Thơ TRẦN VẤN LỆ: HOA MIMEUSE NGÀY NẮNG NỞ – CẢM ƠN TRỜI CÒN THƠ.
=
HOA MIMEUSE
NGÀY NẮNG NỞ
Em ơi hoa nở! Hoa đua nở!
Hoa tím… hôm nay nở tím vườn!
Người ta gọi đó – hoa Trinh Nữ
Con bướm bay qua… chắc có buồn?
.
Bươm bướm bay qua không trở lại,
vườn anh không có nhỉ, hoa hồng!
Hoa hồng nắng quá, không thèm nở?
Nó giống em mà! Anh nhớ nhung!
.
Nó giống con sông nhớ nước hoài…
Nước trôi đi kiếm một tương lai? (*)
Chúa không hề hứa gì mai mốt,
Anh nhớ em hoài – không nhớ ai!
.
Anh nhớ em hoa tím nở nhiều…
Thế là hiểu nghĩa nhé, Tình Yêu!
Dẫu là tơ tóc, không hề mỏng
Xuân Diệu làm thơ có bấy nhiêu! (**)
.
Anh muốn thơ anh em đứng bóng!
Em là pho tượng để anh hôn…
Em là pho tượng trên New York
Em đứng muôn đời giữa đại dương!
Trần Vấn Lệ
(*) “Không có ngày mai! Chỉ có hôm nay!
Sự đau khổ của ngày nào đủ cho ngày đó!” (Jesus)
(**) Không ai định nghĩa được Tình Yêu!
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu… (Xuân Diệu)
==***
CẢM ƠN TRỜI
CÒN THƠ
Nắng gì nắng dễ sợ!
Nắng từ năm giờ khuya,
nắng cả ngày đầm đìa!
Nắng đến sáu giờ tối…
.
Người thấy không chào hỏi
chỉ đưa tay huơ huơ.
Ai cũng là… Nhà Thơ?
Họ đang mơ gì đó?
.
Nắng, nóng, không có gió…
Cali sa mạc chăng?
Không có chim bay ngang
quạ cũng về cố xứ?
.
Đẹp nhất là thiếu nữ
quần đùi, bắp chân tròn.
Không có gió, ai hôn?
Nói thật: mình không biết!
.
Hoàng Trúc Ly ngộ thiệt
chỉ ca cánh tay thôi:
“Sáng nay con gái đâu nhiều thế?
Những cánh tay tròn như cánh chim!”.
*
Có một người lim dim
Tôi hỏi: Thầy sao ạ?
Ảnh không nói gì cả,
chỉ Nam Mô Nam Mô.
.
Cali nắng-nóng-khô…
Tôi phơi thơ… vẫn ướt:
Tôi muốn quên, không được!
Quê Hương vẫn Tình Yêu!
.
Tôi còn không bao nhiêu
Ôi Tình Yêu Của Lính!
Tuổi về chiều vô định,
Cảm ơn Trời… còn Thơ…
Trần Vấn Lệ
Thơ TRẦN VẤN LỆ: TUỔI TÀN MƯA BÓNG MÂY
==
TUỔI TÀN MƯA BÓNG MÂY
“Có ai mua Thơ hông?”. Ôi tiếng rao nhẹ hổng / một buổi tối trăng hồng… mà nghe lòng bạc phếch!
Thơ của những người chết! Tản Đà và Nguyễn Du! Nguyễn Du buồn Thiên Thu: Đoạn Trường Tân Thanh nhé! Tản Đà thì biển lệ tràn núi Tản sông Đà…
Một thời Nước Non Ta đêm đêm trào nước mắt! Tổ Quốc ơi còn, mất? Tiếng rao Thơ thê lương!
Hình như gió sông Hương đang thổi qua Mang Cá? Hình như người Thanh Hóa đang nhớ người Nguyệt Biều…
“Ba Vì Tây Lĩnh non xanh ngắt. Một dải Thu Giang nước vẫn đầy!”. Nước… cũng là… nước mắt? Người đi không thấy về!
Hoài Khanh, bài Cà Ty, như vầy – nghe nha bạn: “Một dòng xanh mấy niềm sâu, chợt nghe gió lạnh từ đâu thổi về… Giật mình sương rụng trên đê: Người Đi Rồi Chẳng Thấy Về, Chao Ôi!”.
Nhắc thôi! Chừng đó thôi… một thời Thơ tê tái… Tôi yêu người con gái một thời tóc gió thơm…
Tôi cũng nhớ Liên Khương – phi trường máy bay đậu. Đà Lạt tôi nương náu… xa ngút ngàn chân mây!
Tôi biệt xứ đến nay: 52 năm! Vĩnh Biệt! Lời chào trước khi chết… tuổi tàn… mưa bóng mây!
Trần Vấn Lệ
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ. Phương Hoa: 250 NĂM DỰNG NƯỚC HOA KỲ Và BẢN HÙNG CA HAI NỬA BÁN CẦU. THƠ CAO MỴ NHÂN – THƠ CẢM TÁC LÊ MỸ HOÀN – THƠ TRẦN VẤN LỆ.
Mai mới là Quốc Khánh, cả nước Mỹ nghỉ, mừng! Hôm nay mới hừng Đông… người cắt cỏ đi làm sớm, mai nghỉ!
Mình dậy sớm thấy thế, lòng bỗng dưng nghẹn ngào(*). Một chút gì nao nao: nước mình không Quốc Khánh!
Bốn ngàn năm hiu quạnh! Cờ Tàu treo mái Đình… thế mà cũng bốn “nghìn”. Lịch Sử Việt lệch sử?
Đinh Bộ Lĩnh, “thằng nhỏ”, chính danh Đinh Tiên Hoàng, tính chỉ hơn ngàn năm sao bốn “nghìn” cho được?
Mình “ăn cỗ đi trước còn lội nước đi sau!”. Chuyện thật như tào lao… hèn chi không ai học!
Người có học: Trí Thức! Trí Thức làm cái gì? Hết bỏ đi theo Tây… tiếp bỏ đi theo Mỹ…
Ba Mươi Tháng Bốn hay nhỉ! Trời chỉ có mưa sa! Ông Trời phải khóc mà, dân ta thì bình thản! (**)
Đến hai chữ Kách Mạng”, xong nhiệm vụ là xong. Năm mươi hai năm lung tung, trống thùng thùng cứ gióng…
Người cắt cỏ, lao động, sợ mai làm, làm phiền… nên sáng nay… còn đêm, đi làm điều lịch sự!
Ôi Nước Non Yêu Quý, cái tên nước Tàu ban, có gì mà vẻ vang… thua cả người cắt cỏ!
Jean Paul Sartre nói “Đồ Chó! Bám Đít Lũ Lưu Manh!”. Nói xong bèn giật mình… đi cứu người Vượt Biển! (***)
Mở Google nó hiện “Thằng Lưu Manh” là ai? Ai? Ai? Ai? Ai? Ai? Nam Mô A Di Đà Phật!
*
Mùa này Huế lất phất cơn mưa phùn vào Thu. Hãy niệm Phật Nam Mô để cho lòng mình nhẹ…
Cơn mưa dù lớn, bé, nó vẫn là cơn mưa… Cơn mưa phùn phất phơ… áo dài ơi! Yêu Quý!
Trần Trung Tá
(*) Câu này của Thế Viên “Tóc ai vàng một nửa, ta nhìn xa chợt nhớ trăng mùa Thu năm nao soi bóng người bên cửa, lòng bỗng dưng nghẹn ngào. Vì sao ta thương nhớ? Bởi vì quá nhớ thương!”.
(**). Thơ Trần Dần: “Tôi đi không thấy phố thấy nhà chỉ thấy mưa sa…”.
(***) Jean Paul Sartre, triết gia người Pháp, ca tụng chủ nghĩa Marxism, theo Đảng Cộng Sản Pháp, tuyên bố: “Ai không theo Cộng Sản là Đồ Con Chó”. Năm 1975, Sartre đọc tin tức người Việt Nam vượt biển chết nhiều quá, xem thêm hình ảnh thảm thương, chịu không nổi, bèn tuyên bố bỏ Đảng Cộng Sản Pháp, chắt mót tiền riêng, mua tàu đi cứu vớt… Sartre nói “Ai còn theo Cộng Sản là Đồ Con Chó!”. Chớp cơ hội, Võ Văn Ái và Nhất Hạnh dựng ra tổ chức cứu trợ đặt tên Cứu Người Việt Nam Vượt Biển”, tiền vào như nước, có chi một ít, còn lại thì “dùng vào việc cá nhân”… Hãy bấm Google thì thấy… Hãy đọc tờ báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái thì thấy...
==
QUÊ HƯƠNG THỨ HAI – phamphanlang
QUÊ HƯƠNG THỨ HAI – phamphanlang
Kính dâng quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tị nạn, với tất cả lòng biết ơn, nhân dịp Kỷ niệm 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ (1776–2026).
Lịch sử của mỗi dân tộc đều có những ngày không bao giờ phai nhạt.
Đối với Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 7 năm 1776 đánh dấu sự ra đời của một quốc gia được xây dựng trên lý tưởng tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Đối với hàng triệu người Việt ly hương, biến cố năm 1975 đã mở ra một hành trình đầy nước mắt, nhưng cũng đưa chúng tôi đến với một bến bờ của hy vọng. Trên mảnh đất Hoa Kỳ, chúng tôi tìm lại phẩm giá của con người, tìm thấy cơ hội để học tập, làm việc, cống hiến và nuôi dưỡng những thế hệ tương lai trong tự do.
