TRANG ĐẶC BIỆT: TƯỞNG NIỆM THI SĨ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG – CỐ VẤN VTLV

CHÙM THƠ XƯỚNG HỌA TIỄN ĐƯA CỐ VĂN THI SĨ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG TỪ THI THÂN HỮU VÀ BẠN BÈ CỦA NGƯỜI

THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA

*

Tin buồn đưa tới nhói lòng thay

Một ánh sao vừa mới xé mây

XÓM NÚI THIỀN SƯ đèn tắt ngọn

NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG Bác bút lìa tay

Định phần khó đoán câu còn mất 

Cuộc sống vô thường chuyện rủi may

Bằng hữu thiếu người vườn Lý vắng 

VĂN THƠ lệ tiễn phút giây này.

Phương Hoa – MAY 22, 2022

*

THƠ HỌA

TIN BUỒN NHẬN ĐƯỢC

Nhận được tin buồn,choáng váng thay

Thiền Sư cưỡi hạc trắng lên mây

Quê xưa rứa nỡ lia xa Huế!

Đất Mỹ răng đành bước thõng tay?

Những tưởng hoa tươi đùa nắng mới

Đâu ngờ gió lạnh tẩm heo may

Đoàn viên giấc mộng còn dang dở

Khắc khoải trường lưu cõi tạm này…

Lý Đức Quỳnh

   23/5/2022

*

TIỄN ĐƯA

Bạn báo tin buồn tiếc nuối thay

Dê* vàng gậm cỏ ngút trời mây

Thiền sư những tưởng thân già lão

Xóm núi tài cao bút mát tay

Xướng họa đôi lần tâm khẩu phục

Lỗi lầm thoát khỏi cũng nhờ may

Đình Chương khuất bóng, văn chương nhạt

Thành kính tiễn đưa chút chữ này!

Lộc Bắc

22/5/22

* Ông sanh tháng, năm cùng Quý Mùi

*

KÍNH BÁI TIỄN BIỆT

THI SĨ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Xúc động vô cùng…tin chẳng may

Chạnh lòng thương tiếc ngậm ngùi thay !

Thiền Sư lặng lẽ rời kinh kệ

Xóm Núi âm thầm bỏ gió mây

Đúng bậc tài hoa đà kết bạn

Thật người  Đức độ đã liền tay

Góp lời Lạc Việt xin thành kính

Bái biệt phân ưu mấy vận nầy

songquang

20220523

*

KHÉP LẠI

Làng thơ buồn bã tiếc thương thay

Lão tướng rời trần trụ cõi mây

XÓM NÚI THIỀN SƯ thôi chắp bút

NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG Bác đã xuôi tay

Niềm vui xướng hoạ không còn nữa

Nỗi khát bình thơ chẳng gặp may

Thi hứng rộn ràng nay khép lại

VƯỜN THƠ hụt hẫng đón tin này !

PHƯỢNG HỒNG

*

TIỄN BẠN

Chợt nhận tin buồn nhói dạ thay,

Thiền Sư Xóm Núi đã chia tay.

Vần thơ tao nhã theo chân Phật,

Bút pháp thanh cao quyện gió mây.

Tiễn biệt lòng đây lưu luyến đấy,

Nhớ thương tình đó xuyến xao này !

Tám mươi tuổi chẳn lìa nhân thế…

Bạn hỡi trần duyên đã trả đầy !

Liêu Xuyên

*

THÀNH KÍNH

Kẻ ở người đi đau xót thay..!

Lòng như cuộn thắt rối ùn mây

Ngô Đình Chương Bác chào xa bạn

Xóm Núi Thiền Sư biệt vẫy tay

Trời đã vỡ đôi cho đất thảm

Đời thời chia hướng mất cơ may

Vẫn còn xuân đó sao tê tái,

Ai thấu cho chăng cảnh huống này..?

Thái Huy 5/25/22

*

KÍNH VIẾNG CỐ THI SĨ THIỀN SƯ XÓM NÚI Ở BẮC CALIFORNIA

Sét đánh ngang tai, dạ thảm thay…

Tin buồn Xóm Núi xé tan mây…

Thiền Sư tự tại, thơ tàn ngọn

Thi sĩ an nhiên, bút hạ tay

Sắc sắc không kh̀ông dầu nợ rũi

Vô thường tục lụy dẫu duyên may…

Sân hòe đào lý vườn hoa vắng

Bằng hữu chia buồn kính viếng này…

MAI XUÂN THANH – May 25, 2022

*

VĨNH BIỆT THI NHÂN

THIỀN SƯ nay đã vượt trời mây

XÓM NÚI buồn hiu cảnh xót thay

Thi phú vơi nguồn hồn chuyển đạt

Vắng tình xướng họa người truyền tay

Cõi đời buông bỏ chẳng rong ruổi

Vĩnh cữu bình an không mảy may

Thương tiếc đành vương kẻ ở lại

Thành tâm dâng gởi nén hương này…

Hải Rừng

25/5/2022

TIỄN BIỆT THI NHÂN

Vĩnh biệt từ đây một bóng hình 

Tin buồn Bác mất nghẹn cầu kinh 

Thương người đức độ hoà nhân ái 

Quý bậc tài cao sống nghĩa tình 

“Xóm Núi “âm thầm rời nhẹ nhõm 

“Thiền Sư “lặng lẽ ngủ an bình 

Lãng Phong đã hết dòng Chương ngỏ 

Bạn hữu đau lòng cảnh tử sinh 

       Minh Thuý Thành Nội 

Tháng 5/22/2022

*

THƠ HỌA

LỜI TIỄN BUỒN THƠ.

Vẫn thấy đâu đây những ảnh hình

Dâng trà cúng Phật khách Thần Kinh

THIỀN SƯ ngẫm nghĩ hoa vô sắc

XÓM NÚI bâng khuâng đá bạc tình

Lời kệ xa xôi thời biến loạn

Trang thơ kề cận thủa thanh bình

Trọn đời gìn giữ lòng quân tử

Lẽ đạo vô thường cũng hoá sinh…

    Hawthorne – 24-5-2022  

CAO MỴ NHÂN

*

THIỀN SƯ

Dưới ánh trăng khuya bóng rọi hình

Chuông hòa tiếng mõ vọng lời kinh

Không mong bản ngã thường an lạc

Chỉ nguyện chúng sanh hết tội tình

Đất nước Tiên Rồng xây thịnh vượng

Người dân Lạc Việt sống thanh bình

Thiền Sư tịch lặng bờ tang hải

Lá rụng cho chồi lộc mới sinh…

Lý Đức Quỳnh 

   25/5/2022

*

TƯỞNG NIỆM CỐ THI SĨ

THIỀN SƯ XÓM NÚI

Hoài niệm thi nhân với tấm hình

Buồn thương vời vợi, đọc bài kinh

Chân phương đạo đức, người chơn chất

Trưởng thượng tài năng, bác thật tình

Xóm Núi xa rời, nơi ảm đạm

Thiền Sư cách biệt, giấc yên bình

Văn Đàn Lạc Việt luôn hồi tưởng

Phục nguyện hương lòng niệm tái sinh…!

Mai Xuân Thanh

  May 25, 2022

*

SAO VỘI

Trần gian đã vội ẩn thu hình

Cáo phó loan truyền thấy thất kinh

Chúc Mệ thiên đường lìa thế thái

Mong Chương cõi Phật đoạn nhân tình

Văn Thơ Lạc Việt sầu ly tán

Xóm Núi Thiền Sư sướng thái bình

Hội quán từ nay không gặp gỡ

Mừng người thoát khỏi kiếp ba sinh.

Phương Thúy

*

Tiễn nhà thơ Thiền Sư Xóm Núi

Đăng lên cáo phó lặng nhìn hình 

Biết tiếng danh người sớm kệ kinh 

Lính chiến công hàm dâng trọn việc 

Không quân nghĩa vụ hiến đầy tình

Sơn hà khổ hận đau thầm sống 

Tổ quốc tương bần nhục trót sinh

 Tóc trắng phiền buông tầm học đạo 

Thiền Sư Xóm Núi ngủ yênbình                       

 Bảo Trâm

TIỄN BIỆT TS NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Núi buồn khuất bóng vị Thiền Sư

Vội vã phiêu diêu chẳng tạ từ

Để giọt lệ sầu thêm chất ngất

Cho dòng thi luật trĩu ưu tư

Người đi có xót câu ly biệt

Kẻ ở càng đau khúc sở từ

Hạc lánh mây bay về cõi Phật

Văn đàn se thắt những âm dư.

