CHÙM THƠ TRẦN VẤN LỆ: Thu Đã Sang Hơn Nửa Tháng Rồi – Sống Từng Ngày Lặp Lại – Ngày Đầu Thu Sáng Chúa Nhật – Thầy Nói Nắng Thôi Không Nói Gió, Thu Về Gió Có Nói Gì Đâu – Một Nụ Hoa Hồng Nở, Là Một Nụ Trăng Vàng – Tổ Quốc Quê Nhà Như Giấc Mơ.
==
ĐÔI LỜI TỪ BAN BIÊN TẬP:
Bài thơ “Thu Đã Sang Hơn Nửa Tháng Rồi…” của nhà thơ Trần Vấn Lệ là khúc giao mùa thiên nhiên, và cũng là một vết chém xoáy vào lịch sử, một tiếng gào xé lòng của kiếp người dâu bể! Mở đầu bằng chút ngơ ngác, man mát của mùa thu, “Vài giọt mưa… vài giọt thế thôi!”, nhưng ngay sau đó, nhịp thơ bị đẩy lên như cơn bão lòng trào dâng cuồng nhiệt. Ký ức tuổi thơ hồn nhiên, tươi đẹp bên mái trường xưa rực rỡ hoa phượng lập tức bị ném vào sự tàn khốc gay gắt của biến cố sau năm 1975. Nhà thơ dùng những nét vẽ gai góc, xoáy sâu đến nhức nhối, như trường dơ, vách bẩn, học trò biếng học, thầy ngơ ngáo, thân phận đi cải tạo, đi bụi, đi vượt biển, tù ngục…
Sự xót xa không đắm chìm trong bi lụy mà bùng cháy thành ngọn lửa uất nghẹn nhưng ngạo nghễ. Cái nghẹn ngào “Chào đuôi mắt, vạt áo cầm lau lệ mấy hàng” mang sức nặng tày trời của một thời cay đắng! Và rồi, con số “Mười năm! Hai mươi năm! Chừ năm mươi năm…” vang lên như tiếng trống dồn dập gõ vào tâm khảm. Nửa thế kỷ trôi qua trong chớp mắt, nếm trọn chia ly, sinh tử!
Câu kết bài thơ bùng lên một hình ảnh tráng lệ đến rợn ngợp: “Còn tôi tóc bạc như mây khói / lạc lòng bay trong cõi đất trời!” Tóc bạc như mây khói không phải là sự gục ngã, mà là tư thế cô phong ngạo tễ, một linh hồn kiêu hãnh bay qua mọi thảm cảnh của dâu bể nhân gian!
Có thể nói bài thơ cháy rực tình yêu quê hương, bạn bè, thầy cô và niềm đau đáu với vận nước, một bài thơ rút từ ruột gan, rực lửa, và cuộn trào sóng bão!
Mời quý độc giả thưởng thức:
THU ĐÃ SANG HƠN NỬA THÁNG RỒI
Thu đã sang hơn nửa tháng rồi… mà hình như lạnh chẳng chung đôi? Chỉ nghe chút lạnh vài ban sáng, vài giọt mưa… vài giọt thế thôi!
Mùa Thu… mà lá chưa rơi hết! Mà gió hình như rất muộn màng. Nghĩ nhớ tuổi thơ mình cũng tệ, nghỉ Hè, nghỉ miết kệ Thu sang…
Đã mấy mươi năm còn chớp mắt, còn thương cây phượng hoa còn nhiều… Ông cai chỉ một sao tươm tất: Trường sạch bong từ trước đến sau…
Sau bảy mươi lăm: Cai cả đội… Trường dơ, vách bẩn, ngói lung lay… Học trò biếng học, Thầy ngơ ngáo. Sân lá vàng rơi nhiều đống đầy!
Lúc đó… thì tôi vào Cải Tạo. Trường thay… thay cả cái màu sơn! Thầy nào không lính thì đi bụi. Cô nào có chồng về quê chồng…
Thương quá, nhiều cô đi vượt biển, nhiều cô bị bắt ở tù ngang! Thầy, Cô chạm mặt: chào đuôi mắt, vạt áo cầm lau lệ mấy hàng…
*
Mười năm! Hai mươi năm! Chừ năm mươi năm… Ai đâu còn sống, tính phần trăm? Trời muôn phương nhớ, muôn phương nhớ! Đất mấy gò kia… mộ cố nhân!
Thu đã sang hơn nửa tháng rồi… Tôi vừa chải tóc thấy còn tôi… Còn tôi tóc bạc như mây khói… lạc lõng bay trong cõi đất trời!
Trần Vấn Lệ
==
LỜI BAN BIÊN TẬP:
Tác phẩm “Sống Từng Ngày Lập Lại” của nhà thơ Trần Vấn Lệ mở ra một không gian đêm thu nơi xứ người đầy mênh mang, lặng lẽ mà sâu thẳm tình người. Qua những nhịp điệu thủ thỉ như lời trò chuyện với chính mình, tác giả dệt nên hình ảnh một đêm Thu nơi thành phố Mỹ lướt thướt sương giăng, nơi cây cỏ hoa lá cũng được phủ lên thứ tình cảm ấm áp, dịu dàng.
Điểm đắt giá và gây xúc động nhất của bài thơ nằm ở sự đan xen giữa cái… dài thượt của thời gian lặng lẽ và cái dạt dào của tâm tưởng. Thời gian trôi đi “thẳng như tên bắn”, nhưng trong lòng người thi sĩ, ký ức và tình bằng hữu vẫn vẹn nguyên qua hình ảnh “cà-phê-hiên” cùng những tri âm còn sống, còn đợi. Lời chào hỏi quen thuộc “How Are You, My Dear?” vang lên, để rồi câu trả lời “I Am Fine, Thank You!” thốt ra tựa như một lời tự trấn an, một nụ cười bao dung trước quy luật biến chuyển của đời người.
Đây là một bài thơ nhẹ nhàng, tinh tế mà thấm đượm chất thơ, chất đời và một trái tim đầy ắp ân tình của tác giả Trần Vấn Lệ.
Kinh mời đọc:
==
SỐNG TỪNG NGÀYLẶP LẠI
Đêm bây giờ dài thật!
Mùa Thu đến thật rồi…
Mưa ít thôi, ít thôi
Những cơn mưa cuối Hạ…
.
Một, hai, giờ sáng… buồn há
trời nhấp nháy muôn sao
đèn soi đường nghẹn ngào
vì sương chảy có giọt!
.
Thành phổ Mỹ lướt thướt
những nhánh cây được yêu
Mỹ dành cho cây, cỏ, hoa… thật nhiều
những tình cảm tưởng tượng!
.
Nghĩ thế cho thấy sướng:
lòng-có-bến-có-bờ
và… mình lại có thơ
đêm từng đêm dài thượt!
*
Mùa Thu đến từng bước
dọn đường cho mùa Đông
thời gian không theo vòng
mà thẳng như tên bắn!
.
Sáu tháng nữa đêm ngắn,
ngày lúc đó dài thêm…
vẫn nhớ cà-phê-hiên
bạn bè còn sống đợi!
.
Thấm thía sao câu hỏi:
“How Are You, My Dear?”
Lại đáp để… mình nghe:
“I Am Fine, Thank You!”
Trần Vấn Lệ
==
LỜI BAN BIÊN TẬP:
Những vần thơ của thi sĩ Trần Vấn Lệ luôn có một sức hút vô cùng đặc biệt. Nếu như những ngày hè người ta phải oằn mình trong cơn khát và cái nắng cháy da nung thịt, thì bước sang Thu, thơ ông lại xoa dịu lòng người bằng những giai điệu êm ả, dịu dàng đến lạ. Trong bài “Ngày Đầu Thu Sáng Chúa Nhật”, nét bình yên ấy hiện lên thật trọn vẹn và chan chứa tình người. Chẳng cần những từ ngữ đao to búa lớn, bài thơ là một bức tranh sớm thu trong lành, nơi ranh giới giữa Nhà Thờ và Mái Chùa như xích lại gần nhau trong tinh thần “hướng vọng hành Thiện”. Dù là hồi chuông sớm hay tiếng mỏ cầu kinh, tất cả đều tôn vinh cái Tâm, chữ Hiếu và chữ Trung giữa đời. Nắng thu dịu mát, phố xá dần đông vui, những cái chào “hello”, “good morning” đôn hậu cùng nụ cười trao nhau bên quán cà phê, chợ búa… thi sĩ đã vẽ nên một nhịp sống đời thường thật bình dị mà đỗi ấm áp.
Đọc thơ tiền bối Trần Vấn Lệ ngày đầu thu, ta thấy lòng mình nhẹ tênh, tràn đầy tình yêu cuộc sống và thêm trân trọng từng khoảnh khắc êm đềm đang trôi qua.
Kính mời thưởng thức:
==
NGÀY ĐẦU THU SÁNG CHÚA NHẬT
6 giờ sáng… chưa sáng! Ngày Chúa Nhật chờ trưa Nhà Thờ làm Lễ Trưa… và chắc Chùa cũng thế!
Ngày vui dù có trễ thì nó vẫn ngày vui! Ngày cùa người hẹn người, ngồi ngoan chờ gặp Chúa!
Bên Chùa, chuông và mỏ cũng đã gõ liên hồi. Người trong Chùa đã ngồi ở vị trí chờ Lễ. Lát các Thầy trên bệ, tín hữu quỳ trên thềm. Dù ở dưới, ở trên, một hướng vọng hành Thiện!
Để ý lời cầu nguyện! Đời là chỗ tựa bền! Đẹp nhất là pho Kinh toàn những lời tuyệt diệu!
Đi Đạo vì chữ Hiếu! Đi Đạo vì chữ Trung! Không Đạo cũng có lòng hướng theo người có Đạo.
Trời hôm nay mát, ráo… Chập nữa phố đông, vui. Chúng ta sẽ thấy người… người người cười vui vẻ! Rồi thì chợ búa ghé, ghé cả quán cà phê…Đời cứ thế qua đi, hỏi ai mà không thích?
*
Mỗi năm có bốn mùa… Mùa đẹp nhất trời mát. Như hôm nay Thu Hát những lời ca mừng Thu…
Bạn ơi đi từ từ… hello nhớ chào lại good morning bà con. Mỗi nụ hoa nụ hôn!
Trần Vấn Lệ
==
ĐÔI LỜI TỪ BAN BIÊN TẬP:
Thầy Nói Nắng Thôi Không Nói Gió, bài thơ của anh Trần Vấn Lệ đúng là một “kiệt tác dễ thương” làm lòng người đọc muốn bùng cháy! Mở đầu bài thơ bằng cái giọng dí dỏm hết sức, nào là cãi thầy chuyện nắng gió, nào là lá thu bị bờ rào chặn lại đành “chất đống”, đã làm người đọc khoái chí bật cười. Nhưng cái hay bốc lửa của bài thơ lại nằm ở cái “ngông” rất đời và một trái tim chưa bao giờ chịu già: hỏi tuổi người thì “chỉ lịch”, chí lớn thành quách cũng chịu nghiêng ngửa trước mỹ nhân! Đằng sau nét hơi nghịch ấy là ngọn lửa hoài niệm bùng lên mãnh liệt về thời cầm phấn, về “Nắng Học Trò” và tình yêu quê hương dạt dào.
Dù đã trải qua năm mươi hai năm dâu bể tha hương, tâm hồn thơ ấy vẫn cuồn cuộn sức sống, vừa trẻ trung nghịch ngợm, vừa rực rỡ tình đời khiến ai đọc xong cũng thấy rõ hồn thơ của tác giả Trần Vấn Lệ còn hừng hực ngọn lửa yêu thương…
Kính mời quý vị ghé đọc:
==
THẦY NÓI NẮNG THÔIKHÔNG NÓI GIÓ
THU VỀ GIÓ CÓNÓI GÌ ĐÂU?
Hôm nay ngồ ngộ há?
