VUI TẾT TRUNG THU Ở CHÙA BẢO QUANG VÀ CHÙA HUỆ QUANG

KIỀU MỸ DUYÊN




Tôi Có Một Giấc Mơ




KIM LOAN – VĂN:

BOLSA ĐÃ ĐỔI THAY??

Bolsa đây là tên một con đường ở Little Sài Gòn, chúng ta thường gọi là “thủ đô tỵ nạn”, tiêu biểu của Orange County, vì đại lộ Bolsa huyết mạch nơi tập trung nhiều quán xá, cửa hiệu, văn phòng, trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt. Chỉ cần nói “Bolsa” là chúng ta, đều hiểu nói về cộng đồng người Việt tự do ở Orange County.

Tôi nghĩ rằng, Bolsa, Cali không chỉ là nơi đến ưa thích của tôi mà của rất nhiều người Việt hải ngoại, dù họ ở các tiểu bang khác trên đất Mỹ hoặc ở các nước khác ngoài nước Mỹ, nhưng ít nhiều ai cũng “dính líu” tới Bolsa: có người thân, người quen, từng là nơi họ đến hội họp trường cũ, đồng hương xưa… và nhiều lý do khác. Về Bolsa, Cali như là tìm về “quê hương”.

Trong lần bay qua California hồi năm ngoái 2025, trong bữa ăn chiều tại nhà cô bạn thân, đã định cư ở Westminster từ giữa thập niên 80s, bạn hỏi tôi trong lúc hai đứa đang lặt rau sống trong bếp:

–        Loan qua đây rất nhiều lần, và bây giờ có thấy Bolsa đã khác xưa?

Nghe tới đây, lòng tôi bỗng thổn thức, vì mới hồi trưa, trước khi đến nhà bạn, tôi đã ghé qua khu nhà mà ba tôi đã từng ở trước đây.

Hiện nay ba đang an nghỉ ở nghĩa trang ở Arlington, Texas, nơi có đông đúc con cháu và họ hàng xung quanh.

Nhưng kể từ khi qua Mỹ định cư, ngoại trừ vài năm sống ở tiểu bang Kansas đi làm, thì cũng trên 20 năm Ba gắn bó với căn nhà Duplex trên đường Bushard gần đường Bolsa, thuộc thành phố Westminster, California. 

Mỗi lần qua Texas, đến thăm mộ Ba, lòng tôi thanh thản nhẹ nhàng vì biết ba đã sống trọn vẹn 95 năm cuộc đời.

Nhưng mỗi khi qua California, chúng tôi không bao giờ quên đến thăm căn nhà đường Bushard của ba, mà lần nào cũng thế, tự dưng nước mắt tôi rưng rưng, nức nở…

Tôi nhớ mảnh sân phía sau nhà của ba, đất Cali tươi tốt cho cây lành trái ngọt, chỉ một miếng đất hẹp ba trồng được cây chuối và bụi mía tốt tươi, ba đâu thèm ăn mấy thứ đó, chỉ là để có hình ảnh quê hương.

Tôi nhớ cái sân trước nhà, bao lần ba đứng đó, đón vợ chồng con cái chúng tôi đến thăm, rồi vội vàng lấy chiếc xe đạp, chạy ra ngoài Bolsa, lát sau chạy về nhà, trên giỏ xe là một túi bự “quà vặt Bolsa”: các vỉ mít tươi, chôm chôm, bánh da lợn, bánh bò, bánh cam, xôi, chè…có khi cả con “gà tươi Bolsa” về nấu cháo và không bao giờ thiếu mấy tờ báo Người Việt, Việt Báo, Sài Gòn Nhỏ. Ba đãi chúng tôi cả món ăn vật chất lẫn tinh thần . (Nếu có ai đó đã từng bắt gặp một ông già gầy gầy, tóc bạc, áo sơ mi bỏ trong quần, thắt lưng hẳn hoi, chạy chiếc xe đạp bon bon trên những con phố Bolsa, là…ba tôi đấy!)

Tôi cũng nhớ, có lần ba rủ bác tôi, là anh ruột của ba, tổ chức bữa tiệc bbq đãi tất cả con cháu của hai ông tại Bolsa nhân dịp có chúng tôi qua chơi. Tiệc rất rộng rãi giờ giấc, từ trưa cho đến chiều tối, ai rảnh giờ nào đến giờ đó, hai ông sẽ nổi lửa nướng thức ăn ngay tại chỗ. Thật ra, ba chỉ chuẩn bị một ít thôi, còn lại là các con cháu, mỗi gia đình mang thêm món ăn, rộn ràng đông vui, một buổi family reunion nhớ đời.

Và cũng cái sân nhà này, khi chúng tôi đến tạm biệt ba trước khi trở về Canada, ba tiễn ra tới ngoài sân, nhưng chưa chịu vào nhà, mà đi theo chúng tôi ra tận đường, nhìn cả nhà chui vào xe, ba đứng vẫy tay cho đến khi nào không còn thấy nữa mới thôi.

Đang đứng khóc ngon lành, có một ông cụ đến sau lưng, tôi kể cho ông lý do tôi đứng đây, ông bảo:

–           Hồi tuần rồi, cũng có cặp vợ chồng tới khu nhà này, rồi khóc, vì nhớ má, hồi còn sống má ở căn nhà cuối góc kia kìa.

Thì ra, tôi không cô đơn. Thỉnh thoảng, vào ngày Fathers Day, Mothers Day, hoặc bất kỳ một ngày nào đó trong năm, vẫn có những người con tìm về khu nhà này, thăm lại kỷ niệm của ba, của má. Để thương, để nhớ, và để … khóc!

