Văn Thơ Lạc Việt chúc thọ Nữ Sĩ Trùng Quang 100 tuổi.

 

 

sinh nhat 1.jpg 

                                                 untitled.png 

sinh nhat 2.jpg 

 

 

 

images.jpg 

 

MỪNG SINH NHẬT

              NỮ SĨ TRÙNG QUANG

 

Kính mừng sinh nhật nữ sĩ Trùng Quang
Trải trăm niên kỷ thuở tuổi ngọc vàng
Văn thơ phú lục toát lòng trung, hậu

Tài nhân mỹ đức phước lộc an khang…
Danh cụ tỏ rạng như ánh bình minh
Đồng điệu quý thương tài, đức, nghĩa, tình…
Vẫn
“Văn kỳ thanh, kỳ hình bất kiến”
Mừng cụ trăm tuổi sức khỏe an bình…

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

Chiều nay Jan. 10, 2012 ban đại diện Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt Nhà Văn Chinh Nguyên, Nhà báo Lê Văn Hài, Nhà Báo Cao Sơn, Nghệ sĩ Kiều Loan, Nghệ sĩ Kim Hà, Thi sĩ Cẩm Vân và Nghệ sĩ Mộng Hoa tới nhà dưỡng lão kính thăm Nữ sĩ Trùng Quang và mừng cụ 100 tuổi vói chậu hoa cúc vàng đơn sơ ôm ấp tình thân.
Tôi nhìn cụ nằm đó, tiếng nói vẵn còn vang vọng… Tuy nhiên lúc nhớ lúc không của tuồi hạc về chiều. Tôi bổng nghĩ : Tuồi trẽ đẩy ước mơ, công danh sự nghiệp rồi củng buông, thất tình rồi cũng bỏ, bây giờ còn đó nhửng ngày dài từ chối mộng mơ…ăn không muốn nuốt, mặc chẳng thèm nhìn… Bàn tay đưa lên cố nắm lấy tình người… trong khi đôi mắt vẫn là ngàn trùng một nỗi thương quê.

Trăm năm một giấc mộng đào
Trắng phai màu tóc, chiêm bao dặm dài
Ngẫm đời mấy độ xuân phai !?
Gìa thương kỷ niệm, nhắc hoài ước mơ
Tay buông một kiếp bóng chờ
Nhìn theo cánh hạc vọng bờ tre xanh
Quê Nam một nỗi… thôi đành….!!!
 
 Chinh Nguyên

 

jvhhjhkj.bmp

Vài Nét Về Nữ Sĩ Trùng Quang

 

Bà Trùng Quang sinh ngày 1 tháng 1 năm 1912, tại làng Hạ Vĩnh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, thuộc Lê tộc, dòng họ từng góp nhiều công sức cho các lãnh vực y khoa, văn học của đất nước ở cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam.

Là tiểu thư thứ sáu của một đại thần triều Nguyễn trấn nhậm tại miền Bắc, ăn học và lớn lên ở Hà Nội, ngay từ thời đầu thế kỷ trước, bà đã là nhà hoạt động nữ quyền tiên phong. Đời hoạt động của bà trải dài hơn 8 thập niên, nối tiếp hai thế kỷ, ở cả trong nước và hải ngoại.

Từ những năm 1930′, khi phụ nữ Việt Nam còn bị nhốt kín sau cánh cửa gia đình, bà là người đầu tiên phát động phong trào nữ sinh Hà Nội đi xe đạp, chủ động đoàn ngũ hoá phụ nữ, tham gia các hoạt động văn hoá xã hội.

Đầu thập niên 1940, thế chiến thứ hai, quân Nhật tràn vào Việt Nam, không chế thực dân Pháp, gây nạn đói năm Ất Dậu làm chết hơn một triệu dân, bà dự phần thành lập và điều hành phong trào thanh niên khất thực cứu đói. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, người bạn đời của bà -một nhà hoạt động cách mạng ở phía quốc gia- bị cộng sản giết hại. Goá bụa trước tuổi ba mươi, từ đây, bà là người phụ nữ một mình trọn đời và một mình phấn đấu.

Thập niên 1950′, trong 4 năm đầu tại Hà Nội, bà là hiệu trưởng trường Việt Nư, chuyên dạy nữ công gia chánh và sinh ngữ. Năm 1951, bà thành lập Hội Phụ Nữ Tương Tế, hội đoàn phụ nữ đầu tiên tại Việt Nam. Chiến tranh Việt Pháp lan rộng, bà tận lực tổ chức trợ giúp đồng bào hồi cư về thành phố. Chính do nỗ lực này, khi đến thăm Hà Nội vào năm 1951, Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã trực tiếp gặp bà tham khảo ý kiến để trợ giúp dân chúng rời bỏ vùng cộng sản. Năm 1953, có cô học trò tại trường Việt Nữ được chọn diễn trong kịch thơ do bà viết và đạo diễn trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội. Cô học trò của bà sau này chính là nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh.

Sau khi đất nước qua phân năm 1954, ngay trong những ngày đầu của Đệ Nhất Cộng Hoà tại miền Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã yêu cầu bà ra giúp dân giúp nước. Bà xin kiếu, nói chỉ mong có cơ hội xuất ngoại thâu thập kinh nghiệm thực tế từ nước ngoài mang về giúp bà con làm ăn. Được Tổng Thống Diệm đồng ý, bà một mình lên đường sang Nhật Bản, theo học tại Đại Học Quốc Tế ở Tokyo.