Với riêng tôi, lòng biết ơn ấy còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn. Từ một người tị nạn, tôi đã có vinh dự được phục vụ đất nước này trong quân phục của Quân đội Hoa Kỳ, xem sự cống hiến của mình như một cách đáp đền phần nào ân tình mà quê hương thứ hai đã dành cho gia đình tôi.
Bài thơ “Quê Hương Thứ Hai” được viết không chỉ để chúc mừng một cột mốc lịch sử, mà còn để lưu giữ một lời tri ân.
Tri ân một dân tộc đã chọn tự do làm nền tảng lập quốc.
Tri ân một đất nước đã mở rộng vòng tay với những con người mất quê hương.
Và tri ân quê hương thứ hai đã cho hàng triệu người Việt tị nạn cơ hội được sống, được làm người, được phụng sự và được mưu cầu hạnh phúc.
Xin kính chúc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mãi mãi hùng cường; ngọn đuốc tự do luôn tỏa sáng để soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Xin kính chúc quýThầy Cô, quý anh chị và các bạn Happy July 4th!
QUÊ HƯƠNG THỨ HAI
(Mừng 250 năm Lập quốc Hoa Kỳ)
Hai trăm năm mươi năm
Sử vàng còn rực sáng
Cờ sao bay kiêu hãnh
Rạng rỡ khắp trời xanh
.
Đất nước của niềm tin
Của tự do, dân chủ
Mỗi con người bình đẳng
Được mưu cầu ấm no
.
Bao đoàn người lưu vong
Vượt biển tìm hy vọng
Giữa trùng khơi bão nổi
Vẫn nguyện giữ niềm tin
.
Hoa Kỳ mở vòng tay
Đón bao người tị nạn
Cho cuộc đời đứng dậy
Sau những tháng đau thương
.
Từ đổ nát chiến tranh
Đến ngày vui đoàn tụ
Con thơ vào trường học
Cha mẹ dựng tương lai
.
Gia đình tôi hôm nay
Mang hồng ân sâu nặng
Nhờ quê hương thứ hai
Được sống đời tự do
.
Được nói điều mình tin
Được thờ phượng tín ngưỡng
Được làm người đúng nghĩa
Không sợ hãi cường quyền
.
Hăm hai năm quân ngũ
Xin góp chút sức mình
Đền phần nào ân nghĩa
Đất nước đã cưu mang
.
Dẫu tóc nay pha sương
Lòng tri ân còn mãi
Nguyện cầu cho nước Mỹ
Mãi hùng cường, vinh quang
.
Xin cho ngọn đuốc thiêng
Tự do luôn tỏa sáng
Xin cho nền dân chủ
Bền vững với thời gian
.
Để mai này cháu con
Vẫn ngẩng đầu kiêu hãnh
Tự hào mình được sống
Trên đất nước anh hùng
.
Mừng hai trăm năm mươi,
Một chặng đường rực rỡ
Tri ân quê hương mới
Khắc mãi giữa tim này
.
Việt Nam còn trong tim
Hoa Kỳ trong máu chảy
Hai quê hương một tấm lòng
Chung niềm tin nhân ái
.
phamphanlang
Một người Việt tỵ nạn biết ơn nước Mỹ
July 4th, 2026
==
MỘT BẢN HÙNG CA – HAI NỬA BÁN CẦU – Phương Hoa
Trận Đống Đa Của Quân Tây Sơn
Lễ Độc Lập 250 Năm Dựng Nước Hoa Kỳ
Và Bản Hùng Ca Hai Nửa Bán Cầu: George Washington Và Vua Quang Trung Cùng “Vượt Sông” Xoay Chuyển Vận Mệnh Quốc Gia!
250 Năm rực lửa Tự Do.Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền 50 Tiểu Bang. Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7. Và năm nay, ngọn lửa ấy mang một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu,“Lễ Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!
Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia của những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình hiển hách được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ. Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên bởi tinh thần quả cảm kiêu hùng của một biểu tượng tự do trường tồn, từ sau những cuộc hành trình đầy kiêu hãnh của cha ông.
Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên. Năm 1776. Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương Quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ vang lên, chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng. Đó là Quyền sống, Quyền tự do, và Quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng ở Thế kỷ XVIII đó, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền khai lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do. Cuộc Nội chiến 1861 – 1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ và khẳng định một khối thống nhất quốc gia vững bền. Đi cùng với đó là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, định hình nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.
Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX. Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (Digital), Mỹ khẳng định vị thế siêu cường không thể lay chuyển. Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất. Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ. Đó là, tạo nên một đất nước của người dân, do người dân, và vì người dân.
George Washington, vị “Cha già dân tộc” là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập. Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.
Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do
lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ. Đó là đêm Giáng sinh năm 1776. Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản. Đội quân Lục Địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi. Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự: Vượt sông Delaware.
Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt. Trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội, thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh, chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do!
Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tâm tư tôi bỗng dưng rúng động bàng hoàng. Chợt nhiên tôi nhớ ra, trong lịch sử nước nhà của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế. Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra, cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng Trái Đất làm, cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ. Hành động vượt sông băng của George Washington năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!
Cả hai vị thiên tài quân sự đã gặp nhau ở cùng một tư tưởng lớn. Đó là, Tốc độ, Bất ngờ, và Chọn thời điểm kẻ thù sơ hở nhất! Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt, đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh đầy băng giá trong đêm Giáng Sinh, và đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền và đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.
Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám tiền tiêu của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi – Đống Đa kinh thiên động địa. Đến Mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng. Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.
Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở. Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi còn có thể “khoe” với những người bạn Mỹ của tôi trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ “Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, bài viết tiếng Anh, về quê hương Việt Nam. Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ, cũng từng đọc qua nhiều sử sách. Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.
Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm. Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo “anh Gút” bày, “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự – cũng nhờ anh Gút dịch, xin nói rõ kẻo những nhà Hán Học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) và thảy vào tìm kiếm, thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII, tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu. Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào, hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt. Và rồi, một cảm giác nổi da gà, dựng chân lông, vừa ngạc nhiên tột độ, lẫn thích thú vô bờ, choáng ngợp lấy tâm trí tôi! Tôi ngồi sững sờ, xúc động đến phát khóc cho sự khám phá này. Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu. Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử Quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại. Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách cho đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới. Những Bản Văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng Đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của các tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch.
Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, và đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận bão lửa của đoàn quân vua Quang Trung.
Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng Đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, thứ mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.
Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng Đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại. Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ kiêu hùng nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại, cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.
Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.
Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai. Miễn là thế giới này còn những con người trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…
Phương Hoa
Nguồn tài liệu tham khảo:
*Trang web chính thức của Di tích Lịch sử Mount Vernon (George Washington’s Mount Vernon):mountvernon.org
*Viện Lưu Trữ Quốc Gia Hoa Kỳ (The U.S. National Archives): archives.gov
*Sách “Việt Nam Sử Lược” – Tác giả Trần Trọng Kim (Bản in của Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn) Trong Chương XI (Nhà Tây Sơn), học giả Trần Trọng Kim mô tả rất kỹ trận đại phá quân Thanh, việc vua Quang Trung ước hẹn với quân sĩ ăn Tết trước, rồi đúng đêm giao thừa (30 Tết) hạ đồn Gián Khẩu (sông Đáy) khiến quân Thanh không kịp trở tay.
*Bộ sử liệu “Khâm Định An Nam Kỷ Sự” (欽定安南紀事), Quyển 1–30, bản in cổ thế kỷ XVIII, hiện đang được lưu trữ trang trọng tại Thư viện Yên Kinh Harvard (Harvard-Yenching Library) thuộc Đại học Harvard, Hoa Kỳ: https://library.harvard.edu/ – hollis.harvard.edu zh.wikisource.org 欽定安南紀事
==
THƠ CẢM TÁC SAU KHI ĐỌC BÀI VIẾT “Một Bản Hùng Ca – Hai Nửa Bán Cầu“
HAI CHIẾN THẮNG HAI BÊN BỜ ĐẠI DƯƠNG
LêMỹ Hoàn – Cảm tác
Bài thơ được thực hiện theo bài nghiên cứu trận Đống Đa của vts Phương Hoa
Hai chiến thắng hai bên bờ đại dương
Một chiến thuật như chung cùng tư tưởng
Địch quân phòng thủ lơi là hờ hững
Cuộc vây thành đập nát kẻ xâm lăng
*
Rồi quân ta toàn thắng quyết xây thành
Non nước sáng rực màu cờ tổ quốc
Hẹn cuộc vui Tết Nguyên Đán mong chờ
Chiến thắng Đống Đa một thời rực rỡ
*
Năm ngày năm đêm âm thầm thần tốc
Một trận thư hùng sổ sách ghi tên
Hoàng Đế Quang Trung rạng ngời lịch sử
Nước Việt oai hùng tới vạn muôn niên
*
Điểm xuất phát Phú Xuân còn ghi dấu
Người ngậm tăm ôi chiến thuật thần sầu
Người ngồi võng hai người khiêng lặng lẽ
Dành toàn tâm quyết chiến giữa đêm thâu
*
Cho đến bây giờ người dân còn nhớ
Sử sách ghi rành nào phải giấc mơ
Trận Ngọc Hồi còn mãi trong hơi thở
Đuổi quân Thanh quyết liệt giữ cõi bờ
*
Hôm nay 4 tháng Bảy ngày Độc Lập nước Mỹ
Đọc chiến công sao thấy họ hào hùng
Ngày Lập Quốc 250 năm sử sách
Ta có thời cùng binh pháp vang danh.
