TIN BUỒN: Tác Giả Tuyển Tập “Như Một Lời Chia Tay!” Nhà Văn Huy Phương Vừa Tạ Thế – Phân Ưu: LÊN VĂN HẢI – PHƯƠNG HOA – NGUYỄN HUY KHÔI – LIÊU XUYÊN – MINH THÚY – CAO MỴ NHÂN
THƠ HỌA Bài “THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA NHÀ VĂN HUY PHƯƠNG” Của Phương Hoatừ quý “Đường thi sĩ”:
LINH THI
Phụng bái hương hồn Nhà văn Huy Phương!
Xa rồi,… mà nghĩa chẳng hề xa
Bóng hạc ảo mờ nhẹ cánh sa!...
Lòng nặng ưu tư hồn Tổ Quốc
Dạ vương trắc ẩn đất Quê Nhà.
Thi ngôn thưởng…ngát hương huê diệu
Văn bút soi…ngời ánh nguyệt ngà…
Cốt cách đậm hồn trang,…hữu xạ
Ly từ!…lệ ngọc ấm sân ga!
27-20-2022
Nguyễn Huy Khôi
TIỄN HUY PHƯƠNG
Lòng buồn nghe bạn đã rời xa,
Lìa chốn văn chương giọt lệ sa.
Viết lách bao năm đành bỏ sách,
Dãi dẫu thân thế biệt quê nhà.
Tha hương đời phải lìa quân ngũ,
Đất khách lời nêu mộng ngọc ngà.
Đáng tiếc non sông còn thống khổ…
Huy Phương kìa hỡi… cuối sân ga!
Liêu Xuyên
THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN
Tin buồn nghệ sĩ đã rời xa
Ngưỡng mộ bao người lặng lệ sa
Nắng đẹp mùa Xuân sao bỏ sách
Hoa xinh lá nụ lại buông nhà
Mầm chương thả nghĩa lời châu báu
Điệu phú vung tay ý ngọc ngà
Quý mến Huy Phương cầu tịnh độ
Văn Đàn Lạc Việt tiễn sân ga
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 2/26/2022
DÒNG THƠ TIỄN BIỆT
Xin Thay Lời kính điếu Nhà Văn HUY PHƯƠNG.
Chia tay từ buổi lưu vong xa
Chốn bụi hồng xưa đổ lệ sa
Tình lính văn phong thường nổi sóng
Hồn quê thơ loạn vẫn thương nhà
Tạp ghi đầy ắp sầu tay trắng
Điểm báo tràn thêm mỏi bút ngà
Lạc Việt đệ huynh chào chiến hữu
Đau buồn bái biệt cuối sân ga …
Utah 27 – 2 – 2022
CAO MỴ NHÂN
Kỷ Niệm Một Tấm Hình
Biết ông bệnh đã lâu, nhưng khi nghe tin ông mất lòng thấy bồi hồi tiếc nuối một nhà văn, một nhân tài đã ra đi. Lục tấm hình năm nào ông lên San Jose ra mắt sách 2 tập “ Nước Non Ngàn Dặm “ và Quê Hương Khuất Bóng“, ông xã tôi nhìn tựa đề đã bị lôi cuốn liền, ông cũng có thì giờ nói chuyện về quê hương với chồng tôi , và tôi đã chớp tấm hình lưu niệm.
Hôm đó có chị Kim Thư ngâm bài thơ cũng như hát bài nhạc của ông, ngoài ra có ca sĩ Ngọc Lan là học trò cũ của ông phụ diễn phần văn nghệ.
Những bài viết ngắn của ông tôi thường đọc từ các diễn đàn văn thơ chuyển vòng, rất thích những bài ông viết tả những ngôi Chùa ngày xưa nơi quê nhà. Văn của ông để lại đời, còn ông đã ra đi giữa mùa Xuân đầy nắng ấm. Đôi dòng từ biệt. Cuộc gặp gỡ nay chỉ còn là kỷ niệm.
Thành kính chia buồn cùng tang quyến. Nguyện cầu hương hồn ông sớm về cõi tịnh độ.
Minh Thuý Thành Nội
Tiễn Biệt Nhà Văn Huy Phương
Tiễn Biệt ông nằm mộ nghỉ ngơi
“Nước non ngàn dặm“ khóc tình đời
Văn chương suối chảy dài hàm tích
Tác phẩm lời bay rộng tuyệt vời
Cách trở sông nguồn mơ trọn vẹn
Xa lìa lá cội mộng đầy vơi
“Quê hương khuất bóng“ hoài say tưởng
Mãn kiếp mong cầu ngủ thảnh thơi
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 2/26/2022
Tác Giả Tuyển Tập “Như Một Lời Chia Tay!” Nhà Văn Huy Phương, Đã Thực Sự Nói Lời Vĩnh Biệt Với Tất Cả Chúng Ta!
*Nhà văn Huy Phương, cây viết có sức sáng tác bền bỉ, tên tuổi nổi nang, được biết nhất tại Hải ngoại.
*Giờ chia tay!
Nhà văn Huy Phương, tên thật là Lê Nghiêm Kính, pháp danh Thiện Bảo. Sinh năm 1937, tại Huế. Vừa qua đời lúc 4 giờ chiều Thứ Sáu, (ngày hôm qua) 25 Tháng 2, năm 2022. Hưởng thọ 86 tuổi. Tại nhà riêng ở thành phố Anaheim, Nam California.
Bà Phan Thị Điệp, hiền thê của nhà văn vừa mất, đã xác nhận và xin gởi lời thông báo đến với tất cả Quý đồng nghiệp, bạn bè, người thân xa gần.
*Hơn 2 năm trời chiến đấu với bịnh ung thư thực quản!
Một người bạn vừa thăm ông, vào những ngày gần cuối đời nhận xét: Vẫn với mái tóc rậm đặc, bạc trắng phau phau, nhà văn Huy Phương lộ nét cực kỳ yếu sức thấy rõ, vì sau gần hai năm ròng rã, chống chọi với căn bệnh ung thư thực quản quái ác. Người gầy khô, còn da bọc xương, mệt mỏi. Nhưng ở ông vẫn toát ra một thái độ an nhiên tự tại, sẵn sàng đón nhận tất cả, bình thản, kể cả cái chết!
Ông tâm sự: “Hồi Tháng Tám, 2020, một hôm đang ăn, tôi bị nghẹn cổ và khó chịu trong người, rồi bỗng dưng ói mửa thốc tháo thực phẩm ra ngoài. Đi soi bao tử, không thấy gì hết. Mừng lắm! Không ngờ sau đó, thì người ta phát giác ra là, tôi bị ung thư thực quản thời kỳ cuối!”
Từ cuối Tháng Ba, năm 2021, bịnh viện chê! không có thuốc chữa! Ông được chuyển sang quy chế “hospice tại gia” Ông đã rời bệnh viện, về tĩnh dưỡng cuối đời tại nhà, của người con gái út ở Anaheim.
*Những lời trăn trối cuối cùng
-Hỏi ông có điều gì trăn trối? Ông không trả lời, mà vói tay lấy tập thơ “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” của chính mình. Lật ra bài “Chúc Thư,” chỉ vào đoạn:
“Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa!
Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc!”
-Hỏi, có ước vọng gì sau khi chết? Ông tâm sự, còn có một trăn trở cho thế hệ tương lai, nghĩ mãi mà chưa làm được gì.
Điều ông muốn dặn dò là, thế hệ trẻ gốc Việt, là phải cố giữ gìn ngôn ngữ Việt. “Phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Đây là nhiệm vụ của người lớn chúng ta, những người Việt hải ngoại. Vì tiếng Việt trong nước, đã trở thành một ‘cái gì’ què cụt, rất dị hợm, đọc là muốn ói rồi!” Ông xác định: “Mất tiếng Việt là mất văn hóa Việt.” Không chú ý công tác văn hóa, văn học này, chỉ vài chục năm nữa, cả người trong nước, lẫn Hải ngoại, đều ngơ ngác hỏi “Việt Nam tôi đâu?”
*Niềm vui lớn nhất trong đời?
-Hỏi Ông có niềm vui nào lớn trong đời? Ông nói: “Trong lúc làm chương trình ‘Huynh Đệ Chi Binh,’ tình cờ tôi liên lạc được những người, có thông tin chính xác về hai ngôi mộ tập thể, có chôn xác rất nhiều Cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Việt Nam. Một tại ở Bình Dương, Sài Gòn và một ở Thuận An, Huế. Nhờ đó, tôi giúp được khá nhiều gia đình, để vợ tìm được chồng, để mẹ tìm được con, bà tìm được cháu. Họ viết thư cám ơn tôi tưng bừng! …khói lửa! Không ngờ đó là một hạnh phúc lớn nhất, đối với đời của tôi.”
*Chút tiểu sử Nhà Văn Huy Phương
Trước 75
Nhà văn Huy Phương, tên thật là Nguyễn Huy Phương, sinh ngày 4.10.1927. Quê gốc ở xã Nghi Lộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Sinh trưởng trong một gia đình nho học đỗ đạt, Huy Phương được theo học từ nhỏ và đã học hết toàn ban tú tài (cũ trước 72)
Ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng ít lâu, trong phong trào Tổng khởi nghĩa ở Huế (1945).
Tốt nghiệp Khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và Khóa Sĩ Quan Thông Tin Báo Chí tại Hoa Kỳ.
Biên tập viên báo chí đài Phát Thanh Quân Đội. Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến và Chỉnh Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
Ngòi viết Huy Phương là cây viết rất sớm. Năm 15 tuổi (1952), ông đã có thơ và tuỳ bút đăng trên Tuần Báo Ðời Mới tại Sàigòn, do Chủ Nhiệm là Ông Trần Văn Ân chủ trương.
Ra Hải ngoại
Ông qua đến Mỹ, từ năm 1990. Sau 7 năm tù cải tạo.
Đã cộng tác với báo Người Việt, Hệ Thống Saigon Nhỏ và Báo Trẻ, Thời Báo (Canada). Đài Phát thanh Việt Nam (Oklahoma) và Đài truyền hình SBTN tại Hoa Kỳ. Thằng Mõ (San Jose)
Ông sở trường, mà mọi người đọc quen thuộc với Ông, với thể loại tạp ghi. Viết về sinh hoạt, đời sống và tâm tình của người Việt trên đất Mỹ. Nhận xét sâu sắc, văn không bóng bẩy, nhưng rất hấp dẫn, chen chút dí dỏm.
Tác Phẩm:
– Mắt Đêm Dài (thơ) năm 1960
– Mây Trắng Đồn Xa (truyện) năm 1966
– Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già (thơ)
– Nước Mỹ Lạnh Lùng
– Đi Lấy Chồng Xa
– Ấm Lạnh Quê Người
– Hạnh Phúc Xót Xa
– Sóng Vỗ Bèo Trôi
– Nước Non Nghìn Dặm
– Quê Hương Khuất Bóng
– Quê Nhà – Quê Người
– Tuyển Tập 80 Huy Phương – Ga Cuối Đường Tàu
– Tuyển Tập Huy Phương “Như Một Lời Chia Tay”.
*Rất nhiều người không biết, Ông còn là một thi sĩ!
Huy Phương ngoài tài viết, còn làm Thơ! Thơ Ông mang nỗi niềm bâng khuâng mang mác, thao thức, trăn trở. Qua Thơ của Huy Phương, người đọc bỗng thấy trái tim mình còn sống! chưa chết! đang đập! Vì còn thấy tình cảm ấm áp nào đó, vẫn len lén chen vào trong tim.
Xin mời thưởng thức 2 bài thơ của Ông:
Dạ Thưa Thầy Thầy Còn Nhớ Em Không?
Quê Hương xưa từ những ngày chinh chiến
Thầy trò ta vội từ giã ngôi trường
Thầy từ đây đã rời xa bục giảng
Trò làm thân chiến sĩ của mười phương!
Rồi Thầy Trò cùng chung màu áo trận
Đời chiến binh ai ngỡ buổi tương phùng!
Từ thế nghiêm trò dơ tay chào kính:
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”.
Gặp vận nước buổi rã rời tan nát
Thân tù đày nơi nước đục rừng thiêng
Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”
Giờ lận đận ở quê người phiêu bạt
Tóc bạc phơ ngày tháng nặng lưng còng
Buổi hội ngộ nghe muốn trào nước mắt
“Dạ thưa Thầy còn nhớ em không?”
Sau đây một bài thơ “đặc trưng” Huế của Huy Phương, ai đọc mà không cảm động, ai đọc mà không nao nao trong lòng! Hướng về Quê Hương có Sông Hương Núi Ngự, đong đầy nước mắt.
Nhớ Huế
Mùa này nước Hương Giang có mặn
Muối đại dương có thấm vào sông?
Từ ngày anh đoạn tình bỏ Huế
Nguồn xa đã lạc mấy trăm dòng!
Mùa này Huế còn mưa tầm tã
Thương quê xưa vẫn nỗi đói nghèo
Anh ở nơi này vùng nắng ấm
Vẫn nhớ hoài đời Mẹ gieo neo.
Mùa này quê có còn bão lụt
Chén cơm em còn độn sắn khoai?
Trên tiệc rượu người con xa xứ
Men nồng nào lẫn nước mắt cay.
Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.
Mùa này Huế có còn áo trắng
Em hiện thân làm bướm tan trường
Thương ngày tháng một thời niên thiếu
Huế bây giờ – Huế đã mù sương!
Huế của tôi giờ đâu còn nữa
Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa
Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế
Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…
Lời kết
Hầu như ai cũng đều công nhận, Huy Phương thuộc những cây bút nổi trội, có giá nhất hải ngoại. Được như thế, vì Ông có tâm huyết với nghề viết. Thêm đức tính cần mẫn, tận tụy, nghiêm túc, đầy trách nhiệm. Đặc biệt là luôn cố gắng tìm tòi để tự vượt lên chính mình, trong hoàn cảnh mới, tự đổi mới học hỏi, để có thể hòa nhập và đóng góp lớn cho nền văn học hải ngoại nói riêng và dân tộc Việt nói chung.
Ông được người đọc và đồng bào quý mến, qua hình ảnh một nhà văn, nhà báo, một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từng ở tù, dù bên thua trận chiến, mà vẫn hiên ngang, không làm mất danh dự của người Lính VNCH.
Ông mất đi, là một mất mát lớn đối với giới Văn Nghệ Sĩ, Truyền Thông, Báo Chí và Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Một cây bút nhiều thiện chí xây dựng, có trái tim thương yêu Việt Nam, hầu như không biết đả phá.
Người như Ông làm sao chết được! Hình bóng Ông, lời văn Ông, vẫn còn sống mãi trong các tác phẩm để lại, chưa kể trong tim với những người yêu mến, một nhân cách rất đáng ngưỡng mộ. Trong đó từ lâu đã… có tôi!
Anh Phương ơi, “Anh, Anh không chết đâu Anh!”
LVHải (tổng hợp)
TÂM TÌNH TIỄN ĐƯA NHÀ VĂN HUY PHƯƠNG CỦA THI SĨ HOÀNG MAI NHẤT, VTLV:
Nghe tin nhà Văn, nhà Báo Huy Phương vừa tạ thế, Hoàng Mai Nhất thật sự bất ngờ vì cứ nghi rằng sẽ có một dịp thuận lợi nào đó qua Nam Cali sẽ đến thăm anh. Thế mà…không ngờ:
NHỚ ANH
“Thôi thế từ nay anh đã đi
Để lại trong tôi nỗi bùi ngùi
Thương nhớ chỉ còn trên trang giấy
Đọc lại như thấy anh còn đây…”
Hoàng Mai Nhất
Tôi biết nhà Văn, nhà Báo Huy Phương cũng do một duyên may tình cờ. Số là thế này, vào một buổi chiều Chủ Nhật, 5/4/2009; nhà Văn, nhà Báo Huy Phương qua TP Seattle, TB WA để ra mắt tác phẩm “NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI” của ông (nếu tôi nhớ không lầm thì do nhà thơ nữ Trần Mộng Tú và Thân Hữu tổ chức).
Tôi vội vàng đến tham dự. Khách đến dự khá dông, đặc biệt trong số này có một nhóm Nữ ôm những bó hoa; thì ra đó là những học tò ngày xưa của ông, mang hoa đến để kính tặng vị Thầy ngày xưa của mình (Bây giờ làm sao tìm lại được những hình ảnh đẹp trân quý như thế này khi “Đất Nước” mất vào tay bạo quyền csVN).
Khi ông lên nói đôi lời về những gì gởi gấm trong tác phẩm này. Tôi một tên cắc ké, chập chửng làm thơ với tính cách bất đắc dĩ; đã bồi hồi rung động viết vài câu thơ múa rìu qua mắt thợ, lại còn cả gan lên đọc tặng ông ngay lúc đó và đã in trong Thi tập đầu tay “CHÚT ĐỜI CÒN LẠI TRONG THƠ” của tôi ̣(ra mắt ngày 25/7/2021 ở TP Seattle, TB.WA).
* Viết tặng nhà Văn, nhà Báo Huy Phương tại buổi ra mắt sách “NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI” ở TP. Seattle, TB. WA vào chiều Chủ Nhật 5/4/2009.
NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI
Hoa nắng xôn xao chiều Chủ Nhật
Đồng hương, chiến hữu tụ về đây
Gặp gỡ Huy Phương…” đời nhìn xuống” *
Để lòng ấm lại mỗi mùa Đông
Xứ người trời lạnh _ mưa giăng mắc
Hoài bão một thời vẫn nặng mang
Quê hương còn dẫu trong tăm tối
Dân Chủ _ Tự Do sắp đến rồi
Cuộc đời nhìn xuống Huy Phương nhỉ
Nụ cười lại nở trên môi tươi
Hoàng Mai Nhất
* “đời nhìn xuống”: tên tác phẩm Tạp Ghi của tác giả Huy Phương, vừa mới ra mắt ở Seattle, WA.
Tất cả những điều viết nêu trên, thật sự không là gì hết, cái chính ở đây là sự ngưỡng mộ, kính phục mà tôi cần học hỏi nơi ông: “một nhân cách lớn, đầy đạo đức, không xem thường khinh dễ ai hết ”, cho dù đó là một Hậu Sinh không tiếng tăm, không hề quen biết.
Cho nên: khi về Cali rồi, ông vẫn gọi phone qua cảm ơn bài thơ tôi đã làm tặng ông lúc đó và xin lỗi vì bận quá nên không nói gì với tôi được hết.
Bây giờ nghe tin ông mất, lòng buồn vô hạn; biết nói gì hơn ngoài viết đôi dòng giải bày niềm tiếc thương, tưởng nhớ đến ông như một nén hương lòng kính tiễn đưa ông, cầu chúc Niên Trưởng Huy Phương Thiện Bảo mau sớm về cỏi Niết Bàn.
Hoàng Mai Nhất THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
(Viết tại TP. Seattle, TB Washington ngày 27/2/2022)
KÍNH TIỄN BIỆT
(nhà Văn, nhà Báo Huy Phương)
Kính tiễn đưa,
một vị thầy đáng kính trọng
một nhà Báo, một nhà Văn
một đàng anh, một Niên Trưởng
dâng mãnh đời trọn tấm lòng
dùng ngòi bút khơi mầm sống
khuyên tuổi trẻ chớ quên nguồn
cùng giữ gìn ngôn ngữ Việt:
Dẫu rằng Sóng Vỗ Bèo Trôi *
Trải thân Ấm Lạnh Quê Người
Ra đi Nước Non Nghìn Dặm
Sống cảnh Quê Nhà – Quê Người
Để rồi Hạnh Phúc Xót Xa
Khi mà Quê Hương Khuất Bóng
Giống như Đi Lấy Chồng Xa
Ở nơi Nước Mỹ Lạnh Lùng
Đành thôi dõi Mắt Đêm Dài
Gởi về Mây Trắng Đồn Xa
Lá Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già
Cười vui Cuộc Đời Nhìn Xuống
Đi hết Ga Cuối Đường Tàu
Tựa Như Một Lời Chia Tay
của một người viết “Tạp Ghi”
nơi xứ người để lại
cho cháu con mai này
giữ gìn Văn Hóa Việt.
Hoàng Mai Nhất
(Viết tại TP. Seattle, TB Washington ngày 27/2/2022)
*Những câu chữ in đậm là tên các tác phẩm của nhà Văn, nhà Báo Huy Phương đã sáng tác và xuất bản.
Được tin Thầy rời cõi tạm, tôi thật sự xúc động, cho dù biết “ngày ấy“ thế nào rồi cũng đến. Tôi không có dịp tiếp xúc nhiều với Thầy. Cho dù những buổi ra mắt sách của Thầy ở San Jose, tôi đều tham dự đầy đủ với vai trò một ca sĩ . Tôi hát những bài về quê hương và những bài nhạc phổ thơ của Thầy do nhạc sĩ Đào Nguyên biên soạn. Tôi biết Thầy bằng trái tim ngưỡng mộ một Nhà Văn, một tên tuổi nồi tiếng. Một ngòi bút “tạp ghi” gần gũi, thân thương… Thầy biết tôi dưới cái nhìn của một ca sĩ bình thường. Thế nhưng vào một hôm, qua sự giới thiệu của một Huynh Trưởng gia đình Phật Tử, tôi đã được hân hạnh gặp Thầy. Duyên lành đang đến với tôi khi tôi chuẩn bị giới thiệu một cuốn sách có tựa là Dòng Chảy. Và Dòng Chảy đã biến tôi -một ca sĩ bình thường- thành một con người khác thường. Một Nhà Văn dưới mắt Thầy “… Tôn Nữ Áo Tím là một người kể chuyện tỉ tê, chừng mực, với văn phong trong sáng, cẩn trọng. Tác giả đi sát với tâm lý của nhân vật cùng giới tính, đã đưa chúng ta cùng với nhân vật đi khắp ba miền đất nước..” [Nguyên Phương]. Xin cám ơn Thầy. Được tin Thầy bị ung thư, tôi bất ngờ và rất tiếc. Tôi liên lạc với các bạn trong nhóm Quốc Học Đồng Khánh, ns Đào Nguyên (cháu) để kiếm chứng thông tin. Tôi tâm nguyện nhứt định phải đến thăm Thầy một lần cuối. Thế rồi tôi đã được như ý. Vẫn mái tóc trắng dày, đầy sức sống. Nhưng Thầy đã rất yếu trong bộ pyjama màu nâu lạt. Chiếc gậy trong tay, Thầy bước ra cẩn thận, chậm chạp. Ánh mắt vẫn sáng suốt. Thầy vẫn nhớ tôi. Thầy không nói chuyện được nhiều, chỉ Cô Điệp là vợ Thầy, giúp khi chúng tôi hỏi thăm về tình hình sức khỏe của Thầy. Tôi vốn ít nói, nhưng bỗng nhiên hôm đó tôi nói rất nhiều. Tôi muốn gợi nhớ cho Thầy về những lần lên San Jose giới thiệu sách. Thầy chỉ gật đầu không nói. Thầy mệt! Vâng, tôi thật xót xa khi nhìn Thầy đang chuẩn bị rời chuyến tàu chót của trạm ga cuối cùng. Thầy ơi! Cho dù chưa một lần học với Thầy, nhưng tôi rất trân trọng con người ấy- một nhà văn-một nhà thơ- được nhiều người thương mến. Những lần giới thiệu sách ở San Jose- Bắc Cali, tôi chưa bao giờ bỏ qua. Lần giới thiệu tác phẩm “Ga Cuối Đường Tàu”, tôi man mác một nỗi buồn giấu kín. “Huy Phương ơi, xin ông đừng vội xuống tàu”, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa đã thốt lên như thế. Nhưng cuộc đời có cho phép ai rong ruổi mãi đâu. Có chuyến tàu nào không đến sân ga cuối cùng. Con tàu đưa Thầy đang kéo còi chuẩn bị vào ga. Thầy đang sống với những khoảnh khắc đối diện với bờ vực tử-sinh. Thầy ơi! Một câu nói mọi người ai cũng biết “Khi ta sinh ra, mọi người cười, ta khóc. Khi ta ra đi, mọi người khóc, ta cười “. Vâng, mọi người sẽ nhỏ những giọt nước mắt thắp sáng một tên tuổi HUY PHƯƠNG-Lê Nghiêm Kính … “Khi tôi chết, ván hòm xin đậy nắp/ Có vui chi nhìn người lính chết già/ Hổ thẹn đã không tròn ơn nước/ Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa…..” [Chúc Thư-Huy Phương] Bên cạnh cuộc đời của Thầy không thể thiếu một bóng hồng rất đẹp. Cô Phan Điệp. Một người vợ thật tươi vui, nhã nhặn. Cô gọi Thầy là Anh Bính. Cô nói: “Khi viết văn, anh là Huy Phương. Trong khai sinh tên là Nghiêm Kính. Còn với Điệp, anh là anh Bính….” Rất dễ thương Bây giờ Thầy đã yên nghỉ. Thầy đã thật sự rời chúng ta. Một nén nhang, xin được góp lời cầu nguyện hương linh Thầy sớm về cõi Phật. Vĩnh biệt Thầy, Huy Phương-Lê Nghiêm Kinh
TÔI BIẾT THẾ NÀO ANH CŨNG VỀ … (Phan Nhật Nam)
Tôi biết thế nào anh cũng về…
Lần Huy Phương đi chuyến tàu cuối một mình..
25 Tháng 2, 2022
Tôi biết thế nào anh cũng về (1)
Không bây chừ thì dăm bữa nữa
Cuộc đoạn trường nầy mấy ai lần lỡ
Ga cuối đường tàu không phải chờ lâu (2)
Bước chậm rãi, dạng hình thấp thoáng
Nắng chiều hôm đỗ bóng xuống sân ga
Khô gió chướng thổi xòa tóc rối
Lạnh lùng thấm hiểu một-mình-ta
Hiểu lẻ tử/sinh- Hiểu kỳ còn/mất
Một lần “mất nước” tưởng nằm mơ
Đêm chợt thức.. áo tù đầm ươn ướt
Hóa ra ta bật khóc tự bao giờ?!
Sáng sớm điểm danh, tù xuất trại
Nhìn quẩn quanh chẳng biết ai với ai?
Người bạn kia nghe quen tiếng nói
Đói lạ lùng sạm mặt, tái màu da!
Chiều về nhìn bóng núi săm sắp
Hỏi rằng sống được đến ngày mai?
Đêm nằm nhóp nhép môi khô nhạt
Tưởng miếng cơm, nhớ bữa ngọt ngào
Cố gõ lấy đầu như gỏ cửa (3)
Mà sao cửa đóng chặt then gài
Nhìn xuống giếng chợt thấy.. Ôi kinh hãi
Trắng phau phau bợt nhạt mái tóc mai
Mười năm khổ thân tù xa xứ
Trở về phố cũ nhìn không ra
Thơ Hạ Tri Chương hóa không đủ
Đi về đâu? Nào “đồng bào ta”?
Nhà cũ không còn. Cửa đóng chặt
Hỏi, thưa không một tiếng trả lời
Muốn ngữa mặt kêu với trời khẩn cấp
Có hay không.. Một phận, nghiệp cho người?
Vợ rày rạn tả tơi vùng kinh tế mới
Con đâu rồi.. Thân gởi chốn biển khơi
Ôi bé bỏng một thời cha bế ẵm
Trôi về đâu lớp lớp sóng gào đau
Cắn chặt răng, cố nhập thân xứ lạ
Chắc nắm tay, lại khởi cuộc từ đầu
Chiều tan sở, tuổi gìà, xe đời cũ
Giữa giòng người nêm chặt.. Exit về đâu?
Anh cố viết như đã từng gắng sống
Viết những gì.. Và gắng sống..
Vì sao?
Đất Mỹ – Không khứng cho “Người Thất Trận” (4)
Quê nhà nào – Chỉ Hạnh Phúc Xót Xa! (5)
Vẽ hộ anh em một Chân Dung ngơ ngác (6)
Viết giùm chiến binh Bản Di Chúc đắng cay (7)
Còn được bao nhiêu Người Muôn Năm Cũ (8)
Đủ hơi tàn về họp mặt Tháng Tư? (9)
Thôi nhé Huy Phương..
Dẫu sao cũng còn một nơi mong trở lại
Ngôi trường xưa đầm thấm vọng Lời Thầy
Lớp học lắng im, bóng cây bàng mát rượi
Bên giòng Sông Đá rạn giọt Mồ Hôi (10)
Nơi trường ấy, Thầy dạy Người Tử Tế
Hãy Yêu Thương – Hãy Chân Thật trăm bề
Nên tôi biết…
Thế nào Anh cũng về chốn ấy,
Trên chuyến tàu cuối cuộc nhớ Thầy Lê!
Ghi chú:
#(1;3;4;5;6;7;8;9): Những đầu sách và bài viết của Huy Phương
#(3): Thơ Tô Thùy Yên
#(10): Sông Thạch Hãn; Trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị – Nơi Huy Phương/Thầy Lê Nghiêm Kính dạy lớp học đầu đời trước khi nhập ngũ Khóa 16 Thủ Đức, 1964
Nhớ Ngày 25 Tháng 2, 2022
Cùng Ngày Mạ mất, Bà Phương Dung, (1922- 25 Tháng 2, 1961)
Phan Nhật Nam
**Cập Nhật Lần 8: TRANG TƯỞNG NIỆM & THÀNH KÍNH PHÂN ƯU: Văn Thi Sĩ DƯƠNG HUỆ ANH, Cố Vấn Của VTLV & Thành Viên Văn Bút VNHN & Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Vừa Tạ Thế.
Tôi xin mạn phép thay mặt Ban Truyền Thông Văn Thơ Lạc Việt. Thực hiện Cáo Phó Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh. Để kính thông báo cùng quý vị.
Một chút lòng thành kính dâng lên tiền bối Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh. Cúi xin Trời Phật đón nhận hương linh cụ ông Dương Huê Anh Sớm yên nghỉ trên cõi Niết Bàn.
Thành Kính Phân Ưu
Lê Tuấn
Lời Mời tham dự:
Chiều Tụng Kinh Cầu Siêu Cho Thi Sĩ Tiền Bối Dương Huệ Anh, Sáng Lập Và Cố Vấn Văn Thơ Lạc Việt.
Tại Chùa An Lạc, Lúc 6 Giờ 30 Chiều, Thứ Sáu Tuần Này! Ngày 25 Tháng 2 Năm 2022.
Thưa Quý Niên Trưởng và Quý Anh Chị Em,
Ngày 17 tháng 2/2022 vừa qua, VTLV của chúng ta mất đi một người “Anh Cả” thương yêu, dễ mến, cũng là Vị Sáng Lập và Cố Vấn của Hội.
Đó là Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh. Tên thật là Phạm Ngọc Tường. Mất tại san Jose. Hưởng đại thọ 97 tuổi.
“Nghĩa tử là nghĩa tận” Trong niềm tri ân tưởng nhớ. Hải đã mạo muội thay mặt VTLV, đứng ra xin Sư Bà một Buổi Tụng Kinh Cầu Siêu, cho Hương Linh Thi Sĩ Quá Cố đầy tình thương, tình mến của chúng ta, chóng được siêu thoát.
Lúc 6 giờ 30 chiều, Thứ Sáu tuần này, ngày 25 tháng 2 năm 2022. Tại Chùa An Lạc. Số 1647 E. San Fernando St, San Jose Ca 95116.
Mong Quý Niên Trưởng, Quý Anh Chị Em, bớt chút thời giờ, tham dự đông đủ, buổi Cầu Kinh đặc biệt này. Cùng nhau Hợp lực, thắp nén nhang tưởng nhớ, tụng chung câu kinh, hy vọng Hương Linh người Anh Cả của chúng ta, cũng ấm lòng, thanh thản về Cõi Cực Lạc.
Xong buổi cầu kinh, nhà Chùa có thiết đãi ly trà nóng và tô bún chay.
Rất Hân Hạnh và Trân Trọng Kính Mời.
Lê Văn Hải
https://www.youtube.com/watch?v=Nql8WojHeBM
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Tin buồn đưa đến quả lòng đau
LẠC VIỆT VĂN THƠ quá nghẹn ngào
CỐ VẤN thi đàn đi chẳng giã
HUỆ ANH thi sĩ biệt không chào
Bao năm tại thế ôi thương quý!
Chớp mắt về Trời thật tiếc sao!
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG QUYẾN THUỘC
Chúc người cõi Phật bước nhanh vào
Thay mặt
Ban Biên Tập Văn Thơ Lạc Việt
Phương Hoa – FEB 19th 2022
**
TÂM THI
(Họa 4 vậncùng Phương Hoa)
Tiền bối ly từ,… dạ nhói đau!
Tinh hoa văn nghiệp quyện hương ngào!
Khôn cầm tương ngộ đôi lời giã
Chẳng kịp tri ân một tiếng chào!
Thư nhã ngao du hòa cảnh sắc
Thanh nhàn phiêu ngoạn giỡn trăng sao!
Rượu bầu,thơ túi tràn phong lãng…
Nhân nghĩa lưu thơm mãi nhiệm mầu.
21-2-2022 Nguyễn Huy Khôi
**
KÍNH TIỄN BIỆT
Nhói đau tin đến thật thình lình
Bác Huệ Anh về chốn lặng thinh
Cách biệt từ nay thôi chẳng gặp
Chia ly xa hẳn hết tâm tình
Cuộc đời là thế đành như thế
Phân ngả đôi bờ chuyện tử sinh
Lạc Việt Thơ Văn đồng tiễn biệt
Tiếc thương Tiền Bối kính nghiêng mình
Hoàng Mai Nhất (Seattle, WA, 20/2/2022)
CHIA BUỒN TỪ VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI VÙNG ĐÔNG BẮC HOA KỲ & VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI:
Hồng Thủy (Chủ Tịch VBVNHN VĐBHK) xin thông báo một tin rất đau buồn cho tất cả chúng ta và VBVNHNVĐBHK nói riêng, VBVNHN nói chung:
Anh BA DƯƠNG HUỆ ANH của chúng ta đã bỏ chúng ta đi rồi (HT được Nhà Văn CHINH NGUYÊN của VTLV thông báo). Chưa biết nguyên nhân anh ra đi nhanh chóng, đột ngột như vậy. HT SẼ XIN THÔNG BÁO KHI ĐƯỢC BIẾT THÊM CHI TIẾT. Chúng ta đã mất một người anh đáng kính, hiền hòa. VBVĐBHK và VBHN đã mất một Thi Sĩ kỳ cưu tài đức song toàn. Xin tất cả các anh chị cùng cầu nguyện cho ông anh đáng kính, đáng quí của chúng ta được siêu thoát về miền vĩnh cửu.
