Ý NGHĨA CÁC NGÀY 19 THÁNG 8 VÀ 2 THÁNG 9 ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY

Hàng năm, cứ đến tháng 8 dương lịch là chế độ CS Việt Nam tưng bừng tổ chức ăn mừng ngày 19 tháng 8, ngày họ cướp được chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, và ngày 2 tháng 9, ngày ông Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại công trường Ba Đình, Hà Nội. Ít hàng phía sau nhằm cung cấp chút hiểu biết cần thiết cho một số bạn ở thế hệ trẻ, những người chưa có hoàn cảnh biết nhiều về hai sự kiện lịch sử ấy.

Những người Cộng sản Việt Nam cũng luôn luôn khoa trương rằng họ có công lãnh đạo dân tộc trong hai cuộc chiến tranh lớn: 1) Đánh Pháp để giành độc lập, và 2) Đánh Mỹ để thống nhất đất nước. Vì thế họ có quyền – và được độc quyền — lãnh đạo đất nước. Họ đồng hóa thể chế của họ với Tổ quốc Việt Nam. Ở trong nước, ai lên tiếng phê phán chế độ sẽ bị ghép  vào tội phản quốc.

Năm nay 2025, đúng 80 năm sau khi những người CS Việt Nam giành được chính quyền năm 1945 và đưa dân tộc vào hai cuộc chiến tranh thảm khốc, tuy chấm dứt năm 1975 nhưng hậu quả và tình trạng phân hóa tới nay vẫn còn trầm trọng, chúng ta cũng nên bình tâm xét lại thực chất của cuộc “cách mạng” cùng nguyên do của hai cuộc chiến tranh ấy, rồi nhận định một cách khách quan xem công nghiệp của đảng CS Việt Nam lớn đến mức nào.

  1. “Đánh Pháp để giành độc lập”

Sau khi Thế chiến thứ 2 (World War II) chấm dứt năm 1945, các cường quốc Âu Mỹ ý thức được rằng trong hoàn cảnh mới, việc tiếp tục giữ các nước châu Á làm thuộc địa là điều không chấp nhận được nữa. Chế độ thuộc địa đã đến lúc phải cáo chung. Vì thế:

–Hoa Kỳ trả độc lập cho Philippines. Philippines tuyên bố độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1945.

–Anh trả độc lập cho Ấn Độ. Ấn Độ độc lập từ năm 1947.

–Anh trả độc lập cho Miến Điện (tên cũ Burma, tên hiện nay Myanmar). Miến Điện độc lập từ tháng 1-1948.

–Anh trả độc lập cho Mã Lai (tên cũ Malaya, tên hiện nay Malaysia). Vốn do nhiều tiểu bang hợp lại, khung cảnh chính trị có phần phức tạp, Mã Lai được tự trị năm 1948, và hoàn toàn độc lập năm 1957.

–Hòa Lan trả độc lập cho Nam Dương. Lúc đầu, giới thực dân Hòa Lan tham lam không chịu trả, dân Nam Dương phải tranh đấu bằng võ lực trong 4 năm. Sau nhờ áp lực của thế giới, nhất là từ Hoa Kỳ, Nam Dương được hoàn toàn độc lập từ tháng 12-1949.

–Dân tộc duy nhất ở châu Á phải tranh đấu gian khổ đến năm 1954 và sau đó, đất nước bị chia cắt, là Việt Nam. Tuy có cảm tình với nền độc lập của Việt Nam, Hoa Kỳ đã không làm áp lực với chính phủ Pháp như đã làm với chính phủ Hòa Lan tại Nam Dương, không ép họ phải trả độc lập cho chính phủ Hồ Chí Minh. Lý do: Đó là một chính thể Cộng sản, và Hồ Chí Minh với nhiều bí danh khác nhau, đã được phát hiện là một chuyên viên của Cộng sản quốc tế, từng được huấn luyện ở Nga. Theo Gs. Tường Vũ, trong cuốn Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge University Press, 2017), sau khi tìm đọc thật kỹ trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập của chế độ CS Hà Nội, vị giáo sư Chính trị học và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á châu tại University of Oregon đã phát hiện rằng ngay từ năm 1946, trước khi Mao Trạch Đông thành công ở Trung Hoa, trong các văn kiện Đảng, chính thể Hồ Chí Minh luôn luôn ca ngợi “các lực lượng của xã hội chủ nghĩa” do Liên Xô dẫn đầu và kịch liệt đả kích “chủ nghĩa đế quốc” (chỉ Hoa Kỳ) ¹. Tuy cộng tác với một số sĩ quan OSS của Hoa Kỳ năm 1945, tuy dùng một tấm hình mang chữ ký của tướng Claire L. Chennault để khoe với nhiều người là “được Mỹ giúp,” tuy dẫn lời bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ cho bản Tuyên ngôn do mình soạn, ông Hồ Chí Minh không phủ nhận sự kiện là một người Cộng sản. Trong những năm 1945, 1946, bên cạnh việc viết thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ông cũng viết thư kêu gọi sự giúp đỡ của lãnh tụ Liên Xô Stalin, và cùng không được trả lời. Ngay từ những năm 1941, 1942, báo Việt Nam Độc Lập do Hồ Chí Minh chủ trương, đã đăng những bài ca tụng nước Nga như một thiên đường, và viết, “Chỉ khi nào nước Nga toàn thắng, thế giới mới được thấy những ngày vinh quang” ². Cuối năm 1945, tuy tuyên bố “đảng Cộng sản tự ý giải tán” để che mắt dư luận, báo Sự Thật của “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác” do Trường Chinh điều hành, trong số ra ngày 5 tháng 12, 1945, vẫn xác quyết, “Con đường duy nhất có thể đưa nhân loại đến tự do, hòa bình, và hạnh phúc, là ‘thực hiện triệt để’ chủ nghĩa Mác” (các trang 104-105) ³.

Mấy chục năm sau nhìn lại, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, cuộc “Cách mạng tháng Tám” của Mặt trận Việt Minh năm 1945, thực ra chỉ là một hành động cướp chính quyền, và những người CS cũng dùng động từ “cướp.” Đáng buồn hơn, việc cướp ấy không cần thiết vì ở Việt Nam, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, ở Việt Nam có một khoảng trống quyền lực:

–Người Pháp: Đã bị người Nhật gạt ra bên lề sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, các nhân vật trọng yếu bị Nhật bắt giam.

–Người Nhật: Đã đầu hàng sau khi thua trận, nhất là sau khi nước Nhật bị hai quả bom nguyên tử.  Họ đang chuẩn bị giao nộp võ khí để sẽ được đưa về nước.

–Chính phủ Trần Trọng Kim: Gồm một số nhà giáo, trí thức … không có tham vọng chính trị, được kêu gọi đứng ra quản trị đất nước sau khi chính quyền Pháp bị Nhật đánh đổ, chỉ quan tâm đến các vấn đề xã hội, cứu tế (đang có nạn đói trầm trọng), y tế, giáo dục …. Các vị sẵn sàng từ chức khi có người thay, và sau đó đã từ chức.

–Vua Bảo Đại: sẵn sàng thoái vị, tuyên bố “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

Trong cuốn Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), Gs. Phạm Cao Dương đưa ra nhiều tài liệu cho thấy trong phiên họp giữa Hoàng đế Bảo Đại và Nội các Trần Trọng Kim ở  Huế ngày  17 tháng 8 năm 1945, bên cạnh ý kiến giao hẳn quyền cho Việt Minh, có ý kiến của Luật sư Vũ Văn Hiền, Bộ trưởng Tài chánh, là: Việt Nam cần có một chính phủ hợp pháp để bảo đảm được trật tự, và để khi Đồng Minh tới, có sẵn một chính phủ đúng danh nghĩa pháp lý, có tư thế và thẩm quyền đối thoại với họ, không để họ mượn cớ là Việt Nam đang hỗn loạn, vô chính phủ mà giúp thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Để đạt mục đích ấy, nên trao cho lực lượng Việt Minh quyền lập chính phủ, nhưng giữ lại thể chế quân chủ hiện có (đổi thành quân chủ lập hiến) ⁴. Ý kiến ấy được các vị Bộ trưởng am hiểu về luật, các ông Trịnh Đình Thảo, Trần Văn Chương và Phan Anh tán thành. Một đạo Dụ được soạn thảo ngay sau đó: Dụ số 105 ngày 17 tháng 8 năm 1945. Vua Bảo Đại sẵn sàng giao chính quyền cho Việt Minh là một tổ chức đấu tranh, và mời các lãnh tụ Việt Minh tới Huế để thành lập Nội các ⁵ .

Ngay từ đầu tháng 8 năm 1945, trong cương vị người cầm đầu Chính phủ, Thủ tướng Trần Trọng Kim cũng đã có ý định mời những người Việt Minh cộng tác. Nhân từ Huế ra Hà Nội, cụ nhờ Khâm sai Phan Kế Toại bắn tiếng mời Việt Minh cử đại diện đến nói chuyện. Tuy người tới gặp cụ còn rất trẻ, nhà giáo lão thành, tác giả Việt Nam Sử Lược đã nói như sau:

“Chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau nhưng cũng một mục đích như nhau. Các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài, để cứu nước được không?”  Trong những hàng phía sau, cụ Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đối thoại giữa cụ và người đại diện của Việt Minh:

Người ấy nói:

“Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.”

–“Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi, nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.”

–“Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.”

–“Theo như ý các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.”

–“Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia” (nhấn mạnh của người chép lại).

Rồi người ấy ngồi đọc một bài hình như đã thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Thấy thái độ người ấy như thế, tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được. Tôi nói:

–“Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, sao các ông không vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?”

–“Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Ðồng Minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu để ai nhường.”

–“Các ông có chắc là các nước Ðồng Minh tin ở sức mạnh của các ông không?”

–“Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.”

–“Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử ” ⁶.

Theo Gs. Phạm Cao Dương, người thay mặt Việt Minh đến gặp cụ Trần Trọng Kim hôm ấy là Lê Trọng Nghĩa. Các tài liệu về ông Nghĩa cho thấy ông sinh năm 1922 (năm 1945 mới 23 tuổi). Sau khi Việt Minh thành công ông được bầu vào Quốc Hội, rồi làm Cục trưởng cục Quân báo. Ông được thăng đến Đại tá Chánh Văn phòng, làm Trợ tá cho tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 1968 ông bị bắt vì bị coi là có liên quan đến nhóm “Xét lại chống Đảng,” bị giam và phải “lao động cải tạo” từ 1968 đến 1976. Ông bị khai trừ khỏi đảng CS, mất hết chức vụ và quyền lợi. Sau 47 năm giữ im lặng, trước khi qua đời năm 2015 ông để lại di chúc yêu cầu được minh oan. Theo một bạn thân của ông là Trần Đĩnh (Đèn Cù, Quyển 2, trang 535-549), ông Nghĩa rất đau lòng vì nỗi khổ của các con: trong lý lịch, họ bị coi là con một người phản Đảng. “Nghĩa sau đó vào Cầu Giấy kể lại với tôi. Rồi ngơ ngác, ‘Thế là mất hết à’?” ⁷

Lệ Trọng Nghĩa còn được mời tới gặp Khâm sai Phan Kế Toại  sáng ngày 16 tháng 8 năm 1945. Lần này ông Toại chính thức mời Mặt trận Việt Minh cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim, và “vui lòng chờ Mặt trận cử người tham gia chính phủ.” Người cùng đi với ông Nghĩa, ông Nguyễn Khang (Chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội) dứt khoát trả lời, “Tốt nhất ông Toại nên từ chức, trao chính quyền lại cho Việt Minh” ⁸.

Theo nhà biên khảo David G. Marr trong cuốn Vietnam 1945 (Berkeley, CA : University of California Press, 1995), dựa theo các tài liệu từ phía Hà Nội, thì trước khi gặp ông Lê Trọng Nghĩa ngày 16 tháng 8, Khâm sai Phan Kế Toại đã tiếp một phái đoàn của Việt Minh do ông Nguyễn Khang cầm đầu ngày 13 tháng 8. Qua ông Khang, Khâm sai Toại mời Việt Minh giữ một số chức vụ trong chính quyền, nhưng ông Khang nhất quyết từ chối ⁹.

Trong lần tiếp xúc sau, xảy ra lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, tại một biệt thự ở số 101 đường Gambetta, nay là đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội, đại diện chính phủ Trần Trọng Kim là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật, một học giả lỗi lạc và uy tín đương thời.  Giáo sư Hãn tự giới thiệu là “người đại diện cao cấp nhất của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội,” và tới để báo tin, “Chúng tôi biết chắc chắn có tin quân đội Đồng Minh đã bắt đầu lên đường, chia nhau vào chiếm Nam Bắc vĩ tuyến 16 nước ta rồi. Đất nước đang có nguy cơ đe dọa lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa.” Giáo sư Hãn gợi ý, “Chúng ta hãy tiếp tục thương thảo, nói chuyện với nhau. Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn, nhưng để cho chính phủ quản lý một số thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh trong lúc này, không thì nguy cả” ¹⁰.

Các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn không phải là những người có tham vọng chính trị. Khi đề nghị Việt Minh duy trì thể chế quân chủ nhưng được quyền lập chính phủ điều hành việc nước, cũng như khi đề nghị Việt Minh để lại cho chính phủ đương thời một số thành phố lớn để có tư thế đối thoại với các lực lượng Đồng Minh sắp đến Việt Nam, các ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của quốc gia. Hành động “cướp chính quyền” của Việt Minh đã khiến chính phủ do họ lập ra năm 1945 không được nhìn nhận là một chính phủ có căn bản pháp lý. Giữa tháng 9 năm 1945, khi tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, đối mặt với những cuộc biểu tình hỗn loạn và tranh chấp bạo động dẫn tới đổ máu diễn ra quanh Sài gòn nhưng không tìm được người đại điện hợp pháp của Việt Nam để đối thoại, ông ta đã có những hành động thuận lợi cho người Pháp.  

Theo Gs. Phạm Cao Dương, Lê Trọng Nghĩa còn đến dinh Khâm sai một lần nữa vào chiều ngày 18 tháng 8 để gặp bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, người đại diện chính phủ thay Khâm sai Phan Kế Toại đã từ chức, nhưng không phải để thảo luận mà chỉ cốt thăm dò tình hình.

Trong các lần tiếp xúc, trừ lần cuối cùng, các cụ Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại và giáo sư Hoàng Xuân Hãn đều chân thành mời Việt Minh vào chính phủ làm việc để “cùng lo cho quyền lợi đất nước” nhưng tất cả đều bị từ chối. Lý do là Việt Minh, với nòng cốt là đảng Cộng sản, đã chủ trương “cướp chính quyển” để một mình lãnh đạo đất nước hầu thực hiện một cuộc cách mạng theo đường lối riêng, bất chấp những tai hại và nguy hiểm có thể xảy tới cho dân tộc, đúng như lời tuyên bố của Lê Trọng Nghĩa, “Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia.”  Đó cũng là lý do trong những năm 1945, 1946, trước và sau khi giành được chính quyền, Việt Minh đã tìm cách tiêu diệt toàn bộ các nhà trí thức có uy tín và những người hoạt động chính trị không phải là Cộng sản. Chúng ta có thể kể Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Ls. Dương Văn Giáo, bs. Hồ Vĩnh Ký và vợ là bs. Nguyễn Ngọc Sương, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nhượng Tống… Các lãnh tụ tôn giáo có ảnh hưởng như Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ của Phật giáo Hòa Hảo cũng bị sát hại.