                                 

Huy Vụ 04/06/2022

Kính Điếu Thi Sĩ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG 

*

Sư huynh giã biệt chốn dương trần

Trả lại cho đời những tiết xuân

Xóm Núi không còn nghe tiếng kệ

Thiền sư thôi hết viết thơ thần

Văn Thơ Lạc Việt sầu tang khách

Phong Lãng Diễn Đàn vắng cố nhân 

Thành kính phân ưu Ngô đại tộc

Vô cùng bái biệt một chung vần … 

CAO MỴ NHÂN     

Hawthorne  22 – 5 – 2022       

*

Thơ Họa:

ĐẠO ĐỜI RIÊNG CHUNG

Sự nghiệp thơ văn trả nợ trần

Bồ-đề kết chuỗi tám mươi xuân

Thời kinh tịnh khiết hòa chuông mõ

Tấc dạ trung trinh động thánh thần

Thuận pháp vào ra nương cửa Phật

Vui đời họa xướng đón thi nhân

Cội nguồn,ân nghĩa lòng thao thức

Quyện nỗi riêng chung lại dệt vần…

Lý Đức Quỳnh

  23/5/2022

*

THÀNH KÍNH TIỄN BIỆT

NHÀ THƠ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Xóm Núi Thiền Sư giã biệt trần

Tám mươi đúng độ đã tròn Xuân

Thi thơ đượm nét như lời kệ

Sắc thái vương thân tựa Thánh Thần

Cõi thế vô thường người mặc khách

Trần gian khó nghĩ kẻ tao nhân

Nhàng lòng một nén xin từ biệt

Thành kính phân ưu góp mấy vần

songquang

 22020523

*

ĐÔI LỜI GIÃ BIỆT

1-Giã biệt Ngô Chương bỏ bến trần,

Xuôi về chốn giác hiệp đền xuân.

Thanh nhàn an hưởng vui tâm trí,

Vĩnh phúc hườn minh mẫn tỉnh thần.   

Buông hết tám mươi năm khổ bến,

Quy hồi từ bỏ kiếp tha nhân.

Vườn thơ thi sĩ nay buồn vắng,

Vận tái tê xa lẽ bóng vần.

*

2- Ngô Chương vừa bỏ kiếp xa trần,

Tợ hạ nóng cuồng đốt nét xuân.

Thanh thản ra đi từ giả thế,

An nhàn vui hưởng chốn thiên thần.

Bầu đơn rượu Thánh tìm tâm thỏa,

Độc chốn thiền kinh vọng ái nhân.

Xướng họa từ nay đành vắng bóng,

Thơ lơi bằng lệch trắc lung vần.

HỒ NGUYỄN

 (23-5-2022)

*

BÁI BIỆT ĐẠI SƯ HUYNH

GIAÓ SƯ THI SĨ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Ngô Đại Huynh vừa biệt cõi trần,

Về miền Cưc Lạc cuối mùa xuân.

Thiền phòng bặt tiếng lời kinh thánh,

Xóm núi còn đâu  ngọn bút thần.

Phong cảnh giăng sầu tang mặc khách,

Chiếu thơ ướt lệ tiễn Thi Nhân.

Vô cùng thương tiếc xin an giấc,

Thành kính phân ưu góp mấy vần.

Mỹ Ngọc bái biệt,

  May 23/2022.

*

VĨNH BIỆT THIỀN SƯ XÓM NÚI

(GS NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG )

Thầy vừa từ biệt chốn dương trần,

Tiên cảnh vui vầy với gió Xuân

Xóm Núi đìu hiu buồn mõ gọi

Am thiền tịch mịch nhớ chuông ngân

Ngàn thu yên nghỉ theo chân Phật

Cánh hạc thong dong dõi bước Thần

Bạn hữu gần xa xin kính tiễn

Muôn trùng ly cách tiếc vô ngần…

THIÊN LÝ

*

THƯƠNG TIẾC CHÚ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Giã biệt “Thiền Sư“ bỏ cảnh trần

Không còn khỏa bút phóng trời Xuân

Từ bi nhã nhặn tu nương pháp

Bác ái khiêm cung học kính thần

Phú thả màu tươi cùng mặc khách

Thi hoà nét thắm với tao nhân

Văn Thơ Lạc Việt buồn thương tiếc

Nhóm Lãng Phong thôi xướng họa vần

      Minh Thuý Thành Nội

Tháng 5/23/2022

*

KÍNH ĐIẾU

Buông bút thi nhân lánh cõi trần

Quý Mùi trọn hưởng tám mươi xuân

Xưa từng bươn chải cùng tâm dũng

Hiện đã cao bay với sức thần

Xin được cảm thông-đây kẻ sĩ

Nguyện mong chia sẻ-đó thân nhân,

Nỗi đau mất mát trong gia đạo

Kính điếu-phân ưu mượn họa vần.

Thái Huy

 5/24/22

*

VẦN THƠ KÍNH VIẾNG 

Thì Huynh dứt bỏ nghiệp duyên trần,

Cưỡi hạc lên trời…theo gió Xuân 

Lão sĩ lánh xa miền đất khách,

Thiền sư tìm đến chốn thiên thần.

Chư Tăng hộ niệm cầu Tam Bảo,

Cửa Phật đón chào tiếp quí nhân.

Vĩnh biệt nhà thơ dòng lệ đổ,

Vô vàn thương tiếc viếng dăm vần.

Ngô Văn Giai (May 23/2022)

VĨNH BIỆT THIỀN SƯ

*

Người đang cưỡi hạc khắp mây trời

Bỏ hết ưu phiền dạ thảnh thơi

Ngọn bút buồn thiu chờ lắm chữ

Vườn thơ ảm đạm ước bao lời

Se niềm nhớ mãi chau vầng nguyệt

Dõi mắt trông hoài nghẹn biển khơi

Một nén trầm hương lòng kính gởi

Thành tâm vọng bái dẫu xa rời!

 Như Thu

05/23/2022

Thơ Họa:

VÂY TAY CHÀO

Thanh thản thiền sư vút cõi trời,

Phiền đau phủi sạch nhẹ tìm thơi.

Vườn thơ xướng họa im lìm tiếng,

Nhóm bạn luân lưu vắng vẻ lời.

Trắc vận tan xa tìm ánh nguyệt,

Bằng vần dạt bến vọng trùng khơi.

Âm u tiếng mõ kinh cầu nguyện,

Nhớ quá thi nhân bỏ thế rời.

HỒ NGUYỄN

  (23-5-2022)

*

TIẾC THƯƠNG

Sinh tử,dễ chi mặc kệ trời!

Vô thường phó thác,chọn nhàn thơi?

Nhân tình bịt mắt tìm an phận

Thế sự bưng tai giữ kín lời

Kẻ trí tường mình nhìn mọi nẻo

Người tài liễu ngộ thấu trùng khơi

Sông dài dự phóng mênh mông biển

Chẳng đủ duyên nên chịu rã rời…

Lý Đức Quỳnh

   24/5/2022

*

TIỄN BIỆT

THI NHÂN NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Tắt rụng ngôi sao ở cuối trời

Buông lìa cõi tạm bước nhàn thơi

Thi đàn khắc khoải bày run chữ

Bút hội đìu hiu tỏ nghẹn lời

Biển bạc xây hình người khuất hẳn

Trăng vàng tạo cảnh bóng mờ khơi

Hồi chuông “Xóm Núi” thôi ngừng đổ

Mực lạnh “Thiền Sư” đã bỏ rời

       Minh Thuý Thành Nội

Tháng 5/23/2022

*

THƯƠNG TIẾC THIỀN SƯ XÓM NÚI …!

Xóm Núi Thiền Sư…dạo khắp trời

Tay không nhẹ gót được nhàn thơi

Tao nhân chăm chỉ làm bao quyển

Mặc khách siêng năng dệt vạn lời

Thương tiếc sư huynh mưa mắt lệ

 Biệt ly bạn hữu gió ngàn khơi…

Thành tâm một nén hương đưa tiễn

Tịnh độ siêu thăng, thể phách rời …

Mai Xuân Thanh

  May 23, 2022

*

VĨNH BIỆT THIỀN SƯ

Xóm Núi Thiền Sư đã tới trời,

Niết bàn thảnh thảnh lại thơi thơi.

Thất tình bỏ lại thôi phiền não,

Lục dục còn đâu khỏi kiệm lời.

Niêm luật hết còn làm khó dễ,

Thi từ cũng đã vút ngàn khơi.

Trả về Tứ Đại thân trần thế,

Cực lạc vạn năm mãi chẳng rời !

Đỗ Chiêu Đức

*

VĨNH BIỆT

Họa Vĩnh Biệt Thiền Sư

Thiền sư rời núi để lên trời

Chắc chắn nơi này rất thảnh thơi

Hết hẳn bon chen hầu đạt phúc

Không còn giành giựt để thu lời

An vui cõi tịnh êm chiều sóng

Nhàn tản bờ mê thoảng gió khơi

Thỏa kiếp nhân sinh nhiều hệ lụy

Đây là chính lý hạc di rời…

Thái Huy 5/24/22

THƯƠNG TIẾC

Thương ôi! khách thế dạo ngàn khơi,

Xóm Núi Thiền Sư phú rạng ngời.

Tám chục xuân thời trần nuối tiếc,

Không gian mây xám giọt buồn rơi.

Trăm năm cõi tạm vòng sanh tử,

Không sắc tha nhân vận đổi dời.