Thập niên 1960′, sau khi về nước, với kỹ thuật thâu thập từ Nhật và Pháp, bà khai sinh ngành nghề làm búp bê Việt Nam, mở trường Phương Chính chuyên về sinh ngữ, nữ công, dạy nghề hướng nghiệp thích hợp cho phụ nữ. Tại Saigon, nhiều chủ tiệm uốn tóc, trang điểm, mỹ nghệ… xuất thân là học viên của bà. Đồng thời, bà tham gia thi đàn Quỳnh Dao, khởi xướng nhiều sinh hoạt văn chương được các bậc thức giả hưởng ứng. Do những nỗ lực trên, bà đã lần lượt được chính phủ trao tặng Huân Chương Văn Hóa Giáo Dục, Kinh Tế bội Tinh và Lao Động Bội Tinh.

Thập niên 1970′, bà sáng tác và ấn hành một số thi tập, trong số này có kịch thơ "Mỵ Châu-Trọng Thuỷ", được trình diễn trên đài truyền hình quốc gia và tại trụ sở Hội Việt Mỹ. Trường Phương Chính tiếp tục phát triển. Cơ sở nhà trường trên đường Nguyễn Đình Chiểu, Saigon, được bà tự tay hoạch định xây cất thành một cao ốc, bề thế không kém những cơ sở kế cận nổi tiếng như Saigon Ấn Quán, trường anh ngữ Nguyễn Ngọc Linh…

Tháng Tư 1975, cộng sản chiếm miền Nam, trường Phương Chính bị đóng cửa, kiểm kê. Bốn năm sau, 1979, bà cùng người thân vượt biển, tới được nước Pháp.

Năm 1980, bà rời Pháp sang Hoa Kỳ định cư. Ngay những ngày đầu đến Washington D.C. bà cầm bút trở lại, các bài viết ký tên bà Trùng Quang lần lượt xuất hiện trên báo Văn Nghệ Tiền Phong. Gia đình di chuyển về vùng Bắc California, bà liên lạc lại với các bạn văn định cư trong vùng, khôi phục các sinh hoạt văn chương nghệ thuật. Dù tuổi đã 80, bà vẫn tự mình trở lại đại học. Hình ảnh một cụ bà sinh viên trường Evergreen, San Jose, hàng ngày đi học bằng xe bus là chuyện thường được nhắc đến như tấm gương học hỏi cho lớp trẻ gốc Việt tại San Jose trong những năm 90′.

Sang thế kỷ 21, năm 2001, bà viết bài tham dự giải Việt Báo Viết Về Nước Mỹ. "Đây là việc phải làm, để giúp con cháu chúng ta sau này biết gốc rễ của họ. Vì vậy, dù đã 90 tuổi, tôi vẫn viết bài này để cổ võ mọi người cùng viết về nước Mỹ." Bài "Tôi Đi Tìm Tự Do, Dân Chủ", ký bút danh Lê Tâm. Sau khi bài viết vào chung kết, mới biết tác giả chính là Bà Trùng Quang. Họp mặt Việt Báo Viết Về Nước Mỹ 2002 đã trân trọng vinh danh tác giả. Các quan chức dân cử địa phương khi trực tiếp vinh danh bà đã ngạc nhiên thấy cụ bà gốc Việt 91 tuổi ứng đối đĩnh đạc bằng tiếng Anh. Từ đây, mỗi năm bà đều có bài viết mới cho báo xuân Việt Báo.

Năm 93 tuổi, 2004, bà Trùng Quang tổ chức việc biên tập, phiên dịch Anh Pháp ngữ và ấn hành sách "B&i
grave;nh Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi. Năm 95 tuổi, 2006, bà chủ biên và xuất bản tuyển tập "Bóng Cờ Nương Tử", gồm các truyện ngắn của 11 nữ tác giả.

Tại San Jose, các hội đoàn văn hoá đã tổ chức vinh danh bà Trùng Quang. Các vị thị trưởng San Francisco, Milpitas tặng bà bảng vinh danh của Hội Đồng Thành Phố. Trên bục sân khấu, bà mặc áo lụa vàng, tóc bạc bới cao, hiền hoà nhận lời chúc mừng của nhiều thế hệ văn chương.

Vào đời từ tuổi đôi mươi, suốt 80 năm vận nhà vận nước đầy giông bão, bà một mình vững tâm bền chí, lấy cái đẹp và lẽ phải soi đường để góp phần phụng sự xã hội. Tấm lòng, ý chí và sức sống của bà là tấm gương chung cho con cháu.

 


Thơ của Nữ Sĩ TRÙNG QUANG viết tặng Văn Thơ Lạc Việt

 

  

 

VUI THƠ

Mừng Thi Sĩ Đông Anh

 

Lạc Việt hôm nay đã phục hồi

Nghe tin hồi phục  bạn bè vui

Sáu mươi thi sĩ than thân lão

Sáu bảy giờ đây trẻ lại rồi

 

Sáu mươi xưa ước lên tiên ở (1)

Bao chuyện trần gian bỏ mặc đời

Nhưng… bảy năm qua tư tưởng khác

Hội thơ nhóm bạn để làm vui (2)

 

Vui thêm trẻ lại mừng thi sĩ

Hoa Giáp Đông Anh đã cũ rồi

Mái tóc còn xanh chưa đủ bạc

Vần thơ thêm đẹp, ý thêm tươi

 

Bỏ ý lên tiên tâm não mới

Thức thời âu cũng gọi là tiên

Tình xưa xin góp làng văn học”

Mực lại tươi dòng. Thơ đậm duyên

 

Trùng Quang

6-2007

 

(1)        Hoa Giáp Đông Anh năm 2000

(2)        Ra mắt Tuyển Thơ Lạc Việt 2007

 

  

 

 

 

THƠ  DUYÊN

Đáp tạ bài Vui Thơ của Nữ Sĩ Trùng Quang

 

