Kho tàng sách cũ xuất bản trước 1975 dạng e-book:

Xin quý vị click vào hình để đọc.




TIN VUI CỘNG ĐỒNG: Khánh Thúc Hà (KHANH HA), Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ – Phương Hoa

Nhà văn Khánh Hà

Vừa qua, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (VNHNVĐB HK) mà tôi tham gia, nhận được một tin vui thật lớn, làm rộn ràng cả diễn đàn Văn Bút.  Đó là tin văn sĩ gốc Việt Hà Thúc Khánh (Khánh Hà), phu quân của thành viên Văn Bút văn thi sĩ Nguyễn Phương Thúy, đã đoạt cùng lúc hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ chỉ cách nhau có một tháng.  Giải truyện ngắn “2020 WILLIAM FAULKNER Literary Competition” hồi tháng 9, và đến nay, gần cuối tháng 10, anh lại đoạt tiếp giải “THE 2020 ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” trong cùng một tác phẩm, “THE WOMAN-CHILD.”

Ngoài việc cùng chung sinh hoạt trong Văn Bút VNHNVĐB HK, tôi còn là thành viên nhóm Cô Gái Việt (CGV) cũng ở Hoa Kỳ, một diễn đàn quy tụ toàn nữ văn, thi, nhạc sĩ Việt, do Phương Thúy điều hành. Cô cũng là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuyển Tập Cô Gái Việt, phát hành mỗi năm một lần, gồm những bài viết của thành viên CGV trên nước Mỹ và thế giới, với mục đích góp phần bảo tồn Việt Ngữ và giữ gìn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, v.v.  Nhờ vậy, tôi mới có dịp may được quen biết nhà văn Khánh Hà (Nv KH). Xin kính chia sẻ cùng quý độc giả cuộc trao đổi đầy thú vị dưới đây giữa người viết và Nv KH:

P.Hoa: Thưa anh Khánh Hà,

Trước hết, Phương Hoa xin trân trọng chúc mừng anh đã đoạt được hai giải thưởng văn học giá trị vừa rồi, và cám ơn anh dành cho P. Hoa cuộc đổi trao, chia sẻ thật đặc biệt, thật vinh dự này.  Là một người viết văn tiếng Việt, và chỉ mới bắt đầu tập tò viết chút ít tiếng Anh gần đây, nên P. Hoa vô cùng khâm phục sự thành công tuyệt vời mà anh giành được khi hội nhập vô dòng chính của văn học Hoa Kỳ. P. Hoa xin phép được hỏi anh đôi điều, mong anh vui lòng chia sẻ để độc giả Việt Báo và bà con đồng hương Việt khắp nơi cùng chia vui với anh.

Nv KH: Xin cám ơn chị P. Hoa đã có nhã ý giới thiệu tôi, một Vietnamese American writer, cho độc giả Việt Báo. Rất hân hạnh được tiếp chuyện với chị hôm nay.

P. Hoa: Dạ cám ơn anh. Thưa anh, xin anh cho biết thêm chi tiết về hai giải thưởng truyện ngắn của WILLIAM FAULKNER Literary Competition” và “ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” đã trao cho tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” cùng giá trị văn học của chúng, và lý do tại sao anh dự thi hai giải thưởng ở hai nơi lại cùng một tác phẩm? Và nếu tiện, xin anh tóm tắt đôi điều về tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” đã đoạt giải?

Nv KH: Thưa chị, giải William Faulkner Literary Competition trao giải nhưng không xuất bản truyện đoạt giải; còn giải Orison Anthology Award in Fiction sau khi trao giải sẽ xuất bản truyện—lịch trình là mùa thu năm 2021. Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay bất đồng giữa hai giải về sự đệ trình của mỗi truyện tranh giải. Truyện “The Woman-Child” được tóm lược như sau:

“Set in Vietnam 20 years after the end of the war in a coastal  habitat being ruined  by modern  aquaculture industry, “The  Woman-Child” tells a story of a tender relationship between Vietnam-born Minh who as a Vietnamese expatriate living in the United States visits the country as a graduate student, and a young local girl who lives  on the  seaside with its  ever-present ocean and its ecological beauty, set against a backdrop of the Vietnam’s environmental degradation caused by shrimp aquaculture, when half a million hectares of coastal mangrove forests had been razed to become prawn farms to feed the American market.”

(P.Hoa xin tạm dịch: Truyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, 20 năm sau chiến tranh, trong một môi trường sống ven biển đang bị hủy hoại bởi kỹ nghệ thủy sản tân tiến. “The Woman-Child” kể câu chuyện về mối quan hệ mong manh giữa nhân vật tên Minh, một Việt kiều Mỹ, sau khi tốt nghiệp trở về thăm quê hương, và một cô gái trẻ địa phương sống ven biển với đại dương mênh mông cùng vẻ đẹp sinh thái thiên nhiên tự thuở nào của nó, giờ đây phải đối diện với sự suy thoái môi trường tại Việt Nam do kỹ thuật nuôi tôm, khi nửa triệu mẫu rừng cây đuốc ở ven biển đã bị san bằng để làm khu nuôi tôm cung cấp cho thị trường Mỹ.)

P. Hoa: Tuyệt vời. Thưa anh, ngoài hai giải thưởng này ra, theo chỗ P. Hoa được biết, anh đã từng nhận “không biết cơ man nào” (cười) thành tích. Ví dụ như, 7 lần anh được đề cử vào giải “Pushcart Prize,” một giải thưởng văn học được vinh danh nhiều nhất nước Mỹ kể từ năm 1976, là hội văn học mà hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, viết tiểu luận nổi tiếng ở Hoa Kỳ tham gia từ 1976 cho đến nay. Rồi thì tác phẩm của anh cũng từng vào chung kết giải thưởng “The Mary McCarthy,” “Many Voices Project,” “Prairie Schooner Book Prize,” “The William Faulkner-Wisdom Creative Writing Award,” là những giải thưởng nổi tiếng, và giải “The Sand Hills” dành cho sách hư cấu hay nhất, tiếp đến là giải “Robert Watson” của Greensboro Review về tiểu thuyết hay, và còn nữa… Ôi, đúng là đếm muốn… hụt hơi luôn rồi (cười). Nhờ anh điều chỉnh lại cho đúng, bổ sung thêm những giải thưởng P. Hoa nêu còn thiếu trong danh sách này? Vì P. Hoa biết còn nhiều giải thưởng khác chưa được cập nhật. Đặc biệt, xin anh cho biết, giải thưởng anh nhận đầu tiên là giải thưởng gì? Nhận được năm nào? Và tác phẩm đó tên là gì?

Nv KH: Cám ơn chị đã quá khen, và cũng xin cám ơn chị đã liệt kê đầy đủ. Sự thật là tất cả các giải thưởng đều nặng phần chủ quan, từ giải thưởng nhỏ đến giải thưởng lớn. Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo—on the same vibrations—thì tỷ lệ thắng sẽ cao hơn, với điều kiện tiên quyết là sáng tác phải có giá trị. Tin vui thường đến rất bất ngờ vì có lẽ những gì mình mong muốn thường không bao giờ đến. Giải thưởng văn chương đầu tiên tôi nhận được là Robert Watson Prize, năm 2013 (see link in blue). Truyện ngắn nhan đề Heartbreak Grass (see link in blue).

P. Hoa: “Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo” Nghe “ngồ ngộ” nhưng có lý lắm! (smile). Thưa anh, trong tất cả những giải thưởng của anh, giải thưởng nào mà anh tâm đắc nhất? Giá trị cao nhất? Có kỷ niệm nào đặc biệt đáng nhớ, vui buồn, trong những lần anh được giải, hoặc nhận giải, hoặc khi viết về tác phẩm?

Nv KH: Hai truyện ngắn tâm đắc nhất của tôi là “Heartbreak Grass” và “The Woman-Child.” Trong mỗi truyện người đọc có thể cảm nhận được sự linh động chân thành của những nhân vật và qua bối cảnh của truyện. Thưa chị, viết truyện đã khó thì đoạt một giải văn chương càng khó hơn. Cá vượt vũ môn trong thực tế chỉ là một ảo tượng cho biết bao nhiêu nhà văn. Nhưng tôi rất vui mỗi khi nhận được tin thắng giải mà nói theo tiếng Anh là “a pure joy.”

P. Hoa: Dạ anh. P. Hoa đã từng may mắn đọc qua truyện ngắn “Heartbreak Grass” của anh, nói về người thương phế binh Cộng sản được gọi là “Uncle Chung,” trở về sau trận chiến với hai mắt bị mù và tứ chi đều mất hết, rất sống động và cảm động… nên anh “đánh bại” hết các tác giả khác cũng đúng thôi.  Và thưa anh, P. Hoa cũng được biết, truyện “Mrs. Rossi’s Dream” của anh mới xuất bản năm 2019 cũng đã nhận quá nhiều kết quả đẹp. Anh được “Foreword Reviews INDIES” trao cho huy chương Bạc về “Historical Adult Fiction” là tiểu thuyết lịch sử dành cho người lớn, và huy chương Đồng về “War & Military Adult Fiction” tiểu thuyết chiến tranh & quân đội dành cho người lớn, và “Booklist” đã vinh danh là sách mới hay nhất. Anh có thể cho biết chút ít về quyển sách này, anh lấy ý tưởng từ câu chuyện thật hay hư cấu? Và phải mất thời gian bao lâu thì anh hoàn tất quyển sách này?

