Biểu tượng quyền lực của vị hoàng đế này là Tử Cấm Thành, một thế giới đầy bí ẩn với những nghi lễ duy trì từ đời này sang đời khác.
    “Viên thái giám Nguyễn An là kiến trúc sư trưởng của công trình này. Thiết kế bậc thầy của ông dựa trên những chuẩn mực lâu đời. Không có chi tiết nào được phát thảo một cách ngẫu nhiên, mà tất cả đều mang một ý nghĩa biểu trưng nào đó.
    “Làm thế nào mà Nguyễn An lại có thể xây dựng một cung điện đồ sộ như thế chỉ trong có 3 năm?
    “Tham vọng xây dựng một cung điện sánh ngang với đất trời của Chu Ðệ đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên công trình để đời của ông lại chứa đựng sẵn trong nó mầm mống của sự suy tàn…”
    Thế mà suốt trong 600 năm liền, người Tàu dấu nhẹm tác giả công trình xây dựng Tử Cấm Thành, niềm hãnh diện của dân tộc và đất nước Trung Hoa. Nay thì đã có các công trình soi sáng lịch sử, đưa sự thật ra công luận.
    Ðầu tiên là đại học Cambridge, Hoa Kỳ, vào năm 1986, ghi thuật chi tiết việc kiến trúc Tử Cấm Thành vào thời Minh Thành Tổ, do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt Nam đảm trách.
    Tháng 9 năm 2008, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam tại Little Saigon, California, cho xuất bản tác phẩm Việt Nam: Suối Nguồn Văn Minh Phương Ðông của tác giả Du Miên. Ðề tài người Việt Nam vẽ kiểu và xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh chiếm ¼ nội dung tác phẩm.
    Tháng 11 năm 2008, đài truyền hình ZDF Dokukanal (Germany) thực hiện bộ phim Tử Cấm Thành Bắc Kinh: Bản Di Chúc Của Một Bạo Chúa, một lần nữa làm sáng tỏ thêm về tác giả công trình kiến trúc đồ sộ bậc nhất thế giới này: Nguyễn An, một tù binh Việt Nam.
    Gần đây, Trung Cộng được thế giới để ý nhiều trên cả 2 mặt xấu và tốt. Sự phát triển kinh tế và bành trướng sức mạnh quân sự của TC đã được ví von là ngang ngửa với siêu cường Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, thế giới đã thận trọng với những gì liên quan đến nhãn “Made in China”, thường là hàng nhái, kém phẩm chất và đôi khi đầy chất độc hại.
    Tại các nước láng giềng, TC càng củng cố quyết tâm đồng hóa Tây Tạng; kiềm tỏa Miến Ðiện, Bắc Hàn và chứng tỏ vai thiên tử và chư hầu giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
    Mối bang giao “hữu hảo” giữa TC và VC ngày càng hé lộ nhiều âm mưu toan tính thâm độc đã khiến cho người Việt khắp nơi trên thế giới đặc biệt quan tâm.
    Chủ nhựt 1 tháng 11 năm 2009, tại hội trường Madison District Government Center, số 6507 Clumbia Pike, Annandale, VA 22312 (vùng thủ đô Hoa thịnh đốn), sẽ có một cuộc hội thảo liên quan đến mối giao hảo Tàu Việt trong bối cảnh toàn cầu. Nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động khắp nơi cùng xuất hiện để cùng mọi người quan tâm đến tương lai đất nước, thảo luận, trao đổi.

  • Biên khảo

    Nhã Thanh Sử : SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH

    SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH

    Nguyễn Ái Quấc – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, những cái tên của những con người bí ẩn trong lịch sử. Viết về những người này, có quá nhiều dữ liệu cần phân tích, cần rất nhiều trang lý luận với nhiều chủ đề khác nhau, việc này cần nhiều thời gian xin dành cho các sử gia chuyên nghiệp. Còn tôi, trong khi chờ đợi các sử gia lên tiếng, tôi xin viết một số ý nhỏ, một cách thật đơn giản sao cho mọi người đều có thể hiểu được. Trong bài viết hạn hẹp này, tôi chỉ đề cập tới Hồ Chí Minh.

    NHÃ THANH SỬ

     

    NHỮNG NGƯỜI MANG TÊN HỒ CHÍ MINH

    "Hồ Chí Minh", theo như công bố của đảng Cộng sản, là "một người" đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09/1945 và mất ngày 02/09/1969. Sự thật, "Hồ Chí Minh" không phải là một người, mà tất cả là "5 người gồm 1 Thật và 4 Giả".