Nhận thơ thi sĩ dạ bồi hồi

Biết tả làm sao hết nỗi vui

Lời dạy xin nghe hàng trưởng lão

Văn chương Lạc Việt sẵn sàng rồi

 

Anh em gom lại chung nhau ở

Nghiên bút thơ văn góp với đời

Sau trước một lòng không đổi khác

Vui nguồn thanh bạch trọn niềm vui

 

Non sông vạn cổ bao danh sĩ

Bồi đắp quê hương thịnh vượng rồi

Theo gót tiền nhân mài kiếm bạc

Chiều vàng rạng rỡ nước non tươi

 

Hôm nay Lạc Việt, con đường mới

Tìm chữ gieo vần nối giáng tiên

Tạm mượn lời quê theo sở học

Gửi về Thi Lão chút thơ duyên

 

Đông Anh

6-2007

 

 




20 năm thành lâp và phát giải Văn Thơ Lạc Việt tại Bắc California

XIN KÍNH CHÀO QUÍ VỊ.

Mong được sự hổ trợ của quí vị và được đón tiếp quí vị trong ngày hội lớn của 20 năm thành lập và 
phát giải Văn Thơ Lạc Việt 2012. 



Link Thiệp Mời.
 

MỪNG THI ĐÀN LẠC VIỆT 20 TUỔI

Chúc mừng Lạc Việt hai mươi năm
bằng hữu Thi Đàn họp mặt thân
tá túc San Hô nung chánh khí
lưu vong Tộc Việt náu tinh thần
Chinh Nguyên thừa kế Đông Anh trưởng
Thiết Bổng nối dòng Hà Thượng Nhân
văn hóa Tiên Rồng loan thế giới
tụ về Tổ Quốc nghĩa tình ân .

Tố Nguyên ( 07-07-2012 )

"Hai Mươi Năm"

Hai mươi năm hư hao
Tóc trắng tự lúc nào
Mảnh đời như giông bão
Tuổi tình thêm xanh xao !

Chinh Nguyên

——————————————————–

  

Một lần nữa Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt chuyển tiếp nhà văn Chinh Nguyên 
Phó chủ tịch : Chủ nhiệm báo Thằng Mõ, Nhà báo Lê Văn Hải
Tổng Thư Ký : Nhà Văn Nguyễn Thanh Xuân
Thủ Quỹ : Nhà Thơ Cẩm Vân. 

Mục đích của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt là cùng với tất cả người Việt Tỵ Nạm hải ngoại giữ lại nền văn hóa Sài Gòn cũ sau 1975 và đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một cách nghiêm túc để chống đối một nền văn hóa Cộng Sản quốc nội lai căng mất gốc, vô đạo đức đang dần đi tới sự tàn phá một hê hống ngôn ngữ nhân bản bằng những chữ nghỉa, những câu sáo rỗng vô tư, vô cảm. 

Sự đối đầu văn hoá có nghĩa là chống đối bất bạo động trên cương vị chính trị truyền thông, và tuyên truyền do đó Văn Thơ Lạc Việt đã mở ra Giải thi Văn Thơ Lạc Việt hàng năm với những vị cố vấn và giám khảo uy tín của nền văn hóa cũ của Sải Gòn đang tỵ nạn tại khắp năm châu.

Thời kỳ nhà thơ Đông Anh là chủ tịch Năm 2008, có 5 giải thưởng cho mỗi bộ môn văn và thơ, một thời kỷ huy hoàng với số tác gỉa dự thi quá lớn, và tiếp theo năm nay 2012 cũng theo chiều hướng như thời kỳ tiền nhiệm với giải Văn Thơ Lạc Viêt 2012.

Bảo trợ thường trực hàng năm cho Giải Văn Thơ Lạc Việt là anh Lê Văn Hải chủ nhiệm báo Thằng mõ, tuy nhiên trong tương lai chúng tôi rất cần thêm những vị bảo trợ khác có thành tâm với nền văn hoá Việt để giải Văn Thơ Lạc Việt được mở rộng thêm cho các môn khác. 

Nếu quí vị nào có lòng với văn hoá Việt và muốn bảo trợ xin liên lạc với :

Nhà văn Chinh Nguyên (408) 279- 2532, 
Thi sĩ Đông Anh (408) 896-0158, 
Nhà Báo chủ nhiệm báo Thằng Mõ Lê Văn Hải (408) 365-2947 
hay nhà văn Nguyễn Thanh Xuân (408) 679-1400 .

Ban Điều Hành VTLV sẽ tổ chức 20 năm thành lập và phát giải VTLV tại Nhà Hàng Phú Lâm chiều chúa Nhật ngày 15 tháng 7 năm 2012 lúc 5 giờ chiều.
Gía ủng hộ cho mỗi người là 35 đô và VIP 50 đô 

Ban Điều hành mong được tiếp đón quí vị hổ trợ, thành viên, và thân hữu. mong sự hổ trợ của quí vị 

Xin kính chào quí vị.
Trưởng ban điều hành VTLV

Chinh Nguyên L19
(408) 279-2532
cnchinhnguyen7@gmail.com

Thông Cáo Giải thi Văn Thơ Lạc Việt năm 2013

 

 ———————————————–

THÔNG BÁO

 

 

 Để nhớ lại 4 cội tùng của Văn Thơ Lạc Việt Từ trái qua phải :  Nhà Thơ Hà Ly Mạc,
GS Binh luận Gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nữ Sĩ Trùng Quang và
Nhà Thơ Hà Thượng Nhân.

Giải Văn Thơ Lạc Việt 2013

 

Nhằm mục đích bảo tồn và phát triển văn học dân tộc nơi hải ngọai, đồng thời cũng nhằm khuyến khích tinh thần sáng tác của mọi tầng lớp người Việt yêu thích văn thơ. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt xin trân trọng thông báo đến đến quý vị, cuộc thi Truyện ngắn, và Thơ của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt lấy tên là Giải Văn Thơ Lạc Việt 2013.