Nv KH: Tiểu thuyết của tôi thường thành hình bắt đầu từ một hình ảnh. Hình ảnh nguyên thủy chuyển biến thành quyển sách “Mrs. Rossi’s Dream” đến từ một documentary film. Ở đó một bà đồng bóng dẫn một phụ nữ Mỹ đến một nấm mồ nơi thi thể con bà đã được an táng cách đó 20 năm. Lúc bấy giờ tôi đã sống ở đất Mỹ rất lâu và hình ảnh đó vẫn sống trong tôi qua nhiều năm nữa cho đến một hôm tôi cảm nhận được sự thôi thúc phải viết về hình ảnh đó. Trong suốt thời gian viết tôi ngỡ như mình là một đứa bé đang học những điều lạ lùng ở trái đất này, một môi trường đầy đam mê và quyến rũ, đầy những con người đủ chủng tộc, đầy bí ẩn, đầy tham lam, gian ác và hung dữ, nhưng ngược lại cũng đầy tình thương và tha thứ. Một buổi sáng sau hai năm viết liên tục, tôi bước ra ngoài và đứng nhìn cây Hương Đào đang trổ bông rực một góc nhà. Và ve sầu bắt đầu kêu.

P. Hoa: Wow! Thiệt là phải… nín thở khi nghe anh kể (cười), vì có thể thấy sự quyết tâm, cũng như trí tưởng tượng quá phong phú của anh đã thuyết phục được độc giả Mỹ, một điều không phải dễ cho tất cả các nhà văn viết tiếng Anh, nhất là khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Và, P. Hoa được biết anh tốt nghiệp ban Văn Chương/Báo Chí ở đại học Ohio, xin cho hỏi, anh có xử dụng bằng cấp này cho việc làm nào khác hay là anh chỉ chuyên viết văn? Về viết văn, cho tới hiện tại anh đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm? Truyện ngắn? Truyện dài?

Nv KH: Tôi không có cơ hội để áp dụng học thức của mình về ngành báo chí; nhưng cách viết của báo thật sự giúp tôi khi viết văn—hành văn của báo chí là ngắn, gọn, gãy, đủ—nói khác hơn là cách diễn đạt phải ngắn gọn và rõ ràng. Đọc Ernest Hemingway có lẽ quí độc giả sẽ thấy tính chất đó. Tác phẩm đầu tiên của tôi là “Flesh,” kế đến là “The Demon Who Peddled Longing,” và tác phẩm gần đây nhất là “Mrs. Rossi’s Dream.” Riêng về truyện ngắn thì tôi có trên 30 truyện đã xuất bản qua nhiều tạp chí văn chương Mỹ–phần lớn là những tạp chí của những chương trình Master of Fine Arts (MFA) do những sinh viên cao học quản lý và điều hành từ các trường đại học khác nhau.

P. Hoa: Dạ, cám ơn anh. Xin cho hỏi, anh có nhà văn thần tượng nào cho phong cách viết của anh không? Và anh có thể cho biết anh có những gửi gắm gì, nhắn gửi gì cho độc giả trong những câu chuyện về chiến tranh như “Mrs. Rossi’s Dream” chẳng hạn?

Nv KH: Thần tượng về văn chương thì tôi không có; tuy nhiên tôi thích đọc Ernest Hemingway, William Faulkner, Cormac McCarthy, Robert Penn Warren. Tác phẩm “Mrs. Rossi’s Dream” hoàn toàn đứng riêng về phương diện chiến tranh. Nó chỉ mô tả sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh và sự mất mát của chúng ta trong tình nhân loại. Là một nhà văn tôi chỉ viết khách quan nên không bao giờ có tham vọng biểu dương một chủ đề hay gởi đời một bài thuyết pháp.

P. Hoa: Dạ anh. Nhưng dù anh có khiêm nhường mà nói thế, độc giả vẫn có thể nhận ra những “sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh” anh mô tả trong truyện, là những nhắn gửi, những lời kêu gọi thống thiết lương tâm loài người về đạo đức, về lòng nhân, và về tình người với nhau. Cho P. Hoa hỏi tiếp, truyện đầu tay bằng tiếng Anh anh viết là khi nào, và đó là chuyện gì?  Điều gì đã giúp anh “đánh đâu thắng đó” khi gửi bài dự thi? Anh đã luôn “đoán trước” được chủ ý và yêu cầu của ban giám khảo?

Nv KH: Thưa chị, truyện đầu tay Anh ngữ của tôi được viết lúc tôi là một senior ở trường đại học Ohio University, Athens, trong khi theo học một khóa Creative Writing. Giáo sư của tôi lúc bấy giờ là nhà văn nổi tiếng Daniel Keyes, tác giả của tác phẩm “Flowers for Algernon.” Cuối khóa ông chọn truyện ngắn của tôi và xin phép tôi cho ông gửi đăng trên tờ tạp chí Ohio Review. Nhan đề truyện ngắn là “A Woman from Saigon.” Tôi quên gần hết câu chuyện vì cũng hơn 30 năm rồi. Về việc gửi bài dự thi và “đoán được” chủ ý lẫn yêu cầu của ban giám khảo thì tôi xin lập lại một sự thật, một chân lý cho tất cả tác phẩm dự thi: Tất cả kết quả đều dựa trên sở thích cá nhân; cho nên nếu hợp tính, hợp thẩm mỹ với nhau thì tác phẩm đó sẽ thắng.

P. Hoa: Thưa anh, P. Hoa đã được đọc nhiều truyện ngắn tiếng Việt anh viết cho tờ Tuổi Hoa trước năm 1975. Khi đó anh còn trong tuổi học trò, mà những truyện ngắn anh viết như “Săn Người,” “Hoa Đầu Mùa,” hay “Tổ Ấm,” trên Tuổi Hoa, ngòi bút của anh khi ấy đã rất chững chạc, sắc sảo, rất hay, và đầy vẻ huyền bí không thua gì những nhà văn nổi tiếng. Một tương lai sáng lạn về văn học Việt Nam như thế, tại sao về sau ra nước ngoài anh không tiếp tục viết tiếng Việt nữa, mà chỉ chuyên viết sách tiếng Anh? Còn nữa, anh có dự định dịch sang Việt ngữ những tác phẩm của anh để bà con mình những người không biết nhiều tiếng Anh có thể đọc?

                                     Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)

Nv KH: Thưa chị, thuở còn viết cho Tuổi Hoa tôi đang ở tuổi 13-15 và chỉ biết viết vì đam mê. Bao nhiêu năm, sau khi đã trưởng thành tôi không còn sự ngây thơ đó nữa, vì sự tự hào, dù đó là một hảo huyền, đã thúc đẩy tôi sáng tác qua Anh ngữ để đạt một số độc giả rộng lớn hơn. Việc chuyển dịch những gì đã viết từ Anh ngữ sang Việt văn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và một tinh thần tận tụy mà tôi không làm được vì đã để hết tâm viết truyện bằng Anh ngữ. Ngoài ra, nếu muốn dịch hay thì nên để một dịch giả khác mình làm chuyện đó. Rất ít có tác giả nào tự dịch những gì mình viết.

P. Hoa: Dạ anh nói đúng lắm. Còn điều này, P. Hoa từng đọc một bài viết dễ thương từ phu nhân Phương Thúy của anh, tựa đề là “Giận”: (http://nguyenpthuy.jigsy.com/files/documents/0a73d5cd-ab52-4c15-991e-b054ec2934ec.pdf)  Trong đó có đề cập đến một bài tình thơ bằng tiếng Anh, “Gasoline Rainbow” rất ngọt ngào, rất lãng mạn, anh viết cho nàng khi hai người mới yêu nhau.  Xem ra hồn thơ Anh ngữ của anh cũng khá là… lai láng (cười). Như vậy, ngoài viết sách, anh có làm thơ tiếng Anh không?

            Nv KH: Thưa chị có; nhưng đó cũng như so sánh một chef với một sous-chef. Tình yêu có thể gợi cảm hứng diễn đạt qua vần thơ để bắt giữ những sắc màu lãng mạn lúc đó, và tôi đã làm thơ khi tôi biết yêu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn là một nhà văn.

P. Hoa: Anh đối đáp duyên dáng lắm (cười). Là một nhà văn gốc Việt rất thành công trong dòng chính văn học Mỹ quốc, anh thuộc vào hàng “tiền bối” của những cây viết mới bắt đầu, anh có lời khuyên gì, nhắn nhủ gì, bí quyết gì, để dẫn đến sự thành công vượt bực đó mà anh có thể chia sẻ cho những “hậu bối” trên con đường viết lách bằng Anh ngữ, và cả những cơ hội có thể thắng giải văn chương như anh?

            Nv KH: Viết văn cũng như tập nấu ăn, thưa chị. Nếu có người chỉ dạy đó chỉ là mắm muối thêm vào thôi. Sự trưởng thành của một nhà văn đến từ chính mình, có nghĩa là viết và viết. Và đọc. Đọc nhiều để bồi bổ kiến thức cho kỹ thuật viết, và viết nhiều để tôi luyện kỹ thuật hầu tìm được tiếng nói của riêng mình. Một nhà văn không có tiếng nói đặc thù cũng giống như “generic drug” so sánh với “brand-name drug.” Nếu đây có thể xem là một lời khuyên thì xin chị chấp nhận.

P.Hoa: Dạ anh, tất nhiên đó là những lời khuyên vô giá! Câu hỏi chót là về sự nghiệp văn chương của anh: Mục tiêu sắp tới của anh là gì? Anh có dự định tranh đoạt những giải thưởng văn học nào trong tương lai? Và hiện anh có đang chuẩn bị in sách mới?