Thân mến
Hồng Thủy
*****
VĂN THI SĨ LÊ TUẤN (VTLV &VBVNHN VĐBHK):
Nhận được tin Văn Thi Sĩ tiền bồi Dương Huệ Anh đã xa rời chúng ta, ông lặng lẽ ra đi vào ngày 17 tháng 2 năm 2022. Khi câu thơ của ông còn văng vẳng đề lại, như một lời tiên tri về sự ra đi của chính mình. “Thoáng rồi…đã cuối tháng Hai. Nắng, mưa cũng hết, buồn vui… có còn?” Dương Huệ Anh.
Tôi nhớ lại mới đây VTLV tổ chức mừng sinh nhật Thi Sĩ Dương Huệ Anh còn viết bài thơ chúc mừng …Tháng ngày như ngựa chạy, tên bay, Chín chục hơn, bừng tỉnh giấc say… Bè bạn vắng dần, tình vẫn nặng, Cháu con đầy đó, số còn may? Già rồi yếu, thịt kiêng. mong đậu, Vui lại buồn, đàn họa thiếu gì dây… Sinh nhật, chúc nhau thêm tuổi thọ Hòa Bình thế giới, nối vòng tay… “Thương yêu, Tha thứ”, theo lời Chúa, Hỉ, Xả, Từ, Bi…nhớ đức Thầy… Tinh Độ: Ta Bà trong hiện hữu, Nỗi đau đòi, nhẹ bớt, mong thay!!! Dương Huệ Anh Đó chỉ là những vần thơ trao đổi gần đây nhất mà ông đã post trên email, đủ thấy được tấm lòng của thi nhân đối với anh chị em trong nhóm VTLV. Tôi đã viết tặng ông 4 câu thơ. Dương Huệ Anh Ông già chín chục tuổi xuân Vẫn còn nặng nợ nhân quần làm thơ Cõi lòng trải rộng đôi bờ Văn Thơ Lạc Việt, dựng cờ vinh quy Lê Tuấn Kính tặng. Tiền bối nhà thơ Dương Huê Anh
Vậy mà ông đã lặng lẽ cưỡi hạc bay theo mây trắng về trời, bỏ lại trần gian những tác phẩm văn chương, những vần thơ hay, bỏ lại niềm thương nhớ, tiếc thương một nhân tài. Nhà tôi ở gần nhà ông, có lần tôi ghé thăm, tặng ông vài quyển sách, ông có nhờ tôi xem giúp computer của ông bị trở ngại, thú thật là cái computer của ông quá cũ và rất chậm, nếu đụng vào thì sẽ thay đổi hết trật tự vốn có trong máy mà ông đã quen sử dụng, thôi thì tôi đành bó tay. Tôi rất kính phục ông, mặc dù tuổi đời đã cao nhưng lúc nào ông cũng muốn học hỏi thêm. Gần đây nhất là trung tuần tháng 1 năm nay 2022. Ông gọi phone cho tôi và khoe, có đứa cháu cho ông một cái computer cũ, nhưng mới với ông, ông ngỏ ý nhờ tôi hướng dẫn cách layout book. Ông muốn tự mình hoàn tất một tác phẩm, mà không cần nhờ ai. Thú thật là tôi cũng rất bận và tôi biết sức khỏe của ông không cho phép ông ngồi lâu và hơn nữa người già thì hay quên, rất khó layout một quyển sách. Đây cũng là lần cuối cùng tôi thưa chuyện với ông qua điện thoại. Thôi thì viết tặng ông bài thơ ngắn. Ngày ông cưỡi hạc về trời cũng là ngày Nguyên Tiêu, trăng rằm vẫn còn hiện diện.
Trời sai hạc xuống theo mây trắng Trăng sáng Nguyên Tiêu soi bóng cây Tử sinh trong cõi vô hình ấy Hương hồn thi sĩ ở quanh đây. Lê Tuấn
Bây giờ tôi phải viết một bài thơ lục bát, để kính tặng một Văn Thi Sĩ đáng kính trong diễn đàn Văn Thơ Lạc Việt.
***
Dương Huệ Anh Vì Sao Vừa Chợt Tắt
Có một vì sao chợt tắt Muôn ngàn vì sao cúi mặt xót thương Tiễn đưa về cõi vô thường Thi nhân tao nhã vấn vương một thời.
Câu thơ thay cả vạn lời Gửi theo mây gió, cuối trời tiễn đưa Mắt buồn đọng ướt cơn mưa Khơi dòng ký ức ngày xưa trở về. Dương Huệ Anh vọng lời thề Nhìn về cố quốc, bộn bề núi sông Tha phương một khối tình không Bảo tồn tiếng Việt, điểm hồng văn chương.
Lịch sử có lật từng chương Thì xin cắm một nén hương lòng thành Gửi thi sĩ Dương Huệ Anh Niết bàn, nơi chốn vãng sanh yên bình.
Lê Tuấn Thành Kính phân ưu Thi sĩ Dương Huệ Anh
***
Nguyễn Diệm + Bích Liên, Phó Chủ Tịch & Điều Hành Website VBVNHN VDDBHK xin thành kính phân ưu cùng tang quyến. Đời sống này vô thường quá! Xin Vĩnh Biệt Bác Dương Huệ Anh!
VĨNH BIỆT BÁC DƯƠNG HUỆ ANH
Buồn ơi ! nhận được hung tin
Chủ tịch khả kính buông mình rời xa
Trải qua Sinh, Lão, Bệnh già
Thi nhân yên nghỉ mộ tà dương sâu
Văn Thơ Lạc Việt bước đầu
Là cây cổ thụ che lâu vững vàng
Màu Xuân rực rỡ chưa tan
Mùa Xuân đã khóc vội vàng tiễn đưa
Mắt mờ như bám hạt mưa
Rơi dòng ký ức mộng xưa trở về
Dương Huệ Anh đảm muôn bề
Một thời gánh vác hẹn thề non sông
Tha phương gầy dựng bỏ công
Giữ gìn tiếng Việt gom lồng văn chương
Hội viên quy tụ bốn phương
Phú thi trải rộng yêu thương một nhà
Bóng thời gian khó níu là
Mái đầu sương bạc dần dà nghỉ ngơi
Thơ Xuân bác gởi mấy lời
Bài thơ để lại người rời thế gian
Lãng du hưởng gió mây ngàn
Âm dương cách biệt muôn vàn vấn vương
Trang đời ghi lại những chương
Góp chung lời nguyện nén hương lòng thành
Cầu về Tịnh Độ vãn sanh
Phương Tây Cực Lạc Huệ Anh hưởng đầy
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 2/19/2022
Thư Khanh cũng xin cầu cho Hương Linh Thi Sĩ Dương Huệ Anh mau được về Nơi Cõi an Lành.
SANH GIÀ BỆNH TỬ
Trẻ Già ai cũng đến lần thôi
Kẻ trước sau mãi thế rồi
Luật Trời muôn thuở âu là thế
Cầu xin Thi Sĩ được Về Trời
THƯ KHANH – 2/19/ 2022
Thành Kính Phân Ưu Cùng Tang Quyến
Nguyện cầu Hương Linh nhà văn Dương Huệ Anh sớm về Cõi Phật
Lê Thị Nhị – VBVNHN
Thành kính chia buồn cùng tang quyến thi sĩ Dương Huệ Anh.
Xin hiệp lời cầu nguyện hương linh bác Dương Huệ Anh yên nghỉ chốn vĩnh hằng.
Ngọc Thúy – VBVNHN VĐBHK
Thành Kính Phân Ưu với gia đình nhà thơ Dương Huệ Anh.
Nguyện hương linh thanh thản
Nguyện ra đi an nhàn
Nguyện vong hồn siêu thoát
Nơi cõi trời thênh thang.
Nguyễn thị Thêm
**
Thưa quý anh chị,
Buồn quá, anh Ba là người khiêm nhường tế nhị.
Trong tuyển tập VB anh đã nhắc đến nhiều người trong chúng ta đấy ạ.
Sao Khuê
Tôi sững sờ và hết sức đau buồn nhận được hung tin nầy.
Tôi rất ngưỡng mộ thi hữu Dương Huệ Anh.
Tôi xin chia buồn cùng tang quyến
Và cầu chúc hương linh người quá cố được an vui miền Cực Lạc.
Trần Công /Lão Mã Sơn
Em cảm ơn chị Hồng thuỷ báo cho biết.
Em thật là bàng hoàng với tin buồn này.
Cũng may là tuy em chưa gặp anh Ba VB VĐNHK, nhưng em thường đăng tác phẩm anh Ba trên trang VietPEN.
Em biết anh đọc và vui nên hay gửi tác phẩm cho em đăng.
Chỉ có chút an ủi này để nguôi ngoai thôi.
Cung Thị Lan (Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại)
**
Thật là bất ngờ vì trong thơ từ qua lại chưa từng thấy anh Ba than phiền về sức khỏe.
Xin thành kính chia buồn cùng gia đình anh Ba trước sự mất mát to lớn này.
Nguyện cầu vong linh anh Ba, Dương Huệ Anh sớm tiêu diêu miền cực lạc.
Thành Kính Phân Ưu,
Dương Vũ
Cám ơn chị Hồng Thủy
Nhìn hình chân dung anh Ba trông anh rất hiền, dễ mến…
Chưa được gặp mặt anh mà anh đã vội ra đi…
Những câu thơ của anh thật dễ thương, sâu lắng… THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG GIA QUYẾNCẦU XIN LINH HỒN ANH DƯƠNG HUỆ ANH SỚM ĐƯỢC VỀ MIỀN CỰC LẠC 𝓽hái 𝓷ữ 𝓵an
Được tin buồn
Anh Ba Dương Huệ Anh vừa mới bỏ mọi người ra đi rất đột ngột,
thật là tiếc thương.
Xin thành kính chia buồn cùng gia đình anh Ba,
nguyện cầu hương linh anh Ba được tiêu diêu nơi cõi Vĩnh Hằng.
Mỹ Hoàn
Tin rất buồn Thi Sĩ DƯƠNG HUỆ ANH đã mệnh chung hôm nay 19 -2 – 2022 tại Thung Lũng Hoa Vàng San Jose.
Xin kính lời phân ưu cùng tang quyến Nhà Thơ lão thành.
Cầu nguyện hương linh cụ sớm Phiêu diêu miền Vĩnh Cửu.
Kính bái.
Cao Mỵ Nhân.
THƠ ĐIẾU THI SĨ DƯƠNG HUỆ ANH.
Cụ bảo rằng không bỏ bóng xuân
Sao hôm nay lại biệt dương trần
Xưa từng xướng hoạ lời chân thiện
Giờ đã phiêu linh cõi thánh thần
Hội ngộ văn đàn từ sáng lập
Chia ly thi hữu chẳng gieo vần
Vô cùng thương tiếc Dương Thi Sĩ
Hoa “Huệ Anh Đường” nở vạn năm …
Los Angeles 19 – 2 – 2022
CAO MỴ NHÂN
*
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Tin buồn đưa đến quả lòng đau
VĂN BÚT VÙNG ĐÔNG BẮC nghẹn ngào
Thi bối đi rồi, đi chẳng giã
HUỆ ANH đã biệt, biệt không chào
Mấy trăng nhập hội thân nhiều lắm!
Chớp mắt về Trời tiếc xiết bao!
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG QUYẾN THUỘC
Chúc người cõi Phật bước nhanh vào
Phương Hoa – FEB 19th 2022
Thật là bất ngờ và đau buồn!
Thuy Messegee
*
Vô cùng ngạc nhiên hay tin thi sĩ Dương Huệ Anh mãi mãi ra đi về chốn vĩnh hằng.
Xin chia buồn với tang quyến và đại gia đình Văn Bút Hải Ngoại, Văn Thơ Lac Việt.
Cầu nguyện hương linh nhà thơ Dương Huệ Anh được an nhàn nơi cõi phúc
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Ngọc Hạnh
*
* Xin Chân Thành Kính Nguyện Cầu Linh Hồn Lão Tiền Bối
Thi Sĩ Đa Tài Hoa Thật Cao Quý DƯƠNG HUỆ ANH Sớm Được Siêu Thoát Về Cõi Vĩnh Hằng*
*Xin Chân Thành Kính Phân Ưu Cùng Tang Quyến*
**Xin Chân Thành Kính Bái
LuânTâm
*
Chị Hồng Thủy kính mến.
Em cám ơn chị báo tin, em thật sự bàng hoàng khi biết anh Ba đã ra đi.
Tuy em chưa biết anh Dương Huệ Anh, nhưng em cũng được hân hạnh đăng bài của anh.
Em vô cùng thương tiếc, xin hiệp lời cầu nguyện cho Hương Linh anh Dương Huệ Anh sớm yên nghỉ nơi miền Cực Lạc.
Thành kính phân ưu cùng gia đình và tang quyến trong nỗi đau mất mát này.
Kính nguyện.
KIM OANH
*
Xin được thành kính phân ưu cùng tang quyến của nhà thơ Dương Huệ Anh và hội VBVNVĐBHK
Nguyện cầu hương linh người quá cố được thanh thản nơi miên viễn.
Thành kính phân ưu
Nguyễn hữu Mỹ Nga
*
Cháu xin chân thành được chia buồn với gia quyến chú Dương Huệ Anh
và cầu nguyện cho hương linh chú sớm yên nghỉ nơi vùng Cực Lạc
Trân trọng
Kim Vũ
Tin Rất Buồn!
Dù biết Thi Sĩ Lão Thành Dương Huệ Anh đã có tuổi và thời gian sau này, sức khỏe không được khả quan cho lắm. Nhưng tin Ông qua đời, vẫn là tin bất ngờ, bàng hoàng đau xót với tất cả Anh Chi Em trong VTLV.
Thi Sĩ Đương Huệ Anh, là Thành Viên Sáng Lập Văn Thơ Lạc Việt từ năm 1992. Với nhiều Thi Sĩ khác, như có Cụ Hà Thượng Nhân, Hoàng Anh Tuấn….Tên gọi ban đầu là Thi Đàn Lạc Việt, sau đổi thành Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.
Tính tình hiền lành, dễ mến, sống chan hòa tình nghĩa với mọi người.
Cả đời say mê với chữ nghĩa văn thơ. Đã có những tác phẩm xuất bản trước 75. Cây viết Dương Huệ Anh, là một văn nghệ sĩ đa năng, có mặt trong nhiều bộ môn: Thơ, Văn, Nghiên Cứu, Nhạc, Truyện, Ký. Ông được biết là một người có số lượng thơ sáng tác rất nhiều ở Hải ngoại.
Sau đây một chút tiểu sử của: Thi Sĩ DƯƠNG HUỆ ANH & TÁC PHẨM
Bút hiệu khác: Y Lương, Triều Ðông, Thái Uyển, Huyền Sương.
Sinh quán: Hải Phòng, Bắc Việt Nam .
Nghề nghiệp: Trước 1975: Công chức hành chính.
Sau 1975: Công, tư chức, các ngành xã hội, kinh doanh, bảo hiểm, tài trợ và địa ốc, khảo cứu Ðông Y.
Tác phẩm đã xuất bản.
Trước 75:
-Thơ Xanh
-Tâm Lý Phụ Nữ Qua Ca Dao Tục Ngữ
Tại Mỹ:
– Huyền Ca, Diễm Ảnh
– Quê Hương Vĩnh Cửu Tình Yêu
– Ðường Nào Có Hoa Ðào
-Tha Hương Mười Tám Năm, Sầu Có Ai.
– Ðông Y Lược Giải
-Những Cánh Thư Hồng
-Thơ Việt Hải Ngoại
-Thiên Niên Kỷ Mới
– DVD 12 Bến Nước
-Chân Dung & Giá Trị Truyện
-Những Bước Đường Đã Qua
-40 Năm Tị Nạn Buồn Vui
Một Vài Bài Thơ của Thĩ Sĩ Dương Huệ Anh
CỨ VUI
Lửa nóng Sa Bà, ta cứ vui,
Lên voi, xuống chó, gắng yêu đời!
Bởi ta có cái người không có,
Sức mạnh, Bi tâm, những nụ cười!
Tuổi trẻ, xe lăn, ngồi, chẳng thiếu,
Bạn già, chống gậy, cũng thường thôi!
Phi Châu, dân đói, vô cùng khổ,
Bệnh quỉ, Sida, cả triệu người!
Do Thái, Muslim thù khó giải,
Thánh Thần, rồi Chúa cũng buông xuôi!
Năm châu quấy động*, niềm tin mất,
Bởi quá tham, điên đảo cuộc chơi!