 

1. Nội dung: Cuộc thi Giải Lạc Việt không hạn chế đề tài, tuy nhiên ưu tiên những tác phẩm
    viết về: Tình yêu quê hương, Ca ngợi lòng ái quốc đang nổi lên trong nước bằng những
    cuộc biểu tình vừa qua để lật đổ chế độ Cộng Sản đảng trị và chống đối Trung Công xâm
    lăng lãnh thổ.
    Không chấp nhận các bài viết đề cao hoặc tuyên truyền cho Cộng Sản, và phỉ báng cá
    nhân trong cộng đồng.

 

2. Điều kiện dự thi: Tất cả mọi người Việt sống trong và ngoài nước đều có quyền dự thi.
    Một người có thể dự thi cả hai bộ môn văn và thơ :


a/ Mỗi người được gửi hai truyện ngắn tối đa, mỗi truyện năm trang đánh máy và thơ tối đa
    năm bài, mỗi bài không quá 28 câu.

 
b/ Tác phẩm dự thi chưa hề công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng, hoặc ấn
     phẩm nào. Trong thời gian cuộc thi diễn ra, các tác phẩm dự thi không được công bố trên
     các tuyển tập và báo chí. Trừ trường hợp tác giả dự thi đề nghị được rút tác phẩm khỏi
     cuộc thi.

c/ Bản thảo được đánh máy rõ ràng gởi qua e-mail, hoặc nếu gởi qua bưu điện bản thảo phải
    được ghi trên đĩa CD.

d/ Dùng Unicode – Font chữ Time New Roman -12, và không trình bày khác lạ.

e/ Chúng tôi không nhận bài viết tay, hoặc bài đánh máy trên giấy không kèm theo dĩa CD.

e/ Bài gửi về xin ghi kèm địa chỉ, email, số điện thoại. Lý lịch kèm theo một tấm hình bỏ vào
    trong một phong bì dán kín và gửi bằng bưu điện. (Phần này sẽ được dùng để in Tuyển
    Tập nếu có thể.)
    Các tác phẩm dự thi sẽ được chọn đăng trên báo chí Việt ngữ vùng Vịnh.

f/ VTLV giữ bản quyền những bài trúng giải, Ban tổ chức không trả lại bản thảo.
   VTLV dự trù in Tuyển Tập Đặc Biệt giải thi Văn Thơ Lạc Việt sẽ thông báo sau tới các tác
   giả dự thi.

 

 

3. Giải thưởng: Giải nhất, nhì, và ba.
    Giá trị giải thưởng cho mỗi bộ môn văn và thơ như sau:

    Giải Nhất :  $500.00 US
    Giải Nhì :    $300.00 US
    Giải Ba :     $200.00 US

4. Thời gian: Bắt đầu nhận tác phẩm dự thi từ tháng 03 năm 2013, hạn cuối cùng là ngày 30
    tháng 8 năm 2013. Công Bố kết quả 15 tháng 9 năm 2013 phát giải thưởng vào tháng 10,
    năm 2013.
 

 

 

5- Gửi Tác Phẩm:
a/ Tác phẩm gởi qua  địa chỉ email: “Chinh Nguyên”
cnchinhnguyen7@gmail.com, và "Tao Nguyen" donganhndt@yahoo.com.
Phần lý lịch, hình cá nhân. Nhớ ghi rõ tên các tác phẩm dự thi dưới phần lý lịch và gởi về :
640 Rettus Ct. San Jose, CA 95111

   Ban Tổ Chức dành quyền loại bỏ những tác phẩm vi phạm thuần phong mỹ tục hoặc gây chia rẽ hận thù cá nhân và cộng đồng.
Ban Điều Hành Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt không được dự thi.
Muốn biết thêm chi tiết xin gọi:

Nhà thơ : Đông Anh : (408) 896-0158,
Nhà văn : Chinh Nguyên (408) 279-2532,
Nhà báo: Lê Văn Hải (408) 365-2947

 

San jose, Ngày 14 tháng 03  năm 2013
Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt
Chủ tịch

Chinh Nguyên

Ghi chú : 
 

Để việc chấm thi được công bằng BDH/VTLV sẽ thực hiện như sau :

1/ Không công bố ban giám khảo trước ngày công bố kết quả trúng giải.
2/ Xóa bỏ tên tác giả trên tác phẩm và đánh dấu mật mã cho mổi tác giả trên mỗi tác phẩm.
3/ Sau khi điểm chấm từ các quí vị giám khảo gởi về, Ban Điều Hành làm tổng kết trung bình cộng để
    thấy tác phẩm nào cao điểm.
4/ BDH sẽ bỏ tên tác giả trở lại cho mỗi tác phẩm để biết ai trúng giải.
5/ Báo cáo vời quí vị giám khảo kết quả giải thi Văn Thơ Lạc Việt năm 2013.
6/ Thông báo trên web Văn Thơ Lạc Việt và Facebook kết quả giải thi Văn Thơ Lạc Việt năm 2013, 
7/ Setup ngày phát giải.
8/ Liên lạc với quí vị giám khảo và tác giả trúng giải để thông báo về ngày phát giải Văn Thơ Lạc Việt năm
    2013.

 




NGÀY HỘI NGỘ VĂN HÓA PHỤ NỮ VIỆT NAM TOÀN CẦU, LONG TRỌNG GHI DẤU 40 NĂM TỊ NẠN.

 Toàn Cầu kỷ niệm 40 năm tị nạn trong 2 ngày 17 & 18 tháng tư đen 2015.