Lá vàng rơi đầy sân…
Mùa thu đến, dấu chân
của nó: Lá là Lá!
.
Hồi khuya chắc lả tả
lá và gió đuổi nhau?
Không qua được bờ rào
nên cũng đảnh… chất đống!
.
Cõi đời là cõi mộng
Giấc Nam Kha… chiêm bao!
Năm vẫn như năm nào
Lòng dạt dào khó tả…
.
Tuổi của cây là lá
Tuổi người ta… là gì?
Hỏi chim. Chim: thiên di
Hỏi người: Người chỉ lịch!
.
Hỡi ơi chí lớn như thành quách
mà đổ xiêu vì một mỹ nhân!
Phạm Thái ngày xưa từng nói thế (*)
Ngày sau… ai cấm bạn bâng khuâng?
*
Đưa tay khép lại hai bâu áo
Lạnh nửa bên ngoài, nửa ở trong!
Ai kẻ tha hương đều thấy vậy,
Hay mình ta nhỉ… thấy mênh mông?
.
Lá đây, gom đống, chờ xe rác
trong một ngày thôi lại sạch đường…
Chạnh nghĩ núi sông sông núi lở
Thu về, Đông đến… cảnh Quê Hương!
.
Năm mươi hai năm! Năm Mươi Hai Mùa
Mùa nào thật sự là mùa Thơ?
Tàn binh Cải Tạo không nhiều lắm
Nhớ biết bao nhiêu Nắng Học Trò!
.
Thầy nói nắng thôi, không nói gió!
Các em cầm lược chải cho bay…
giùm Thầy cái thuở tay cầm phấn
viết bảng như đùa với khói mây…
Trần Vấn Lệ
(*) Nguyên văn Thơ Phạm Thái đọc cho Trường Quỳnh Như nghe: “Hỡi ơi chí lớn trong thiên hạ / gom lại không đầy mắt Mỹ Nhân!”.
==
LỜI BAN BIÊN TẬP:
Bài thơ “Một Nụ Hoa Hồng Nở Là Một Nụ Trăng Vàng” của thi sĩ Trần Vấn Lệ là một khúc ngâm đầy ám ảnh, dẫn dắt người đọc đi từ niềm hân hoan thanh khiết của buổi sớm mai đến nỗi bàng hoàng, đau xót run người trước sự tàn nhẫn vô tình của thời gian và thời tiết xứ người.
Bài thơ mở đầu bằng một không gian rực rỡ và đong đầy chất thơ. Nụ hoa hồng chớm nở trong sương sớm được thi nhân đón nhận bằng tất cả sự nâng niu, trìu mến. Tuy bắt đầu bằng sự lãng mạn nhẹ nhàng nhưng lại kết thúc trong sự bàng hoàng, thức tỉnh.
Bằng thứ ngôn từ tự nhiên, gần gũi như lời tâm sự, nhà thơ Trần Vấn Lệ đã mượn một sự việc nhỏ trong vườn nhà để gửi gắm một triết lý nhân sinh sâu sắc. Cái đẹp thật mong manh, và nỗi đau trước sự gãy đổ của cái Đẹp, dù chỉ là một nụ hoa, cũng đủ làm rung chấn cả một tâm hồn thi sĩ.
Kính mời quý vị thưởng thức:
MỘT NỤ HOA HỒNG NỞ
LÀ MỘT NỤ TRĂNG VÀNG
Sáng, tôi thăm vườn sớm thấy ở khóm hoa hồng đọng mấy giọt sương trong có nụ hoa sắp nở…
Rồi… bình minh rạng rở: Tôi có một lời chào… qua cây lá rì rào, qua nắng reo như nhạc…
Nụ hoa hồng đang hát hòa theo tiếng chim ca! Tôi cúi xuống hôn hoa: Ôi nụ hoa thơm quá!
Hoa hồng không ai lạ, với tôi thì rất quen! Tôi gọi hoa là Em và…tôi có tập thơ Đẹp!
Chuyện đó, nhiều người biết… hôm nay thì khác… nha! Tôi hẹn với nụ hoa: Chiều nay thăm tiếp nhá!
*
Ngày tàn. Còn chút xế. Tôi lại ra thăm vườn, thăm nụ hoa tôi thương. Ô! Nó vẫn còn đứng đó…
Cali tôi, quá nóng… nắng làm khô hoa rồi, không có gió không rơi. Nguyên cái xác nguyên vẹn.
Tôi… gần như bị chém bằng nhát nắng cuối ngày! Nụ hoa trong lòng tay… là nụ hoa vỡ vụn!
Quả thật tôi lúng túng! Tôi “bóp” nát đời hoa! Quả thật tôi xấu xa, mặt trời kìa… cũng thấy!
Tôi rời vườn như chạy, buông hoa từng mảnh bay… Buông hoa từng mảnh bay. Từng Mảnh Hoa Tiên, đó!
Một nụ hoa hồng nở là một nụ trăng vàng… Cả ngày nắng chói chan, nó thành cái-bánh-tráng?
Cali nắng nhiều tháng. Hôm nay… tôi hoảng hồn! Nụ hoa hồng dễ thương khô ran mà không rụng…
Trần Vấn Lệ
==
LỜI TỪ BAN BIÊN TẬP:
Bài thơ “Tổ Quốc Quê Nhà Như Giấc Mơ” của nhà thơ Trần Vấn Lệ là một khúc ca hoài niệm trầm lắng, chất chứa niềm đau xót tột cùng và nỗi hoài hương đau đáu của một người con xa xứ. Qua từng dòng thơ miên man, tác giả dẫn dắt người đọc đi từ những cảm nhận vi tế về không gian, thời gian đến những nỗi niềm nhân sinh sâu sắc. Sức gợi từ thiên nhiên và nhịp chảy vô tình của thời gian
Sự “phàn nàn” trong bài thơ là cái nắng dai dẳng của mùa thu, một cái nắng không dịu dàng mà thiêu đốt, “soi cho cháy từng viên gạch”. Nhịp thơ trĩu nặng sự mệt mỏi, “lác đác… buồn hiu cái rã rời”, phản chiếu chính tâm trạng ngột ngạt, vô định của thi nhân. Tác giả nhận ra sự quẩn quanh của thời gian “năm ngoái, năm này, nắng giống nhau”, nhưng sự hững hờ của con người hay cái vô tình của lịch in “theo toán học” chẳng thể đo đếm được cái thất thường của đời người, cái phai nhạt của “tình yêu lợt sắc yêu”.
Từ “Cõng” trong thơ được tác giả viết hoa như một sự tôn kính tuyệt đối. Cha mẹ gánh trên lưng cả thiên tai, nghịch cảnh, cõng cả cuộc đời lam lũ để đổi lấy miếng ăn, áo mặc và danh xưng cho con. Nhìn lại lịch sử và văn chương, tác giả xót xa nhắc đến Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh, nỗi đau nhân thế bị người đời thương mại hóa hay hiểu sai thành một câu chuyện tầm thường.
Đó là cái nhìn đầy chua xát của một hồn thơ trăn trở với những giá trị cốt lõi bị phôi pha.
Kính Mời đọc:
==
TỔ QUỐC QUÊ NHÀ
NHƯ GIẤC MƠ
Lại nắng! Hôm nay nắng nữa rồi!
Mùa Thu mà lá… nắng, chưa rơi
chỉ soi cho cháy từng viên gạch
lác đác… buồn hiu cái rã rời!
.
Năm ngoái, năm này, nắng giống nhau,
tại mình quên hết! Có làm sao?
Hôm nay trời nắng than hay thở…
Quên nghĩ thời gian không trước sau!
.
Chuyện của Ông Trời: mưa với nắng
Chuyện Mẹ Cha mình: Cõng Nắng Mưa.
Có thế mới ra cơm với áo
và Danh hay Tiếng… với Người Ta!
.
Sáng, tưởng ngày êm, nắng dịu dàng
Chim đâu không thấy chúng kêu vang?
Cầm lon gạo ném… chim không đến
Là biết mùa Thu mới chửa sang!
.
Lịch cứ in ngày theo toán học
Người in không nghĩ chuyện mai chiều.
Có khi mai lạnh, chiều oi bức
Quên bẳng tình yêu lợt sắc yêu…
*
Ông Nguyễn Du đau viết Đoạn Trường
Người đời không để ý tang thương…
Đổi ra là Truyện Kiều vô nghĩa
Nguyễn Du nào đã viết truyện Dâm?
.
Năm ngoái năm này, tôi lẩn thẩn
đi từ bờ giậu đến bờ sông,
nghe thầm nắng mới reo ngoài ngõ
Áo Mẹ phơi đâu? Gió phập phồng…
.
Thơ Lưu Trọng Lư bài Nắng Mới…
Năm nào tôi cũng nhớ ngày xưa!
Tang điền thương hải sầu chan chứa
Tổ Quốc! Quê Nhà! Như Giấc Mơ…
Trần Vấn Lệ
THƠ TRẦN VẤN LỆ
GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG
AI MƯỜI BẢY PHONG PHANH ÁO GIÓ – TÓC THỀ BAY NHƯ MÂY LANG THANG
ĐÔI LỜI TỪ BAN BIÊN TẬP:
Bài thơ “GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG” của tác giả Trần Vấn Lệ là một “kiệt tác” của hoài niệm và cái cô đơn đến mênh mang của kiếp người lãng du. Bài thơ mang một nét buồn sâu thẳm nhưng lại được viết bằng một văn phong tự nhiên, thong dong mà da diết lạ thường.
Điển tích hóa thành lòng mình. Tác giả mượn hình ảnh Giả Đảo, một vị thi sĩ đời Đường nổi tiếng đêm khuya đi gõ cửa nhà bạn để sẻ chia câu thơ vừa cất lên, để soi chiếu vào chính cái cô độc của mình. Hành động “gõ cửa” ấy là để tìm người đọc thơ, và cũng là bày tỏ tiếng kêu thầm khi tìm kiếm một tri âm giữa cuộc đời.
Nhưng than ôi! Sự đáp lại chỉ là sự im lặng, là người “chắc ngủ rồi”, và cái tặc lưỡi nhẹ hẫng mà buốt nhói.
Không gian dằn xé, thời gian vụt bay trong “Năm mươi năm bỏ đó mà nhanh…” cả nửa thế kỷ tha hương chỉ thu gọn lại trong một câu thở dài. Từ bóng thông Đà Lạt reo gọi cố hương, địa danh nối tiếp địa danh (Phan Thiết, Nha Trang, Phan Rang) kéo dài theo “bốn trăm cây số dài đuôi mắt”. Quê hương cách trở bởi địa lý (“tấc đất thành vạn lý”) và bởi chính khoảng cách của thời gian và những dâu bể đời người.
Cái giật mình tiếc nuối và sự khép lại là hình ảnh “Chị ơi mòn mỏi em đi khép / cánh cửa không mong nữa một người!” là một tiếng thở dài sau cùng. Cánh cửa từng mở ra đi gõ tìm tri âm nay khép lại trong lặng lẽ. Thơ giờ đây thu gọn thành “thơ hai câu”, gấp tư làm gối kê đầu… quả là một sự xếp cất kỷ niệm đầy cay đắng nhưng cũng thật thanh thản.
Nhà thơ Trần Vấn Lệ đã dùng một giọng thơ vừa như tâm sự, vừa như đối thoại với chính bóng hình mình. Cảm giác câu chữ nhẹ như gió thoảng nhưng khi đọng lại trong lòng người đọc lại nặng trĩu những ưu tư về kiếp sống, sự cô đơn và nỗi hoài hương muôn đời không nguôi.
Kính mời quý vị đọc:
Bài 1:
GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG
Gỉả Đảo ngày xưa đi gõ cửa:
“Bạn mình ơi dậy đọc thơ tôi!”
Có người thức dậy ra chào bạn
Cũng có người không, chắc ngủ rồi?
Đà Lạt thông reo chắc gọi mình?