Tôi kể cho cô bạn nghe như thế rồi kết luận:

–        Đương nhiên, Bolsa đã không còn như xưa nữa, vì giờ đây mình chỉ được đứng bên ngoài, thăm căn nhà và kỷ niệm của ba thôi.

Cô bạn nắm tay tôi an ủi:

–        Cái đó thì tớ biết, và rất thông cảm cho nỗi lòng của bạn mỗi khi qua đây, nhưng ý mình hỏi là hỏi chuyện khác kìa! Bolsa, nói chung, có khác xưa hay không, vì bạn là du khách từ Canada qua nên mình muốn hỏi cảm nhận của bạn.

Thực tình, hổm rày tôi cũng có nghe, từ người thân, bạn bè, thốt ra những câu than vãn, nhẹ nhàng bâng quơ, tiếc nuối điều gì đó đã qua.

Chẳng biết người ta nói với ý gì, nhưng tôi mơ hồ, thấy rằng… không sai.

Nhớ khi mới qua Canada định cư giữa thập niên 1990s, tôi có những chuyến qua “Bolsa” đầu tiên.

Thuở ấy, các trung tâm băng nhạc rầm rộ, các tiệm sách, băng nhạc, báo chí tấp nập rộn ràng, các phong trào đấu tranh cho đồng bào tị nạn kẹt lại các trại tỵ nạn rất mạnh mẽ, nên vào tiệm nào cũng nghe các bài hát: Xác Em Nay Ở Phương Nào, Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, Bên Em Đang Có Ta, Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng… khiến tim tôi rung động, nhớ những tháng ngày nơi trại tỵ nạn tôi mới vừa bỏ lại sau lưng, đâu có xa xôi gì.

Lúc ấy, thông thương hàng hóa giữa Việt Nam và hải ngoại còn hạn chế, lần nào qua Bolsa tôi cũng mua nhiều quà mang về cho bạn bè ở Canada. Những phong bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, những túi khô của “Vua Khô Bò”, đậu phộng da cá, bánh mì Lee Sandwiches và cả mấy hộp bánh từ Hiển Khánh . Nhưng đắt hàng nhất là những dĩa CDs, DVDs của của Trung Tâm Thúy Nga, Asia, Vân Sơn đang ở thời kỳ đỉnh cao. Những dĩa CDs, DVDs tặng nhau làm quà, đặc biệt vào những dịp Lễ, Tết vô cùng quý giá, lịch sự thanh tao biết dường nào.

Còn nữa, một trong những niềm vui của tôi lúc bây giờ là đến tiệm sách Tự Lực, để mua sách báo, tạp chí. Tôi say sưa đi qua từng kệ sách trong tiệm, nhẩn nha xem xét, lựa chọn, và lần nào cũng ôm về một chồng sách báo, có khi chiến gần nửa diện tích vali hành lý, đem về Canada bổ sung vào tủ sách của riêng tôi.

Ngày nay, buồn thay, với sự phát triển chóng mặt của thời đại công nghệ, mọi thứ đã qua thời kỳ “vàng son”, nhiều cái của “ngày xưa” không còn nữa!

Tôi đã tìm đến nhà sách Tự Lực, chỉ để chụp hình bên ngoài mà nhớ những lần quá khứ, vào đây mua sách, tạp chí băng nhạc (vì hiện nay youtube, googles, internet, AI… đã phục vụ người ta tất cả). Tôi bồi hồi nhớ những sách của Xuân Vũ, Hồ Trường An, Vĩnh Hảo, các tác giả khác, tạp chí Hợp Lưu… tôi đã mua từ Tự Lực của những tháng ngày “đầu tiên” ấy.

Các trung tâm băng nhạc đìu hiu, và không còn Trung Tâm Băng Nhạc Nhật Trường, nơi tôi đã bước vào mua CDs và gặp chàng nhạc sĩ mà tôi mến mộ.

Tôi nói những điều này với bạn, cô ấy mỉm cười:

–        Vậy là bạn hiểu ý tớ muốn hỏi điều gì rồi đấy! Và còn nữa những đổi thay của Bolsa, nhưng thôi hẹn dịp khác sẽ nói tiếp, bây giờ chúng ta phải ra vườn nướng thịt bbq với mọi người thôi.

Tối hôm ấy, về nhà anh chị, tôi kể cho chị dâu câu chuyện “Bolsa đổi thay” khi tôi ở nhà cô bạn cũ, chị cười cười:

–        Em nhớ hôm qua tụi mình đi ăn với nhà Chú Ba chớ?

Tôi nhớ, lúc ấy chúng tôi đến thăm gia đình Chú Ba, chú hỏi muốn ăn món gì, ở nhà hàng nào để chú đãi, ưu tiên cho khách Canada, là tôi, được chọn. Trong đầu tôi là những quán quen tôi đã yêu thích từ lâu, như bánh xèo Quán Văn, phở gà Quang Trung, Bò Bảy Món Ánh Hồng, Cơm Tấm Thuận Kiều, Quán Hỷ, nhưng ngại, không dám nói ra, vì chú Ba là chú họ, xung quanh còn có mấy người dâu, rể của chú mà tôi mới gặp lần đầu, nên tôi trả lời:

–        Dạ, món nào tụi con cũng thích chú ơi.

Nghe vậy, con dâu của chú đề nghị:

–        Vậy nhà mình đến ăn nhà hàng mới mở ở Bolsa này nhe, có nhiều món cho tất cả mọi người lựa chọn.

Và rồi, sau bữa ăn ở nhà hàng đó, tôi về nhà thì thầm với chị dâu:

–        Nói thiệt nghen chị, nhà hàng này nấu không bằng một góc của chị! Ủa, mà chị nấu ăn giỏi thì nói làm gì! Chính xác hơn, là họ nấu còn thua cả…em nấu đấy chớ!