     

    Xin quí vị mở link dưới để đọc tiếp.
     
  • Biên khảo

    Chân Mây : Ô Nhục Ải Nam Quan

    Vietnam History

    http://www.youtube.com/watch?v=5s4q68h_nfA

    *********************************

    AI NAM QUAN!

    Ô Nhục Ải Nam Quan (Chân Mây)

    LGT: Những bức ảnh của tác giả Chân Mây trong tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" là những tài liệu lịch sử vô cùng giá trị. Chúng nói lên sự bán nước trắng trợn của chế độ cộng sản Việt Nam.

    Xem hình mà bồi hồi, quặn thắt, một nỗi ray rứt thức dậy trong hồn. Cám ơn tác giả Chân Mây đã cung cấp những dữ kiện cho ngàn đời sau biết được những gì xẩy ra cho dân tộc hôm nay, để không quên tội ác của tập đoàn Việt gian phản quốc Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc. 

    Xin trân trọng giới thiệu tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" của tác giả Chân Mây đến cùng quý độc giả trong ngoài nước.

    —————————–

    12/06/2009

    Ven trời góc biển buồn chim cá
    Dạn gió dày sương tủi nước non
    Thượng Tân Thị

    Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!
    Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn.

    Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!

    Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
    Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

    Chương I

    NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ

    Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C…Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.

    – Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
    – Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
    – Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
    – Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
    – Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
    – Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
    – Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.

    Diễn tả

    1, Nhóm hình A:

    Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)

    A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1)
    Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung).

    A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2)
    Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1).

     

     A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến”
    Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2.

     

    A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ”
    Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình.

     

    2, Nhóm hình B:
    Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

    B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng
    Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
    Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C).

    Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

    B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng
    Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc).

     

    B3. Bang giao tại Ải Nam Quan
    Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan.

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×512 và nang 161KB.

     

    B4. Cổng Ải Nam Quan
    Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C).

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×512 và nang 122KB.

    Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

    3. Nhóm hình C

    C1. Trấn Nam Quan (1)
    Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi.

     

    C2. Trấn Nam Quan (2)
    Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay.

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×504 và nang 165KB.

    C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan
    Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4.

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×516 và nang 75KB.

    C4. Trấn Nam Quan (3)
    Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
    Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.

    Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.

     

    4, Nhóm hình D

    D1. Cổng Nam Quan (1)
    Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2).

     

    D2. Cổng Nam Quan (2)
    Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam.

     

    5, Nhóm hình E

    E1. Không xác định (1)
    Một hình ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là “Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có tiêu đề “Chine – NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap” là gì nhưng hình xác định là Nam Quan trên đất Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay không? Hay là thuộc Trấn Bình Nhi Quan?
    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 800×518 và nang 112KB.

    E2. Không xác định (2)
    Quân đội Trung Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam Quan”.

    Phụ ảnh: Hình chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị Quan)

     

    E3. Không xác định (3)
    Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rõ niên đại của hình. Chung với hình E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đã giải thích (mục 3, nhóm hình C).

    6. Nhóm hình F

    F1. Toàn cảnh Ải Nam Quan
    Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào lãnh thổ Đông Dương. Hình được mô tả: “…thấy được đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc, ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.

    Từ cao điểm như trong hình ta thấy rõ vị trí lô cốt như đã xem qua hình B2. Có khả năng lô cốt đã xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của Việt Nam . Và còn “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trãi, có ai nhận ra chưa?…Nước mắt!

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×768 và nang 235KB.  

     

    Phụ ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng)
    Những người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật (25.09.1940)

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×768 và nang 224KB.

    F2. Cột Mốc Số 18
    Do quân đội Nhật Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác định lãnh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước Châu Âu.
    Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “
    Trung Việt Quốc Giới, Trấn Nam Quan Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu – No.18
    FRONTIERE”
    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 768×1024 và nang 199KB.

     

    F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột mốc số 18
    Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13 (1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng khung)

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×669 và nang 61KB.

     

    F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965)
    Đây là một bằng chứng sống động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải thích như sau.