Năm mươi năm bỏ đó mà nhanh…
Người xưa hay nói “thời gian vụt
bóng ngựa qua sân nắng để hình!”
Phan Thiết buồn buồn trông hướng Bắc
Nha Trang giọng ấm giống Phan Rang
Bốn trăm cây số dài đuôi mắt,
Biết mấy nhiêu chiều cọng khói lam?
Tấc đất Quê Hương thành vạn lý
Ngựa dừng hí lộng bóng trăng rơi…
Chị ơi mòn mỏi em đi khép
cánh cửa không mong nữa một người!
Giả Đảo làm thơ – thơ hai câu
xếp tư làm gối để trên đầu
hẹn lòng mai mốt về non cũ
Ta-Với-Ta-Mà-Cũng-Biển-Dâu!
Trần Vấn Lệ
**
“AI MƯỜI BẢY PHONG PHANH ÁO GIÓ…”
Bài thơ dưới đây của tác giả Trần Vấn Lệ chinh phục người đọc chính ở cái vẻ “thơ mà như không thơ” ấy. Bởi vì, thơ anh không gò bó khuôn thước, không chốt vần chọn điệu cầu kỳ, mà anh để chữ nghĩa tuôn chảy tự nhiên như những lời tự sự, một dòng suy tưởng miên man nối dài. Nhưng ẩn sau sự buông lơi, dường như xuề xòa đó lại là một chất thơ đậm đặc của hoài niệm và kiếp người. Nhịp điệu câu thơ lúc ngắt quãng gãy gọn như tiếng gió rít qua ngàn thông, lúc lại trải dài miên man như bóng mây lang thang trên bầu trời Đà Lạt. Tác giả mượn hình ảnh cây thông ngạo nghễ của Nguyễn Công Trứ để soi vào thân phận lãng du, nỗi trăn trở tha hương và cái thản nhiên của thiên nhiên trước những biến động đời người. Chính sự tự do trong hình thức, kết hợp với nhạc điệu nội tâm sâu lắng và giọng điệu vừa hời hợt vừa tha thiết, đã biến những dòng chữ tưởng như văn xuôi này trở thành một bài thơ độc đáo, mờ ảo và đầy ám ảnh.
Kính mời quý vị đọc bài thơ “rất lạ” của tác giả Trần Vấn Lệ:
Bài 2:
AI MƯỜI BẢY PHONG PHANH ÁO GIÓ
TÓC THỀ BAY NHƯ MÂY LANG THANG
Tôi hay hỏi những cây thông Đà Lạt: “Đứng đây hoài, các em có buồn không?”. Đáp lại tôi, gió rít ngàn thông… Thông cao vút! Những cây thông cao vút. Một bầy chim bay qua cái vụt…
Những đám mây đuổi chim bay đi… Chim không có Quê Hương nhưng có chỗ để về. Tôi thì rời xa quê mang theo niềm nhớ… nó làm tôi nhiều khi trăn trớ, nhớ ông Nguyễn Công Trứ nhiều lần ước ao “một đời sau làm cây thông cao, ngạo với gió, với nắng mưa, ngày tháng…”.
Ông Nguyễn Công Trứ nổi danh vì lãng mạn, làm Tướng như làm Lính, nhẹ lòng. Ông chào đời: hai bàn tay không; ông thác ông có tên đường, phố! Sử không ghi ngày ông có giỗ. Con cháu ông, tôi có quen, cũng không ai nói nhớ… Ờ thì thôi! Vui-khóc-buồn-cười… cứ như cây thông đứng giữa trời mà reo! (*)
Tôi hay hỏi những cây thông Đà Lạt: “Nếu tôi xa đây các em nhớ tôi không?”. Những cây thông… không có tấm lòng! Tụi nó hồn nhiên… như con sông cứ chảy!
Ồ lạ nhỉ, người ta mười bảy. Ngày ai qua sông, tôi có thấy, nhìn theo… Nhìn đến khi gió cuốn hết chiều. Sông trong veo vòng vèo ánh nguyệt… Tôi sẽ làm sao? Tôi hành quân, tôi chết… bãi tha ma một nấm mộ không nhang!
Thơ tôi mà… thơ rất lang thang, đừng ai đọc, tôi không dư nước mắt. Tôi vuốt lá thông, Quê Hương tôi trôi tuột…Nhiều con thuyền vượt biển… Xa Quê! Đà Lạt ơi những cây thông ơi, đợi tôi nha! Mai mốt tôi về hình bóng quê khói sương mờ tỏ… Ai mười bảy phong phanh áo gió, tóc thề bay như mây lang thang…
Trần Vấn Lệ
(*) Buồn buồn lại trách ông Xanh:
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười!
Kiếp sau xin chớ làm người,
làm cây thông đứng giữa trời reo!
(Nguyễn Công Trứ)
TRANG THƠ TRẦN VẤN LỆ – HOA MIMEUSE NGÀY NẮNG NỞ Và Những Bài Thơ Khác…
=
ƠI THU VÀNG TÔI NHỚ
CON ĐƯỜNG THU LÁ THU
=
Đôi lời từ BBT:
Bài thơ “Ơi Thu Vàng Tôi Nhớ / Con Đường Thu Lá Thu” của Trần Vấn Lệ là một khúc hoài niệm mênh mang, kết tinh từ tiếng hát, sắc thu và nỗi niềm đau đau đau về quê hương đất nước. Tiếng hát của người ca sĩ mang tên Thu Vàng như một chất xúc tác gợi mở cả một vùng ký ức: từ bóng dáng áo dài tha thướt làm xao xuyến lòng người lính biên viễn năm xưa, cho đến những hạt mưa ngọc rơi trên mái lầu đọng lại dư âm không thể mờ nhạt. Bằng những hình ảnh đan xen giữa mộng và thực, câu thơ chạm đến những mảnh đời lang thang, những bếp lửa ràn rụa và cái man mát buồn rất đỗi tinh tế như bước ra từ trang văn Thạch Lam, làm trỗi dậy tình yêu sâu nặng với Núi Sông Lịch Sử qua từng dải đất thiêng liêng.
Nỗi nhớ ấy càng trở nên da diết và đượm vị đắng cay nơi đất khách quê người. Chén cơm xa xứ mang hương vị quê nhà với hạt lúa Nàng Hương, Nàng Sậu, cùng cái “nhai phiến Đường Thi” giữa viễn xứ đã khắc họa nỗi cô đơn và khát khao hướng về nguồn cội của một hồn thơ cô quạnh. Nhớ tiếng hát Thu Vàng, nhớ giai điệu Bài Tình Xa, nhà thơ gởi gắm một câu hỏi nhói lòng về ngày mai của Quê Hương—ngày mà núi xưa lại xanh và biển xưa lại rạng ngời sắc áo lụa. Bài thơ khép lại bằng tiếng gọi “Em!” thốt lên đầy thương mến, như một nốt trầm lắng đọng giữa con đường thu ngập lá, níu giữ chút hồn quê nghìn trùng xa cách:
Kính mời đọc:
=
Ơi Thu Vàng Tôi Nhớ / Con Đường Thu Lá Thu
Có một o ca sĩ đổi tên mình, Thu Vàng. Nàng hát khi đi ngang cánh rừng Thu lá rụng…
Nàng đi bước gợn sóng lòng biết mấy chinh nhân. Nàng trở thành tình thân của những người biên viễn…
Rồi mùa Thu mất biến… Những giọt mưa bắt đầu gieo ngọc trên mái lầu… Lan can còn tiếng hát!
Không có gì mờ nhạt lòng tôi nhớ người sao… Áo dài bay chiêm bao con-đường-Thu-Lá-Rụng!
Đường Thu nhòe cái bóng em bé nhặt lá bàng…Những cuộc đời lang thang… những bếp lửa ràn rụa!
Thạch Lam ngày xưa có nhiều truyện ngắn thật hay. Cái gì cầm trong tay? Ôi Núi Sông Lịch Sử!
*
Chén cơm người xa xứ có mùi thơm Nàng Hương… có vương vương Nàng Sậu (*)… có con bướm về đậu rồi con bướm bay đi…
Tôi nhai phiến Đường Thi… tôi mơ làm Hoàng Hạc cuối trời mây bát ngát tiếng Thu ai vừa hát em ơi nhạc đường xa…
Bài Tình Xa em hát… Bao giờ Quê Hương mình…núi xưa xanh màu xanh, biển xưa vàng áo lụa?
Em! Thu Vàng tôi nhớ đường Thu bay lá Thu!
Trần Vấn Lệ
(*) Nàng Hương, Nàng Sậu tên giống Lúa thật thơm thật dễ thương của nước mình.
=
TÔI CẮN TÔI VỠ VỤN
TỪNG CÂU THƠ LONG LANH – TRẦN VẤN LỆ
Đôi Lời Từ BBT:
Bài thơ “Tôi cắn tôi vỡ vụn / Từng câu thơ long lanh” của thi nhân Trần Vấn Lệ là một khúc ca đầy xao xuyến, nơi hồn thơ hòa quyện giữa vẻ đẹp mộng mơ của thiên nhiên và những hoài niệm gian lao một thời lính cũ. Bằng nhịp điệu ríu rít, hân hoan như tiếng reo của mùa xuân, nhà thơ vẽ nên bức tranh thiên nhiên rực rỡ với những đàn bướm chập chờn, hoa nở ngát hương và ánh sương mai tinh khôi. Hình ảnh so sánh độc đáo “bướm giống lính tìm giặc – giặc của bướm: Giai Nhân” vừa mang nét hóm hỉnh, quậy ngút trời của người lính gian khổ năm xưa, vừa tôn vinh vẻ đẹp kiều diễm của cuộc sống hôm nay. Mùa xuân tỏa rộng, bướm tung tăng dạo bước trong không gian tự do, mở ra một thế giới tràn ngập tình yêu thương và sự sống mãnh liệt.
Thế nhưng, đằng sau vẻ thong dong, rộn rã ấy lại là một khoảng sâu lắng của tâm hồn qua bao biến cố thời gian. Nhìn bướm bay, người thơ không khỏi chạnh lòng nhớ về rừng xưa, suối cũ, về những năm tháng chiến tranh “hành lang là lán trại” và cái ngậm ngùi của “năm hai năm lưng lưng hơn nửa đường Thế Kỷ”. Câu thơ “Tôi cắn tôi vỡ vụn từng câu thơ long lanh” vút lên như một sự dồn nén cảm xúc đến tận cùng, vìđó là sự tự xẻ chia, vắt kiệt ruột gan để cất lên những vần thơ tinh túy, vừa đau đớn vừa lung linh diệu kỳ. Cuối bài thơ là lời nhắn nhủ tha thiết, dịu dàng: “Bướm ơi đừng bay nhanh / Bướm ơi đừng bay chậm”, một ước muốn níu giữ khoảnh khắc thanh bình, để lòng người được hòa cùng nhịp bước thong dong giữa thung dung cuộc đời.
Kính mời đọc:
=
Những con bươm bướm ngộ! Chúng bay dọc vệ đường. Hoa nở. Ôi dễ thương…
Chúng bay từ Nam Phương theo gió về phía Bắc. Bướm giống lính tìm giặc – Giặc của bướm: Giai Nhân!
Hoa nở, đó, nàng Xuân… hôn đi! Từng con đáp…Đây không đồng-chó-ngáp, bướm tha hồ tung tăng…
Tôi nhìn cuộc hành quân. Vườn tôi Xuân mở hội…Bươm bướm càng bay tới, hoa từng hoa tỏa hương!
Buổi sáng tôi tinh sương thơm ngát lừng đây đó! Gió xô cánh cửa ngõ, bướm vào đi! Tự Do…
*
Không hiểu tôi làm thơ… sao giống thời lính cũ? Không biết súng tôi giấu trong rừng xưa còn không?