Nay nghe tôi tâm sự chuyện “Bolsa đổi thay”, chị dâu tôi bộc bạch thêm:

–        Bây giờ Bolsa có rất nhiều quán xá mới, có những quán cũ lâu năm, nay họ không tiếp tục nữa, vì con cháu không muốn nối nghiệp. Qua thế hệ thứ hai thứ ba ở đất Mỹ, lớp trẻ lớn lên không mặn mà chuyện kinh doanh ẩm thực mà chú tâm vào việc học hành, đi làm, cho nên nhiều nhà hàng mới mọc lên, chủ nhân mới có khi là những người từ Việt Nam sang đây theo diện đầu tư. Có nhiều người Việt ở đây bảo nhau, ngại đi ăn một số nhà hàng mới kiểu này, vì sợ họ bưng theo các công thức nấu ăn gian dối từ bên Việt Nam qua, nguy hiểm lắm, thôi cứ nấu ăn ở nhà là an toàn.

Tôi đồng tình:

–        Em cũng thấy như thế, như hôm qua ăn với gia đình chú Ba ở nhà hàng đó. Ăn phở mà nước lèo không hề đậm đà hương vị xương thịt, sao họ vẫn mở cửa kinh doanh được nhỉ?

–        Thôi, chuyện tế nhị ấy làm sao chúng ta biết được! Em ở xa thỉnh thoảng qua đây chơi, chớ dân Bolsa chính gốc ở đây mỗi ngày đều chứng kiến, có những đổi thay đáng mừng, nhưng cũng có nhiều đổi thay…đáng lo. Từ nhà hàng, các tụ điểm phòng trà ca nhạc, những làn sóng di dân mới mang theo những con người mới, khác biệt nghĩ suy và quan điểm chính trị, cho đến các khu chợ búa, ví dụ như Phước Lộc Thọ. Có lần chị nghe tiếng chửi thề mà giật mình!

–        Chị nói em mới nhớ, bữa trước em ghé Phước Lộc Thọ mua áo dài, lúc mua xong em đi ra phía trước để chờ chị đến đón, em thấy mấy bà thím mặc đồ bộ, đội nón lá, xách giỏ cói, ngồi ngay khu tượng Phước Lộc Thọ, nhẩn nha ngồi gác chân lên ghế đá, mở đồ ăn ra nhâm nhi, tay thì gọi phone cho ai đó, giọng nói oang oang như chốn không người, mà nghe nội dung câu chuyện họ nói qua phone, em cứ ngỡ chuyện đang xảy ra ở… chợ Bến Thành, chợ Cầu Muối bên Việt Nam nữa cơ. Phải nói là một cảnh tượng nhếch nhác, ngay giữa lòng thủ đô Tỵ Nạn trên đất Mỹ!

–        Bởi vậy chị mới nói, nhiều người vẫn tiếc nuối cho một “Bolsa xưa” và lo ngại những đổi thay ngoài ý muốn, từ những người đến sau.

–        Thật lòng, em tin rằng, dù những di dân mới qua với bất cứ lý do gì, thì họ cũng đã làm một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” rất rõ ràng, họ chọn đất Mỹ tự do dân chủ để sinh sống, họ đã và đang thấu hiểu giá trị nơi họ chọn lựa. Còn một số ít cá nhân khác biệt về quan điểm hoặc hành xử chưa phù hợp, chỉ là con số rất nhỏ nhoi, họ không phải đại diện cho tất cả những lớp di dân sau này. Ngay cả các nhà hàng, nếu chất lượng thức ăn và phục vụ chưa tốt, rồi cũng sẽ bị đào thải theo sự canh tranh thị trường.

Đến ngày tôi bay về lại Canada bằng chuyến bay sớm nhất lúc 6 giờ sáng nên từ 3 giờ khuya, anh tôi đã lục đục đưa tôi ra phi trường. Xe rời khỏi nhà khi bóng đêm còn vây quanh, Bolsa nửa đêm về sáng còn ngủ say, lặng yên êm đềm, khác hẳn Bolsa nhộn nhịp lúc ban ngày. 

Xe chạy ra hướng Long Beach, bỏ Bolsa lùi lại phía sau, vẫn còn chìm trong bóng mờ của buổi sớm khuya, tôi tạm biệt Bolsa với nỗi lòng xốn xang những cảm xúc khó diễn tả . Anh tôi vừa chăm chú lái xe trên xa lộ mờ tối vắng người, vừa kể cho tôi nghe chuyện việc làm kỹ sư tại hãng Boeing, Long Beach, nơi anh đã gắn bó mấy chục năm qua. Tôi nhìn anh, bất giác mỉm cười thú vị, vì nói không phải “khoe”, (mà cũng là “khoe” thiệt), chớ tôi đã biết đến… Bolsa từ khi còn ở Việt Nam qua những thùng quà anh gửi về nhà, cái địa chỉ ở Westminster và zip code 92683 tôi thuộc nằm lòng, cũng như sau này thêm một người anh vượt biên, định cư ở Texas rồi bảo lãnh đại gia đình qua bển, tôi lại ghi thêm vào “bộ nhớ” cái zip code 76010 thân thương.

Tôi thầm nghĩ, dù thế nào, tôi vẫn yêu Bolsa, dù sự đổi thay như thế nào đi nữa, tôi vẫn tin Bolsa mãi là “trái tim” của cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản của người Việt hải ngoại nói chung, và người Việt tại Mỹ nói riêng. 