*
Ta vượt sông Đáy, Mỹ vượt sông Delaware
Không quản gì cực khổ với gian lao
Cùng công thành vào những ngày lễ lớn
Độc Lập Tự Do mãi mãi đón chào.
.
Lê Mỹ Hoàn
7/2/2026
==
Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử
THÁI NỮ LAN DỊCH
==
Có thật nhiều Sự Kiện đang Nhớ cho một Đất Nước Vĩ Đại với 250 năm Lịch Sử – Xin gởi đến quý anh chi một vài sự kiện – còn rất nhiều, như quý anhchi đã biết-
Cảm ơn quý anhchi XIN CHÚC QUÊ HƯƠNG THỨ HAI ĐẦY LÒNG NHÂN ÁI NÀY SẼ LUÔN VỮNG MẠNH VÀ LUÔN VĨ ĐẠI NHƯ CHÚ CHIM ĐẠI BÀNG – chú chim đại diện cho ĐẤT NƯỚC CỜ HOA THÂN ÁI ==Chúc quý anhchi mùa Lễ Thật Vui bên gia đình
How Did the Bald Eagle Become America’s National Bird? (www.history.com)Long considered a symbol of strength, the predatory bird first appeared on the national seal in 1782. The bald eagle’s role as a national symbol is linked to its 1782 landing on the Great Seal of the United States. Shortly after the Declaration of Independence was signed on July 4, 1776, the Continental Congress gave Benjamin Franklin, Thomas Jefferson and John Adams the job of designing an official seal for the new nation. However, the three Founding Fathers failed to come up with a design that won Congress’ approval, as did two later committees that were given the task. In mid-June 1782, the work of all three committees was handed over to Charles Thomson, the secretary of Congress. Thomson chose what he thought were the best elements of the various designs and made the eagle—which had been introduced by artistically inclined Pennsylvania lawyer William Barton in a design submitted by the third committee—more prominent. (Since ancient times, the eagle has been considered a sign of strength; Roman legions used the animal as their standard, or symbol.)========================
Đại bàng đầu trắng trở thành chú chim quốc gia của Mỹ như thế nào? (www.history.com) Từ lâu được coi là biểu tượng của sức mạnh, loài chim săn mồi có đầu lông trắng này lần đầu tiên xuất hiện trên quốc huy vào năm 1782. Vai trò của đại bàng đầu trắng như một biểu tượng quốc gia gắn liền với việc nó xuất hiện trên Quốc huy Hoa Kỳ năm 1782. Ngay sau khi Tuyên ngôn Độc lập được ký kết vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã giao cho Benjamin Franklin, Thomas Jefferson và John Adams nhiệm vụ thiết kế một con dấu chính thức cho quốc gia mới. Tuy nhiên, ba vị Cha lập quốc đã không thể đưa ra một thiết kế được Quốc hội chấp thuận, cũng như hai ủy ban sau đó được giao nhiệm vụ này. Vào giữa tháng 6 năm 1782, công việc của cả ba ủy ban được giao cho Charles Thomson, thư ký Quốc hội. Thomson đã chọn những gì ông cho là những yếu tố tốt nhất trong các thiết kế khác nhau và làm cho hình ảnh đại bàng—vốn được luật sư William Barton người Pennsylvania, một người có năng khiếu nghệ thuật, giới thiệu trong một thiết kế do ủy ban thứ ba đệ trình—nổi bật hơn. (Từ thời cổ đại, đại bàng đã được coi là biểu tượng của sức mạnh; quân đoàn La Mã sử dụng loài vật này làm biểu tượng của họ.)
A/- 10 Cột mốc Quan trọng nhất trong Lịch sử Hoa Kỳ (và Lý do Chúng vẫn còn Ý nghĩa)
Lịch sử Hoa Kỳ chứa đựng vô số bước ngoặt — những ngày mà đất nước thay đổi vận mệnh mãi mãi. Một số ngày được kỷ niệm rộng rãi, số khác được nhớ đến với niềm đau thương, và một vài sự kiện vẫn khơi dậy những cuộc tranh luận ngay cả khi nhiều thế hệ đã trôi qua.
Nếu bạn từng thắc mắc đâu là những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, bài viết này sẽ điểm qua mười khoảnh khắc mang tính bước ngoặt và giải thích lý do tại sao chúng vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay.
Từ nền độc lập và chiến tranh cho đến những thảm kịch và thành tựu công nghệ, đây chính là những cột mốc đã định hình nên câu chuyện về nước Mỹ.
Tại sao 10 Cột mốc này lại Quan trọng đối với Lịch sử Hoa Kỳ?
Những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là các mốc thời gian. Chúng đại diện cho những khoảnh khắc mà:
• đất nước được thành lập hoặc được định hình lại
• bản sắc dân tộc có sự thay đổi
• các cuộc chiến tranh lớn làm thay đổi vai trò của nước Mỹ trên trường quốc tế
• ký ức cộng đồng và văn hóa có sự chuyển biến sâu sắc
• các thế hệ tương lai tiếp nhận những quyền tự do, nỗi sợ hãi và trách nhiệm mới
Danh sách này tập trung vào những cột mốc có tác động lâu dài đến Hoa Kỳ trên các phương diện chính trị, văn hóa, quân sự và xã hội.
–1.) Ngày 4 tháng 7 năm 1776 — Tuyên ngôn Độc lập
Tầm quan trọng: Ngày 4 tháng 7 năm 1776 là cột mốc mang tính biểu tượng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày này đánh dấu việc thông qua Tuyên ngôn Độc lập, khi mười ba thuộc địa chính thức tuyên bố tách khỏi Vương quốc Anh.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 7 năm 1776?
Quốc hội Lục địa đã thông qua nội dung cuối cùng của bản Tuyên ngôn, trong đó nêu rõ lý do các thuộc địa tách khỏi sự cai trị của Anh, đồng thời khẳng định tư tưởng rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và sở hữu những quyền bất khả xâm phạm.
Tại sao ngày 4 tháng 7 vẫn quan trọng cho đến ngày nay?
• Ngày này đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ với tư cách là một quốc gia.
• Ngày này xác lập các lý tưởng về tự do, quyền tự trị và các quyền tự nhiên.
• Ngày này trở thành nền tảng cho các phong trào đấu tranh mở rộng quyền tự do trong tương lai.
==2.) Ngày 12 tháng 4 năm 1861 — Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ (Pháo đài Sumter)
Tầm quan trọng: Cuộc tấn công vào Pháo đài Sumter ở Nam Carolina đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1861?
Các lực lượng thuộc Liên minh miền Nam (Confederacy) đã nổ súng vào Pháo đài Sumter, một pháo đài do phe Liên bang miền Bắc (Union) kiểm soát tại cảng Charleston. Cuộc pháo kích này đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh toàn diện giữa phe Liên bang và phe Liên minh miền Nam.
Tại sao ngày này đã thay đổi Hoa Kỳ?
• Ngày này mở màn cho cuộc chiến quyết định sự tồn vong của phe Liên bang miền Bắc
• Ngày này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng quốc gia xoay quanh vấn đề nô lệ.
• Ngày này tạo tiền đề cho công cuộc giải phóng nô lệ và những thay đổi mang tính hiến pháp.
Cuộc Nội chiến đã định hình lại quyền lực liên bang, quy chế công dân và tương lai của đất nước.
==3) Ngày 1 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ có hiệu lực
Tầm quan trọng: Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, không chỉ đối với cuộc Nội chiến mà còn đối với định hướng đạo đức của Hoa Kỳ.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1863?
Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln chính thức có hiệu lực, tuyênbố trả tự do cho những người bị bắt làm nô lệ tại các vùng lãnh thổ do Liên minh miền Nam (Confederacy) kiểm soát.
Tại sao sự kiện này vẫn còn quan trọng?
• Biến cuộc Nội chiến thành cuộc đấu tranh vì cả sự thống nhất quốc gia lẫn quyền tự do.
• Làm giảm sự ủng hộ của châu Âu dành cho Liên minh miền Nam.
• Mở đường cho Tu chính án thứ 13, văn bản bãi bỏ chế độ nô lệ.
Mặc dù không ngay lập tức giải phóng tất cả những người đang bị bắt làm nô lệ,
nhưng sự kiệnđã thay đổi ý nghĩa và mục đích của cuộc chiến.
==4) Ngày 9 tháng 4 năm 1865 — Quân Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox
Tầm quan trọng: Việc Tướng Robert E. Lee đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại Tòa án Appomattox (Appomattox Court House) đã thực sự chấm dứt cuộc Nội chiến.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1865?
Tướng Lee đã cho đầu hàng Binh đoàn Bắc Virginia, đánh dấu sự sụp đổ trong khả năng kháng cự quân sự của Liên minh miền Nam.
Tại sao đây là một trong những ngày quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ?
• Sự kiện này đã bảo toàn được Liên bang.
• Đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Tái thiết.
• Mở ra một chương mới trong cuộc đấu tranh về vấn đề chủng tộc, quyền con người và sự hàn gắn dân tộc.
Ngày này vẫn đóng vai trò then chốt để hiểu rõ về cái giá phải trả cũng như di sản của cuộc Nội chiến.
==5) Ngày 15 tháng 4 năm 1865 — TT Abraham Lincolntạ thế
Tầm quan trọng: Tổng thống Abraham Lincoln qua đời vào sáng hôm sau khi bị John Wilkes Booth bắn, chỉ vài ngày sau chiến thắng của phe Liên bang (Union).
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 15 tháng 4 năm 1865?
Lincoln qua đời sau khi bị ám sát tại Nhà hát Ford ở Washington, D.C. Phó Tổng thống Andrew Johnson đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống.