Orange County (TMN News).- "Ngày Hội Ngộ Văn Hóa Phụ Nữ Việt Nam 40 năm tị nạn" sẽ được thực hiện tại Thủ đô tị nạn Little Saigon (Nam California) trong 2 ngày 17 và 18 tháng tư năm 2015. Tổ Chức Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam Toàn Cầu cho biết 2 ngày sinh hoạt của giới Phụ Nữ Tài Năng đến Quận Cam từ khắp hải ngoại, tổng quát như sau:
1.- Thứ Sáu ngày 17/4.- Từ 6:00G chiều, Ban Tổ Chức chào mừng quý Phụ Nữ Tài Năng đến Quận Cam từ khắp phương trời hải ngoại, với Dạ Hội “Bóng Hồng Quê Hương số 2” (văn nghệ, chiếu phim, dạ tiệc) tại một nhà hàng “4 sao” vùng Thủ Đô Tị Nạn VN.
2.- Thứ Bảy ngày 18/4.- Từ 9:00G sáng tới 12:00 trưa: Phái Đoàn Văn Hóa Phụ Nữ thăm viếng một số địa điểm quan trọng tại Quận Cam. Từ 1:00G trưa: Phái Đoàn sẽ đặt vòng hoa tưởng niệm những chiến sĩ anh hùng & Quân Dân Cán Chánh VNCH đã bỏ mình vì Chánh Nghĩa Quốc Gia trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ. Từ 1:30G trưa tới 5:30G chiều: Chương trình văn nghệ chủ đề “40 năm tị nạn” với một số nam nữ ca sĩ tên tuổi – Hội Chợ Sách/Báo, tranh/tượng, DVDs/CDs thơ/nhạc v.v… Tại hội trường thuộc Tòa Thị Chính Westminster. 

” width=”619″ height=”280″ alt=”” />




Lê Văn Hải : Thông Báo ra mắt tác phẩm Hương Hồng Quế.

Hương Hồng Quế
Và Những Cảnh Ngộ Nghiệt Ngã Của Kiếp Người

 

Theo “thổ lộ” của tác giả, truyện Hương Hồng Quế được viết trong một thoáng tình cờ chụp bắt từ một mẩu chuyện bên lề, không chủ ý.

Một lần từ Sài Gòn ra Bắc, tác giả nghe người bạn thuật lại lời nói của một bà già bị bệnh hủi: "Trước khi chết tôi chỉ mong được ngửi mùi hương hồng quế một lần". Ước mơ giản dị đó của một người sắp rời cõi thế xoáy vào suy nghĩ của tác giả: Phải có “cái gì đó” gợi cho người đàn bà bất hạnh kia nhớ tới mùi hương hồng quế và kỷ niệm nào đó trong đời…

Câu nói đơn giản ấy đã làm tác giả rợn người, khiến tác giả nghĩ tới thân phận người trí thức còn sống trong nước. Người trí thức cũng què cụt, cũng đui mù rồi, nhưng ở tận đáy lòng vẫn nuôi dưỡng một niềm mơ ước dù rằng rất nhỏ, gắn với một kỷ niệm chẳng biết đáng gọi là vui, hay buồn, nhưng rất đẹp. Chính vì thế tác giả đã lấy ba chữ Hương Hồng Quế làm tên tập truyện.

Có lẽ ẩn ý này của tác giả khó được người đọc nhận ra, vì đây chỉ là một cảm nghiệm hoàn toàn riêng tư.

 

Nhìn lại suốt dọc dài lịch sử thăng trầm của đất nước, giới sĩ phu luôn luôn giữ vai trò hướng đạo trong mỗi thời kỳ sơn hà biến động, cũng như lúc xã tắc an bình. Giới sĩ phu thời xưa và thành phần trí thức thời nay dù cách xa nhau hàng thế kỷ nhưng thiên chức và vai trò của họ trước vận mệnh dân tộc không có gì thay đổi.

Dưới các triều đại quân chủ, cùng với nhà vua, giai cấp sĩ phu đã từng chủ động và chứng tỏ vai trò ưu thế của mình trong việc an định nước nhà, mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân. Nhiều bậc sĩ phu là những nhà nho, ngay từ thời nhà Trần đã xây đắp một nền văn học Việt Nam sáng chói với những văn tài như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Hồ Quý Ly, Nguyễn Thuyên, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Ngũ Lão…

Dòng văn học đó tiếp nối theo giòng lịch sử với những danh nhân tên tuổi như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm, Hồ xuân Hương…

Và từ thời cận đại đến cuối thế kỷ 20, một thế hệ cầm bút mới tiếp nối sự nghiệp tiền nhân như  Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Phùng Quán, Trần Dần, Phùng Cung v.v.

Dấu mốc lịch sử, Hiệp định Geneve 1954 kết thúc chiến tranh Việt – Pháp, đất nước chia đôi, Văn học Việt Nam rẽ thành hai giòng chảy: vàng đỏ, trong đục khác biệt…

Văn học miền Bắc, như lời thú nhận của những người làm văn học “ăn cơm chúa múa tối ngày” đã viết trên giấy trắng mục đen rằng một trong những “Đặc điểm cơ bản của nền văn học mới” là “một nền văn học thống nhất, có tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng” (1).

Ở một chỗ khác, tương đối kín đáo hơn, những người làm văn học XHCN ở miền Bắc lại viết:

“Mấy chục năm qua, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và được sự lãnh đạo của Đảng, giới nghiên cứu văn học đã tiếp thu một cách chọn lọc những kinh nghiệm và truyền thống của việc nghiên cứu văn học thời trước để tìm hiểu sự phát triển của văn học Việt Nam…” (2)

Trong khi đó, người cầm bút, giới văn nghệ sĩ, nói chung trong 20 năm Văn học miền Nam hoàn toàn được tự do sáng tác, phát hành, phổ biến.