Đâu phải tự dưng mà “Cali” hay “Bolsa” như là một thương hiệu “chất lượng cao”, bảo chứng đầy kiêu hãnh của người Việt khắp nơi ? Tôi đã từng thấy các cửa tiệm ở Arlington, ở Houston Texas và vài nơi khác trên đất Mỹ mang tên “Cali”, mang tên “Bolsa”, và các thành phố lớn nhất nhì của Canada là Toronto, Vancouver cũng đều có những nhà hàng có tên “Cali” và “Bolsa” . Nói nào xa, thành phố Edmonton nhỏ bé nơi tôi đang sống, có tiệm “Bolsa Hair Salon” và tiệm “Bánh Mì Cali” lúc nào cũng nhộn nhịp khách hàng. 

Cho nên đừng hỏi tại sao, tôi vẫn yêu Bolsa, một biểu tượng tự hào của Little Sài Gòn, của Orange County, của chúng ta, một tình mến thủy chung . Khi nào Bolsa phụ tôi, bỏ tôi, đổi thay làm tôi thất vọng thì lúc đó hẵng tính. Bởi tôi luôn sống theo phương châm, thà để người phụ ta chớ ta không phụ người . (Dĩ nhiên, đó là với trần đời, chớ với Thiên Chúa, tôi luôn là người …phụ Ngài).

Đến phi trường Lax, trời còn tối, tôi bước vào trong, ngồi đợi chờ chuyến bay. Tôi chợt nhớ ba tôi và căn nhà trên đường Bushard, nhớ tiệm sách Tự Lực, nhớ những quán ăn quen, mà xao xuyến cái thuở ban đầu tôi mới biết Bolsa, những kỷ niệm đẹp của hơn 30 năm trước Bolsa đã đi vào hồn tôi và ở lại đến bây giờ:

BOLSA TÔI ĐẾN

Bolsa đón tôi với cơn mưa
Tắm mát những con đường ban trưa
Bâng khuâng, người có chờ tôi đến
Nhớ chiều xưa giây phút tiễn đưa

Bolsa đón tôi bằng cơn gió
Tôi bước trên đường mà ngẩn ngơ
Lạc Cầm, người có còn đến đó
Nhạc ru hồn người vào cơn mơ

Bolsa đón tôi bằng cà phê
Ngọt đắng trên môi lời hẹn thề
Ai uống với tôi một ly nữa
Quán Lily, bỗng quên đường về

Bolsa tôi đến để yêu thêm
Những con đường đẹp, đường không tên
Hoa giấy bên tường đỏ rực rỡ
Lấp lánh mưa chiều phủ mái hiên

Bolsa tôi đến để tương tư
Ngọn gió chiều man mác mùa thu
Nắng hạ gieo màu vàng nhung nhớ
Người xa rồi, mùa đông hoang vu

Bolsa tôi đến để mộng mơ
Phố xá thân quen vẫn đợi chờ
Người sẽ đến cùng tôi chung bước
Tôi sẽ vì người, tôi làm thơ

Chia tay Bolsa tôi lưu luyến
Hẹn một ngày mình gặp lại nhau
 Nụ cười hiền quá, sao tha thiết
 Người có chờ tôi đến lần sau!?

Edmonton, Tháng 8/2026

KIMLOAN




VTLV CHÚC MỪNG: Ngày KỶ NIỆM “LỄ CƯỚI VÀNG” LÊ XUÂN MỸ & KIM CÚC

HAPPY 50TH ANNIVERSARY

       XUÂN MỸ & KIM CÚC 

🌹🎁🌹🎁🌹🎁🌹🎁🌹🎁

50 năm chẵn vẫn chung đường 

XUÂN MỸ cùng nàng thêm ngát hương

KIM CÚC lời ca vang xóm nhỏ

Chàng LÊ tiếng hát rộn đêm trường 

Hòa chung nốt nhạc hòa yêu thích 

Quyện với cung đàn quyện luyến thương

Chúc Lễ Cưới Vàng  luôn hạnh phúc

Cho tình bất diệt đẹp văn chương. 

Phương Hoa – SEP 19, 2026

***

KÍNH MỜI ĐỌC BÀI VIẾT CỦA … “CỰU TÂN LANG” LÊ XUÂN MỸ:

NỬA THẾ KỶ MỘT CÁI NẮM TAY

Lê Xuân Mỹ

Kỷ niệm 50 năm ngày cưới (15/9/1976 – 15/9/2026)

Có những buổi sáng rất bình thường nhưng lại làm người ta nhớ gần như cả một đời người. Sáng nay, trong căn nhà nhỏ ở San Jose, tôi pha hai ly cà phê như thói quen đã có từ nhiều năm. Một ly đặt trước mặt mình, ly còn lại đặt trước người bạn đời đã ngồi đối diện tôi suốt nửa thế kỷ. Ánh nắng đầu thu len qua khung cửa, rơi xuống khu vườn nhỏ nơi những bụi hồng vừa hé nụ. Ngoài sân, tiếng chim ríu rít vang lên quen thuộc. Mọi thứ vẫn bình yên như bao buổi sáng khác, nhưng lòng tôi bỗng nôn nao khi chợt nhận ra: Đã đúng năm mươi năm kể từ ngày hai đứa nắm tay nhau bước vào cuộc sống hôn nhân. 

Nửa thế kỷ, một quãng đường đủ dài để mái tóc xanh hóa bạc, để những đứa con ngày nào còn nép vào lòng cha mẹ nay đã trở thành cha mẹ của những đứa trẻ khác. Đó cũng là quãng thời gian đủ dài để tôi hiểu rằng điều quý giá nhất của đời người không phải là mình tích góp được bao nhiêu của cải, mà là khi ngoảnh đầu nhìn lại giữa bao thăng trầm, người đã cùng mình đi qua giông bão vẫn còn ngồi bên cạnh.