* Khủng hoảng tiền tệ, ngân hàng, địa ốc.
20/01/09
LẠI GIÁNG SINH
Ngày tháng trôi mau, lại Giáng Sinh,
Trời mưa, trời gió, lạnh run mình.
Tám mươi hơn, tuổi, thơ còn mặn,
Sáu chục tròn, cân, bạn dám khinh?
37 năm, buồn thân tị nạn,
Tháng mươi lần, dạo bước* điêu linh!
Ngày ba bữa, giữ cho bền sức,
Đêm mấy phen đi…khổ thật tình!
Răng cửa lung lay, chừng muốn rụng,
Tóc trần trụi lùi, ngó mà kinh!
Ngáp dài, thích ngủ quay trên thảm,
Quên hết, ưu tư với bất bình!!
* Đi bộ
24/12/12
CUỐI NĂM MƯA GIÓ
Cuối năm mưa, gió, lạnh ê da,
Trời vẫn âm u, dễ chán a!
Uốn cái lưng còng, lo chống đỡ,
Thẳng đôi chân sậy, gắng xông pha!
Mắt mờ, sớm, tối lên thăm mạng (net),
Tai lãng, – con, em…- khó tặng quà!
Ba bữa rau dưa, mong giữ sức,
Một lòng tu tập, khởi từ ta!
Vui trong hiện hữu, quên năm tháng,
Tịnh độ không gần, cũng chẳng xa!
29/12/12
THẾ LÀ LẠI HẾT NĂM
Thế là lại hết năm Tây,*
2012- Lạnh. Gió ngày, mưa đêm…
Chiến tranh, khủng bố, triền miên,
Thày tu ngậm máu, Đức Tin xuống đường!
Phi Châu, dân đói thảm thương,
Vô lương, tài phiệt một phường lưu manh,
Gian thương nào nghĩ nhân tình,
Đầu cơ, lũng đoạn, Giàu, thành giàu thêm!
Độc tài ngoan cố, giữ quyền,
Tự do, hạnh phúc hão huyền, dân mơ!
Xứ này, Mỹ, thích tự do,
Tha hồ mua súng, tha hồ giết nhau!
Trẻ thơ vô tội, ngờ đâu,
Chết trong lớp học,
thêm sầu Giáng Sinh!
31/12/12
LÂU NGÀY, GẶP BẠN
Lâu ngày, gặp bạn, mừng a,
Hỏi thăm địa chỉ?
– Hơi xa!
– Ngại gì!
Thôi cho số điện thoại đi,
Khi nào rảnh ghé…
nhâm nhi …chuyện đời…
Tay ghi hàng số, miệng cười,
“Quan Âm Thiền Viện” ít người biết, anh!
Nhớ thêm đạo hiệu Tâm Minh,
Vào Google Search cũng nhanh, mấy hồi!
… Hai lần phone, – chẳng trả lời,
Cuối tuần, xe phóng…tìm hoài, thấy đâu?!
Quan Âm Bồ Tát, khẩn cầu,
Ngất ngư, lội bộ, trước, sau, hỏi đường…
Bỗng…xa thoáng bóng áo vàng,
Ai đưa lối,
Hẳn đạo tràng không xa!
…Cờ bay, vui cõi Ta Bà
Tháng 4, mồng 8, Phật Đà đản sinh…
18/5/2013
ĐI BỘ
Về chiều, thả bộ, khỏe mà vui,
Thêm được nhìn phong cảnh đất trời.
Sẵn dịp, ghé mua hàng hạ giá,
SafeWay, SaveMart…nửa giờ thôi !
Nắng vàng, gió mát dịu hồn ta,
Thoáng…đến đầu đường Berryessa…
Chợt nhớ Hà, Hàn, Búi… mấy bạn
Quế Đào, Liên Bích…ở đâu xa?*
Thiên Đường, lạc cảnh mấy tầng cao,
Thanh tịnh, thơm hương suối, động đào…
Ngọc nữ, tiên đồng trì nguyện độ
Muôn loài, ngạ quỉ sớm tiêu dao…
Ta Bà tranh chiến, lửa tràn lan,
Đường Lưỡi Bò, Trung quốc nhận càn…
Irak, Afgan…còn tử đạo,
Đối đầu nguyên tử, Bắc, Nam Hàn…
Phi Châu nghèo đói cũng can qua,
Do Thái, Iran dữ lắm mà!
Dân Chủ, Độc Tài sao hợp tác?
Cường quyền, – nhược tiểu – dễ gì tha?!
* Hà Thượng Nhân, Hàn Nhân, Đào Thanh Quế, Nguyễn Bích Liên đã khuất.
13/6/2013
Sự ra đi của Thi Sĩ Dương Huệ Anh là một mất mát lớn với VTLV. Hình ảnh Ông sẽ sống mãi trong tim những Bạn Bè thương mến.
Nguyện cầu Hương Linh Người Thi Sĩ Quá Cố vui hưởng cõi Vĩnh Hằng.
Thành Kính Phân Ưu.
Lê Văn Hải
THAY LỜI PHÂN ƯU
Phụng kính hương linh Thi Nhân Dương Huệ Anh!
*
Thi đàn Lạc Việt tiễn thi nhân
TÀI đức toàn song ấm phước phần!
“Diễm ảnh”…* trường tồn cùng vạn lộc
“Huyền ca”…* còn mãi với muôn xuân.
“Lưng còng, chân sậy”…** tiềm tuệ trí
“Tai lãng, mắt mờ”…** rạn tấm thân!?
Chữ thắm “Thơ Xanh”…* tràn mẫn cảm
Lợi danh nhẹ tễnh cõi dương trần!?
21-2-2022
Nguyễn Huy Khôi
* Tiêu đề các tác phẩm của trưởng thượng Dương Huệ Anh.
** Chữ dùng của TT Dương Huệ Anh.
Nghe tin nhà thơ lão thành Dương Huệ Anh vừa qua đời, chúng tôi, Trần Sung Phước thuộc đám con cháu của bác,
Xin thành kính phân ưu cùng gia quyến của bác và nhóm Văn Thơ Lạc Việt.
SỰ ra đi của Bác là một mất mát lớn của Văn thơ hải ngoại.
Luôn tiện xin ban tổ chức cho chúng tôi biết ngày và giờ mất của bác để chúng tôi tụng kinh cầu siêu cho bác theo nghi lễ Phật giáo.
XIn cám ơn và gủi lời chúc bình an , mạnh khỏe cả thể chất và tinh thần, sáng tác mạnh đến toàn ban.
KÍnh,
Trần Sung Phước
Phan Lang rất xúc động khi nhận được tin bất ngờ thi sĩ Dương Huệ Anh đã từ giã chúng ta về miền miên viễn.
Tuy chưa một lần được gặp mặt nhưng PL rất quý trọng và ngưỡng mộ tư cách cũng như tài thi phú của anh trên các văn đàn. Xin cám ơn Ns Lynh Phương đã sáng tác và trình bày ca khúc Niệm Khúc Cuối thật tuyệt vời, nghe mà lòng bồi hồi, cảm xúc dâng đầy. PL cũng xin cám ơn quý văn thi sĩ Phương Hoa, Hồng Thúy, Cao Mỵ Nhân, Kiều Mỹ Duyên, Lê Tuấn… đã cho thưởng thức những áng thơ, văn tưởng niệm cố thi sĩ Dương Huệ Anh.
Rất tiếc PL ở xa không thể về tham dự Buổi Tụng Kinh Cầu Siêu cho nhà thơ lão thành, nguyện cầu hương linh người quá cố sớm được siêu sinh tịnh độ. Xin cám ơn anh Hải đã đứng ra tổ chức bổi cầu siêu ý nghĩa này.
Kính chúc sức khỏe và bình an đến với tất cả quý anh chị VTLV.Kính mến,
Phạm PhanLang
Phương Thúy (Trang Chủ Diễn Đàn Cô gái Việt) xin phân ưu với gia đình cố Thi sĩ Dương Huệ Anh và VTLV.
Tuy chưa được hân hạnh gặp Thi sĩ lúc sinh tiền nhưng đã có lòng mến phục người đã tự nguyện vác cái ngà voi khổng lồ, sáng lập nên Cơ sở VTLV từ năm 1992.
Rất thương tiếc Thi sĩ, người có kiến thức, có tâm, và có tầm nhìn xa cho tương lai chữ Quốc ngữ.
Kính bái vong hổn Thi sĩ!
Phương Thúy
SYDNEY – AUSTRALIA – 24.2.2022
XIN CHÂN THÀNH CẢM TẠ ĐÃ CHO BIẾT BUỔI TỤNG KINH CẦU SIÊU CHO THI SĨ TIỀN BỐI DƯƠNG HUỆ ANH.
TỪ NƠI XA XÔI NÀY, TÔI KHÔNG THỂ THAM DỰ ĐƯỢC, CHỈ XIN DÂNG LỜI CẦU NGUYỆN CHO HƯƠNG LINH THI SĨ TIẾN BỐI SIÊU THOÁT VÀO CÕI VĨNH HẰNG
VÀ XIN CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN VÀ QUÝ THÂN HỮU VTLV
HOÀNG PHONG LINH – SYDNEY.
https://www.youtube.com/watch?v=Nql8WojHeBM
NHÀ VĂN HÓA DƯƠNG HUỆ ANH – PARIS, MẠN ĐÀM VĂN HỌC&NGHỆ THUẬT – Đỗ Bình
Để tưởng niệm một nghệ sĩ lão thành, một nhà văn hóa vừa bỏ trần gian về cõi vĩnh hằng, tôi xin trích một đoạn văn của cố Nhà văn Hồ trường An viết đôi dòng cảm nhận về nhà thơ Dương huệ Anh : « Năm 2003, tức là năm thứ ba của tân thiên kỷ, mảnh vườn hồng của Dương Huệ Anh là một cõi ngự uyển thịnh phóng rất nhiều bông hoa. Với 291 bài thơ được sáng tác đều đặn và cần mẫn trong vòng 12 tháng, tiên sinh có thể dùng làm một hiến lễ mùa thơ rất đẹp, rất đáng trân quý cho khách yêu thơ. Ở hải ngoại, những thi nhân có mạch sáng tác dòi dào nhất phải kể: Tuệ Nga, Cao Mỵ Nhân, Huệ Thu, Sương Mai, Ngô Minh Hằng, Hà Huyền Chi, Dương Huệ Anh, Du Tử Lê, Phương Triều… Có lẽ tiên sinh đứng hàng đầu về lượng. Còn về phẩm thì mỗi người có một sở trường riêng, một nét độc đáo riêng.<!> Tuy nhiên, Dương Huệ Anh vẫn là một tiếng thơ thời thế . Nếu ngày xưa, qua tiếng thơ thời thế, thi hào Victor Hugo đã được giới yêu thi ca tặng cho ông ta là L’écho du siècle (tiếng đồng vọng của thế kỷ). Vậy thì hôm nay, trên thi đàn(Việt Nam) ở hải ngoại, Dương Huệ Anh cũng có thể nhận lãnh cái danh dự ấy lắm chứ.»(Hồ Trường An-Paris, 04/02/2004)
Xin kể lại một câu chuyện văn học ở Paris mà ngày đó nhà thơ Dương Huệ Anh đã được các bằng hữu trong giới văn nghệ đón tiếp rất trân trọng và chân tình do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức trong đó có buổi Thảo luận về văn học & nghệ thuật giới thiệu Tác phẩm và Tác giả.Tác giả Dương Huệ Anh rất đa tài, nhưng tôi quen gọi ông là Nhà Thơ. Từ ngàn xưa người đời vẫn quan niệm:«Nhà thơ là một danh hiệu cao quý cho người làm thơ, khi mà thơ ca của người đó phục vụ cho chân, thiện, mỹ, cho ánh sáng xua tan bóng tối, cho lương tâm, trí tuệ và tiến bộ cũng như hạnh phúc của con người. »Nhà thơ Dương Huệ Anh sáng tác từ lúc còn trẻ, thuở ấy hồn thơ ông lai láng và xanh mướt, thơm ngát như hoa xuân. Nhưng vì những tác động ngoại cảnh, những biến động thăng trần của thời thế đã ảnh hưởng đến đời sống và sự sáng tác của ông, làm hụt hẫng nguồn cảm hứng, từ đó duyên tình thơ bị ông bỏ rơi vào quên lãng! Đến khi ra hải ngoại, sự đời đã lắng, ông không còn lo việc mưu sinh thì hồn thơ ẩn sâu trong tâm hồn thi nhân bỗng trỗi dậy dạt dào. Nhà thơ đã tìm lại được nguồn cảm hứng sáng tác vì biết mình vẫn còn nặng nợ với duyên thơ tình bạn mà bấy lâu đã hờ hững với nàng thơ. Thơ là nguồn sống của thi nhân nào có phụ người, chỉ có thi nhân đã bỏ thơ không còn đam mê Chân Thiện Mỹ, thiết tha với ý nghĩa cuộc sống thì nguồn thơ sẽ tàn úa và hồn thơ cũng bay mất! Thời gian như mây bay, gió thoảng, tâm hồn và suy nghĩ của thi nhân cũng như con nước chảy trên dòng sông và trôi theo dòng thời gian nên có nhiều thay đổi.
Cũng một vầng trăng huyền ảo, cảm súc của thi sĩ lúc trẻ nhìn trăng khác với tuổi xế chiều, nhà thơ không cảm thấy sự mơ màng ảo mộng trong ánh trăng, không còn đắm say thả hồn bay theo mây gió tìm hình tướng độ khuyết tròn của vần trăng, mà chỉ nhìn thấy màu kỷ niệm và bóng thời gian. Nơi phương trời Mỹ, nhà thơ Dương Huệ Anh đã bước vào tuổi xế chiều, ở đây có những nỗi buồn tha hương luôn ẩn trong tâm hồn người xa xứ, đó cũng là chất liệu, nguồn cảm hứng cho thi nhân. Dù mang nỗi sầu tha hương nhưng nhà thơ vẫn yêu đời nên hồn thơ lại dâng trào nguồn cảm xúc, ông đã sáng tác theo dòng cảm xúc và sáng tác rất mạnh với nhiều đề tài khác nhau. Nhờ kiến thức sâu rộng tác giả đã có những sáng tác giá trị về lãnh vực thi ca, văn chương và biên khảo. Tuy nhiên chất thơ đã không còn hồn nhiên màu sắc xanh hồng, óng ả như hoa mùa xuân thuở đôi mươi, cho dù hình ảnh trong ngôn ngữ thơ có mới hơn, cấu trúc thơ vẫn giữ những niêm luật mang tính luân lý đầy triết lý nhân sinh và tôn giáo. Thơ của ông hay và sâu sắc như những nhánh lúa hạt vàng, ngoài mùi hương thơm của lúa, giá trị thực tế của gạo là thực phẩm rất cần thiết để nuôi sống con người, lúa còn mang ý nghĩa cao cả hơn là sự hy vọng, nguồn sống.
Xin sơ lược về tiểu sử và tác phẩm của ông: Nhà thơ Dương Huệ Anh, tên thật : Trần Quang Tương, sinh quán: Hải Phòng.Bút hiệu khác: Triều Đông , Thụy Cầm. Thái Uyển, Y Lương.Nghề nghiệp trước 1975, Công Chức. Sáng lập và là chủ tịch Thi Đàn Lạc Việt miền Bắc Cali.năm 1992 .Năm 1993 thành lập thêm Cơ Sở Văn Học Nghệ Thuật. (đóng góp cho văn học về phương diện thơ đã xuất được 8 tập).
Tác Phẩm:Thơ Xanh.(1955). Biên khảo:Tâm Lý Phụ Nữ Qua Phong Dao. Năm 1958 Huyền Ca, Diễm Ảo tập 1,2. Năm 1991(Mỹ): Quê Hương Vĩnh Cửu Tình Yêu ; Đường Nào Có Hoa Đào; Tha Hương 18 Năm Sầu Có Ai ? Đông Y Lược Giải (tập 1) ;1994 Thơ Dương Huệ Anh, Tổng Tập I (gồm 6 thi tập), Những Khúc Buồn Vui, (Thơ Nhạc) ;1998, Những Cánh Thư Hồng 1,2: Truyện dài ; Thơ Việt Hải Ngoại, Một Góc Nhìn (2001) ; Thơ Việt Thế Kỷ 20(1) ; 2002 Ba Mươi Năm, Ngàn Kỷ Niệm (Thơ Nhạc) 2004 ; Độc Hành Ta Vui (Thơ, 2004) ; Dịch Và Bói Dịch(sơ giải, 2005). Tìm Hiểu Về Phật Giáo, Những Vần Thơ Đạo 2006, DVD Thương Về 12 Bến Nước (Thơ, Nhạc).»