Năm hai năm lưng lưng hơn nửa đường Thế Kỷ, tôi, bướm, đều ngộ nhỉ… chúng ta còn yêu thương!
Nghĩ thầm thôi, tôi buồn! Bạn à, tôi yếu đuối…Nhớ quá đi bờ suối, hoa vàng… không bướm bay…
Rồi đời tôi đó đây, hành lang là lán trại, bướm không vào cũng phải! Bây giờ thì khác xưa!
Bây giờ: vệ đường hoa! Hương gió bay mời bướm! Tôi cắn tôi vỡ vụn từng câu thơ long lanh…
Bướm ơi đừng bay nhanh!
Bướm ơi đừng bay chậm!
Thong dong cho tôi ngắm
con đường bướm thong dong…
Trần Vấn Lệ
=
ĐÓ ĐÂY VÀ ĐÂY ĐÓ – TRẦN VẤN LỆ
=
Đôi Lời Từ BBT:
“Đó Đây Và Đây Đó” làm người đọc như bị cuốn vào một cơn giông bão của tâm tưởng, vừa mênh mang sâu lắng như cõi Thiền, vừa rực cháy, cuồng nhiệt và nhức nhối một nỗi niềm nhân thế!
Thơ anh mở đầu bằng một cõi không không, tĩnh lặng đến ngạt thở. Hai con người ở hai đầu khoảng cách, “Người cuối chân mây, ta cuối trời”, không lời thoại, không than van, nhưng lại như đang trao nhau ánh nhìn ngưng đọng. Nhìn nhau mà như “tọa Thiền”, như chìm vào cái hun hút bao la của một màu biển xanh. Cái hay ở đây là sự chuyển dịch tâm thức, từ biển xanh nhìn lên lá cành, thấy tất cả hòa tan vào một sắc diện triết lý. Thời gian không chết, bởi vì năng lượng của nỗi nhớ và sự tồn tại đã vượt thoát khỏi ranh giới vật lý thông thường.
Nhưng rồi, nhịp thơ bỗng cuồn cuộn sóng trào khi tác giả tung ra những ẩn dụ đầy sắc bén về bản chất của vũ trụ và con người. Biển dẫu có tên là “Hồng Hải” hay “Hắc Hải” thì cũng chỉ là thứ sắc màu do “ảnh hưởng của ánh mặt trời”! Khi nắng tắt, tất cả quay về chung một sắc đen nguyên bản.
Lối so sánh ấy độc đáo và quyết liệt đến nghẹt thở! Cũng là chữ “Em”, nhưng cái “Em” trong tình yêu đôi lứa đầy khao khát (anh-nhớ-em) lại khác xa cái “cái em” bao la của tình Thầy trò. Tất cả những khoảng cách, những biệt lập, những biến đổi ấy… hóa ra chỉ vì “núi, sông, ngăn cách”, vì “người cũng như nắng”!
Tác giả đưa người đọc từ cõi triết học vút một cái trở về thực tại lịch sử với những con số thực tế như, Freeway năm 1942, xa lộ Việt Nam năm 1960 dài 30km. Đặt những con số “bê-tông cốt thép” ấy bên cạnh cái sâu thẳm của tâm hồn để làm gì? Để khẳng định một sự thật đau đớn là, Con người có thể mở đường qua núi, làm xa lộ thênh thang xuyên lục địa, nhưng đường về lại với nhau, đường chữa lành những vết thương lòng thì muôn đời vẫn là “đường đi nào cũng khó”!
Đỉnh điểm của ngọn lửa cảm xúc bùng lên ở những câu thơ cuối như một tiếng kêu xé lòng, dồn nén đến tận cùng:
Tôi muốn mình Quên!
Một thời phiền muộn
Trời ơi sao quên?
Đó là tiếng hờn ghen với số phận, là cái nhếch mép cay đắng trước những dở dang của lịch sử và đời người! “Non nước bình yên ai mà không muốn?”, nhưng những vết sẹo của “một thời phiền muộn” đã tạc vào tâm khảm, làm sao mà quên, làm sao mà xóa? Câu than “Trời ơi sao quên?” như một ngọn lửa bùng cháy giữa đêm đen, vừa rên siết, vừa vặn vẹo, vừa nhức nhối một nỗi đau quá đỗi con người.
“Đó Đây Và Đây Đó” là một khúc ca mang sức nặng của kiếp người, nó có cái mênh mông của vũ trụ, có cái sương gió của lịch sử, có cái xa cách của địa lý, và trên hết là một trái tim yêu đến cháy lòng, đau đến tận cùng nhưng vẫn cuồn cuộn một sức sống không bao giờ tắt!
Kính mời đọc:
=
ĐÓ ĐÂY VÀ ĐÂY ĐÓ
Người cuối chân mây
ta cuối trời xa biết mấy,
nhớ nhau nhìn thôi không nói,
như tọa Thiền như biển một màu xanh.
.
Rồi nhìn thấy lá trên cành
cũng xanh màu như biển
rồi thì tan biến
hết…Tôi tin: Thời Gian không chết…
.
Tôi tin Biển cứ một màu xanh
ngay cả biển có tên: Hồng Hải, Hắc Hải
chỉ do ảnh hưởng của ánh mặt trời.
Biển khi hết nắng, cùng một màu đen!
.
Cũng như anh-nhớ-em
mà Thầy thì nhớ các em.
Cũng là Em thôi
nhưng khác nhau nhiều lắm.
.
Nắng và hết nắng
chỉ vì núi, sông, ngăn cách.
Người cũng như nắng…
Cách núi ngăn sông!
.
Đường đi nào cũng khó!
Xa lộ hay freeway thế giới chỉ mới có,
… hồi năm 1942, Thế Kỷ Hai Mươi!
Việt Nam có xa lộ đầu tiên năm 1960…dài 30km!
.
Nhìn cuối chân mây
ta cuối trời xa biết mấy!
Tôi muốn
Mình Quên!
.
Non Nước bình yên
ai mà không muốn?
Một thời phiền muộn
Trời ơi sao quên?
Trần Vấn Lệ
=
HOA MIMEUSE
NGÀY NẮNG NỞ
Em ơi hoa nở! Hoa đua nở!
Hoa tím… hôm nay nở tím vườn!
Người ta gọi đó – hoa Trinh Nữ
Con bướm bay qua… chắc có buồn?
.
Bươm bướm bay qua không trở lại,
vườn anh không có nhỉ, hoa hồng!
Hoa hồng nắng quá, không thèm nở?
Nó giống em mà! Anh nhớ nhung!
.
Nó giống con sông nhớ nước hoài…
Nước trôi đi kiếm một tương lai? (*)
Chúa không hề hứa gì mai mốt,
Anh nhớ em hoài – không nhớ ai!
.
Anh nhớ em hoa tím nở nhiều…
Thế là hiểu nghĩa nhé, Tình Yêu!
Dẫu là tơ tóc, không hề mỏng
Xuân Diệu làm thơ có bấy nhiêu! (**)
.
Anh muốn thơ anh em đứng bóng!
Em là pho tượng để anh hôn…
Em là pho tượng trên New York
Em đứng muôn đời giữa đại dương!
Trần Vấn Lệ
(*) “Không có ngày mai! Chỉ có hôm nay!
Sự đau khổ của ngày nào đủ cho ngày đó!” (Jesus)
(**) Không ai định nghĩa được Tình Yêu!
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu… (Xuân Diệu)
==***
CẢM ƠN TRỜI
CÒN THƠ –
TRẦN VẤN LỆ
Đôi Lời Từ BBT:
Thật vô cùng cảm phục thi sĩ TRẦN VẤN LỆ. Giữa cái oi ả của nắng Nam Cali mà đọc CẢM ƠN TRỜI – CÒN THƠ người ta không thấy bức bối, trái lại còn phải bật cười rồi lặng ngầm xúc động. Mở đầu bằng sự than thở vui tai về cái nắng “dễ sợ” kéo dài từ sáng sớm đến chiều tàn, và tác giả còn kéo cả một không gian ngột ngạt vào trang giấy với hình ảnh người qua đường lơ đễnh, những cánh chim vắng bóng, và cả chút… ngẩn ngơ trước bóng hồng thoáng qua. Để rồi nhịp thơ bỗng chùng xuống thật lãng mạn ở khổ cuối, khi cái khô khốc của xứ người, thi sĩ giăng thơ ra phơi mà “vẫn ướt”, cái ướt của hoài niệm, của tình yêu quê hương không bao giờ cạn, và của nghĩa tình lính chiến năm xưa. Tuổi về chiều dẫu vô định, nhưng chỉ cần “còn Thơ” là còn tất cả. Một tiếng thở dài nhẹ tênh hóa thành lời tri ân sâu lắng gửi đến đất trời, để cảm ơn vì giữa muôn vàn giông bão cuộc đời, hồn thơ vẫn ở lại đọng trên đôi môi…
Mời đọc:
=
CẢM ƠN TRỜI
CÒN THƠ
Nắng gì nắng dễ sợ!
Nắng từ năm giờ khuya,
nắng cả ngày đầm đìa!
Nắng đến sáu giờ tối…
.
Người thấy không chào hỏi
chỉ đưa tay huơ huơ.
Ai cũng là… Nhà Thơ?
Họ đang mơ gì đó?
.
Nắng, nóng, không có gió…
Cali sa mạc chăng?
Không có chim bay ngang
quạ cũng về cố xứ?
.
Đẹp nhất là thiếu nữ
quần đùi, bắp chân tròn.
Không có gió, ai hôn?
Nói thật: mình không biết!
.
Hoàng Trúc Ly ngộ thiệt
chỉ ca cánh tay thôi:
“Sáng nay con gái đâu nhiều thế?
Những cánh tay tròn như cánh chim!”.
*
Có một người lim dim
Tôi hỏi: Thầy sao ạ?
Ảnh không nói gì cả,
chỉ Nam Mô Nam Mô.
.
Cali nắng-nóng-khô…
Tôi phơi thơ… vẫn ướt:
Tôi muốn quên, không được!
Quê Hương vẫn Tình Yêu!
.
Tôi còn không bao nhiêu
Ôi Tình Yêu Của Lính!
Tuổi về chiều vô định,
Cảm ơn Trời… còn Thơ…
Trần Vấn Lệ
Thơ TRẦN VẤN LỆ: TUỔI TÀN MƯA BÓNG MÂY
==
TUỔI TÀN MƯA BÓNG MÂY
“Có ai mua Thơ hông?”. Ôi tiếng rao nhẹ hổng / một buổi tối trăng hồng… mà nghe lòng bạc phếch!
Thơ của những người chết! Tản Đà và Nguyễn Du! Nguyễn Du buồn Thiên Thu: Đoạn Trường Tân Thanh nhé! Tản Đà thì biển lệ tràn núi Tản sông Đà…
Một thời Nước Non Ta đêm đêm trào nước mắt! Tổ Quốc ơi còn, mất? Tiếng rao Thơ thê lương!
Hình như gió sông Hương đang thổi qua Mang Cá? Hình như người Thanh Hóa đang nhớ người Nguyệt Biều…
“Ba Vì Tây Lĩnh non xanh ngắt. Một dải Thu Giang nước vẫn đầy!”. Nước… cũng là… nước mắt? Người đi không thấy về!
Hoài Khanh, bài Cà Ty, như vầy – nghe nha bạn: “Một dòng xanh mấy niềm sâu, chợt nghe gió lạnh từ đâu thổi về… Giật mình sương rụng trên đê: Người Đi Rồi Chẳng Thấy Về, Chao Ôi!”.
Nhắc thôi! Chừng đó thôi… một thời Thơ tê tái… Tôi yêu người con gái một thời tóc gió thơm…
Tôi cũng nhớ Liên Khương – phi trường máy bay đậu. Đà Lạt tôi nương náu… xa ngút ngàn chân mây!
Tôi biệt xứ đến nay: 52 năm! Vĩnh Biệt! Lời chào trước khi chết… tuổi tàn… mưa bóng mây!
