Thư Mời – RMS Kiều Mỹ Duyên




BÁT BÚN RIÊU
Từ Auclair, theo đường Liên Tỉnh 53, ngược lên mạn Bắc là Salon Springs thì rẽ phải theo Hương Lộ “P” nhỏ hẹp ngoằn ngoèo lăn mình giữa những khu rừng phong ngút ngàn trùng điệp, tiếp tục thêm vào dăm vòng qua những lưng đồi thoai thoải dốc là tới thung lũng Nivagamond, Louisiana, trạm đặc khu của người da đỏ.
Trời vào Thu, rừng phong đã thay chiếc áo choàng màu hồng lựu. Hơn nửa giờ lái xe, không một bóng người ngoài tiếng gió thở dài, tiếng lá khô sào sạc, tiếng rừng cây trăn trở, không còn một âm thanh nào khác. Tôi cảm tưởng như lạc vào 1 hành tinh xa lạ không sinh vật. Đồi lại đồi liền liền tiếp nối nhau sau cùng tới Nivagamond. Nơi đây có Viện Dưỡng Lão Lakeview mà theo lịch trình thì mỗi năm tôi phải đến một lần để thanh tra y vụ.
Lần đầu tiên đến đây nên tôi không khỏi ngỡ ngàng tưởng dù hẻo lánh đến đâu ít ra cũng có xóm làng, một giáo đường nho nhỏ hay vài ngôi nhà be bé xinh xinh nhưng tuyệt đối không. Ngoài rừng phong đỏ lá chỉ có hồ nước trong veo xanh ngắt màu trời. Trung Tâm An Dưỡng Lakeview như tên gọi ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng trên khu đất rộng.
Quay lưng vô rừng thông nhìn ra mặt hồ phẳng lặng như gương, tôi ngẫm nghĩ, nơi đây có thể là điểm nghỉ ngơi lý tưởng cho những người quanh năm lao lực hoặc những ai muốn tìm sự quên lãng, còn chọn làm viện dưỡng lão thì hơi tàn nhẫn.
Tuổi già vốn đã cô đơn mà nơi đây lại hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài. Trừ y tá, y công và vài chuyên viên dịch vụ thì chẳng còn ai, người nào cũng bận bù đầu, rảnh rỗi đâu mà tán gẫu với những người già. Nhất là sau buổi cơm chiều khi hoàng hôn buông xuống, ai nấy đều đã về nhà thì bóng đêm chắc phải thật dài.
Vừa đẩy cửa bước vào tôi đã giật mình vì gặp một hàng 6 chiếc xe lăn đang dàn chào. Trên mỗi xe là 1 lão ông hoặc lão bà độ bảy, tám mươi, mái tóc bạc phơ, mắt hom hem sau làn mục kính. Có người trông còn sáng suốt, người thì như xác không hồn. Họ chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như quan sát một quái nhân đến từ hành tinh khác. Có lẽ vì tôi là người Á Châu duy nhất tới đây chăng? Cô y tá hướng dẫn như đoán được cảm nghĩ của tôi bèn nhoẻn miệng cười:
– Ông ngạc nhiên lắm sao?
Tôi ngập ngừng:
– Bộ họ biết hôm nay tôi đến đây nên hiếu kỳ muốn trông thấy mặt tôi.
Cô y tá khẽ lắc đầu:
– Mỗi ngày đều như vậy, sáng nào họ cũng ngồi đó để mong chờ.
– Chờ thân nhân tới đón?
– Dạ thưa không.
– Vậy hay là chờ bạn bè đến thăm?
Cô y tá phì cười pha trò:
– Ông nghĩ già ngần ấy tuổi mà còn hẹn bạn gái sao?
– Không, ý tôi là bạn thông thường đấy.
– Nếu những người bạn ấy chưa nằm xuống thì cũng đang ngồi xe lăn như họ tại một viện dưỡng lão nào đó thôi, rồi ngậm ngùi họ mong chờ những hình bóng không bao giờ đến, xa xôi trong ký ức.
Rồi cô khẽ thở dài:
– Tôi làm việc ở đây hơn 10 năm, đã chứng kiến nhiều hoạt cảnh, tháng nào cũng có người mới tới và cũng có người vĩnh viễn ra đi.
– Chắc ít nhiều, lòng cô cũng có phần nào xao xuyến, phải không cô?
– Thật tình mà nói lúc đầu thì có đấy, nhưng mà bây giờ tôi đã quen rồi.
– Tôi nghĩ là cô rất mẫn cảm?
– Chỉ là do tập luyện thôi chứ bằng không thì sẽ ngã quỵ đó ông!
Chúng tôi vào thang máy lên tầng trên, một cụ già chống gậy tập tễnh vô theo. Cô y tá nhìn ông ta và hỏi:
– Ông đi lên thang máy hay là đi xuống?
Cụ đáp như cái máy, giọng nói khò khè yếu ớt khó nghe:
– Đi.. đi xuống, rồi đi.. đi lên, rồi đi.. đi xuống , đi lên.
Tôi nhận thấy ông ta chẳng nhìn ai cả, ánh mắt không hồn đang hướng về phương trời vô định. Dường như quá quen thuộc với những hiện tượng này, cô y tá thản nhiên nói:
– Vậy thì xin ông bước ra chờ chuyến sau sẽ có người đi với, chúng tôi đang bận.
Cô bèn nắm tay dẫn ông cụ ra ngoài rồi lạnh lùng khép cửa. Tôi thắc mắc: – Nếu ông ấy lại tiếp tục bấm nút thang máy thì sao cô?
– Chúng tôi đã lượng trước được điều ấy cho nên tất cả nút cắt điện trong viện đều gắn rất cao người già không thể với tới.
– À thì ra vậy!