Ngày 17 tháng 8-1945 ở Hà Nội, lúc 3 giờ chiều, nhân một cuộc biểu tình của Tổng hội Công chức trước Nhà hát lớn để ủng hộ chính phủ sau khi Nhật đầu hàng, cán bộ Việt Minh tới cướp máy vi âm, hô “Hoan hô Việt Minh” và trương cờ đỏ sao vàng. Nhà biên chép lịch sử Đoàn Thêm cho biết như sau, “Rồi đoàn biểu tình được lệnh chuyển bước, tuần hành qua nhiều đường lớn… Tới ngã sáu Cửa Nam, vài anh áo cộc quần đen, chắc chắn không phải là công chức, vừa chạy vừa phất lá cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng, anh khác giơ một vật ít thấy ở thời đó là khẩu súng lục, bắn vài phát như để thị uy: “Anh em hãy cùng tôi hô ‘Mặt trận Giải phóng muôn năm’.” Vài công chức, có lẽ hoảng sợ quá, đành “Muôn năm” theo một cách gượng gạo và máy móc” ¹¹.

Ngày 19 tháng 8, từ sáng sớm, Việt Minh tổ chức biểu tình tuần hành từ trước Nhà hát lớn để đi “cướp chính quyền.” Theo hồi ký của nhà biên khảo Hoàng Tường trong Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), “Lúc mới xuất phát chỉ độ 500 người, nhưng sau đó cứ mỗi khu phố đi qua lại có dân chúng hiếu kỳ đi theo, nên đoàn biểu tình trở nên đông đảo, ước độ 2000 người, đa số là thanh niên, thiếu nữ, thiếu nhi. Dẫn đầu là một lá cờ lớn (nền đỏ sao vàng), rồi đến biểu ngữ lớn nhỏ… Hai bên đoàn người biểu tình diễn hành còn có một đám người cỡi xe đạp cắm cờ trên ghi đông, vừa đạp vừa hô, “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” ¹² . Bác sĩ Nguyễn Tường Bách kể lại, “Có người cầm cờ đỏ, nhỏ, bằng giấy, có người hô khẩu hiệu, “Ủng hộ độc lập, Đả đảo thực dân Pháp.” Thỉnh thoảng có vài người đi kèm, họ chia nhau rẽ vào các nhà bên đường xua người ra phố tham dự biểu tình. Vì vậy người xuống đường càng ngày càng đông, nam nữ già trẻ đều có; vì nếu không hồ hởi để đi biểu tình, cũng khó mà từ chối không dự vào một hoạt động để ủng hộ độc lập” ¹³.

Nhà biên khảo Hoàng Tường viết tiếp, “Đầu tiên đoàn biểu tình dừng lại trước phủ Khâm sai. Trong khi tiếng hô “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” vang dậy thì một bọn chừng hơn 10 người tách khỏi đoàn biểu tình tiến vào trong dinh, trước bộ mặt ngơ ngác của một anh Bảo an binh đứng gác. Đi đầu là hai người tay cầm lăm lăm khẩu súng sáu, và hai người khác khiêng một lá cờ đại, nền đỏ sao vàng. Thế rồi chỉ một lát sau, lá cờ được kéo lên trước cửa dinh, ngạo nghễ tung bay trước gió. Anh Bảo an binh gác ngoài cửa cũng được thay thế luôn: một người trong đám biểu tình tách ra, nhận lấy cây súng trường anh Bảo an binh trao cho, và đứng gác trước dinh.¹⁴ ” Khâm sai Phan Kế Toại có cảm tình với Việt Minh, nhất là sau khi Phan Kế An, con trai ông, gia nhập và hoạt động cho họ. Tối 17 tháng 8, sau khi biết việc xin từ chức đã được chấp thuận, ông rời dinh Khâm sai về nhà riêng. Trước khi đi, ông dặn viên Chánh quản và một Bảo an binh có nhiệm vụ canh giữ dinh, “Không nổ súng” để tránh đổ máu một cách vô ích.

Sau đó, đoàn biểu tình lần lượt diễn hành đến tòa Thị chính, nhà máy đèn, nhà bưu điện, rồi đến các ty sở khác, đài phát thanh. Cuối cùng họ kéo đến trại Bảo an binh … Cuộc đoạt chính quyền diễn ra êm ru. Đảng viên Cộng sản xuất hiện rất đông đảo, khoa tay múa chân, miệng hô: “Cách mạng thành công! Cách mạng thành công!” ¹⁵

Thật ra, nếu đáp ứng lời mời của vua Bảo Đại, vào Huế lập chính phủ trong tinh thần đạo Dụ số 105 ngày 17-8-1945 như đã nói trên, những người Cộng sản cũng sẽ làm chủ tất cả những dinh thự ấy cũng như các dinh thự khác trên toàn quốc, vì trong thể chế quân chủ lập hiến, ngôi vua chỉ mang tính cách biểu tượng quốc gia. Nhưng điều họ muốn là có thanh thế thật mạnh (cướp được chính quyền) để sau đó có thể thực hiện thêm nhiều hành động “ngày long trời, đêm lở đất” khác.

Trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi, học giả Trần Trọng Kim cho biết, “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự”. Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”. Tôi từ chối không nhận” ¹⁶.

Gần 70 năm sau, Trần Đĩnh, một nhà văn và biên khảo trưởng thành trong chế độ Hà Nội, cũng viết: “Tổng tư lệnh Nhật vào Huế, gặp Bảo Đại và Trần Trọng Kim, nói, ‘Nếu các vị yêu cầu, Nhật với 50,000 quân tinh nhuệ, có thể dẹp Việt Minh trong một đêm. Việt Minh có quá lắm là 5000 người, còn súng ống lại càng quá ít.’ Nhưng hai ông này từ chối” ¹⁷.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8-1945, vua Bảo Đại thoái vị, trao kiếm và ấn tượng trưng vương quyền cho đại diện của họ (Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận) ngày 25 tháng 8-1945. Một tuần sau, ngày 2 tháng 9-1945, ông Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập.

Nhưng niềm vui không được lâu. Hơn 10 hôm sau, ngày 13 tháng 9-1945, theo tinh thần Thỏa ước Potsdam, Thiếu tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16. Tình trạng chính trị ở miền nam Việt Nam những năm 1945-1946 không ổn định. Nhiều nhân sĩ trí thức ái quốc, nhiều tổ chức tôn giáo không chấp nhận sự thao túng và những biện pháp khống chế của các nhân vật Cộng sản. Phía Cộng sản khủng bố, hạ sát nhiều nhân vật ưu tú của miền Nam, đưa tới việc nhiều tổ chức tôn giáo và nhân sĩ (như nhà giáo Trần Văn Hương) vừa lo sợ vừa bất mãn, tách khỏi phong trào kháng chiến do CS chỉ huy. Tình trạng mất an ninh quanh khu vực Sài gòn – Chợ Lớn khiến tướng Gracey ban lệnh thiết quân luật và cho võ trang một số thường dân Pháp, giúp Pháp có lợi thế. Sau khi tướng Leclerc của Pháp đem quân tới vào tháng 10-1945, ông mở rộng phạm vi kiểm soát của Pháp đến hầu hết các thị trấn và tỉnh lỵ miền Nam, dồn lực lượng Việt Minh vào thế co cụm, phải lẩn tránh vào các vùng hẻo lánh, bưng biền. Một trong những tài liệu đáng tin cậy, giúp chúng ta biết một cách khái quát vể tình trạng miền Nam những năm ấy là cuốn Gió Mùa Đông Bắc của bác sĩ Trần Nguơn Phiêu (Amarillo, TX : Hải Mã, 2008). Sinh năm 1927, ở đúng tuổi 18 năm 1945, ông đã tích cực dấn thân vào phong trào tranh đấu cho độc lập trong mấy năm đầu ¹⁸.

Sau khi tạm ổn định trong Nam, tướng Leclerc đem quân ra Bắc, chuẩn bị đổ bộ ở Hải Phòng. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, đại diện của Pháp là Jean Sainteny ký với ông Hồ Chí Minh một Hiệp ước sơ bộ, trong đó Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do trong khối Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương. Để đổi lại, chính phủ Hồ Chí Minh đồng ý cho Pháp đưa 15,000 quân vào miền Bắc trong vòng 5 năm. Mâu thuẫn Việt-Pháp sau đó gia tăng. Đêm 19 tháng 12-1946, Việt Minh tấn công quân đội Pháp ở Hà Nội, mở màn cho cuộc chiến tranh Việt Minh – Pháp kéo dài tới Hiệp định Geneva tháng 7 năm 1954.

Khi Việt Minh khởi sự giao tranh với Pháp cuối năm 1946 rồi bỏ Hà Nội và các đô thị chạy lên chiến khu, chỉ một tỷ lệ nhỏ dân chúng có phương tiện chạy theo hay tản cư tới những vùng tương đối an ninh gần quanh. Cư dân còn ở lại các thành phố vẫn cần được bảo vệ, trong đó có những trí thức và thành phần tư sản sẽ bị sát hại hoặc đàn áp nếu tới sống ở vùng do Việt Minh kiểm soát. Việc nhiều nước Á Châu được trả lại độc lập đã khiến một số không nhỏ người Việt nhận thấy nếu tập hợp quanh một nhân vật có uy tín, đủ tư thế đại diện, có thể tiến tới việc điều đình với người Pháp để thu hồi độc lập dần dần. Tháng 5 năm 1947, Cao ủy Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert đọc một bài diễn văn quan trọng ở Hà Đông, đưa ra quan niệm “độc lập trong sự liên lập,” và tuyên bố “sẵn sàng tham khảo tất cả các phe phái chính trị ở Việt Nam.” Đó là lý do khiến cựu hoàng Bảo Đại, người đã tự nguyện thoái vị năm 1945 với câu “Không muốn làm vua một nước nô lệ” được nhiều khuynh hướng chính trị người Việt tìm tới yết kiến, thỉnh cầu đứng ra làm đại diện. Cuộc chiến tranh cũng bị dư luận Pháp lên án. Vì thế Pháp và Việt Nam dần dần tiến tới Thỏa ước Hạ Long năm 1948, rồi Hiệp định Élysée năm 1949, trong đó Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam. Năm 1949 cũng là năm Cộng sản toàn thắng trên lục địa Trung Hoa. Hai khuynh hướng chính trị thành hình ở Việt Nam. Một bên là đoàn kết quanh một nhân vật có uy tín để điều đình với Pháp hầu thu hồi độc lập qua từng giai đoạn (phe Quốc gia), một bên là dựa vào sự giúp đỡ của Trung Cộng để đánh Pháp (phe Cộng sản).   

Hiệp định Elysée chưa phải một hiệp định toàn hảo. Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp,” và xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam, nhưng về ngoại giao Việt Nam chưa hoàn toàn tự do. Việt Nam còn phải “phối hợp hoạt động với đường lối chung của Liên hiệp Pháp,” “các quốc gia được Việt Nam cử phái đoàn ngoại giao phải có sự tương đồng của chính phủ Cộng hòa Pháp.” Nói cách khác, năm 1949 khi ký Hiệp định Elysée, chính thể Quốc gia Việt Nam chưa được độc lập về phương diện đối ngoại.

Được tin Pháp ký Hiệp định Elysée với cựu hoàng Bảo Đại, ông Hồ Chí Minh phẫn nộ, tuyên bố “đó chỉ là một tờ giấy lộn.” Nhưng so với bản Hiệp định do chính ông ký với Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946, thì Hiệp định Elysée là một bước tiến xa và ở một cấp cao hơn.

–Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do “trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp.” Trong Hiệp định Elysée, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp.” Liên hiệp Pháp là một hình thức kết hợp giữa một số quốc gia từng là thuộc địa của Pháp, cũng tương tự khối Liên hiệp Anh (British Commonwealth), gồm một số quốc gia từng có những gắn bó với Anh (như Úc, Tân Tây Lan [New Zealand], Canada, South Africa, và một số quốc gia nhỏ).

— Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp không cam kết sẽ trả Nam Kỳ cho Việt Nam, chỉ nói rằng “chính phủ Pháp hứa sẽ thừa nhận những quyết định của dân chúng qua cuộc trưng cầu dân ý.”  Trong Hiệp định Elysée, Pháp xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam.

–Người ký Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946 với Hồ Chí Minh là Jean Sainteny, trong tư cách “phái viên của phủ Cao ủy Pháp, được sự ủy quyền của Đô đốc d’Argenlieu, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Pháp.” Người ký Hiệp định Elysée với Cựu hoàng Bảo Đại là Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc Vincent Auriol.

–Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, ông Hồ Chí Minh nhận đón 15,000 quân Pháp vào đóng ở miền Bắc Việt Nam. Nói cách khác, ông không chống lại mà hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp trong lãnh thổ Việt Nam.

Từ đó trên đất nước Việt Nam hiện diện hai chính phủ song hành là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, và chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu. Chính thể Quốc gia là một lối thoát cho nhiều nhà hoạt động chính trị với tinh thần dân tộc và cho những người dân không thể sống dưới chế độ Cộng sản. Những năm sau đó, dân chúng bỏ vùng Việt Minh, hồi cư về các thành phố để sống dưới chính thể Quốc gia càng ngày càng đông.

Nhờ sự tận lực  giúp đỡ của Trung Cộng, phe Cộng sản thắng Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 và đất nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc theo chế độ Cộng sản. Những người tự thấy không thể sống với Cộng sản ở miền Bắc phải lánh vào miền Nam.  

Trong cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp từ 1946 đến 1954, theo tài liệu của Việt Minh, số quân nhân tử trận và mất tích là 191,605 người. Theo các sử gia Tây phương, con số ấy từ 175,000 tới 300,000 người. Số thường dân Việt Nam bị chết được ước lượng từ 125,000 tới 400,000 ¹⁹. Việt Minh theo chính sách tiêu thổ kháng chiến, nên tất cả các đô thị bị đập phá tan hoang.

  1. “Đánh Mỹ để thống nhất đất nước”

Những hàng phía trên đã cho ta thấy khi Thế chiến thứ 2 chấm dứt năm 1945, nếu ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản không khăng khăng đưa đất nước vào con đường Cộng sản, Việt Nam có thể đã độc lập, nếu không sớm như Philippines và Ấn Độ (từ 1945 đến 1947), thì cũng tương tự Nam Dương (năm 1949), hay trễ lắm như Mã Lai (năm 1957). Đâu cần phải cầu xin Trung Cộng giúp đỡ để đánh Pháp rồi sau đó bị họ khống chế? Nếu các nhà lãnh đạo miền Bắc không khăng khăng áp dụng chủ thuyết Cộng sản, đất nước đâu đến nỗi phân đôi? Đâu cần một cuộc nội chiến thảm khốc để thống nhất đất nước?

Mặt khác, trong cuộc Chiến Tranh Lạnh (the Cold War) giữa hai đại cường quốc Nga – Mỹ (1947-1991), Việt Nam không phải quốc gia duy nhất bị chia đôi. Chúng ta cũng thấy có Đông – Tây Đức và Nam – Bắc Hàn. Đông – Tây Đức giữ tình trạng chia cắt cho đến khi thống nhất trong hòa bình năm 1990. Bắc Hàn chủ động tấn công năm 1950, gây nên cuộc chiến tranh Cao Ly (the Korean War) trong những năm 1950-53, nhưng sau tháng 7-1953 cũng chấp nhận chia cắt ở vĩ tuyến 38, giới hạn cuộc tranh chấp ở mức độ “chiến tranh miệng.” Việt Nam là quốc gia duy nhất trải qua một cuộc chiến thảm khốc với:

–Ở miền Bắc:

-Trên 849,000 quân nhân tử trận

-Trên 600,000 quân nhân bị thương

-Trên 232,000 quân nhân mất tích

-Số thường dân ở vùng do CS kiểm soát bị chết vì chiến tranh: từ 30 ngàn tới 182 ngàn.

–Ở miền Nam:

                -313,000 quân nhân tử trận

                -1,170,000 quân nhân bị thương

                -Từ 195 đến 430 ngàn thường dân bị chết oan ²⁰.

Đúng là “nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Dân trong nước đã đưa ra lời nhận xét, “Con đường Bác đi là con đường bi đát.”