Khỏi cần lý luận dông dài, mọi người đều thấy rõ bản chất của văn học miền Bắc” là một nền Văn học được “soi sáng” bởi chủ nghĩa Mác-Lênin, dưới sự chỉ đạo, kiểm soát và khống chế của đảng CSVN.

Lịch sử nói chung và văn học, nói riêng đã bị nhào nặn, vo tròn bóp méo, cố tình nhận định sai lạc nhằm phục vụ chế độ, theo kiểu “mặt trời chân lý” của Tố Hữu. 

Giới trí thức miền Bắc dưới chế độ Cộng sản trong hàng chục năm qua đã phải thúc thủ trước “bạo lực cách mạng”. Vì cơm áo và sự sống, một số đông đã bị “què cụt, đui mù”, giấu kín trong lòng những ước mơ và kỷ niệm…  – Ước mơ một lần được ngửi mùi hương tự do dân chủ – Một số vẫn kiên cường vung bút đòi hỏi tự do sáng tác, ghi lên sách báo sự thật lịch sử, những hiện tượng và hành vi bất lương của thời đại họ đang sống, chấp nhận mọi hậu quả trả thù ác nghiệt. Đó trường hợp của Nhân Văn Giai Phẩm và các nhà văn, nhà báo, giới trí thức, luật gia hiện nay ở trong nước.

 

**

Tôi nhận bản thảo “Hương Hồng Quế”, đọc từ truyện đầu sách cùng tựa đề, đến truyện thứ 28 cuối sách, mỗi truyện một nội dung, một cảnh ngộ, kết cấu khác nhau nhưng luồng văn có sức thu hút, lôi cuốn người đọc không thể dừng lại sau mỗi truyện, mà phải giở sang trang sau, đọc tiếp truyện khác.

Tập truyện chia làm hai phần.

Phần I gồm 22 truyện ngắn.

Phần II có 6 truyện, là một loại phóng tác, làm mới lại và đưa ra một cái nhìn mới về những huyền thọai dân gian, lịch sử, giả tưởng từ Trương Chi-Mỵ nương, Lưu Thần-Nguyễn Triệu, Hậu Nghệ, đến Từ Hải, Trọng Thủy-Mỵ châu…

Hầu hết các cốt truyện trong phần I là những cảnh ngộ nghiệt ngã của những kiếp người trong một xã hội đã băng hoại đạo lý. “Nạn kỳ thị vẫn độc hơn lưỡi dao giết người”. Hương Hồng Quế giống như cuộc tình mong manh, nhưng dường như nó không chỉ là một thoáng tình, mà còn là niềm khát vọng, sau chuỗi dài cay đắng.

Trong “Bản Hợp đồng”, không phải một Đan Thanh mà có thể hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn cô gái bất hạnh khác lênh đênh trong một mảng xã hội lọc lừa sa đọa. Tác giả nói với mình hay nói với mọi người: “Điều nghiệt ngã là trong một thế giới còn bất công, chúng ta có qúa ít sự lựa chọn, bởi thế ranh giới giữa tội phạm và nạn nhân, không phải lúc nào cũng rạch ròi…”

Sự đổi chác giữa hai phái tính nam nữ tưởng là “sòng phẳng, lạnh lùng” nhưng vẫn không thể đẩy nỗi xúc động, xót xa nhân bản ra khỏi trái tim của một con người. “Đan Thanh tồn tại và biến mất giữa một thế giới thừa thãi sự tiến bộ, nhưng thiếu hụt tình người. Cô sống như cỏ cây, như hạt bụi đọng”. (Bản Hợp đồng)

Cảnh bịp lừa, dối trá, chơi đểu lẫn nhau không chỉ ở những mảng xã-hội-đen mà còn khá phổ biến khắp nơi, ở các công sở, xí nghiệp, công ty. Tại một công ty sản xuất lớn, có hàng trăm cán bộ, công nhân, “nghe nói có mấy thằng trong cơ quan muốn chơi anh”. Thế là xếp bỏ tiền ra – chẳng phải tiền của xếp – cho anh kỹ sư thiết kế chiếc máy “tét” nói dối. Và máy phát hiện “xếp ngu như bò”. Anh kỹ sư nghĩ bụng: “ngu như bò hay ngu như lợn thì cũng na ná như nhau, mà có lẽ lợn còn tệ hơn bò một bậc, vừa ngu vừa bẩn…” (Máy Tét). 

Họat cảnh xã hội Việt Nam đương thời dưới ngòi bút của Vũ Lưu Xuân đã phơi bày nhiều tệ trạng, đủ mọi thứ nạn nhân bị xô đẩy, bị vùi dập giữa dòng sống thác loạn. Con người luôn luôn gặp phải trở lực, ngõ cụt, không lối thóat. Ở đó là những mảnh đời, những thân phận, những dằn vặt, vật lộn, giằng xé, những nỗ lực đến tuyệt vọng để được làm người.

“Thảm quá! Tôi bảo thật, chú vô tội, có tội là cái xã hội đã đẩy con người vào bước đường cùng”. (Trắng đen)

Bên cạnh sự thừa thãi phung phí của con cái những nhà giàu của, lắm tiền, quyền cao chức lớn, thì ước mơ nhỏ bé tầm thường của một học sinh con nhà nghèo khó, xin ông già Noel chỉ là quyển vở học trò và bộ quần áo đồng phục: “Con muốn xin ông nhiều thứ lắm. Trước hết con xin bộ đồng phục cho thằng Út, nó khai giảng lớp một hết mấy tháng rồi mà vẫn chưa có đồ mặc. Con cũng xin ông hai cuốn tập trăm trang giấy trắng…” (Quà Giáng Sinh).