Công tác xong trời cũng về chiều, tôi từ giã, cô y tá tiễn tôi ra cửa. Đoàn xe lăn vẫn còn dàn chào.
Chợt trông thấy trong góc tối 1 ông lão độ trên dưới 80 đang cô đơn ngồi bất động trên xe lăn như pho tượng cũ. Điểm khác biệt khiến tôi chú ý là ông ta không phải người da trắng và cũng không hoà nhập vào toán dàn chào. Da ông màu đồng nâu có nhiều vết nhăn đậm nét thời gian hằn trên mặt. Mái tóc bạc phơ rủ loà xoà trên trán, vóc người bé nhỏ, mắt hom hem trân trối nhìn tôi như muốn nói điều gì. Tôi đoán chừng ông là thổ dân da đỏ. Hiếu kỳ tôi hỏi cô y tá:
– Và vị dưỡng lão này cũng là người Indian hở cô? Tôi nghĩ đó là trách nhiệm của chính phủ liên bang chứ?
Cô ta ngạc nhiên:
– Ủa sao ông lại hỏi vậy?
Tôi trỏ ông lão ngồi xe lăn:
– Vậy không phải Indian là gì?
Cô y tá phì cười:
– Ông ta là người Á Đông đó ông ạ.
Tôi giật mình:
– Người Á Đông?
– Dạ phải, dường như là Việt Nam đó.
Thêm một lần kinh ngạc, tôi không ngờ nơi vùng đất hẻo lánh đìu hiu lạnh lẽo này cũng có người Việt cư trú. Tôi bèn hỏi dồn:
– Sao cô biết ông ta là người Việt.
– Dạ thưa ông hồ sơ có ghi đó ông ạ.
– Vậy thì ông ấy vào đây lâu chưa cô?
– Hơn 10 năm.
Rồi cô khẽ lắc đầu:
– Tội nghiệp, ông ta rất hiền lành dễ thương ai cũng quý mến cả. Nhưng hiềm chẳng nói được tiếng Anh cho nên suốt ngày cứ thui thủi một mình không có bạn.
– Vậy thân nhân ông ấy có thường xuyên tới thăm ông ấy không?
– Một lần cách đây lâu lắm, hẳn có uẩn khúc gì đây.
Không cam tâm làm ngơ trước người đồng hương đang gặp cảnh bẽ bàng nơi đất khách, tôi tự giới thiệu tôi cũng là người Việt Nam. Cô ta trố mắt:
– Ồ thế mà tôi cứ đinh ninh ông là người Trung Hoa.
Tôi cười:
– Trong mắt người Tây Phương, thì bất cứ ai da vàng cũng là người Tàu.
Cô ta pha trò:
– Cũng đâu phải lạ, nhiều anh Tàu nhan nhản khắp nơi. Ngay trong xóm da đỏ hẻo lánh tít mù trên miền Bắc cũng có. Lần nào qua đó tôi cũng ghé mua cơm chiên, chả giò vừa ngon vừa rẻ nhưng phải cái là…..
Tôi nhoẻn miệng cười:
– Mỡ dầu và bột ngọt hơi nhiều phải không cô?
Cô ta cười xoà:
– Phải nói là nhiều quá mới đúng. Khổ công tập thể dục cả tháng, ăn một bữa cơm Tàu là đâu vào đấy, có khi còn thặng dư là khác.
Tôi quay lại vấn đề:
– Tôi muốn tiếp xúc với ông lão người Việt để mà chào hỏi làm quen, có thể ông ấy cũng đang cần nói chuyện vì lâu lắm chưa có dịp.
Cô y tá mừng rỡ:
– Hay lắm, đó cũng là điều tôi mong muốn. Vùng này hẻo lánh quá nên không tìm ra người thông dịch, nhân tiện nhờ ông hỏi xem ông ấy có nhu cầu hay đề nghị gì hầu chúng tôi đáp ứng không?
– Vâng, tôi sẽ cố gắng làm điều đó cô.
Thấy tôi đi tới ông lão ngước lên, nhíu đôi mắt hom hem nhìn chầm chập, vừa ngạc nhiên vừa thoáng chút ngại ngùng. Tôi gật đầu chào:
– Dạ thưa chào cụ ạ.
Nét mặt rạng niềm vui, giọng nói run run vì xúc động:
– Dạ chào, chào thầy, thầy người Việt à?
Giọng ông hơi nặng và chân thật. Tôi thân mật nắm tay ông.
– Thưa cụ cháu cũng là người Việt như cụ đấy ạ.
Ông lại nghẹn ngào:
– Cảm ơn Thiên Chúa, cảm ơn Đức Mẹ Từ Bi đã cho tôi gặp được ông.
Tôi kéo ghế ngồi bên cạnh và bắt đầu trò chuyện.
– Thưa cụ, vì sao cụ cho là cuộc gặp gỡ hôm nay là do Thiên Chúa và Đức Mẹ sắp đặt.
– Tại đêm nào tôi cũng cầu nguyện ơn trên cho tôi gặp được người đồng hương.
– Có chuyện gì khẩn cấp không thưa cụ?
– Để được nói chuyện bằng tiếng Việt mình thôi.
Cụ thở dài:
– Lâu lắm rồi tôi chưa được nói hay là nghe tiếng mẹ đẻ.