Nv KH: Tôi luôn bận với sáng tác. Lúc đang viết một tiểu thuyết thì tôi đã có một hình ảnh của sáng tác khác sau đó. Tiểu thuyết tôi vừa viết xong đã có một số truyện ngắn trích ra từ đó, đã và sẽ đăng trên một số tạp chí văn chương của Mỹ–Waccamaw Journal, Solstice Literary Magazine, Evening Street Press. Hiện tôi sắp kết thúc phần tham khảo cho sáng tác mới và sẽ bắt đầu viết vào năm tới.

            P. Hoa: Hết sảy! Chúc mừng anh! Thật là ngưỡng mộ sức viết ngút ngàn như gió cuốn, như mây bay, như nước chảy của anh, những đức tính và sự quyết tâm ấy không phải nhà văn nào cũng làm được. Và, nếu không có gì bất tiện, anh có thể cho biết anh đến Mỹ năm nào và thuộc diện gì?

            Nv KH: Thưa chị tôi du học ở Ohio University, Athens, vào thập niên 70, trước khi chúng ta mất nước vào tay Cộng sản.

            P. Hoa: Dạ cám ơn anh. Để kết thúc cuộc trao đổi này, P. Hoa xin chân thành cám ơn anh Khánh Hà rất nhiều, đã bỏ thì giờ quý báu để chia sẻ nhiều điều thú vị và bổ ích cho những cây viết tiếng Anh “mầm non” gốc Việt (như P. Hoa) trong cuộc trò chuyện này. Kính chúc anh cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc, và riêng anh, chúc anh luôn tiến mãi trong sự nghiệp văn chương trên quê hương thứ hai này.

            Nv KH: Xin thành thật cám ơn chị. Chúc chị và gia quyến được bình an trong thời COVID-19 này.

            P. Hoa: Dạ cám ơn và kính chào anh.

Quý độc giả nếu muốn đọc các truyện ngắn Việt ngữ của nhà văn Khánh Hà đăng trên báo Tuổi Hoa trước 1975 xin mời vô những đường link sau đây. (copy link bỏ lên Google để mở)

*Truyện Ngắn: “Săn Người”  trang 79, — TUỔI HOA số 85 & 86 — Xuân Mậu Thân 1968: https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-bG0wN09Sb29aOEU/view

*“Hoa Đầu Mùa” — TUỔI HOA số 76, 1967:

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-SUExWFFMSlJRckU/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 52, 1966 (serialized Part 1):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-RnRQeFdDQVdybGs/view

*“Tổ Ấm”– TUỔi HOA số 53, 1966  (serialized Part 2):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-REl5Z0RDbGZLRmM/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 54, 1966 (serialized Part 3):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aGZ2bjhVS0tzZDQ/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 55, 1966 (serialized Part 4):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-cFc3UEEzWGxEU0E/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 56, 1966 (serialized Part 5):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-VjJfczJhQVZwUDQ/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 57, 1966 (serialized Part 6):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aDFheFlsc2RhSHc/view

Phương Hoa




CHÚC MỪNG TÂN CHỦ TỊCH LÊ VĂN HẢI & VTLV

KÍNH MỪNG chủ tịch một chùm hoa

ANH HẢI giờ đây trụ cột nhà

LẠC VIỆT tưng bừng cùng nhạc kịch

VĂN THƠ rộn rã với thi ca

ĐẦU NĂM kính chúc tài vào cửa

TÂN SỬU mong cầu phúc đáo gia

TOÀN HỘI bảo tồn Văn Hoá Việt

CÔNG THÀNH danh toại tiếng vang xa

Phương Hoa – JAN 16th 2021

Chúc mừng anh HẢI
 
Trong sinh hoạt, Hải là người khiêm tốn
Biết yêu thương, luôn giúp đỡ mọi người
Chẳng keo kiệt, tấm lòng luôn rộng mở
Nên cuộc đời như những  đoá hoa tuơi…
Tờ báo Mõ khởi đầu cho sự nghiệp
Tiếng Việt ta trang chảy giữa quê người
Với ý thức bảo tồn  Văn hoá Việt
Tình quê hương thao thức mãi khôn nguôi
Giờ tiếp nối vào Văn Thơ Lạc Việt
Mang hương thơm Văn hóa tặng cho Đời
 
mpd

CHÚC MỪNG TÂN CHỦ TỊCH VĂN THƠ LẠC VIỆT LÊ VĂN HẢI

chim bằng chưa mỏi cánh

cánh sắt hết tung hoành

tay bút còn tràn sức

vì văn học xả thân 

thay Nguyên tiếp năng lực

giữ Lạc Việt THƠ VĂN

chúc mừng niên trưởng Hải

hồn thơ Việt bỗng bay

rạng ngời nơi hải ngoại

lưu truyền mãi mai sau

Hoàng Mai Nhất

Seattle, WA 23/1/2021




PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG PHAN TRẦN MAI ĐÃ GÃY CÁNH

KIỀU MỸ DUYÊN

          Chiến tranh ở Việt Nam sôi động nhất là vào thập niên 70. Nam ký giả nhà binh thì nhiều, nhưng nữ ký giả chỉ có Phan Trần Mai, thuộc binh chủng Nhảy Dù, sau khi giải ngũ về làm cho nhật báo Trắng Đen. Chúng tôi gặp nhau vào mùa hè đỏ lửa, lúc ở địa đầu giới tuyến, tỉnh Quảng Trị. Phan Trần Mai gầy, khuôn mặt lạnh, ít cười, dáng người nhanh nhẹn, nghe nhiều hơn nói. Sau khi họp báo của phòng hành quân quân đoàn 1, Phan Trần Mai bao giờ cũng chọn đi theo cánh quân Nhảy Dù. Trên ngực áo của Phan Trần Mai bao giờ cũng có phù hiệu của cánh dù bay bay. Mai rất hãnh diện về bằng Nhảy Dù của mình, dù Mai đã rời binh chủng này và làm ký giả cho nhật báo Trắng Đen của ông Việt Định Phương làm chủ nhiệm.

          Phan Trần Mai sinh ngày 26 tháng 11 năm 1947.  Mai rời Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 1975, đi xuống Rạch Giá, Phú Quốc và Hà Tiên. Mai rời Việt Nam ngày 12 tháng 5 năm 1975 từ đảo Kim Lương, phía Nam Việt Nam. Mai rời Việt Nam cùng với người chị tên là Phan Cẩm Vân, chị Nguyễn Thị Trương, bạn thân Lý Mộng Vinh và một người bạn là nữ quân nhân Nguyễn Kim Nương, lúc đó là trung úy Hải Quân. Tất cả 5 người con gái vượt biên ra đi. Mai được tàu đánh cá Thái Lan vớt vào bờ ở thành phố Chantabury, Thái Lan. Chánh phủ Thái Lan cho ở trong làng Samae- San. Rồi sau đó qua ở trại Vayama, từ đó bay qua Mỹ.

          Ngày 10 tháng 10 năm 1975, Mai đến trại Pendleton, California. Sau đó, Mai về San Jose, được bảo trợ bởi nhà thờ Tin Lành ở Sunnyvale, California.

          Phan Trần Mai là nữ ký giả chiến trường Việt Nam duy nhất mà tôi gặp ở vùng 1 chiến thuật. Ban ngày bay ra chiến trận, buổi tối trở về tôi thường đến thăm bệnh viện dã chiến, thăm các thương binh để ghi địa chỉ của anh em. Nếu họ ở Sài Gòn hay Gia Định, tôi chuyển tin tức về tòa soạn, nhờ anh em tòa soạn đem tin đến tận nhà cho các anh em thương binh.

          Gặp Mai lần đầu tôi có cảm tình ngay, vì cùng làm việc xã hội. Chúng tôi làm việc miệt mài, chụp hình, viết bài, gởi bài, làm việc xã hội, thăm thương phế binh ở bệnh viện dã chiến,… Làm phóng viên chiến trường không có ngày giờ, không có thời gian nghỉ ngơi. Chúng tôi cảm nhận được sự sống và chết rất gần, cho nên việc gì cũng làm thật nhanh và thật nhanh nếu không sẽ không còn kịp nữa. Ăn cũng nhanh, đi cũng nhanh, chụp hình thật nhanh. Người ký giả chiến trường cũng giống như người lính chiến, chậm một chút có thể không còn mạng sống.

          Khi trở về thành phố, Phan Trần Mai và tôi cũng giống nhau là thường xuyên có mặt ở tổng y viện Cộng Hòa, thăm và viết bài về các chiến sĩ từ mặt trận được đưa về bệnh viện này. Tôi viết một bài phỏng vấn thật dài về xe lăn cho nhật báo Hòa Bình, chủ nhiệm là linh mục Trần Du. Bài báo được độc giả hưởng ứng và tặng nhiều xe lăn cho thương phế binh. Ở Sài Gòn lúc đó có nhiều báo nhưng chỉ có 2 tờ báo Công Giáo là nhật báo Hòa Bình và nhật báo Xây Dựng. Nhật báo Xây Dựng do cha Thanh Lãng làm chủ nhiệm.

          Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi mỗi người mỗi ngả. Khi tôi vượt biên đến Los Angeles thì Phan Trần Mai đã đến San Jose. Tôi vừa học, vừa làm cho báo Trắng Đen ở Glandale, sau này đi học lại và làm cho báo Mỹ và báo Người Việt. Học xong báo chí, tôi học địa ốc và mở công ty địa ốc, làm cho tivi và radio.