Kính nén tâm nhang trầm khói toả…,

Anh linh thanh thản núi non Trời.

Đặng Xuân Linh

   24-05-2022

ĐÔI LỜI GIÃ BIỆT

Đôi dòng xin giã biệt thi nhân,

Xóm Núi Thiền Sư khuất bóng dần.

Nhớ thuở vườn thơ vui xướng họa,

Buồn nay vận điệu rẽ chia phân.

Trắc bằng giọng tứ còn văng vẳng,

Câu cú cung vần vẫn thoáng ngân.

Niên kỷ tám mươi buông bỏ thế,

Người đi để lại xót bâng khuâng.

HỒ NGUYỄN (24-5-2022)

*

THƠ HỌA

NỬA ĐƯỜNG ĐƯA QUAN

Mới đó mà nay đã cổ nhân

Thơ bay lãng đãng về xa dần

Buồn nơi Xóm Núi sinh ly cách

Sầu tại Thiền Sư tử biệt phân

Cứ tưởng cuộc đời không cảm luỵ

Nào hay thế sự vẫn vang ngân

Lênh đênh quan giã từ thân quyến

Cuối nẻo chân mây hồn khuất khuâng…

   Utah  26 – 5 – 2022 

CAO MỴ NHÂN 

*

TIỄN THẦY

(họa 4 vần)

Quý mến vô cùng bậc thiện nhân

Thiền Sư Xóm Núi khuất xa dần 

Giao hoà thả vận vui xong kiếp

Giải trí ươm hương thỏa mãn phần 

Chén nguyệt thi trào câu nhạc rót

Sông hồ phú nhả tiếng đàn ngân 

Thầy đi giã biệt trời xuân ấm 

Để lại vần thơ vướng khách trần    

           Minh Thuý Thành Nội 

KÍNH TIỄN TIỀN BỐI NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Lão hạc bay rồi bỏ cuộc chơi

Đành sao…tiền bối lánh xa đời !

Hồi chuông buổi sớm đang còn vọng

Nhịp mõ ban chiều ngỡ chửa lơi

Xướng họa văn chương bằng hữu quý

Dồi trau chữ nghĩa đệ huynh mời

Ly hương khắc khoải niềm thương nhớ !

Bến Giác mong người sẽ thảnh thơi…

        Thanh Song Kim Phú

CA. May/24/2022

*

THƠ HỌA:

SINH TỬ KHÚC

Trời bày sinh tử nhập trò chơi

Phúc lạc đan xen với khổ đời

Những tưởng hương hoa đằm thắm mãi

Đâu ngờ sóng gió vội vàng lơi

Đường xưa cánh hạc sầu mây tán

Lối cũ thơ văn thiếu bạn mời

Đốt nén nhang lòng nghe cuốc gọi

Chúc Người thảnh thảnh được thơi thơi…

Lý Đức Quỳnh

    25/5/2022

*

THƯƠNG TIẾC THI SĨ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG 

Người thơ bỗng chốc bỏ quên đời

Cõi thế không còn muốn dạo chơi

Khai bút ngày xuân tâm nguyện ý                 

Họa vần thi tứ bạn vui mời

Tiếng chuông đảnh lễ trầm hương tỏa

Câu kệ gửi lòng thoảng gió lơi

Xóm núi, thôi rời xa chốn cũ

Thiền sư về cõi tịnh tâm thơi.         

 Lê Mỹ Hoàn 5/25/2022

*

 VĨNH BIỆT THIỀN SƯ XÓM NÚI

Tám Mươi bỏ hết nhẹ mình chơi

Thương tiếc sư huynh lánh cõi đời

Gõ mõ khoan thai thường nhật cúng

Tụng kinh phãng phất vẫn chuông lơi

Ngâm nga điêu luyện, tao nhân gọi

Xướng họa trau dồi mặc khách mời

Bát Nhã Con Thuyền đưa Bến Giác

Thiền Sư Xóm Núi được nhàn thơi…!

MAI XUÂN THANH  – May 25, 2022

NGƯỜI VỀ CÕI TỊNH YÊN

Thiền Sư Xóm Núi đã qui tiên

Cưỡi hạc bay về cõi tịnh yên

Áo phất phơ lay theo gió thoảng

Hồn ung dung định với tâm thiền

Văn chương để lại lưu vườn thế

Tư tưởng mang vào nhập cửa thiên

Thắp nén hương trầm xin bái biệt

Tiễn người thanh thản chốn an nhiên

Sông Thu (24/05/2022)

*

THƠ HỌA:

*

LÃNG DU

Giã chốn cơ cầu sống chẳng yên

Phất trần,hạc trắng,lãng du tiên

Công danh sóng cuộn ngoài giang hải

Sự nghiệp sương tan trước cửa thiền

Nhẹ cánh vô cư bồng lướt gió

Thênh lòng bất trú vút thăng thiên

Thuận tùy đi đến không ràng buộc

Tựa ánh trăng ngà…thật tự nhiên.

Lý Đức Quỳnh

   24/5/2022

*

CHỐN HỒN NHIÊN

Thiền Sư tịnh luyện đã về thiên

Phảng phất mây trôi cõi vĩnh yên

Áo trắng tóc phơ theo gió thoảng

Mày râu đạo mạo bậc cao thiền

Văn thơ một gánh oằn bay bổng

Hoà lẫn không trung đến động tiên

Đến lúc nhân phàm ai cũng thế

Nguyện cầu hưởng phước chốn hồn nhiên…

 Yên Hà

24/5/2022

*

ĐƯA TIỄN THIỀN SƯ XÓM NÚI

Cánh hạc nay đà đến cõi tiên

Dương trần rủ bụi hưởng bình yên

Hương sen trí gởi tầm an pháp

Bóng Phật hồn du hướng tĩnh thiền

Văn học trao về nhà tứ chúng

Nhân từ đón rước cửa tam thiên

Tâm thành góp nguyện người siêu thoát

Cực lạc phương trời dạ thản nhiên

     Minh Thuý Thành Nội

Tháng 5/24/2022

*

KÍNH CHÚC THIỀN SƯ

Vĩnh biệt dương trần lẽ tự nhiên!

Khai nguồn bất tử chốn bình yên

Tâm hồn phẩm hạnh ngời sông biển

Chân lý tình yêu rạng bến thiền

Đạo nghĩa hành trang làm vốn liếng

Hoàng tuyền cuộc sống hưởng ân thiên

Vườn thơ mãi nở ngàn lưu luyến!

Kính chúc Thiền Sư nhập cõi tiên…

Đức Hạnh

24 05 2022

*

ĐÔI LỜI DÂNG KÍNH

Bỏ thế Thiền Sư nhập cỏi Tiên,

An nhàn thanh thản tịnh tâm yên.

Xa dần bến đục nơi trần tục,

Nhập cỏi hư vô cận cửa Thiền.

Xướng họa văn thơ hoa nở bục,

Ý xinh nối đức nhập đền thiên.

Nhang trầm xin kính cầu thi hữu,

Tự tại yên bình vui bến nhiên.

HỒ NGUYỄN

 (24-5-2022)

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC THI HỮU NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG (1943-2022)

Một-chín-bốn-ba tuổi Quý Mùi,

“Thiền Sư Xóm Núi” góp thơ vui.

Thi ca xướng hoạ khi chia ngọt,

Văn nghệ giao lưu lúc sẻ bùi.

Viễn xứ lưu vong thời lận đận,

Tha hương tị nạn vận hên xui.

Tro tàn bếp lạnh thương thân phận,

Thung Lũng Hoa Vàng bạn tới lui.

Texas, May 23rd 2022 HỒ CÔNG TÂM—

*

THƠ HỌA

CÕI VĨNH

Cáo phó vừa đăng… tuổi Quý Mùi

Ra đi buông xoá những buồn/vui

Thơ Đường bút hiệu “Thiền Sư… Núi”,

Viết truyện văn phong ngọt lẫn bùi.

Đất Mới diễn đàn chung ý hướng,

Quê Người đóng góp chuyện may/xui

Huynh về Cõi Vĩnh đà an lạc

Xóm Núi từ nay vắng khách lui

Texas, 5/23/2022 – KIỀU MỘNG HÀ

*

THƯƠNG TIẾC THIỀN SƯ XÓM NÚI….!

*

Thiền Sư Xóm Núi tuổi năm Mùi (1943)

Nhắm mắt xuôi tay bỏ cuộc vui?

Đất khách lưu vong từng mặn ngọt

Quê người tị nạn trải chua bùi

Vaccine đủ mũi rồi đi mất…?

Tuổi hạc tám mươi cũng gặp xui

Thắp nén tâm nhang xin tưởng niệm

Siêu thăng Tịnh Độ, bạn bè lui…!