Nhức trong tim, tôi bùi ngùi thương cảm, một ước mơ thật đơn giản mà sao quá xa vời. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Ông kể:
“Tên tôi là Tỉnh, Nguyễn Văn Tỉnh, trước kia ở Bình Tuy, làm nghề biển, có thuyền đánh cá. Tuy không giàu, nhưng cuộc sống cũng sung túc. Tôi có vợ, 3 con trai, đứa lớn nhất còn sống thì giờ này cũng đã gần 50. Năm 75, Cộng Sản tràn vào, cả nước kéo nhau chạy nạn, sẵn phương tiện trong tay tôi chở vợ con vượt thoát, nhưng chẳng may là sau 3 ngày lênh đênh trên mặt biển thì gặp bão lớn tàu chìm. Tôi và đứa con út lên 6 được may mắn đã gặp tàu Mỹ nó vớt, còn vợ và 2 đứa con lớn thì mất tích thầy ạ. Sau đó thì tôi được bảo trợ về Louisiana, nơi đây có đông người đồng hương nên cũng đỡ buồn. Tôi bắt đầu tái tạo sự nghiệp, hùn hạp với bạn bè mua tàu đánh cá làm việc ngày đêm, trước là để vơi buồn, sau là tạo dựng tương lai cho thằng Út, giọt máu cuối cùng còn sót lại của tôi. Tôi ước mong thằng bé sẽ theo cha mà học nghề biển nhưng nó thì không muốn. Nó chỉ thích làm bác sĩ, kỹ sư ngồi nhà mát thôi chứ không chịu dãi nắng dầm mưa như bố, thế nên thầy biết không, vừa xong trung học là nó quyết chọn trường xa để mà tiếp tục theo đại học”.
Ông ngừng lại một chút để dằn cơn xúc động rồi ngậm ngùi kể tiếp:
“Tôi chỉ có mình nó, không thể sống xa con, nên quyết định là bán hết tài sản để mà dọn theo, bạn bè ai cũng ngăn cản thầy ạ, nhưng tôi quyết giữ lập trường, mang hết tiền dành dụm đến cái tiểu bang này mua 1 căn nhà nhỏ ở ngoại ô, còn chút ít thì gửi vào trong quỹ tiết kiệm lấy lời sống qua ngày. Hai cha con đùm bọc nhau, cuộc sống tuy chẳng sung túc nhưng chẳng nhẹ nhàng. Tuổi ngày một già thì sức khỏe càng yếu, năm ấy trời mưa đá, tôi bị ngã gẫy chân thầy ạ. Bác sĩ cho biết xương già thì không có lành được và phải vĩnh viễn ngồi trên xe lăn. Thằng Út ra trường có việc làm ở Nữu Ước.
Tự biết là khó có thể theo con và không muốn làm trở ngại bước tiến thân của nó nên tôi xin vào viện dưỡng lão. Tôi lên tiếng trước thầy ạ cho nó khỏi bị khó xử. Nó giúp tôi làm thủ tục và hứa là khi nào làm ăn yên ổn nó sẽ đón tôi về. Các viện dưỡng lão tương đối khá đều hết chỗ, may thay trong lúc đang bối rối thì có anh bạn học người da đỏ quen Út mách cho tôi nơi này. Thấy con tôi buồn tôi bèn an ủi nó: nơi nào cũng là quê người, cũng giống nhau thôi, thỉnh thoảng con về thăm bố là bố vui rồi. Thế là cả ngôi nhà lẫn tiền dành dụm phải trao hết cho viện dưỡng lão, dĩ nhiên là tôi được nhận.”
Ánh mắt xa xôi nhìn về phía chân trời đang có đàn chim chiều đang soải cánh ông chép miệng:
– Chà nhanh quá, mới đó đã 10 năm rồi.
– Thưa cụ, thời gian qua chắc là anh Út vẫn thường xuyên về thăm cụ chứ?
– Ừ, một năm thì nó cũng trở lại, nó khoe tôi hình cô gái Mỹ và nó nói, dâu tương lai của bố đó. Rồi thầy biết không, từ đó biệt tăm luôn.
– Cụ hoàn toàn không biết tin tức gì về anh ấy sao?
– Không, mà thật tình tôi cũng không muốn biết nữa.
– Tại sao, anh ấy là con trai duy nhất của cụ mà? Cháu sẽ giúp cụ tìm anh ấy nhé?
Ông lão rơm rớm nước mắt:
– Tôi sợ lắm, thầy ơi, thà biền biệt như thế mà tôi vẫn tin tưởng là nó đang sống tốt với vợ con ở một nơi nào đó trên quả đất còn hơn là biết tin buồn. Quả tình tôi không kham nổi.
Tôi nghẹn lời nói không được, lát sau qua cơn xúc động, tôi bèn hỏi:
– Giờ đây cụ có còn ước nguyện gì thì cụ cho cháu biết, cháu sẽ hết lòng giúp với tất cả khả năng của mình thưa cụ.
Ông lão thở dài:
– Già rồi còn được mấy năm trước mặt hở thầy?
Ánh mắt chợt linh động, ông nhìn tôi và chép miệng:
– À, mà tôi thèm một bát bún riêu quá.
Hai tuần sau vào ngày Chủ Nhật, tôi nhờ chị bạn thân nấu giùm 2 bát bún riêu cua, bún nước để riêng, có đầy đủ chanh, rau, nước mắm, ớt hiểm tươi còn đặc biệt có thêm lọ mắm ruốc thật ngon. Tôi cho tất cả vào túi xách đem vào viện dưỡng lão Lakeview. Mất hơn 4 giờ, sau cùng tôi đã tới. Như lần trước, ông vẫn ngồi trên xe lăn gần cửa sổ cuối phòng.
Bất ngờ trông thấy tôi ông mừng rỡ kêu lên:
– Ồ kìa thầy, thầy lại về đây công tác hở thầy?
Tôi chạy tới nắm tay ông:
– Dạ thưa lần này thì cháu chỉ đến đây thăm cụ và cháu có một món quà đặc biệt mang biếu cụ đây.
Lộ vẻ cảm động ông cụ nhoẻn cười đôi mắt nhăn nheo:
– Bày vẽ làm chi hở thầy, đến thăm tôi là quý rồi thầy ơi.