    “Hình trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống. Bên trái là Hữu Nghị Quan, vòng tròn màu vàng là cao điểm tranh chấp Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây hình tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa hình có hai cửa đường hầm là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng Tường”

    Nguyên văn:
    ]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区 蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。

    Tham khảo tại đây:
    http://military.china.com/zh_cn/hist…2461442_1.html

    Tôi xin thuyết minh thêm. Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong hình chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đã tuyên bố hoàn tất gỡ bỏ tấm đạn địa lôi (mìn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho “vùng Hữu Nghị, Hòa bình vạn tuế!”. Trong các hình ảnh của chương tiếp theo ta sẽ rõ hơn về vị trí này. Ở đây ta đã có khái niệm về việc Ải Nam Quan đã mất trong cự ly ra sao! Việc mất lãnh thổ qủa là nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong hình có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm hình là đường ra vào của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km. Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang hình thành!).
    Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đã bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công trình trong nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền CSVN. Hay nói đúng hơn là đã có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan từ hàng chục năm trước?

    F5. Ảnh chụp vệ tinh vị trí của Hữu Nghị Quan
    Khu vực Hữu Nghị Quan (đóng khung) so với đường biên giới Trung-Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung-việt năm 1979. Lúc này, Hữu Nghị Quan đã nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời…Hồ Chí Minh!

    “Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương…”
    Ải Nam Quan đã mất, Đất thiêng đã mất! Có ai còn nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trãi?

    —————–

    Chương II: “Kẻ Bán Ải Nam Quan và Km Zéro ô nhục!”

     

    (Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ)

    (Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN)

    (Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!". Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC)

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 940×896 và nang 126KB.

    (Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN)

    (Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN )

    (Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ" do chính HCM ký tặng)

    (Hoặc do PVĐ ban thưởng)

    (Năm 1968, hai bác Hồ – Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN)

     

     

     

    "Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng đạn, nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta!” (người anh em đồng chí TC nói!)

    Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978

    Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.

     

    Dấu đạn giao tranh Trung-Việt trên khắp tường thành "Hữu Nghị Quan"

    Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng

     

    Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại "Km0" trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×515 và nang 80KB.

     

    Phụ ảnh tham khảo "Cột Mốc Số 18" giả mạo (?)

    Đây là "Cột Mốc Số 18" mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với "Cột Mốc Số 18" theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: "BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam". Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: "Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác!"

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×718 và nang 405KB.

     

    Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).

    Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.

     

    "Km0" trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN. Đáng nể!

     

    "Km0" trong những năm đầu 2000, khi đang xây dựng lại cảnh quan "Hữu Nghị" và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi "Hữu Nghị Quan" và "cây si PVĐ" còn đó

     

    "Cây si PVĐ" bị đốn bỏ dã man vào năm 2005. Cột mốc cũng chỉ còn chữ "Hữu Nghị". Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ "Quan". Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC!

     

     

    "Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan!

    "Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan!

     

    "Km0" trong những ngày năm 2006.

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 1024×768 và nang 214KB.

    Gần lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC.

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 813×641 và nang 211KB.

    Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC.

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 900×675 và nang 223KB.

     

     

    Ngang với "Km0" là giao điểm Quốc lộ 322 (điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu) của VN!

    "Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm"

    Nhìn sang VN. Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan VN. Khoảng cách "thủ lễ" đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản. Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vậy! Ải Nam Quan nào là của VN? Bọn Ô nhục!

    Tam hình này da duoc thu nho lai de vua voi kich thuoc trong Dien Dan. Bam vào day de xem hình lon hon. Kich thuoc nguyen thuy la 843×577 và nang 153KB.

     

    Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam, nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận…Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng, công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “Km0”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi, thay ngọai bang thảm sát dân tộc, giết chết lịch sử quê hương! 

     ——————————

    Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn "bản lĩnh" đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

    Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam

    Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung-Việt. Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.

    Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng!
    Còn người Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa. Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh "Hữu Nghị"!


    Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại, nhàn nhã như ở nhà. Chụp hình ư? Chuyện nhỏ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ!

     

    Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!

     

    Đứng hai chân trên biên giới!

     

    Chụp các kiểu!

     

    Và ngồi lên "Km0" của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ VN!

     

    Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng 04.2007)

     

    Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước!

      

    Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành hương

     

    Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước!
    "Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung" (Tổ quốc trong tim ta)

     

    Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham dự, ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn cười?

     

     

    Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đã nối vào khu tự trị Quảng Tây!

    Phi Khanh hỡi! Người còn ngồi nói những lời xưa?