Mai Xuân Thanh  May 23, 2022

*

THƠ HỌA (Hồ Công Tâm, tiếp…)

THÊNH THANG CÁNH HẠC

Họa:Vô Cùng Thương Tiếc

“Xóm Núi Thiền Sư’ với tuổi mùi

Lưu vong thơ thận kiếm niềm vui

Nay an phận số tìm thanh tịnh

Hiện lánh nhân sinh hưởng ngọt bùi

Cánh hạc vút bay vào cõi mộng

Hương linh cao thoát khỏi điềm xui

Quả là tốt phúc cho thi sĩ

Chẳng vướng bận chi phải ngó lui.

Thái Huy 5/24/22

*

THI NHÂN NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Sinh ra gốc Huế thuộc năm Mùi 

Phúc hậu, tâm từ phản mặt vui 

Ý nghĩa vần thơ nhiều lúc đắng 

Văn chương điệu phú có khi bùi

 Buồn non ước nguyện thay điều mới

Khóc nước mong cầu đổi vận xui

Nhắm mắt bao người thương tiếc trọng 

Hiền hoà cọng bạn khó trừ lui            

 Minh Thuý Thành Nội  – Tháng 5/25/2022

*

THƯƠNG TIẾC THIỀN SƯ XÓM NÚI

Có được nhiều may,hưởng tuổi mùi,

Cuối đời ,tâm tịnh,lấy làm vui

Bạn bè thơ phú chia cay đắng,

Thi hữu văn chương xớt ngọt bùi

Quên nỗi sai thời,do nghiệp chướng

Buông niềm lỡ vận bởi duyên xui

Lần lên Xóm Núi,âm thanh lặng

Khói nhạt,hương tàn,bước trở lui!

Thanh Hoà
26/05/2022

VĨNH BIỆT THIỀN SƯ XÓM NÚI

*

Thiền sư xóm núi đã đi rồi

Vĩnh biệt nghìn thu vĩnh biệt người

Ông đã về trời xa vắng mãi

Hồng trần cõi mộng người đi thôi.

Từ nay chẳng hẹn bóng phù vân

Chẳng hẹn vần thơ xướng hợp vần

Tiếp nối văn chương ngày hội ngộ

Thế gian tiên cảnh đã xa dần.

Lê Tuấn   

THÀNH KÍNH TIỄN BIỆT

Vừa nhận tin buồn báo đến nơi

Văn Thơ Lạc Việt mất thêm người

Một đời bút mực Văn Thi Phú

Bỏ lại trần gian tiếc nhớ thôi

Ly biệt nào ai mong cảnh ấy

Chia tay dạ sót luống bồi hồi

Từ nay cách biệt ôi đành thế 

Thành kính phân ưu lệ ứa rồi                        

 Hoàng Mai Nhất
(24/5/2022)

XÓM NÚI THIỀN SƯ BÁC Ở ĐÂU?

Xóm Núi Thiền  Sư Bác ở đâu?

Tu trong Am Cỏ mãi ưu sầu

Ở đây kinh kệ hằng tơ tưởng

Tám chục tuổi tròn vội bỏ nhau

*

Sống chốn hoang vu chết tịch u

Hồn thiêng Bác bỏ vượt bay vù

Trên đường viên miễn về An Lạc

Hưởng  Hạnh Phúc  đầy mãi vạn  thu..

Trịnh Cơ  kính bái

Thơ Họa:

XUYẾN XAO NIỀM NHỚ

Những buổi kính thiền Xóm Núi đâu ?

Đêm khuya khói trắng tỏa cung sầu

Chuông không tiếng mõ nghe trầm lắng

Xướng họa thơ vần lạc mất nhau

*

Giữa chốn phồn hoa,chọn tịnh u

Tám mươi xuân thoáng tựa tên vù

Vẳng nghe khơi lộng chiều xa nhớ

Khói sóng mơ hồ xao xuyến thu…

Lý Đức Quỳnh

   25/5/2022

*

ĐƯỜNG XƯA XÓM NÚI QUYÊN BAY MẤT

Cả cười bạn thiết hỏi sư đâu

Xóm Núi buồn tênh vạn cổ sầu

Quạ đậu cây sồi, thương khách lỡ 

Quay về than tiếc khổ lòng nhau

*
Sư buồn hoa nở sắc mù u

Khách lạ hôm xưa thả vụ vù

Bạn thiết có hay lời tiễn lạc 

Của người thiên hạ khóc thiên thu…

  Utah  26 – 5 – 2022 – CAO MỴ NHÂN 

THƠ HỌA (Trịnh Cơ…Tiếp)

*

XÓM NÚI THIỀN SƯ BÁC Ở ĐÂU ?

An bần lạc đạo có sao đâu

Xóm Núi Thiền Sư há lụy sầu…?

Nếp sống thanh cao rời tục lụy

Cao niên tám chục, vẫn thương nhau

*

Am mây ở ẩn cảnh âm u

Trên đỉnh non cao gió thổi vù

Lẻ bóng vân du miền tịnh độ

Mốt mình đắc Đạo cõi thiên thu…

Mai Xuân Thanh  – May 26, 2022

*

DẠO BƯỚC NGÀN THU

Mây trời gió núi tận nơi đâu

Thế sự mang mang nhẹ nỗi sầu

Vĩnh biệt cung đàn thơ một thuở

Trăng lên đỉnh sáng vội lìa nhau

*

Thiền sư viên tịch chốn thâm u

Chiếc lá khuya rơi thoảng chợt vù

Xóm núi cỏ cây dường vẫn đợi

Quanh đây người dạo bước ngàn thu.

 Lê Mỹ Hoàn 5/26/2022

*

AM VẮNG 

Mây tan Xóm Núi bóng thầy đâu?

Hoa cỏ đường xưa sắc nhạt sầu 

Vắng lặng lời kinh đêm huyền tịch 

Chuông Chùa ngưng bởi xa nhau

 
Khung chiều nắng lịm cảnh âm u

Én nhạn trời cao lượn cánh vù

Khuất bóng Thiền Sư về cảnh giới 

An bình một cõi đến ngàn thu               

Minh Thuý Thành Nội                  

Tháng 5/27/2022

Văn Thơ Lạc Việt Vô Cùng Thương tiếc,

Vĩnh Biệt Thi Sĩ Cố Vấn Lão Thành Ngô Đình Chương!

Cách đây gần 2 tuần lễ, có người thân thông báo Thi sĩ Ngô Đình Chương đã qua đời! Định thông báo với Bạn Bè, Thân Hữu ngay Tin Buồn này, nhưng bỗng lưỡng lự, nên chờ Cáo Phó của Gia Đình thì chính thức hơn.

Nay xin được thông báo:

Thi Sĩ Thân Yêu Cố Vấn của Hội chúng ta là:

Thi Sĩ Ngô Đình Chương

Sinh năm 1943 tại Huế.

Đã Tạ thế ngày 8 tháng 5 năm 2022

Tại San Jose, California.

Hưởng Đại Thọ 80 Tuổi.

*

Tang lễ vào Thứ Tư tuần này, ngày 25 tháng 5 năm 2022.

*Quý Anh Chị VTLV muốn đưa tiễn Người Thân của chúng ta, về nơi an nghỉ cuối cùng.

Xin tập họp lúc 11 giờ trưa, Thứ Tư này, 25/5/2022. Tại Nghĩa trang Oakhill, 300 Curtner Ave, San Jose.

Sự có mặt của Chúng Ta, nói lên tình nghĩa với Người Quá Cố, cũng là niềm an ủi với Tang Gia.

*Vòng hoa Phúng Điếu của VTLV, sẽ đến Nhà Quàn trước 9 giờ sáng.

* Một trang Phân Ưu sẽ được đăng trên số Báo TM, ra tuần này.

Vài Nét Về Cố Thi Sĩ:

-Một trong những cây viết “cổ thụ!” lâu năm nhất tại Hải Ngoại. Có mặt trên nhiều diễn đàn Văn Thơ.