Tôi xin phép ban quản lý đưa cụ ra vườn vì thức ăn nặng mùi mắm ruốc nên tôi phải mang theo 1 lọ cồn nhỏ để đun nóng ngoài trời. Cụ chăm chú nhìn tôi bỏ bún ra tô, trộn rau ghém, nêm mắm ruốc, chan nước dùng nghi ngút bốc hơi, rắc chút tiêu thơm trên lớp gạch cua nổi vàng trên mặt. Nặn hai lát chanh tươi và sau cùng là ba trái ớt hiểm đỏ thơm nồng cay xé lưỡi. Không nén được thèm thuồng, chốc chốc cụ lại nuốt nước bọt. Tôi đặt tô bún riêu trước mặt và mời cụ cầm đũa. Cụ run giọng:
– Cám ơn thầy, không ngờ hôm nay tôi còn được ăn bát riêu cua. Mời thầy cùng ăn cho vui ạ.
– Cám ơn cụ, cháu đã ăn xong ở nhà, xin cụ dùng tự nhiên, bún riêu còn nhiều, hết tô này cháu sẽ hâm tô khác.
Cụ trịnh trọng húp từng muỗng xúp, gắp từng đũa bún, cắn từng miếng ớt cay ngon lành như chưa từng được ăn ngon, chốc chốc cụ dừng tay để lau mồ hôi và luôn miệng khen tấm tắc:
– Trời ơi, bún riêu ngon quá mà mắm ruốc thơm quá thầy ơi.
Tôi cảm động đặt tay lên vai cụ:
– Thưa nếu cụ bằng lòng nhận cháu làm con, cháu sẽ thay anh Út và thường xuyên thăm viếng cụ nhé.
Cụ sững sờ nhìn tôi thật lâu như không tin ở tai mình rồi hai dòng nước mắt từ từ lăn dài trên đôi má hóp:
– Trời ơi, sao tôi có được diễm phúc như vậy sao trời!
Tôi yêu cầu ban quản lý ghi tên tôi vào danh sách thân nhân, và dặn dò khi có chuyện cần thì cứ gọi. Năm sau, còn một ngày nữa là Tết, tôi đã chuẩn bị xong quà cáp có cả trà thơm, mứt ngọt dự định sáng hôm sau Mồng Một đầu năm sẽ mang lên Lakeview mừng tuổi cụ. Đang ngon giấc, chợt có chuông điện thoại, tôi nhấc ống nghe, bên kia đầu dây tiếng cô y tá trực của viện dưỡng lão Lakeview:
– Dạ thưa hỏi, có phải ông là ông Trần không?
– Dạ vâng ạ, là chính tôi đây .
– Dạ thưa ông, cụ Tỉnh đau nặng.
– Tình trạng thế nào có nguy không cô?
– À, đang nằm phòng hồi sinh bệnh viện ở thành phố đó thưa ông.
– Cám ơn cô rất nhiều, ngày mai tôi sẽ đến cụ.
– À ông nên đi sớm hơn đi là vì sợ không còn dịp nữa. Tôi rụng rời, ngoài trời tuyết rơi càng lúc càng nhiều, trời trở lạnh, gió giật từng cơn, hoa tuyết bay
(Không biết tác giả)

MÙA XUÂN CÒN NÁN LẠI. CAO MỴ NHÂN
*
Lại một đêm thiếu ngủ
Em nằm đợi nhớ nhung
Chan hoà trên mặt gối
Những giọt lệ mông lung
*
Vùi đầu giữa gối chăn
Tưởng châu thân ấm áp
Hoá ra lòng bâng khuâng
Tiếc thương bao mất mát
*
Trăng rơi vào rét mướt
Hồn bất chợt chơi vơi
Em chờ nghe tiếng bước
Anh về từ xa xô
*
Hai mươi lăm tháng ba
Mùa xuân còn nán lại
Bông hồng vàng kiêu sa
Mỗi năm thêm hoang dại
*
Anh nhìn em ái ngại
Thương xót cuộc tình buồn
Người yêu ơi huyễn mộng
Che kín cả nụ hôn …
*
CAO MỴ NHÂN
TUỔI MỚI SANG. CAO MỴ NHÂN
*
Ngủ đi Em hỡi, ngủ cho ngoan
Mưa vẫn rơi theo lệ ứa tràn
Nhắm mắt, sao Em còn khóc vậy
Đón chờ sinh nhật, tình đâu tan
*
Ngủ đi Em, đã mấy mươi xuân
Tháng có bao nhiêu, bảo lỡ lầm
Ngày tưởng dài thêm, hồn bỡ ngỡ
Và rồi chiu chắt, đợi từng năm
*
Đếm ư, tuổi tác sẽ vàng thêm
Mộng mị dâng đầy mơ ước Em
Anh ở phương trời tha thiết nhớ
Tay anh thay gối lót êm đềm
*
Hai mươi lăm tháng ba, Mai A
Anh tặng Em nguyên chuỗi ngọc ngà
Thôi nhé, quàng lên vòng cổ áo
Sắc mầu thổ cẩm của Chapa
*
Em vui rồi chứ, đoá hồng vàng
Cứ mỗi năm chờ một tuổi sang
Anh vẫn bên Em, dù cách trở
Đôi mình đang kéo lại thời gian …
*
Hawthorne 25 – 3 – 2021
CAO MỴ NHÂN

CHỮ ” LỄ “. CAO MỴ NHÂN
Các cụ ngày xưa bảo rằng: ” Tới chết mới biết được lòng dạ ai đối với mình thế nào, là khi mình chết rồi, chứ không phải còn hấp hối đâu “.
Thế thì khó hiểu quá, nếu bản thân mình muốn thấy được lòng dạ người ta đối với mình, lỡ chết rồi, e phải được sống lại mới có tình trạng thấy được chứ trời ạ.