    "Con yêu hỡi chớ xuôi lòng mềm yếu!…"

    Chân Mây 

  • Biên khảo

    Việt Dương Nhân : Ngày Cá Tháng Tư (1/4)-Lịch sử Ngày Nói dối

    "Cá 1 tháng tư" là chuyện của mấy thằng Tây da trắng. Dân Việt mình bày đặt …. chi tùm lum …
    Hồi đó tui học chương trình Pháp GS có giảng cho ngheBa của VDN

    Ngày Cá Tháng Tư (1/4)-Lịch sử Ngày Nói dối

    Ngày cá tháng tư, còn gọi là ngày nói dối, là ngày hội vui vẻ, hấp dẫn đối với những người tinh nghịch và hài hước. Ngày 1 tháng 4 là ngày được chú ý ở nhiều nước. Ngày mà bạn bè có thể bị lừa hoặc chơi khăm mà không sợ bị giận. Cá tháng tư dù không phải là ngày nghỉ lễ chính thức nhưng vẫn được rất nhiều nước tổ chức kỉ niệm hàng năm vào đúng ngày 1 tháng 4, bằng cách tung nhiều tin đồn hoặc nói xạo, nói đùa về rất nhiều chủ đề khác nhau nhằm tạo niềm vui hay trêu chọc ai đó. Cẩn thận kẻo bị biến thành cá !

    Lich su ngay Ca thang Tu(Chào mừng Ngày Nói dối, Ngày 1 tháng tư)

    Những tin giả như thế thường được tung ra trong cả ngày 1 tháng 4 ở hầu hết các nước như Hoa KỳPhápIreland,… trong khi một số quốc gia khác nó phải được chấm dứt vào giữa trưa như AnhCanadaÚcNew Zealand… Không giống như hầu hết các ngày đặc biệt khác trong năm, ngày Cá tháng Tư có lịch sử không rõ ràng. Mỗi nền văn hóa khác nhau lại có lịch sử và thời gian kỷ niệm ngày Nói dối khác nhau, nhưng thường vào ngày đầu tiên của mùa xuân. Những người hay đùa và hài hước tại nhiều nước giờ đây đang háo hức chuẩn bị các “chiêu” để đánh lừa bạn bè và người thân vào ngày Cá tháng Tư (1/4). Nhưng không ai biết chính xác truyền thống này có từ khi nào, tại sao và ở đâu.



    Nước Pháp được coi là quê hương của ngày Cá tháng Tư. Trước đây, người Pháp đón năm mới ngày 25/3 và kéo dài trong tám ngày. Những trò vui lên tới đỉnh điểm vào ngày 1/4. Đến năm 1582, lịch Gregory được đưa vào sử dụng, dưới triều đại vua Charles IX. Theo đó, năm mới bắt đầu từ ngày 1/1.

    Tuy nhiên, do phương tiện liên lạc thời đó còn lạc hậu, người ta truyền tin chủ yếu bằng cách chạy bộ nên nhiều người nhận được tin đổi lịch chậm mất vài năm. Những người khác tuy biết vẫn không chấp nhận lịch mới và tiếp tục đón năm mới vào ngày1/4. Trò ngoan cố này bị quy là “ngớ ngẩn” và trở thành trò cười cho thiên hạ.

    Cùng với thời gian, trò đùa vào ngày 1/4 trở thành truyền thống và lan từ Pháp sang Anh và Scotland (thế kỷ 18). Người Anh và người Pháp đưa tục lệ nói dối sang các thuộc địa ở Bắc Mỹ. Từ đó, ngày Cá tháng Tư trở thành một lễ hội quốc tế được chấp nhận ở nhiều nước khác nhau. Người dân ở mỗi quốc gia tiếp nhận truyền thống này theo những cách riêng, “đóng dấu bản quyền” để trêu gia đình và bạn bè.

    Ví dụ, Scotland có tới 2 ngày Cá tháng Tư. Ngày thứ hai đặc biệt để trêu ghẹo phần sau lưng của mỗi người nên được gọi là “Ngày vuốt đuôi”. Đây được coi là ngày phát sinh của trò đùa “Hãy đá tôi một phát”.

    Mexico là kỷ niệm ngày Nói dối vào 28/12. Đó là một thời khắc buồn trong lịch sử đất nước này vì đúng ngày đó, vua Herod ra lệnh thảm sát trẻ em vô tội. Vì thế, những trò trêu ghẹo chỉ mang tính chất nhẹ nhàng.