-Ngoài thơ, Ông còn là một Nhà Văn với nhiều tác phẩm, bán rất chạy, (hồi đầu thập niên 90) hầu hết do TM xuất bản:

-Bên Lề Cuộc Chiến (truyện)

– Khung Trời Hiu Quạnh (truyện)

-Vàng Son (thơ)

-Bên Trời Mài Kiếm (truyện)

-Kiện Trời (truyện)

-Mèo Con Trong Vườn (truyện)

Trong Giây Phút Tưởng Nhớ, Xin Mời Thưởng Thức Một Vài Bài Thơ Của Cố Thi sĩ:

Xuân Ước Mơ

*

Gặp nhau lần thứ nhất

Tình cảm ấy “Ru Em”

Bầu không khí thân mật

Chúng ta thành bạn quen

Trời cho anh tiếng hát

Tôi chỉ một tấm lòng

Những đứa con Âu Lạc

Trên đất khách phiêu bồng

Anh đúng là nghệ sĩ

Tôi vớ vẩn làm thơ

Nếu chưa là tri kỷ

Cũng chung niềm ước mơ

Quê hương mình trở lại

Những ngày tháng thanh bình

Ấm no và thoải mái

Nhạc và thơ thịnh hành

Những cánh đồng xanh mạ

Những bãi cát trắng dừa

Con người thôi hối hả

Sống thật thà đơn sơ

Anh hát bài “Ru Em”

Đêm Việt Nam yên lặng

Giấc ngủ đẹp hai miền

Sau bao năm thù hận

Ngô Đình Chương

*

Chút Nắng Xuân

Mở cửa hàng hiên chút nắng xuân

Bao hôm mưa bão bệnh trùm chăn

Phù dung ẻo lả bên chòm cúc

Sáo sậu tưng bừng dưới cụm lan

Nước vẫn lửng lơ dòng suối bạc

Hồn đang lãng đãng đám mây vần

Thơ ta nhỏ bé từng viên sỏi

Dốc ấy người ơi nhẹ gót chân

Ngô Đình Chương

*

Tiểu Mão, Chú Mèo Tu

Tàn thu chút nắng đọng ven hiên

Run rẩy mèo hoang ghé tọa thiền

Đôi mắt nguyện cầu dường thoát tục

Bốn chân chắp bái vẻ an nhiên

Lão sư tụng niệm ngồi trầm mặc

Tiểu mão chăm nghe giữ lặng yên

Nhẹ bước theo thầy quanh Xóm Núi

Tu hành người, vật bởi cơ duyên

Ngô Đình CHương

*

Chuyện Một Đêm Trung Thu

*

Bao cánh thiên nga điểm trắng hồ

Bên lầu thủy tạ một Trung thu

Tay hương huyền hoặc chòm dây lụa

Giọng ngọc mê hồn mấy phiếm tơ

Tráng sĩ vung gươm cười bóng nước

Thiền sư múa bút dệt hồn thơ

Vầng trăng vằng vặc màn sương lạnh

Ảo ảnh hay là chuyện cổ xưa?

Ngô Đình Chương

*

Tiếng Kêu Vô Vọng

*

Sao bịt miệng tôi lại bắt giam

Tự do, quyền sống tội gì cam

Ai không phản đối trò tham nhũng

Ai chẳng căm hờn lũ ngoại xâm

Hải đảo biên phòng quà cống hiến

Đặc khu kinh tế đất đem cầm

Ôi Lê Chiêu Thống gương còn đó

Bán nước, ham quyền lú giả câm

Ngô Đình Chương

*

Vòng tay Huế

(vài vần thô thiển tặng người văn chương Hồ Đình Nghiêm, Người Gia Nã Đại gốc Huế)

*

Lưu vong hề…

cúi mặt làm thinh

Gặp nhau hề…

huynh đệ giao tình

Mươi chén chưa say đời Đỗ Phủ

Mấy ngày sao hết chuyện Trang Sinh

Vương vấn hương hoa dài mộng ảo

Phút giây tu dưỡng chút an bình

Xin mời… thí chủ vào am tự

Nhắp chén thiền trà nhớ Đế kinh

Ngô Đình Chương

(Thiền Sư Xóm Núi)

*

Thiếu Nữ Trong Thành Nội

*

Lên kiệu xa hồ kiếp mộc lan

Nhìn lui Thành Nội lệ mi tràn

Bao đêm chăn chiếu con tim đắng

Trăm mối tơ vò hạt ngọc tan

Thân thế vàng son bùn trét lấm

Đài gương năm tháng phấn khô tàn

Biên đình vời vợi tình quê tổ

Võng lọng thêm buồn tước hiệu ban

Ngô Đình Chương

*

Bạo Tàn

*

Sao đem con sáo nhốt trong lồng

Đói khát lâu ngày trụi hết lông

Búa đập mồm thôi kêu được nữa

Liềm cưa cánh mãi vỗ như không

Lắc lư nhúc nhích đâu còn sức

Ú ớ van cầu rõ uổng công

Máu rỉ vết thương mừng chút nước

Chao ôi nhìn cảnh thật đau lòng

Ngô Đình Chương

*

Đổ Lệ

*

Bài thơ đổ lệ Việt Nam ơi

Cộng sản ma vương đội lốt người

Chín đoạn lưỡi bò Tàu cướp đảo

Ba khu kinh tế Trọng thâu lời

Công an, quân độị mau lên tiếng

Trí thức, thanh niên chớ nín hơi

Cách mạng trong, ngoài cùng một nhịp

Biên cương phải giữ dẫu xương phơi

Ngô Đình Chương

*

Hồi Âm

*

Đàn ai thiên lý vọng thiền môn

Xóm Núi dốc lên cỏ lối mòn

Chánh điện hào quang luôn rực sáng

Quanh sân mây gió lúc vui buồn

Hồn thơ lạc nẻo rừng mai trúc

Kinh kệ hồi tâm tiếng mõ chuông

Quá khứ, vị lai trong mỗi niệm

Chung trà sen mạn hướng Hoa Thôn

Ngô Đình Chương

*

Về Quê

*

Về trước làng ta một quý nương

Dáng người thon gọn, tóc pha sương

Áo len, quần lĩnh, giày nhung tía

Mày nguyệt, môi tim, má phấn hường

Cách đứng, cách đi, dân tỉnh thị

Lời ăn, tiếng nói, vẻ văn chương

Gái trai, già trẻ, nhìn nhau hỏi

Phải nữ nhân đây khách lạc đường*

Ngô-Đình Chương

*

Phù Đổng Thiên Vương

*

Vó ngựa ầm ầm từ phương Bắc

Giáo gươm, chiến xa, mũ giáp sắt

Xí xô, xí xà như lang sói

Cướp của, giết người, bắt súc vật

Đàn bà, con nít, khóc thấu trời

Máu chảy, thịt rơi, đỏ mặt đất

Ngô-Đình Chương

Xuân khai bút

Sáng nghe con Vện sủa sau vườn

Đuổi đám gà con chạy hết trơn

Chợt thấy chậu mai hoa đẹp nụ

Mới hay thời tiết nắng vui đường

Đón xuân phố dưới người muôn vẻ

Trẩy lộc chùa bên khách thập phương

Bạn hỏi, ỡm ờ không nhớ tuổi

Năm nầy năm mấy lịch âm, dương?

Ngô-Đình Chương

*

Chuyến Hải Hành

*

Như xác cương thi lấn xuống tàu

Một đi mà chẳng biết về đâu

Mấy ngàn già trẻ ngồi câm hến

Một đám to đầu đứng quỵt râu

Xào xạc mây trời người thút thít

Bập bùng sóng nước ruột đau đau

Lệ mờ bến cũ cơn mê tỉnh

Thưa Mẹ, bao giờ biết gặp nhau

Ngô Đình Chương

*

Tự Trào

(Nhân ngày sinh nhật 9/9/2014)

*

Luẩn quẩn, loanh quanh, bạn chén trà

Lưng còng, gậy trúc, mấy chòm hoa

Sáng mai thức dậy, đau xương cốt

Trưa tối đi nằm, buốt thịt da

Sách đọc nửa trang, buông kính xuống

Cơm nhai vài miếng, tháo hàm ra

Quên quên, nhớ nhớ, cười soi bóng

Tâm Phật, nhưng người quả giống ma

Ngô Đình Chương

*

Chút Kỷ Niệm!

*

Ai mới gặp Ông, lần đầu tiên, lầm chết! Tướng Ông cao to, như dũng sĩ! Nhưng quen lâu rồi, thì không phải vậy, mọi thứ ngược lại!

To như con voi, nhưng hiền khô, tính tình hiền lành dễ mến, ăn nói nhỏ nhẹ, không rượu bia, không thuốc lá, chửi thề! (giống tôi!)

Xong công việc của một Cán Sự Xã Hội, là ra giúp Bà Xã ngay, có Quán Bún Bò Huế, đường Senter, quán sống rất lâu, mà ai ở San Jose cũng đều biết tên.

Ông có một nỗi u uẩn chất chứa trong lòng, vì là con cháu của dòng họ nổi tiếng Ngô Đình, có lẽ vì thế, Ông rất ít nói, cực kỳ tiết kiệm…tiếng cười!

Chúng tôi có duyên, được gặp Ông đầu tiên khi định cư tại San Jose, đầu thập niên 80. Nhà chúng tôi thuê, cạnh nhà ông, chỉ ngăn cách có một hàng rào, lại có cửa thông nhau! Gần đường “Mắt Láo Liên!”

Nên Thi Sĩ với chúng tôi, như người thân trong gia đình, có thức ăn gì ngon, cũng chạy qua biếu nhau. Trong thời gian này, tôi được ăn đồ ăn Huế đến…phát chán!

Ông phụ trách Trang Thơ trên báo chúng tôi, ít ra cũng gần 2 chục năm. Cuối cùng Ông phải từ giã vì…nản quá!

Trước khi ngưng, Ông còn “Khen” mát một câu mà chúng tôi nhớ mãi: “Anh Em chẳng quý chữ nghĩa gì cả, thơ có mấy câu, mà sai cả chục chữ! Bạn bè tôi nói, tôi là Thi Sĩ mà…không biết làm thơ!”