Đúng ra các cụ ta nói thế này này: ” Khi người nào đó chết rồi, ám chỉ những người già thôi, con cháu trong nhà, mới thấy được thiên hạ chung quanh, đối với nhân vật xấu số đó ra sao” .
Ôi chao cũng khó hiểu lắm, đối với người nằm xuống ( chết) hay những người đứng chung quanh ( sống ), cứ lởn vởn cái điều những người sống đối với người đã chết thế nào.
Chúng tôi làm công tác xã hội, có thể nói ké chút việc này. Thí dụ :
1/ Nếu người mãn phần là thân nhân ruột thịt với một hay
nhiều thành phần có danh tiếng, quyền lực …
Lập tức đám ma rất đông, là vì người ta đi viếng cho người sống biết, chứ không phải đi cho người chết thấy .
Do thế mới có việc ” chia buồn “, chia nỗi buồn của người sống, vốn là thân nhân người đang quá vãng kia .
2/ Nếu người mãn phần có tình có nghĩa với chung quanh,
Có thân nhân, thậm chí không có thân nhân đi nữa, vì lẽ
mến thương thật sự người qua đời ấy, đám ma cũng có thể đông, đông lắm là khác .
3/ Khách đi đưa ma đông vừa hay đông lắm, có khi không
quen biết với người mãn phần, nhưng những khách đi đưa ma đó muốn gặp nhau, đám ma nhân vật chung cuộc lại là nơi gặp gỡ, đỡ tốn công hẹn hò vv…
Nhiều lý do lắm, đối với dân tộc ta: Quan, Hôn, Tang, Tế là 4 cái lễ quan trọng nhất của đời một người.
Vấn đề Quan, Tế thời đại này, mỗi lúc mỗi xa rời thực tế. Nhưng 2 lễ gần như chính, và thường xẩy ra một cách máy móc, ấy là Hôn và Tang. Nói nôm na là Đám Cưới và Đám Ma .
Đám cưới để chia vui, mừng hai họ có rể quý, dâu hiền .
Có khi chỉ cô dâu, chú rể tự mời đám cưới, vì đã lớn, đôi khi còn đã già vv…
Đám ma để chia buồn, bầy tỏ nỗi bi thương với vong linh người quá cố, hay gia đình người hẩm phận ấy.
Đi kèm vào 2 sự việc trên, là hàng chục thứ phong tục tập quán Á Đông hay riêng của VN.
Nhưng mỗi lúc về sau, mỗi gia giảm nhiều.
Đồng thời mỗi lúc về sau, mỗi không cần làm đúng theo phong tục tập quán xa xưa, có thể vô cùng lạc hậu, nhưng lại nẩy sinh ra một mớ thói quen thời đại mới.
Ở quốc nội thì kiểu CSVN, ở hải ngoại thì Âu Mỹ tuỳ theo nơi sinh sống hiện tại của gia chủ .
Nói chung không có vấn đề phiền hà nữa, với một đám cưới hay một đám ma. Tất cả như dịch vụ chung chung, tuỳ sở cầu của mỗi gia đình có đám.
Hôm nay tôi từ chối tham dự một đám cưới, chỉ chia mừng qua thư từ thiệp chúc, đồng thời cũng không tới chia buồn một đám ma, chỉ phân ưu qua phân ưu trên báo chí .
Tôi cũng tự hỏi tại sao làm vậy?
Tôi không đi nơi này chốn nọ được, vì chẳng có phương tiện chuyển vận, và sức khỏe cũng chẳng OK lắm. Lỡ khi sự hiện diện của mình có gì không bình thường, lại khiến chủ đám phải ưu tư, lo lắng vân vân khác…
Chị Đoan Quỳnh là một bậc nữ lưu, có nhiều xã giao quen biết, một chục người con thành đạt, thành danh, đang cư ngụ trong cũng như ngoài nước.
Tang lễ chị chẳng kém gì một yếu nhân đương đại, chúng tôi ở hải ngoại chung nhau một vòng hoa kính điếu, lẽ ra tôi phải có một bài điếu văn diễn tả mối giao tình bạn bè đông đảo với anh chị, vì quen biết lâu vv…nếu tôi còn ở Saigon.
Nhưng nay ai nấy ở xa, anh Lê Thanh, phu quân chị, vốn là nhà nhập cảng phim Kodak Nhật trước 30-4-1975 ở Đalat.
Anh dặn tôi :” Thôi mai giờ đó, sẽ đưa ma chị Đoan Quỳnh, Cao Mỵ Nhân mở cửa ra đường, rồi nhìn lên một đám mây, chị Đoan Quỳnh đang bay về cõi Vĩnh hằng…”
Tôi đã làm đúng như thế, ngó những đám mây trên 9 tầng cao ngất, tưởng tượng chị bạn của mình, đang đơn lẻ bay về tít mù không gian huyễn ảo. ..
Có những đám cưới quá lố ở VN bây giờ, cô dâu thay 5 bộ: Áo dài ta, áo đầm tây cắt bánh, áo xẩm tàu ca hát, rồi áo khiêu vũ, kết cuộc là bộ đồ hổ lốn ra cửa chào khách về.
Đám cưới đừng quá lố, thì đám ma cũng chớ quá tải việc biểu lộ đau buồn.
Cái đám ma kia của một nhà dân có chút khá giả, lại quen biết nhiều đoàn thể chuyên ngành, nên sự kiện hơi trình diễn thời trang hợp tuyển, cũng lại trong nước thôi.
Số sinh thời ông là thành viên đoàn mô tô, tất nhiên để tỏ lòng thương cảm tuyệt cùng của anh em ở lại, đoàn đã đưa y mấy chục xe mô tô chạy trước xe tang, để mở đường đi thiên cổ. ..cho người mệnh chung.