          Tôi và Mai vẫn liên lạc thường xuyên. Chúng tôi gặp nhau ở các đại hội: Cám ơn anh, người thương binh Việt Nam Cộng Hòa, đại hội các nhà văn nữ ở San Jose. Tôi đi thuyết trình ở đại học Berkeley cũng ghé thăm Mai. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi bàn luận nhiều vấn đề. Mai nói Mai đi làm tối tăm mặt mũi vì muốn có tiền để giúp đỡ cho các chị em nữ quân nhân đang trong tù. Mai đưa tôi đi thăm nhà thờ Tin Lành. Mai giúp nhà thờ Tin Lành rất nhiệt tình. Mai nói vì nhà thờ này giúp cho cộng đồng Việt Nam.

          Phan Trần Mai rất nhiệt tình với đất nước. Mai tham gia Mặt Trận Kháng Chiến của ông Võ Đại Tôn. Mai hoạt động tích cực và mong muốn Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Cho đến khi ông Võ Đại Tôn và các chiến hữu của ông, có người đã hy sinh, có người bị bắt, Mai vẫn tiếp tục cùng các anh chị em còn lại tiếp tục chiến đấu. Khi ông Võ Đại Tôn ra tù, ông tiếp tục đi khắp nơi hô hào đồng bào tiếp tục chiến đấu. Mai tiếp tục giúp cho tổ chức kháng chiến này.

          Tôi rất phục tính nhẫn nại và sự cương quyết của Mai, một phụ nữ gan dạ, không hổ thẹn là chiến sĩ nhảy dù.

          Mai làm việc không ngừng nghỉ cho đến khi bị bệnh. Chúng tôi vẫn tiếp tục liên lạc với nhau. Mỗi lần đại nhạc hội Cám ơn anh, người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Mai đến Orange County rất sớm để đón mọi người về từ các quốc gia khác hay các tiểu bang khác. Các chị em quân nhân rất thương Mai, nhất là Đại Úy Nguyệt, có lẽ cùng binh chủng Nhảy Dù, ngoài ra còn có các chị: Trung Tá Huỳnh Mai, chị Võ Thị Vui, huấn luyện viên nhảy dù, chủ báo Lính. Có một đêm, Mai và tôi đến thăm chị Vui ở viện dưỡng lão Palm Mission, thành phố Westminster.

          Vừa vào tới phòng của chị, phòng tối thui, vừa bật đèn, tôi vừa nói:

          – Chị Vui ơi, chị ngủ chưa? Phan Trần Mai và Kiều Mỹ Duyên đến thăm chị đây.

          Đèn sáng, nhìn vào mắt chị Vui, tôi thấy mắt của chị ươn ướt, có lẽ vì cảm động. Thấy chị Vui nhìn vào chai nước lọc ở đầu giường, Mai đỡ đầu chị dậy và rót một ly nước cho chị. Chị Vui nói chai nước của chị Huỳnh Mai mới đem vào buổi chiều.

          Ngày xưa khi còn làm chủ báo Lính, chị Vui có dáng dấp cao lớn của một huấn luyện viên Nhảy Dù. Sau này, chị làm ở phòng xã hội của tổng y viện Cộng Hòa. Nhưng bây giờ, nằm bệnh viện không bao lâu, chị ốm nhom. Nếu người nào lâu không gặp chị sẽ không nhận ra chị.

          Khi nghe tin chị Vui mất, Mai lái xe không ngừng nghỉ đến Orange County ngay. Lễ cầu hồn của chị được tổ chức ở nhà thờ Tam Biên. Trước khi chết 17 ngày, chị Vui vào đạo Công Giáo, thánh lễ dưới sự đồng tế của Đức Ông Nguyễn Đức Tiến, linh mục Đỗ Thanh hà, linh mục Trần Cao Thượng,… Trước đó một ngày, Đức cha Mai Thanh Lương có nói với chúng tôi: nếu chị có cần gì thì cho tôi hay.

          Mai nhìn hình chị Võ Thị Vui nằm ngủ trong quan tài mà mắt ươn ướt. Lần đầu tiên trong cuộc đời của Mai, tôi thấy mắt Mai ướt. Người chiến sĩ Nhảy Dù có khuôn mặt lạnh lùng cũng có lúc bộc lộ tình cảm của mình.

          Thỉnh thoảng, Mai gọi cho tôi. Mai gọi cho tôi thì được, mà tôi gọi cho Mai không được, vì Mai ở trong viện dưỡng lão. Cho đến cách đây vài hôm, tôi nhận được tin nhắn của Nguyễn Kim Nương, bạn thân của Mai, báo tin rằng: Phan Cẩm Phi đã qua đời lúc 3 giờ sáng nay, ngày 11 tháng 1 năm 2021. Tôi sững sờ vì xúc động. Cho đến khi tôi liên lạc với Phan Vĩnh Tuấn, em ruột của Mai, tôi mới biết tên thật của Mai là Phan Cẩm Phi, tên thánh là Anna Maria. Cả nhà Mai đạo Công Giáo, thân phụ của Mai học kiến trúc sư ở Hồng Kông. Thánh lễ an táng sẽ được tổ chức ở nhà thờ Công Giáo.

          Khi nghe tin Mai qua đời, tôi nhờ linh mục Anthony Đào Quang Chính cầu nguyện cho Mai. Linh mục Anthony Đào Quang Chính rất được nhiều người nhờ xin cầu nguyện. Ngô Kim Xuân, em ruột nhà văn Ngô Kim Thu ở San Jose, qua đời ở San Diego, linh mục Anthony Đào cũng cầu nguyện. Nhóm từ thiện xã hội ở Washington D.C, trưởng nhóm là nhà văn Tống Mộng Hoa, cũng đã nhờ linh mục Anthony cầu nguyện cho Đức ông Simon Nguyễn Văn Lập, viện trưởng viện đại học Đà Lạt vào ngày giỗ của Đức ông. Hình như vị linh mục này có duyên với nhà văn, nhà báo, nhà giáo thì ở đâu cũng được thỉnh cầu việc linh thiêng này là cầu nguyện.

          Người đi đã đi, nhưng tôi vẫn nhớ cánh dù bay bay trên áo của Phan Trần Mai. Mỗi lần Mai về Orange County, trước khi Mai trở lại San Jose, bà Việt Định Phương bao giờ cũng làm thức ăn và pha cà phê cho Mai trên đường về để khỏi đói. Khi ông Việt Định Phương mất, bà Việt Định Phương mất, con trai của ông bà là Thế Phương mất, Mai cũng một mình lái xe từ San Jose đến Orange County để phúng điếu và nhìn mặt người thân lần cuối. Mai sống rất có tình, có nghĩa.

          Nhớ khi ký giả Lam Hồng Cúc chết tức tưởi ở rừng núi Pleiku, Mai đã đến đó đưa xác của Cúc về Sài Gòn. Lam Hồng Cúc làm chung tờ báo với Phan Trần Mai.

          Trong lúc chiến tranh sôi động, ký giả chết vì tình yêu hiếm lắm, chắc có 1 chứ không có 2. Âu cũng là số mạng của con người?

          Khi xác của ký giả Lam Hồng Cúc đem về chùa Xá Lợi, Mai buồn lắm. Ông bà Việt Định Phương, chủ báo Trắng Đen cũng buồn lắm. Phan Trần Mai im lặng không nói một câu nào về cái chết tức tưởi của Lam Hồng Cúc. Sau này hai chị em gặp lại, Mai có nói:

          – Vì tình yêu bỏ mạng có đáng không? Có đáng không? Có đáng không?

          Vào thập niên 60-70, nữ ký giả không có bao nhiêu, phải nói là rất ít nhưng mối tình sôi động ít xảy ra, nhất là ký giả chiến trường. Đến chiến trường lấy tin tức rồi đi, từ chiến trường Quảng Trị đến cao nguyên Trung phần, rồi đến miền Tây, Cao Miên, hay Hạ Lào,… Với lại, ra chiến trường người lính chiến lo mạng sống của mình, đâu có thì giờ ngó đến nữ ký giả chiến trường?

          Phan Trần Mai khuôn mặt lạnh, ít nói, lúc nào cũng giữ khoảng cách giữa nam và nữ, nên tình cảm lãng mạn ít xảy ra như trong tiểu thuyết. Lúc còn học trung học, nhất là học ban văn chương, chúng tôi đọc những chuyện tình lãng mạn của Pháp, đẹp tuyệt vời. Chẳng hạn như trong truyện Chiến Tranh và Hòa Bình, một chàng ký giả chiến trường gặp một cô gái tị nạn trong nhà thờ. Hai người yêu nhau, chàng hứa sẽ trở lại sau chiến tranh. Nhưng than ơi, khi chàng trở lại, thì linh mục chánh xứ đưa chàng thăm nàng ở nghĩa trang sau nhà thờ. Nàng không còn tiếng nói nữa vì sự nhớ nhung đưa nàng đến tuyệt mạng. Những mối tình đẹp là những mối tình không có đoạn kết, người ra đi và người ở lại với sự nhớ nhung mòn mỏi,…

          Nói về việc làm xã hội, những đứa trẻ mồ côi sau cuộc chiến (cha mẹ chết để lại các em bé bơ vơ thì nơi nào cũng có),…  thì Phan Trần Mai nói hoài không hết, nhưng nói về tình cảm riêng tư thì tôi không bao giờ nghe Mai nói tới. Sau này, khi tị nạn ở Hoa Kỳ, Mai vẫn đam mê kháng chiến và ao ước về chiến khu chống Cộng Sản. Khi nói về kháng chiến, mắt Mai sáng rực, người chiến sĩ Nhảy Dù Phan Trần Mai lúc nào cũng mang tâm tư của một chiến sĩ của binh chủng thiện chiến Nhảy Dù.