    Những trò nói dối vui vẻ có vẻ như trùng với thời điểm mùa xuân đến từ thời La Mã cổ đại và người Xen-tơ, vốn có truyền thống mừng ngày hội gây bất hòa. Những ghi chép đầu tiên về ngày Cá tháng Tư xuất hiện tại châu Âu trong thời Trung Cổ (khoảng năm 1.100-400 sau Công nguyên).
    Có vài dấu vết về ngày Cá tháng Tư trong thần thoại La Mã, đặc biệt là câu chuyện về Nữ thần Ceres mùa màng và con gái bà, nàng Proserpina.
    Theo thần thoại La Mã, thần cai quản địa ngục Pluto đã bắt cóc nàng Proserpina và đưa nàng tới sống cùng ông ở địa ngục. Cô gái đã gọi mẹ nhưng nữ thần Ceres chỉ nghe thấy âm vang giọng nói của con gái và đi tìm kiếm cô trong tuyệt vọng.

    Những cuộc tìm kiếm vô vọng đó, hay các cuộc rượt đuổi ngỗng trời, đã trở thành chuyện cười phổ biến tại châu Âu trong các thế kỷ trước.
    Giả thuyết phổ biến nhất về nguồn gốc ngày Cá tháng Tư xuất phát từ việc chuyển đổi lịch Julian cũ sang lịch Gregorian – hệ thống lịch do Giáo hoàng Gregory XIII (1502-1582) đưa ra vào cuối thế kỷ 16 và cũng là hệ thống lịch mà thế giới ngày nay vẫn dùng.
    Theo lịch Julian, năm mới được tổ chức trong khoảng thời gian từ 25/3 đến 1/4 nhưng theo lịch Gregorian, năm mới đến vào ngày 1/1. Những người không được thông báo về sự thay đổi này, hoặc kiên quyết giữ truyền thống cũ, thường bị chế giễu. Từ đó nảy sinh những câu chuyện cười nhằm vào họ vào thời điểm năm mới theo lịch cũ.
    Tại Pháp, những người hay đùa thường dính cá vào những người theo truyền thống cũ, nên mới có tên gọi là “Poisson d’Avril” hay Cá tháng Tư. Nhưng giả thuyết này cũng không lý giải được tại sao ngày hội nói dối lại lan sang nhiều nước khác ở châu Âu vốn không sử dụng lịch Gregorian cho tới tận sau này.
    Tại Scotland, ngày Cá tháng Tư có tên gọi là April “Gowks” – tên khác của một loài chim cúc cu. Nguồn gốc của tấm biển “Đá tôi” cũng có thể xuất phát lễ kỷ niệm ngày April “Gowks” của người Scotland.

    Những năm gần đây, các đài phát thanh, chương trình truyền hình và các trang web trên khắp thế giới thường nói đùa bạn đọc và người nghe vào ngày Cá tháng Tư. Một trong những lời nói dối nổi tiếng nhất là năm 1957 khi đài BBC của Anh phát bộ phim tài liệu về mùa thu hoạch mì ống thường niên tại Thụy Sỹ. Phim quay cảnh một gia đình đang lượm những sợi mì từ “các cây mì spaghetti”. Món mì Italia rất được ưa chuộng tại Anh thời điểm đó và nhiều người Anh đã “ngây thơ” tin vào trò lừa củaBBC tới nỗi họ muốn tìm hiểu xem làm thế nào để có thể tự trồng được các cây spaghetti!
    Vào ngày Cá tháng Tư năm 2007, công cụ tìm kiếm trên internet Google đã thông báo cung cấp dịch vụ mới Gmail Paper, nơi người sử dụng dịch vụ thư miễn phí có thể lưu giữ email vào kho lưu trữ giấy mà Google sẽ in ra và rồi gửi cho họ miễn phí. Năm 2008, Google đã mời mọi người tham gia dự án thám hiểm sao Hoả.
    Vì thế, khi lướt web hoặc xem tivi hôm nay, bạn hãy cảnh giác về những gì nhìn thấy và đọc được, nếu không bạn có thể bị mắc lừa trong ngày Cá tháng Tư. An Bình.

    Những trò đùa của ngày Cá tháng Tư có thể chỉ rất đơn giản (“bạn chưa buộc dây giày kìa”) nhưng cũng có khi gây ra hậu quả nghiêm trọng (như vặn đồng hồ của cậu bạn cùng phòng chậm tới một tiếng). Dù đùa kiểu gì, kẻ lừa gạt vẫn hoàn toàn vô tội bằng cách nói với “nạn nhân”: “Ngày Cá tháng Tư mà”.

    Các phương tiện truyền thông cũng không đứng ngoài cuộc vui một năm chỉ có một lần này. Trong ngày cả thế giới nói dối, truyền hình Anh từng chiếu một bộ phim ngắn và rất chi tiết về việc những người nông dân Anh thu hoạch vụ mùa spaghetti.