Đồng thời ông lại chơi bóng rổ, hoá cho nên nguyên đội bóng rổ đã hiện diện trong lễ phục thể thao. Đội này tiếp bước ngay sau “tang xa”tức là xe tang như nói trên .
Thế rồi vv…tiếp theo tang lễ .
Tôi không có ý “tám ” kiểu phê phán, mà chỉ kể quý vị nghe mỗi ngày một chuyện thôi, nên đôi khi tôi cũng có thể méo mó nghề viết “ngàn lẻ một đêm”.
Vị Chủ biên …tôi, ông” Đồ Ngu ” giả vờ…ngu thôi, vẫn luôn khuyến khích tôi viết xả láng, viết thả cửa, nhưng phải có …cơ sở, nghĩa là dựa trên sự thật, mà sự thật, thì mất lòng ghê lắm.
Do đó tôi đã dấu bớt đi vài ba danh tính, bởi nếu tôi đơn cử chuyện “real” ra, là có mòi bất ổn ngay…
Chủ biên …tôi, lại lập tức cười kiểu ” Đồ Ngu” rằng : phải biết ” tiên liệu ” trước, “lui bước ” sau, mới không hố ở đời …
Vậy ngày mai, tôi sẽ tới sân Trình, cửa Khổng, coi ông ” Đồ Ngu” thanh lọc môn sinh, nghe bài: ” Đất Nước nhập môn. Gia : nhà, Quốc: nước, Tiền: trước, Hậu:sau …vv…”
sẽ kể lể tiếp nhé .
CAO MỴ NHÂN
ĐÀ NẴNG XA MỜ. CAO MỴ NHÂN
**
Vầng trăng đó to quá, tròn vành vạnh, mầu vàng rực rỡ, mọc ở bên sông Hàn Đà Nẵng .
Trăng 16 nên không chê được, từ sắc diện đến dáng hình , cứ lồ lộ giữa không gian, vào cuối mùa xuân, nên trời mây quang đãng .
Nhìn lên trời chỉ thấy một mầu xanh biếc, cùng rải rác vài ánh sao …
Trăng lên đã đứng đối diện mặt sông, lòng sông sáng rỡ như …ban ngày .
Xe chúng tôi đã rời cư xá Trưng Nữ Vương ra đường, chạy tới đường bờ sông, nên phải ngang qua cổ viện Chàm, trường Trung học Sao Mai, và nhất là ngang qua một cây đa xà, cũng lớn dưới vầng trăng đang sáng tỏ trên trời .
Đó là hình ảnh những đêm trăng tròn nơi thành phố mà tôi đã trưởng thành ở đấy: Tourane, hay Đà Nẵng .
Tuy trước 30 – 4 – 1975, quê hương đang chìm trong khói lửa chiến tranh, đại tộc KaKi đang luôn luôn đặt trong tình trạng báo động . ..giặc giã lộng hành .
Nhưng xe đã đậu lại bên đường, nhập vào đoàn xe của các gia đình quân nhân khác, đậu thành hàng dài sát lề đường, để hóng gió mát bên sông, và ngắm trăng rực rỡ.
Chúng tôi chơi ở bờ sông trước Toà Thị Chính.
Khách đi câu giải trí , cũng đã tề tựu đông đủ bạn làng câu .
Bạn làng câu có khi đi câu một mình, có khi đi cùng gia đình, vì đó là một hình thức thư giãn cuối tuần, chứ chẳng phải vì lợi lộc vài ba con cá .
Gần toà thị chính là dãy khách sạn lớn từ thời tây để lại , nên cuốn hút du khách ngoại quốc .
Vì nơi đó có phòng ăn lớn, nên du khách ăn ở tại chỗ, sáng đón mặt trời lên, chiều ngó mặt trời lặn trên dòng sông Hàn êm ả , thơ mộng .
Nếu người vốn trữ tình, lãng mạn …thì Đà Nẵng là nơi đáp ứng đầy đủ không gian mát mẻ, đến phương tiện sinh hoạt dư dả nhất miền Trung .
Thời quân đồng minh còn hiện diện ở miền Nam, Đà Nẵng được kể là thành phố lớn thứ 2 sau đô thành Saigon Chợ lớn .
Không phải tôi trưởng thành ở miền địa đầu giới tuyến, mà ca tụng Đà Nẵng là một thành phố chiến lược căn bản, đến nỗi nó, Đà Nẵng hơn hẳn Cam Ranh, và hơn cả Hải phòng sau này .
Lý do : Đà Nẵng có sân bay cấp Quốc tế, có hải cảng cũng cấp Quốc tế, là nơi giao lưu đường bộ giữa Bắc Nam và có thể cả 2 nước láng giềng phía tây là Laos và Campuchia .
Xem như Đà Nẵng là một cửa ngõ, có thể tiến sâu vào Đông Nam Châu Á.
Vì thế, sau cuộc đổi đời, Bên Cướp Cuộc đã mở rộng đường số 9, từ Đông Hà sang tới Savanakhet Nam Lào .
Chưa kể thời chiến tranh của riêng đất nước Lào , một số dân chúng Lào đã vượt Trường Sơn, qua tới núi rừng Tiên Phước thuộc Quảng Tín, cách Đà Nẵng # 60 Km .
Trở lại hình thái đất đai, Đà Nẵng có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên, không cần tô vẽ thêm .
Trên nửa lố cửa biển, tính từ chân đèo Hải Vân vô thành phố , rồi ra căn cứ vùng 1 duyên hải , theo thứ tự là Nam Ô, Thanh Bình.
Qua sông Hàn, rẽ tay phải, tính từ Non Nước, đi về Mỹ Thị , Mỹ Khê, Sơn Trà và cửa biển danh tiếng Tiên Sa.
Sơn Trà nguyên xưa, dân chúng nói là Sơn Chà, vì người Chà nuôi bò, nuôi dê ở chân rặng núi ” ấm áp ” đó.