Có người từng hỏi tôi bí quyết nào để vợ chồng sống với nhau bền bỉ được năm mươi năm. Tôi chỉ cười. Làm gì có bí quyết. Nếu có, thì chỉ là biết thương nhau nhiều hơn một chút sau mỗi lần giận dỗi, biết nhịn nhau một câu khi cả hai đều nghĩ mình đúng, và biết nắm chặt tay nhau mỗi khi cuộc đời nổi sóng. Hạnh phúc chưa bao giờ là một con đường bằng phẳng. Hạnh phúc là sau mỗi khúc quanh, sau mỗi cơn bão, mình vẫn còn thấy người kia đứng đợi.

Ngày 15 tháng 9 năm 1976, chúng tôi cưới nhau. Đó không phải là thời điểm đẹp để người ta nghĩ đến chuyện dựng vợ gả chồng. Đất nước vừa đi qua biến cố lớn của lịch sử, cuộc sống của biết bao gia đình miền Nam bỗng chốc đổi thay. Người thân ly tán, bạn bè mỗi người một ngả, tương lai phủ đầy những điều không ai dám đoán trước. Trong hoàn cảnh ấy, hai người trẻ chúng tôi quyết định xây dựng một mái ấm. Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy quyết định ấy vừa liều lĩnh nhưng cũng vừa đẹp. Chúng tôi chẳng có gì ngoài tuổi trẻ, tình yêu và một niềm tin rất giản dị rằng: nếu còn có nhau thì rồi sẽ vượt qua được tất cả.

Đám cưới ngày ấy đơn sơ đến mức hôm nay tôi không còn nhớ trên bàn có những món ăn gì, cũng không còn nhớ mình mặc bộ quần áo nào. Điều duy nhất còn vẹn nguyên trong ký ức là ánh mắt của người con gái đứng bên cạnh tôi. Ánh mắt ấy không nói về sự giàu sang hay những ước mơ lớn lao, nó chỉ lặng lẽ gửi gắm một niềm tin rằng từ hôm nay, dù cuộc đời có đổi thay thế nào, hai đứa cũng sẽ cùng nhau đi tiếp. Chính niềm tin ấy đã nâng đỡ chúng tôi trong suốt năm mươi năm sau đó.

Những năm đầu của cuộc sống vợ chồng là những năm tháng vô cùng khó khăn. Đồng lương ít ỏi, cuộc sống chật vật, mọi thứ đều phải chắt chiu. Nhưng điều làm tôi nặng lòng nhất không phải là chuyện cơm áo, mà là số phận của cha mẹ. Cha tôi bị đưa đi trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú. Ngày cha rời nhà, mẹ đứng rất lâu ngoài ngõ. Bà không khóc, chỉ lặng lẽ nhìn theo cho đến khi bóng cha khuất hẳn sau con đường. Từ hôm ấy, căn nhà dường như vắng đi một nửa. Mỗi lá thư cha gửi về đều được mẹ cất giữ như một báu vật. Có những đêm tôi thức giấc, vẫn thấy mẹ ngồi dưới ngọn đèn vàng, đọc đi đọc lại những dòng chữ đã nhòe theo năm tháng. Mẹ không chỉ đọc thư của cha. Mẹ đang đọc nỗi nhớ của chính mình.

Là con trai trưởng, tôi đau đáu nỗi lo cho mẹ và bảy đứa em còn nhỏ dại. Là một người chồng mới cưới, tôi hiểu mình phải gánh vác cả một gia đình nhỏ trong thời cuộc nhiễu nhương. Có những lúc tưởng như không còn đủ sức, nhưng mỗi lần nhìn sang, tôi lại thấy người vợ trẻ của mình lặng lẽ ngồi vá áo, chuẩn bị bữa cơm hay chỉ nhẹ nhàng hỏi một câu: “Mình có mệt lắm không?” Chừng ấy thôi cũng đủ làm lòng tôi ấm lại. Em chưa bao giờ than phiền vì những khó khăn phải gánh chịu, chưa bao giờ trách cuộc đời sao quá nghiệt ngã với tuổi trẻ của mình. Em chỉ âm thầm đi bên cạnh, chia sẻ từng nỗi lo và tiếp cho tôi nghị lực để bước tiếp.

Năm 1979, cha tôi vĩnh viễn ra đi nơi đất Bắc, không một người thân nào được ở cạnh trong giờ phút cuối. Nỗi đau mất cha như một nhát cắt âm thầm nhưng rất sâu, để rồi suốt gần nửa thế kỷ sau, mỗi lần nhớ đến cha, lòng tôi vẫn không khỏi nghẹn ngào. Chính từ nỗi mất mát lớn lao ấy, tôi càng hiểu rằng đời người ngắn ngủi biết bao. Nếu không có cái nắm tay của em ngày ấy, tôi không biết mình sẽ đi qua những tháng năm nhiều giông bão bằng cách nào. Và mỗi lần nhìn lại chặng đường đã qua, tôi càng tin rằng quyết định đúng đắn nhất của cuộc đời mình không phải là chọn một nghề nghiệp hay một nơi để sống, mà là chọn đúng người để cùng đi hết cuộc đời.

Thời gian lặng lẽ trôi đi như dòng nước dưới chân cầu. Chúng tôi lần lượt đón ba đứa con chào đời. Mỗi đứa trẻ đến với gia đình đều mang theo một niềm hy vọng mới, như những chồi non mọc lên sau mùa giông bão. Có con, chúng tôi càng thấy mình phải sống mạnh mẽ hơn. Những ước mơ riêng của tuổi trẻ hai đứa dần được gấp lại để nhường chỗ cho tương lai của các con. Hạnh phúc của cha mẹ đôi khi chỉ đơn giản là nhìn thấy con khỏe mạnh, lớn lên từng ngày và ngủ yên sau một ngày dài mệt mỏi.