Trần Vấn Lệ
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ. Phương Hoa: 250 NĂM DỰNG NƯỚC HOA KỲ Và BẢN HÙNG CA HAI NỬA BÁN CẦU. THƠ CAO MỴ NHÂN – THƠ CẢM TÁC LÊ MỸ HOÀN – THƠ TRẦN VẤN LỆ.
Mai mới là Quốc Khánh, cả nước Mỹ nghỉ, mừng! Hôm nay mới hừng Đông… người cắt cỏ đi làm sớm, mai nghỉ!
Mình dậy sớm thấy thế, lòng bỗng dưng nghẹn ngào(*). Một chút gì nao nao: nước mình không Quốc Khánh!
Bốn ngàn năm hiu quạnh! Cờ Tàu treo mái Đình… thế mà cũng bốn “nghìn”. Lịch Sử Việt lệch sử?
Đinh Bộ Lĩnh, “thằng nhỏ”, chính danh Đinh Tiên Hoàng, tính chỉ hơn ngàn năm sao bốn “nghìn” cho được?
Mình “ăn cỗ đi trước còn lội nước đi sau!”. Chuyện thật như tào lao… hèn chi không ai học!
Người có học: Trí Thức! Trí Thức làm cái gì? Hết bỏ đi theo Tây… tiếp bỏ đi theo Mỹ…
Ba Mươi Tháng Bốn hay nhỉ! Trời chỉ có mưa sa! Ông Trời phải khóc mà, dân ta thì bình thản! (**)
Đến hai chữ Kách Mạng”, xong nhiệm vụ là xong. Năm mươi hai năm lung tung, trống thùng thùng cứ gióng…
Người cắt cỏ, lao động, sợ mai làm, làm phiền… nên sáng nay… còn đêm, đi làm điều lịch sự!
Ôi Nước Non Yêu Quý, cái tên nước Tàu ban, có gì mà vẻ vang… thua cả người cắt cỏ!
Jean Paul Sartre nói “Đồ Chó! Bám Đít Lũ Lưu Manh!”. Nói xong bèn giật mình… đi cứu người Vượt Biển! (***)
Mở Google nó hiện “Thằng Lưu Manh” là ai? Ai? Ai? Ai? Ai? Ai? Nam Mô A Di Đà Phật!
*
Mùa này Huế lất phất cơn mưa phùn vào Thu. Hãy niệm Phật Nam Mô để cho lòng mình nhẹ…
Cơn mưa dù lớn, bé, nó vẫn là cơn mưa… Cơn mưa phùn phất phơ… áo dài ơi! Yêu Quý!
Trần Trung Tá
(*) Câu này của Thế Viên “Tóc ai vàng một nửa, ta nhìn xa chợt nhớ trăng mùa Thu năm nao soi bóng người bên cửa, lòng bỗng dưng nghẹn ngào. Vì sao ta thương nhớ? Bởi vì quá nhớ thương!”.
(**). Thơ Trần Dần: “Tôi đi không thấy phố thấy nhà chỉ thấy mưa sa…”.
(***) Jean Paul Sartre, triết gia người Pháp, ca tụng chủ nghĩa Marxism, theo Đảng Cộng Sản Pháp, tuyên bố: “Ai không theo Cộng Sản là Đồ Con Chó”. Năm 1975, Sartre đọc tin tức người Việt Nam vượt biển chết nhiều quá, xem thêm hình ảnh thảm thương, chịu không nổi, bèn tuyên bố bỏ Đảng Cộng Sản Pháp, chắt mót tiền riêng, mua tàu đi cứu vớt… Sartre nói “Ai còn theo Cộng Sản là Đồ Con Chó!”. Chớp cơ hội, Võ Văn Ái và Nhất Hạnh dựng ra tổ chức cứu trợ đặt tên Cứu Người Việt Nam Vượt Biển”, tiền vào như nước, có chi một ít, còn lại thì “dùng vào việc cá nhân”… Hãy bấm Google thì thấy… Hãy đọc tờ báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái thì thấy...
==
QUÊ HƯƠNG THỨ HAI – phamphanlang
QUÊ HƯƠNG THỨ HAI – phamphanlang
Kính dâng quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tị nạn, với tất cả lòng biết ơn, nhân dịp Kỷ niệm 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ (1776–2026).
Lịch sử của mỗi dân tộc đều có những ngày không bao giờ phai nhạt.
Đối với Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776 đánh dấu sự ra đời của một quốc gia được xây dựng trên lý tưởng tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Đối với hàng triệu người Việt ly hương, biến cố năm 1975 đã mở ra một hành trình đầy nước mắt, nhưng cũng đưa chúng tôi đến với một bến bờ của hy vọng. Trên mảnh đất Hoa Kỳ, chúng tôi tìm lại phẩm giá của con người, tìm thấy cơ hội để học tập, làm việc, cống hiến và nuôi dưỡng những thế hệ tương lai trong tự do.
Với riêng tôi, lòng biết ơn ấy còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn. Từ một người tị nạn, tôi đã có vinh dự được phục vụ đất nước này trong quân phục của Quân đội Hoa Kỳ, xem sự cống hiến của mình như một cách đáp đền phần nào ân tình mà quê hương thứ hai đã dành cho gia đình tôi.
Bài thơ “Quê Hương Thứ Hai” được viết không chỉ để chúc mừng một cột mốc lịch sử, mà còn để lưu giữ một lời tri ân.
Tri ân một dân tộc đã chọn tự do làm nền tảng lập quốc.
Tri ân một đất nước đã mở rộng vòng tay với những con người mất quê hương.
Và tri ân quê hương thứ hai đã cho hàng triệu người Việt tị nạn cơ hội được sống, được làm người, được phụng sự và được mưu cầu hạnh phúc.
Xin kính chúc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mãi mãi hùng cường; ngọn đuốc tự do luôn tỏa sáng để soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Xin kính chúc quýThầy Cô, quý anh chị và các bạn Happy July 4th!
QUÊ HƯƠNG THỨ HAI
(Mừng 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ)
Hai trăm năm mươi năm
Sử vàng còn rực sáng
Cờ sao bay kiêu hãnh
Rạng rỡ khắp trời xanh
.
Đất nước của niềm tin
Của tự do, dân chủ
Mỗi con người bình đẳng
Được mưu cầu ấm no
.
Bao đoàn người lưu vong
Vượt biển tìm hy vọng
Giữa trùng khơi bão nổi
Vẫn nguyện giữ niềm tin
.
Hoa Kỳ mở vòng tay
Đón bao người tị nạn
Cho cuộc đời đứng dậy
Sau những tháng đau thương
.
Từ đổ nát chiến tranh
Đến ngày vui đoàn tụ
Con thơ vào trường học
Cha mẹ dựng tương lai
.
Gia đình tôi hôm nay
Mang hồng ân sâu nặng
Nhờ quê hương thứ hai
Được sống đời tự do
.
Được nói điều mình tin
Được thờ phượng tín ngưỡng
Được làm người đúng nghĩa
Không sợ hãi cường quyền
.
Hăm hai năm quân ngũ
Xin góp chút sức mình
Đền phần nào ân nghĩa
Đất nước đã cưu mang
.
Dẫu tóc nay pha sương
Lòng tri ân còn mãi
Nguyện cầu cho nước Mỹ
Mãi hùng cường, vinh quang
.
Xin cho ngọn đuốc thiêng
Tự do luôn tỏa sáng
Xin cho nền dân chủ
Bền vững với thời gian
.
Để mai này cháu con
Vẫn ngẩng đầu kiêu hãnh
Tự hào mình được sống
Trên đất nước anh hùng
.
Mừng hai trăm năm mươi,
Một chặng đường rực rỡ
Tri ân quê hương mới
Khắc mãi giữa tim này
.
Việt Nam còn trong tim
Hoa Kỳ trong máu chảy
Hai quê hương một tấm lòng
Chung niềm tin nhân ái
.
phamphanlang
Một người Việt tỵ nạn biết ơn nước Mỹ
July 4th, 2026
==
MỘT BẢN HÙNG CA – HAI NỬA BÁN CẦU – Phương Hoa
Trận Đống Đa Của Quân Tây Sơn
Lễ Độc Lập 250 Năm Dựng Nước Hoa Kỳ
Và Bản Hùng Ca Hai Nửa Bán Cầu: George Washington Và Vua Quang Trung Cùng “Vượt Sông” Xoay Chuyển Vận Mệnh Quốc Gia!
250 Năm rực lửa Tự Do.Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền 50 Tiểu Bang. Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7. Và năm nay, ngọn lửa ấy mang một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu,“Lễ Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!
Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia của những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình hiển hách được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ. Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên bởi tinh thần quả cảm kiêu hùng của một biểu tượng tự do trường tồn, từ sau những cuộc hành trình đầy kiêu hãnh của cha ông.
Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên. Năm 1776. Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương Quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ vang lên, chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng. Đó là Quyền sống, Quyền tự do, và Quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng ở Thế kỷ XVIII đó, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền khai lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do. Cuộc Nội chiến 1861 – 1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ và khẳng định một khối thống nhất quốc gia vững bền. Đi cùng với đó là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, định hình nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.
Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX. Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (Digital), Mỹ khẳng định vị thế siêu cường không thể lay chuyển. Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất. Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ. Đó là, tạo nên một đất nước của người dân, do người dân, và vì người dân.
George Washington, vị “Cha già dân tộc” là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập. Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.
Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do
lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ. Đó là đêm Giáng sinh năm 1776. Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản. Đội quân Lục Địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi. Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự: Vượt sông Delaware.
Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt. Trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội, thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh, chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do!
Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tâm tư tôi bỗng dưng rúng động bàng hoàng. Chợt nhiên tôi nhớ ra, trong lịch sử nước nhà của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế. Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra, cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng Trái Đất làm, cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ. Hành động vượt sông băng của George Washington năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!
Cả hai vị thiên tài quân sự đã gặp nhau ở cùng một tư tưởng lớn. Đó là, Tốc độ, Bất ngờ, và Chọn thời điểm kẻ thù sơ hở nhất! Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt, đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh đầy băng giá trong đêm Giáng Sinh, và đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền và đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.
Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám tiền tiêu của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi – Đống Đa kinh thiên động địa. Đến Mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng. Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.
Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở. Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi còn có thể “khoe” với những người bạn Mỹ của tôi trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ “Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, bài viết tiếng Anh, về quê hương Việt Nam. Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ, cũng từng đọc qua nhiều sử sách. Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.
Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm. Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo “anh Gút” bày, “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự – cũng nhờ anh Gút dịch, xin nói rõ kẻo những nhà Hán Học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) và thảy vào tìm kiếm, thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII, tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu. Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào, hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt. Và rồi, một cảm giác nổi da gà, dựng chân lông, vừa ngạc nhiên tột độ, lẫn thích thú vô bờ, choáng ngợp lấy tâm trí tôi! Tôi ngồi sững sờ, xúc động đến phát khóc cho sự khám phá này. Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu. Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử Quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại. Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách cho đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới. Những Bản Văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng Đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của các tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch.
Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, và đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận bão lửa của đoàn quân vua Quang Trung.
Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng Đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, thứ mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.
Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng Đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại. Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ kiêu hùng nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại, cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.
Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.
Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai. Miễn là thế giới này còn những con người trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…
Phương Hoa
Nguồn tài liệu tham khảo:
*Trang web chính thức của Di tích Lịch sử Mount Vernon (George Washington’s Mount Vernon):mountvernon.org
*Viện Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ (The U.S. National Archives): archives.gov
*Sách “Việt Nam Sử Lược” – Tác giả Trần Trọng Kim (Bản in của Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn) Trong Chương XI (Nhà Tây Sơn), học giả Trần Trọng Kim mô tả rất kỹ trận đại phá quân Thanh, việc vua Quang Trung ước hẹn với quân sĩ ăn Tết trước, rồi đúng đêm giao thừa (30 Tết) hạ đồn Gián Khẩu (sông Đáy) khiến quân Thanh không kịp trở tay.