Tiên Sa, bờ biển quân sự, nơi đây là hải phận của Vùng I Duyên Hải, thuộc QĐI/QKI.
Nay Bên Cướp Cuộc đã bắc qua sông Hàn gần chục cây cầu, từ Trẹm, cửa sông Hàn ngược về Cẩm Lệ, để ” lười biếng ” sự việc quá giang, cho là tiết kiệm thời gian nếu đi từ thành phố Đà Nẵng qua bán đảo Sơn Trà, vô biển Tiên Sa, bờ biển đẹp đúng với danh xưng của nó, và đi các bờ biển nêu trên.
Nhưng hiện tượng một chục cây cầu đè lên dòng sông, thì quả là mất đi bao nhiêu tính chất thơ mộng của dòng sông lẫn thành phố vốn yêu kiều, hiếu khách.
Khách làng câu có mặt khắp nơi , không chỉ dừng lại ở bờ sông Đà Nẵng , mà bay nhẩy tới các bờ biển nêu trên , có đi xa nhất là Nam Ô , Non Nước , hay Tiên Sa , vẫn có thể trở về trong vài tiếng đồng hồ .
Tôi xa Đà Nẵng kể từ 29/3/1975 , nơi tôi đã quen thuộc từng …tấc đất địa phương, kể từ những thói quen dân dã, tới những mơ ước riêng tư ở thành phố này .
Nếu tôi đã có một quê hương nào đó, rất mơ hồ trong ký ức , thì Đà Nẵng là quê hương thứ hai rõ nét nhất, và rất hiện thực trên hành trình cuộc đời tôi …
Thế mà có đâu ngờ tôi bị mất luôn cái quê hương đằm thắm, thiết tha, cũng là nơi tạo cho tôi những điều kiện dễ dàng để lập thân trong binh nghiệp.
Tôi đã phải rời thành phố Đà Nẵng trước khi nó bị tan hoang, buổi sáng ngày 29 -3 – 1975, Hạm trưởng và thuỷ thủ đoàn lên boong tầu chào cờ mà họ gọi là ” Vĩnh biệt Đà Nẵng “.
Tầu đó là của Phi Luật Tân chở 3000 ngàn nhân viên sở Mỹ và gia đình họ, đi di tản qua Philippine, khởi hành từ Tiên Sa đêm 27 -3 – 1975, tôi được theo tầu tới Saigon, xin xuống bến Khánh Hội vì còn dở dang việc nhà.
Ngay khi rời tầu, phần hành trách nhiệm trên tầu, đã thông báo tình hình VN trước, là sẽ khó có phương tiện ra đi nay mai…
Thế nhưng tôi vẫn cứ xuống bến Saigon, để rồi 16 năm sau tôi mới tới được bến bờ Tự Do, là qua Hoa Kỳ theo diện tị nạn, gọi vui vẻ là chương trình HO.
43 năm trôi qua, hay sắp nửa thế kỷ, những đám mây lạnh thường bay nhàu nát trên bầu trời buồn bã, nhưng tôi chưa khi nào muốn về lại nơi mình tình cờ giã biệt, Đà Nẵng u hoài của tôi, thành phố duy nhất ở VN có biển nhiều hơn sông . Bây giờ tôi cũng đang ở một thành phố mà cũng có nhiều biển, nhưng không có dòng sông nào từ trời rớt xuống.
Vì biển tây Hoa Kỳ này kéo dài từ Alaska xuống tới San Diego, chặn cả một phần thành luỹ sóng nước trùng khơi, thì cần chi sông với rạch…
Ôi, bên kia Thái Bình Dương …là Đà Nẵng xa vời yêu dấu đấy …
CAO MỴ NHÂN


Vài Nét Về Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
(Mà rất nhiều Quý Anh Chị trong VTLV đã hoạt động, có mặt trong tổ chức này)
Văn Bút Việt Nam, là tổ chức quy mô, quy tụ những Nhà Văn Thi Sĩ VN, hoạt động, dựa trên tinh thần “hiệp sĩ” của Văn Bút Quốc Tế. Một hiệp hội người cầm bút cấp lớn toàn cầu. Hội được thành hình năm 1926, gồm các tác giả, của 104 Cây Bút Quốc Tế.
Được thành lập năm 1921 do Bà Catherine Dawson Scott sáng lập. Vị Chủ Tịch đầu tiên là John Galsworthy.
Mục đích chính của Văn Bút Quốc Tế là: “Quảng bá văn hóa, Văn Bút Quốc tế hô hào dùng văn chương chữ nghĩa, để cách mạng nâng cao đời sống xã hội và văn hóa trong cộng đồng thế giới. Mà văn thi sĩ đóng vai trò quyết định then chốt trong vấn đề này.” Đi xa hơn, nữa Văn Bút Quốc Tế đã đưa ra đường hướng: “Bảo vệ quyền tự do tư tưởng, tiếng nói của những nhà văn phải được tôn trọng. Văn Bút Quốc Tế, chống đối lại hành động đàn áp, kiểm duyệt, tù đày hay đánh đập, hành hạ những văn nghệ sĩ…”
Trên thế giới, không có tổ chức hoạt động văn hóa nào, lớn hơn tổ chức này cả. Trên hàng trăm quốc gia tham dự. Diễn đàn Quốc tế mạnh nhất, uy tín nhất! Tiếng nói mạnh mẽ tranh đấu cho lẽ phải của người cầm bút. Sau nhiều năm hoạt động được công nhận là tiếng nói, tượng trưng cho Trái tim của lương tâm nhân loại.
Văn Bút Việt Nam, là thành viên lâu đời của Văn Bút Quốc Tế.