Còn nữa, trong những truyện khác, nhiều cảnh ngộ bi đát kiếp sống con người dẫy đầy trên mặt nổi xã hội Việt Nam hiện nay. May thay, tàng ẩn giữa môi trường sống bon chen, giành giựt, trấn lột lẫn nhau, với ngòi bút hướng thượng, nhân bản, tác giả Vũ Lưu Xuân đã không quên nét đẹp tâm hồn của người con gái vùng vẫy vượt lên số phận, như cô bé trong truyện “Từ Trong Bóng Tối Bước Ra”. Hay những con người hy sinh quên mình, nhường cả hạnh phúc lớn lao cho tha nhân như Minh, người điều hành trung tâm người mù đã nhường ca mổ mắt lấy lại ánh sáng cho người khác … 

 

Đọc sang phần II tập truyện, độc giả sẽ không thể không dừng lại nghe Hậu Nghệ tái sinh trình bày:

“Hôm nay Nghệ được lệnh tiếp xúc cùng qúy vị, để chận đứng bàn tay đẫm máu của những kẻ vẫn tự nhận mình là duy nhất đúng… Nghệ đã ngẩng cao đầu, lần lượt bắn rụng chín mặt trời và bị đầy xuống đáy mười tám tầng địa ngục. Bọn đồ tử, đồ tôn của Nghệ đã nhân danh một thứ chân lý tuyệt đối, duy nhất đúng, để tiêu diệt những ai không cùng một quan điểm với mình, chúng đáng bị đầy xuống tầng mười bẩy, tầng này hiện đã quá chật…” (Hậu Nghệ).

Tác giả Vũ Lưu Xuân trong phần Tự bạch có bài thơ Vô Đề, hai câu mở đầu:

Hồn ta đâu là bãi sông đò vắng,

Mà nghe vọng hoài tiếng hát buồn tênh!

 

Bài thơ viết ở tuổi 40 của một con người sinh ra và lớn lên giữa bủa vây của âm thanh bom đạn và khói mù khét lẹt của chiến tranh, để rồi khi đất nước hòa bình, ngỡ ngàng thất vọng truớc một kết cuộc bi thảm phủ trùm khắp mọi đường ngang lối dọc.

Năm 1981, Vũ Lưu Xuân bỏ nghề dạy học, gom toàn bộ sách vở cân ký bán “ve chai”, tự nguyện làm “tên vô học”, nhưng Vũ Lưu Xuân đã không thể buông bút, bỏ chữ nghĩa, nên ông đã làm thơ, dù chỉ có một bài duy nhất – một bài thơ tưởng đã đủ nén vào đó tâm sự cả một đời người – và dần dà từng truyện ngắn lần lượt ra đời, làm món quà tinh thần quý giá cho các thế hệ hôm nay và cho văn học mai sau.

Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn hân hạnh là trung gian chuyển tới bạn đọc tác phẩm văn học giá trị này. Và đây là một trong những mục tiêu mà chúng tôi theo đuổi như tôn chỉ đã được đặt ra từ ngày thành lập, muời lăm năm truớc.

 

SONG NHỊ 

20 tháng 7-2009




Ngô Sĩ Hùng : Hội Ái Hữu Đồng Hương Bắc Ninh

Thư Mời Tham Dự Buổi Họp Sơ Bộ

                Kính thưa quý vị,

                Đã từ lâu “Hội Ái Hữu Đồng Hương Bắc Ninh” vùng bắc California tạm ngưng vì lý do một số quý vị trong ban chấp hành cao tuổi

                Sau khi lien lạc và tham khảo, chúng tôi đã được đa số đồng hương hiện đang cư ngụ tại San Jose và các tỉnh phụ cận đã khuyến khích  cũng như đề nghị nên tổ chức một buổi họp sơ bộ và mời những đồng hương trưởng thượng cũng như những vị có nhiệt tâm đến để góp ý kiến cũng như bàn thảo làm sao để tái sinh hoạt “Hội Đồng Hương Bắc Ninh” vùng bắc California

               

Thời gian buổi họp: Vào lúc 10 giờ sang chủ nhật ngày 15 tháng8, năm 2010

                Tại số 480 N. First Street, San Jose, CA 95112 (góc đường Empire)

                Nhóm vận động: L/S Bick Nguyễn  ĐT  (408) 288-9030

                                                                Ông Nguyễn Như Hùng  (408) 241-8078

                                                                Ông Ngô Sĩ Hùng  (408) 926-2438

Kính xin quý vị đồng hương nhiệt tình tham dự và phổ biến rộng rãi thư này đến những người thân, người quen cùng quê hương Kinh Bắc

Chân Trọng

Ngô Sĩ Hùng

————————————————————

Bắc Ninh – Miền quê của những di sản lịch sử, văn hoá tiêu biểu

 

 

► Các địa phương
Nguồn: website Bắc Ninh
Cập nhật: 09/09/2009, 13:36:56
Đến bất cứ đâu trên mảnh đất Bắc Ninh – miền quê địa linh nhân kiệt" – Nơi từ nghìn xưa cho đến hôm nay luôn là phên dậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, cũng đầy ắp những kỷ niệm lịch sử được kết tinh trong những di sản văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê của vùng đất này.

Bên kia sông Đuống, trên đất Thuận Thành, uy nghiêm lăng mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân – Âu Cơ tại làng Á Lữ – di tích thờ "Nam bang thuỷ tổ" (ông Tổ nước Nam). Thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương (Dâu) với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa tháp nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên.