Đầu thập niên 1980, khi tướng Võ Nguyên Giáp bị đổi sang phụ trách “Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch,” trông coi việc hạn chế sinh đẻ và ngừa thai, người dân miền Bắc cũng đưa ra cặp câu đối:

                Tướng Võ không còn Nguyên Giáp nữa,

                Bác Hồ cũng chẳng Chí Minh đâu!

Đất nước hiện đã thống nhất nhưng lòng người vẫn chưa thổng nhất. Việt Nam bị tàn phá, trở nên lạc hậu, thua kém xa các lân bang. Trong khoảng đầu thập niên 1960, mức sống ở Hàn Quốc, Thái Lan, Mã Lai … thấp hơn ở Nam Việt Nam. Hiện nay họ tiến hơn rất xa. Có phải đó là “sự nghiệp vĩ đại” để các nhà lãnh đạo đảng CSVN muốn dân Việt phải “nhớ ơn?”

Để ép dân miền Bắc hi sinh, những người Cộng sản dùng tinh thần dân tộc và phương pháp lừa dối. Họ xuyên tạc là dân miền Nam bị “đế quốc Mỹ và tay sai” áp bức, vô cùng cực khổ, không có gì để ăn, nên thanh niên thiếu nữ miền Bắc cần hi sinh vào để “cứu” bà con ruột thịt miền Nam, như tinh thần câu thơ của Bùi Minh Quốc:

Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy

Dầu xa xôi gấp mấy cũng lên đường

Bùi Minh Quốc đã cùng vợ, nhà văn Dương Thị Xuân Quý, vào chiến trường miền Nam, gửi người con duy nhất của hai người là Bùi Dương Hương Ly nhờ bà ngoại nuôi hộ. Nhà văn Xuân Quý hi sinh ở miền Nam khi mới 28 tuổi, và khi con của hai người mới được 2 tuổi.  

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương đã “ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết,” vì nhận ra rằng, “Cái mô hình xã hội của miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi, người trong đội ngũ chiến thắng, thì thực ra đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ.” “Điều đó khiến tôi hết sức cay đắng. Cả thế hệ của chúng tôi đã bị lừa…”. Theo bà, “Dân Việt Nam đã bị đẩy vào một cuộc chiến vô nghĩa.”   Phía sau là đường dẫn đưa một số lời phát biểu đặc sắc của bà:

Little Saigon Radio Phỏng Vấn Nhà Văn Dương Thu Hương: Dân Vn, Dù Mù Chữ Đều Xấu Hổ Vì Đảng Quá Tối Tăm Ngu Dốt – Tin Trong Ngày – Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization

Đứng về phương diện kinh tế, mặc dầu trong hoàn cảnh chiến tranh, mức sống tại miền Nam vẫn cao hơn tại miền Bắc nhiều. Ca sĩ Ái Vân kể lại ngày đầu tiên bà từ Hà Nội đến thăm gia đình người chị ruột của thân phụ ở Sài gòn: 

“Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Chị Nga, … là con dâu trưởng của cô Cả, hỏi, “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?” Tôi trịnh trọng vừa mở bọc vừa nói, “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần.”

Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả, chị Nga cười đến nỗi suýt té từ trên ghế xuống sàn. Chị nói, “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em.” Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác, cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có trong bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy…” ²¹.

Không riêng gì mức sống vật chất, nếp sống về tinh thần ở miền Nam năm 1975 cũng cao hơn ở miền Bắc. Ca sĩ Ái Vân cho biết tiếp:

“Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ Ngụy kìm kẹp,” khổ lắm, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi nilon đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc” ²².

Phía sau là những hàng tự thuật và nhận xét của một chuyên viên kỹ thuật miền Bắc được cử vào để “tiếp thu” miền Nam, Trương Minh:

“Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hòa. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người  chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này, và tuy không ai nói với ai, đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam.

“… Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn, tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh, lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam.

“… Sài Gòn, hay nói rộng ra cả miền Nam, không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo đài Hà Nội mô tả… Đây là mô hình của một xã hội văn minh, và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội XHCN tại miền Bắc. Tiếc thay! Một xã hội như thế lại vừa bị cướp mất đi” ²³.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn, “Không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn. Không chỉ đường xá tốt mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc. Trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật tốt. Giữa người với người có quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.” ²⁴

Trong bài “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” đăng trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 7-8 (114-115) năm 2014, với chuyên đề “Giáo dục miền Nam Việt Nam 1954-1975,” ông nhận xét thêm: “Trong khi khác biệt với giáo dục miền Nam, thì giáo dục miền Bắc cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại, cánh học sinh, sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những người được giáo dục miền Nam đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả” ²⁵ Phía sau là đường dẫn đưa tới trang blog đăng những bài suy tư của ông:

Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

Xã hội miền Nam năm 1975 chưa phải là một xã hội toàn hảo. Nền dân chủ miền Nam đang xây dựng năm 1975 chưa phải là một nền dân chủ kiện toàn. Nhưng theo nhận xét của một nhà văn (Dương Thu Hương), một nghệ sĩ (Ái Vân), một chuyên viên kỹ thuật (Trương Minh), một nhà nghiên cứu văn hóa (Vương Trí Nhàn) cùng tới từ miền Bắc, xã hội ấy không cần các lãnh tụ Cộng sản tại Hà Nội xua quân vượt Trường Sơn để “giải phóng.” Hơn hai triệu người Việt đã bị hi sinh trong một cuộc chiến huynh đệ tương tàn thảm khốc và vô nghĩa. Như vậy ngày 19 tháng 8 năm 1945, ngày Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội, trong khi vua Bảo Đại và các cụ Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn … nhiều lần mời cộng tác, có đáng được coi là một ngày để dân Việt “hân hoan kỷ niệm” hay không?

GHI CHÚ

1.           Tường Vũ, Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge Univ. Press, 2017), trang 105.

2.           Sách đã dẫn, trang 95-96.

3.           Sách đã dẫn, trang 104-105.

4.           Phạm Cao Dương, Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), pp. 288-289. Xem thêm Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế đến Chiến Khu Việt Bắc (Tp HCM : NXB Trẻ, 1996), pp. 76-77.

5.           Phạm Cao Dương, op. cit, pp. 289-290.

6.           Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi  (Saigon: Vĩnh Sơn, 1969), pp. 86–88.

7.           Trần Đĩnh, Đèn Cù, Vol. 2 (Westminster, CA : Người Việt Books, 2014), pp. 545–547.

8.           Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 307–309.

9.           Marr, David G. Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), p. 374.

10.        Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 309-311.

11.        Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, 1939–1954 (Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư. Reprinted Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1969), pp. 47–48.

12.        Hoàng Tường, Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), p. 68.

13.        Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua: Hồi Ký, Vol. I. (Westminster, CA: Thạch Ngữ, 1998), p. 169).

14.        Hoàng Tường, op. cit, p. 68-69.

15.        Ibid., p. 69.

16.        Trần Trọng Kim, op. cit., p. 93.

17.        Trần Đĩnh, op. cit., p. 478.

18.        Trần Nguơn Phiêu, Gió Mùa Đông Bắc (Amarillo, TX: Hải Mã, 2008).

19.        From Wikipedia:

First Indochina War – Wikipedia

20.        From Wikipedia:

Vietnam War – Wikipedia

21.        Ái Vân, Để Gió Cuốn Đi: Autobiography (Saigon: Hội Nhà Văn Pub., 2016), pp. 156–157).

22.        Ibid., p. 156.

23.        Trương Minh, “Chuyện kể của một người chiến thắng khi vào Nam” (Story of a victor entering the South.” In Nguyễn Tường Tâm, Cuộc Chiến Việt Nam 50 Ngày Cuối Cùng (San Jose, CA : NT Tâm, 2025), pp. 509–512.

24.        “Cú sốc giáo dục khi vào Nam tiếp quản” (The educational shock when entering the South for takeover). In Nguyễn Tường Tâm, op. cit., pp. 517-518.

25.        Vương Trí Nhàn, “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), in Nghiên Cứu và Phát Triển (Research and Development), Nos. 7–8 (114–115), 2014, p. 267.




KIỀU MỸ DUYÊN – ĐẠI HỘI BIỆT ĐỘNG QUÂN NĂM 2026 SẼ TỔ CHỨC TẠI ORANGE COUNTY




TIN BUỒN: VTLV VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NỮ PHI CÔNG GỐC VIỆT NGUYỄN ANH THƯ TỬ NẠN MÁY BAY.

KQ Lê Văn Hải

*

*

*

Cả cộng đồng, bàng hoàng thương tiếc: Khi hay, nữ phi công gốc Việt thiệt mạng, gẫy cánh! trong lúc đang thực hiện giấc mơ, bay vòng quanh thế giới!

– Cô Nguyễn Anh Thư, phi công gốc Việt, vừa tử nạn trong một tai nạn máy bay ở Greenwood, Indiana, trong lúc thực hiện chuyến bay một mình vòng quanh thế giới hôm Thứ Tư, 30 Tháng Bảy.

Giới chức giảo nghiệm tử thi ở Johnson County xác nhận danh tính cô Anh Thư, một người dạy lái máy bay và tốt nghiệp đại học Purdue University, bị thiệt mạng khi chiếc máy bay nhỏ cô lái bị rớt sáng sớm Thứ Tư, theo báo IndyStar.

(Nữ phi công Nguyễn Anh Thư. Hình: Twitter pilot anh-thu womeninAA)

Lúc đó, cô Anh Thư đang bay ở chặng thứ nhì trong chuyến bay một mình vòng quanh thế giới. Máy bay của cô cất cánh tại phi trường Greenwood lúc 10 giờ 45 phút sáng, và đang trên đường bay tới Pennsylvania, theo dữ liệu của Flightaware.

Vài phút sau khi cất cánh, chiếc máy bay Lancair IV-P 2005 của cô bị chao đảo trên bầu trời và rớt xuống một ngọn đồi phỉa sau một trạm xăng Circle K trên đường Main Street ở Greenwood.

Ông Frank Williams, nhân chứng vụ rớt máy bay, nói rằng chiếc máy bay rớt từ từ xuống đất.

“Không có tiếng nổ, và không có cháy. Sau khi chứng kiến, tôi tấp xe vào và ngửi thấy mùi khói. Rồi tôi tiến gần đến chiếc máy bay và có thể nói là không ai sống sót,” ông nói.

Hiện chưa rõ vì sao máy bay của cô Anh Thư rớt. Cơ Quan Quản Trị Hàng Không Mỹ (FAA) và Cơ Quan An Toàn Giao Thông Mỹ (NTSB) đang điều tra. (NV)

=====

Thương tiếc nữ phi công gốc Việt, vừa thiệt mạng trong tai nạn phi cơ: Bất ngờ ngọn gió dừng lại giữa trời xanh, mang theo một sứ mệnh lịch sử, làm rạng danh con cháu Hai Bà Trưng,…còn dang dở!

-Chuyến hành trình bay vòng quanh thế giới của nữ phi công gốc Việt Nguyễn Anh Thư – người sáng lập tổ chức AWAA – đã kết thúc đột ngột vào sáng 30 tháng Bảy, khi chiếc máy bay nhỏ của cô rơi xuống thành phố Greenwood, bang Indiana. Cô ra đi ở tuổi 44, để lại sau lưng một sứ mệnh còn dang dở, nhưng đã kịp thắp lên ngọn lửa cảm hứng cho biết bao thế hệ phụ nữ châu Á theo đuổi ngành Hàng Không Vũ Trụ. Vụ tai nạn xảy ra khi cô đang một mình điều khiển chiếc máy bay Lancair IV-P 2005, bay từ Indiana đến Pennsylvania – một chặng trong hành trình mà cô từng mô tả là “Không chỉ là một chuyến bay, mà là lời hiệu triệu gửi tới những cô gái châu Á mơ ước được bay cao!”. Theo Đại học Purdue, nơi cô từng học, hành trình 2024 của Anh Thư đã ghé qua 25 điểm, khởi hành từ thành phố Oshkosh (bang Wisconsin) hôm 27 tháng Bảy.

Anh Thư sinh ra tại một làng quê nghèo ở tỉnh Phú Yên, sau này là Đắk Lắk, và cùng gia đình di cư sang Mỹ khi mới 12 tuổi. Con đường đến với nghề phi công của cô không hề trải hoa hồng. Trong những năm đầu học bay, cô từng phải dạy kèm toán để có tiền chi trả cho giờ bay đắt đỏ, thậm chí ngủ qua đêm trong xe hơi, để tiết kiệm chi phí. Sau này, một người thầy thấy hoàn cảnh của cô, đã cho phép cô tá túc tạm thời trong sân bay.

Bằng ý chí kiên cường, cô không chỉ tốt nghiệp Thủ Khoa trung học, mà còn nằm trong top 10 sinh viên xuất sắc của Đại học Purdue. Khi đang là nghiên cứu sinh ngành Hàng Không Vũ Trụ tại Georgia Tech, cô thành lập tổ chức Asian Women in Aerospace and Aviation (AWAA) vào năm 2018, rồi mở học viện huấn luyện bay Dragon Flight, tại bang Florida năm 2020. Năm 2024, cô trở thành người phụ nữ gốc Á thứ 10 trong lịch sử, bay một mình vòng quanh thế giới!

Ở Dragon Flight, Anh Thư không chỉ là giảng viên, mà còn là người truyền cảm hứng, giúp các học viên nữ nhận ra rằng, bầu trời không dành riêng cho bất kỳ ai, nhất là phụ nữ! Cô tập trung vào huấn luyện kỹ năng đánh giá rủi ro và đưa ra quyết định, những yếu tố sống còn trong ngành hàng không.

Cái chết của Anh Thư là một mất mát lớn, không chỉ cho cộng đồng người Việt tại Mỹ, mà còn cho cả một thế hệ nữ sinh châu Á, nhất là Việt Nam, đang dõi theo cô, như biểu tượng của nghị lực, sự độc lập và khát vọng bứt phá khỏi định kiến.

Tổ chức AWAA viết trong thông cáo ngày 30 tháng Bảy: “Anh-Thu Nguyen không chỉ là nhà sáng lập của chúng tôi, mà còn là người bạn, người dẫn đường và nguồn cảm hứng sống động. Cô ấy đến từ một gia đình nghèo tại Việt Nam, và đã trở thành ngọn hải đăng cho hàng ngàn phụ nữ khắp thế giới! Cầu mong cô sẽ tiếp tục bay cao trên bầu trời , như cách cô vẫn từng làm, dẫu chỉ bằng một đôi cánh!”

Câu chuyện của Nguyễn Anh Thư, không khép lại bằng cái chết, mà mở ra như một di sản sống động về ước mơ, về sự bền bỉ, và về niềm tin rằng người Việt, nhất là phụ nữ Việt, dù “chân yếu, tay mềm” cũng có thể viết tên mình giữa tầng mây! tung cánh gió! “Bầu trời nào đó, cô đã bay cao!”

Vĩnh biệt NGUYỄN ANH THƯ!!!




KIỀU MỸ DUYÊN – NHÀ THỜ SALOONG ĐANG XÂY DỞ DANG Ở RỪNG NÚI KONTUM




VTLV TƯỞNG NIỆM 100 NGÀY ANH CHINH NGUYÊN LÌA TRẦN.

San Jose, California – Sáng thứ Tư, ngày 16 tháng 7 năm 2025, khoảng 20 thân hữu và thành viên trong Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt đã cùng tụ họp tại tư gia cố Chủ tịch Chinh Nguyên để tham dự buổi lễ tưởng niệm 100 ngày kể từ ngày anh vĩnh viễn ra đi.