Miền Nam trước 75, Văn Bút Việt Nam được thành lập từ năm 1957 và kéo dài cho đến Tháng Tư đau thương mất nước. Và sau đó duy nhất chỉ có “Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” là còn tồn tại, (VC không có tên) tiếp tục sinh hoạt và được Văn Bút Quốc Tế công nhận, từ đó cho đến nay.
Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, được Văn Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh gầy dựng lại năm 1979, tại Paris, Pháp. Để tiếp tục hoạt động lại cho đến ngày hôm nay. Rất nhiều các cây bút đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ tự do, bị nhà cầm quyền CSVN bịt miệng! tù đày, đánh đập, đã được Văn Bút Quốc Tế can thiệp, lên tiếng vì lẽ phải. Gần đây nhất là Phạm Thị Đoan Trang. Văn Bút VNHN đã gửi Kháng Thư Ngày 14 tháng 12 năm 2021 Lên án hành động vi phạm nhân quyền của Hà Nội trong việc khởi tố và kết án Tác giả Phạm Đoan Trang 9 năm tù. Link ở đây:
Chủ Nhật, Lúc 3 Giờ Chiều! RMS Phạm Đoan Trang!
Lời Mời Tham Dự:
Chiều Ra Mắt Sách: “Cẩm Nang Chống Độc Tài” Của Phạm Đoan Trang!”
*Đây là tác phẩm mới nhất! Do Văn Thơ Lạc Việt Xuất Bản.
*(Nhà đấu tranh dân chủ nổi tiếng, đang được dư luận chú ý nhất hiện nay, Cô cũng vừa được lãnh giải “Phụ Nữ Can Đảm Quốc Tế Năm 2022”: Phạm Đoan Trang! Với bản án 9 năm tù! Cũng là Thành viên quốc nội của Văn Thơ Lạc Việt gần 10 năm qua, từ năm 2014)
*Giới thiệu Tác Giả và Tác Phẩm: Nhà thơ Chinh Nguyên và Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng.
*Giá sách:15 đô la.
Lúc 3 giờ chiều (ngày mai!) Chủ nhật, ngày 20 tháng 3 năm 2022.
Tại Quán cà phê Lover, số 1855 Aborn Rd, San Jose, Ca 95121.
*Chiều Ra Mắt Sách còn phụ họa với một chương trình ca nhạc đấu tranh đặc sắc, do những giọng ca hay nhất của miền Thung Lũng Hoa Vàng đảm trách. Phụ trách văn nghệ: Ca sĩ Thúy Nga. Nghi lễ: Hoàng Thưởng. Âm thanh: Văn Khoa. MC Hạnh Thảo.
*Với những nhạc phẩm rực lửa Đấu Tranh và những bài ca thắm đậm tình Quê Hương Đất Nước.
Vào cửa, cũng như nước giải khát, hoàn hoàn miễn phí!
Trân trọng kính mời.
Thay mặt BTC: Lê Văn Hải


Đôi Nét Về Phạm Đoan Trang, Tác Giả Tác Phẩm “Cẩm Nang Chống Độc Tài”
Trước khi bước vào nội dung sách, người đọc, bị thôi miên bởi dòng chữ:
“Với tất cả tấm lòng yêu mến và kính phục, xin dành tặng cuốn sách này cho những người Việt Nam đã, đang và sẽ cống hiến, đấu tranh không mệt mỏi và sẵn sàng hy sinh vì một đất nước Việt Nam dân chủ, tự do và thịnh vượng.”
Người trẻ Phạm Đoan Trang, đang làm biểu tượng đấu tranh, mà dư luận nhiều quốc gia tự do để mắt chú ý nhất. Tinh thần dấn thân đấu tranh của Cô nổi bật. Có điều kiện du học Mỹ, học xong, từ chối không ở lại Mỹ, quyết định về VN. Để đối đầu trực diện với nhà cầm quyền độc tài CS.
* Tổ chức Nhân Quyền Thế giới, Hội Phóng Viên Không Biên Giới, nhiều tổ chức khác đã lên tiếng công nhận: “Phạm Đoan Trang là Nhà báo kiên cường, Nhà văn tài năng, Blogger có kiến thức chính trị cao. Cô ấy, nằm trong số những nhà đấu tranh nổi tiếng nhất Việt Nam hiện nay!”
* “Một hiện tượng đấu tranh trí thức bền bỉ, hiếm có!” Mà rất nhiều các Quốc gia như Mỹ, Canada, Liên Hiệp Âu Châu, Anh Pháp Đức, Hòa Lan, Tiệp Khắc. Qua các Tòa Đại Sứ, đã tỏ lòng ngưỡng mộ Cô, đòi CSVN thả Cô ra ngay tức khắc.
*Rất nhiều người cảm động khi Cô tuyên bố: “Tôi chỉ ước mong, độc tài CSVN, đừng đập nát bàn tay tôi, để tôi còn được viết, được đánh đàn!”
*Tham dự Buổi RMS do VTLV tổ chức, để cùng nhau châm thêm ngọn lửa đấu tranh cho bừng sáng, lấy Đoan Trang làm gương, hy sinh cả tuổi thanh xuân, quên mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình, để tranh đấu cho lý tưởng dân chủ tự do. Cho tất cả những nạn nhân đã bị chế độ Cộng Sản Việt Nam bức hại suốt gần 70 năm qua, đã chà đạp lên các quyền căn bản của con người. Mong ước một Việt Nam tươi sáng không CS.
Rất đáng khen ngợi! Cô xứng đáng là con cháu Trưng Triệu, một phụ nữ đã vượt trên nỗi sợ hãi, kiên cường, dù súng đã kề sát bên màng tang!
Bước vào “Tháng 3 Gẫy Súng!” trước “Tháng Tư Đen!” Chắc chắn khó có Buổi Chiều Nhạc và RMS nào, đặc sắc và ý nghĩa hơn như thế!