          Phan Trần Mai rất thân với trung úy Nguyễn Kim Nương. Nương tị nạn đến San Jose ở cùng nhà với Mai. Nhưng sau này, Nguyễn Phi Hoàng ở tiểu bang miền Đông đến đón Kim Nương về miền Đông và làm đám cưới. Chúng tôi gồm Mai, Nương, tôi và bà Jackie Bông, phu nhân của giáo sư Nguyễn Văn Bông, viện trưởng viện đại học Quốc gia hành chánh, cùng làm việc trong hội từ thiện quốc tế, hội này từ Anh. Chúng tôi gắn bó với nhau, gặp gỡ thường xuyên khi cùng làm việc trong hội từ thiện quốc tế này. Chúng tôi gọi bà Jackie Bông là cô Bông, vì tôi học Dân luật với giáo sư Nguyễn Văn Bông ở đại học luật khoa. Khi giáo sư Bông ở Pháp về, đời sống sinh viên rất vui, hồn nhiên chỉ biết làm việc và làm việc. Làm việc tối tăm mặt mũi, nhiều khi cả ngày không ăn, rất đỗi bình thường. Cô Bông du học về, đời sống của cô rất thoải mái. Cô làm giám đốc hội Việt Mỹ, cô dạy Anh văn. Cô học ở Anh, thầy Bông học ở Pháp, hai người gặp nhau tại một đám cưới ở Pháp. Sau đó họ kết hôn, thật là vui, nhân gian thì cho là tình cờ, nhưng tôi tin đó là duyên số.

          Giáo sư Nguyễn Văn Bông bị ám sát chết. Sau này định cư ở Mỹ, cô Bông tái hôn với ông Lacy Wright, ngày xưa làm tổng lãnh sự Mỹ ở Cần Thơ. Sau này, ông là quyền đại sứ Hoa Kỳ ở Jamaica, phó Đại Sứ ở Bristle, và nhiều chức vụ quan trọng khác. Đi đến đâu, cô Bông cũng làm việc xã hội. Cô quan tâm nhất đến những đứa trẻ mồ côi. Mai và tôi liên lạc thường xuyên với cô Jackie Bông. Mỗi lần họp hội phụ nữ văn chương thế giới ở San Jose, hay đại nhạc hội Cảm ơn anh, người lính Việt Nam Cộng Hòa ở San Jose, Mai luôn là người đưa đón chúng tôi. Lúc đó thật là vui. Chúng tôi thức rất khuya để bàn đủ thứ chuyện, nhất là chuyện quê hương.

          Thức khuya mà phải dậy sớm. Sáu giờ sáng, tôi gõ cửa từng phòng, gọi từng người thức dậy để tập Hoàn Nhiên Khí Công. Vui quá, nhưng mà bây giờ thì người mất người còn, chị Võ Thị Vui đi, chị Nguyễn Thị Hạnh Nhân đi, giờ đến Phan Trần Mai cũng đi,..

          Phan Trần Mai trong binh chủng Nhảy Dù nhiều năm, nhưng giọng nói lúc nào cũng nhỏ nhẹ, dễ thương. Gia đình Mai có tất cả 9 anh chị em. Hai chị gái của Mai cũng vậy, không bao giờ tôi nghe Hoa, Vân, anh Hai, anh Cả của Mai lớn tiếng.

          Cẩm Phương, đang ở Ohiwa, em ruột của Phan Cẩm Phi vừa kể vừa khóc:

          – Năm 1967, em bị trúng đạn. Chị Phi lến bệnh viện Cộng Hòa xin máu cứu em. Chị Phi chở Tuấn cùng đi, chị cứu sinh mạng của em. Chị Phi hy sinh cho em nhiều lắm chị ơi. Em bị trúng đạn trên chiếc xe lam. Máu chảy ướt hết người em. May mắn, chị Phi xin được máu cứu em, nếu không thì cánh tay của em phải bị cưa rồi. Tạ ơn Chúa, cảm ơn chị Phi đã cứu em. Chị thương em rất tận tình. Em thương chỉ quá chị ơi.

          Phương khóc nức nở, tiếng khóc càng thê thảm hơn khi Phương kể về Phi. Chị Phi thương tất cả mọi người. Người lính đó vô tình chạm vào súng, chẳng may, đạn nổ trúng vào Phương, chứ không phải cố ý.

          Lúc đó, Tuấn khoảng 10 tuổi, ngồi sau lưng chị Phi trên chiếc xe gắn máy, tay ôm bình máu. 10 giờ đêm, từ bệnh viện Cộng Hòa về nhà thương Sài Gòn.

          Tôi nói với Cẩm Phương:

          – Chị đến Florida họp và ở nhà của Cẩm Anh và bác sĩ Thụ. Chị không biết Cẩm Anh ngày xưa là dì phước khi Việt Cộng đóng cửa nhà dòng và đuổi tất cả các nữ tu ra khỏi nhà dòng.

          Sau này, Cẩm Anh thành hôn cùng bác sĩ Thụ. Bây giờ, Cẩm Anh cũng đã về với Chúa.      

          Tiếng khóc của Cẩm Phương rất não nùng làm cho tôi muốn khóc theo.           Trong tất cả anh chị em, có lẽ Phan Vĩnh Tuấn là người bình tỉnh nhất. Tôi không nghe tiếng khóc của Tuấn. Đàn ông thường rất bình tỉnh, nhưng sau đám tang, họ sẽ khóc một mình.

          Tuấn nói với tôi:

          – Chị Phi đi nhẹ nhàng, ba ngày không ăn mà chết. Chị đi vào nhà thương chuẩn bị về nhưng sau đó không ăn được mà chết.

          Tuấn nói về chị của mình với sự xúc động, chị Phi ra đi một cách êm ả.

          Bây giờ, Phan Trần Mai đã ra đi, đi mãi mãi, nhưng hình ảnh một người nữ quân nhân binh chủng Nhảy Dù vẫn còn đây, ở trong lòng của những người thương mến Mai, hỡi nữ quân nhân binh chủng Nhảy Dù.

          Xin quý đồng hương một lời cầu nguyện chân thành cho một ký giả chiến trường suốt đời giúp đỡ người khác. Cầu cho linh hồn Anna Maria Phan Cẩm Phi sớm được hưởng nhan Thánh Chúa. Amen.

Orange County, 19/01/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Ký giả Phan Trần Mai trong bộ quân phục Nhảy Dù

Ký giả Phan Trần Mai trong đại nhạc hội Cám ơn anh người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Người thứ nhất bên phải: Ký giả Phan Trần Mai trong bộ quân phục Nhảy Dù, trong đại nhạc hội Cám ơn anh người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Người thứ nhất bên phải: Ký giả Phan Trần Mai trong bộ quân phục Nhảy Dù, trong đại nhạc hội Cám ơn anh người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Từ phải qua: người thứ hai, ký giả Phan Trần Mai, với cánh dù trên tay

Từ trái qua phải: Bà Jackie Bông và ký giả Phan Trần Mai thăm văn phòng Ana Real Estate của Kiều Mỹ Duyên




Lệ Thu ơi, chào bạn

Khánh Ly

Đà Lạt 1963

Tôi đã ở đây gần một năm. Đà Lạt thời gian này còn hoang sơ, sạch sẽ và êm ả. Mừng vì có việc làm. Được hát và có tiền. Lại nữa gia đình bên nội của con tôi cũng có cơ ngơi ở đây. Tôi có chỗ nương thân. Tôi quên mau những ngày tháng Sài Gòn đèn xanh, đèn đỏ. Tôi quên ngôi nhà có bà nội với tiếng đọc kinh rầm rì mỗi đêm. Quên cái buồng trống trên hở dưới trên dòng kinh nước đen như mực bên chợ Đa Kao. Căn buồng có chiếc giường mà nằm xuống là tôi có thể thấy mông của người nào đó vừa ngồi. Sài Gòn chỉ là thoáng nhớ mơ hồ trong tôi. Không vui, không buồn, không chờ mong. Tôi chẳng có gì, chẳng có ai để nhớ.

Rất tình cờ tôi gặp lại Anh. Anh là người tôi đã gặp ở phòng trà Anh Vũ đường Bùi Viện bây giờ. Anh có vẻ ngạc nhiên, thích thú khi thấy ở đâu ra một con bé quê ệch mà lại biết và hát Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh), Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong)... Anh bảo tôi đừng bao giờ quên nụ cười. “Vì nó sẽ mở ra cho em nhiều cánh cửa”, anh nói. Tôi thích Anh. Nhưng Anh thì không.

Chúng tôi đi bên nhau trên con đường đất nhỏ. Anh ôm vai tôi như ôm một đứa em trai và nói: “Này Mai. Về Sài Gòn đi em nếu em muốn đeo đuổi nghề này”. “Em không về đâu. Anh biết đó. Về Sài Gòn em sống làm sao. Nhà không. Tiền không. Việc làm không. Sài Gòn không có chỗ nào cho em”. “Vậy em có gì ở đây? Về Sài Gòn em sẽ có nhiều cơ hội khá hơn”.

Anh nói thêm: “Hiện nay có một ca sĩ mới nổi, hát bài Tiễn em (Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng) hay lắm. Em có nghe Lệ Thu hát bao giờ chưa?”. “Em không biết. Em ở trên này làm sao mà nghe”.

Tôi chia tay Anh và mau chóng quên những gì Anh vừa nói về Lệ Thu. Tên của cô ca sĩ đó không gợi cho tôi một chút nhớ gì. Mấy năm sau tôi mới biết Lệ Thu chính là cô bé đã khóc sau khi hát một nhạc phẩm của Lam Phương, lúc chúng tôi cùng trong ban Hoa Xuân.