Tao Ngộ Thi Nhân Năm 1998 tôi hân hạnh được hội Thơ ở Sacramento mời sang để nói chuyện về đề tài Tính Nhạc Trong Thơ do các nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương, Nhà thơ Hoàng Thanh và nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh tổ chức. Ngày đó quy tụ nhiều nhà thơ ở khắp nơi đến tham dự, trong số người đến có nhà thơ Dương Huệ Anh, Nhà thơ Hà Thượng Nhân, Nhà thơ Diên Nghị, Nhà thơ Song Nhị, Nhà thơ Lê Nguyễn, Nhà thơ Vũ Hối, Nhà thơ Phan khâm, Nhà thơ Hà Trung Yên, Nhà thơ Mạc Phương Đình, Nhà thơ Hà Ly Mạc, Nh à th ơ Huệ Thu, Nhà thơ Yên Bình, Nhà thơ Nguyễn Phan Ngọc An, Nhà thơ Sương Mai, Nhà văn Nhật Thịnh, Nhà văn Khuê Dung, GS, Trần Kiêm Đoàn, Nhà báo Tô Ngọc, Nhà báo Đỗ Hữu… thời gian này tôi còn được các hội đoàn sinh hoạt văn hóa ở San Jose như Văn Bút Bắc Cali, Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn, Thi Đàn Lạc Việt cùng một số bằng hữu văn nghệ đã tiếp đón trao đổi văn nghệ rất chân tình… Đến năm 2005 tôi sang Bắc Cali giới thiệu cuốn biên khảo Thơ: Khung Trời Hướng Vọng của GS, Nhà thơ Nguyễn Thùy và cuốn Dạy Con của GS Trần Minh Xuân ở Sacramento do các Hội đoàn ở đó tổ chức, trong số người tham dự vẫn có nhà thơ Dương Huệ Anh đến từ San Jose…. Sau đó tôi và giáo sư Nguyễn Thùy được Hội Văn Bút ở Nam Cali mời nói chuyện về đề tài văn học, do nhà thơ Nguyễn Duy Trại tổ chức. Ở đây tôi cũng thấy có sự tham dự của nhà thơ Dương Huệ Anh, Học giả, BS Nguyễn Hy Vọng, Nhà biên khảo Mạc Đông Pha, nhà thơ Thái Tú Hạp và phu nhân nhà thơ Ái Cầm…
Sự hiện diện của nhà thơ Dương Huệ Anh trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật mà tôi tham dự làm tôi khích lệ và xúc động, đối với một hậu bối như tôi quả là một món quà chân tình cao đẹp mà ông dành tặng tôi. Sau này trong số tác phẩm biên khảo, thơ văn của ông, thơ của tôi được ông đưua vào sách. Khi ông sang thăm Paris, chúng tôi đã tổ chức nhiều nơi để đón tiếp ông và đưa ông đi gặp những khuôn mặt văn hóa đặc biệt ở Paris. Ông đã đi thăm thăm nữ sĩnh Minh Châu và xem tranh của Bà. Ông được mời đến xưởng vẽ và tượng điêu khắc của nữ điêu khắc gia Anh Trần, ở đây có một phòng hội tiếp tân, ông đã gặp gỡ nhiều người bạn măn xưa rời Hải Phòng, Hà Nội qua Pháp du học từ thập niên 40, 50, tất cả mọi người hiện diện hôm đó đều trân trọng ông. Họ chia nhau mời ông và đưa ông đi thăm những di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp ở Paris.
Trong cuốn sách: Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại sẽ ra mắt vào năm 2022, các anh chị trong ban biên tập đưa Tiểu Sử của ôngvào sách để vinh danh một Nhà văn Hóa. Họ chọn ông Không phải ông đã sáng tác nhiều thơ, ra nhiều tác phẩm, mà vì những việc làm tận tụy của ông đối với việc bảo tồn văn hóa ở hải ngoại trong thời gian ông sinh hoạt trong Thi Đàn Lạc Việt.Để minh họa con người của ông, tôi xin trích lời tâm tình ông viết trong cuốn:Dương Huệ Anh ThơThơ…& Những Giao Cảm Ngọc Ngà » ( trang 3,4,5)
« Thơ! Thơ! LạiThơ!Gần một năm trước,- còn thiếu vài ngày !- vào dịp ra mắt tuyển tập » 50 Năm Thơ &Người Thơ » ở địa phương, một số thân hữu đùa hỏi: « Thế nào ông còn định sáng tác nữa hay không ? », vì theo niên kỷ đã thấy quá tuổi cổ lai hy rồi.Câu trả lời thành thật là: Cũng tùy (theo sức khỏe) thôi!Kể từ ngày tập tành theo bước các đàn anh trong Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy…cóp, dán (copy, paste) từng câu, từng chữ thành vần điệu….để khoe với các bạn khác phái, cũng đã hơn nửa thế kỷ. Thơ mình làm ra có lẽ cũng khá nhiều, – riêng thời gian từ thập niên 1990 đến nay đã được vài ngàn bài, có một số nghe tạm được, nhưng tựu trung vẫn nghĩ là mình nói chưa hết những điều muốn nói, viết chưa đủ những lời cần viết. Ấy chỉ vì chuyện Đời bao la quá , phức táp quá, như là vô thủy vô chung! Nghĩ sâu thì có phải là vũ trụ, nhân sinh…luôn biến động, vô thường?Hồi tưởng lại, những ngôi sao trong làng thơ thập niên 1940 là: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên…rồi là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng…Bên cạnh, là những Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, J. Leiba, Lưu trọng Lư, Bích Khê…Câu chuyện TTKH sau này mới được làm nóng lại, chứ thời gian ấy chưa ai lưu ý mấy đền nhữgng vần thơ « Hoa Ti Gôn ».Số người làm thơ những năm thập niên 1940-1950 chỉ tính hàng trăm, chú không Đông đảo như hiện thời. Tập Thi nhân Việt Nam của hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân ấn hành năm 1941, chọn lựa không chặt chẽ lắm mà cũng gom được 40 nhà thơ ba miền Trung, Nam, Bắc.So với hiện thời, số người làm thơ có thể lên đến hàng vạn, báo nào, tạp chí, đặc san nào cũng có một số bài thơ mới…hiện tượng này đáng mừng hay chăng,là tùy quan điểm nhận xét của từng bạn đọc ; người viết không tiện nêu ra ý kiến riêng. Mới đầu, người viết lấy cảm hứng từ những mối tình trong trắng, hồn nhiên của tuổi học trò: từ cô Thái/Thủy họ Bùi (sau là ca sĩ đài Phát thanh Việt nam-Hà Nội), qua Nam Hải (Tây Thi) (con một đại thương gia ở cảng Hải Phòng)…sau đến những nàng thôn nữ bạn, học trò còn đôi tám…Dù ở đâu hay thời điểm nào, rung cảm chính trong thơ mình cũng bắt nguồn từ những hình ảnh người nữ thuộc mọi giai tầng, khởi đi từ tâm, dựa vào triết lý Đại Bi của Phật giáo. Bên cạnh nó là những trăn trở, góp ý thực tiễn tìm một giải pháp diệt khổ: chấp nhận hiện hữu, biến khổ thành vui…Từ đôi mươi, trong thời kháng Pháp cũng như khi trưởng thành, đi làm để mưu sinh, soạn giả đã gặp nhiều mối duyên kỳ ngọ nhưng đa số dang dở – và tất cả đã được ghi lại trong tập Thơ Xanh ( 1955) và Huyền Ca Diễm Ảnh1, 2 (1991). Rất tiếc đa số những sáng tác trong loạn ly, khói lửa đã bị thất lạc, tiêu hủy qua nhiều cuộc di cư, tị nạn, lưu vong, chính biến… Có vài tác giả thắc mắc về sự vắng mặt của tác giả trên văn đàn suốt thời gián dài, – từ 1955-1991- như cCo Mỵ Nhân, Hà Huyền Chi… lý do đơn giản của «vấn đề » là trong suốt thời gian ấy, soạn giả đã phải vận dụng «nội lực và tinh thần, liên tục, kiên trì phấn đấu để sinh tồn, xây dựng hạnh phúc cho một gia đình đông con nhỏ, và luôn gặp những biến thiên trọng đại, bất ngờ.
Kể từ thập niên 1990, tương đối rảnh rỗi, – sau khi bày nhỏ, nói chung đã an cư lạc nghiệp soạn giả mới nghĩ đến việc sắp xếp lại và in ấn những sáng tác trong mất chục năm qua: Năm 1992 pjhoổ biến thi tập » Quê Hương, Vĩnh Cửu Tình Yêu », năm 1993 trình lành hai tập «Đường Nào Có Hoa Đào» và « Tha hương, Mười Tám Năm, Sầu Có Ai ?»Đây cũng là thời gian soạn giả, cũng vài văn thi hữu- đứng ra vận động Thi Đàn Lạc Việt, và sau đó là Hội Trao Đổi Văn Học Nghệ Thuật, để tập hợp những nhà văn, thơ yêu mến và muốn góp phần nhỏ mọn bảo tồn văn hóa nước nhà. Hơn mười năm hoạt động, cơ sở đã tổ chức được hai cuộc Thi Thơ toàn quốc, có gần 150 nhà thơ tham dự trong những năm 1994 và 1996.Mặt khác, cơ sở đã ấn hành được 5 Tuyển tập Một Phía Trời Thơ 1,2,3,4,5 ; hai tiuển tập 4 Biển Thơ Chung Nối Nhịp Cầu ;3 tuyển tập Thơ Văn Xuân Thu 1,2,3 (chưa kể mấy số tam nguyệt san Xuân Thu), với nội dung thuần túy văn nghệ.
Năm 1997 cơ sở bát đầu chuyển hướng đi vào phần vụ nghiên cứu, biên khảo, xuất bản: tổ chức nhiều buổi nói chuyện trao đổi về thơ văn như Ca Dao Việt Nam, Viết truyện ngắn, Ngâm Thơ, Mệnh Số học, Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương, Thiền, Nhạc.. và năm 2000 tổ chức Ngày Kỷ niệm Thi hào Nguyễn Du, khá thành công.Giữ năm 1997 soạn giả cho ra mắt Tổng tập I Thơ Dương Huệ Anh gờm 6 thi tập: Thương Cả Trăm Hoa ; Gót Ngọc Quan Âm ; Tho Xanh ( tái bản)….. » Câu Chuyện Sinh Hoạt Văn Hóa: Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris là một hội được thành lập từ luật 1901. Mục đích nhằm Bảo tồn và phát huy Văn Hóa Việt Nam ở hải ngoại. Điều lệ của hội rất đơn giản vì nặng tính thân hữu, k hông gò bó người tham gia và cũng không ràng buộc người khi rời CLB. Đa số hội viên thuộc giới trí thức văn thi sĩ, mà trong đó có những thành viên Ba Lê Thi Xã. Nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu phát biểu về Ba Lê Thi Xã:
«Ba Lê Thi Xã, một hội thơ có khuynh huớng Đường Thi do hai cố thi sĩ Hương Bình GS Cao Văn Chiểu và Hàm Thạch GS Nguyễn Xuân Nhẫn sáng lập. Thời gian sau, Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh cùng với nhà thơ Phương Du là những cột trụ của Ba Lê Thi Xã. Hội quy tụ nhiều trí thức khoa bảng, như giáo su đại học, bác sĩ, luật gia, học giả, dịch giả…vv…nhưng có tâm hồn thơ, nên có nhiều nguời đã thành danh trong làng thơ truớc 75 và hiện nay. Thời gian trôi đi, nhiều nguời trong nhóm đã khuất như: nhà thơ Đào Trọng Đủ, nhà thơ Hương Bình Cao Văn Chiểu, nhà thơ Hàm Thạch Nguyễn Xuân Nhẫn, nhà thơ Bằng Vân Trần Văn Bảng, nhà thơ Đàn Đức Nhân, nhà thơ Huỳnh Khắc Dụng, nhà thơ Luong Giang Phạm Trọng Nhân, nhà thơ Phuợng Linh Đỗ Quang Trị, nhà thơ Nguyễn Thuờng Xuân, nhà thơ Việt Hoài, nữ sĩ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn (Ái nữ cụ Phạm Quỳnh), nữ sĩ Thanh Liên. Những nguời còn sống như: Nhà thơ Song Thái Phạm Công Huyền (ngoài cửu tuần), nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh, nữ sĩ Quỳnh Liên Công Tằng Tôn Nữ Quỳnh Liên, nữ sĩ Phạm Thị Nhung, nhà thơ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái, nhà thơ Khuê Trai Vũ Quốc Thúc, nhà thơ Phuong Du Nguyễn Bá Hậu, nhà thơ Huong Giang Thái Văn Kiểm, nhà thơ Hoài Việt Nguyễn Văn Hướng, nhà thơ Hồ Trọng Khôi, nhà thơ Đỗ Bình …vv… Nhà thơ Đỗ Bình là nguời trẻ tuổi nhất đã bỏ ra nhều công sức giúp ích rất đắc lực cho Ba Lê Thi Xã quy tụ những nhà văn nhà thơ hải ngoại».(Những nhà thơ đã tạ thế: Nhà thơ Hồ Trọng Khôi, Nhà thơ Song Thái Phạm Công Huyền, hưởng thọ 101 tuổi. Nhà thơ Khuê Trai Vũ Quốc Thúc, hưởng thọ 101 tuổi. Nhà thơ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái, hưởng thọ 95 tuổi. Nhà thơ Phương Du Nguyễn Bá Hậu, hưởng thọ 95 tuổi. Nhà thơ Hương Giang Thái Văn Kiểm, hưởng thọ 93 tuổi.)
Nhà Thơ Dương Huệ Anh Gặp gỡ Bằng Hữu Paris: Vào ngày 25 03 2003, một buổi sinh hoạt văn học nghệ những người hiện diện: Nhà thơ Dương Huệ Anh từ miền Cali nắng ấm đến Paris, nhà văn Hồ Trường An từ Troyes lên, nhà văn Võ Đức Trung từ Lille đến, cùng các văn thi hũu Paris: Học giả Võ Thu Tịnh, nhà thần học Nguyễn Tấn Phước, nhà thơ Vân Uyên GS Nguyễn Văn Ái, nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu, GS Phạm Đình Liên, GS Nguyễn Thị Minh Cầm, Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh, nữ sĩ Quỳnh Liên, nhà thơ nữ Thụy Khanh, nhà thơ nữ Hà Lan Phương, nhà văn Trần Đại Sỹ, nhạc sĩ Xuân Lôi, nhạc sĩ, GS Lê Mộng Nguyên, nhạc sĩ Trịnh Hưng, nhạc sĩ Trong Lễ ,họa sĩ René, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, nhà báo, GS Nguyễn Bảo Hưng, nhà báo Song Nguyễn GS Nguyễn Ngọc Chân, Nữ điêu khắc gia Đặng Vũ Anh Trần, nữ điêu khắc gia Vương Thu Thủy, đạo diễn Trần Song Thu, dịch giả Liều Phong, BS Thân Trọng Kỳ, BS Nguyễn Bá Linh, Nhà thơ Đỗ Bình, nghệ sĩ Linh Chi, Nghệ sĩ Thúy Hằng….VV……..
Mở đầu chương trình, Nhà thơ Đỗ Bình giới thiệu vài nét về nhà thơ Dương Huệ Anh:«Cụ Dương Huệ Anh là một con người đa tài. Ông tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh và là cựu công chức cao cấp của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Vì tâm hồn đa cảm ông thích thơ văn, âm nhạc và nghiên cứu văn học hơn là sự phấn đấu tiến thân trong sự nghiệp quan trường. Ông là Nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo, nhà soạn nhạc. Từng là cựu Chủ tịch Thi Đàn Lạc Việt ở San Jose, miền Bắc Cali nơi quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng mà chúng ta đã từng đón tiếp những vị đó khi sang thăm Paris, như nhà thơ Yên Bình, nhà thơ nữ Nguyễn Phan Ngọc An, nhà thơ nữ Hoàng Xuyên Anh, nhà thơ nữ Ngọc Bích, nhà thơ nữ Sương Mai. Trong thi đàn Lạc Việt có những vị liên lạc trao đổi thơ với chúng ta như Nữ sĩ Trùng Quang ,(Hội thơ Trúc Liên, Quỳnh Dao ), nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên( Hội thơ Thi Lâm Hợp Thái,Thi Đàn Quỳnh Dao 1962 – 1975), thi sĩ Hà Thượng Nhân, thi sĩ Trình Xuyên , thi sĩ Hàn Nhân… .