    Ngày Cá tháng Tư chỉ là một ngày vui. Đó không phải là một lễ hội để công chức được nghỉ làm và trẻ em không phải đến trường. Chỉ là một ngày vui nho nhỏ, nhưng ai cũng cần “đề cao cảnh giác” kẻo lại trở thành “con cá ngớ ngẩn” của năm nay. (theo Wilstar &  LiveScience)

    __________________
    "Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
    Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
    Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
    Căm giặc cộng (BÁN) non sông Hồng Lạc"
    (YTKCPQ)

    "Cộng sản còn thống trị trên quê hương – Ta còn phải đấu tranh"
    BlogMGPVNCHViet.no

    VDN

  • Biên khảo

    Hà Nội 1954 sau Hiệp định Genève chuẩn bị di cư vào Nam .

     

    Hà Nội 1954

    sau Hiệp định Genève chuẩn bị di cư vào Nam 

    bán đồ đạc chuẩn bị di cư vào nam sau khi Hiệp định Genève được công bố

    những ngày cuối cùng ở Hà Nội

    Việt Minh và Pháp bàn giao bót Hàng Trống

    bộ đội tiến vào tiếp thu bót Hàng Trống, lúc này đang là Ty Cảnh Sát TP Hà Nội
     
    tiếp thu bót Hàng Trống

    tiếp thu bót Hàng Trống

    lễ hạ cờ Tây lần cuối cùng trong thành Hà Nội, phía trước Đoan Môn, chấm dứt hơn 70 năm chiếm đóng thành Hà Nội từ năm 1883 của quân Pháp.



    những ngày cuối cùng của Hà Nội, bệnh viện Yersin
    những ngày cuối cùng của Hà Nội, bệnh viện Yersin

    Bộ đội Việt Minh tiến vào tiếp quản Hà Nội

    Bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội

    đi tìm tự do
    Chuẩn bị lên tầu vào nam
    Chuẩn bị lên tầu vào nam

    mẹ và hai con, tay xách nách mang, trên đường vào miền Nam
    tìm đường vào miền Nam
    ra phi trường Gia Lâm vào Nam
    ra phi trường Gia Lâm

    ra phi trường Gia Lâm

    phi trường Gia Lâm
    Hải Phòng
    lên tầu vào Nam
    di cư vào Nam
    lên tầu vào Nam
    lên tầu vào Nam
    lên tầu vào Nam
    Hải Phòng 1954
    Operation Passage to Freedom, October 1954 đi tìm tự do
    người ở lại
    Hải Phòng 1954
    Hải Phòng 1954

    USS Bayfield di cư vào Nam 3 September 1954

    Di Cư 1954
    Tác Giả: Saigon Echo sưu tầm   
    Thứ Tư, 20 Tháng 7 Năm 2011 08:13
     

    Tác Giả: Tiến Sĩ Trần An Bài   
    Thứ Bảy, 30 Tháng 4 Năm 2011 06:20
     

    Tác Giả: Saigon Echo sưu tầm   
    Chúa Nhật, 31 Tháng 10 Năm 2010 07:19
     

    Tác Giả: Giao Chỉ   
    Thứ Năm, 22 Tháng 7 Năm 2010 04:45
     

    Tác Giả: Trùng Dương   
    Chúa Nhật, 23 Tháng 5 Năm 2010 20:28
     

    Tác Giả: Trần Vinh   
    Thứ Sáu, 09 Tháng 1 Năm 2009 09:56
    Các vị cha già là danh xưng vừa đầy lòng kính trọng vừa dạt dào tình cảm thương mến, biết ơn của đồng bào di cư Công Giáo tị nạn Cộng Sản 1954 dành cho các vị linh mục có công dẫn dắt họ đi mở xứ. Mặc dù là thế, nhưng trong bài này, chúng tôi xin gác sang một bên khía cạnh tôn giáo, chỉ thuần đứng trên phương diện đời, phương diện dân sự để đánh giá công lao của các vị cha già trong công cuộc di cư 1954 mà chúng tôi coi như là …

     

    Tác Giả: USS Bayfield   
    Thứ Ba, 25 Tháng 11 Năm 2008 14:03
    Để xem hình, xin BẤM VÀO ĐÂY …

     