Tôi chắc Lệ Thu không nhớ đến con bé đen đủi đã chủ động đến hỏi han rồi tự giới thiệu: “Đằng ấy là Lệ Thu, còn tớ là Lệ Mai”. Bấy giờ, cô ấy đã là một tên tuổi được chú ý, được đánh giá cao. Chưa thể nào bằng Lệ Thanh, Thanh Thúy, nhưng Lệ Thu chen chân được ở đất Sài Gòn này cũng được coi là hay lắm rồi. Trong khi tôi vẫn chỉ là một bé con ngây ngô, nhút nhát chỉ muốn mãi mãi bám lấy Đà Lạt và coi như thế là nhất.

Khánh Ly (phải) bên Lệ Thu trong bức ảnh cuối cùng bên nhau vào tháng 11/2020. Khánh Ly sinh năm 1945, Lệ Thu sinh năm 1943. Ảnh: Jimmy Nhựt Hà.

Lệ Thu và tôi có một tình bạn không thân không sơ, lúc gần lúc xa trong suốt nửa thế kỷ. Tình bạn chúng tôi không hoàn toàn êm ấm, có thể có những điều không ưng ý nhau. Nhưng chúng tôi đã cùng trải qua vui buồn nửa thế kỷ. 50 năm. Ôi, một đời người thử hỏi được mấy lần 50 năm.

Khi tôi vẫn làng nhàng trong giới sinh viên học sinh quân đội, Lệ Thu đã là “bà hoàng” của vũ trường, là tiếng hát sang cả của một tầng lớp quý tộc khoa bảng, những người nhiều tiền. Họ yêu tiếng hát Lệ Thu bởi chất giọng lành lạnh, kiêu kỳ. Tiếng hát của đỉnh cao vực sâu. Tiếng hát sắc lạnh như một vết chém. Dứt khoát. Không nương tay. Vết chém ngọt ngào.

Nhiều lần hát chung, đứng bên cánh gà nhìn ra, tôi bồn chồn xốn xang nghe Lệ Thu hát, nghe những tràng pháo tay như sấm rền dành cho chị. Chưa đến lượt mình, tôi đã muốn tắt giọng. Đành là hồn ai nấy giữ, nhưng đứng trước Lệ Thu, tôi không còn một miếng tự tin nào.

50 năm tình bạn, có lần tôi cũng nói xấu nàng. Tôi đã kể cho mọi người nghe chuyện chị ta làm biếng nấu cơm, rồi còn kể lể nào là vì là con một nên không biết nấu ăn, nào là do đẻ thiếu tháng nên được gia đình làm cho hết.

Khoảng 20 năm trước, trong một lúc cao hứng tôi hứa sẽ kho cá cho nàng. Lời hứa thì phải ráng giữ. Nhưng rồi vì bận chồng con, tôi quên. Thu không nhắc suốt 20 năm. Cách đây chừng ba tháng, tôi kho một nồi cá xong rồi chia cho bà con. Nhờ Jimmy đưa hộp cá kho cho Thu. Nàng kinh ngạc vì chính nàng cũng không nhớ lời tôi hứa.

Tháng 11/2020, một chương trình ở Mỹ mời cả hai quay chung. Lệ Thu và tôi đều quý cậu dẫn chương trình, lại được dịp hội ngộ, chúng tôi đồng ý ngay. Quay xong, vừa coi, Quang Thành hét tướng: “Hai cô trang điểm xấu quá, không được, phải quay lại”.

Dù có tuổi phải giữ hình ảnh đẹp nhất trước công chúng chứ. Tôi thì dễ, quay lại thì quay, nhưng mọi người ngại nhất là “giọng ca vàng mười” Lệ Thu. Nàng vốn làm việc đâu ra đó, bỏ đi làm lại biết nàng có đồng ý, có thời gian không. Ấy vậy mà nàng đồng ý ngay mới lạ. Ngày quay, Jimmy đến đón tôi, rồi hai cô cháu tới đón chị Lệ Thu tại nhà riêng của chị đường Bolsa. Cả ba thẳng tiến phòng thâu. Đúng lúc chuẩn bị ghi hình, Lệ Thu hét tướng: Áo dài đâu rồi? Áo ở đâu ai biết. Thì ra, nàng để quên ở nhà. Cả đám nhìn nhau cười. Thằng bé Jimmy phóng như bay về nhà Lệ Thu lấy áo.

Ai biết được đó lần cuối chúng tôi gặp nhau. Ai biết được ký ức cuối cùng chúng tôi giữ về nhau chỉ là câu chuyện nhỏ như thế.

Lệ Thu đã bỏ đi. Lần trước quên áo. Lần này quên lời hứa với tôi, với Quang Thành. Lời hứa một tour xuyên Việt cho chương trình Vòng tay Nhân ái vào mùa hè tới ở Việt Nam. Nhiều người cho rằng hai cô ca sĩ này có ưa nhau bao giờ. Mọi người không biết rằng: Đối thủ của nhau lại chính là tri kỷ của nhau đấy chứ.

Thu ơi. Tôi nhớ Thu lắm. Mọi người nhớ Thu. Thương tiếc Thu. Cả một đời, Thu hát cho người. Giờ Thu mang theo tiếng hát ấy đi, mang theo nụ cười ấy. Thu đi nhé. Chào bạn.




Nhân lần Lam Phương ra đi, nghĩ về những kẻ viết nhạc bằng máu lệ người Nam

Dẫn nhập: Trong hơn năm mươi năm (từ 1968) xử dụng chữ nghĩa, tôi hầu như không đề cập đến người và việc của giới ca nhạc, cho dẫu đã tham dự sinh hoạt ca hát trong phong trào Hướng Đạo mà những ca khúc yêu nước, nhạc thanh thiếu niên của thập niên 1940, 1950 là chất men nuôi dưỡng, phát triển, gìn giữ nên tâm chất của bản thân cũng như thế hệ chúng tôi từ năm tháng xa xưa kia cho đến hôm nay. Chỉ một lần duy nhất năm 1972, do thân quen với Trần Thiện Thanh qua những người bạn lính trong đơn vị nhảy dù (điễn hình với Trần D. Phước, Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, danh hiệu truyền tin “Phước Thiện -Tên hai người ghé lại”, tử trận cuối năm 1969 tại Tây Ninh, và lần người niên trưởng Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận tại Cao Điểm Charlie, Kontum (12/4/1972), nên mới cộng tác với Nhật Trường thực hiện CD ca nhạc: “Người Ở Lại Charlie” do Trung Tâm Tiếng Hát Đôi Mươi của TTT sản xuất. Năm 2005, tại hải ngoại lập lại thêm một lần cũng với “Người Ở Lại Charlie” trong DVD ASIA 50 kỷ niệm Nhật Trường với lời hát và âm nhạc vĩnh cửu Anh Không Chết Đâu Anh. Sự thiếu vắng “Nhạc Tính” nơi những nội dung sáng tác dài lâu từ 1968 của tôi đã được một người bạn, anh Phg “râu”, (chuyên trình diễn ca nhạc tài tử từ Đà Lạt trước 1975 nay ở San José, California) tinh tế nhận xét và nói lên lời bình phẫm. Và tôi cùng đánh chấp nhập sự thiếu sót nầy với cách giải thích rất nhiều thành thật (cũng có phần hài hước): Đi lính năm 17 tuổi, chỉ có hai cái bằng Nhày Dù và Biệt Động Quân, nên cao lắm là biết violon làn đàn để trên vai (như Hg Th Thao) và guitar thì ôm trong tay (như TTT)! Sự thiếu sót trầm trọng kia sau 1975 khi đi tù mới vỡ ra.. Đêm Giao Thừa 1975 qua 1976 không hẹn mà tất cả trại tù nơi Miền Nam đồng cất tiếng Việt Nam! Việt Nam tên gọi vào đời! Và “Ta như nước dâng dâng hoài không bao giờ tàn…” Cuối cùng dần chuyển qua một cách rất có ý thức.. Cờ bay! Cờ bay… Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu Tiếng hát dũng mãnh phơi phới bay cao, vượt qua chấn song sắt trại giam, bất chấp sự đe dọa đòi bắn bỏ của đám vệ binh cộng sản Miền Bắc. Và sau 1976 nơi những trại tù Miền Bắc, hàng ngàn con người đói khổ, tuyệt vọng đã đồng bặt im lặng, nghẹn thở khi nghe âm vọng từ cây đàn tự chế dạo lời hát trầm buồn thăm thăm.. Mẹ ơi! Xuân nầy con không về.. Ôi biết ra thì đã quá muộn! Hóa ra đã quá vô tâm sau bao nhiêu năm trước 1975 người Miền Nam/Người Lình Miền Nam đã được tặng hiến hàng hàng chuỗi minh châu, ngọc kết, được an ủi, nâng đở bởi vô vàn tiếng hát lời ca từ Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Lê Minh Bằng, Trầm Tử Thiêng, Trịnh Lâm Ngân, Nhật Trường, Duy Khánh, Hoàng Anh, Ngọc Minh.. Và chung cho tất cả là Lam Phương như một ngọn lửa ấm áp mà người nông dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đốt lên trên cánh đồng đất ẩm mùi phù sa trãi dài mênh mông tận chân trời sau mùa mùa lúa mới gặt xong, chất lên những rơm khổng lồ nằm im lặng dưới trăng.. Hò lơ..hò lơ.. Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát. Biết ra thì đã quá muộn màng. Xin cho lời Ân Tạ như một cách xin lổi, hàm ân.                          