Nhà thơ Dương Huệ Anh: “ Kính thưa qúy vị, cảm ơn qúy vị đã không quản thì giờ, đường xa cho chúng tôi gặp mặt ngày hôm nay. Thú thật, đối với qúy vị về văn thơ tôi là người đi sau mặc dầu tuổi tác thì có thể nhiều hơn một số người. Tôi xin đề nghị xin đừng gọi chữ cụ nghe nó già quá mà chính tôi cũng không muốn già, vì già khó làm thơ lắm không còn thơ thẩn được ! Do đó xin đề nghị mình cứ coi nhau như văn thi hữu anh em nó sảng khoái tự do hơn. Xin phép được giới thiệu về sinh hoạt của chúng tôi:Thi Đàn Lạc Việt được thành lập năm 1992 với hình thức hết sức khiêm tốn khởi đi từ nhóm thơ, chủ trương: Bảo tồn và phát huy văn học nghệ thuật VN ở hải ngoại. Qua 1993 thành lập thành Thi Đàn bên cạnh đó chúng tôi thành lập thêm Cơ Sở Văn Học Nghệ Thuật vì quan miệm rằng thơ phải có bộ môn diễn ngâm đi theo dù rằng tự thơ nó có nhạc rồi nhưng để chuyên chở đi xa cần có bộ môn nhạc. Mặc dù có những hạn chế về sức khỏe, phương tiện nhưng chúng tôi cũng cố gắng đóng góp cho văn học về phương diện thơ cơ sở đã xuất được 8 tập, trung bình mỗi năm là một tuyển tập. Ngoài ra chúng tôi còn xuất bản một tuyển tập văn Xuân Thu không định kỳ, khi nào có tiền thì chúng tôi ra. Đây là một tuyển tập được chăm sóc kỹ, nhưng sau khi ra được hai số phải đổi thành tam cá nguyệt nhưng cũng không liên tục vì nhiều khó khăn tài chánh. Sự tự lực của chúng tôi không đủ nuôi dưỡng tuyển tập, do đó cuối cùng đành phải ra định kỳ vài năm ra một bản !Nói về phương diện cá nhân thì có nhiều anh chị em có nhiều sáng tác rất đáng kể. Xin cho phép tôi được trình bày những đóng góp của cá nhân : Năm 1955 in tác phẩm Thơ Xanh rồi ngưng dù vẫn sáng tác, mãi đến năm 1990 bắt đầu lại và đã xuất bản khoảng 10 tập thơ. Sau những thi tập đó tôi sản xuất khá nhiều nên gom 4,5 tập vào nhau. Vì thế năm 1997 in 6 tập vào nhau lấy tên Tổng Tập 1 gồm 6 thi tập: Gót Ngọc Quan Âm Lấm Bụi Trần ,(thơ đạo), Thương Cả Trăm Hoa, Hai Mươi Năm Lưu Vong, Ba Mươi Năm trước, Thơ Hồng.”
Nhà thơ Vân Uyên, GS Nguyễn Văn Ái bỗng hỏi:“ Bao giờ thì có thơ Tím ?”Nhà thơ, nhà văn Dương Huệ Anh:“ Sắp có rồi, tôi chỉ không có thơ màu đỏ thôi, trong tương lai chúng tôi sẽ có đủ các thứ màu.”Dương Huệ Anh nói tiếp:“Sau đó tôi chuyển sang văn vì ai cũng khuyên là thơ nhiều quá rồi không có ai đọc đâu!”Hồ Trường An:“Ai Nói Vậy? ”Dương Huệ Anh:“ Một nữ sĩ ở Cali nói với tôi: Ông in Thơ dày quá không ai đọc!”Dương Huệ Anh:“Tôi in thế này tước hết để cho tôi đáp ứng được phần tài chánh của tôi. Sau đó tôi chuển qua văn, Truyện ký thì đúng hơn vì dựa vào chuyện có phần tôi trong đó. Tôi tôi đặt tên là Những Cánh Thư Hồng dày khoảng 500 trang. Như qúy vị đã biết biển văn học nó mênh mông lắm nên tôi chuyển sang giới thiệu tác giả giới thiệu các nhà thơ khoảng 100 nhà thơ in năm 2001”Đỗ Bình:“Xin các bậc trưởng thượng cho biết, thế nào là một tác phẩm hay, tác phẩm đó dựa theo tiêu chuẩn nào để đánh giá ?”Dương Huệ Anh:“Nói là giới thiệu tác giả, tôi không làm công việc phê bình mà chỉ viết theo lối tản mạn về văn học, bởi vì nói ngbiêm túc quá ít người đọc, mà có lẽ mìnhcũng không đủ sức chưa đủ thì giờ chưa đủ khả năng nên tôi chọn thể loại này. Nhưng khi ra sách cũng có nhiều người phê bình lắm vì họ cho rằng đây là một biên khảo văn học. Anh em không hiểu, lhông đọc kỹ lời trần tình của mình ban đầu! Nên họ cho là biên khảo văn học có lẽ đối với họ là đứng , nhưng đối với tác giả hơi oan vì mình không chủ trương như vậy mà chỉ là tản mạn văn học!”GS Lê Mộng Nguyên:“Cuốn phê bình văn học Thi Nhân VN của Hoài Thanh Hoài Chân chẳng hạn ? ”Nhà thơ Dương Huệ Anh:“Vâng, đúng thế. Chúng tôi rất thành thật xin qúy vị chỉ giáo, tôi nghĩ rằng mình không thể biết hết được dù mình sống tới trăm tuổi. Xin qúy vị chỉ những khuyết điểm chúng tôi xin sẵn sàng thụ lãnh. Xong cuốn này anh em phê bình dữ lắm nhưng cũng có nhiều người khem và vài người ta không tán thành ! Sau cái này chúng tôi nghỉ và chuyển qua một cái khác, tôi hơi tham vọng mà cái tham vọng đó không phải là cái xấu không đáng kết án, nó không phải là cái tội. Tôi nghĩ có nhiều khía cạnh quá cái nào mình cũng muốn đi sâu vào xem mới biết mới hiểu được. Sau đó tôi viết cuốn : Vài Nhà Thơ Việt Thế Kỷ Hai Mươi, trong tập chúng tôi viết không phân biệt trong nước ngoài nước, Bắc Nam, tuy nhiên mình phải tránh những gì gây xúc động với độc giả. Nhưng khi đem in gặp nhiều khó khăn vì phải tự lực cánh sinh ! Tôi xin phép được dừng ở đây nếi qúy vị có muốn sáng tỏ điều gì tôi xin thưa . xin cảm ơn qúy vị.”Đỗ Bình:“Theo tôi, viết về những tâm hồn phụng sự cái đẹp của người nào đó đã lao tâm lao trí trên con đường văn học nghệ thuật là việc làm đáng khen. Trong lãnh vực phê bình văn học ở hải ngoại hiện nay còn hiếm vì rất ít người chịu dấn thân làm công việc này, người am tường văn học thì già yếu, dần dần ra đi; còn lớp trẻ dù có bằng cấp cao nhưng lại am tường văn hóa xứ người! Do đó người làm công việc phê bình rất qúy vì nhờ họ đã khám phá ra những điều ẩn chứa trong tác phẩm để giới thiệu đến công chúng những chân dung của những người sáng tác. Đánh giá một tác phẩm tùy theo trình độ của người đọc và còn phải đợi thời gian, nhưng hiện tại vẫn cần những người điểm sách, giới thiệu khái quát về nội dung lẫn hình thức để giúp bạn đọc đi vào trọng tâm đỡ mất thời gian.”Và sau đây tôi xin trân trọng giới thiệu đến qúy vị nhà văn Hồ Trường An : Tác giả gần 50 đầu sách về trường thiên tiểu thuyết, tiểu thuyết,và biên khảo, phê bình.”
Nhà văn Hồ Trường An:“Thưa các bậc niên trưởng, và qúy văn hữu:Tôi làm văn nghệ tùy vào cảm hứng vui đâu chuốc đó chứ không nhất định cái gì, nếu cảm thấy hứng là làm. Cần phê bình là phê bình, khi tôi viết về biên khảo không phải là viết toàn sự nghiệp văn học của tác giả nào, mà viết từng cuốn chứ không dám ôm đồm. Nếu có cảm hứng làm thơ thì làm những bài thơ Đường, vui đâu chuốc đó. Tôi có một đức tính: Nếu ai khen thì cũng mừng, còn ai chê thì cũng rán chịu trận chứ không một lời nào đính chính trên báo hết. Bởi càng đính chính thì càng làm cho người ta làm dữ !…. Do đó ai chê tôi thì chê ; ai khen thì mừng tôi không có một phản ứng, thật ra tôi không có buồn, mình làm một món ngon người này ăn thì khen người kia ăn thì chê, kẻ thích mì người thích hủ tíu, còn có người ăn mì ăn hủ tíu nhiều quá lại thích ăn bún riêu. Qúy vị đã đọc qua cuốn biên khảo Thập Thúy Tầm Phương thì cuốn biên khảo thứ tư Tôi đang viết cuốn:Tập Diễn Ngưng Huy trong đó có hai người hiện diện ở đây là anh Võ Đức trung và chị Thụy Khanh: Tôi xin giải thích cái tựa sách: Tập: kết tập, Diễm là đẹp, Ngưng là ngưng lại, Huy là ánh sáng, ánh sáng ngưng đọnglại tôi rút ra từ Hồng Lâu Mộng chứ không phải do tôi đặt. Tóm lại tôi không có chủ trương gì lớn lao, tôi không có tham vọng. Xin dứt lời.”
Đỗ Bình giới thiệu vài nét về nhà văn Võ Đức Trung: “Tác giả nhiều tập truyện, biên khảo. Là một người khiêm tốn giữ được phẩm chất của một cựu giáo chức. Là người chủ xướng thực hiện cuốn Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca VN Hải Ngoại gồm những bài thơ đắc ý của nhiều tác giả có chung một hoàn cảnh ly hương trong số các nhà thơ hải ngoại. Thời gian chúng tôi chuẩn bị cho thi tập mất 2 năm, khi đua ra thảo luận tại nhà tôi lúc đó gồm: Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh, nhà văn Nguyễn Hũu Nhật, nhà văn Võ Đức Trung và tôi, trong thảo luận thì được biết cái Tựa sách này đã được các nhà thơ Diên Nghị, Song Nhị , Duy Năng ở Cali đã chọn từ lâu và sắp in, họ muốn thực hiện một tập văn học ghi dấu một giai đoạn đời 25 năm xa xứ. Sau đó tôi đã liên lạc với các nhà thơ trên để giải thích sự việc của chúng tôi và đề nghị họ chọn một cái tựa khác. Khoảng một tuần sau họ trả lời là đồng ý, và đã chọn cái tựa khác cho tuyển tập là : Lưu Dân Thi Thoại, hay25 Năm Bút Luận do Cội Nguồn xuất bản.Nhà văn Võ Đức Trung phát biểu:“ Nhận được phôn của anh Đỗ Bình mời tôi nghĩ là lên Paris họp bạn văn nghệ như mọi khi, nhưng khi xem lại thư mời tôi thấy quan trọng quá nên lấy làm ái ngại ! Tôi ở tỉnh lẻ, thỉnh thoảng mới về Paris sinh hoạt sợ phát biểu sẽ trở ngại , hơn nữa như anh Đỗ Bình và Hồ Trường An biết; tôi viết văn về đồng quê mộc mạc nếu có gì sơ xuất mong các anh chị thứ lỗi cho. Tôi xin tâm tình tại sao tôi lại có ý định thực hiện cuốn Một PhầnTtưThế Kkỷ Thi Ca Hải Ngoại. Kể từ sau biến cố năm 1975 mọi người ồ ạt bỏ nước ra đi, dòng thi ca lúc đầu gần như tan tác, cho đến đầu thập niên 80 thì khởi sắc vì số ít nhà thơ vượt thoát ra ngoài được đã bắt đầu viết, hồn thơ còn nhiều tâm tư cảm xúc, nhưng đến cuối thập niên 80 thì bắt đầu có chiều hướng đi xuống vì đa số phải hội nhập với cuộc sống mới! May mắn thay là qua thập niên 90 có một số nhà thơ trong diện anh em H.O khi vừa đặt chân đến ơi định cư họ đã cầm bút lại, dòng thi ca lại dâng cao qua những bài thơ tố cáo sự đàn áp và nhà tù trongchế độ CS, chúng tôi muốn bảo tồn và lưu trữ những sự kiện đó qua thi ca nhưng khi bắt tay vào thực hiện mới biết muôn vàn khó khăn! Chúng tôi tiếp xúc 350 tác giả nhưng phải chọn lựa như thế nào khi cuốn sách chuẩn bị in chỉ giới thiệu có 24 tác giả mà không kêu sự đóng góp ? Cuốn 1 đã phát hành vào tháng 2 vừa rồi, chúng tôi nhận được thư, điện thư, và phôn đến chúc mừng và khích lệ, điều đó là một món quà tinh thần đối với chúng tôi trong công việc bảo tồn văn hóa VN nơi xứ người.”
Nhà thơ Đỗ Bình phát biểu:«Có một nữ sĩ bảo nên thận trọng khi đề cập đến lãnh vực tế nhị tác phẩm và tác giả. Nếu bài giới thiệu không đưa ra những điểm mạnh, độc đáo, thì bài viết đó chỉ là bài khen nhau có tính tâng bốc mà không phải là bài nhận xét, phê bình văn học nghệ thuật! Theo tôi, viết về một người nào, là viết về những tâm hồn của người đó đã bỏ bao tâm trí phụng sự Chân Thiên Mỹ trên con đường văn học nghệ thuật. Đó là việc làm đáng khen, mặc dù đánh giá một tác phẩm rất khó !Sự nhận xét còn tùy theo trình độ, khuynh hướng cảm quan của mỗi người viết, hơn nữa trình độ người đọc hôm nay rất cao. Tuy nhiên thời gian sẽ là thước đo, gạn lọc những điều không phải nghệ thuật, để chỉ còn lại chân gía trị đích thực của một tác phẩm đọng lại trong lòng người.. Nhưng dầu sao, bộ môn văn học & nghệ thuật luôn cần những người giới thiệu khái quát về nội dung lẫn hình thức một tác phẩm để giúp bạn đọc đi vào trọng tâm đỡ mất thời gian.”
Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh trước năm 1975 là giáo sư trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, Bà còn là một họa sĩ có tranh triển lãm quốc tế. Tác giả nhiều thi tập và biên khảo:Nữ sĩ Minh Châu:« Có người bảo viết để khen nhau là tâng bốc mà không phải là phê bình văn học nghệ thuật ?»
Đỗ Bình:“Từ bao lâu nay người ta tranh cãi về những chuẩn mực trong văn học nghệ thuật giữa cái hay và cái dở. Trong khi đó thích hay không thích chỉ là chủ quan của người đọc. Tôi thấy hôm nay người làm thơ ngày càng nhiều, đó là điều đáng mừng vì tâm hồn thơ sẽ giúp cho đời thêm hoa, bớt đi sự cay đắng. Nhưng tiếc thay có những bài thơ đạt được cả tứ thơ lẫn cấu trúc thì không nổi tiếng, nhưng có bài chẳng phải là thơ lại được quảng cáo rầm rộ !”
Nữ sĩ Minh Châu:“Tại sao không phải là thơ, văn xuôi khác thơ ở điểm nào?”Đỗ Bình:“Một bài viết cẩu thả, viết cho lấy có, chỉ dựa vào thể tự do để gọi là “thơ” thì chưa chắc đã là một bài thơ, và cũng không thể gọi là văn xuôi? Thơ hiện đại và tự do rất gần gũi với văn xuôi, nhưng làm một bài thơ tự do, hay một bài thơ hiện đại rất khó ! Nhưng khi đã thành thơ thì bài đó sẽ đặc sắc và độc đáo. Theo tôi, một bài thơ hay phải bao gồm mỹ học và ý thơ.”Nhà báo, GS Nguyễn Bảo Hưng:“Văn xuôi là ngôn ngữ thực dụng của kinh nghiệm diễn giải bằng lý trí để mô tả hoặc giải thích một sự vật hay một ý niệm, thơ là một cảm xúc của tâm hồn được diễn tả bằng nghệ thuật.”