Năm 1998, sau nhiều năm vất vả chuẩn bị, gia đình nhỏ chúng tôi rời Việt Nam để sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ. Hôm máy bay cất cánh, tôi ngoái nhìn qua ô cửa nhỏ. Quê hương dần khuất dưới những tầng mây trắng. Trong khoảnh khắc ấy, lòng tôi ngổn ngang những cảm xúc khó tả. Vui vì trước mặt là một chân trời mới cho các con, nhưng cũng buồn vì biết mình đang rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có mồ mả tổ tiên, nơi có cha nằm lại, có ký ức của tuổi thơ và cả những người thân yêu không dễ gì gặp lại. Tôi tự nhủ rằng mình không rời bỏ quê hương, mà chỉ mang quê hương theo trong trái tim để bắt đầu một hành trình khác.

Những ngày đầu ở Tulsa, Oklahoma thật sự không dễ dàng. Mọi thứ đều mới lạ, từ ngôn ngữ, khí hậu, thức ăn cho đến cách sinh hoạt, văn hóa làm việc… tất cả đều buộc chúng tôi phải học lại từ đầu. Có những lúc lái xe trên con đường vắng giữa mùa đông tuyết phủ, tôi chợt nhớ những cơn mưa ở Huế, nhớ những con đường Đà Nẵng đầy nắng, nhớ Sài Gòn với tiếng xe máy ồn ào và những quán cà phê bình dân lề đường. Nỗi nhớ quê hương luôn âm ỉ trong lòng người xa xứ. Nhưng mỗi lần nhìn ba đứa con hồn nhiên đến trường với ánh mắt đầy hy vọng, tôi lại thấy mình có thêm sức mạnh để bước tiếp.

Hai năm sau, gia đình chuyển về San Jose, nơi có cộng đồng người Việt đông đảo và cũng là trái tim của Thung lũng Silicon. Đó là một quyết định quan trọng, mở ra một chương mới trong cuộc đời chúng tôi. Tôi may mắn được nhận vào làm việc tại KLA-Tencor, một công ty sản xuất máy test silicon wafer hàng đầu lúc bấy giờ. Mỗi ngày bước vào nhà máy, nhìn những dây chuyền hiện đại, tôi thường nghĩ đến quãng đường mình đã đi qua. Từ một cậu học trò ở Đà Nẵng, một sinh viên Đại học Bách Khoa Sài Gòn năm nào, trải qua những tháng ngày đen tối sau 11975,để hôm nay được đứng giữa trung tâm công nghệ của thế giới. Cuộc đời đúng là có những ngã rẽ mà không ai có thể đoán trước.

Nhưng điều làm tôi hạnh phúc nhất không phải là công việc, mà là mỗi buổi chiều trở về nhà, nhìn thấy ánh đèn vàng hắt ra từ ô cửa sổ, nghe tiếng các con ríu rít kể chuyện trường lớp và thấy người vợ của mình vẫn đang tất bật chuẩn bị bữa cơm. Có lẽ vì đã từng trải qua những năm tháng thiếu thốn và chia ly, nên tôi luôn xem bữa cơm gia đình là một điều thiêng liêng. Dù bận đến đâu, hai vợ chồng vẫn cố gắng ngồi ăn với các con, lắng nghe từng câu chuyện nhỏ. Chính những bữa cơm tưởng như bình thường ấy đã gắn kết gia đình chúng tôi suốt bao năm qua.

Thời gian trôi nhanh hơn mình tưởng. Mới ngày nào còn dắt các con đến trường, vậy mà rồi từng đứa một trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có nghề nghiệp ổn định và xây dựng gia đình riêng. Điều làm tôi ấm lòng là các con vẫn giữ được nếp sống mà cha mẹ luôn cố gắng vun đắp: biết yêu thương, biết chia sẻ và biết dành thời gian cho gia đình.

Sống ở Mỹ gần ba mươi năm, nếu ai hỏi tôi điều gì quý giá nhất mà đất nước này mang lại, tôi sẽ trả lời rằng đó là cơ hội. Nước Mỹ đã cho chúng tôi cơ hội bắt đầu lại, cho các con học hành và trưởng thành. Nhưng bên cạnh lòng biết ơn ấy, tôi chưa bao giờ quên mình là người Việt Nam. Trong căn nhà này vẫn có bàn thờ tổ tiên, vẫn có tiếng Việt trong những bữa cơm, vẫn có những món ăn mẹ từng nấu và vẫn có những câu chuyện về quê hương để các cháu hiểu cội nguồn của mình ở đâu.

Mỗi dịp cuối tuần hay lễ Tết, căn nhà nhỏ lại rộn rã tiếng cười của con cháu. Nhìn những đứa cháu chạy tung tăng trong sân, tôi bỗng thấy hình ảnh của các con ngày nào. Cuộc đời như một vòng tròn đẹp đẽ, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia bằng tình yêu thương và sự hy sinh thầm lặng. Đến một lúc nào đó, tôi nhận ra rằng cuộc đời đã ưu ái mình nhiều hơn mình từng nghĩ. Sau bao nhiêu biến cố, gia đình vẫn còn đủ đầy. Sau bao nhiêu mất mát, vợ chồng vẫn còn ngồi bên nhau. Sau bao nhiêu năm bươn chải, các con đều trưởng thành và hiếu thảo. Có lẽ, đó mới chính là thành công lớn nhất của một đời người.

Trong không gian ấm áp của ngày kỷ niệm 50 năm ngày cưới hôm nay, khi nhìn thấy những người thân yêu, bạn bè và những người đã từng đồng hành cùng gia đình có mặt đông đủ, tôi cảm nhận được một niềm xúc động khó diễn tả. Mỗi gương mặt là một câu chuyện, mỗi lời chúc là một món quà tinh thần quý giá. Có những người đã biết chúng tôi từ những ngày còn trẻ ở Việt Nam, có những người gặp chúng tôi sau khi đã định cư trên đất Mỹ, nhưng tất cả đều cùng chia sẻ niềm vui trong một dấu mốc đặc biệt này.