Trong không khí trang nghiêm và thấm đượm nghĩa tình, các văn hữu lần lượt phát biểu những lời chia sẻ ngắn gọn nhưng chân thành, đầy xúc động. Hiện diện trong buổi tưởng niệm có các vị: Lê văn Hải (Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt), Bác sĩ Phạm Đức Vượng, Giáo sư Nguyễn Đức Lâm, Ký giả Mạc Phương Đình, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Ca sĩ Đồng Thảo, cùng nhiều thân hữu khác.

Mặc dù lời mời của anh Lê Văn Hải, tân Hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt, chỉ mới được gửi ra trong vòng 24 giờ, nhưng tình cảm mọi người dành cho cố Chủ tịch Chinh Nguyên đã vượt qua mọi khoảng cách. Rất nhiều anh chị em văn hữu ở xa tuy không thể hiện diện đã nhanh chóng gửi email chia sẻ cảm xúc, bày tỏ lòng thương tiếc và kính trọng đối với người bạn văn khả kính, người đã từng góp mặt và để lại dấu ấn sâu đậm trong sinh hoạt văn học hải ngoại.

Anh Chinh Nguyên không chỉ là một người bạn văn, một người anh tận tụy trong sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại, mà còn là một nhà thơ và nhà văn, tác giả của nhiều tác phẩm song ngữ Việt–Anh mang chiều sâu tư tưởng và đậm đà bản sắc dân tộc. Qua ngôn ngữ và tâm huyết, anh đã góp phần nối liền tâm hồn người Việt ly hương và giới thiệu văn hóa Việt đến với bạn đọc khắp nơi trên thế giới.

Một trong những khoảnh khắc khiến nhiều người không khỏi rưng rưng là khi chị Thanh, phu nhân của cố Chủ tịch, nghẹn ngào không cầm được nước mắt trong lúc nói lời cảm tạ đến mọi người hiện diện. Nỗi đau mất mát vẫn còn đó, nhưng tình cảm ấm áp của bằng hữu văn chương là nguồn an ủi quý báu cho gia đình.

Buổi tưởng niệm thêm phần sâu lắng khi thi sĩ Minh Thúy, một thành viên kỳ cựu của Văn Thơ Lạc Việt, đã xúc động xuất khẩu thành thơ, kính viếng người bạn văn khả kính bằng bài thơ:

100 Ngày Cựu Hội Trưởng Chinh Nguyên

Văn Thơ Lạc Việt viếng trăm ngày
Kính mến Chinh Nguyên nghĩa trọng đầy
Cả hội yêu thương cùng tưởng nhớ
Dầu rằng anh đã bước lên mây

Có Thầy, Tiền Bối với anh em
Hội trưởng Hải Lê, bạn hữu kèm
Thắp nến dâng hương màn khói tỏa
Hoa Lan, hoa Cúc trắng xinh mềm

Dung nhan hiền hậu đẹp tâm hồn
Anh vẫn bên đời trọng ngữ ngôn
Thi Phú bút chương còn để lại
Văn Thơ Lạc Việt quyết lưu tồn

Minh Thúy Thành Nội
Tháng 7/16/2025

Không dừng lại ở đó, thi sĩ Thái Huy cũng góp mặt bằng một bài thơ đầy suy tưởng mang tựa đề “Niềm Nhớ Dâng Đầy”, tưởng niệm cố thi sĩ Chinh Nguyên:

NIỀM NHỚ DÂNG ĐẦY

Một thoáng vèo bay tợ bóng câu
Tròn trăm Trung Chính đã qua cầu
Ý xin sớm đạt nơi thiên quốc
Lời nguyện mau qua chốn vực sâu
Lỗi tội dương trần Cha xóa giải
Hồng ân cõi phúc Nguyễn gom thâu
Gia đình thân hữu hằng mong vậy
Xa đó nhưng lòng chẳng cách đâu.

Thái Huy – 7/16/2025

Đáp lại thâm tình đó, thi sĩ Minh Thúy đã tức cảnh họa lại bài thơ bằng một thi phẩm mang tựa đề “Nhớ Anh Chinh Nguyên”, theo thể họa hoán vận – bốn vần:

Nhớ Anh Chinh Nguyên
(họa hoán vận – bốn vần)

Lại đến trăm ngày vụt vó câu
Thời gian tựa nước chảy bên cầu
Mầm chương mấy thủa hài kho rộng
Ý mộng bao mùa thỏa mộ sâu

Nắng rực khung trời chờ Phượng thắm
Cây xinh khóm lá đợi Ve sầu
Chinh Nguyên ngủ ấm vòng tay Chúa
Lạc Việt văn đàn nghĩa đậm thâu.

Minh Thúy Thành Nội
Tháng 7/16/2025

Sau phần lễ, mọi người cùng ngồi lại bên nhau, ôn lại những kỷ niệm thân thương với anh Chinh Nguyên — từ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những lần ra mắt thơ văn, đến những buổi họp mặt đầy tiếng cười và tinh thần gắn bó.

Cố Chủ tịch Chinh Nguyên, với tâm huyết và những đóng góp bền bỉ, đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng anh chị em văn nghệ sĩ. Sự ra đi của anh là một mất mát lớn, nhưng tình cảm và di sản tinh thần anh để lại vẫn sẽ còn mãi trong lòng những người ở lại.

— Tường trình từ ký giả Mạc Phương Đình

TƯỞNG NIỆM 100 NGÀY ANH CHINH NGUYÊN

*

Hôm nay vừa đúng Trăm Ngày

Chinh Nguyên anh đã chia tay lìa trần

VĂN THƠ LẠC VIỆT họp quần

Nén hương hoa kính muôn phần tiếc thương

*

Từ anh rời cõi vô thường

Những người ở lại tiếp đường anh đi

Văn Thơ Lạc Việt khắc ghi

Chinh Nguyên căn dặn hãy vì quê hương

*

Mặc cho thế sự nhiễu nhương

Văn Hoá Việt Ngữ khuếch trương không ngừng

Hôm nay kỷ niệm tưng bừng

Rằng anh an lạc trên từng mây xanh

*

Cùng nhau nhắc nhở về anh

CHINH NGUYÊN đức trọng tâm lành biết bao

Người rơi lệ kẻ xuyến xao

Nhìn lên đi ảnh dạt dào nhớ thương

*

Ngẫm ra cuộc sống vô thường

Người đi kẻ ở vấn vương tấc lòng

Chúc anh đất Chúa thong dong

Hộ trì LẠC VIỆT tiếp dòng VĂN THƠ

Phương Hoa – July 16, 2025

100 NGÀY CỰU HỘI TRƯỞNG CHINH NGUYÊN

*

VĂN THƠ LẠC VIỆT viếng trăm ngày

Kính mến CHINH NGUYÊN nghĩa trọng đầy

Cả hội yêu thương cùng tưởng nhớ

Dầu rằng anh đã bước lên mây

*

Có Thầy, Tiền Bối với anh em

Hội trưởng HẢI LÊ, bạn hữu kèm

Thắp nến dâng hương màn khói tỏa

Hoa Lan, hoa Cúc trắng xinh mềm

*

Dung nhang hiền hậu đẹp tâm hồn

Anh vẫn bên đời trọng ngữ ngôn

Thi Phú văn chương còn để lại

VĂN THƠ LẠC VIỆT quyết lưu tồn

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 7/16/2025

*

THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA NHÂN TƯỞNG NIỆM 100 NGÀY ANH CHINH NGUYÊN

*

NIỀM NHỚ DÂNG ĐẦY

Một thoáng vèo bay tợ bóng câu

Tròn trăm Trung Chính đã qua cầu

Ý xin sớm đạt nơi thiên quốc

Lời nguyện mau qua chốn vực sâu

Lỗi tội dương trần Cha xóa giải

Hồng ân cõi phúc Nguyễn gom thâu

Gia đình thân hữu hằng mong vậy

Xa đó nhưng lòng chẳng cách đâu.

Thái Huy 7/16/25

THƠ HỌA

NHỚ ANH CHINH NGUYÊN

(Họa hoán vận – Bốn vần)

Lại đến trăm ngày vụt vó câu

Thời gian tựa nước chảy bên cầu

Mầm chương mấy độ hài kho chất

Ý mộng bao mùa thỏa mộ sâu

Nắng rực khung trời chờ Phượng thắm

Cây xinh khóm lá đợi Ve sầu

CHINH NGUYÊN ngủ ấm vòng tay Chúa

Lạc Việt văn đàn nghĩa đậm thâu.

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 7/16/2025

*

VỜI TRÔNG BÓNG NHẠN

(Họa cùng thi huynh Thái Huy)

Trăm ngày như gió thoảng bờm câu

Chớp mắt từ anh vượt thế cầu

Cố Vấn Văn Thơ lưu nghĩa đậm

Chinh Nguyên Lạc Việt khắc tình sâu

Người đi ái luyến đà buông xả

Kẻ ở thương buồn mãi níu thâu

Vọng tưởng trông vời theo bóng nhạn

Những ngày xưa cũ biết tìm đâu.

    Phương Hoa – July 16, 2025

*

KHÔNG ĐỀ

Bóng nguyệt trôi nghiêng vạt gió sầu,

Trăm ngày qua vụt như bóng câu.

Văn gieo vạn chữ hồn thơ cũ,

Ý kết muôn điều mộng bấy lâu.

Phượng thắm đợi ai trong khung nắng,

Ve ngân nhớ bạn đẫm hàng châu.

CHINH NGUYÊN giã bạn về tiên giới,

LẠC VIỆT hồn xưa nối nhịp cầu.

   Yên Sơn




KIỀU MỸ DUYÊN: CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA – ANA REAL ESTATE – JUNE 25 2025




HOÀNG MAI NHẤT -LỄ MEMORIAL DAY  HOA  KỲ  (26/5/2025)  tại  WAR  MEMORIAL  PARK  IN  TACOMA,  WASHINGTON  STATE.

LỄ MEMORIAL DAY  HOA  KỲ  ( 26/5/2025 )  tại  WAR  MEMORIAL  PARK  IN  TACOMA,  WASHINGTON  STATE.

Sau buổi Lễ Tưởng Niệm 50 Năm Quốc Hận (30/4/1975 – 30/4/2025) tổ chức tại Tổ Đình Việt Nam  TP Seattle, TB WA.  Có sự tham dự của  vị Đại Tá Hải Quân HK và các cựu chiến binh Hoa Kỳ ở chiến trường VN. 

Ông John Mc Elroy(Đại Tá Navy Mỹ tham dự chiến tranh VN) đã trân trọng gởi lời mời TổĐình VN và Toán ThủKỳ (Color Guard)

đến tham dự Lễ Memorial DAY được tổ chức vào ngày  5/26/2025 tại War Memorial Park in Tacoma, Washington State.

Đúng 8:00am ngày 26/5/25, tất cả tập họp ở Shop May của anh Sơn trên đường số 1 và rồi cùng đi chung hai xe xuống dịa diểm làm Lễ ở Tacoma. Trời vẫn còn lạnh, mây đen lại giăng đầy trời báo hiệu một cơn mưa sẽ đến không biết lúc nào.

Khoảng 10:00am, quan khách lần lượt đến. Mưa bắt đầu rơi, tuy không lớn nhưng cũng đủ làm ướt áo  và gieo thêm cái lạnh vào lòng người. Mọi người vẫn giữ trật tự, ngồi tại chổ  mà không bỏ chạy  tìm chổ  núp mưa; các chị vợ  cựu QN  đi theo chồng cũng cùng chia sẻ, chiụ đựng cơn mưa  như người Mỹ  và  còn nhường dù mình mang theo  đến đưa cho quan khách Mỹ, làm họ cảm động và cảm ơn rối rít.

Anh HQ Chi ra xe lấy bốn cây dù mang theo có sẵn trong xe, đem vô  đưa cho Toán Thủ Kỳ chúng tôi  để che mưa, tôi nói: “mình là Lính dạn dày sương gió, đâu thể  nào  dùng dù  che mưa  lúc này được, mình phải chấp nhận  đội mưa thôi.  Anh đem dù đi đưa cho quan khách để họ thấy cái giá trị và tư cách của quân nhân VNCH mình”.
Anh Chi bèn  đem dù  đưa  cho mấy người Mỹ,  làm họ thêm cảm động, cảm ơn với tất cả lòng thiện cảm, trân quý dành cho người Việt mình..

Chuyện này làm tôi nhớ  đến hôm  Lễ  30/4/2025  được tổ chức ở Auburn. Khi đọc bài Diễn Từ tiếng Việt do tôi viết ( con gái Thiên Thanh của tôi dịch và đọc phần tiếng Anh),đến câu:“để tưởng nhớ đến 58.000  quân nhân Hoa kỳ  đã  hy sinh  trên chiến trường VN.
Dứt câu này, tôi bước lui một chút  và cúi đầu  để bày tỏ sự tưởng tiếc thật sự của mình. Quan khách Mỹ vổ tay cảm ơn hành động này ”.  

Sau khi chấm dứt tôi bước ra,đi về phía cuối hàng ghế quan khách ngồi; bất chợt một cựu quân nhân Mỹ  mặc thường phục bước lại, chập chân rồi đưa tay lên ngang trán chào tôi và nói cảm ơn đồng thời đưa tay ra để bắt tay tôi; làm tôi cũng chập chân chào lại và cũng nói cảm ơn anh. Chúng tôi bắt tay nhau trong niềm vui kính trọng của những người lính chung chiến tuyến.

Sau buổi Lễ, tôi  có mời anh  chụp hình với gia đình tôi, nhưng tôi lại quên hỏi tên anh(dù anh có giới thiệu tên anh,hỏi tên tôi nhưng lúc đó ồn ào quá nên không nhớ được).

Đúng 11:00am,  buổi lễ bắt đầu  sau phần giới thiệu chương trình buổi lễ, Ông mời mọi người đứng lên làm lễ rước  Quốc Kỳ Việt Mỹ do Toán Thủ Kỳ của Tổ Đình VN phụ trách.
 
  
                @ WAR MEMORIAL PARK . TACOMA, WASHINGTON

– BB Lê Anh Thượng( Cầm Súng Hộ Kỳ )         
– HQ Phạm Ngọc Anh ( Cờ VNCH )- HQ Trương Văn Chi ( Cờ Hoa Kỳ )
– BB Nguyễn Lam Sơn ( Cầm Súng Hộ Kỳ )
– HQ Bùi Đức Ly ( Trưởng Toán )    TrưởngBan TổChức: ĐạiTá Andy Leneweaver (Ret) (người 
   đứng bên bục diễn thuyết)

Khi Toán Thủ Kỳ chúng tôi đã rời lễ đài, Ông Đại Tá đã mời mọi người cùng đứng lên vổ tay khen ngợi, chúc mừng, cảm ơn Toán Thủ Kỳ chúng tôi.

Tiếng vỗ tay  với lời chúc mừng nồng nhiệt  và cái quay đầu nhìn về phía chúng tôi  trong lúc vỗ tay tán thưởng  đã làm cho chúng tôi thấy hãnh diện cùng vui sướng vì  được chào đón, tán thưởng và nhất là  đã không để có sai sót gì làm mất đi nét đẹp hào hùng của QLVNCH.

                                    “ Gian nguy thử thách đời trai trẻ
                                       Dẫu bước cạn cùng vẫn ngẩn cao”
                                                (thơ Hoàng Mai Nhất)

Seattle, WA   Mùa Quốc Hận
    H.O.26 Lê Anh Thượng
           (May 27/2025)




Tưởng Nhớ Nhà Thơ Hoàng Phong Linh Võ Đại Tôn

Vương Trùng Dương

Chiến Hữu Võ Đại Tôn, sau nhiều năm lâm bệnh trầm trọng, qua đời tối Thứ Sáu 23/5/2025 tại bệnh viện Bankstown (NSW), hưởng thọ 90 tuổi. Ngoài thơ, văn, anh được gọi là nhà hoạt động chính trị, nhà đấu tranh cho quê hương, Tổ Quốc. Với tôi trong tình thân đồng hương (đề cập trong bài viết nầy) nên anh cho biết gọi nhau là “chiến hữu”.