Trong lãnh vực phê bình văn học& nghệ thuật ở hải ngoại hiện nay còn hiếm những nhà lý luận phê bình văn học& nghệ thuật, vì rất ít người chịu dấn thân làm công việc này, người am tường văn học thì già yếu, dần dần ra đi; còn lớp trẻ dù có kiến thức rộng, bằng cấp cao nhưng lại am tường văn hóa xứ người! Do đó người làm công việc phê bình rất qúy vì nhờ họ đã khám phá ra những điều ẩn chứa trong tác phẩm để giới thiệu đến công chúng những chân dung của những người sáng tác. Đối với những nhà phê bình văn học, chức năng của họ là khám phá những cái hay cái đẹp và độc đáo trong tác phẩm. Nếu nhà phê bình không khách quan và đi ngoài các khuynh hướng chính trị, tôn giáo thì lời phê đó rất ảnh hưởng cho một tác giả và tác phẩm. Nhà phê bình Văn học với tinh thần khách quan lúc nhận xét một tác phẩm luôn đi tìm để khai phá cái hay, cái đẹp, cái sâu sắc của tác phẩm cùng cái sâu thẳm nơi tâm hồn tác giả, không phải để làm vừa lòng tác giả mà cốt để người đương thời cùng lịch sử văn học sau nầy thẩm định được nếp sống, nếp nghĩ của một thời. Do đó, người làm công viêc phê bình ít nhiều đều chịu trách nhiệm với lịch sử sau nầy. Vì thế, nhà phê bình văn học đứng đắn không khen hão, không chê bừa, không tâng bốc, cũng không cố tình hạ giá tác phẩm cùng tác giả do chủ quan của mình hay do tình cảm thân sơ, yêu ghét đối với tác giả. Công việc phê bình không là công việc dễ dàng vì có nhiều tác phẩm cùng tác giả vô cùng sâu sắc mà đọc không kỹ, khó tìm ra cái đẹp, cái nội dung sâu sắc đó. Do đó, người làm công việc phê bình luôn phải thận trọng, nghiền ngẫm, khám phá ra những nét đẹp ẩn tàng nơi tác phẩm vì đây không phải là công việc làm chơi, làm lấy có mà phải chịu trách nhiệm với lịch sử Văn học, Nghệ thuật. Thường thì tác giả nào cũng muốn được khen, được đề cao giá trị tác phẩm mình mà không để ý đến trách nhiệm lịch sử của nhà phê bình đối với Văn học, Nghệ thuật nên hoặc hân hoan với những lời khen «bốc đồng», vội vã hoặc buồn trách nhà phê bình không «tán dương» tác phẩm mình. Nhà phê bình còn có trách nhiệm khác nữa là khuyến khích, gây tin tưởng cho những tài năng ngày càng được phong phú để có những tác phẩm hay đẹp hơn trước. Khá nhiều trường hợp một tác giả lúc đầu chỉ sáng tác đôi tác phẩm bình thường nhưng do các nhà phê bình đúng đắn mà có được những sáng tác phẩm trổi vượt hơn trước rất nhiều. Vì chính những phê bình dù khen hay chê đã khiến tác giả chăm chút tác phẩm mình, học hỏi, đào sâu tâm thức và nghệ thuật để từ đó có những trước tác nổi bật so với trước. Dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa những nhà lý luận, phê bình dù có kiến thức uyên thâm, lý luận sắc bén, khám phá được cái hay cái đẹp, cái độc đáo trong tác phẩm nhưng lệch đường lối của đảng cũng không dám viết ra; mà chỉ dám viết những điều đảng đã chỉ đạo cho phép! Đối với những tác giả ngoài đảng, có những tác phẩm phản ánh xã hội mang tính phê phán, gây bất lợi cho đảng sẽ bị các «nhà văn hóa đảng» làm nhiệm vụ nhà phê bình, cực lực lên án trù dập tác giả và tác phẩm. Họ tìm những điểm tiêu cực, hoặc những điểm sơ xuất trong tác phẩm rồi phê phán gay gắt, nhằm hướng dẫn dư luận hiểu theo quan niệm của họ. Kết quả là số phận các văn nghệ sĩ cùng tác phẩm của họ bị ghép tội phản động ! Điển hình là vụ án thời Nhân Văn Giai Phẩm, và vụ Văn Hóa Đồi Trụy, thời kỳ sau năm 1975.
Nhạc sĩ Trịnh Hưng, tác giả những nhạc phẩm nổi tiếng một thời: Lối Về Xóm Nhỏ, Tôi Yêu…. :“Thưa Các Bậc trưởng thượng và qúy Anh Chị, cách nay vài tháng chúng ta có làm buổi Kỷ niệm 65 năm sinh hoạt văn học nghệ thuật của nhạc sĩ Xuân Lôi và cũng mừng lễ thượng thọ 85 tuổi để vinh danh người nghệ sĩ lão thành. Hôm đó thật đông, đầy đủ các khuôn mặt văn nghệ sĩ, điều đó nói lên được cái tình nghệ sĩ là chúng ta biết thương yêu và trân trọng nhau thì có khác nào những bài viết khen.”
Nhạc sĩ Xuân Lôi:(giải thưởng Quốc Gia với những ca khúc Tiếng Hát Quê Hương, Bài Hát Của Người Tự Do 1960 ở Miền Nam. Ca khúc nổi tiếng Nhạt nắng: “ xin chào các qúy vị tôi xin độc tấu Hạ Uy Cầm nhạc phẩm Xa Quê Hương điệu valse lente nhạc của Xuân Tiên, lời Đan Thọ viết ngày 28 05 1956.”
GS TS âm nhạc Quỳnh Hạnh (GS trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài gòn. Huy chuơng vàng Giải nhất giải Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc do Phủ tổng thống VNCH trao tặng, Sài gòn 1974):“ Âm nhạc, ngoài sự thưởng ngoạn ra còn có giá tri về khoa học. Đó là Musicothérapie hay Phương Pháp Trị Bệnh Bằng Âm Nhạc. Thực vậy, bô môn trị bệnh này có từ thời Hy lạp cổ xưa, phối hợp với trị bệnh bằng suối nước nóng, mục đích làm êm dịu thần kinh và xua đuổi đi những sự lo âu, phiền nảo… Ở Châu Á cũng có cụ Khổng Phu Tử có nói trong Lễ Nhạc : Nhạc là để giáo hóa lòng người…Ngày nay qua những bài thuyết trình tại Đại Hoc Sorbonne, Đai Học Y Khoa de Paris, các Phân khoa Tâm Lý Học cũng gây được chú ý của người nghe, nhất là giới trẻ quá nhiều lo âu trong cuộc sống hằng ngày và củng để xả Stress..”
Nhà văn Trần Đại Sỹ, tác giả nhiều bộ trường thiên tiểu thuyết Dã Sử :“thật là một hân hạnh cho tôi được gặp qúy vị, nhất là một người tôi biết rằng hôm nay tôi sẽ gặp, là người mà tôi mắc nợ ngay từ lúc tôi học 6ième mà bây giờ tôi được đến để trả nợ đó là ông Lê Mộng Nguyên. Thưa qúy vị lúc đầu tiên tôi học nhạc là thày Hùng Lân đã đem bản Trăng Mờ Bên Suối dạy tôi. Hễ cứ nói đến ông Lê Mộng Nguyên dù ông có làm cả ngàn bản nhạc thì tôi cũng chỉ biết có Trăng Mờ Bên Suối. Hôm nay tôi có chút quà văn nghệ xin tặng lại hai bộ cuối cùng tiuểu thuyết lịch sử là bộ Nam Quốc Sơn Hà thuật lại chiến công Lý Thường Kiệt đánh sang Tống, Anh Hùng Đông A Dựng Cờ Bình Mông tức là giai đoạn 1đánh quân Mông Cổ lần thứ nhất, còn đánh Mông Cổ lần thứ hai chưa in xin tặng giáo sư.”
GS Lê Mộng Nguyên:“Xin cảm ơn anh Trần Đại Sỹ , tôi rất cxảm động không nói gì được.”
Nhà văn Võ Đức Trung:
“ Riêng về anh Lê Mộng Nguyên cái bài Trăng Mờ Bên Suối hay quá hay! Nói thiệt anh, cho dù anh có làm hằng trăm bài khác hay như vậy cũng không rung động được tôi nữa, là bởi vì bài Trăng Mờ Bên Suối khi tôi nghe lên là tôi nhớ đến thuở còn trẻ của tôi khi đi ngang nhũng dòng suối có nước chảy róc rách có những tảng đá tôi băng qua, lại thêm những vần trăng ở quê hương không thể nào quên được những thứ đó nó ngấm vào tâm hồn của tôi nên nghe bài hát có thể chảy nước mắt. ”Vài Nét Về Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên:Lê Mộng Nguyên sinh ngày 5 tháng 5 năm 1930, tại Phú Xuân, Huế. Lê Mộng Nguyên dùng tên thật cho hầu hết các sáng tác, đôi khi ông dùng một bút danh khác là Yên Hà hoặc Lan Đào. Ông là con trai áp út của một gia đình nho giáo, điền chủ ở tỉnh Thừa Thiên. Cha ông tên Lê Viết Mưu, mẹ là bà Hồ Thị Ngô. Ông bà có bảy người con, trong đó Lê Mộng Hoàng, anh của Lê Mộng Nguyên là một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng.Lúc nhỏ, Lê Mộng Nguyên bắt đầu đi học ở trường làng Phú Xuân, rồi vào học trường Tiểu học (École Primaire) Chaigneau ở Huế. Sau đó ông thi tuyển vào trường trung học Khải Định và là một trong ba người đỗ đầu, được Chính phủ cấp học bổng. Ông học ở đó từ 1943 đến khi thi Tú tài năm 1950. Lê Mộng Nguyên làm thơ, nhạc và viết văn từ thuở nhỏ, lúc 9 tuổi khởi sự làm thơ và có nhiều bài được đăng trong nội san của trường trung học Khải Định với bút danh Yên Hà.Năm 15 tuổi, trong một cuộc thi Văn chương Học sinh trường Trung học, ông viết một bài về Phan Đình Phùng và đạt giải thưởng Hoàng Đế Bảo Đại, năm đó ông cũng sáng tác ca khúc đầu tay “Xuân Tươi” (dưới bút hiệu Lan Đào), được báo ‘’Quốc Gia’’ đăng trong ‘’Đặc San Mùa Xuân’’.
Năm 18 tuổi Lê Mộng Nguyên đã được cấp thẻ nhà báo, cộng tác cùng nhiều tờ báo khi đó: Phật Giáo Văn Tập, Quốc Gia, Việt Nam Tân Báo, Đường Mới. Năm 1950, sau khi tốt nghiệp Tú tài toàn phần tại Việt Nam, Lê Mộng Nguyên sang Pháp du học, được ông Nguyễn Khoa Nam bảo lãnh tại Paris[1]. Ban đầu ông muốn theo học hòa âm tại Trường âm nhạc Paris nhưng sau đó bỏ ý định, quay sang học luật tại Khoa luật và Khoa học Kinh tế Đại học Paris 1 Panthéon Sorbonne (Faculté de Droit et de Sciences Economiques).Năm 1954, Lê Mộng Nguyên tốt nghiệp Cử nhânLuật. Từ năm 1955 tới năm 1958, ông được mời làm tùy viên kinh tế và xã hội cạnh Tòa đại sứ Việt Nam tại Paris (Attaché économique et social près l’Ambassade du Vietnam à Paris) dưới quyền của đại sứ Việt Nam Phạm Duy Khiêm. Sau đó ông quay lại trường đại học và thi đậu cuộc thi để được hành nghề luật sư. Năm 1962, ông đậu Tiến sĩ quốc gia (Doctorat d’État) với ba bằng cao học về Droit public, Droit privé và Sciences Politiques. Sau khi thôi hành nghề luật sư, năm 1967, Lê Mộng Nguyên dạy luật Hiến pháp (Droit constitutionnel) và Khoa học Chính trị (Sciences politiques) tại trường Đại học thành phố Besançon, miền Đông nước Pháp. Năm 1985 ông quay lại Paris và giảng dạy tại Đại học Paris 8 Saint Denis đến khi về hưu năm 1997. Trong thời gian đó, ông cũng sáng tác nhiều ca khúc, nhưng không phổ biến. Tuy ít tham gia vào sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại Pháp, nhưng ông cũng đã ký tên ủng hộ việc cứu trợ nạn thuyền nhânvượt biển. Sau khi về hưu, ông cộng tác với vài báo chí Việt tại hải ngoại, trong đó có nguyệt san Nghệ Thuật của nhạc sĩ Lê Dinh và Hồn Việt của ký giả Vương Huyền.Lê Mộng Nguyên thành hôn với Nicole Moulin, một phụ nữ người Pháp vào ngày 8 tháng 1 năm 1959. Trước đó hai năm, họ gặp nhau sau một cuộc biểu tình tại quận La Tinh Paris. Hai người không có con. Ông cũng chưa từng về lại Việt Nam từ khi đi du học năm 1950.Ngày 5 tháng 12 năm 1997, Lê Mộng Nguyên được bầu vào Hàn lâm Viện Khoa học Hải ngoại (Académie des Sciences d’Outre-Mer) của Pháp, thay thế cho Cựu Hoàng Bảo Đại. Người được bầu vào Hàn Lâm Viện này phải có những tác phẩm được xuất bản, những công trình nghiên cứu đáp ứng đường lối của hàn lâm viện trong công cuộc phát triển văn hóa, khoa học, kinh tế, kỹ thuật hay nhân loại của những quốc gia hải ngoại trong khối Pháp. Lê Mộng Nguyên là người Pháp gốc Việt đầu tiên được bầu làm hội viên chánh thức (membre titulaire), có thể được bầu làm chủ tịch Hàn Lâm Viện này và có quyền bầu để chọn người vào làm hội viên. Trước đó, đã có một số người Việt làm hội viên liên lạc (membre correspondant) như Phạm Quỳnh, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng; hội viên cộng tác (membre associé) Thái Văn Kiểm. Cựu Hoàng Bảo Đại cũng là hội viên chánh thức tự do (membre titulaire libre), có nghĩa là hội viên thực thụ không thuộc ban (section) nào cả nhưng có quyền bỏ phiếu hay tranh cử bất cứ chức vụ nào của Hàn Lâm Viện. Nhà văn Trần Đại Sỹ:“Tôi xin trả nợ nguời đàn anh nhưng cũng ít gặp, tôi qúy ông lắm đó là ông GS,BS Nguyễn Văn Ái, đây là bộ Giảng Huấn Khoa Tình Dục bằng Y Học Trung Quốc (sexologie médicale Chinoise) bây giờ tôi viết sang tiếng việt, bản tiếng Tây thì chưa xong, bản tiếng Anh và Trung Hoa thì ra rồi. Đây gồm 3 quyển, thưa qúy vị: “Người ta cứ bảo sách “dâm thư”, nhưng đây là sách giáo khoa, xin tặng đàn anh, đáng lẽ tôi phải tặng ông Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu nhưng ông Phương Du tu rồi sắp sửa thành linh mục đến nơi rồi. Thưa qúy vị mục đích của sách này là làm sao giữ được sức khỏe tăng tiến tuổi thọ, nhiệm vụ nó quan trọng như vậy, xin kính biếu đàn anh.”…..
Ở Pháp không nhiều nhà văn Việt Nam, nhưng lại có 3 nhà văn sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt rất khó khăn khi cầm bút, nhưng một đời yêu văn chương nên vẫn miệt mài viết. Người thứ nhất là: Cố Nhà văn An Khê, tên thật là Nguyễn Bính Thinh sinh 01.09.1923 tại làng Tân An, tỉnh Sa Đéc ; nhưng trưởng thành ở Rạch Giá Kiên Giang). Ông là một cây bút lâu năm trong nghề, gia nhập vào làng báo VN từ đầu năm 1950 cho đến ngày 30. 04. 1975, với các bút hiệu : Nguyễn Bính Long viết về gián điệp, Trương Thanh Vân viết về trinh thám. Năm 1952 ông vào quân đội và năm 1954 ông bị thương ở đèo An Khê hỏng cánh tay mặt. Từ đó ông lấy bút hiệu An Khê và gõ máy một tay để viết tiểu thuyết Dã Sử VN. Ông viết rất khỏe, viết tiểu thuyết đăng các báo hàng ngày cho các nhựt báo ở thủ đô. Năm 1966 ông là chủ nhiệm nhụt báo Miền Tây, là tờ báo đầu tiên của vùng. Sau biến cố năm Mậu Thân tờ báo đình bản. Trước năm 1975 ông cộng tác với các tạp chí : Đời Mới, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tiếng Chuông, Buổi sáng, Công Nhân, Dân Tiến, Vận Hội mới, Tin Sớm, Tia Sáng, Quyết Tiến, Thời Báo, Cấp Tiến, Dân Chúng, Dân Nguyện, Tiến,… Đã viết khoảng 250 quyển tiểu thuyết, và đã in thành sách ở VN được 22 bộ. Ra hải ngoại vì tuổi tác và sức khỏe kém, nhất là cánh tay bị đau nhức nên ông chỉ viết được ít truyện ngắn cộng tác với một số báo ở hải ngoại như : Làng Văn, Tiểu Thuyết Nguyệt San, Văn Nghệ Tiền Phong, Viên Giác Ái Hữu và Ngày Mai. Năm 1993 Cơ sở Làng Văn (Canada) có giúp ông hoàn thành tác phẩm cuối đời cuốn hồi ký ngắn : Từ Khám Lớn Đến Côn Đảo.
Người thứ nhì là Cố nhà văn Duyên Anh phải viết bằng tay trái sau khi bị tai nạn! Nhà văn Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo…Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Di cư vào Nam năm 1954, ông từng làm đủ nghề : dạy kèm, dạy nhạc..vv. Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. ở thể loại lãng mạn đầy hoài niệm về thời kỳ ấu thơ tại quê hương miền Bắc. Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốcnhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…Những tác hẩm của Duyên Anh trước năm 1975 thường mang tính hiện thục xã hội, diễn tả những mảnh đời sống trong một góc khuất ở những con hẻm, những ngõ cùng nơi đô thị. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi. Sau biến cố 30 tháng 4, 1975, cùng với Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền…vv. Duyên Anh bị liệt danh là một trong 10 nghệ sĩ nêu danh là “Những Tên Biệt Kích của Chủ Nghĩa Thực Dân Mới Trên Mặt Trận Văn Hóa – Tư Tưởng” và tác phẩm bị cấm lưu hành. Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo Trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam tháng 4, 1976 của nhà cầm quyền CS ban hành, Duyên Anh cùng chung số phận với các văn nghệ sĩ khác đều bị bắt vào tù . Ông được ra tù tháng 11 năm 1981, sau đó ông vượt biên. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại mang tính phê phán chế độ độc tài CS VN, sách ông được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông còn làm thơ và soạn nhạc. Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này. Ngày 6 tháng 2 năm 1997, ông mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp, để lại hơn 100 tác phẩm.Người thứ ba là Nhà văn Hồ Trường An : Tác giả 80 đầu sách về trường thiên tiểu thuyết, tiểu thuyết,và biên khảo, phê bình. HồTrường An tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh năm 1938 ở Vĩnh Long. Tốt nghiệp khóa 26 trường Sĩ Quan Thủ Đức. Phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn 2&3 cho tới tháng 4 năm 1975. Ông gia nhập làng báo từ thời còn là sinh viên trường Dược qua ngòi bút phóng viên kịch trường từ giũa thế kỷ trước. Thuở đó ông đã làm thơ nhưng khi vào quân đội ông chuyên về báo chí. Sau năm 1975 ra hải ngoại ông cộng tác với nhiều tạp chí, từng làm Tổng Thơ Ký các tập san Quê Mẹ, tập san Làng Văn. Sau khi rời Paris về cư ngụ ở tỉnh Troyes năm 1982, ông đã dành thì giờ chuyên về tiểu thuyết. Văn phong của ông mang chất miệt vườn Miền Nam, sâu sắc, thắm đầy tình người và tự quê hương.