*Bộ sử liệu “Khâm Định An Nam Kỷ Sự” (欽定安南紀事), Quyển 1–30, bản in cổ thế kỷ XVIII, hiện đang được lưu trữ trang trọng tại Thư viện Yên Kinh Harvard (Harvard-Yenching Library) thuộc Đại học Harvard, Hoa Kỳ: https://library.harvard.edu/ – hollis.harvard.edu zh.wikisource.org 欽定安南紀事
==
THƠ CẢM TÁC SAU KHI ĐỌC BÀI VIẾT “Một Bản Hùng Ca – Hai Nửa Bán Cầu“
HAI CHIẾN THẮNG HAI BÊN BỜ ĐẠI DƯƠNG
LêMỹ Hoàn – Cảm tác
Bài thơ được thực hiện theo bài nghiên cứu trận Đống Đa của vts Phương Hoa
Hai chiến thắng hai bên bờ đại dương
Một chiến thuật như chung cùng tư tưởng
Địch quân phòng thủ lơi là hờ hững
Cuộc vây thành đập nát kẻ xâm lăng
*
Rồi quân ta toàn thắng quyết xây thành
Non nước sáng rực màu cờ tổ quốc
Hẹn cuộc vui Tết Nguyên Đán mong chờ
Chiến thắng Đống Đa một thời rực rỡ
*
Năm ngày năm đêm âm thầm thần tốc
Một trận thư hùng sổ sách ghi tên
Hoàng Đế Quang Trung rạng ngời lịch sử
Nước Việt oai hùng tới vạn muôn niên
*
Điểm xuất phát Phú Xuân còn ghi dấu
Người ngậm tăm ôi chiến thuật thần sầu
Người ngồi võng hai người khiêng lặng lẽ
Dành toàn tâm quyết chiến giữa đêm thâu
*
Cho đến bây giờ người dân còn nhớ
Sử sách ghi rành nào phải giấc mơ
Trận Ngọc Hồi còn mãi trong hơi thở
Đuổi quân Thanh quyết liệt giữ cõi bờ
*
Hôm nay 4 tháng Bảy ngày Độc Lập nước Mỹ
Đọc chiến công sao thấy họ hào hùng
Ngày Lập Quốc 250 năm sử sách
Ta có thời cùng binh pháp vang danh.
*
Ta vượt sông Đáy, Mỹ vượt sông Delaware
Không quản gì cực khổ với gian lao
Cùng công thành vào những ngày lễ lớn
Độc Lập Tự Do mãi mãi đón chào.
.
Lê Mỹ Hoàn
7/2/2026
==
Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử
THÁI NỮ LAN DỊCH
==
Có thật nhiều Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử – Xin gởi đến quý anh chi một vài sự kiện – còn rất nhiều, như quý anhchi đã biết-
Cảm ơn quý anhchi XIN CHÚC QUÊ HƯƠNG THỨ HAI ĐẦY LÒNG NHÂN ÁI NÀY SẼ LUÔN VỮNG MẠNH VÀ LUÔN VĨ ĐẠI NHƯ CHÚ CHIM ĐẠI BÀNG – chú chim đại diện cho ĐẤT NƯỚC CỜ HOA THÂN ÁI ==Chúc quý anhchi mùa Lễ Thật Vui bên gia đình
How Did the Bald Eagle Become America’s National Bird? (www.history.com)Long considered a symbol of strength, the predatory bird first appeared on the national seal in 1782. The bald eagle’s role as a national symbol is linked to its 1782 landing on the Great Seal of the United States. Shortly after the Declaration of Independence was signed on July 4, 1776, the Continental Congress gave Benjamin Franklin, Thomas Jefferson and John Adams the job of designing an official seal for the new nation. However, the three Founding Fathers failed to come up with a design that won Congress’ approval, as did two later committees that were given the task. In mid-June 1782, the work of all three committees was handed over to Charles Thomson, the secretary of Congress. Thomson chose what he thought were the best elements of the various designs and made the eagle—which had been introduced by artistically inclined Pennsylvania lawyer William Barton in a design submitted by the third committee—more prominent. (Since ancient times, the eagle has been considered a sign of strength; Roman legions used the animal as their standard, or symbol.)========================
Đại bàng đầu trắng trở thành chú chim quốc gia của Mỹ như thế nào? (www.history.com) Từ lâu được coi là biểu tượng của sức mạnh, loài chim săn mồi có đầu lông trắng này lần đầu tiên xuất hiện trên quốc huy vào năm 1782. Vai trò của đại bàng đầu trắng như một biểu tượng quốc gia gắn liền với việc nó xuất hiện trên Quốc huy Hoa Kỳ năm 1782. Ngay sau khi Tuyên ngôn Độc lập được ký kết vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã giao cho Benjamin Franklin, Thomas Jefferson và John Adams nhiệm vụ thiết kế một con dấu chính thức cho quốc gia mới. Tuy nhiên, ba vị Cha lập quốc đã không thể đưa ra một thiết kế được Quốc hội chấp thuận, cũng như hai ủy ban sau đó được giao nhiệm vụ này. Vào giữa tháng 6 năm 1782, công việc của cả ba ủy ban được giao cho Charles Thomson, thư ký Quốc hội. Thomson đã chọn những gì ông cho là những yếu tố tốt nhất trong các thiết kế khác nhau và làm cho hình ảnh đại bàng—vốn được luật sư William Barton người Pennsylvania, một người có năng khiếu nghệ thuật, giới thiệu trong một thiết kế do ủy ban thứ ba đệ trình—nổi bật hơn. (Từ thời cổ đại, đại bàng đã được coi là biểu tượng của sức mạnh; quân đoàn La Mã sử dụng loài vật này làm biểu tượng của họ.)
A/- 10 Cột mốc Quan trọng nhất trong Lịch sử Hoa Kỳ (và Lý do Chúng vẫn còn Ý nghĩa)
Lịch sử Hoa Kỳ chứa đựng vô số bước ngoặt — những ngày mà đất nước thay đổi vận mệnh mãi mãi. Một số ngày được kỷ niệm rộng rãi, số khác được nhớ đến với niềm đau thương, và một vài sự kiện vẫn khơi dậy những cuộc tranh luận ngay cả khi nhiều thế hệ đã trôi qua.
Nếu bạn từng thắc mắc đâu là những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, bài viết này sẽ điểm qua mười khoảnh khắc mang tính bước ngoặt và giải thích lý do tại sao chúng vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay.
Từ nền độc lập và chiến tranh cho đến những thảm kịch và thành tựu công nghệ, đây chính là những cột mốc đã định hình nên câu chuyện về nước Mỹ.
Tại sao 10 Cột mốc này lại Quan trọng đối với Lịch sử Hoa Kỳ?
Những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là các mốc thời gian. Chúng đại diện cho những khoảnh khắc mà:
• đất nước được thành lập hoặc được định hình lại
• bản sắc dân tộc có sự thay đổi
• các cuộc chiến tranh lớn làm thay đổi vai trò của nước Mỹ trên trường quốc tế
• ký ức cộng đồng và văn hóa có sự chuyển biến sâu sắc
• các thế hệ tương lai tiếp nhận những quyền tự do, nỗi sợ hãi và trách nhiệm mới
Danh sách này tập trung vào những cột mốc có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ trên các phương diện chính trị, văn hóa, quân sự và xã hội.
–1.) Ngày 4 tháng 7 năm 1776 — Tuyên ngôn Độc lập
Tầm quan trọng: Ngày 4 tháng 7 năm 1776 là cột mốc mang tính biểu tượng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày này đánh dấu việc thông qua Tuyên ngôn Độc lập, khi mười ba thuộc địa chính thức tuyên bố tách khỏi Vương quốc Anh.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 7 năm 1776?
Quốc hội Lục địa đã thông qua nội dung cuối cùng của bản Tuyên ngôn, trong đó nêu rõ lý do các thuộc địa tách khỏi sự cai trị của Anh, đồng thời khẳng định tư tưởng rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và sở hữu những quyền bất khả xâm phạm.
Tại sao ngày 4 tháng 7 vẫn quan trọng cho đến ngày nay?
• Ngày này đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia.
• Ngày này xác lập các lý tưởng về tự do, quyền tự trị và các quyền tự nhiên.
• Ngày này trở thành nền tảng cho các phong trào đấu tranh mở rộng quyền tự do trong tương lai.
==2.) Ngày 12 tháng 4 năm 1861 — Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ (Pháo đài Sumter)
Tầm quan trọng: Cuộc tấn công vào Pháo đài Sumter ở Nam Carolina đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1861?
Các lực lượng thuộc Liên minh miền Nam (Confederacy) đã nổ súng vào Pháo đài Sumter, một pháo đài do phe Liên bang miền Bắc (Union) kiểm soát tại cảng Charleston. Cuộc pháo kích này đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh toàn diện giữa phe Liên bang và phe Liên minh miền Nam.
Tại sao ngày này đã thay đổi Hoa Kỳ?
• Ngày này mở màn cho cuộc chiến quyết định sự tồn vong của phe Liên bang miền Bắc
• Ngày này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng quốc gia xoay quanh vấn đề nô lệ.
• Ngày này tạo tiền đề cho công cuộc giải phóng nô lệ và những thay đổi mang tính hiến pháp.
Cuộc Nội chiến đã định hình lại quyền lực liên bang, quy chế công dân và tương lai của đất nước.
==3) Ngày 1 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực
Tầm quan trọng: Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, không chỉ đối với cuộc Nội chiến mà còn đối với định hướng đạo đức của Hoa Kỳ.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1863?
Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln chính thức có hiệu lực, tuyênbố trả tự do cho những người bị bắt làm nô lệ tại các vùng lãnh thổ do Liên minh miền Nam (Confederacy) kiểm soát.
Tại sao sự kiện này vẫn còn quan trọng?
• Biến cuộc Nội chiến thành cuộc đấu tranh vì cả sự thống nhất quốc gia lẫn quyền tự do.
• Làm giảm sự ủng hộ của châu Âu dành cho Liên minh miền Nam.
• Mở đường cho Tu chính án thứ 13, văn bản bãi bỏ chế độ nô lệ.
Mặc dù không ngay lập tức giải phóng tất cả những người đang bị bắt làm nô lệ,
nhưng sự kiệnđã thay đổi ý nghĩa và mục đích của cuộc chiến.
==4) Ngày 9 tháng 4 năm 1865 — Quân Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox
Tầm quan trọng: Việc Tướng Robert E. Lee đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại Tòa án Appomattox (Appomattox Court House) đã thực sự chấm dứt cuộc Nội chiến.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1865?
Tướng Lee đã cho đầu hàng Binh đoàn Bắc Virginia, đánh dấu sự sụp đổ trong khả năng kháng cự quân sự của Liên minh miền Nam.
Tại sao đây là một trong những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ?
• Sự kiện này đã bảo toàn được Liên bang.
• Đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Tái thiết.
• Mở ra một chương mới trong cuộc đấu tranh về vấn đề chủng tộc, quyền con người và sự hàn gắn dân tộc.
Ngày này vẫn đóng vai trò then chốt để hiểu rõ về cái giá phải trả cũng như di sản của cuộc Nội chiến.
==5) Ngày 15 tháng 4 năm 1865 — TT Abraham Lincolntạ thế
Tầm quan trọng: Tổng thống Abraham Lincoln qua đời vào sáng hôm sau khi bị John Wilkes Booth bắn, chỉ vài ngày sau chiến thắng của phe Liên bang (Union).
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm 1865?
Lincoln qua đời sau khi bị ám sát tại Nhà hát Ford ở Washington, D.C. Phó Tổng thống Andrew Johnson đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống.
Tại sao cái chết của Lincoln lại thay đổi lịch sử?