Các tác phẩm thơ, văn: Lời Viết Cho Quê Hương (Năm 1979 tại Hoa Kỳ). Đoản Khúc Người Ra Đi  (Năm 1986 tại Úc Châu). Hồi ký Tắm Máu Đen (Năm 1992 tại Úc, Hoa Kỳ năm 2000). Thơ Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy (Năm 1992 tại Úc Châu và năm 2000 tái bản tại Hoa Kỳ). Tập Truyện Chim Bắc Cành Nam (2002). Tuyển Tập Thơ Văn Tổ Quốc – Hành Trình 30 Năm” (Úc Châu 2005).

Trước đây, cũng vào tháng 5, tôi viết bài Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn. Theo lời anh, tăm đắc với bài viết nầy vì chỉ có người đồng hương mới hiểu rõ nơi chốn để chia sẻ.

Nay đăng lại bài viết:

Hồi ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn ra đời cách nay một thập niên. Tại California, sách đã ra mắt ngày 16/5/2010, tại phòng họp của cơ quan Stockton Boulevard Partnership, Bắc California quy tụ các hội đoàn, đoàn thể, nhân sĩ và đồng hương tham dự rất đông để nghe diễn giả Võ Đại Tôn từ Úc sang, với tuổi đời 75. Trong bài viết của Khuất Đẩu ở trong nước “Để Tang Cho Sách” ghi lại thời điểm từ “chiến dịch bài trừ văn hóa” xuống đường đốt sách 21/5/1975… trong đó, những tài liệu trung thực về giai đoạn lịch sử nầy đã bị tiêu hủy. Bài viết mới nhất (4/2021) của Song Thao ở Canada: Tháng Tư Nghĩ Về Sách Sài Gòn Xưa “Gần hai chục năm trước, khi Cộng Sản tiếp thu Hà Nội, trò đốt sách đã được bày ra. Trên hai thập niên sau, họ làm y chang lại, bài vở là một thứ bổn cũ soạn lại”. Đọc lại với bao nỗi ngậm ngùi!

Ngày 12/6/2010 trong buổi sinh hoạt “Hành trình công tâm để xây dựng lại niềm tin” và ra mắt thơ văn của tác giả Võ Đại Tôn tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana đã được các văn hữu như Cao Tiêu, Nguyên Sa, Đỗ Tiến Đức và các nhân sĩ… ca ngợi tinh thần đấu tranh của chiến sĩ Quốc Gia cho lý tưởng tự do, dân chủ.

Nay đọc các bài viết trong nước đã bị lệch lạc, bóp méo sự thật vì dựa vào tài liệu tuyên truyền… Vì vậy viết lại hồi ký của tác giả Võ Đại Tôn, chứng nhân thời cuộc để trả lại sự thật của giai đoạn lịch sử: “Cái gì của César, hãy trả lại César”.

Với hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” trong tháng 6/2010 qua nhận định của Nguyễn Mạnh Trinh cho thấy: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ, ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước…

Sau khi dẫn chứng những đoạn trong hồi ký, phân tích với đoạn kết: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ , ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước.

Trong hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của Võ Đại Tôn in bài giới thiệu của Trần Trung Đạo, là đồng hương, tuy tuổi đời cách nhau hơn hai mươi năm nhưng cùng chung cảnh ngộ đau buồn và cùng chung tâm cảm.

“Chúng tôi những người con đi xa, gánh trên vai đôi gánh nặng. Đất nước, quê hương, tình thương và nỗi nhớ. Nhiều khi tôi thèm làm một con chim nhỏ, bay về đậu trên tấm bia và đọc cho mẹ nghe những bài thơ được đan kết từ mấy mươi năm trầm luân thống khổ. Nhưng không, đôi cánh chúng tôi quá nhỏ và quảng trời thì quá xa, ước mơ cũng chỉ là mơ ước. Chúng tôi chọn lựa một cách sống mà chúng tôi nghĩ là đúng nhất cho đời mình và đất nước nhưng chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Chúng tôi đã phải hy sinh những riêng tư thân thiết nhất.

… Từ thuở chào đời, tôi đã là một đứa bé bất hạnh. Mẹ và anh chị tôi đều mất rất sớm. Trí nhớ của tôi còn quá non nớt để giữ lại hình ảnh mẹ. Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có đến một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống.

Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ giòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ.

Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn là tuyệt đối. Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu, một ngôi làng dệt lụa bên bờ sông Thu Bồn. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ, nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày buồn và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Một tuổi thơ như thế có thể tạm gọi là tuổi thơ bất hạnh. Nhưng tuổi thơ tôi không phải là bất hạnh nhất hay ít bất hạnh hơn anh Võ Đại Tôn.

… Anh bất hạnh hơn tôi vì mẹ anh, người đàn bà vốn đang trọng bịnh trong người, đã phải chết trong hoàn cảnh vô cùng thảm thương, đau đớn.

… Anh Võ Đại Tôn cũng đã xác định quan điểm này trong hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh: “Viết lại cho tuổi trẻ của tôi trong nỗi trầm luân của cả một Dân Tộc và viết cho Tuổi Trẻ Việt Nam với niềm mong ước các thế hệ tương lai hiểu thấu, tránh xa, ngăn chặn, cùng nhau vượt qua mọi chướng ngại để cứu nguy Tổ Quốc và hóa giải mọi trở lực để quang phục quê hương.

… Với tuổi đã ngoài bảy mươi, lẽ ra anh nên dành khoảng thời gian mà anh tự nhận là “hoàng hôn của một đời người” để đi đây đi đó thăm viếng người thân, tạm biệt bạn bè, hay ngồi an nhàn bên tách trà, chén rượu, nhìn mặt trời lên cao ngoài biển rộng, nhìn bóng tà dương khuất dần sau đỉnh núi cao, không, anh không thể an nhàn như thế được. Còn một hơi thở anh còn đóng góp, còn cất lên được một tiếng nói anh còn tìm cách để trao gởi những ước mơ chưa làm được hết của anh cho các thế hệ mai sau. Anh cố gắng dành thời gian còn lại để viết. Dù bàn tay anh có run hơn, đôi mắt có yếu hơn, anh vẫn cố gắng viết, bởi vì con người ai cũng phải chết nhưng sự thật lịch sử phải được sống, sống cho hôm nay và cho mãi mãi về sau…”.

Với hồi ký của anh Võ Đại Tôn qua các bài viết của các văn hữu, trong đó có Trần Trung Đạo và Nguyễn Mạnh Trinh, tôi thấy cũng đủ để cảm nhận những gì tác giả Võ Đại Tôn chia sẻ sau sáu thập niên về nơi cố hương.

Trong thời gian qua, anh và tôi thường viết qua email, anh than tuổi già sức yếu, mỗi lần nghĩ đến đất nước và cố hương lòng đau quặn thắt, không cầm được nước mắt. Cho đến lúc nầy, anh vẫn mang niềm đau vì không về được cố hương, không ôm mồ mẹ trong vòng tay như lúc tuổi thơ!

Trong mùa đại dịch quái ác nầy, ở nhà chán quá, tôi lục lại những quyển sách cũ ra đọc lại để giết thời giờ, nào ngờ hồi ký của anh Võ Đại Tôn, một lần nữa làm tôi xúc động nên ghi lại những dòng cảm nghĩ.

Sau biến cố tang thương của đất nước, tháng năm 1975, vợ chồng anh Võ Đại Tôn vượt biển sang Mã Lai đến định cư tại Úc Châu năm 1976.

Năm 1972, Võ Đại Tôn (Trung Tá) kết hôn với chị Tuyết Mai, dạy ở trung học Long Khánh và làm xướng ngôn viên đài truyền hình Việt Nam, băng tần số 9. Năm 1978, vợ chồng sinh được cháu trai Võ Đại Nam (Cu Lỳ) và sau đó mở quá cà phê Cu Lỳ để có dịp gặp gỡ thân hữu. Với cuộc sống gia đình đang hạnh phúc như vậy nhưng anh mang nặng tấm lòng nợ nước nên tháng 2 năm 1981 trở về lại quê hương để tham gia kháng chiến phục quốc (qua đường rừng Thái-Lào) nhưng đã bị sa cơ vào tháng 10, 1981, tại biên giới Lào Việt.

Anh bị tù biệt giam hơn 10 năm tại tại trại tù Thanh Liệt (B-14), ngoại thành Hà Nội. Thế nhưng từ khi ở tù cho đến khi được thả ra để trở về Úc, anh là người đi giữa hai lằn đạn bởi thủ thuật Cộng Sản Hà Nội đã dàn dựng, gài bẫy, bôi nhọ… khi anh nói rồi bị cắt xén để phát thanh và đăng báo!

Trong cuộc họp báo quốc tế ngày 13 tháng 7 năm 1982 tại Hà Nội, anh lên án chế độ tàn bạo CSVN nhưng do CS tổ chức, dàn dựng thì thành phần hiện diện (trong và ngoài nước) là người của tổ chức nên việc phổ biến qua thủ thuật tráo trở, đánh lận con đen. (Trong bài Phỏng Vấn Võ Đại Tôn, 40 Năm Đấu Tranh của Hữu Nguyên đã trả lời chi tiết về chuyến trở lại phục quốc và cuộc họp báo).

Khi được ra khỏi trại tù CS, anh cũng được ăn uống và chụp hình đăng báo… Từ nhỏ anh đã chứng kiến những trò gian manh, lật lọng của Việt Minh trong gia đình nhưng không hiểu vì sao anh lại bị gài bẫy dàn dựng như vậy? Điều bí ẩn đó tuy bất thường với mọi người nhưng với anh chỉ là “vở kịch” của bọn chúng trong giai đoạn, anh vẫn tiếp tục con đường đấu tranh suốt cuộc đời ở hải ngoại.

Trong thời điểm đó có hàng vạn sĩ quan, viên chức VNCH đang bị cầm tù ở miền Bắc nhưng CS không dàn dựng mà đem con cờ phục quốc ra với dụng ý đen tối cho thành phần nầy trước công luận. Vào thời điểm năm 1981, ở Úc có ít người Việt tỵ nạn, chưa có tổ chức đấu tranh nào, anh dấn thân trong đơn lẽ, tổ chức là trái tim và con đường quang phục là quê hương.

Với tôi, khi còn ở trong nước đã biết và khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ khi đọc hai nguồn tin trái ngược nhau bênh vực và chống đối… nên im lặng. Ngay cả bản thân anh cũng bị xuyên tạc là “Hạ sĩ quan thông dịch viên, viên chức quèn của VNCH”!.

Khi người chồng ra đi, cuối năm 1981 chị Tuyết Mai dẹp quán rồi vào làm việc ở Bưu Điện Úc. Sau khi biết tin chồng bị cầm tù, chị đã vận động với báo chí và chính quyền can thiệp cho chồng (thân phụ chị bị chết trong lao tù CS) nên chị quyết tâm tranh đấu đến cùng cho đến khi cuối năm 1991, Bộ Ngoại Giao Úc báo tin cho biết anh Võ Đại Tôn được ra tù và trở lại Úc… Có lẽ trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, bi thảm nhất chỉ có người vợ mới cảm thông và lặng lẽ tìm mọi cách để cứu thoát cho chồng. Hình ảnh chị cũng như bao người “vợ tù cải tạo”  đã viết nên “trang sử” đẹp, đáng trân trọng…

Trong email, tôi nói anh viết vài dòng tiểu sử cho chính xác, và anh chỉ viết là người lính, viên chức VNCH, là chiến sĩ đấu tranh cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc. Cấp bậc, chức vụ có gì đáng nói… mà điều đáng nói đã thể hiện qua thơ văn của Hoàng Phong Linh, Võ Đại Tôn trong bốn thập niên qua. Nay tuổi anh đã gần đất xa trời, đau yếu những vẫn giữ vững tinh thần chống Cộng, yêu chuộng tự do, dân chủ cho quê hương, đất nước. Tôi hiểu và nhân quyển hồi ký nầy để chia sẻ cho nhau.

Thật ra, viết về hồi ký nầy chỉ là phần nhỏ với tóm lực, phải đọc từng dòng trong hồi ký mới cảm nhận được những gì tác giả nói lên trong tận đáy lòng.

*

Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, từ cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện – Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)… Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xưa. Làng Kim Bồng rất nổi tiếng về nghề mộc, hầu hết các kiến trúc cổ kính của Hội An đều do bàn tay tài hoa của nơi nầy. Nghề diệt chiếu phổ biến ở nhiều làng.

Dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn trong hai xã Xuyên Quang, Xuyên Thái, quận Duy Xuyên (nay là xã Duy Phước) cũng gần với làng Kim Bồng. Nhà thờ Tộc Trần của tôi có ở Phú Chiêm và nhà thờ Tộc Võ của anh ở Kim Bồng.

Cũng như các nơi khác của Quảng Nam, đất đai khô cằn vào mùa hè, nghề nông vất vả nên người dân phải sống bằng những ngành nghề khác. Hơn nữa ở địa danh nầy gần sông Thu Bồn nên gánh chịu bao thiên tai vào mùa bão lụt. Quê nội anh Võ Đại Tôn ở Kim Bồng, cũng khoảng thập niên 1920, thân phụ anh ra Đà Nẵng lập nghiệp, xây dựng cơ ngơi vững chắc.

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” dày 212 trang, bài giới thiệu của Trần Trung Đạo (trang 5 đến trang 26) ghi nhận những điều, theo tôi, là đồng hương, cùng cảnh ngộ, cùng văn giới, chứng nhân nỗi thống khổ với nhau, nơi cố hương, thăng trầm của lịch sử, cảm nhận nỗi lòng anh Võ Đại Tôn qua thơ văn… mới viết được như vậy. Bài viết là tâm bút, khó có người cầm bút thứ hai trang trải với tận đáy lòng.

“Tôi sinh ra tại Hải Châu, thị xã Đà Nẵng nhưng thực ra nguyên quán dòng họ Ông Cha là làng Kim Bồng, xã Điện Phương… Tôi là đứa con thứ tám trong số mười người con của cha mẹ tôi, chín anh em trai và một chị gái” (trang 32).

“Gia đình bác, cha mẹ và chú tôi, đầu sống chung trong một ngôi nhà tạ Ngã Năm thành phố Đà Nẵng Được xây cất từ năm 1924, hiện nay là Long Phụng Từ Đường thuộc Tộc Võ)” (trang 34). Bác, cha và chú anh trúng thầu với người Pháp xây cất ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo Chính Tòa (nhà thờ Con Gà) năm 1923, nổi danh công trình độc đáo. Vì vậy cha mẹ anh cho con cái học trường Pháp ở Đà Nẵng.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật đầu hàng, Việt Minh cướp chính quyền. Pháp trở lại Việt Nam, khi Pháp chiếm lại Đà Nẵng và lập lại hệ thống cai trị, cuộc chiến xảy ra… Hồi ký ghi lại giai đoạn tản cư vì chiến tranh (1945-1950). Giữa năm 1946, sợ chiến tranh xảy ra ở thành phố Đà Nẵng nên gia đình anh di tản về quê nội ở Kim Bồng “Tuổi thơ của tôi bắt đầu đi vào một khúc quanh gai góc, vì chiến tranh” (trang 51).

Rồi từ đó người dân sống trong tình cảnh “một cổ hai tròng”, ngày thì bị Pháp bố ráp (ruồng, càn), Việt Minh bắt phải nộp gạo để nuôi quân trong khi người dân thiếu thốn ăn cơm độn với khoai, sắn. Và đêm thì bị Việt Minh bắt thanh niên (nam, nữ) tham gia lực lượng chống Pháp. Riêng gia đình anh gặp phải tình cảnh trớ trêu vì nghi còn thân Pháp. Việt Minh còn bắt buộc nhà của anh phải treo hình “cụ Hồ” cũng là trò thâm độc vì khi Pháp đi ruồng bố vào nhà mà thấy hình nầy thì đốt nhà để gây lòng hận thù với Pháp. Trong hồi ký, anh tả từng chi tiết về thủ đoạn gây tai họa cho gia đình anh.