Từ cuốn truyện dài Phấn Bướm ấn hành 1986 đến nay ông đã xuất bản được gần 80 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm 22 truyện dài, 12 tập truyện ngắn, 22 tập biên khảo và 2 tập thơ : Thiên Đường Tìm Lại (2002), và Vườn Cau quê Ngoại (2003). N ăm 2009 ông bị tai biến mạch máu não nặng, toàn thân bất động, lúc đầu không nói được, và trí nhớ cũng quên! Sau một thời gian điều trị trí nhớ của ông được khôi phục và đã dần dần nói được dù rất khó khăn. Chưa lúc nào nhà văn Hồ trường An ham sống hơn lúc này, vì ông còn thiết tha đến văn chương, nặng nợ chữ nghĩa, vì có những mộng ước hoàn thành ! Do đó ông đã cố tập luyện để khắc phục bệnh tật, nhờ quá yêu văn học nghị lực đã giúp ông vượt qua những khó khăn để thực hiện được hai tác phẩm biên khảo chỉ gõ máy bằng một ngón tay, đó là cuốn Núi cao Vực Thẩm, viết về 9 vóc dáng văn học VN của Thế Kỷ 20, và cuốn : Ảnh Trường Kịch Giới, ký ức về điện ảnh VN. Mới đây chúng tôi đến thăm nhà văn Hồ Trường An. Anh Hồ Trường An vừa in xong thêm một tác phẩm thể loại phê bình văn học : «Trên Nẻo Đường Nắng Tới » Gío Văn xuất bản 2013, hiện nay anh có 60 tác phẩm. Mặc dù tuổi đã cao lại bệnh tật và ăn chay trường nên ốm hơn trước, nhưng tinh thần của anh rất sáng suốt. Anh ngồi trên xe lăn trước mặt lúc nào cũng là computeur, anh cặm cụi viết sách, như muốn chạy đua với thời gian. Anh gõ máy bằng một ngón tay còn xử dụng được , thế mà cũng thực hiện được 4 tác phẩm kể từ khi bị đột qụy. Mỗi cuốn khoảng 500 trang, thật là phi thường.
Ông giã từ cõi đời một cách đột ngột ngày 27 tháng 1 năm 2020 tại thành phố Troyes để thả hồn vào một giấc ngủ say. Ông đã rũ bỏ những buồn phiền nhân thế, những nỗi buồn nhớ quê mà suốt đời lưu vong ông chưa một lần trở lại. Giã từ chiếc xe lăn theo áng mây bồng bềnh bay về cõi miên viễn.
Đỗ BìnhParis 24 tháng 2 năm 2022
MẠC PHƯƠNG ĐÌNH:
Vào buổi chiều tối hôm qua, Thứ Sáu 25/2/2021, Lễ Cầu Siêu cho ông Dương Huệ Anh, một văn thi sĩ kỳ cựu của Văn học Hải ngoại vừa qua đời trong tuần trước tại tư gia thuộc thành phố San Jose, đã được tổ chức tại chùa An Lạc, toạ lạc trên đường San Fernando, San Jose CA 95133, với sự hiện diện tham dự của một số thành viên trong Hôi Văn thơ Lạc Việt- một cơ sở Văn học do chính ông Dương Huệ Anh sáng lập trước đây vài mươi năm – cùng một số thân hữu. Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi đã ghi lại, xin được gửi đến Quý Vi, cùng Các Bạn Xa Gần như thay một lời Phân ưu đến Tang quyến,mà Quý Bạn chưa kịp chia xẻ
LỜI TRI ÂN CỦA NGHỆ SĨ KHÁNH HÀ:
Trước tiên tôi xin có lời cảm ơn đến hai người bạn trong văn nghệ lâu đời. Đó là thi sĩ Song linh và nhạc sĩ Lynh Phương đã báo tin cho tôi biết về sự ra đi của thi sĩ lão thành Dương Huệ Anh là người sáng lập Thi Văn Đàn Lạc Việt bây giờ là Văn Thơ Lạc Việt và tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông Lê Văn Hải đã tổ chức buổi lễ cầu siêu cho bác Dương Huệ Anh tại chùa An Lạc để tôi có dịp góp lời cầu nguyện và chia buồn cùng tang quyến.
Sự ra đi của bác là sự mất mát lớn lao của thi đàn, là con chim đầu đàn trong giới văn học thi văn. Một buổi lễ trang nghiêm với đông đảo thi văn hữu và người thân yêu của Bác, những lời đọc kinh cầu nguyện vang lên trong chánh điện nghe ngậm ngồi thương tiếc. Đặc biệt trong buổi lễ này ông Lê Văn Hải người Chủ Tịch tiếp nối của Thi Đàn đã phát biểu lời cảm tưởng thương tiếc và hát bài “Kiếp Nhân Sinh” của ông rất cảm động, ông nói lý thuyết của Phật Giáo về sự hợp tâm hợp lực cầu nguyện của nhiều người, cầu siêu thoát cho người mất cũng sẽ được năng lượng hỗ trợ nghe kinh mà tĩnh tâm sáng suốt niệm Phật, hồn người mất sẽ đi theo về cảnh giới tốt hơn qua nghiệp lực của mình. Tôi rất kính nể ông Lê Văn Hải không phân biệt tôn giáo, ông là người Công Giáo mà hiểu thâm thúy về thuyết giáo của Đạo Phật như người Phật Tử thuần thành vậy. Nhờ đến đây tôi được gặp lại các anh bạn Phạm Thái quen biết ngay ngày xưa đã hàng mấy chục năm không gặp và gặp các anh Luynh Phương, Nguyên Phương, Thi Cầm, Mạc Phương Đình, v.v… những người bạn lâu năm không gặp vì nạn dịch Covid.
Và cũng nhờ đến đây tôi mới biết Thi Văn Đàn Lạc Việt đã đổi mới, những cuộc tổ chức cộng đồng như ra mắt sách, trao giải thưởng hằng năm, những buổi họp văn nghệ, và tổ chức sinh nhật tập thể cho các anh chị em trong đoàn, ông Chủ Tịch Lê Văn Hải rất có tâm và vô cùng xứng đáng trong chức vụ của mình.
Hai thành viên trong ban biên tập Phương Hoa, Phạm Thái rất năng nổ, sốt sắng trong việc in ấn, và đăng tải bài vở rất nhanh, trình bày đẹp. Nhiều năm về trước Bác Dương Huệ Anh lúc ông còn là Chủ Tịch Thi Văn Đàn Lạc Việt cũng đã nhiều lần tâm sự, “Bác rất mong lớp trẻ tiếp tay để sự nghiệp thơ văn được mãi mãi trường tồn, bác rất cần sự giúp sức của giới trẻ trong công việc in ấn…” Giờ đây chắc bác vô cùng mãn nguyện, tâm thanh thản ra đi một cách rất bình yên, thơ thới, nhẹ nhàng.
Lời sau cùng con kính nguyện cầu hương hồn Bác Dương Huệ Anh sớm được siêu sinh về nơi cõi Phật và xin kính chia buồn cùng tang quyến, cũng không quên chúc mừng ông Chủ Tịch và các thành viên trong Văn Thơ Lạc Việt.
Xin kính chúc sức khỏe an khang đến mọi người, các thi văn hữu xa gần, các nghệ sĩ, và các độc giả luôn an bình hạnh phúc.
Khánh Hà JS.
Thành Kính Tiễn Đưa: Cụ TRƯƠNG ĐÌNH SỬU – Lê Văn Hải & Phương Hoa
Tin Buồn.
Nhóm Mõ Nhân Ái (Homeless) xin thông báo tin buồn:
Cụ Trương Đình Sửu
Thành viên danh dự của Nhóm (trên 10 năm)
Vừa qua đời vào lúc 7 giờ 30 tối, Chủ Nhật ngày 29 tháng 8 năm 2021, vừa qua. Tại San José.
Cụ là những Bô Lão được rất nhiều người thương mến. Tính tình từ tốn ôn hòa, đầy nhiệt tâm. Hoạt động cộng đồng năng nổ tại Bắc Cali, khoảng từ 1980 đến năm 2000.
Gần cuối đời, hay ra thăm hỏi, tặng quà, giúp đỡ Khách Không Nhà (Homeless)
Hưởng Thọ 97 Tuổi! (3 năm nữa tròn 100!)
Chương trình Tang Lễ, xin được thông báo sau.
Vô Cùng Thương Tiếc.
Lê Văn Hải
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU – Lê Văn Hải & Thơ Phân Ưu: Phương Hoa + Minh Thúy
Vài Nét Về Cố Thi Sĩ Nhất Tuấn.
Đây là khuôn mặt lớn của Văn học Miền Nam. Tên tuổi hầu như trước 75, ai cũng biết. Một trong những Thi sĩ có nhiều bài thơ được các Nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc nhiều nhất. Như nhạc phẩm “Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời” của Phạm Duy, “Hoa Học Trò” của Đan Thọ, “Chủ Nhật Này Trẫm Nhớ Ái Khanh Không?” Của Trần Thiện Thanh…vv…
Ông sinh ở Nam Định, năm 1954, di cư vào Nam.
Gia nhập Quân Đội, tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt. 2 chức vụ nhiều người biết nhất là: Giám Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội và Giám Đốc Việt Nam Thông Tấn Xã.
Tên tuổi Ông gắn liền qua những tập thơ: -Truyện Chúng Mình (1956) -Đời Lính (1965) -Tuyển tập thơ “Truyện Chúng Mình” (từ năm 1956 đến năm 2008)
Đêm qua, bầu trời văn nghệ hải ngoại, lại mất đi một ngôi sao sáng!
Lê Văn Hải
CHIA BUỒN Văn Thi Sĩ NGUYỄN TRUNG DŨNG Đã Ra Đi – Lê Văn Hải – Lê Tuấn – Thư Khanh – Phương Hoa – Hoàng Mai Nhất
Đôi nét về Nhà văn, Nhà thơ Nguyễn Trung Dũng. Ông sinh tại Phú Thọ, làng Yên Mẫn, tỉnh Bắc Ninh. Trước 1954 sinh sống tại Hà Nội, sau đó di cư vào Nam. Học trường Chu Văn An và là một Sỹ quan QLVNCH. Những tác phẩm đã xuất bản tại Sài Gòn trước 75: -Trong Thành Phố (1966) -Ngoài Mặt Trận (1966) -Bên Này Sông, Bên Kia Sông (1968) -Vết Đạn Thù (1969) Những tác phẩm đã xuất bản tại Hải Ngoại: – Vết Đạn Thù (Tái bản 2004) -Thù Nước Chưa Xong, Đầu Đã Bạc! (2005) -Đêm Nghe Tiếng Đế Gáy (2006) -Cúc Vàng (Thơ 2011) -Bèo Dạt Mây Trôi (Dự tính xuất bản!) Ngoài ra Ông còn cộng tác với rất nhiều tạp chí, tuần báo, nhật báo, trên nhiều diễn đàn: Văn Uyển, Suối Văn, Tân Văn, Sài Gòn Nhỏ, Việt Nam Nhật Báo, Tuần Báo Thằng Mõ, Văn Thơ Lạc Việt…
LỜI CHIA BUỒN & THƠ XƯỚNG HỌA Tiển Biệt Nhà Thơ Đại Lãn Nguyễn Thượng Dực -Thơ Lê Tuấn, Phương Hoa, Hạnh Thảo, Thư Khanh & Dương Huệ Anh
NHỮNG LỜI PHÂN ƯU TỪ VĂN THƠ LẠC VIỆT:
Lê Tuấn:
Tôi mới vừa nhận được tin buồn từ hội (CVA61). Về sự ra đi của Đại Lãn Nguyễn Thượng Dực. Người anh và cũng là người bạn tù với tôi tại trại tù số 6 Nghệ Tĩnh. Trong tác phẩm Hổi Ký Đội Đập Đá, tôi có viết về Nguyễn Thượng Dực người bạn tù, sống chung một đội tù với tôi tại trại tù số 6 Huyện Thanh Chương Tỉnh Nghệ Tĩnh miền bắc. Quý vị nào biết tin thêm về chương trình tang lễ xin thông báo.
Xin thành kính phân ưu cùng tang quyến.
Cầu xin linh hồn nhà thơ Đại Lãn Nguyễn Thượng Dực
Sớm siêu thoát. An nghỉ trên cõi Niết Bàn.
Thành Kính Phân ưu
Gia đình Lê Tuấn
*
Hội Ái Hữu CHS. CVA. Bắc California:
T H À N H K Í N H P H Â N Ư U
Vô cùng thương tiếc khi nhận được tin
Đồng môn (CVA61).
Ông NGUYỄN – THƯỢNG – DỰC
Pháp danh: Chơn Minh Đạo.
Đã tạ thế ngày 22 tháng 05 năm 2021
Hưởng thọ 79 tuổi.
Toàn thể cựu-học-sinh C.V.A. Bắc California
xin THÀNH KÍNH PHÂN ƯU cùng gia đình
và tang – quyến.
Nguyện cầu hương – linh đồng môn Nguyễn Thượng Dực sớm siêu sanh tịnh- độ về cõi Niết – Bàn.
HỘI ÁI HỮU CHS. CVA. BẮC CALIFORNIA
**
Nguyễn Hồng Dũng:
Hôm nay là Rằm tháng Tư Tân Sửu, Lễ Phật Đản, Phật Lịch 2645. Kính chúc quý văn thi hữu VTLV luôn thân tâm an lạc.
Về sự ra đi của nhà thơ Đại Lãn Nguyễn thượng Dực là một mất mát lớn trong văn đoàn chúng ta, khi nào tang lễ thực hiện xin vị nào biết rõ nên báo trước để chúng ta kính viếng, bây giờ xin cầu nguyện cho Hương Linh Đạo Hữu Chơn Minh Đạo tiêu diêu nơi miền Lạc Cảnh.
Thành kính chia buồn cùng tang quyến và những thân hữu rất thân với người quá cố.
Kính
g/đ Nguyễn Hồng Dũng
*
Lê Văn Hải:
Kính Anh Tuấn,
Chia buồn cùng Anh, vừa mất một người Bạn, nhất là trong những thời gian nghiệt ngã, đau thương trong tù.
Văn Thơ Lạc Việt cũng mất một Thi sĩ thành viên, rất hiền hòa dễ mến, chan hòa tình nghĩa vui buồn với Anh Em.
Khi bình thơ, nhìn ra nhiều khía cạnh, rất độc đáo.
Xin Thi Sĩ Nguyễn Thượng Đực, nhận cái chào vĩnh biệt của Anh Chị Em Văn Thơ Lạc Việt chúng tôi.
Ngàn năm xa cách…bóng trăng trôi!
Lê Văn Hải
*
Minh Thúy:
Mọi người lần lượt ra đi . Kính nguyện cầu hương linh đạo hữu Chơn Minh Đạo sớm được siêu sanh tịnh độ.
Minh Thúy
*
Lê Anh Thượng:
Thật buồn khi hay tin anh Nguyễn Thượng Dực (Cả Dực, người bạn tù vai anh của bọn mình). Trong tù, tôi, Cả Dực và Dương Văn Chương kết nghĩa anh em sinh hoạt chung một tổ; sau dó anh xuống Đội Nhà Bếp và theo biên chế định kỳ của bọn chúng nên tôi với anh Lê Tuấn và Bùi Xuân Đang (hiện ở Pháp) kết thành một tổ sống chết với nhau.
Nay được tin buồn này, không biết nói gì hơn chỉ còn biết gởi lời chia buồn đến gia đình anh và nguyện cầu hương linh anh sớm về cỏi Niết Bàn.
Tôi cũng đã gọi phone thông báo đến các bạn tù Đội Đập Đá Trại 6 Nghệ Tỉnh như các anh: Nguyễn Thanh Vân, Nguyễn Đức Lợi, Sữ Hồng Xuân, Tín, Đằng (Xã Trưởng miền Tây) ở Westminter biết tin buồn này, để cùng cầu nguyện và chia xẻ nỗi đau mất mát này với gia đình anh.