Tôi vẫn thường nghĩ rằng mỗi người đều có một cuốn sách của cuộc đời mình. Có những trang viết bằng niềm vui, có những trang viết bằng nước mắt và sự hy sinh. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta vẫn tiếp tục viết. Và những trang đẹp nhất thường không phải là những trang không có khó khăn, mà là những trang cho thấy chúng ta đã mạnh mẽ như thế nào để vượt qua. Ngày Anniversary 50 năm của chúng tôi chính là một chương thật đẹp trong cuốn sách ấy.

Khi buổi lễ kết thúc, khi mọi người ra về và không gian trở nên yên tĩnh hơn, tôi có một cảm giác thật đặc biệt. Tôi nhìn người bạn đời đã cùng mình đi qua nửa thế kỷ và thầm nghĩ: Hóa ra hạnh phúc không phải là một điều gì quá xa vời. Hạnh phúc chính là sau bao nhiêu năm tháng, mình vẫn còn có một người để cùng ngồi bên nhau, cùng nhớ về quá khứ và cùng mỉm cười với hiện tại.

Năm mươi năm đã đi qua như một giấc mơ dài, một giấc mơ được viết bằng tình yêu, bằng sự hy sinh và bằng những ngày tháng hai vợ chồng đã cùng nhau cố gắng. Phía trước có thể không còn là một con đường dài như ngày còn trẻ, nhưng chúng tôi tin rằng mỗi ngày còn được sống, còn được yêu thương và còn được chia sẻ với gia đình đều là một ân phúc. Xin cảm ơn cuộc đời đã cho chúng tôi gặp nhau. Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh. Và xin cảm ơn em, người bạn đời của tôi, vì sau tất cả những chặng đường ấy, chúng ta vẫn còn có nhau.

Lê Xuân Mỹ

San Jose tháng 9 năm 2026




DONRY NGUYỄN – NÓI THẲNG VỚI CÁC ANH.

NÓI THẲNG VỚI CÁC ANH 

Nếu không nhờ chúng tôi tuân lệnh,

Thôi đánh nhau xây dựng hòa bình.

Thì chắc gì các anh còn sống,

Còn được nhìn thế giới văn minh.

.

Bị “bác đảng” nhốt sau màn sắt,

Cắm đầu ăn bánh vẽ khen ngon.

Thân trâu ngựa trên đồng hợp tác,

Đâu biết gì ngoài hội trường thôn.

Vượt Trường Sơn nằm bờ ngủ bụi,

.

Trốn trong rừng nhai sắn thay cơm.

Đêm sương lạnh nằm nghe vượn hú,

Tủi phận hèn “sinh bắc tử nam”.

Nếu không vì chúng tôi buông súng,

.

Làm thể nào anh thắng chúng tôi.

Nhớ hay chăng Mậu Thân sáu tám,

Các anh phơi mấy chục vạn người.

Bia chiến tích còn ghi An Lộc,

.

T.54 nằm gục bên đường.

Bắc Bình Định vùng lên quyết chiến,

Mấy sư đoàn anh bị tiêu vong.

Chưa kể đến Kon Tum Tân Cảnh,

.

Ngả Tam biên chật xác anh nằm.

Rừng Hạ Lào máy bay rải thảm,

Thây dính chùm rào kẽm Khe Sanh.

Cờ vàng bay Cổ Thành Quảng Trị,

.

Anh chém vè về Bắc trong đêm.

Bỏ đồng chí các anh nằm lại,

Chân xích cùm ổ súng Thượng liên.

Các anh nghe tuyên truyền láo toét,

.

Ngỡ miền Nam cuộc sống nghèo nàn.

Khi chứng kiến chúng tôi giàu đẹp,

Anh sượng sùng đôi mắt láo liên.

Bị nga tàu xúi vào “giải phóng”,

Dã tâm là nhuộm đỏ miền Nam.

Anh mang súng AK, lựu đạn …

Giết dân lành hết sức dã man.

Chúng tôi đã vô cùng nhân đạo,

Đối xử anh tử tế đàng hoàng.

Anh bị bắt cho ăn cho uống,

Anh bị thương chữa trị thuốc thang.

Cho cơ hội các anh quay lại,

Thể hiện qua chánh sách Chiêu hồi.

Cứu các anh khỏi con đường chết,

Vui sống trong xã hội loài người.

Lẽ ra anh ơn tôi mới phải,

Nhờ công tôi anh được đổi đời.

Vào phương nam ăn ngon mặc đẹp,

Biết đua đòi bắt chước ăn chơi.

Nếu chúng tôi là người chiến thắng,

Sẽ không thèm làm nhục các anh.

Không cướp giựt cửa nhà tiền bạc,

Như cách anh từng nhúng tay làm.

Không hèn hạ trả thù người lính,

Khi chiến tranh đã kết thúc rồi.

Trang sách kể của người còn sống,

Đều cho anh đã mất tính người.

Xây ảo mộng “thiên đường xã nghĩa”,

Anh đốt gần hai triệu thanh niên.

Rồi quay lại ôm chân đế quốc:

– Xin chạy theo … kinh tế thị trường.

Uổng máu xương các “đồng chí bác”

Thí mạng cùi vác xác vào đây.

Không hay biết quan thầy lường gạt,

Nhai lá rừng chém giết hăng say.

Không lẽ nói “nhổ ra liếm lại”,

Mặt anh dày đâu biết hổ ngươi.

Cả thế giới nhìn anh khinh bỉ,

Xem như loài khỉ đột, đười ươi.