Trong một lần Pháp đi ruồng, vào nhà anh lục soát, chú và các anh chị nói chuyện bằng tiếng Tây nên không làm khó dễ gì cả. Nhưng tai họa lại giáng lên đầu nhà anh “Từ lúc có Tây qua làng ruồng bố, rồi có người cố tình phao tin đồn là nhà tôi điềm chỉ cho Tây bắt cán bộ Việt Minh…” (trang 88). Ông “chủ tịch, cán bộ cao cấp của Cộng Sản” là con trai của người tá điền làm ruộng cho nhà anh, trở thành hung thần. Trong khi tất cả cơ ngơi song thân anh ở Đà Nẵng bị Tây tịch thu thì gia đình anh ở làng quê bị kết tội thân Tây. Gia đình bị cô lập, sống trong hoàn cảnh khó khăn, luôn luôn bị rình rập, cả tuổi thơ của anh chịu đựng mọi cơ cực. Nỗi đau tột cùng khi mẹ anh bị ho lao, làm cái chòi nhỏ để ở riêng vì sợ bị lây (theo ý mẹ anh), không có thuốc men nên bị cơn đau hành hạ ngày đêm. Trước tình thế đó “Sau nhiều đêm bàn tán, thêm nhiều ý kiến tính tới tính lui. Tôi được biết bác và cha tôi đồng thuận để cho mẹ tôi về lại Đà Nẵng, có hai chú đi theo” (trang 104). Đoạn đường từ Kim Bồng theo đường bộ ra Đà Nẵng rất khó khăn vì bị kiểm soát gắt gao cả Việt Minh và Tây. “Lúc ra đi, mẹ tôi 43 tuổi, chú Tám Dương 47, còn chú Mười 31 (Tháng 6 năm 1947)” (trang 110). Chuyến đi định mệnh đã biệt tăm cho đến năm 1959, 1960 mới biết thảm cảnh xảy ra!.

“Đến năm 1955, các anh tôi đều đã là sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia. Tôi vẫn còn đi học tại Sài Gòn. Anh Hai tôi được đi tu nghiệp tại Pháp (trường bộ binh  Saint Maxent), có gởi về cho anh Năm tôi một bức thư dài kể lại chi tiết sự kiện năm 1949 về đôi giày cườm của mẹ tôi tại làng Cổ Lưu (xã Điện Nam, Quảng Nam), kèm theo một bản đồ ghi rõ địa điểm liên hệ… Lúc nầy anh Năm tôi phục vụ tại Phân Khu Nam-Ngãi-Định trong chiến dịch tiếp thu hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Anh Sáu tôi thì đã mãn khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức (khóa 4/54, và đi tu nghiệp khóa “commando” ở Watchay – Hải Phòng (Ghi thêm: Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhập khóa ngày 23 tháng 11 năm 1953 (dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại) và mãn khóa ngày 1 tháng 6 năm 1954. Tổng số sĩ quan ra trường hồi đó là 1200)… Chúng tôi phải đợi đến năm 1959 (gần 13 năm sau, đêm mẹ và hai chú tôi ra đi từ làng Kim Bồng, 1947) sau khi anh Năm tôi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 2 Bộ Binh… Năm 1960, anh Năm tôi được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Quảng Nam” (trang 118, 119).

Tác giả chỉ gọi anh chị theo thứ tự trong đình như cách gọi của nhiều gia đình mà thôi. Anh Năm của anh là Đại Tá Võ Hữu Thu, lúc đó ở Quảng Nam có sự tranh chấp đảng phái và tôn giáo nên chọn vị tỉnh trưởng của địa phương, không tôn giáo. Đại Tá Võ Hữu Thu nổi tiếng thanh liêm, cương trực, người dân nơi nầy rất quý mến (sau nầy ứng cử vào Dân Biểu Quốc Hội).

(Ghi thêm: Năm 1960, anh Võ Đại Tôn làm Trưởng Ban 5, Trại Biệt Kích Long Thành, anh thông thạo tiếng Pháp và Anh nên không cần thông dịch viên nên sau nầy họ xuyên tạc, gán anh là hạ sĩ quan thông dịch viên. Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chính phủ Phan Huy Quát thành lập ngày 16/02/1965 nâng Phủ Đặc Ủy Dân Vận Chiêu Hồi thành Bộ Chiêu Hồi. Tổng Trường đầu tiên là Trần Văn Ân (trong tháng 3) kế đến là đến là Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị. Anh Võ Đại Tôn, sĩ quan cấp tá trong QL Việt Nam Cộng Hòa, đã từng được biệt phái ngoại ngạch sang nhiều công vụ dân chính và sau cùng Giám Đốc Công Tác Bộ Chiêu Hồi).

Trở lại với hồi ký “Anh Năm tôi có nhờ ông Quận Trưởng quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ (ông Trần Quốc Thái) đưa đi thám sát vùng làng Cổ Lưu (theo bản đồ của anh Hai tôi vẽ lại)… Ông Quận Trưởng còn cho biết là trước đây trong thời kỳ chiến tranh, khu vực nầy do Việt Minh (Cộng Sản) kiểm soát. Có một đảng viên Cộng Sản tên là Huỳnh Thân làm trưởng ban ám sát, nổi tiếng giết người không run tay trong làng nầy và các vùng lân cận. Trong một cuộc hành quân của Quân Đội Quốc Gia, t5en6 thân bị bắt và hiện còn giam tại lao xá tỉnh Quảng Nam ở Hội An…

Qua hồ sơ lý lịch và những bản cung khai của tên Thân nầy, các cơ quan anh ninh Quốc Gia tại địa phương kiểm chứng, anh Năm tôi cho chuyển đương sự về sở An Ninh Quân Đội để thẩm vấn thêm, Anh tôi đích thân hỏi cung, ghi thêm chi tiết nhiều sự kiện vào hồ sơ tội ác của đương sự” (trang 118, 119).

Theo lời kể của hai ông Minh và Miêng (chủ nhà, ân nhân giúp tá túc) và lời cung khai của Huỳnh Thân, tên sát thủ ghi lại:

“Mẹ và hai chú tôi từ giã nhà hai ông Minh và Miêng vào giữa đêm khuya sau khi vào nhà xin tạm nghỉ chân một lúc, băng qua làng Cổ Lưu để ra đường cái thì bị một nhóm Việt Minh (Cộng Sản) bắt giữ… Cả ba người đã bị tra kháo, đánh đập suốt 3 ngày đêm, bị kết tội là tìm đường đi “liên lạc” với Tây” (trang120) và đề cập đến các thủ đoạn tra khảo quá tàn nhẫn, nhất là người đàn bà đang bị bệnh ho lao trầm trọng.

“Hắn và hai tên thanh niên dẫn ba người ra một bãi cát trống, đêm sáng lờ mờ qua ánh trăng khuyết. Không có đem theo đèn đuốc gì cả, chỉ có cầm theo hai cái cuốc. Hắn bắt mẹ tôi ngồi riêng một chỗ. Còn hai chú thì được lệnh lấy cuốc tự đào một cái hố nhỏ. Xong rồi, khi chú Mười tôi còn đang đứng bên miệng hố, chưa biết làm gì thêm, thì thình lình tên Thân chụp một cái cuốc, phang ngang lưng chú một nhát mạnh làm chú ngã chúi xuống hố, nằm sấp, đau quằn quại.

Trước cảnh tượng bất ngờ như vậy, chú Tám Dương tôi chưa kịp la lên thì hắn đứng phía sau dùng chân đạp chú té xuống hố. Chú tôi vừa cố lóp ngóp bò lên vừa la xin tha mạng. Hắn đứng trên miệng hố cát, cầm cuốc phang xuống, trúng ngay vào trán của chú tôi, làm chú té bật ngửa ra, nằm đè trên lưng chú Mười. Hai người chưa chết.

Rồi, hắn đến xốc mẹ tôi đứng dậy trong khi mẹ tôi đang ôm mặt khóc lớn. Hắn lạnh lùng dẫn mẹ tôi đến cạnh miệng hố, xô xuống thật mạnh, mẹ tôi rớt xuống, nằm sấp trên người chú Tám. Hắn đứng trên hố, cầm cuốc cúi xuống phang mấy nhát thật mạnh vào lưng mẹ tôi, làm cả thân hình mẹ tôi quằn cong lại.

Cả ba người chưa chết, nhưng không còn sức bò dậy được nữa, nằm im trong máu, chung một hố cát cạn. Tên Thân và đồng bọn dùng cuốc xúc cát lấp hố lại rồi bỏ đi. Chôn sống!” (trang 124, 125).

Với tội ác dã man tày trời của tên Huỳnh Thân, nhưng người con của mẹ – Đại Tá Tỉnh Trưởng Quảng Nam –  với cái tâm nhân bản của người Quốc Gia, không đem ra xử bắn mà “Sau nhiều ngày bàn tính trước sự đau khổ cùng cực của gia đình, anh Năm tôi đành phải chuyển tên Thân ra lao xá Thừa Phủ ở Huế để cho chính quyến xét xử theo luật pháp về nhiều tôi trạng giết người khác, không để cho chúng tôi thấy mặt hắn” (trang 130).

Ba quan tài được di chuyển từ làng Cở Lưu về bờ sông Thu Bồn gần Hội An để an táng.

Anh lại chứng kiến hình ảnh quá bi thương: Nước Trôi Mồ Mẹ. Năm 1972, anh từ Sài Gòn ra Quảng Nam trong một chuyến công tác, đứng bên nầy bờ sông Hội An thấy nước lụt dâng lên ngập cả làng Kim Bồng bên kia sông, tưởng chừng nước cuốn trôi luôn mồ mẹ anh nên xúc động làm bài thơ:

“Con quỳ bên ni dòng sông

Bên tê mồ Mẹ!

Trời ơi, nước ngập tràn đồng

Từng khúc xương trôi đau lòng con trẻ.

Con mang trong người thịt xương của Mẹ

Chừ trông nước lụt dâng về

Con còn bên ni, Mẹ mất bên tê,

Sóng bao la vỗ, bốn bề Mẹ mô?

Ngày xưa Mẹ chết, con khóc mắt khô,

Chừ xương Mẹ trôi, hồn con nước lụt.

Con quỳ bên ni, linh hồn tê buốt

Mần răng mà về bên tê chừ, Mẹ ôi!

Quê hương nước ngập tận trời

Hồn con khóc suốt một đời không nguôi!…”

(Trang 142, 144)

Sau khi mẹ anh và hai người chú ra đi biệt tăm, cha và người thân trong gia đình anh còn ở lại làng quê Kim Bồng trong 3 năm, năm tháng đó với anh là tháng này bất hạnh, đau thương nhất, địa ngục của của cuộc đời. Tuổi thơ của anh được mẹ cưng nhất, nuông chìều, lúc nào cũng gần gũi bên mẹ nay mất đi hình ảnh thiêng liêng, cao quý nhất mà anh luôn luôn tơn thờ cùng với cuộc sống tận cùng của xã hợi với bao đắng cay!

“Chúng tôi về lại Đà Nẵng sau gần 5 năm (1945-1950) đi tản cư về làng quê Kim Đồng, vì chiến tranh… Tôi đã mất tuổi thơ và điều đau đớn nhất, còn in sâu vào suốt đời tôi mãi đến hôm nay, là tôi đã mất mẹ!” (trang 183).

Cũng như anh, quê nội tôi ở các làng nơi đây lâu đời, thầy tôi là nhà nho, sùng đạo Phật nên rời quê rất sớm khoảng năm 1920 theo dòng Trường Giang vào Thăng Bình mưu sinh với chữ  nghĩa, lập nghiệp và các anh chị ra đời từ đó. Tuổi thơ học ở Hội An nên thỉnh thoảng tôi ghé về quê nội… cho đến nay hơn sáu thập niên, tôi chưa biết gì về cố hương, ngay nhà thờ Tộc Trần và nơi chốn xa xưa chỉ được biết qua hình ảnh, email của các cháu…

Trong thời kỳ Việt Minh, tôi chưa biết gì, chỉ nghe qua lời kể của anh chị trong gia đình, hình như các làng quê miền Trung dọc theo duyên hải, ở đâu cũng vậy, người dân hoàn cảnh “một cổ hai tròng” qua các năm dài. Tôi đã đọc nhiều về sử liệu trong giai đoạn nầy như quyển Chiến Tranh 1946-1954 (từ chiến tranh Việt Minh – Pháp đến chiến tranh ý thức hệ Quốc – Cộng) của Trần Gia Phụng năm 2018, dày 568 trang. Đây là một quyển sách viết rất công phu với chú thích và hình ảnh trong bộ sách Sử Việt Đại Cương của tác giả trong mấy thập niên ở Canada. Nhưng chưa đọc tác phẩm nào viết lại giai đoạn nầy ở làng quê của 3 miền để am tường. Bút ký lịch sử Một Cơn Gió Bụi của cụ Trần Trọng Kim cho đến nay được đánh giá là tác phẩm quan trọng của giai đoạn lịch sử nhưng tổng quát trên chính trường…

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của tác giả Võ Đại Tôn chỉ đề cập đến quãng thời gian 5 năm (1945-1950) xảy trong gia đình và nơi cố hương với gọng kìm giữa Việt Minh & Pháp. Tháng 6 năm 1948, Hiệp định Vịnh Hạ Long, Pháp đồng ý thành lập Quốc Gia Việt Nam gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên Hiệp Pháp. Hè năm 1949 chính phủ Quốc Gia Việt Nam ra đời, cựu hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng, đất nước có hai chính phủ trong tình trạng tranh tối tranh sáng. Theo sách của Trần Gia Phụng: “Lãnh thổ hai chính phủ không phân biệt giới tuyến rõ rệt. Chính phủ nào cũng tự nhận là chủ nhân chính thống toàn bộ đất nước” (Sđd trang 235)… nên ngoại trừ ở những thành phố lớn, những nơi “xôi đậu”, làng quê bị Việt Minh răn đe, ám sát người theo Quốc Gia và đảng phái đối lập… tình trạng càng căng thẳng và bi đát giữa cuộc chiến ý thức hệ Quốc/Cộng trước khi phân chia hai miền chiến tuyến. Qua sử liệu giúp tôi liên tưởng đến các bài viết đã đọc với bối cảnh, thân phận, nỗi đau thực sự trên quê hương!

Từ lâu, qua thơ văn của anh Võ Đại Tôn mới nhận nhau là đồng hương, khi đọc lại hồi ký của anh Võ Đại Tôn mới biết thêm được gốc gác, gợi lại trong tôi niềm cảm xúc.

Anh viết hồi ký nầy, theo lời chia sẻ, bằng trái tim, cảm xúc tột cùng và theo anh, nhiều lúc mắt nhòe đi trước màn hình computer vì quá xúc động. Lời thật chân tình và thán phục anh có trí nhớ rất tốt.

Có hiểu nỗi lòng, lý tưởng của anh mới hiểu được vì sao khi vừa mới tỵ nạn tại Úc, vợ anh còn trẻ, con thơ nhưng anh đành từ bỏ để chọn con đường gian nguy.

Tôi không đề cập đến vấn đề chính trị ở đây vì trong quá khứ, như đã nói, anh là nạn nhân “đi giữa hai lằn đạn”. Anh đã đi  khắp nơi gặp gỡ, trình bày công cuộc dấn thân cho chính nghĩa. Như đã đề cập, anh không bao giờ nhắc đến thân thế của gia đình, của những người anh trong Quân Lực VNCH mà chỉ nói về bản thân từ khi rời quê hương và trở lại cố hương với cái mộng, nếu gọi là “đội đá vá trời” để “quang phục quê hương”! Vì sao và tại sao, chỉ có trái tim chân chính của anh với tinh thần đầy nhiệt huyết người con họ Võ ở Kim Bồng ảnh hưởng những bậc tiền nhân ngày xưa của Quảng Nam đã hy sinh cho đại cuộc.