Tại sao cái chết của Lincoln lại thay đổi lịch sử?
• Đất nước mất đi một nhà lãnh đạo vào thời điểm then chốt của quá trình tái thống nhất.
• Công cuộc Tái thiết (Reconstruction) diễn ra mà thiếu vắng sự lãnh đạo của Lincoln.
• Lincoln trở thành biểu tượng trường tồn của sự đoàn kết, tinh thần hy sinh và lòng dũng cảm về mặt đạo đức.
Đối với nhiều nhà sử học, đây là một trong những ngày bi thương và có ảnh hưởng lớn nhất ttrong lịch sử nước Mỹ. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn sách cực kỳ rất đáng đọc về cái chết của Abraham Lincoln, hãy thử đọc Killing Lincoln. Bạn sẽ khó lòng rời mắt khỏi cuốn sách này.
==6) Ngày 7 tháng 12 năm 1941 — Cuộc tấn công Trân Châu Cảng
Tầm quan trọng: Cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã đẩy Hoa Kỳ vào cuộc
Chiến tranh Thế Giới thứ Hai.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941?
Nhật Bản đã thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu
Cảng (Hawaii), khiến hơn 2.000 người Mỹ thiệt mạng, đồng thời làm hư hại hoặc phá hủy
nhiều tàu chiến và máy bay.
Tại sao Trân Châu Cảng vẫn là một cột mốc quan trọng đối với Hoa Kỳ?
• Sự kiện này chấm dứt giai đoạn Hoa Kỳ đứng ngoài cuộc Đệ Nhị Thế Chiến.
• Dẫn đến việc chính thức tuyên chiến.
• Đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình vươn lên của Hoa Kỳ thành một siêu cường toàn cầu.
Ngày 7 tháng 12 được ghi nhớ là “một ngày mang nỗi nhục nhã ê chề” (theo cách gọi của Tổng thống Roosevelt), và đây vẫn là một trong những ngày được biết đến nhiều nhất trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ.
==7) Ngày 6 tháng 6 năm 1944 — Ngày D-Day (Cuộc đổ bộ lên Normandy)
Tầm quan trọng: D-Day là một trong những chiến dịch quân sự quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.
Điều gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944?
Lực lượng Đồng minh, bao gồm hàng nghìn đơn vị quân độiMỹ, đã đổ bộ lên các bãi biển tại Normandy (thuộc nước Pháp đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng) trong cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền lớn nhất lịch sử.
Tầm quan trọng của D-Day đối với lịch sử Hoa Kỳ
• Sự kiện này mở ra một mặt trận lớn ở phía Tây để chống lại Đức Quốc xã.
• Đẩy nhanh quá trình giải phóng châu Âu.
• Trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, sự hy sinh và tinh thần hợp tác của phe Đồng minh.
D-Day là một trong những cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.
==8) Ngày 20 tháng 7 năm 1969 — Sự kiện tàu Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng
Ý nghĩa: Việc đổ bộ lên Mặt Trăng là minh chứng cho thành tựu công nghệ của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh, và là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử nhân loại.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1969?
Các phi hành gia của tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đổ bộ xuống Mặt Trăng, và Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của nó.
Tại sao ngày này lại quan trọng về mặt lịch sử?
• Sự kiện này thể hiện sự đổi mới khoa học và tham vọng quốc gia của Hoa Kỳ.
• Tượng trưng cho sự cạnh tranh và vị thế có uy tíntrong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh.
• Truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và thám hiểm.
Ngày 20 tháng 7 là một trong những ngày đáng nhớ nhất và vinh quang trong lịch sử chinh phục không gian của Hoa Kỳ.
Giờ thì có một câu hỏi dành cho bạn — Liệu việc đổ bộ lên Mặt Trăng là thật hay giả?
Có những lập luận cực kỳ thuyết phục cho rằng sự kiện này có thể đã được dàn dựng suốt bấy
lâu nay. Bản thân tôi vẫn tin vào “Giấc mơ Mỹ” và tinh thần chiến thắng của đất nước,
nên tôi chọn tin rằng sự kiện đó thực sự đã diễn ra. Đó là lòng yêu nước trong tôi lên tiếng.
Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy điều ngược lại.
==9) Ngày 22 tháng 11 năm 1963 — Vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy
Tầm quan trọng: Vụ ám sát Tổng thống Kennedy đã gây ra cú sốc lớn cho cả quốc gia và trở thành bước ngoặt trong văn hóa chính trị Mỹ.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 22 tháng 11 năm 1963?
Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát tại Dallas, Texas, khi đang ngồi trong đoàn xe diễu hành.
Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong ngày hôm đó.
Lý do ngày 22 tháng 11 vẫn là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nước Mỹ
• Sự kiện này đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới. • Làm gia tăng sự ngờ vực trong công chúng cũng như những đồn đoán về các thuyết âm mưu. • Đã thay đổi diện mạo chính trị và bầu không khí văn hóa của thập niên 1960.
Đối với nhiều người Mỹ, điều nây đã trở thành khoảnh khắc đáng nhớ gắn liền với câu hỏi:
“Bạn đang ở đâu vào lúc đó?“
==10) Ngày 11 tháng 9 năm 2001 — Các cuộc tấn công khủng bố 11/9
Tầm quan trọng: Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một trong những cột mốc có ảnh hưởng lớn
nhất trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ.
Chuyện gì đã xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001?
Những kẻ khủng bố đã cố gắng cướpbốn chiếc máy bay thương mạivà buộc hai chiếc đâm vào tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, một chiếc đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc còn lại rơi xuống Pennsylvania sau khi các hành khách chống trả.
Tại sao sự kiện 11/9 đã thay đổi Hoa Kỳ
• Sự kiện này làm thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.
• Dẫn đến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.
• Làm thay đổi hoạt động đi lại bằng đường hàng không, công tác giám sát an ninh và đời sống xã hội.
• Trở thành ký ức mang tính Khoảnh khắc quyết định, định hình đối với cả một thế hệ.
Ngày 11 tháng 9 vẫn là một trong những ngày được tìm kiếm và ghi nhớ nhiều nhất trong
lịch sử đương đại của Hoa Kỳ.
==================================
B/—Những mốc thời gian đáng chú ý khác trong lịch sử Hoa Kỳ
Tùy thuộc vào tiêu chí đánh giá, những mốc thời gian sau đây cũng hoàn toàn có thể nằm
trong danh sách sự kiện quan trọng nhất:
• Ngày 17 tháng 9 năm 1787 — Ký kết Hiến pháp Hoa Kỳ
• Ngày 15 tháng 12 năm 1791 — Phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights)
• Giai đoạn 1803–1804 — Thời kỳ mở rộng lãnh thổ thông qua Thương vụ Louisiana
• Ngày 01 tháng 1 năm 1863 — Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (đã được đưa vào danh sách chính)
• Ngày 18 tháng 8 năm 1920 — Phê chuẩn Tu chính án thứ 19 (quyền bầu cử của phụ nữ)
• Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 — Các vụ ném bom nguyên tử (bước ngoặt lớn trong thời chiến của Hoa Kỳ)
• Ngày 28 tháng 8 năm 1963 — Cuộc Tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington
• Ngày 2 tháng 7 năm 1964 — Ký kết Đạo luật Quyền Dân sự
Đây là một lý do khiến lịch sử Hoa Kỳ luôn đầy sức hút: có rất nhiều mốc thời gian mang ý nghĩa quan trọng lâu dài.
Cách nhìn nhận về những mốc thời gian “quan trọng nhất” trong lịch sử Hoa Kỳ
Không có một danh sách hoàn hảo duy nhất nào cả. Một số người ưu tiên các sự kiện như:
• Các văn bản nền tảng quốc gia
• Các cuộc chiến tranh và trận đánh
• Các cột mốc về quyền dân sự
• Các vụ ám sát Tổng thống
• Các thành tựu khoa học
• Những khoảnh khắc bi kịch quốc gia
Một cách tiếp cận thuyết phục hơn là:
“Những mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là những ngày mà bản sắc định hướng hoặc vận mệnh của nước Mỹ đã thay đổi theo hướng lâu dài.”
Điều này bao gồm cả những thắng lợi, bước đột phá, thất bại và tổn thất.
Lời kết: Tại sao những mốc thời gian này trong lịch sử Hoa Kỳ vẫn quan trọng?
Việc tìm hiểu các mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là ghi nhớ các mốc sự kiện. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ:
• quốc gia này đã được xây dựng như thế nào
• đã trải qua những thử thách gì
• những lý tưởng mà họ đề cao
• những thành tựu đã đạt được
• những điểm còn hạn chế
• và hình mẫu quốc gia mà người dân vẫn đang nỗ lực hướng tới
Nếu bạn đang tìm hiểu lịch sử Hoa Kỳ qua lăng kính “nhìn lại sự kiện trong ngày“,
thì Nhữngmốc thời gian này đóng vai trò là những điểm tựa quan trọng —
và mỗi mốc thời gian đều mở ra cánh cửa dẫn đến những câu chuyện sâu sắc hơn.
HÁT NÓI – NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG ÚC CHÂU – VỀ Bài “Một Thiên Anh Hùng Ca Ở Hai Nửa Bán Cầu!” Của Phương Hoa
BÀI 721
Thiên Anh Hùng Ca Ở Hai Nửa Bán Cầu! (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Dịch Giả Thái Nữ Lan và Văn Thi Sĩ Phương Hoa đã chuyển đến bài viết đặc sắc của Phương Hoa viết nhân Ngày Lễ Độc Lập Independence Day của Hoa Kỳ 04/07/2026.) * Washington và Quang Trung Nguyễn Huệ! Chưa hề gặp mặt! Nhưng luôn “gặp nhau” trong tâm tưởng, gan mật của loài người! Ở Bắc Bán Cầu, Hoa Thịnh Đốn dẫn quân vượt sông Delaware nắm ngay cơ hội “Vàng Mười”.