    Tác Giả: Lê Mạnh Hùng   
    Thứ Hai, 03 Tháng 11 Năm 2008 14:15
    “… Kết quả này đã chấm dứt một cuộc chiến nhưng lại gây mầm cho một cuộc chiến khác tàn khốc hơn mà chỉ kết thúc hai mươi mốt năm sau đó …” Cách đây 54 năm, hội nghị Genève kết thúc cuộc chiến tranh Việt Pháp và phân chia Việt Nam thành hai miền Nam Bắc. Kết quả này đã chấm dứt một cuộc chiến nhưng lại gây mầm cho một cuộc chiến khác tàn khốc hơn mà chỉ kết thúc hai mươi mốt năm sau đó. Những gì đã xảy ra trong hội nghị và liệu có thể nào …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 07:21
    Phần kết luậnHiệp định này dù đã được ký kết long trọng như thế, nhưng ai cũng thừa hiểu rằng cần rất nhiều thời gian và thiện chí để thực hiện dần dần những điều hai bên đã cam kết. Quả thực đúng là như vậy. Bảo Đại hơn ai hết ý thức được sự “mong manh” của Hiệp định. Ông cho rằng, đối với người Pháp, Hiệp định ký xong thì coi như mọi truyện đã hoàn tất. Còn đối với Bảo Đại thì Hiệp định ký xong mới chỉ là giai đọan mở đầu. Bởi vì phải trong …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 06:10
    Tín Phiếu và vàng của đồng bào di cư vào NamĐây cũng là những chi tiết tài liệu khá lý thú. Đây là những số tiền mà Việt Cộng đã tịch thu của đồng bào cũng như số tiền tín phiếu Hồ Chí Minh tổng cộng là: 2.533.257.860 đồng. Số tiền mà Việt Minh đã nuốt không của đồng bào liên khu V khi di cư vào Nam tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định.Như trường hợp đòi đất ở Thái Hà hiện nay, bao giờ đến lượt chúng ta vác đơn ra tòa án quốc tế để kiện đồng …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 05:55
    2. Diễn tiến Hiệp định ÉlyséeGiải Pháp quân sự nhằm tiêu diệt Việt Minh mỗi ngày một tiêu mòn hy vọng. Trong khi đó lần lượt các nước như như Phi Luật Tân, Miến Điện (Burma – DCVOnline), Nam Dương và cuối cùng là Ấn Độ, Pa kít tăng (Pakistan – DCVOnline) cũng thu hồi được độc lập.Bước đầu, tìm một giải pháp chính trị với Việt MinhTình hình quân sự không sáng sủa và xu hướng giải thực tại các nước quanh vùng buộc toàn quyền Bollaert phải có một hành động cụ thể. Vì thế, ông Bollaert đã …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Năm, 23 Tháng 10 Năm 2008 05:13
    Vấn đề số người Thiên Chúa giáo di cư từ Bắc vào Nam sau Hiệp định GenevaCó rất nhiều con số khác nhau khi nói vế số người Thiên Chúa giáo di cư.- Số liệu chính thức của giám mục Phạm Ngọc Chi, người chịu trách nhiệm trực tiếp trông coi khối người Thiên Chúa giáo di cư lấy tên là “Ủy ban hỗ trợ định cư”, văn phòng ủy ban đặt cạnh nhà thờ Huyện Sỹ, đường Bùi Chu, Sài Gòn. Giám mục Phạm Ngọc Chi đã làm phúc trình và chính thức gửi về Bộ truyền giáo La …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Tư, 22 Tháng 10 Năm 2008 13:09
    Một vài chứng từ của những người đã di cư vào miền NamKiều Chinh, tháng 8, 2004 “Là con út trong ba anh chị em, tôi được bố thương nhất. Suốt thời niên thiếu, tôi chi biết có bố. Bố tôi quyết định vào Nam. Nhưng đêm trước ngày ra đi, anh tôi bỏ nhà trốn ra khu theo phong trào thanh niên cứu quốc. Anh Lân là con trai duy nhất của bố, năm đó mới 20 tuổi. Sáng hôm sau, chỉ còn hai bố con ra phi trường Bạch Mai, Hà Nội. Hàng ngàn người già trẻ lớn bé …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Tư, 22 Tháng 10 Năm 2008 05:57
    Để kỷ niệm 59 năm, ngày ký Hiệp định Élysée, người viết xin ghi lại những diễn tiến chịnh trị chung quanh Hiệp Định này. Và tự hỏi rằng, đứng trên lập trường dân tộc, phải chăng việc cộng sản Việt Nam từ chối giải pháp Bảo Đại là đúng hay sai đối với lịch sử, với đất nước? Dân tộc, đất nước phải là quyền lợi tối thượng trên bất cứ đảng phái nào? Nhưng việc ông Ngô Đình Diệm phản đối mãnh liệt về nội dung văn kiện hiệp định Elysée phải được hiểu như thế nào? Để …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Tư, 22 Tháng 10 Năm 2008 00:42
    Số người tập kết ra BắcTheo phúc trình của Ba Lan, tàu Ba Lan đã chở 85 ngàn người ra Bắc so với con số 800 ngàn người vào Nam. Theo báo cáo “Chuyên chở bộ đội Việt Minh trên tầu Kilinski 1954-1955 (Nautologia 2001 n.1-2(136), trang 18-21) của thuyền trưởng tầu Jan Kilinski, ngày 07/04/1955 thì tổng cộng chỉ một mình chiếc tầu Ba Lan đã chở khoảng 85.000 người từ Nam ra Bắc, 3.500 tấn thiết bị quân sự và 250 tấn đạn dược ra Bắc. Con số 85.000 người do chỉ một chiếc tầu thôi, giả dụ …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 15:01
    Khi người di cư miền Bắc bồng bế nhau bước lên tàu há mồm để đi vào miền Nam thì đều nhìn thấy được tấm biểu ngữ viết sau đây dăng ngang trước lối lên”tầu há mồm”: Passage to Freedom. Đường đến Tự Do. Nhiều người nay đã hẳn vẫn chưa quên được tấm biểu ngữ đó.Phải chăng đó là mục đích tối thượng của việc bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ ruộng vườn để đi vào miền Nam. Chọn lựa không phải dễ cho mọi người. Nhưng đó lại là biểu tượng ý nghĩa nhất cho cuộc di cư 1 …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 14:40
    Trú khu Hải PhòngKhi Hà Nội đã được chuyển giao cho Việt Minh theo thời hạn được quy định bởi Hiệp Định Geneva, các trung tâm tiếp cư phải chuyển xuống Hải Phòng thì số người di cư tăng lên khủng khiếp.Tất cả các trường học cũng như các công sở đều là nơi chứa người tỵ nạn, nhưng vẫn không đủ chỗ. Nha đại diện Phủ Tổng Ủy di cư tại Bắc phần đã cho dựng hàng ngàn lều vải tại vùng Vật-Cách, sát tỉnh Hải Phòng có khả năng đón tiếp 10.000 người, rồi một trú khu thứ …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 09:44
    Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra Hà Nội hỗ trợ cuộc di cư mà ông trù tính lên đến 2 triệu người. Thủ tướng Ngô Đình Diệm (1954)Nguồn: UPI—Bettmann/Corbis Ngày 30/06/1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra Hà Nội để xem xét tổng quát kế hoạch rút quân đội Quốc Gia ra khỏi Bắc Việt, đồng thời giải quyết vấn đề người di cư.Nhiều tin đồn tốt đẹp chung quanh cá nhân ông Diệm, gây thêm tin tưởng cho những người đi tìm tự do vào miền Nam.Hìnn ảnh ông Diệm lúc ấy được coi như bản mệnh tương lai của …