Thuận Thành còn là miền quê của nghệ thuật dân gian với làng tranh Đông Hồ, làng ca trù Thanh Tương, múa rối nước Bùi Xá, kiến trúc Phật giáo nổi tiếng cổ kính và mỹ lệ như Chùa Dâu, chùa Bút Tháp. Đây còn là quê hương của nhiều thi nhân nổi tiếng như Nguyễn Gia Thiều, Sái Thuận,…

Qua Thuận Thành, tới Gia Bình -Nơi có ngọn Thiên Thai thơ mộng, quê hương của ông trạng khai khoa Lê Văn Thịnh là một địa thắng nổi tiếng nên các vua chúa đời trước đã dựng chùa Đông Lâm, chùa Tĩnh Lự trên đỉnh núi, cung Long Phúc ở sườn non để thường xuyên về đây du ngoạn. Qua Thiên Thai tới Lệ Chi Viên và dấu tích hành cung Đại Lai nơi xẩy ra vụ oan nghiệt với Nguyễn Trãi -người anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới. Từ Đại Lai sang chùa Đại Bi – quê hương của nhà sư, thi sỹ nổi tiếng Huyền Quang, một trong ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Xuống cửa Lục Đầu – Bình Than vũ công lẫy lừng, vào thăm đền thờ và lăng mộ Cao Lỗ Vương ở làng Đại Than và Tiểu Than quê hương của nhà quân sự tài ba đã sáng chế ra nấy nỏ và kiến trúc kinh thành Cổ Loa, giúp vua An Dương Vương bảo vệ nhà nước Âu Lạc.

Vượt cầu Hồ hay từ Hà Nội ngược quốc lộ 1A qua sông Hồng, sông Đuống tới đất Từ Sơn xưa, nay là các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, thị xã Bắc Ninh và huyện Quế Võ. Hơn bất cứ đâu nơi đây đậm đặc di tích lịch sử và sống động truyền thống văn hoá Việt Nam. Làng Đình Bảng, lăng Lý Bát Đế, đền Cổ Pháp-nơi yên nghỉ và tôn thờ các vua Lý những bậc minh quân đã khai mở một triều đại vàng son, xây dựng và phát triển nền văn minh Đại Việt. Vùng đất này là địa bàn chủ yếu để thi triển các chính sách bảo vệ và xây dựng đất nước, phát triển văn hoá Việt Nam của các triều đại với nhiều thành tựu rực rỡ. Chiến tuyến Như Nguyệt, đền Xà, đền Yên Phụ (Yên Phong) còn âm vang lời tuyên ngôn trên dòng sông Cầu lịch sử "Nam quốc sơn hà Nam đế cư…" (sông núi nước Nam vua Nam ở). Các chùa Phật Tích, Tiêu Sơn, Bách Môn, Bách Môn, Cổ Pháp, Lãm Sơn (Dạm), Hàm Long, các đình Đình Bảng, đình Diềm, đền Bà Chúa Kho, đình Hồi Quan, Cổ Mễ, thành cổ Bắc Ninh,…là những danh lam cổ tự và những công trình kiến trúc nghệ thuật vào bậc nhất của nước ta thời Lý-Trần-Lê. Tiêu biểu là Văn Miếu Bắc Ninh, nơi tôn thờ trên 600 tiến sỹ quê hương Kinh Bắc-Bắc Ninh, chiếm 1/3 các vị đại khoa Hán học cả nước, cho thấy Bắc Ninh là vùng đất tiêu biểu của nền văn hiến Việt Nam. Nền văn hiến ấy nẫy nở, bảo tồn và phát triển trước hết ở các làng xã Bắc Ninh. Đa số làng quê ở đất này được tôn vinh là "Mỹ tục khả phong", "địa linh nhân kiệt" bởi có lịch sử lâu đời và trù phú với các hoạt động kinh tế, văn hoá vừa đa dạng vừa sôi động. Nơi đây có các làng tiến sỹ như Kim Đôi, Tam Sơn, Vĩnh Kiều,…các làng buôn nổi tiếng như Phù Lưu, Mai Động, Đình Bảng, Lũng Giang,… và đông đảo các làng thợ; làm giấy gió Đống Cao, chạm khắc gỗ Phù Khê, Kim Thiều, Đồng Kỵ; rèn sắt Đa Hội, sơn mài Đình Bảng, đúc đồng Đại Bái, Quảng Bố, làm gốm Phù Lãng, dệt lụa Cẩm Giang, Tam Sơn, Nội Duệ,…

Bắc Ninh là vương quốc của lễ hội, quê hương của sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc và phát triển tới đỉnh cao. Hầu như làng nào cũng có lễ hội, trong đó có nhiều lễ hội tiêu biểu cả vùng, cả nước như hội xem hoa mẫu đơn chùa Phật Tích, hội rước pháo Đồng Kỵ, hội đền Lý Bát Đế, đền Bà Chúa Kho, hội chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Hàm Long, hội đền Phả Lại, hội giổ tổ Huyền Quang,…Nổi tiếng và thu hút là hội ca hát giao duyên của các làng Quan Họ. Lễ hội và các hoạt động văn hoá của dân tộc Việt Nam trên vùng đất Bắc Ninh ? Kinh Bắc: thông minh, cần cù, tài khéo, năng động và tinh xảo trong hoạt động kinh tế, sáng tạo trong hoạt động văn hoá nghệ thuật và bao trùm là đạo lí sống "uống nước nhớ ng uồn" , quý trọng cái tình , cái nghĩa, sự chung thuỷ trong quan hệ ứng xử giữa người với người "bốn biển một nhà", "tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm", tôn vinh tình yêu thương con người và sự mê say các hoạt động văn hoá nghệ thuật. Vì vậy về với Bắc Ninh là về với quê hương của thi ca, nhạc hoạ, về với cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt Nam.

Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, những di sản văn hoá quý giá của quê hương Bắc Ninh ? Kinh Bắc đang được bảo tồn và phát huy, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hiến Kinh Bắc.