Dân Việt Nam từ nay đã rõ,

Ai là người yêu nước thương dân.

Từng một thời hiên ngang chiến đấu,

Cho Tự Do – Bác Ái – Công Bằng.

Nay chủ nghĩa vô thần đã chết,

Từ cái nôi nó được khai sinh.

Chính các anh lầm đường lạc lối, 

Rước voi về giày xéo non sông.

Lẽ ra phải ăn năn hối cải,

Trả lại quyền tự chủ dân ta.

Anh tiếp tục đè đầu cỡi cổ

Tôn giặc thù nhận chúng làm cha.

Anh rống họng hô to hòa giải,

Mà mỗi lần đến cuối tháng tư,

Lại mở tiệc tưng bừng ăn nhậu, 

Trên nỗi đau máu mủ đồng bào.

Gọi chúng tôi “ngụy này ngụy nọ”,

Phân chia ra giai cấp mấy đời.

Gặp thiên tai ngửa tay xin xỏ,

Liền đổi tông … “khúc ruột khúc dồi”.

Anh thắng cuộc chẳng qua tạm bợ,

Trong lòng dân anh thảm bại rồi.

Liệu mà sống theo thời theo thế,

Đừng để cơn sóng bổ mưa bồi.

Nói tôi thua, chưa hề thua nhé,

Kịp đánh đâu mà bảo thắng thua.

Tướng bên tôi muốn dân yên ổn,

Khuyên chúng tôi buông súng về nhà.

Nghĩ thương dân mấy mùa khói lửa,

Đồng đội tôi bất kể nhục vinh.

Bỏ gươm đao chịu lìa trận mạc,

Nhường các anh mặc sức reo mừng.

Nhưng vẫn giữ ngọn cờ chính nghĩa,

Một lòng vì Dân Tộc – Quốc Gia.

Lòng dân tôi muôn đời tưởng nhớ,

Thương chúng tôi …

Người Chiến Sĩ Cộng Hòa.

–Donry Nguyễn-

(Ảnh 4 người lính VNCH chụp đêm Noel 1974 tại Kon Tum, tác giả đứng ngoài cùng bên phải).




PHẠM PHAN LANG – HAI MƯƠI LĂM NĂM – VẪN NHỚ

Hôm nay, nhân kỷ niệm 25 năm biến cố 9/11, xin được kính cẩn nghiêng mình tưởng niệm những người vô tội đã ra đi, những người anh hùng đã hy sinh, và tất cả những gia đình vẫn còn mang trong tim nỗi đau của ngày định mệnh ấy.

Hai mươi lăm năm đã trôi qua, nhưng ký ức vẫn còn đó, lòng biết ơn vẫn còn đó, và tinh thần kiên cường của nước Mỹ vẫn mãi trường tồn.

Xin gửi bài thơ “Hai Mươi Lăm Năm – Vẫn Nhớ” như một nén hương lòng trong ngày tưởng niệm.

Ta vẫn nhớ. Và muôn đời vẫn nhớ.

Pham Phan Lang

HAI MƯƠI LĂM NĂM – VẪN NHỚ

Tưởng niệm 25 năm biến cố 11 tháng 9, 2001–2026 

Hai lăm năm, một trời thu trở lại
Nắng tháng Chín còn soi bóng cờ bay
Mà trong tim nước Mỹ đến hôm nay
Vẫn khắc mãi một ngày đau thế kỷ

Trời New York buổi bình minh tuyệt mỹ
Bỗng kinh hoàng trong khói lửa mịt mù
Hai tòa tháp chìm khuất giữa trời thu
Bao sinh mạng phút giây thành vĩnh biệt

Có những người biết hiểm nguy, vẫn tiến
Ngược dòng người, lao thẳng giữa lửa thiêu
Chẳng kịp hỏi đời còn lại bao nhiêu
Chỉ biết cứu một người đang mắc kẹt

Có những tiếng cuối cùng trong ly biệt:
“Con yêu Người…” “Xin Mẹ hãy bình an…”
Một lời thương giữa khoảnh khắc kinh hoàng
Thành di nguyện gửi người còn ở lại

Từ Lầu Năm Góc đến đồng xanh Pennsylvania
Đất lặng thầm ôm những trái tim son
Có những người khi sự sống chẳng còn
Vẫn đứng dậy chọn hy sinh, chống trả

Ngày hôm ấy, nước Mỹ đau nghiệt ngã
Nhưng từ đau thương, nước Mỹ đứng lên
Triệu bàn tay không phân biệt tuổi tên
Cùng nắm chặt dưới màu cờ Tổ quốc

Hai lăm năm – thời gian trôi từng bước
Những vết thương rồi cũng phủ rêu mờ
Nhưng người đi vẫn sống giữa câu thơ
Trong ký ức, trong tim người ở lại

Xin cúi xuống trước anh hùng thuở ấy
Trước bao người vô tội đã ra đi
Trước những người mang thương tích xuân thì
Và những kẻ suốt đời còn thương nhớ

Chuông tưởng niệm ngân trong trời lộng gió
Lá quốc kỳ vẫn rực đỏ, trắng, xanh
Một dân tộc từng tan nát mong manh
Càng đau đớn càng kiên cường đứng dậy

Hai lăm năm  xin một lần nhắc mãi
Tự do nào cũng có những hy sinh
Xin nguyện cầu cho thế giới thanh bình
Không còn nữa những ngày đau như thế

Ngày tháng Chín, giữa trời thu lặng lẽ
Ta nghiêng mình tưởng niệm những người đi
Nước Mỹ ơi, dù năm tháng qua đi 
Ta vẫn nhớ. Và muôn đời vẫn nhớ.

phamphanlang

9/11/2026

In remembrance of the lives lost, the heroes who sacrificed,
and the enduring spirit of America.