• Đất nước mất đi một nhà lãnh đạo vào thời điểm then chốt của quá trình tái thống nhất.
• Công cuộc Tái thiết (Reconstruction) diễn ra mà thiếu vắng sự lãnh đạo của Lincoln.
• Lincoln trở thành biểu tượng trường tồn của sự đoàn kết, tinh thần hy sinh và lòng dũng cảm về mặt đạo đức.
Đối với nhiều nhà sử học, đây là một trong những ngày bi thương và có ảnh hưởng lớn nhất ttrong lịch sử nước Mỹ. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn sách cực kỳ rất đáng đọc về cái chết của Abraham Lincoln, hãy thử đọc Killing Lincoln. Bạn sẽ khó lòng rời mắt khỏi cuốn sách này.
==6) Ngày 7 tháng 12 năm 1941 — Cuộc tấn công Trân Châu Cảng
Tầm quan trọng: Cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ vào cuộc
Chiến tranh Thế Giới thứ Hai.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941?
Nhật Bản đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu
Cảng (Hawaii), khiến hơn 2.000 người Mỹ thiệt mạng, đồng thời làm hư hại hoặc phá hủy
nhiều tàu chiến và máy bay.
Tại sao Trân Châu Cảng vẫn là một cột mốc quan trọng đối với Hoa Kỳ?
• Sự kiện này chấm dứt giai đoạn Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc Đệ Nhị Thế Chiến.
• Dẫn đến việc chính thức tuyên chiến.
• Đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình vươn lên của Hoa Kỳ thành một siêu cường toàn cầu.
Ngày 7 tháng 12 được ghi nhớ là “một ngày mang nỗi nhục nhã ê chề” (theo cách gọi của Tổng thống Roosevelt), và đây vẫn là một trong những ngày được biết đến nhiều nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.
==7) Ngày 6 tháng 6 năm 1944 — Ngày D-Day (Cuộc đổ bộ lên Normandy)
Tầm quan trọng: D-Day là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944?
Lực lượng Đồng minh, bao gồm hàng nghìn đơn vị quân độiMỹ, đã đổ bộ lên các bãi biển tại Normandy (thuộc nước Pháp đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng) trong cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền lớn nhất lịch sử.
Tầm quan trọng của D-Day đối với lịch sử Hoa Kỳ
• Sự kiện này mở ra một mặt trận lớn ở phía Tây để chống lại Đức Quốc xã.
• Đẩy nhanh quá trình giải phóng châu Âu.
• Trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần hợp tác của phe Đồng minh.
D-Day là một trong những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.
==8) Ngày 20 tháng 7 năm 1969 — Sự kiện tàu Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng
Ý nghĩa: Việc đổ bộ lên Mặt Trăng là minh chứng cho thành tựu công nghệ của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh, và là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử nhân loại.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1969?
Các phi hành gia của tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đổ bộ xuống Mặt Trăng, và Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của nó.
Tại sao ngày này lại quan trọng về mặt lịch sử?
• Sự kiện này thể hiện sự đổi mới khoa học và tham vọng quốc gia của Hoa Kỳ.
• Tượng trưng cho sự cạnh tranh và vị thế có uy tíntrong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh.
• Truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thám hiểm.
Ngày 20 tháng 7 là một trong những ngày đáng nhớ nhất và vinh quang trong lịch sử chinh phục không gian của Hoa Kỳ.
Giờ thì có một câu hỏi dành cho bạn — Liệu việc đổ bộ lên Mặt Trăng là thật hay giả?
Có những lập luận cực kỳ thuyết phục cho rằng sự kiện này có thể đã được dàn dựng suốt bấy
lâu nay. Bản thân tôi vẫn tin vào “Giấc mơ Mỹ” và tinh thần chiến thắng của đất nước,
nên tôi chọn tin rằng sự kiện đó thực sự đã diễn ra. Đó là lòng yêu nước trong tôi lên tiếng.
Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy điều ngược lại.
==9) Ngày 22 tháng 11 năm 1963 — Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy
Tầm quan trọng: Vụ ám sát Tổng thống Kennedy đã gây ra cú sốc lớn cho cả quốc gia và trở thành bước ngoặt trong văn hóa chính trị Mỹ.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 22 tháng 11 năm 1963?
Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas, khi đang ngồi trong đoàn xe diễu hành.
Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong ngày hôm đó.
Lý do ngày 22 tháng 11 vẫn là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nước Mỹ
• Sự kiện này đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới. • Làm gia tăng sự ngờ vực trong công chúng cũng như những đồn đoán về các thuyết âm mưu. • Đã thay đổi diện mạo chính trị và bầu không khí văn hóa của thập niên 1960.
Đối với nhiều người Mỹ, điều nây đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ gắn liền với câu hỏi:
“Bạn đang ở đâu vào lúc đó?“
==10) Ngày 11 tháng 9 năm 2001 — Các cuộc tấn công khủng bố 11/9
Tầm quan trọng: Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một trong những cột mốc có ảnh hưởng lớn
nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001?
Những kẻ khủng bố đã cố gắng cướpbốn chiếc máy bay thương mạivà buộc hai chiếc đâm vào tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, một chiếc đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc còn lại rơi xuống Pennsylvania sau khi các hành khách chống trả.
Tại sao sự kiện 11/9 đã thay đổi Hoa Kỳ
• Sự kiện này làm thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.
• Dẫn đến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.
• Làm thay đổi hoạt động đi lại bằng đường hàng không, công tác giám sát an ninh và đời sống xã hội.
• Trở thành ký ức mang tính Khoảnh khắc quyết định, định hình đối với cả một thế hệ.
Ngày 11 tháng 9 vẫn là một trong những ngày được tìm kiếm và ghi nhớ nhiều nhất trong
lịch sử đương đại của Hoa Kỳ.
==================================
B/—Những mốc thời gian đáng chú ý khác trong lịch sử Hoa Kỳ
Tùy thuộc vào tiêu chí đánh giá, những mốc thời gian sau đây cũng hoàn toàn có thể nằm
trong danh sách sự kiện quan trọng nhất:
• Ngày 17 tháng 9 năm 1787 — Ký kết Hiến pháp Hoa Kỳ
• Ngày 15 tháng 12 năm 1791 — Phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights)
• Giai đoạn 1803–1804 — Thời kỳ mở rộng lãnh thổ thông qua Thương vụ Louisiana
• Ngày 01 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (đã được đưa vào danh sách chính)
• Ngày 18 tháng 8 năm 1920 — Phê chuẩn Tu chính án thứ 19 (quyền bầu cử của phụ nữ)
• Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 — Các vụ ném bom nguyên tử (bước ngoặt lớn trong thời chiến của Hoa Kỳ)
• Ngày 28 tháng 8 năm 1963 — Cuộc Tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington
• Ngày 2 tháng 7 năm 1964 — Ký kết Đạo luật Quyền Dân sự
Đây là một lý do khiến lịch sử Hoa Kỳ luôn đầy sức hút: có rất nhiều mốc thời gian mang ý nghĩa quan trọng lâu dài.
Cách nhìn nhận về những mốc thời gian “quan trọng nhất” trong lịch sử Hoa Kỳ
Không có một danh sách hoàn hảo duy nhất nào cả. Một số người ưu tiên các sự kiện như:
• Các văn bản nền tảng quốc gia
• Các cuộc chiến tranh và trận đánh
• Các cột mốc về quyền dân sự
• Các vụ ám sát Tổng thống
• Các thành tựu khoa học
• Những khoảnh khắc bi kịch quốc gia
Một cách tiếp cận thuyết phục hơn là:
“Những mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là những ngày mà bản sắc định hướng hoặc vận mệnh của nước Mỹ đã thay đổi theo hướng lâu dài.”
Điều này bao gồm cả những thắng lợi, bước đột phá, thất bại và tổn thất.
Lời kết: Tại sao những mốc thời gian này trong lịch sử Hoa Kỳ vẫn quan trọng?
Việc tìm hiểu các mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là ghi nhớ các mốc sự kiện. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ:
• quốc gia này đã được xây dựng như thế nào
• đã trải qua những thử thách gì
• những lý tưởng mà họ đề cao
• những thành tựu đã đạt được
• những điểm còn hạn chế
• và hình mẫu quốc gia mà người dân vẫn đang nỗ lực hướng tới
Nếu bạn đang tìm hiểu lịch sử Hoa Kỳ qua lăng kính “nhìn lại sự kiện trong ngày“,
thì Nhữngmốc thời gian này đóng vai trò là những điểm tựa quan trọng —
và mỗi mốc thời gian đều mở ra cánh cửa dẫn đến những câu chuyện sâu sắc hơn.
HÁT NÓI – NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG ÚC CHÂU – VỀ Bài “Một Thiên Anh Hùng Ca Ở Hai Nửa Bán Cầu!” Của Phương Hoa
BÀI 721
Thiên Anh Hùng Ca Ở Hai Nửa Bán Cầu! (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Dịch Giả Thái Nữ Lan và Văn Thi Sĩ Phương Hoa đã chuyển đến bài viết đặc sắc của Phương Hoa viết nhân Ngày Lễ Độc Lập Independence Day của Hoa Kỳ 04/07/2026.) * Washington và Quang Trung Nguyễn Huệ! Chưa hề gặp mặt! Nhưng luôn “gặp nhau” trong tâm tưởng, gan mật của loài người! Ở Bắc Bán Cầu, Hoa Thịnh Đốn dẫn quân vượt sông Delaware nắm ngay cơ hội “Vàng Mười”.
*
Tại Nam Bán Cầu, Quang Trung dẫn quân qua sông Đáy vào thời điểm “chỉ có một” * Thịnh Đốn! Hành toàn đà quá tốt! Quang Trung! Quyết đoán đã thành công! Những gì cùng cực thì “hay giống nhau”! Dù xa tắp biển, núi, sông! Hai trận đại thắng đã “tình cờ” ghi tên hai con sông huyền thoại! * Cảm ơn “Siêu Bút Ký” của “Nữ Hoàng Bút Ký” Phương Hoa chuyển lại! Tưởng niệm những con người tài năng, đức độ, công lao vĩ đại muôn đời! Tấm gương! Bài học! Tuyệt vời!
* Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 04/07/2026 Kỷ Niệm Lễ Independence Day của Hoa Kỳ
==
==
Chùm Thơ TRẦN VẤN LỆ: Bài Thơ Mới Nhất: Đà Lạt Đây Thành Phố Núi – APRÈS LA PLUIE IL FAIT LE BEAU TEMPS (*) – Trôi Theo Dòng Đời – Cuối Tuần Tặng VTLV + Mỗi Giọt Lệ Là Một Giọt Quê Hương + Ai Có Mười Năm Không Nước Mắt, Ai Lòng Cô Quạnh Chẳng Như Sương.
ĐÀ LẠT ĐÂY THÀNH PHỐ NÚI
Bạn đã lên đây chưa?
Đà Lạt thành phố núi!
Bạn cứ đi, đừng hỏi
Thành phố đó chỗ nào…
.
Cứ nhắm hướng trên cao
Trên Trường Sơn bạn nhé!
Mây đang bay nhè nhẹ
Sương khói mờ lũng sâu…
.
Khi nghe lạnh trên đầu,
Bạn che giùm mái tóc.
Khi nghe lạnh trên ngực,
Cài nút cái áo laine…
.
Bạn à bạn đừng quên
Mình lên cao thì lạnh.
Nhưng Đà Lạt không tránh
Cái hướng nhìn bạn nha…
.
Đường đi nào cũng xa
Có đi thì có tới!
Đà Lạt luôn luôn đợi
Những ai yêu mù sương…
.
Đà Lạt luôn luôn thương
Ai mệt ngồi tựa núi,
Cầm nhánh thông lên thổi
Phấn thông bay ngạt ngào…
*
Ông Yersin chiêm bao
Thấy Đà Lạt đâu đó.