*
Tại Nam Bán Cầu, Quang Trung dẫn quân qua sông Đáy vào thời điểm “chỉ có một” * Thịnh Đốn! Hành toàn đà quá tốt! Quang Trung! Quyết đoán đã thành công! Những gì cùng cực thì “hay giống nhau”! Dù xa tắp biển, núi, sông! Hai trận đại thắng đã “tình cờ” ghi tên hai con sông huyền thoại! * Cảm ơn “Siêu Bút Ký” của “Nữ Hoàng Bút Ký” Phương Hoa chuyển lại! Tưởng niệm những con người tài năng, đức độ, công lao vĩ đại muôn đời! Tấm gương! Bài học! Tuyệt vời!
* Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 04/07/2026 Kỷ Niệm Lễ Independence Day của Hoa Kỳ
==
==
Chùm Thơ TRẦN VẤN LỆ: Bài Thơ Mới Nhất: Đà Lạt Đây Thành Phố Núi – APRÈS LA PLUIE IL FAIT LE BEAU TEMPS (*) – Trôi Theo Dòng Đời – Cuối Tuần Tặng VTLV + Mỗi Giọt Lệ Là Một Giọt Quê Hương + Ai Có Mười Năm Không Nước Mắt, Ai Lòng Cô Quạnh Chẳng Như Sương.
ĐÀ LẠT ĐÂY THÀNH PHỐ NÚI
Bạn đã lên đây chưa?
Đà Lạt thành phố núi!
Bạn cứ đi, đừng hỏi
Thành phố đó chỗ nào…
.
Cứ nhắm hướng trên cao
Trên Trường Sơn bạn nhé!
Mây đang bay nhè nhẹ
Sương khói mờ lũng sâu…
.
Khi nghe lạnh trên đầu,
Bạn che giùm mái tóc.
Khi nghe lạnh trên ngực,
Cài nút cái áo laine…
.
Bạn à bạn đừng quên
Mình lên cao thì lạnh.
Nhưng Đà Lạt không tránh
Cái hướng nhìn bạn nha…
.
Đường đi nào cũng xa
Có đi thì có tới!
Đà Lạt luôn luôn đợi
Những ai yêu mù sương…
.
Đà Lạt luôn luôn thương
Ai mệt ngồi tựa núi,
Cầm nhánh thông lên thổi
Phấn thông bay ngạt ngào…
*
Ông Yersin chiêm bao
Thấy Đà Lạt đâu đó.
Công việc làm, ông bỏ
Đi tìm Đà Lạt thôi!
.
Và Ông đã đến nơi:
Đây, Trường Sơn mây trắng,
Đây, ngàn thông như thảm,
Dệt từ lụa từ tơ…
.
Đà Lạt đúng như mơ.
Ông Yersin ở lại.
Ông ở lại mãi mãi
Chứng tích: Mộ Yersin!
.
Bạn cứ chậm đừng nhanh
Hãy tự tin mình tới!
Chí mình cao như núi,
Hồn mình nhẹ như sương…
Trần Vấn Lệ
==
APRÈS LA PLUIE IL FAIT LE BEAU TEMPS (*)
.
Ba, bốn ngày… không nắng
bây giờ thấy nắng lên!
Ôi mặt trời làm duyên
cái mặt hồng thương quá…
.
Nắng đùa cùng hoa lá
tiếng chim hót đệm đàn
ai kìa mới đi ngang
tiếng bước chân nhỏ nhẹ…
.
Tôi săm soi cây khế
nâng từng chùm hoa xinh
cái mặt ai thật tình
hôn hoài hôn không hết…
.
Nắng lên dễ thương thiệt
ai đó nói bất ngờ
trời không phải sau mưa
mà đang trong nắng nguội…
.
Nắng đừng hoài khỏi tưới
Ngoại ơi về hái cau
Ngoại đi con theo sau
những ngày xưa thân ái…
*
Những ngày xưa trở lại
thái hòa Đất Nước tôi…
Nhưng mà tôi mồ côi
Mẹ Cha đều chín suối…
.
Chiều nay rồi sẽ tối…
rồi sẽ nửa đêm khuya
thương những người trở về
mắt mưa rơi từng giọt!
.
Má ơi trái khế ngọt
thương Má nó chín hườm
con thì có ai thương
mồ côi cha với mẹ!
.
Bước ai đi rất khẽ
nghe mà lòng nao nao
sắp Tết hai cây đào
mấy tuổi rồi yêu quý?
.
Trần Vấn Lệ
(*) Sau mưa trời đẹp
APRÈS LA PLUIE
IL FAIT LE BEAU TEMPS (*)
.
Ba, bốn ngày… không nắng
bây giờ thấy nắng lên!
Ôi mặt trời làm duyên
cái mặt hồng thương quá…
.
Nắng đùa cùng hoa lá
tiếng chim hót đệm đàn
ai kìa mới đi ngang
tiếng bước chân nhỏ nhẹ…
.
Tôi săm soi cây khế
nâng từng chùm hoa xinh
cái mặt ai thật tình
hôn hoài hôn không hết…
.
Nắng lên dễ thương thiệt
ai đó nói bất ngờ
trời không phải sau mưa
mà đang trong nắng nguội…
.
Nắng đừng hoài khỏi tưới
Ngoại ơi về hái cau
Ngoại đi con theo sau
những ngày xưa thân ái…
*
Những ngày xưa trở lại
thái hòa Đất Nước tôi…
Nhưng mà tôi mồ côi
Mẹ Cha đều chín suối…
.
Chiều nay rồi sẽ tối…
rồi sẽ nửa đêm khuya
thương những người trở về
mắt mưa rơi từng giọt!
.
Má ơi trái khế ngọt
thương Má nó chín hườm
con thì có ai thương
mồ côi cha với mẹ!
.
Bước ai đi rất khẽ
nghe mà lòng nao nao
sắp Tết hai cây đào
mấy tuổi rồi yêu quý?
.
Trần Vấn Lệ
(*) Sau mưa trời đẹp
==
==
TRÔI THEO DÒNG ĐỜI – TRẦN VẤN LỆ
.
Nắng đến nỗi chim không về phố nữa!
(Chim chỉ về khi chiều xuống, hoàng hôn)
Nhiều công nhân không làm việc ngoài đường
(Như thợ điện, những người phu lục lộ…)
.
Xe rác vẫn chạy vì chỉ một người tài xế,
Cabine xe thì có máy điều hoà…
Tôi nghĩ đến những con chim bay kiếm ăn xa
Tôi tin chim luôn luôn có mỗi ngày no đủ
.
Hãy nhìn kìa: ban đêm xa lộ
Đèn sáng trưng cho công nhân sửa đường!
Hãy nhìn kìa hành lang nhà thương
Những y tá vẫn bình thường thay phiên ca trực!
.
Năm bốn mùa có một mùa nóng bức
Có một mùa lạnh lẻo, tự nhiên
Nhưng bạn à, bạn thấy những nhân viên
của Bưu Điện vẫn dầm mưa dãi nắng!
.
Những Công An, những Cảnh Sát thầm lặng
Họ chỉ cười chào trả tiếng Hello
Hải Lục Không Quân ờ nhỉ họ đi mô?
Không thấy cả ở phi trường hay bến cảng!
.
Quân đội Mỹ là chim? Chim bay đâu từ sáng?
Chiều có về, đêm có ngủ hay không?
Nhiều khi tôi lòng có hỏi lòng:
“Mình hạnh phúc hay mình không hạnh phúc?”
.
Thành phố Mỹ song song hàng dọc
Thành Phố Mỹ song song hàng ngang
Tiếng chuông Nhà Chùa, Nhà Thờ vang vang
Từng bữa lễ hay từng ngày nhất định…
.
Hình như không ai có gì toan tính
ngay với tôi – chỉ nghĩ việc đi chơi
như bầy chim chúng có bầu trời
như hàng cây có màu xanh tươi Xuân, Hạ
.
Còn… Thu, Đông dĩ nhiên vàng lá
Lá vàng bay… ôi chao buồn mênh mông!
Tôi nhớ bà Quỳnh Dao, bà đã thác, cuối cùng
Bà đang ở một nơi nào trên trái đất?
.
Tôi không đếm, không đong cái còn cái mất
Tôi đã là Từ Thức lạc Bồng Lai!
Trần Vấn Lệ
NHƯ LÀ
TRUYỆN LIÊU TRAI
Cuối tuần! Lại cuối tuần
nhanh như là gió thổi
mà kìa, lúa trên đồng nội
chưa thấy trổ đòng đòng…
vậy mà ai theo chồng
hai Thế Kỷ rồi đó!
.
Ô! Tôi một đứa nhỏ
cứ nhớ thời gian xưa…
cuối tuần thường có mưa
Ông Trời chơi thật ngẳng:
học trò thì ghét nắng
ngày đi học không mưa…
cây thước Thầy cứ khua
làm học trò cứ sợ!
làm học trò cứ nhớ
câu “tục ngữ an nam”:
-Một cái doạ bằng năm cái đánh!”
.
Cuối tuần nào cũng lạnh
mưa hoài mưa mưa mưa!
.
Mưa, nhớ Lưu Trọng Lư
có bài thơ bất tử
có những câu bắt người ta tư lự
chẳng hạn như câu này:
“Mưa chi mưa mãi
lòng nhớ thương hoài…
Mưa mãi mưa hoài
lòng nhớ thương ai!