(Thật ra thời đó, làm báo tiếng Việt, đánh máy không có dấu, phải đánh bằng tay! Nên chuyện sai sót rất là thường! Báo phát hành, lúc nào cũng nhận được biết bao lời khiển trách. Như Bánh Mì Thịt Nguội, sau khi bỏ dấu bằng tay, thành Bánh Mì Thịt Người! Phụ Nữ Đảm Đang, sau khi nắn nót bỏ dấu, thành Phụ Nữ Dâm Đãng!…)

Kết

Thật bàng hoàng thương tiếc khi nhận được tin Ông đã rời xa cõi trần gian! Sinh bệnh lão tử, ai cũng phải trải qua, kiếp con người mà. Người đi thì cũng đã đi, nhưng người còn sống thật buồn rầu, ngậm ngùi thương tiếc quá. Chỉ an ủi vào câu: “Chết chỉ là thể xác, người ta coi như còn sống! nếu hình ảnh còn mãi trong tim, những người thân yêu, bạn bè thương nhớ!”

Xin Vĩnh Biệt!

KHÔNG QUÂN LÊ VĂN HẢI

Được tin bác Ngô Đình Chương ra đi gia đình chúng tôi vô cùng xúc động. Từ Việt Nam chúng tôi là hàng xóm của cô
 Xuyến Qua Mỹ biết thêm anh Chương lại gặp cô Xuyến là phu nhân của bác Chương
Liên lạc đọc thơ thi sĩ, gặp chị Chương rất Huế là các tiệm Bún bò.
Các cháu nhà tôi thành hôn đều có mặt cô Xuyến với bác Chương
Bây giờ bác đi rồi ai viết thêm vần thơ năm cũ.
Gia đình chúng tôi xin chia buồn cùng cô Xuyến và các cháu, Tiếc thương nhiều lắm
Gia đình Vu van Loc, Vu thi Hong va cac ban cu xa Dong Tien năm xưa.

GIAO CHỈ SAN JOSE

PHÚT TIỄN ĐƯA CỐ VĂN THI SĨ NGÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Chân thành gởi lời Cảm Tạ, đến Quý Niên Trưởng Cố Vấn, Quý Anh Chị trong VTLV.

Đã bày tỏ niềm thương tiếc dạt dào, đến Cố Thi Sĩ Cố Vấn Thân Yêu Ngô Đình Chương của chúng ta, trong những giây phút chia ly cuối cùng, cuối đường!

Phái đoàn của VTLV vẫn là phái đoàn đông nhất, có những lời Chia Buồn cảm động, chạm đến tim nhất!

Chắc “thiền sư” giờ ở tận “xóm núi”, nơi “chín núi, chín …suối vàng!” cũng mỉm cười mãn nguyện, về những tình cảm đậm sâu, dành cho Mình, từ các thành viên của Gia đình VTLV!

Xin được gởi tặng đến tất cả Quý Vị, mỗi người một Bông Hồng tươi thắm, thay lời Cám Ơn.

LÊ VĂN HẢI

Tiễn thi sĩ Ngô Đình Chương

Ngày xưa… khoảng hơn 30 năm về trước, lúc ấy các tiệm ăn chưa mọc nhiều. Ngày cuối tuần chúng tôi gồm gia đình bên chồng thường rủ nhau đến quán bún bò ở đường Senter tìm các món Huế nào bánh nậm, bánh bèo, cơm hến… v..v… vì nghe đồn món ăn rất ngon rất Huế, quả là không sai.

Tôi biết cô Ngọc là người đàn bà có nhan sắc, dáng dấp quý phái nhưng qua đây cô bắt tay lanh lẹ, giỏi như bao người Việt chịu khó, chịu làm và business đã bền vững thành công cho đến nay, sau mở thêm chi nhánh khác còn đắt hơn nữa. 

Những lần đến tôi thấy người đàn ông cao lớn với mái tóc hơi sói, khuôn mặt hiền lành thường ngồi nơi bàn thâu tiền, thỉnh thoảng khách đông kiêm luôn việc chạy bàn thay công việc cùng cô.

Bẵng thời gian sau này khi tôi gia nhập hội Văn Thơ Lạc Việt, tôi thường nghe trong giới thi văn nhắc nhở tên Chú Chương là thi bá của vùng San Jose, sau biết thêm nữa chú là cố vấn của Văn Thơ Lạc Việt. Sinh hoạt hội Huế thường thấy tên chú trong danh sách ủng hộ $, và vẫn thường nghe ông Kha (cựu Hội Trưởng) nhắc nhở điều đó khi hội họp. Bên Văn Thơ Lạc Việt cũng nghe ông Chinh Nguyên kể nhiều lần “mỗi khi quỹ sắp cạn thì cố vấn Ngô Đình Chương thường tiếp tế $ hoặc những lúc tổ chức việc gì luôn được chú yểm trợ tài chánh. Tôi càng kính nể quý mến chú hơn, chú luôn lặng lẽ âm thầm làm không nói, và cũng ít khi ra ngoài tham dự với đám đông.

Lúc chú sáng tác bài thơ Đường Luật gởi lên diễn đàn, tôi và chị Phương Hoa cũng gan lớn họa lại nhiều lần, từ đó chú thân với chúng tôi và thường gọi chung “hai cô”. Những khi có bài xướng nào chú cũng mời tôi và chị Phương Hoa tham gia góp bút. Lúc đó tôi đang học hỏi bên hội thơ Đường, muốn gởi thơ chú góp họa chung cho vui, và cũng để làm quen vườn thơ chuyên trị về Thất Ngôn Bát Cú. Từ từ chú quen trang chủ Lãng Phong là Lý Đức Quỳnh, một người lịch lãm luôn mở rộng sân chơi đón mời những thi nhân mặc khách đầy sự nâng đỡ và nhiệt tình. Nhìn nhiều bài xướng chú được trang chủ đưa lên diễn đàn mời thi hữu họa, tôi thấy vui theo niềm vui của người có đất dụng võ về thơ Đường.

Thơ chú luôn cô đọng niềm đau mất nước, trăn trở về quê hương trong niềm nhung nhớ. Nhìn khuôn mặt chú đầy vẻ phúc hậu thoát ra nét của người tu tâm thiền tịnh. Sau này thơ của chú phảng phất mùi hương pháp thanh tịnh, buông bỏ mọi tục lụy của thế gian, sớm tối lắng đọng theo lời kinh, tiếng kệ trong khung cảnh thần tiên của xóm núi vang vọng tiếng chuông Chùa, và chú đã lấy biệt hiệu là Thiền Sư Xóm Núi. Những bài thơ nhẹ nhàng đưa dẫn con người ta tìm về bến giác, nơi không có sự ganh ghét, hãm hại của loài người, nơi thức tỉnh tâm hồn dịu vợi hòa sống với cây cỏ hoa lá, chim chóc ca vang giữa chốn thiên nhiên. 

Cầm cuốn Tuyển Tập “Sống Với Tâm Nhàn” do cơ sở Văn Thơ Lạc Việt xuất bản năm 2021. Kỷ niệm một thời xướng họa với chú Chương, lòng thấy nao nao cảm giác vừa mất bóng cây cổ thụ rậm mát tỏa dịu dòng chương đầy đạo tâm truyền bá thông điệp của từ bi và bác ái. Từ nay không còn vui chơi xướng họa học hỏi từ chú nữa. Mời các bạn đọc tiêu biểu vài bài thơ xướng của chú Ngô đình Chương cùng thơ họa của Minh Thuý và chị Phương Hoa được trích từ Tuyển Tập.

Bài Xướng

Chiều Đông Trên Đỉnh Trường Lục

Văng vẳng bên đồi tiếng thở than

Chiều đông lành lạnh chốn thanh am

Trùng Dương đã đoạn dây oan trái

Cổ Mộ chưa vơi hận bẽ bàng

Gió nguyện ưu hương rồi tỏa ngát

Rừng thề đạo soái phải cầu van

Nhàn nhân vãng cảnh lưu danh bút:

“Tình thị vô tình, vạn cổ nan!”

                        Thiền Sư Xóm Núi

Họa

Thiền Sư Xóm Núi

Thiền Sư xa lánh chốn lầm than

Xóm Núi tâm từ tỏa ngút am

Thoát tục thong dong chân trí giả

Buông si thanh thản cánh chim bằng

Non xanh nước biếc vui tu luyện

Thế sự nhân tình mặc thán van

Bát tiết kệ kinh nào ngại khó

Tứ thời chuông mõ chẳng từ nan

                                    Phương Hoa

Họa

Thoát Tục

Êm chiều suối chảy tiếng như than

Núi biếc sương mờ khói quyện am

Đã hết duyên tình rời phố chợ

Thì buông nghiệp kiếp ẩn rừng bàng

Trần ai bám dấu chưa thề bỏ

Cát bụi lìa đời khỏi vái van

Dốc sức khai tâm trì chánh đạo

Tham thiền tịnh độ giải tư nan

                                    Minh Thúy Thành Nội

……………………………………………..