Sự dấn thân cho quê hương của anh Võ Đại Tôn đã trả cái giá quá đắt từ lao tù và cả thị phi, từ tấm lòng chân chính của bản thân đến sự hoài nghi của nhiều người và sự đánh phá của kẻ thù… nhưng với tôi, anh vẫn là chiến sĩ, người lính của QLVNCH.

Với bút hiệu Hoàng Phong Linh qua các bài thơ trước năm 1975. Sau nầy với các thi phẩm Lời Viết Cho Quê Hương, Đoản Khúc Người Ra Đi và Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy, nhà xuất bản Bất Khuất ấn hành năm 1992, dày 119 trang.

Một số bài thơ của anh đã được phổ nhạc, trong đó có bài Mẹ Việt Nam Ơi! Chúng Con Vẫn Còn Đây, sáng tác năm 1972 được Nguyễn Ánh 9 phổ thành ca khúc vào tháng Giêng 1975. Ca khúc nầy được các ca sĩ trình bày, phổ biến rộng rãi vào thời điểm đó. Ở hải ngoại, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh khi lưu diễn khắp nơi đều mở đầu với ca khúc nầy. Bài thơ và ca khúc nầy cho đến nay vẫn được người Việt tị nạn hải ngoại coi như lời tâm niệm.

Lời kết trong hồi ký của anh: “Tôi đã mất Tuổi Thơ và điều đau đớn nhất in sâu vào suốt cuộc đời tôi mãi đến hôm nay là tôi đã mất Mẹ” niềm đau và nỗi lòng của người con, chiến sĩ Quốc Gia bị đánh mất quê hương!

*

Trong những năm qua, anh nằm trong bệnh viện, thỉnh thoảng hai anh em email với nhau, anh không than cho bệnh tật bản thân vì đã một đời cống hiến cho quê hương và đã trải qua bao nhiêu nghiệt ngã, đau thương nhưng than cho tuổi già đau yếu nên không được theo đuổi giấc mơ cho quê hương được tự do, thanh bình!

Nay anh đã ra người thiên cổ! Vĩnh biệt Chiến Hữu Võ Đại Tôn! Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến anh.

Little Saigon 5/2025

Vương Trùng Dương




ĐỖ THÔNG MINH – THƯ ĐÔNG KINH -15/5/2025




MEMBER LIST (TEST)






    KIỀU MỸ DUYÊN – NGÀY CỦA MẸ




    VĂN THI SĨ CHINH NGUYÊN, NHẬN ĐƯỢC BẰNG KHEN, VINH DANH NHIỀU NHẤT! TRONG MỘT NGÀY! 

    Hôm qua, là ngày bận rộn cho Tang quyến Ông Chinh Nguyên và cho Cơ sở thi văn Lạc Việt, vì tới tấp nhận được bằng khen, sáng trên Quận, chiều ở Thành phố.

    Trong Một Ngày! Ông Chinh Nguyên, Văn Thi Sĩ Việt, Đã Nhận Được Bằng Vinh Danh Nhiều Nhất! Từ Cấp Thành Phố, Đến Cấp Quận Hạt. Trước Đó Chính Quyền Cấp Tiểu Bang, Cũng Đã Gởi Nhiều Bằng Khen Đến Tang Gia Và VTLV.

    Khắp Nơi Ghi Nhận, Sự Đóng Góp Của Ông.

    Vào đầu tháng 4 này, nhà văn Chinh Nguyên, đã giã từ gia đình cùng bạn bè, Văn nghệ sĩ bốn phương, tìm về dưới chân Chúa, để lại bao niềm thương tiếc cho thành viên Văn Thơ Lạc Việt cùng bằng hữu. Ông là nhân vật đã tiếp bước nhà văn Đông Anh trong 13 năm, với chức Chủ Tịch VTLV, lèo lái con thuyền vững vàng trên Dòng Sông Văn học Nghệ Thuật Việt Nam nơi đất Mỹ, cụ thể là Vùng Thung Lũng Hoa Vàng, Bắc California. Những thành quả tốt đẹp về con đường gìn giữ bản sắc Dân Tộc đó, đã được chính quyền địa phương công nhận và tặng bằng khen thưởng.

    Giám sát viên Betty Dương, đã đề xuất và Hội Đồng Giám Sát Quận hạt Santa Clara, đồng thuận cấp bảng Vinh Danh cho Cố Nhà Văn Chinh Nguyên.

    Sáng Thứ Ba, ngày 22 tháng 4 năm 2025, hồi 9.30, tại Phòng Họp Board Chambers Quận hạt Santa Clara, số 70 W.Hedding, Trong cuộc họp của Hội Đồng Giám Sát Hạt Santa Clara, với phần Adjournment in Memoriam, Bà Betty Dương, thay mặt Hội Đồng, trao Bảng Vinh Danh cho Bà Thanh, Vợ của người quá cố Chinh Nguyên, cùng gửi lời chia buồn sâu sắc đến Gia đình Văn Thơ Lạc Việt. Giây phút cảm động nhất, cả Hội Đồng Giám Sát, đều rời khỏi ghế, xuống bắt tay chia buồn, chụp hình chung với Tang gia và VTLV.

    Ông Lê Văn Hải đương kim Hội Trưởng VTLV và Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, đã vắn tắt, bày tỏ Lời Cám ơn đến Chính quyền và mọi người tham dự.

    Tại Hội Đồng Thành Phố San Jose.

    Chiều cùng ngày, trên 20 thành viên và thân hữu đã tham dự, trong giây phút trang trọng, Thành phố vinh danh người quá cố. Anh Hội trưởng, thay mặt Tang quyến và VTLV, có lời cám ơn Hội đồng thành phố như sau:

    “Cảm tạ hội đồng thành phố San Jose, đã vinh danh Ông Chinh Nguyên, cựu chủ tịch hội văn thơ lạc việt, 13 năm. Ông là một nhân sĩ, chiến sĩ văn hóa, có nhiều đóng góp tích cực trong cộng đồng người Việt chúng tôi, tại vùng Bay Area, California, nói riêng, và cộng đồng người Việt Hải Ngoại nói chung. Sự vinh danh của Ông hôm nay, khuyến khích người lớn giữ gìn ngôn ngữ, “tiếng Việt còn, nước Việt còn!” Khuyến khích con em chúng tôi, vừa hòa đồng trên đất Mỹ, vừa giữ bản chất tốt đẹp của người Việt. Một lần nữa, tôi xin được thay mặt Hội, thay mặt Tang gia cảm tạ buổi vinh danh này. Cám ơn nhiều!”

    Sau đây là một vài hình ảnh phần trao Bảng Vinh Danh cho ông Chinh Nguyên, tại Quận hạt và Thành phố, xin được Chia sẻ Cùng Quý Vị và Các Bạn.

    Thân ái

    Mpd&lvH




    ÁC PHẨM SONG NGỮ PLEASE ENTRY-VÀO ĐI TÌNH ƠI!

    Phong Thu Nguyễn phỏng vấn Nv Chinh Nguyên




    Cáo Phó




    Buổi Ra Mắt Sách của Tôn Nữ Áo Tím




    CHÙA THẠNH ĐỨC, THÀNH PHỐ KONTUM

    PHÁT CƠM CHAY TỪ THIỆN CHO BỆNH NHÂN NGHÈO




    Bông Hoa Cẩm Chướng Đã Bay Lên Trời

    Lời mở đầu

    Quý vị có biết ai là cô sinh viên Sài Gòn ra Bắc học y khoa đã cất tiếng hát lần đầu tiên bài tiếng gọi sinh viên sau này trở thành bài quốc ca VNCH. Cô Phạm thị Bình tức bà bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đã qua đời ngày 11 tháng 11 năm 2012 tại Palo Alto, CA hưởng thọ 90 tuổi.

    Hai tháng trước tôi và anh Phạm phú Nam có lên nhà quay đoạn phim chị Bình kể lại chuyện hát bài ca lịch sử tại nhà hát lớn Hà Nội. Đoạn phim này sẽ là phần quan trọng về dữ kiện lịch sử bài quốc ca của miền Nam được đưa vào DVD Hồn Việt của Việt Nam Film Club phát hành 17 tháng 11-2012.

    Tang gia cho biết sẽ phát tang vào ngày thứ bẩy 24 tháng 11-2012 . Các chi tiết sẽ được loan báo.

    Trong niềm thương tiếc một nữ lưu có nhiều liên quan đến lịch sử, tôi xin gửi đến quý vị bài viết về bà Nguyễn Tôn Hoàn 4 năm trước 2008 vào dịp chúng tôi mời bà lên sân khấu 2 lần để cùng hát bài ca đã trở thành quốc ca. Trong bài viết này chúng tôi có nhắc đến quý vị Nguyễn bá Cẩn, Vũ văn Ước đều đã ra đi. (Ghi Chú Xin chia buồn cùng tang quyến và chị Ngô Quang Thiều. Ông bà Hoàn là cậu mợ của Ms. Lạc Ngô.)

    Sau đây là bài viết tháng 3-2008
    BÔNG HOA CẨM CHƯỚNG CỦA NGÀY VĂN NGHỆ LỊCH SỬ NGÀN NGƯỜI VIẾT
    Văn nghệ tháng Ba Foothill 2008
    Văn nghệ tháng Tư San Jose 2008
    Ai sẽ hát bài quốc ca lịch sử.
    Ai sẽ là các nam ca sĩ hát phụ họa.
    Ca sĩ nào là hoa cẩm chướng 86 năm tuổi
    Giao Chỉ San Jose giới thiệu tháng 3-2008

    Chiều ngày chủ nhật 16 tháng 3 năm 2008, khi mở màn buổi trình diễn văn nghệ dành cho cựu sinh viên Việt Nam tại sân khấu Foothill ai là người sẽ hát bài quốc ca lịch sử: “Này sinh viên ơi…”

    Hình ảnh minh họa

    Screenshot 2025-04-07 142013.png

    Bà quả phụ Nguyễn Tôn Hoàn, nhũ danh Phạm thị Bình, cũng vừa từ trần.

    Xin trả lời. Ban tổ chức sẽ mời những ca sĩ và các sinh viên đã hiện diện vào một ngày lịch sử năm 1942 tại Hà Nội, cách đây 66 năm, khi bài Tiếng gọi sinh viên đã được trình diễn lần đầu tiên. Quí vị này hiện nay đã trên 80 tuổi. Sẽ cùng đứng lên cất tiếng gọi sinh viên nay đã trở thành tiếng gọi công dân. Và thêm một lần nữa, bài quốc ca VNCH sẽ được chính thức hát mở đầu cho buổi văn nghệ : “Lịch sử ngàn người viết “ vào chiều chủ nhật 6 tháng 4-2008 tại San Jose. Quí vị có thể hỏi rằng những vị niên trưởng đó là ai. Đó là bông hoa cẩm chướng Sài Gòn cùng với sự hiện diện của những ch àng trai của thập niên 40. Chúng tôi mời niên trưởng Nguyễn Khánh, Lâm lễ Trinh của miền Nam và Vũ văn Ước, Trần đỗ Cung của miền Bắc cùng tham dự. Để độc giả có thể hiểu rõ ý nghĩa của câu chuyện hơn nửa thế kỷ đã qua, chúng tôi xin nhắc lại đầu đuôi như sau về người nữ sinh viên đã hát bài quốc ca lần đầu tại thủ đô Hà Nội.

    Vào đầu tháng 5 năm 2007, ban tổ chức ra mắt sách của luật sư Lâm Lễ Trinh tại San Jose có nhã ý mời đại tướng Nguyễn Khánh lên mở đầu diễn đàn. Vị quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa đã nhường danh dự cho một phụ nữ. Đó là bà bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, nhũ danh Phan thị Bình. Bà cũng là một cư dân lâu năm tại Bắc California ít có dịp đến sinh hoạt với cộng đồng. Nhưng thực sự đây là một phụ nữ đã tham dự hoạt động đảng phái chính trị một thời gian rất dài. Bà tham gia phong trào sinh viên kháng Pháp đầu thập niên 40 cho đến nay vẫn còn là đảng viên với vai trò cố vấn. Thời gian hoạt động đã ghi lại đủ 66 năm, suốt chiều dài của một người từ lúc sinh ra cho đến lúc về hưu.

    Trong 30 năm qua, người Việt quốc gia tha hương vẫn ôm mối u hoài, vẫn còn giữ mãi lá cờ vàng và bài quốc ca của miền Nam. Nhưng mấy ai biết được rằng những giọng ca nữ nào đã cất tiếng lần đầu tiên bản Tiếng Gọi Sinh Viên của một thời toàn dân đang chuẩn bị đứng lên chống Pháp.

    Từ thuở xưa rất xa, trong Nam chưa có trường đại học, các thanh niên nam nữ của Sài Gòn muốn học thêm phải ra Hà Nội.

    Thế chiến đệ nhị đang đi vào những giai đoạn cuối. Đồng Minh phản công từ Âu Châu qua Thái Bình Dương. Nhạc sĩ Nam Kỳ Lưu Hữu Phước soạn bài ca tiếng gọi sinh viên: “Này sinh viên ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi…”

    Thanh niên sinh viên Việt Nam hàng ngày theo dõi tin tức chiến cuộc trên thế giới và nao nức muốn đứng lên làm lịch sử.

    Vào một buổi sáng của năm 1942, có hai cô sinh viên Sài Gòn đứng giữa khuôn viên đại học Hà Thành cất tiếng hát bài ca bất hủ: Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi.

    Hiện diện trong những giây phút lịch sử đó có những chàng sinh thanh niên như Lâm lễ Trinh, Nguyễn Khánh,Trần đỗ Cung và cả cậu thiếu niên Hà nội Vũ văn Ước…Hai nữ sinh viên Sài Gòn lúc đó ở tuổi 19 và 20. Một người là chị của dược sĩ Nguyễn Văn Bẩy của San Jose. Bà chị hiện còn ở miền Nam California. Và một cô gái nhỏ bé khác là Phan Thị Bình của miền Bắc California. Cô sinh viên đứng lên đáp lời sông núi đó sau này đã thành hôn với sinh viên y khoa năm thứ sáu là anh Nguyễn Tôn Hoàn. Vợ là sinh viên phụ khoa với bằng cấp cô đỡ quốc gia và chồng là y khoa bác sĩ. Nhưng thời cuộc chuyển vần, thế chiến đệ nhị chấm dứt. Cuộc kháng chiến mùa thu bắt đầu, cả hai vợ chồng bác sĩ chẳng làm nghề y khoa mà đã cùng đi theo con đường cách mạng.

    Lúc đó ở ngoài Bắc, Phạm Duy viết bài ca kháng chiến đầu tiên: Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt. Vợ chồng Bác Sĩ Hoàn bắt đầu hoạt động cách mạng trong Nam. Cuộc đời ba chìm bẩy nổi của một gia đình sinh viên Nam Kỳ đứng lên đáp lời sông núi đã đưa đẩy hai vợ chồng trẻ lưu lạc nơi đất khách quê người. Trải qua bao nhiêu năm từ Pháp qua Mỹ. Đến thời tướng Nguyễn Khánh cầm quyền thì bác sĩ Hoàn đã có cơ hội về Việt Nam giữ chức vụ Phó Thủ Tướng. Nhưng sau đó việc tham chính cũng không được lâu dài, ông bà trở lại Hoa Kỳ và làm người dân lưu vong trước khi miền Nam thất thủ.