Trăng lạnh về non không trở lại!”
*
Tôi nhớ em: Cô gái.
Tôi nhớ Ngoại: vườn cau.
Mưa chầm chậm, mưa không mau.
Nước chảy qua cầu, hai Thế Kỷ, nước trôi ra biển!
Em ra đó rồi biến…
… như là chuyện Liêu Trai!
Trần Vấn Lệ
==
AI CÓ MƯỜI NĂM KHÔNG NƯỚC MẮT
AI LÒNG CÔ QUẠNH CHẲNG NHƯ SƯƠNG
Xưa, nói mười năm là thở dài
Nay, mười năm… một thoáng con nai
nó ra bờ suối nghiêng đầu xuống
uống nước và rồi mọc cánh bay!
.
Xưa, mười năm, đúng mười niên kỷ
Nay, hẹn gì rồi cũng đã quên
Khi ngó lịch thì trang lịch mới
Khi tìm hình bóng mịt mờ im!
.
Mười năm cứ ngỡ thanh bình đẹp
Mà đó mà đây luống ngỡ ngàng
Rồi chuyện mười năm vào cổ tích
Như người con gái đã sang ngang!
.
Sài Gòn không chỉ mười năm nhớ
Mà nhớ muôn năm: nó mất rồi
Bến Nghé chia hai dòng nước đục
Hình như vì lệ của ai rơi?
.
Mười năm chỉ ném vài viên sỏi
Mà vỡ tan tành muôn trái tim!
Có lẽ con nai về Darlak
Để Bình Dương lẻ bóng trăng lên…
*
Mười năm Cải Tạo rồi lưu lạc
Tôi vẫn là con của Mẹ Cha,
Mà giọt mồ hôi không thấy mặn
Mà chua lè vì bởi quê xa?
.
Hăm bảy năm sau về Cố Lý,
Cháu dẫn đi thăm đất mả mồ,
Cháu dẫn đi thăm từng đám ruộng
Đi qua cầu khỉ vẫn trơ vơ…
.
Cái cầu khỉ đó qua con suối.
Sông ra biển rồi, mưa theo sông
Tôi về gặp lúc trời khô hạn,
Nhang cắm bàn thờ hoa trổ bông!
.
Mười năm tôi hiểu là đau đớn
Chợt ngó ra vườn thấy bướm bay…
Tôi thất tình như con bướm đó?
Tôi có tình mà không ai hay?
.
Nhớ Kiều Thệ Thủy chàng thi sĩ
có hai câu thơ buồn thiết tha:
“Tôi thất tình đi hôn lá hoa
Bước lang thang giữa xứ sương nhòa…”
.
Mà sương nhòa thiệt, sương nhòa thiệt!
Ai hẹn mười năm chắc cũng buồn?
Ai có mười năm không nước mắt?
Ai lòng cô quạnh chẳng như sương?
.
Trần Vấn Lệ
=
=
MỖI GIỌT LỆ
LÀ MỘT GIỌT QUÊ HƯƠNG
Ở Mỹ ăn Mì Quảng / vui biết bao là vui! Lề đường ta cứ ngồi không bị Cảnh Sát đuổi!
.
Mì Quảng: Mì Quảng Ngãi! Mì Quảng: Mì Quảng Nam. Muốn ăn sang vẫn sang, Có đây Mì Quảng Bình, có đây Mì Quảng Trị. Nếu ăn mà chưa phỉ… thì còn Mì Quảng Ninh!
.
Ôi Mì Quảng linh tinh! “Việt Nam Mình Như Vậy!”. Nói mà nước mắt chảy xuống nụ cười Bolsa!
.
Đường Bolsa ai qua nhớ ghé ăn mì Quảng, dù chỉ ăn một thoáng mà sẽ nhớ một đời…
.
Đời của những ai rời Tổ Quốc đi ra biển! Đời của ai đã liệng cái quốc tịch ở nhà…
.
Những người bỏ đi xa nhớ thiết tha Mì Quảng… nên từng, từng bữa sáng cứ thèm nhắc Quê Hương!
.
Tô Mì Quảng thấy thương! Những sợi vàng sợi trắng cầm đũa lên thấy nặng cái mùi thuở đói nghèo…
.
Cầm đũa vớt cái… vèo, tô lại đầy nước mắt! Hai cái chữ Tổ Quốc, thành… hai chữ Tô Mì!
.
Ai có nói cái gì, tôi hoan hô Mì Quảng! Đó là món không chán truyền thống của dân tôi!
.
Ăn từ khi ra đời đến khi nhắc bữa giỗ… nhớ ông bà, tiên tổ của những người vượt biên!
.
Quảng Ninh hay Quảng Yên cũng có Mì Quảng ạ! Bạn bè cười nghiêng ngả: ngon nhất Mì Quảng Nam!
.
Nhớ quá năm bảy lăm thèm chén cơm, không có…rồi cũng qua đói khổ: lề đường có gánh mì!
.
Tiền của con cháu đi gửi về nuôi Cha Mẹ nên chi mỗi giọt lệ là một giọt Quê Hương!
.
Việt Nam ôi Yêu Thương!
Việt Nam là vậy đó!
Trần Trung Tá
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT Chào Mừng Thi Sĩ TRẦN VẤN LỆ.
==
Lời Ban Biên Tập: VTLV có hỏi xin thi nhân cho vài dòng tiểu sử và chân dung, để giới thiệu lên trang nhà. Nhưng chưa nhận được, và tác giả cũng đã gửi tặng VTLV thêm mấy bài thơ hay tuyệt vời. Cho nên, VTLV “không thể chờ”, mà phải đi… lượm vòng vòng “trên mây” kiếm được tấm hình này, và xin tóm tắt mấy lời giới thiệu vui vui như sau, khi nào thi nhân gửi hình khác và bản tiệu sử đầy đủ BBT sẽ thay lại. Mong nhà thơ đừng có …rầy tội nghiệp:
Tóm tắt tiểu sử:
Nhà thơ Trần Vấn Lệ/Sinh quán tại Phan Thiết
Cựu Giáo sư, Sĩ Quan VNCH/Sang Hoa Kỳ diện HO
Sống tại Thành phố Thiên Thần/Tiểu bang có loài hoa Anh Túc là Chủ Tể
Sáng tác: không tính xuể/Bút hiệu: đếm không cùng…(Trần Vấn Lệ – Trần Trung Tá – Trần Tú Uyên…)
==
==
VTLV CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ
*
LẠC VIỆT thi đàn lại nở hoa
VĂN THƠ trải thảm rước vào nhà
TRẦN TRUNG TÁ chữ cài châu báu
TRẦN VẤN LỆ câu cẩn ngọc ngà
Lời chảy xôn xao chim ríu rít
Ý tràn dào dạt gió ngân nga
Mừng nay vườn nội thêm tùng bách
Chung sức bảo tồn tiếng nước ta.
Phương Hoa – VTLV
JUN, 23, 2026
THƠ HỌA CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – NGUYỄN HUY KHÔI
==
GỞI THI NHÂN TRẦN VẤN LỆ – NGUYỄN HUY KHÔI
(Tân hội viên VTLV)
Thêm BÔNG, vườn rộ thắm mầu HOA,
Bằng hữu mừng huynh nhập Hội Nhà!
Góp sức điểm tô hồn bút ngọc,
Đồng tâm khai sáng mạch thơ ngà!
Trà châm Hương Nghĩa ,…vui hoan hỷ,
Tửu chuốc Men Tình,…thú ngất nga!
Chuốt ý, trau vần gìn bản sắc…
Bảo tồn văn hóa Việt Nam ta!
Nguyễn Huy Khôi
24-6-2026
==
THƠ HỌA CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – CAO MỴ NHÂN
CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – NHẬP HỘI TRI ÂM VĂN THƠ LẠC VIỆT
Họa vần Thơ PHƯƠNG HOA MỪNG ĐÓN TÂN HỘI VIÊN TRẦN VẤN LỆ THI SĨ
(Sau 30 năm tái ngộ – CMN)
Ba mươi năm Lệ thấm khai hoa
Châu ngọc xa xưa sáng mái nhà
Bến cạn Tầm Dương tô ánh tuyết
Cầu sương Thệ Thuỷ điểm vầng nga
Trở về LẠC VIỆT vui men cúc
Hòa hợp VĂN THƠ thấu bút ngà
Mời khách ung dung bàn xướng hoạ
Cùng bao tri kỷ biển trời ta …
Hawthorne 23 – 6 – 2026
CAO MỴ NHÂN
==
THƠ HỌACHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – QUANG HÀ
==
CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – BÀIHỌA QUANG HÀ
LẠC VIỆT vui mừng trải chiếu hoa
Mời TRẦN THI SĨ đến chung nhà
Hồn văn Phan Thiết ngời sao biển
Lực bút Thiên Thần* rạng bóng nga
Mặc khách hân hoan chào Thước ngọc**
Tao nhân vinh dự đón Thơ ngà
Chung tay góp ý đồng tâm nguyện
Gìn giữ chân truyền chữ Việt ta.
Quang Hà, 24/6/2026
*Thiên Thần: Los Angeles: tên thành phố thi sĩ TVL cư trú
** Trước 1975, Ông Trần Vấn Lệ là Giáo Sư.
==
THƠ HỌA NGUYỄN HUY KHÔI
==
GỞI NHỊ VỊQUANG HÀ – VẤN LỆ – BÀI HỌANGUYỄN HUY KHÔI
(Hội viên VTLV)
Chúc mừng nhị vị góp TINH HOA,
Đồng khí tương giao hiệp một nhà,
VẤN LỆ – thôi xao sành bút diệu,
QUANG HÀ – trau chuốt nuột thi ngà!