Bài Xướng

Chốn Ẩn Cư

Chiều xuống tàn xuân cảnh ảo hư

Sương mây tám hướng tiếng chuông từ

Lão nhân trầm mặc quỳ chân Phật

Phật Tiểu lơ là cọ bộ lư

Sen súng trắng xanh vừa hé nụ

Thầy trò hôm sớm vẫn công phu

Hạc hồng ríu rít ven bờ suối

Sơ họa vài câu chốn ẩn cư

Thiền Sư Xóm Núi

Họa

Chốn Tịnh Cư

(họa 4 vần)

Khói tỏa giăng mờ giữa cõi hư

Bên sân nắng nhạt biến tan từ

Dâng chưng chánh điện ngời hoa trái

Bật đốt hương đèn sáng bộ lư

Giới định trì kinh rèn đạo hữu

Tu hành điểm hạt luyện thiền sư

Vang đều tiếng mõ hoà câu tụng

Bóng tối ùa về chốn tịnh cư

Minh Thúy Thành Nội

Họa

Độc Cư Tu

Cảnh sắc ngời ngời chẳng huyễn hư

Hồng quang bao phủ chốn am từ

Người tu nhập định tâm không đảo

Kẻ thế tham thiền trí lắc lư

Tại bởi phú cường xoay trưởng giả

Do vì bần khổ chuyển hàn phu

Quyết lòng buông xả quên nhân thế

Đóng cửa dưỡng thần tịnh độc cư

                                    Phương Hoa

Bài Xướng

Cành Mai Dại

Lần nẻo quanh co suối trước am

Sáng nay se lạnh ủ mây lam

Bờ non cây cỏ chim bay đậu

Dòng nước rong rêu đá đứng nằm

Mỗi bước vô tư nhìn suối vật

Hai tay thong thả niệm trong tâm

Đường về ngắt một cành mai dại

Để nhớ quê nhà dịp Tết Xuân

                        Thiền Sư Xóm Núi

Họa

Tâm Xuân

Vạt nắng chan hoà phủ núi am

Mỉm cười thả bộ ngắm sương lam

Chim ca ríu rít cây cành ẻo

Gió thổi lao xao vạt cỏ nằm

Thanh thản thiền sâu vào biển tuệ

Nhẹ nhàng quán niệm tới bờ tâm

Mai, Đào trổ nụ bừng duyên thắm

Vạn vật tươi màu đón sắc Xuân

Minh Thúy Thành Nội

Họa

Tâm Thiền Quyện Bút

“Thiền Sư Xóm Núi” đã vào am

Tránh cõi hồng trần vướng khói lam

Chắc hẳn đường tu đà dạ ngút

Dường như Phật Học vốn lòng nằm

Vô ưu diện kiến buông trần tục

Bất uý nhìn đời xã thế tâm

Cám cảnh tinh khôi thiền quyện bút

Ngọt ngào vần điệu ngút trời Xuân

Phương Hoa

Bài Xướng

Thu Và Thiền Sư

Sương sớm hương thơ tảng đá cười

Mây vờn cá lượn suối vui chơi

Thời gian vẫn lạnh lùng miên viễn

Cảnh vật đang êm ả tuyệt vời

Sức sãi cuốc cùn duyên bát quả

Trà sen chén rạn lộc tam bôi

Bước đi mỗi niệm sắc không ấy

Ngân hạnh vàng mơ thu nhẹ rơi

                        Thiền Sư Xóm Núi

Họa

Chiều Êm

Sắc ánh vàng tơ nhẹ nụ cười

Chim vờn bướm lượn nhịp hòa chơi

Mây lùa mọi hướng nào mơ tưởng

Lá rụng muôn phương chẳng mộng vời

Đã hết đêm thu trà giã biệt

Đâu còn giấc hạ rượu ly bôi

“Thiền sư xóm núi” buông niềm tục

Tĩnh lặng tâm hồn nhặt nắng rơi

Minh Thúy Thành Nội

Họa

Sương đẫm hồn thơ biếc nụ cười

Thu vàng cúc đọ ánh vàng chơi

Bóng câu hiên ngoại vừa loang loáng

Dáng trúc vườn trung đã ngút vời

Nhập thất nề chi trà mấy độ

Tham thiền há tiếc rượu dăm bôi

Luận trong nhân thế vòng sanh diệt

Thoắt sáng thoạt chiều hết nắng rơi

Phương Hoa

……………………………………………………….

Bài Xướng

Am Vắng

Chiều hôm am vắng cảnh mây mù

Thấp thoáng gần xa bóng dáng thu

Vạt cúc nở vàng hương nhẹ nhẹ

Hàng thông trở lạnh gió vu vu

Gõ hồi chuông mõ lòng an tịnh

Mời chén trà sen khách lãng du

Thư bút, tranh thơ cùng đạo hữu

Cửa không lòng trống ngọn đèn lu

Thiền Sư Xóm Núi

Họa

Cõi Tịnh

Bụi đất rừng cây cảnh xám mù

Bên ngoài chẳng rõ đã xuân thu?

Hương đàm vị thấm chèo sông nhịp

Pháp giới căn đầy lái biển du

Lối đến ngôi Chùa chim nhảy giỡn

Đường vào ngõ Tự gió hoà ru

Sư già một bóng ngồi yên lặng

Vận dụng tham thiền ngọn bấc lu

Minh Thúy Thành Nội

Họa

Thiền Viện

Thiền viện uy nghi tuyết tỏa mù

Sắc không nào sá chuyện xuân thu

Giúp đời gần với câu kinh kệ

Trợ thế xa dần khúc nhạc Vu

Quả chốn an nhiên nương tịnh độ

Là nơi tự tại bước nhàn du

Trơ gan muôn thuở cùng sương nguyệt

Quang ánh tháp ngà mãi chẳng lu

Phương Hoa

………………………………………………………..

Hôm nay đến Oak Hill Funeral Home & Memorial Park tại 300 Curtner Ave, San Jose.

Rất đông bạn bè thân hữu đến thắp nhang. Tôi nhận thấy có những khuôn mặt quen thuộc đại khái như anh Nguyễn Văn Kha (cựu hội trưởng hội Huế), anh Lê Minh Hải (Tân Hội Trưởng hội Huế), anh Lê Đình Bì giám đốc đài Việt Today, thầy Ngô Châu (dạy đại học Văn Khoa trước 75), nhà thơ Ngọc Bích, phu nhân ông Lê Đình Vọng, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng (phó ban ngoại vụ của cơ sở VTLV, anh Chinh Nguyên (cựu hội trưởng VTLV, anh Lê Văn Hải (Tân Hội Trưởng VTLV và là chủ báo Thằng Mỏ)….Nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc.

Nhìn di ảnh chú Chương khói quyện bay nghi ngút với nét mặt nhân hậu, định luật Sinh Lão Bệnh Tử nào ai tránh khỏi, dẫu hiểu dòng sinh Không Sanh Không Diệt nhưng mấy ai tránh khỏi bùi ngùi thương tiếc người hiền lương, nhà văn nhà thơ nổi danh đã để lại cho đời những tác phẩm bình yên nhẹ nhàng như dòng suối mát tâm linh, làm vơi đi phiền não trong kiếp sống bận rộn nhiều nghiệp chướng này. 

Đúng 2 giờ chiều các thầy Chùa Từ Lâm đến làm lễ cầu siêu đưa tiễn, Thầy điều động tổ chức đám tang, cần số người cầm ảnh Phật, trướng liễn, số người cầm hoa quả đem ra nhà Quàn làm lễ lần cuối. Người thân trong gia đình vẫn chưa đủ nên nhờ thêm, tôi được phân công ôm mâm trái cây cùng con gái chú Chương, mọi thứ đều tùy vào duyên…và tôi đã được cái duyên tiễn chú đến giờ phút cuối. 

Chú Chương kính mến! MT đã đưa chú đến nơi an nghỉ cuối cùng, được hộ niệm thời kinh cho người mất. Hôm qua dự lễ Phật Đản tại Sài Gòn Kitchen do thầy Thích tánh Tuệ hướng dẫn, MT đã nguyện cầu đọc tên tuổi năm sinh của Chú. Chú mất vào ngày 8 tháng Tư Âm lịch nhằm ngày Đức Phật Đản Sanh, thật thiêng liêng xứng hợp biệt danh Thiền Sư Xóm Núi.