     

     
    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 07:43
    Dù sao, cuộc chia lìa 1954, người di cư miền Bắc mới chỉ mất nhà, mất cửa.1975, kẻ ra đi mới là nguời mất nướcBên cạnh những khổ đau, cuộc di cư ấy không thiếu những nét đẹpTôi vẫn thấy đẹp và ý nghĩa là câu chuyện do một anh thủy thủ người Mỹ tên John Ruotsala trên chiến hạm Montrose (*) kể lại như sau: Khi bước lên tầu, các người di cư phải xịt thuốc DDT để diệt trừ chấy rận (1). Nhiều người di cư hoảng sợ vì phải cởi quần áo, nhất là phụ nữ. Trong …

     

    Tác Giả: Nguyễn Văn Lục   
    Thứ Ba, 21 Tháng 10 Năm 2008 06:34
    Tôi chỉ là một hạt cát trong cái biển người di cư từ Bắc vào Nam. Đã sấp sỉ 60 năm rồi. Những hạt cát ấy trở thành mảnh đất phù sa mầu mỡ của miền Nam Việt Nam trước 1975. Những hiểu biết của tôi về cuộc di cư ấy trước đây vẫn chỉ là những mảnh rời. Phần đọc còn nhớ lại lãng đãng, nhớ nhớ quên quên trong cuốn: Cuộc di cư vĩ đại, Sài Gòn 1956 do chính quyền miền Nam xuất bản. Sách in khổ lớn với rất nhiều trang hình ảnh, trình bày trang …

     

    Các bài khác…