Văn Nhân xứng bậc – nâng tầm vóc,
Lạc Việt lưu danh – mãi tiến xa!…
Cổ xúy muôn NGƯỜI gìn CỘI RỄ
TAO ĐÀN tỏa rạng sáng GƯƠNG NGA!
Nguyễn Huy Khôi
26-6-2026
==
QUANG HÀ HỌA ĐÁP LỄ NGUYỄN HUY KHÔI
DÁM ĐÂU – QUANG HÀ
Xôn xao thuyền đỗ “BẾN HOÀNG HOA”
Chẳng quản đường gần với dặm xa
Tiền bối công lao gầy nhóm hội
Vãn sinh tâm nguyện giữ ngôi nhà
VĂN THƠ bút vẽ chân trời sáng
LẠC VIỆT lòng soi bóng nguyệt nga
Tiểu đệ ví là bông cỏ dại
Thì đâu dám nhận tước “thi ngà”!
Quang Hà kính họa
27/6/2026
==
==
Để CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN VĂN THƠ LẠC VIỆT,
CAO MỴ NHÂN GÓP BÀI THƠ “ VỀ BẾN CẠN “ Cùng VĂN THƠ LẠC VIỆT KHI ĐƯỢC TIN
THI SĨ TRẦN VẤN LỆ ĐÁO NHẬM VƯỜN ĐÀO TRI KỶ BỐN PHƯƠNG
*
VỀ BẾN CẠN . CAO MỴ NHÂN
Nét hoa vừa thấy đã tan theo
Sóng nước mênh mông giạt cánh bèo
Đành vớt thời gian tìm bóng bạn
Để buông vận hạn kiếm hình neo
Tầm Dương thủa ấy ai tri kỷ
Lạc Việt thời nay khách cột kèo
Nhật Nguyệt lênh đênh chờ tái ngộ
Thuyền về bến cạn nỗi sầu treo …
*
Bến cạn chiều sương khói mịt mù
Nhớ về nhân dáng khách chinh phu
Đã không tồn tại cùng xuân tận
Sao chẳng hẹn hò với mộng du
Đất trích một lần đi cách biệt
Tầm Dương mấy thủa loãng oan thù
Lữ hành trên chính quê hương cũ
Cố lý mơ hồ bóng chiến khu …
Hawthorne. 23 – 6 – 2026
CAO MỴ NHÂN
==
CHÙM THƠ TRẦN VẤN LỆ
==
Thơ Trần Vấn Lệ
.
Rồi… lại tới Ngày Lễ: Đón mừng Ngày Nhớ Cha!
Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!
.
Mẹ luôn luôn là thế: ưu tiên mọi tấm lòng!
Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…
.
Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…
cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…
.
Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…
nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!
.
Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!
Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!
.
Tôi… thành thật thú thật: Tôi-trường-hợp-thứ-hai
… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!
.
Thương quá chớ, thời Lính: Mẹ Cha hằng mong con!
Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!
*
Em của tôi làm điệu: Hai mắt đang ướt kìa!
“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”
.
Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!
Và đây là… Bài Thơ: Happy Father’s Day em, đó!
.
Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…
Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!
.
Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương
Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!
.
Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!
Happy Father’s Day! Happy Father’s Day!
Trần Vấn Lệ
==
HOA BÌNH MINH MẤY NỤ
Hôm nay mặt trời thức sớm hơn tôi, mất rồi! Tôi chói mắt quá thôi! Tôi ghét mặt trời nhé!
Tôi mở cửa nhè nhẹ, nắng ào ào đi vô…Nắng cho tôi chùm hoa để xuống thềm thơm ngát…
Nắng vung tay nhẹ tát mặt tôi làm ngẩn ngơ! Hôm nay tôi không ngờ cái giờ mặt trời thức!
Thường thì mặt trời mọc khi còn sương kia mà! Chắc vì sương không sa tối hôm qua Đoan Ngọ?
Đèn đường còn sáng đỏ! Bốn giờ hơn! Ngỡ ngàng. Ánh điện vẫn vàng vàng ít nhiều có phai lợt…
Ý thơ buồn bay trớt, tôi chặn gió cầm hôn!
*
Ô là tôi dễ thương, tôi cầm được ngọn gió… Tôi nhìn ra thảm cỏ, cỏ có nắng xanh hơn…
… nhưng bướm thì chưa vờn và chim thì bay hết! Vườn tôi xanh xao thiệt chớ không phải xanh tươi!
Ngày Của Cha vui vui, tôi chợt nghĩ như vậy! Không biết ai có thấy… đời là giấc chiêm bao?
Lát nữa tôi làm sao? Pha cà phê ngồi uống? Một mình tôi thức muộn nhìn mùa Hè đang qua…
52 năm tôi còn / thấy mắt ai cũng đẹp! Tôi ráng sống phải phép: Nhìn Thôi Nói Thế Thôi!
52 năm nước trôi… trôi bớt vườn cau Ngoại! Nhà nhà đều lợp mới / ngói mua ở Vĩnh Long!
Sư dẫn tôi ra đồng / nhìn… núi rừng trọc lóc. Tôi vuốt đầu chải tóc, tôi muốn bớt cho Sư…
Sư nói: “Tất cả như, Như Như thưa thí chủ! Bây giờ ai cũng đủ, bây giờ ai cũng no!”.
Ôi lời Sư thơm tho. Tôi nhìn chi thêm nữa?
Quê Hương mình được rứa, tôi về Huế đi tu… 52 năm quá lâu, gì mà không đổi khác?
Bài thơ này nhàn nhạt, tình quê không đậm đà? Tôi về không đi xa / khỏi cổng Chùa, mai mốt…
Trần Vấn Lệ
=
CÂU CHUYỆN CỦA BA NGƯỜI
TRONG CỘNG ĐỒNG BA TRIỆU NGƯỜI
*
Em yêu quý! Trời không mưa thì nắng.
Nắng ban ngày và mưa hay về đêm…
Mùa Hè năm nay Cali đất không mềm
Sáu tháng rồi không có mưa trút xuống…
.
Ngày như đêm ai cũng than là nóng
Người homeless cười khúc khích với lon bia
Xứ tự do nó chọn sống bên lề
Bạn hỏi sao? Nó nói Nhà Thờ khoá cửa…
.
“Tôi không phải là con của Chúa
Tôi là con của thiên hạ mọi người.
Tôi đã quân nhân, tôi được giải ngũ rồi
Tôi không nợ không nần không người yêu chì chiết…
.
Bạn bè ư? Thật tình tôi không biết
Bạn là ai? Thú thiệt có như không
Bao nhiêu năm, một-hai-ba-bốn đi cùng
Đi tới chỗ… Tan Hàng và Cố Gắng! (*)
.
Đi tới chỗ, biết đâu nằm Mả Lạng
ngó lên trời chịu đưng nắng và mưa…
Tôi làm thơ tôi làm thơ tôi làm thơ
Tôi in sách bán có tiền… tôi sống!
.
Người ta nói Sống Để Mà Hy Vọng,
Đời Thiên Thu bao cái Bóng Thời Gian?
Bao nhiêu bình minh, bao nhiêu chiều tàn
Hai chữ Đá Vàng chấm mực đen và viết!
.
Tên nước tôi nguyên nó là Nam Việt (**)
Lệnh của Tàu thành ra Nước Việt Nam
Tôi nhắc bao lần, tôi nói như van,
Không ai nghe tôi để đi làm Kách Mệnh!
.
Thôi thì thôi đời của tôi tôi tính:
Sống lề đường Thác được đốt ra tro!
Sông mồ hôi, biển nước mắt, không bờ
Hai chữ Đá Vàng là Giấc Mơ Bèo Bọt…”
.
Em ơi em cho anh hôn mái tóc
Tóc mai dài hay ngắn cũng… Tình Yêu!
Trần Vấn Lệ
(*) Khẩu lệnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hô sau xong một cuộc tập họp. Anh em vui mà cứ hỏi nhau Cố Gắng là sao? Là… thấy sao trên cờ… trưa ngày 30-4-1975.
(**) Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà năm 1802, lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, đặt tên nước Nam Việt, cho sứ sang Tàu xin cầu phong làm An Nam Quốc Vương.
Ba năm sau (1802, 1803 và 1804), Tàu trả lời:
1, Nhất trí Gia Long làm An Nam Quốc Vương.
2, Tên nước là Việt Nam, chữ Việt phải viết với bộ Tẩu cấm dùng chữ Việt viết với bộ Mễ. Gia Long nhận lệnh, trối lại cho con tính toán giùm. Vua Minh Mạng lên kế nghiệp Gia Long năm 1820, đặt lại tên nước là Đại Nam.
Ngày 2-9-1945, cướp chính quyền thành công, Hồ Chí Minh Chúa Đảng Cộng Sản Đông Dương, làm Chủ Tịch nước thống nhất Bắc Trung Nam, tên nước là Việt Nam. Từ đó trở đi không có câu giải nghĩa.
Nhưng có hai sự kiện:
1, Dân Bắc Việt ùn ùn chạy trốn về phía Nam, 1954, cả triệu người, không nghe nói có ai chết dọc đường.
2, Cả triệu người ùn ùn cũng chạy về phía Nam hướng Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Australia, chết chìm ghe vô số kể, sống thì trôi giạt tới bờ và được thế giới cứu vớt toả đi khắp mọi nơi ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc…để sinh cơ lập nghiệp. Hiện có con số chính thức là 6 triệu bốn trăm ngàn người, tính luôn non 1 triệu người xuất khẩu lao động đi làm mướn hay được cho đi học nước ngoài mà từ tục tỉu là Du Học Sinh!