Một. Ngày 30 Tháng 4 năm 1975 là một biến cố vô cùng lớn lao đối với tất cả các giai tầng xã hội Nam Việt Nam. Tuy nhiên trong số đông người Việt miền Nam hiện có mặt khắp nơi trên thế giới hôm nay có thể nói văn nghệ sĩ miền Nam là tập thể phải hứng chịu cơn chuyển đổi mạnh mẽ sâu xa nhất. Bởi khả năng nghệ thuật, tri thức nghề nghiệp của họ khó phát triển được nơi xứ lạ mà trở ngại cụ thể trước tiên là không thể nào vượt qua hàng rào ngôn ngữ dù cố gắng cải tiến tới đâu. Điễn hình như bộ môn cải luơng không cách gì chuyển sang tiếng ngoại quốc. Tuy nhiên, tập thể nghệ sĩ người Việt ra đi từ miền Nam vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển với những sáng tác của họ trong rất nhiều lãnh vực sau cuộc đổi đời khốc liệt 1975. Cụ thể là Nhạc Sĩ Lam Phương với những khúc hát đã một thời vang dội khắp miền Nam mà dẫu sau 45 năm (từ 1975), tiếng nhạc của người nghệ sĩ thuần hậu chân chính nầy vẫn tiếp tục tồn tại như thanh âm bất diệt của đất, nước, con người Miền Việt dù cách biệt bao xa, dù đã bao lâu.

Cần trở lại từ đầu, ngày còn rất trẻ khi chưa đến 20 tuổi, Lam Phương đã dựng nên Khúc Ca Ngày Mùa (KCNM).. Đây là một bức tranh toàn bích về đời sống thanh bình, tươi sáng, hạnh phúc của nông thôn miền Nam sau 1954.. Bài hát đã vang dội khắp xóm làng, thành phố, nơi quán hàng, rạp chớp bóng, nhà ga, bến xe, bến bắc.. Nghĩa là nơi đâu có người hát và người nghe nhạc.. Thật kỳ lạ, vì người nhạc sĩ đã tạo dựng được cảnh tượng thôn dã sống động ấy khi đang sống tại Đa-Kao, Sàigòn trong một khu lao động lầy lội! Chúng ta không nói lời xưng tụng quá đáng, vì KCNM đã trở thành một bài hát của người Miền Nam và là cảnh sắc Miền Nam chứ không phải của một nơi nào khác. Và điều cảm động hơn hẳn là LP không chỉ là người tài hoa chuyên miêu tả cảnh sắc đồng quê như qua KCNM, mà ông còn là một nghệ sĩ với tâm chất sâu lắng thắm thiết qua bản Kiếp Nghèo và một người đã nghệ thuật hóa sự kiện chính trị lần chia cắt đất nước năm 1954 với nhạc phẩm Chuyến Đò Vĩ Tuyến dẫu không hề có sinh hoạt chính trị, thời sự – Đây là hai ca khúc có cấu trúc nhạc kỹ thuật cao với lời ca giàu cảm tính nghệ thuật mà ông đã sáng tạo nên vào lúc tuổi còn rất trẻ trong khu xóm nghèo ở Sài Gòn với thực tế hoàn toàn thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, tâm lý..

Hai. Biến cố 30 Tháng 4, 1975 đối với một số người có thể chỉ gây tác động bình thường tương đối, nhưng chắc đã quá lớn lao tàn nhẫn đối với một nghệ sĩ như Lam Phương, người nghệ sĩ có tâm chất vô cùng nhạy cảm hiện thực qua hơn 200 tác phẩm (mà đúng ra là 217 theo như tài liệu thống kê) đề cập đến tất cả tình huống, cảm xúc, tâm trạng của con người trong cuộc nhân sinh. Con người bình thường, nhỏ bé như tất cả chúng ta giữa cuộc sống khốc liệt của chiến tranh khởi động từ người, đảng cộng sản Hà Nội dài theo hậu bán Thế Kỷ 20 qua những biến cố 1954, 1968, 1972, 1975 và cao điểm là cảnh nước mất nhà tan lần sụp vỡ Miền Nam, 1975. Trong một bài báo phổ biến trước đây, nhà báo chuyên về sinh hoạt sân khấu âm nhạc Trường Kỳ đã một lần đề cập đến tâm lý bi quan, u uất của LP từ thuở hàn vi khó nhọc đến lúc thành nhân, thành công trước 1975, càng hiện thực hơn sau 1975 nơi hải ngoại.. Phải chăng dẫu đang lúc thành công rực rỡ nhất kéo dài trong hai thập niên sau 1954 đến 1975 ấy, LP đã linh cảm nỗi bi thảm không phải chỉ riêng cho cá nhân ông mà chung cho cả miền Nam, với hết Việt Nam. Điều nầy phản ảnh cụ thể qua những ca khúc có chủ đề “CHIỀU” chiếm một số lượng lớn rất rõ nét.. Cụ thể như bài nhạc đầu đời, Chiều Thu Ấy, và những bài sau 1975 như Chiều Hoang Đảo, cho dẫu Chiều Hành Quân trước 1975là bản nhạc nói về cuộc tình của Người Lính Miền Nam.. Tất cả những buổi chiều trong cấu trúc nhạc của Lam Phương đều mang hình tượng của những buổi chiều chia ly, tan vỡ, nhạt nhòa.. Điễn hình cụ thể nhất là Chiều Hoang Vắng vớinhững hình ảnh xa xót như:Có những chiều mưa buồn giăng giăng khắp lối. Có những chiều giá lạnh tím cả hoàng hôn. Tôi đi qua thôn xa heo hút lưng đèo. Rừng cây hoang vắng tiêu điều.. Với cảm tính nghệ sĩ cao độ, ông đã thấy trước những buổi chiều tàn tạ của quê hương, chiều hấp hối kiệt cùng của đất nước từ cuộc đổi đời khốc hại sau 30 Tháng 4, 1975! Chiều Tây Đô của Cần Thơ sau 1975 là điễn hình rõ nét với tính bi kịch cao độ về lần tan vỡ quê hương Miền Nam qua câu hỏi xa xót cay đắng: Bao năm giải phóng như thế nầy phải không anh?

Với hơn 200 nhạc phẩm, LP đã đề cập hết tất cả những gì con người đã sống qua hạnh phúc lẫn khổ đau trong cuộc đời vô vàn nầy.. Mà theo như cảm quan thông thường, giới thưởng ngoạn xếp hạng những nhạc sĩ vào một thứ hạng chung nhất dễ phân loại như Vũ Thành An, Từ Công Phụng chuyên về tình ca; Trầm Tử Thiêng nghiêng về các vấn đề xã hội.. Nhưng quần chúng yêu nhạc LP hầu như đều băn khăn trước hằng hà tác phẩm của ông mà khó định hình, xếp hạng vào một thể loại nhạc nhất định. Điều nầy thể hiện qua sự kiện: Là một người miền Nam thuần chất nên ông vẽ lại đủ cảnh tượng thôn quê miền Nam trong KCNM là một điều dễ hiểu, hợp lý.. Nhưng tại sao, từ đâu ông lại viết nên Tình Cố Đô với những ca từ vô vàn thắm thiết: Buồn nhìn về xa xôi, Hà Nội ơi đã xa thật rồi. Mịt mùng ngàn trùng khơi, thành phố cũ lắng sau núi đồi. Đâu Thăng Long năm xưa, cùng tháp cũ rêu phai mờ. Còn tìm đâu nên thơ, cành liễu úa rũ bên ven hồ..Cũng bởiNhạc Sĩ Anh Bằng chỉ có thể viết nên lời xúc động: ”Tôi xa Hà Nội.. do đã hứng chịu cảnh chia ly của năm 1954, còn Lam Phương hoàn toàn không liên hệ với nơi chốn Hà Nội kia, cũng không mảy may dính dấp đền cuộc chia ly không hề có. Thế nên, quả là một điều bí ẩn kỳ diệu mà chỉ từ tấm lòng thuần hậu, thắm thiết của một (Thật) Nghệ Sĩ mới cấu tạo nên những ca từ chân thực và cấu trúc nhạc tuyệt vời như thế kia.  

Cũng thế, chỉ từ một tấm lòng chân chất mến thương mới cảm nhận đủ Nỗi Đau qua lần chia ly Người Mẹ kính yêu, nên LP mới viết nên lời rất đỗi chân thành trong Khóc Mẹ – Người Mẹ Việt Nam với nỗi hy sinh thầm lặng vô bờ mà các nhạc sĩ Thu Hồ, Y Vân mới viết nên lời xưng tụng ân tạ. Cũng thế, chỉ từ Người Con-Lam Phương mới viết nên những giòng Khóc Mẹ cảm xúc.. Cát bụi này mẹ vừa yên thân. Sau bao năm nước mắt chảy xuôi. Con ra đi trong giờ mẹ hấp hối. Để muôn đời (con) thành kẻ vong ân.

Không được có mặt với mẹ trong lần ra đi lần cuối, biến động 1975 còn giáng xuống đời ông sự mất mát tình cảm ngang trái – Không phải là tình cảnh riêng của gia đình Nhạc Sĩ Lam Phương mà cũng là đỗ vỡ chung của rất nhiều gia đình khác do từ lần đổi thay tàn nhẫn 1975. Tuy  nhiên cuối cùng cuộc đời vẫn không phụ kẻ có lòng, sau lần chịu đựng khổ nạn chung với toàn dân tộc, gánh riêng cảnh ngang trái trong cuộc sống tình cảm cá nhân, gặp phải tai nạn bệnh tật.. Nhạc Sĩ Lam Phương vẫn là, luôn là đối tượng thương yêu quý trọng của toàn gia đình gồm những người em với danh tính Anh Hai vô cùng kính mến. Ông vĩnh hằng là Nhạc Sĩ Lam Phương của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, những người lớn lên, ra đi từ Miền Nam.. Những người đã cùng ông chia xẽ Nắng Đẹp Miền Nam, đã sống trong những con hẻm đường về đêm nay vắng tanh nơi Đa Kao, Phú Nhuận.. Những người đã cùng ông lắng nghe đêm Sàigòn mưa rơi tí tách..