Công việc làm, ông bỏ
Đi tìm Đà Lạt thôi!
.
Và Ông đã đến nơi:
Đây, Trường Sơn mây trắng,
Đây, ngàn thông như thảm,
Dệt từ lụa từ tơ…
.
Đà Lạt đúng như mơ.
Ông Yersin ở lại.
Ông ở lại mãi mãi
Chứng tích: Mộ Yersin!
.
Bạn cứ chậm đừng nhanh
Hãy tự tin mình tới!
Chí mình cao như núi,
Hồn mình nhẹ như sương…
Trần Vấn Lệ
==
APRÈS LA PLUIE IL FAIT LE BEAU TEMPS (*)
.
Ba, bốn ngày… không nắng
bây giờ thấy nắng lên!
Ôi mặt trời làm duyên
cái mặt hồng thương quá…
.
Nắng đùa cùng hoa lá
tiếng chim hót đệm đàn
ai kìa mới đi ngang
tiếng bước chân nhỏ nhẹ…
.
Tôi săm soi cây khế
nâng từng chùm hoa xinh
cái mặt ai thật tình
hôn hoài hôn không hết…
.
Nắng lên dễ thương thiệt
ai đó nói bất ngờ
trời không phải sau mưa
mà đang trong nắng nguội…
.
Nắng đừng hoài khỏi tưới
Ngoại ơi về hái cau
Ngoại đi con theo sau
những ngày xưa thân ái…
*
Những ngày xưa trở lại
thái hòa Đất Nước tôi…
Nhưng mà tôi mồ côi
Mẹ Cha đều chín suối…
.
Chiều nay rồi sẽ tối…
rồi sẽ nửa đêm khuya
thương những người trở về
mắt mưa rơi từng giọt!
.
Má ơi trái khế ngọt
thương Má nó chín hườm
con thì có ai thương
mồ côi cha với mẹ!
.
Bước ai đi rất khẽ
nghe mà lòng nao nao
sắp Tết hai cây đào
mấy tuổi rồi yêu quý?
.
Trần Vấn Lệ
(*) Sau mưa trời đẹp
APRÈS LA PLUIE
IL FAIT LE BEAU TEMPS (*)
.
Ba, bốn ngày… không nắng
bây giờ thấy nắng lên!
Ôi mặt trời làm duyên
cái mặt hồng thương quá…
.
Nắng đùa cùng hoa lá
tiếng chim hót đệm đàn
ai kìa mới đi ngang
tiếng bước chân nhỏ nhẹ…
.
Tôi săm soi cây khế
nâng từng chùm hoa xinh
cái mặt ai thật tình
hôn hoài hôn không hết…
.
Nắng lên dễ thương thiệt
ai đó nói bất ngờ
trời không phải sau mưa
mà đang trong nắng nguội…
.
Nắng đừng hoài khỏi tưới
Ngoại ơi về hái cau
Ngoại đi con theo sau
những ngày xưa thân ái…
*
Những ngày xưa trở lại
thái hòa Đất Nước tôi…
Nhưng mà tôi mồ côi
Mẹ Cha đều chín suối…
.
Chiều nay rồi sẽ tối…
rồi sẽ nửa đêm khuya
thương những người trở về
mắt mưa rơi từng giọt!
.
Má ơi trái khế ngọt
thương Má nó chín hườm
con thì có ai thương
mồ côi cha với mẹ!
.
Bước ai đi rất khẽ
nghe mà lòng nao nao
sắp Tết hai cây đào
mấy tuổi rồi yêu quý?
.
Trần Vấn Lệ
(*) Sau mưa trời đẹp
==
==
TRÔI THEO DÒNG ĐỜI – TRẦN VẤN LỆ
.
Nắng đến nỗi chim không về phố nữa!
(Chim chỉ về khi chiều xuống, hoàng hôn)
Nhiều công nhân không làm việc ngoài đường
(Như thợ điện, những người phu lục lộ…)
.
Xe rác vẫn chạy vì chỉ một người tài xế,
Cabine xe thì có máy điều hoà…
Tôi nghĩ đến những con chim bay kiếm ăn xa
Tôi tin chim luôn luôn có mỗi ngày no đủ
.
Hãy nhìn kìa: ban đêm xa lộ
Đèn sáng trưng cho công nhân sửa đường!
Hãy nhìn kìa hành lang nhà thương
Những y tá vẫn bình thường thay phiên ca trực!
.
Năm bốn mùa có một mùa nóng bức
Có một mùa lạnh lẻo, tự nhiên
Nhưng bạn à, bạn thấy những nhân viên
của Bưu Điện vẫn dầm mưa dãi nắng!
.
Những Công An, những Cảnh Sát thầm lặng
Họ chỉ cười chào trả tiếng Hello
Hải Lục Không Quân ờ nhỉ họ đi mô?
Không thấy cả ở phi trường hay bến cảng!
.
Quân đội Mỹ là chim? Chim bay đâu từ sáng?
Chiều có về, đêm có ngủ hay không?
Nhiều khi tôi lòng có hỏi lòng:
“Mình hạnh phúc hay mình không hạnh phúc?”
.
Thành phố Mỹ song song hàng dọc
Thành Phố Mỹ song song hàng ngang
Tiếng chuông Nhà Chùa, Nhà Thờ vang vang
Từng bữa lễ hay từng ngày nhất định…
.
Hình như không ai có gì toan tính
ngay với tôi – chỉ nghĩ việc đi chơi
như bầy chim chúng có bầu trời
như hàng cây có màu xanh tươi Xuân, Hạ
.
Còn… Thu, Đông dĩ nhiên vàng lá
Lá vàng bay… ôi chao buồn mênh mông!
Tôi nhớ bà Quỳnh Dao, bà đã thác, cuối cùng
Bà đang ở một nơi nào trên trái đất?
.
Tôi không đếm, không đong cái còn cái mất
Tôi đã là Từ Thức lạc Bồng Lai!
Trần Vấn Lệ
NHƯ LÀ
TRUYỆN LIÊU TRAI
Cuối tuần! Lại cuối tuần
nhanh như là gió thổi
mà kìa, lúa trên đồng nội
chưa thấy trổ đòng đòng…
vậy mà ai theo chồng
hai Thế Kỷ rồi đó!
.
Ô! Tôi một đứa nhỏ
cứ nhớ thời gian xưa…
cuối tuần thường có mưa
Ông Trời chơi thật ngẳng:
học trò thì ghét nắng
ngày đi học không mưa…
cây thước Thầy cứ khua
làm học trò cứ sợ!
làm học trò cứ nhớ
câu “tục ngữ an nam”:
-Một cái doạ bằng năm cái đánh!”
.
Cuối tuần nào cũng lạnh
mưa hoài mưa mưa mưa!
.
Mưa, nhớ Lưu Trọng Lư
có bài thơ bất tử
có những câu bắt người ta tư lự
chẳng hạn như câu này:
“Mưa chi mưa mãi
lòng nhớ thương hoài…
Mưa mãi mưa hoài
lòng nhớ thương ai!
Trăng lạnh về non không trở lại!”
*
Tôi nhớ em: Cô gái.
Tôi nhớ Ngoại: vườn cau.
Mưa chầm chậm, mưa không mau.
Nước chảy qua cầu, hai Thế Kỷ, nước trôi ra biển!
Em ra đó rồi biến…
… như là chuyện Liêu Trai!
Trần Vấn Lệ
==
AI CÓ MƯỜI NĂM KHÔNG NƯỚC MẮT
AI LÒNG CÔ QUẠNH CHẲNG NHƯ SƯƠNG
Xưa, nói mười năm là thở dài
Nay, mười năm… một thoáng con nai
nó ra bờ suối nghiêng đầu xuống
uống nước và rồi mọc cánh bay!
.
Xưa, mười năm, đúng mười niên kỷ
Nay, hẹn gì rồi cũng đã quên
Khi ngó lịch thì trang lịch mới
Khi tìm hình bóng mịt mờ im!
.
Mười năm cứ ngỡ thanh bình đẹp
Mà đó mà đây luống ngỡ ngàng
Rồi chuyện mười năm vào cổ tích
Như người con gái đã sang ngang!
.
Sài Gòn không chỉ mười năm nhớ
Mà nhớ muôn năm: nó mất rồi
Bến Nghé chia hai dòng nước đục
Hình như vì lệ của ai rơi?
.
Mười năm chỉ ném vài viên sỏi
Mà vỡ tan tành muôn trái tim!
Có lẽ con nai về Darlak
Để Bình Dương lẻ bóng trăng lên…
*
Mười năm Cải Tạo rồi lưu lạc
Tôi vẫn là con của Mẹ Cha,
Mà giọt mồ hôi không thấy mặn
Mà chua lè vì bởi quê xa?
.
Hăm bảy năm sau về Cố Lý,
Cháu dẫn đi thăm đất mả mồ,
Cháu dẫn đi thăm từng đám ruộng
Đi qua cầu khỉ vẫn trơ vơ…
.
Cái cầu khỉ đó qua con suối.
Sông ra biển rồi, mưa theo sông
Tôi về gặp lúc trời khô hạn,
Nhang cắm bàn thờ hoa trổ bông!
.
Mười năm tôi hiểu là đau đớn
Chợt ngó ra vườn thấy bướm bay…
Tôi thất tình như con bướm đó?
Tôi có tình mà không ai hay?
.
Nhớ Kiều Thệ Thủy chàng thi sĩ
có hai câu thơ buồn thiết tha:
“Tôi thất tình đi hôn lá hoa
Bước lang thang giữa xứ sương nhòa…”
.
Mà sương nhòa thiệt, sương nhòa thiệt!
Ai hẹn mười năm chắc cũng buồn?
Ai có mười năm không nước mắt?
Ai lòng cô quạnh chẳng như sương?
.
Trần Vấn Lệ
=
=
MỖI GIỌT LỆ
LÀ MỘT GIỌT QUÊ HƯƠNG
Ở Mỹ ăn Mì Quảng / vui biết bao là vui! Lề đường ta cứ ngồi không bị Cảnh Sát đuổi!
.
Mì Quảng: Mì Quảng Ngãi! Mì Quảng: Mì Quảng Nam. Muốn ăn sang vẫn sang, Có đây Mì Quảng Bình, có đây Mì Quảng Trị. Nếu ăn mà chưa phỉ… thì còn Mì Quảng Ninh!
.
Ôi Mì Quảng linh tinh! “Việt Nam Mình Như Vậy!”. Nói mà nước mắt chảy xuống nụ cười Bolsa!
.
Đường Bolsa ai qua nhớ ghé ăn mì Quảng, dù chỉ ăn một thoáng mà sẽ nhớ một đời…
.
Đời của những ai rời Tổ Quốc đi ra biển! Đời của ai đã liệng cái quốc tịch ở nhà…
.
Những người bỏ đi xa nhớ thiết tha Mì Quảng… nên từng, từng bữa sáng cứ thèm nhắc Quê Hương!
.
Tô Mì Quảng thấy thương! Những sợi vàng sợi trắng cầm đũa lên thấy nặng cái mùi thuở đói nghèo…
.
Cầm đũa vớt cái… vèo, tô lại đầy nước mắt! Hai cái chữ Tổ Quốc, thành… hai chữ Tô Mì!
.
Ai có nói cái gì, tôi hoan hô Mì Quảng! Đó là món không chán truyền thống của dân tôi!
.
Ăn từ khi ra đời đến khi nhắc bữa giỗ… nhớ ông bà, tiên tổ của những người vượt biên!
.
Quảng Ninh hay Quảng Yên cũng có Mì Quảng ạ! Bạn bè cười nghiêng ngả: ngon nhất Mì Quảng Nam!
.
Nhớ quá năm bảy lăm thèm chén cơm, không có…rồi cũng qua đói khổ: lề đường có gánh mì!
.
Tiền của con cháu đi gửi về nuôi Cha Mẹ nên chi mỗi giọt lệ là một giọt Quê Hương!