Bạn mình ơi, đọc Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim nha! Đọc Lịch Sử Còn Đó của Nguyễn Văn Lục nha! Nha! Nha!
==
Ở TRÊN TRỜI PHÍA BẮC
NẮNG VÀNG THU SẮP THU
Sáu tháng! Trời không mưa
Sáu tháng! Trời chỉ nắng
Trái khổ qua cứ đắng
mười hai tháng một năm!
.
Tôi không nghe ai than
về trời mưa trời nắng.
Bầu trời mây vẫn trắng
đời sống thì trong veo…
.
Thơ… chỉ một Huyền Kiêu
bốn mùa nhớ Chị Đẹp
em thơ đôi mắt biếc
theo dõi bước chị mình…
.
Chị kìa… trên đồng xanh
Chị kìa… trong ngày nắng
chị choàng cái khăn thắm
hái hoa trắng cầm tay…
.
Bốn mùa bốn đổi thay
Chị Đẹp đời chỉ một
Huyền Kiêu châm điếu thuốc
thả buồn lên ngọn cây…
.
Trên ngọn cây có mây
có một ngày sắp hết
sáu tháng tôi ngộ thiệt
nửa năm còn… rồi sao?
.
Chị Đẹp tôi chiêm bao
ở trên trời… phía Bắc
tháng Bảy mưa phơn phớt
nắng vàng Thu… sắp Thu…
Trần Vấn Lệ
==
==
VƯỜN VĂN THƠ LẠC VIỆT
Vườn Văn Thơ Lạc Việt /Hương tình cờ bay xa
Chạm nhằm đóa kỳ hoa/Nụ thần ươm nở nhuỵ
.
Gió mơn lòng tri kỷ/Vườn níu giữ hồn thơ
Nguyệt soi ánh sương mờ/Cung đàn thêm réo rắc
.
Cùng thi nhân thắt chặt/Đan sợi nắng bình minh
Ánh hồng tỏa lung linh/Rỡ ràng vui bút mực
.
Dẫu đời là mộng, thực/Dù dặm dài viễn phương
Cố hương hay tha hương/Lòng này chung một lối…
Phương Hoa – JUN 22, 2026
==
==
Phụ bổn:
KHÓI THUỐC VÀNG TAY – QUANG HÀ
Tôi đọc bài thơ Trần Vấn Lệ*
Nhắc đến mùi thơm khói Capstan
“Chiếc áo phong sương tình anh nặng”
Nhớ đến nao lòng thuở tóc xanh
.
Nhớ quán cà phê ngày xuống núi
Áo trận còn đeo lớp bụi đường
Nửa tháng mà sao nghe rỗng túi
Hề chi, ký sổ để chờ lương
.
Uống ngụm cà phê, nhả khói thơm
Thấy đời vẫn đẹp còn lên hương
Ngày mai mặc kệ, dù sao nữa…
Vẫn thả hồn theo những nụ hường
.
Ngày đi qua Cầu Dài Xuân Lâm
Dòng sông nao nao buồn thăng trầm
Tôi về như kẻ từng xa lạ
Đồng đội về đâu, ôi biệt tăm!
.
Khói thuốc xanh dòng thơ Quang Dũng
Đôi mắt Sơn Tây buồn tây phương
Khói thuốc vàng tay anh lính trận
Trên đồi biên giới, trấn quê hương.
Quang Hà, Aug. 2020
*“Một Trăm Bài Tứ Tuyệt Treo Vách Ngắm Chơi “
(Thơ Trần Vấn Lệ)
==
==
VĂN THƠ LẠC VIỆT: HÂN HOAN CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ
*Một tiếng thơ lâu năm, một tấm lòng rất trẻ, vừa ghé bến VTLV…
=
==
–Trong sinh hoạt văn chương, có những niềm vui đến bất ngờ như một cơn gió mát đầu hè, như một cánh thư ghé đúng lúc, khi…mở hộp thơ! làm cả “chiếc thuyền thơ” bỗng rộn ràng hẳn lên. Văn Thơ Lạc Việt hôm nay rất hân hạnh và vui mừng được chào đón thi sĩ Trần Vấn Lệ – một tên tuổi quen thuộc khắp nơi với nhiều người yêu thơ Việt, một “cổ thụ thi ca” mà giọng thơ vẫn xanh non, tình thơ vẫn tha thiết, và hồn thơ thì dường như… chưa chịu già theo năm tháng!
Nói vui một chút, VTLV vốn vẫn tự hào là nơi “ai yêu chữ nghĩa thì ghé, ai thương thơ thì ở lại”…đừng dzề! nhưng lần này niềm vui có phần… lớn hơn thường lệ: một thi sĩ “tiếng tăm lừng lẫy” đã tự tìm đến trang nhà VTLV, gửi thơ, rồi nhận lời tham gia gần như ngay lập tức. Thế là anh chị em trong nhà vừa mừng…như trúng số! vừa khoái chí, lại vừa thấy trang nhà mình như có thêm một bóng mát rất đẹp của thi ca và tình người. Giới thiệu thi sĩ này, 100 trang giấy…vẫn chưa đủ! nên chỉ xin phép ngắn gọn:
Thi sĩ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1942 tại Xuân Phong, Phan Thiết, trưởng thành ở Đà Lạt, từng là giáo chức, rồi nhập ngũ năm 1966, là cựu sĩ quan VNCH, và đã trải qua những năm tháng tù đày từ 1975 đến 1981. Ông sang Hoa Kỳ theo diện H.O cuối năm 1989, hiện cư ngụ tại miền Nam California. Một đời người đi qua chiến tranh, lao tù, ly hương, nhưng thật quý thay, nhưng vẫn giữ được một tâm hồn nhẹ, một giọng thơ nồng, và một trái tim biết rung động trước quê hương, tình yêu, bạn bè, kỷ niệm, cùng những điều bình dị nhất của kiếp người.
Chỉ nhìn qua danh mục tác phẩm của ông cũng đủ thấy sức viết đáng nể và một đời gắn bó bền bỉ với thi ca:
Cám Ơn Em Tình Yêu, Ăn Của Rừng Rưng Rưng Nước Mắt, Vời Vợi, Viết Những Dòng Này, Từ Khi Em Là Nguyệt, Thơ và Cuộc Đời, Nắng Hoàng Hôn Còn Sót Mấy Câu Thơ, Tóc Gió Bay… cùng rất nhiều tập thơ đã được giới thiệu trên các trang văn học. Chỉ riêng tên sách thôi cũng đã nghe ra một cõi thơ rất riêng: có nắng, có gió, có hoàng hôn, có nhớ thương, có quê nhà, có bóng dáng người xưa và có cả những rung động không chịu tắt của một trái tim làm thơ.
Điều đáng quý ở thơ Trần Vấn Lệ là cái giọng rất riêng: vừa hồn nhiên, vừa từng trải; vừa tình tứ, vừa man mác; có lúc như trò chuyện, có lúc như thủ thỉ với chính mình; có nỗi buồn, nhưng không bi lụy; có hoài niệm, nhưng không nặng nề. Thơ ông nhiều khi tưởng như đang kể chuyện rất tự nhiên, vậy mà đọc kỹ lại thấy phía sau là cả một trời ký ức, một quãng đời, một tấm lòng.
Và nếu phải nói ngắn gọn về thơ Trần Vấn Lệ, có lẽ xin mượn một ý thế này: thơ ông là thơ của người đã đi qua nhiều dâu bể nhưng vẫn giữ được cái nhìn dịu dàng với đời; là thơ của một người từng nếm nhiều mất mát mà vẫn tin vào vẻ đẹp của tình yêu, tình quê, tình người và chữ nghĩa. Ở tuổi mười tám, xin lỗi lộn, tám mươi, vẫn làm thơ tình, thơ quê hương, thơ nhớ bạn, nhớ em, nhớ Đà Lạt, Phan Thiết, Dran, Ngoạn Mục… như thế, ấy cũng là một cách chiến thắng thời gian rất đẹp.
Văn Thơ Lạc Việt rất trân trọng tấm lòng chân tình của thi sĩ Trần Vấn Lệ khi ngỏ ý muốn “đi cùng các bạn!”, yêu đời sống tập thể, yêu sinh hoạt văn thơ, và xem đây như một bóng mát để cùng nương tựa trong tuổi đời chín chắn mà hồn thơ còn trẻ. Đó là lời tâm sự mộc mạc nhưng đẹp vô cùng. Với anh chị em VTLV, được đón một nhà thơ đến không chỉ là thêm một tác giả, mà còn là thêm một người anh lớn, một người bạn văn, một tiếng nói, một kỷ niệm, một vốn quý cho ngôi nhà chung.
Xin được thay mặt anh chị em Văn Thơ Lạc Việt, hân hoan và nồng nhiệt chào mừng thi sĩ Trần Vấn Lệ đến với gia đình VTLV. Kính chúc thi sĩ luôn dồi dào sức khỏe, tinh thần an vui, ngày ngày còn hứng khởi với “em” thơ, với bạn văn, với con cháu, với những buổi sáng có nắng, những chiều có gió, và những đêm còn muốn ngồi lại với một câu thơ chưa viết hết.
Xin chúc cho cuộc hội ngộ này, sẽ là một duyên lành đẹp của văn chương: để VTLV có thêm một bóng mát và để bóng mát ấy còn tiếp tục cho ra hoa, ra lá, ra thơ… thật lâu!…dài lâu!