    Sau cuộc phong ba đổi đời tháng 4 năm 1975, những người Việt di tản đến miền Bắc Cali đôi khi có dịp ghé tiệm ăn Mekong trên con đường chính của thành phố Mt.View sẽ gặp ông bà Nguyễn Tôn Hoàn. Đôi vợ chồng sinh viên ngày xưa vẫn còn hoạt động chính trị bền bỉ một lòng với đất nước. Bây giờ lại có thêm thành tích 19 năm làm ăn trong lãnh vực nhà hàng.

    Những chính khách Việt Nam không có duyên số với đất nước như bác sĩ Hoàn bỏ nước ra đi tháng trước thì tháng sau lại đến lượt đại tướng Nguyễn Khánh ra đi. Ông phó thủ tướng Hoàn đi mở nhà hàng ở Mỹ thì ông quốc trưởng Khánh cũng đi mở nhà hàng bên Tây. Cho đến năm 1975, vị thủ tướng cuối cùng là ông Nguyễn Bá Cẩn đến Bắc Cali đã nhận job trông nom việc điều hành một cây xăng. Đôi khi cây xăng thiếu người thì chủ tịch hạ viện đồng thời là thủ tướng cũng sẵn sàng đứng giữa trời mà đổ xăng full serve cho thiên hạ.

    Vào cái thời đó các cây xăng đều phải có người phục vụ. Lâu lâu bác sĩ phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn chạy đến đổ xăng của thủ tướng Nguyễn bá Cẩn để gọi là có thêm chút tình đồng hương. Ông Phó đi đổ xăng bên ông Chánh để rồi vào buổi chiều cuối năm, Anh chị thủ tướng đến ăn ở nhà hàng anh chị phó thủ tướng ở nơi đất khách quê người. Những nhà chính trị, những chính khách cao cấp và cao niên của một thời oanh liệt gặp lại nhau để ngồi nói chuyện Nam Kỳ. Cho đến mùa quốc hận oan nghiệt năm nay qua các đề tài Về nguồn và Thức tỉnh của luật sư Lâm Lễ Trinh, những người muôn năm cũ lại có dịp gặp nhau ở San Jose.

    Xem ra, vị đại tướng quốc trưởng nổi danh một thời lại là người ít tuổi nhất. “Chàng”vào năm 2007 chỉ mới có 83 mùa xuân đã lái xe từ Sacramento xuống. Hỏi rằng thế ai ngồi bên cạnh, niên trưởng Nguyễn Khánh trả lời rằng trước sau thì vẫn có một bà vợ Bắc Kỳ từ thời còn là sĩ quan cấp úy ở Hà Nội. Bây giờ nàng vẫn là người quản giáo giữ cho chàng luôn luôn Thức tỉnh mà Về nguồn. Đó là tên các tác phẫm của tác giả Lâm Lễ Trinh, dù tung hoành ngang dọc với vai trò phóng viên của chính trường trong buổi hoàng hôn, niên kỷ cũng đã 84. Nhưng tất cả đều thua bà chị phu nhân của bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn vào năm 2007 đã 85.

    Chiều thứ bẩy khi lên nói chuyện trong buổi ra mắt sách đầy hồi tưởng của lịch sử, Bác gái Nguyễn Tôn Hoàn như lửa đốt trong lòng. Tối thứ sáu đứa cháu gái xinh đẹp của bà ngoại đi cắm trại đã gặp tai nạn bị phỏng cấp ba cháy cả hai tay.

    Bà ngoại vừa trông cháu nhỏ cho cả nhà túa vào nhà thương mà lại còn phải soạn bài nói chuyện. Ngồi giữa hội trường bàn chuyện lịch sử mà lòng bà ngoại vẫn còn xao xuyến vì đứa cháu gái bị tai nạn.

    Từ bà ngoại Nguyễn Tôn Hoàn, cành hoa cẩm chướng 85 năm, người phụ nữ một đời làm cách mạng khi bước lên diễn đàn đã trở lại thành cô Phan Thị Bình của 65 năm trước tại Hà Nội. Cô sinh viên của nhà thương miền Bắc ngày xưa, tóc xanh xõa trên vai đứng hát bài ca kêu gọi tuổi trẻ lên đường.

    Sáu mươi lăm năm sau, “nàng” lại một lần nữa lên tiếng kêu gọi tuổi trẻ ở quê nhà Việt Nam hãy đứng lên làm lịch s ử cho thế kỷ thứ 21.

    Cái bục thuyết trình hội trường hơi cao. Cậu Nguyễn Khánh hào hoa phong nhã đứng lên lấy tay đỡ cho cô Phan thị Bình bước xuống. Hình ảnh như vẫn còn không khí Hà nội hơn 60 năm về trước.

    Trong số các phụ nữ Việt Nam ở miền Bắc California ít ai trải qua cuộc đời cách mạng với sinh hoạt đảng phái lâu dài hơn bà Nguyễn Tôn Hoàn. Mười chín tuổi đã đi theo chàng và đi theo cách mạng. Suốt cuộc đời nổi trôi đất khách quê người, trải qua 19 năm lấy nhà hàng ẩm thực để làm sinh kế lo cho chồng, cho con và cho cháu. Bây giờ bà già 85 với chiếc gối kê ở chỗ ngồi, một cái gối dựa lưng vẫn còn lái xe van Hoa Kỳ to tướng để ngược xuôi từ Los Altos ở miền bắc xuống Los Angeles ở miền Nam thăm cháu và họp đảng. Bà già vẫn thường lái xe tỉnh queo.

    Nhưng hôm nay thì tấm lòng cách mạng sắt đá xem chừng sao xuyến nhiều lắm rồi. Hai cánh tay đứa cháu gái bị phỏng nặng. Biết bao lần sẽ phải giải phẫu thay da. Ôi những đứa con gái, những đứa cháu gái cưng của bà. Gia đình Việt Nam ở nước Mỹ mà nói chuyện toàn bằng tiếng Tây. Con với cháu vẫn la rầy bà ngoại:

    “A lô” Măng tưởng là măng còn trẻ lắm sao, Măng đi họp gì mà 2 giờ sáng chưa về “

    Mùa lễ Mothers’ Day năm 2007 đứa cháu trưởng nữ của con gái bà nằm trong nhà thương. Ai sẽ mua tặng bà ngoại cành hoa carnation màu hồng thắm.

    Một ngày của mẹ đầy hệ lụy đã làm nhỏ lệ cho cành hoa cẩm chướng 85 tuổi.

    “Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi, đồng lòng cùng đi..” Sông núi hôm nay là sông núi nào… Ở bên kia chân trời con sông Cửu long Giang rồng thiêng chín khúc nay đã cạn giòng. Ở bên này bờ biển Thái bình Dương chúng ta chỉ còn rặng núi Rocky với con sông Sacramento mùa này cũng chẳng còn đủ nước cho vùng Bay. Sau mùa lễ của mẹ năm nay, bông hoa cẩm chướng 85 năm sẽ lại một mình lái xe van tất tả trên xa lộ số 5 xuống miền Nam thăm con cháu. Nếu có ai không biết mà hỏi thăm thì chỉ làm bà nhớ lại anh sinh viên y khoa năm thứ 6 rất đẹp trai tên là Nguyễn tôn Hoàn. Sau ngày của Mẹ là đến ngày của Cha. Hoa của Mẹ là hoa Cẩm Chướng, Carnation. Hoa của cha là hoa Hồng. Còn sống thì mầu đỏ mầu hồng, đã đi xa thì mầu trắng. Bà ngoại sẵn sàng đi xa vạn dặm để nhắc nhở con cháu về một bông hồng trắng cho người tình bây giờ đã đi thật là xa….

    Hồng trắng đã ra đi, bây giờ
    Đóa hoa cẩm chướng cũng bay về trời

    Giao Chỉ San Jose.




    Tưởng niệm 50 năm Saigon mất tên




    KIỀU MỸ DUYÊN – Chương Trinh CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.




    VÕ ĐẠI TÔN – CHÚT TÀN HƠI VẪN GỌI MẸ VIỆT NAM




    THƯ VIỆN VIỆT NAM KỶ NIỆM 26 NĂM THÀNH LẬP

    KIỀU MỸ DUYÊN

    Phóng viên Phạm Khanh phỏng vấn Kiều Mỹ Duyên nhân ngày kỷ niệm Thư Viện Việt Nam 26 năm thành lập, tại 10872 Westminster Ave, Suite 214- 215 Garden Grove, CA 92843. (Ảnh: Christina Lê)

    Bác sĩ Võ Đình Hữu và giáo sư Dương Văn Sum (Ảnh: Christina Lê)

    Ông Du Miên đang ký tặng sách “Little Saigon Chronicles”. (Ảnh: Christina Lê)

    Ký giả Du Miên, cô Thái Việt Phan- Nghị Viên thành phố Santa Ana, bác sĩ Võ Đình Hữu và nhà văn Phạm Gia Đại. (Hình từ trái sang phải) (Ảnh: Christina Lê)

               

    Đông đảo đồng hương đến tham dự buổi lễ kỷ niệm thư viện Việt Nam 26 năm thành lập. (Ảnh: James Zoll)

    Đông đảo đồng hương đến tham dự buổi lễ kỷ niệm thư viện Việt Nam 26 năm thành lập. (Ảnh: Christina Lê)

    Cô Khánh Lan (ngồi hàng đầu bên phải) (Ảnh: Christina Lê)

    Cô Mỹ Linh, xướng ngôn viên đài truyền hình VNA TV 57.3 (Ảnh: Christina Lê)

    Nghị Viên thành phố Westminster- ông Mark Nguyễn, Thị Trưởng thành phố Westminster- ông Nguyễn Mạnh Chí và ông Vũ Hải (Hình từ trái sang). (Ảnh: Kiều Mỹ Duyên)

    Nhà báo Du Miên đang kể lại quá trình hình thành và phát triển của Thư Viện Việt Nam trong 26 năm qua. (Hình: Kiều Mỹ Duyên)

    Chúa Nhật, ngày 30/3/2025, thư viện Việt Nam kỷ niệm 26 năm thành lập, được tổ chức lúc 11 giờ sáng nhưng từ 10 giờ đồng hương đã đến sắp hàng để được nhà báo Du Miên- ký tặng sách. Sách viết về Little Saigon bằng tiếng Anh, sách tiếng Việt đã phát hành rồi. Ấn bản tiếng Anh “Little Saigon Chronicles” của tác giả Ngọc Hà và Du Miên giúp những người trẻ sinh ra và lớn lên ở Mỹ hay ở các quốc gia nói tiếng Anh như Úc, Canada, Tân Tây Lan, v.v., có thể đọc hiểu được về lịch sử hình thành Little Saigon. Năm 1975, Việt Cộng chiếm Sài Gòn, xóa tên Sài Gòn, chúng ta đã dựng lại được Little Saigon ở hải ngoại, quyển sách giới thiệu lịch sử Little Saigon với nhiều hình ảnh giá trị từ 1975 đến 2024. Đông đảo đồng bào tham dự gồm thế hệ thứ nhất,  người trẻ thế hệ thứ hai, và thứ ba, …    

                Thư viện Việt Nam được thành lập vào tháng 9/1990 do nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, bác sĩ Võ Trọng Di, giáo sư Trần Lam Giang, nhà văn Nguyễn Đức Lập và nhà báo Du Miên. Đồng hương không quên những người có tâm huyết trong ban chấp hành thư viện Việt Nam đã qua đời như nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, nhà văn Nguyễn Đức Lập, giáo sư Trần Lam Giang. Hiện nay, chỉ còn hai người trong ban chấp hành còn hiện hữu là nhà báo Du Miên và bác sĩ Võ Trọng Di.

                Nhiều đồng hương khắp nơi đem sách, báo, cổ vật đến tặng thư viện với  hơn 60 ngàn cuốn sách, một số cổ vật rất quý hiếm như đồng tiền cổ cách nay 600 năm, bộ 5 bức tranh của một cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam làm bằng bột giấy diễn tả phong cảnh quê hương Việt Nam, bộ tiền Việt Nam thời các Vua triều Nguyễn và thời Việt Nam Cộng Hòa, tem thư Việt Nam Cộng Hòa và nhiều cổ vật quý hiếm khác.

                Thư viện vẫn sinh hoạt đều đặn: ra mắt sách, họp hội, văn nghệ, thuyết trình vào cuối tuần. Ngày thường, thư viện vẫn mở cửa cho đồng hương đến đọc sách, báo, v.v.

                Đồng hương rất quan tâm đến văn hóa Việt Nam, nên ngày kỷ niệm 26 năm thành lập thư viện, quan khách và đồng hương đến rất đông như: giáo sư Dương Văn Sum, ông Nguyễn Văn Liêm, nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn, bác sĩ Võ Đình Hữu, Dân Biểu Liên Bang- ông Derek Trần, Thị Trưởng thành phố Westminster- ông Nguyễn Mạnh Chí, ông Mark Nguyễn- Nghị Viên thành phố Westminster, ông Nguyễn Đức Luận- Chủ Tịch Hội Ái Hữu cựu sinh viên chiến tranh chính trị Đà Lạt, ông Nguyễn Văn Chuyên, ông Phạm Đình San, cô Cindy Trần- Nghị Viên thành phố Garden Grove, cô Thái Việt Phan- Nghị Viên thành phố Santa Ana, nhà văn Phạm Gia Đại, ông Bổng và cô Khánh Lan- ca sĩ tài tử nổi tiếng làm việc xã hội. Có những em nhỏ thế hệ thứ 3 tham dự kỷ niệm 26 năm thành lập thư viện Việt Nam như cháu Nhật Anh Bùi học lớp 3 trường Demille, cháu nói tiếng Việt thông thạo, lễ phép, cháu nâng niu quyển sách trên tay, cháu rất thông minh, dễ thương.

                Phóng viên đài truyền hình như rừng, gồm có ông Lê Hoan- chủ đài truyền hình 57.3, và cô Mỹ Linh, Phan Đại Nam và Trần Vũ đài SBTN, Jimmy đài Little Saigon CaliTivi, đạo diễn Nguyễn Ngọc Chuấn cũng là tài tử trong phim “Vì tôi là linh mục”. v.v.

                Buổi lễ kỷ niệm 26 năm thành lập thư viện Việt Nam rất thành công vì đồng hương đến rất đông đảo và ai ra về cũng cầm trên tay quyển sách.    Đồng hương nào cũng chúc thư viện sẽ phát triển mạnh mẽ để cho người già, người trẻ có sách để đọc.

                Người Việt còn, tiếng Việt còn, hy vọng khắp nơi trên thế giới, nơi nào có người Việt, nơi đó có thư viện Việt Nam. Thư viện là nơi mà độc giả muốn sách nào sẽ có sách đó, sách có từ ngàn năm trước vẫn có lưu trữ ở thư viện, truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, Chinh Chiến Điêu Linh, v.v., vẫn có trong thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ.

                Thư viện là nơi để mọi người đến đọc sách. Ngoài giờ làm việc, thư viện là nơi để mở mang trí tuệ, người thích đọc sách thường tìm đến thư viện, thư viện là nơi thanh bình nhất. Muốn tìm hiểu lịch sử, muốn đọc sách của tác giả nào cũng có. Hy vọng người tị nạn Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới quan tâm đến tiếng Việt, đến văn hóa Việt Nam, mở thư viện, duy trì thư viện Việt Nam để cho con cháu đời sau.

                Quý đồng hương muốn mua sách, xin liên lạc nhà báo Du Miên (714) 657-5500 hoặc đến Thư Viện Việt Nam, địa chỉ 10872 Westminster Ave, Suite 214-215, Garden Grove, CA 92843.

    Orange County, 31/3/2025

    KIỀU MỸ DUYÊN

    (kieumyduyen1@yahoo.com)




    VẠN NGƯỜI NGHĨ ĐẾN NGƯỜI QUA ĐỜI