Thưa cùng Nhạc Sĩ Lam Phương, xin nhận lời ân tạ chân thành của chúng tôi, thành phần người Miền Nam, Người Lính Cộng Hòa đã cùng ông gánh chịu cơn Thật Chết Với Quê Hương khi bầy đàn cướp nước “Tiến về Sàigòn ta quyết diệt giặc thù.. “, những kẻ gọi là “giải phóng” đến từ Miền Bắc, từ đầm lầy bưng biền Miền Nam. Vĩnh biệt nha Anh Hai! 

Kết Từ.  Bài viết như trên thoạt tiên nghĩ rằng tạm đầy đủ để nói về Lam Phương, nhưng nhân có sự kiện sau đây liên hệ đến với một thành phần viết nhạc nơi Miền Nam khác, chúng tôi xin kể ra để làm sáng tỏ hơn tư cách nhân hậu cao thượng của Lam Phương. Tháng 11 năm 2019 trên diễn đàn văn học của Đài VOA có phổ biến nhận định của ký giả Mặc Lâm như sau.. “Có những câu nói bị xua đuổi, những câu nói bị phỉ nhổ, và cả những câu nói bị cho là thiểu năng nhưng khi ông nhạc sĩ Trần Long Ẩn nói nền Văn Học Nghệ Thuật của Miền Nam đáng bị “đóng đinh” thì nó trở thành câu nói bị khinh bỉ nhiều nhất từ xưa tới nay! Chuyện gì đã xẩy ra đối với một người gọi là “nhạc sĩ Trần Long Ẩn”, mà quả tình chúng tôi, người lính Miền Nam lần đầu tiên mới nghe đến tính danh, 2019. Ký giả Mặc Lâm giải thích tiếp: Sự khinh bỉ (đối với Ẩn-Pnn) đến từ người dân cả hai miền Nam-Bắc, từ cán bộ (Cộng sản-Pnn) đến nhân viên (Trong nước-Pnn) quèn trong công sở, từ thị dân tới người nông phu căng mình dưới ruộng bởi nó dính liền tới ý thức cảm nhận cái đẹp của con người. Đọc thêm những bài viết khác, chúng tôi dần hiểu ra câu câu chuyện.. Nguyên Trần Long Ẩn là một người gốc ở Bình Định năm 1966 vào Sảigòn theo học Đại Học Văn Khoa. Những Ẩn không học văn khoa mà lại vào khu theo cộng sản; năm 1970 Ẩn được đưa ra Hà Nội học nhạc lý theo tinh thần và nội dung xã hội chủ nghĩa. Sau 1975, Ẩn về Nam viết những ca khúc có tên Tình Đất Đỏ Miền Đông, Đi Qua Vùng Cỏ Non, Một Đời Người Một Rừng Cây..để ca ngợi lần toàn thắng cuộc chiến cướp nước của lực lượng cộng sản Miền Bắc có tiếp tay đắc lực/tối thậm vô nghĩa của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tóm lại, thành tích của Ẩn là hành vi trả ơn đối với Đảng Cộng Sản của một văn công (hạng thừa hành) mà ngay chính những kẻ có lương tri, lương năng tối thiểu cũng đồng im bặt.. Cho dù kẻ ấy là loại văn công được trả giá cao của chế độ Hà Nội như Văn Cao, Phạm Nhuận.. hoặc trong lãnh vực văn học như Chế Lan Viên, Tô Hoài.. Nhưng tại sao Ẩn “..tỏ ra cay cú đến gần như mất trí khi nói đến nền Văn Học Nghệ Thuật của vùng đất (của Miền Nam/VNCH-Pnn) mà trước đây ông ta được nuôi lớn lên, được học hành tới nơi tới chốn ngay giữa lòng Sài Gòn  (Mặc Lâm ibid). Bài viếtcủa một tác giảtrong nước nói rõ “sự cay cú như mất trí của Ẩn” có nguyên nhân là do:  Trong Hội nghị giao ban Quý III/2019 của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật TP.HCM, ngày 10/11 ông Trần Long Ẩn cho biết: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó (của VNCH-Pnn) xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Tại hội nghị của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình nầy, Ẩn kêu gào.. “..phong trào cách mạng ở miền Nam (trước 1975-Pnn) trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì (LẠI-Pnn) không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng (Âm nhạc Miền Nam/VNCH-PNN) nữa”. A hóa ra là vậy, tức là Người Miền Nam (cũng bao gồm người Miền Bắc) không hát, không nghe thứ gọi là “nhạc giải phóng, nhạc cách mạng” trong đó có những bài hát “nổi  tiếng” của Ẩn, của một văn công thứ cấp gọi là “nhạc sĩ Năm Ẩn”.

Thế nên, coi như Năm Ẩn không hiểu, không nhận ra sự vất bỏ của quần chúng đối với “tác phẩm: âm nhạc của đương sự, chúng tôi từ tinh thần khách quan của người ngoài giới nghệ thuật sân khấu âm nhạc, cũng từ tinh thần đơn giản của Người Lính Miền Nam có nhận định sau đây căn cứ từ một bài  hát “nổi tiếng/nổi tiếng nhất” của Ẩn: Một Đời Người Một Rừng Cây.. Khi nghĩ về một đời người. Tôi thường nhớ về rừng cây… Và rừng sẽ lên xanh rừng giữ đất quê hương! Xin hát về bạn bè tôi. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời..Trích dẫn về nhạc và lời của “nhạc sĩ Năm Ân” đến đây coi như đủ để hỏi về một điều cụ thể: Nầy Năm Ẩn  (tên phổ thông của Ẩn ở Thành Ùy TP?HCM-Pnn) anh hãy chỉ cho chúng tôi “MỘT NGƯỜI/MỘT NGƯỜI THÔI HẲN ĐỦ/MỘT NGƯỜI CANH GIỮ ĐẤT TRỜI” nơi bộ chính trị đảng cộng sản ở Hà Nội?! Bởi vì nơi ấy từ rất lâu chỉ vang vang những lời chỉ đạo khẳng định: Để Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc giữ vẫn tốt hơn để bọn Mỹ-Ngụy – Lời Trường Chinh, nhân lần Hải quân Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, 19/1/1974. Nơi ấy cũng khắc ghi công ơn to lớn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc.”. Nếu nhắc đến những người và việc kể trên trên e có phần xưa cũ, xa xôi vượt khỏi hiểu biết, khả năng, trách nhiệm của nhạc sĩ Năm Ẩn, nên chúng tôi xin kể ra những vụ việc của thời đại hôm nay, tại thời điểm những bài hát của Năm Ẩn được rầm rộ phổ biến (nhưng không người hát/không ai nghe).. đấy là lời: “Khai thác Bâu-xít là chủ trương lớn của Đảng”, của kẻ được gọi là thủ tướng Dũng khi đồng thuận cho nhà thầu Trung Cộng phá hủy toàn bộ thảm thực vật vùng Đồng Nai Thượng mà thiên nhên ngàn năm đã xây dựng trên quê hương Cao Nguyên Trung Phần. Đấy là xác nhận: “Formosa là điễn hình tiên tiến” của Tổng Bí Thư Trọng trước thảm họa rộng khắp lâu dài vùng biển Hà Tỉnh do nhà thầu formosa gây nên! Đấy là nhận định từ một chị ả người Bến Tre được đưa ra Hà Nội giữ chức vị “chủ tịch quốc hội”: “Trung ương (BCT-Pnn) đã quyết định, quốc hội chỉ biểu quyết thành luật!”đối với lần thuận nhượng ký kết cho tư bản nước ngoài (chủ yếu là tư bản TC) khai thác ba Đặc Khu Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc trong vòng 99 năm! Chúng tôi có thể kể ra một danh sách bất tận những “bạn bè” của Năm Ẩn.. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời?! Từ sáu tỉnh biên giới phía Bắc nay dùng bạc giấy in từ Bắc Kinh và nghe đài phát thanh tiếng Hoa đến cực Nam đất Mũi Cà Mâu với những bí thư tỉnh ủy, giám đốc công an tỉnh được bổ nhiệm bởi Bộ Chính Trị Hà Nội có quyền ký giấy cho người Hoa thuê đất rừng 50, 90 năm, và bảo vệ cho tư bản TC chiếm đất lập tô giới người Hoa trên đất Việt ở Đông Đô Đại Phố Bình Dương, ngay tại Sài Gòn, ở Thủ Thiêm nơi Năm Ẩn đang ngồi lập lý luận, phê bình văn hóa nghệ thuật “độc hại” của VNCH qua nhạc Boléro!       

Nầy nhạc sĩ Năm Ẩn, anh không thể, không có quyền bắt người Việt trong nước hát lời ca ngợi.  Không thể hát lời ca ngợi kẻ bán nước. Không thể hát lời xưng tụng đứa sát nhân! Nhũng bài hát viết từ máu lệ Miền Nam – Cũng bao gồm “Huyền Thoại Mẹ” máu me, giả trá của Trịnh Công Sơn và rất nhiều, rất nhiều nhân sự thuộc tập đoàn “cộng sự sát nhân” với đảng cộng sản Hà Nội. Đối với đám nhân sự độc hại hạ tiện nầy, Anh Hai Lam Phương trung hậu và cao quý biết bao nhiêu.

Phan Nhật Nam

Sinh Nhật 77 tuổi

28/12/1942-2020