Hai bài thơ cuối cùng MT viết tặng Chú

1/ Tiễn biệt Thi Nhân

Vĩnh biệt từ đây thiếu bóng hình 

Tin buồn Bác mất nghẹn cầu kinh 

Thương người đức độ hòa nhân ái 

Quý bậc tài cao sống nghĩa tình 

“Xóm Núi “âm thầm rời nhẹ nhõm 

“Thiền Sư “lặng lẽ ngủ an bình 

Lãng Phong đã hết dòng Chương ngỏ 

Bạn hữu đau lòng cảnh tử sinh 

                                    Minh Thúy Thành Nội 

2/ Đám Tang Nhà Thơ Ngô Đình Chương 

Tiễn biệt thi nhân một đoạn đường 

Mi nhoà khói tỏa quyện mùi hương

Người thân lặng lẽ buồn châu rớt 

Bạn hữu âm thầm tiếc lệ vương 

Đã hết vần thơ dìu bóng hạ 

Còn đâu điệu phú nở hoa vườn 

Thành tâm niệm Phật đồng vang tiếng 

Nối bước quan tài nỗi luyến thương 

Minh Thúy Thành Nội 

Mùa xuân sắp tàn, nắng hạ đã rực lên. Nhìn ánh nắng chiều tan dần nhường bước bóng hoàng hôn từ từ phủ xuống. Những con chim bay xa cuối chân núi qua khung cửa sổ, ngồi đọc lại thơ Chú, dòng thơ nhẹ như vạt mây trắng đang trôi lãng đãng trên nền trời xanh mát.

Giã biệt Chú Chương…nghìn thu an giấc…. 

Minh Thúy Thành Nội 

25/05/2022

“Tiễn Biệt” Thi sĩ Ngô Đình Chương (KIM THƯ diễn ngâm)

Tôn Nữ Áo Tím

Tiễn Biệt (MP3)




MỘT ÁNH SAO Vừa Rời Khỏi Bầu Trời Văn Học Việt – Phương Hoa

Lễ Cầu Siêu cho văn thi sĩ Dương Huệ Anh tại Chùa An Lac. San Jose

Một Ánh Sao Vừa Rời Khỏi Bầu Trời Văn Học Việt

*

Người ta nói, cuộc đời là vô thường, có đó rồi mất đó, quả thật không sai. Mới tháng 1 sau Tết Tây 2022, một người còn vui vẻ yêu đời, làm thơ Xuân rộn rã, gửi đi chia sẻ trên các diễn đàn. Vậy mà…ngày 17 Tháng  2, tin từ Văn Thơ Lạc Việt gửi ra: “Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh, tên thật là Phạm Ngọc Tường, một trong những nhà sáng lập Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) từ năm 1992, hiện là cố vấn của VTLV, vừa tạ thế, hưởng đại thọ 97 tuổi.”

Tôi thật bất ngờ khi nhận được tin, lòng bàng hoàng tiếc thương khôn tả. Mới hôm nào Bác Dương Huệ Anh gọi nói chuyện với tôi, giọng Bác vẫn còn sang sảng, giòn giã và vui vẻ như một người bình thường không đau yếu.  Bác là một người mà tâm tư luôn đau đáu về việc bảo tồn văn hóa của quê hương. Mỗi lần gọi, Bác trao đổi thật nhiều với tôi về những dự định của Bác, về những tác phẩm Bác đang viết dở dang, và về những băn khoăn, lo âu văn hóa và tiếng Việt nguyên thủy của dân mình sẽ bị thay đổi làm cho mất gốc nếu thiếu người gìn giữ.

Điều quan trọng và cảm động nhất, là những lời tâm tình của Bác, rằng Bác rất vui vì thấy Văn Thơ Lạc Việt trải qua suốt ba chục năm thăng trầm, đến giờ này vẫn còn tồn tại và ngày càng phát triển. Bác còn dặn dò tôi, hãy cố gắng phụ giúp cho VTLV thành công hơn nữa “Cô nhớ đừng có bỏ đi đâu nghe!”  Và có lần Bác nói:

  “Tôi đang góp nhặt thông tin để viết về tiểu sử và những thành quả của các văn thi sĩ Việt Nam khắp nơi, và ngoài những tác giả lão thành, tôi cũng sẽ viết về những người trẻ như cô và cô Minh Thúy; tôi sẽ lấy tiểu sử của cô trong bản thảo ‘TT Thơ Viết Cho Hồn Dân Tộc’ nhé!”

Tôi giật mình, kêu lên:

“Ấy chết! Bác ơi, cháu thuộc vào hàng hậu học, văn thơ còn non nớt lắm, cháu vẫn đang vừa viết vừa học mỗi ngày, đâu có công trạng chi đáng nhớ mà bác đem vào sách cùng với những bậc tiền bối, người ta sẽ cười cho đó ạ.”

“Tôi có cách viết của tôi mà, đừng lo!” Bác cười nói. “Tôi không phải chỉ liệt kê hàng loạt tiểu sử của các tác giả và tác phẩm đâu, người ta sẽ nhàm chán, lần này tôi viết theo kiểu khác!”

Khi tôi kể lại cho người bạn Minh Thúy nghe, “Tụi mình đều đã sắp, hoặc…đụng hàng số bảy

 rồi, mà bác Dương Huệ Anh gọi là ‘những người trẻ’ nghe thương bác quá, đúng là bác xem tụi mình như hạng cháu con.” Cô bạn tôi cười, “Là bác nói tụi mình những cây bút trẻ đó, ở đó mà…ham trẻ!”

Những lời của Bác như còn vang vọng đâu đây. Thế mà bây giờ Bác đã vĩnh viễn lìa xa. Bác ra đi để lại một gia tài văn học đáng kể vì sức viết của bác thật bao la, đủ các thể loại, và triền miên như dòng chảy.  Ngoài những tác phẩm xuất bản trước 1975 như, “Thơ Xanh”, “Tâm Lý Phụ Nữ Qua Ca Dao Tục Ngữ”, “Huyền Ca, Diễm Ảo tập 1,2” năm 1958… ra, tại Mỹ, Bác đã phát hành tổng cộng dễ cũng gần ba chục tác phẩm, gồm Thơ, Văn, Biên Khảo, Truyện Dài, kể cả CD, như thơ “Tha Hương Mười Tám Năm, Sầu Có Ai.”, “Dịch Và Bói Dịch (sơ giải, 2005)”, “40 Năm Tị Nạn Buồn Vui”, “Ðường Nào Có Hoa Ðào”, “Quê Hương Vĩnh Cửu Tình Yêu”, và nhiều tác phẩm khác, cùng những bản thảo đang dở dang chờ hoàn thiện…

Bác DHA là người đa tài. Ngoài sách truyện và biên khảo ra, Bác có một kho tàng thơ rất phong phú. Thơ của Bác từ ngữ giản đơn dễ hiểu, nhưng rất ngọt ngào và trữ tình. Nhiều người bạn tôi bên Văn Bút nói, “Tuổi bác DHA tuy già nhưng thơ và tâm hồn bác luôn luôn trẻ.”

Tình cờ giở ra tập thơ “QUÊ HƯƠNG Vĩnh Cửu TÌNH YÊU” xuất bản năm 1992, một trong nhiều tập thơ, truyện, sách biên khảo, mà Bác DHA đã tặng, tôi gặp những lời thơ thật thiết tha:

“Tháng Bẩy, mưa Ngâu, lệ ngập trời,

Sầu dâng bốn bể, lạnh ngàn khơi!

Mưa đừng mưa nữa, lòng thêm khổ,

Để trái tim băng ấm mặt trời!” (Tháng Bẩy, Mưa Ngâu – DHA – tr. 35)

Là một trong những nhà sáng lập VTLV, Bác luôn trân trọng những cuộc thi Văn Thơ tổ chức hàng năm của VTLV. Trong “Thiên Niên Kỷ Mới, Độc Hành, Ta Vui” xuất bản năm 2004, Bác đã đưa vào thơ việc này:

“Mười năm, Lạc Việt dựng đàn thơ

Mong giúp người, chau chuốt tiếng tơ

Thi tuyển hàng năm, dăm, bẩy tập

Xuân Thu mỗi số mấy trăm tờ…” (Tớ Thầy Cùng…Chủ Hội – DHA tr.95)

Gần đây, cuối 2021 đầu Năm Mới 2022, những câu thơ mượt mà, yêu đời, yêu người, bừng sức sống của một người sắp kề cận bách niên như Bác đã làm cho nhiều văn thi sĩ trong các diễn đàn, như VTLV, Cô Gái Việt, và Văn Bút VN khen ngợi:

“… Cuối năm, có lắm tin vui,

Xa, gần… mừng Lễ Chúa Trời Giáng Sinh!

Chúc nhau sức khỏe, tâm bình,

Gieo nhân, hái quả…nở nghìn, trăm hoa….

Thêm vui, bạn quí, *phương xa,

Dù cao tuổi, vẫn nhớ ta…gọi mừng!

Blog còn sinh hoạt bình thường,

Thơ, văn… góp chút…có, còn hơn không !” (Bài “Năm Cũ, Năm Mới, Vui…Buồn” – DHA – 03/01/22)

Và mới nhất, Bác DHA đã sáng tác bài thơ Xuân thật rộn rã yêu đời, có ai ngờ chỉ sau hơn tháng Bác đã ra đi?

“Lại một mùa Xuân đến, bạn ơi,

Trăm hoa đẹp nở để hòa vui…

Tương tranh, cuộc sống từ vô thủy,

Quên nỗi buồn, qua những nụ cười !” (Mùa Xuân – Cầu Nguyện – Dương Huệ Anh – 22/01/2022)

Là một người thành công trong văn học, nổi tiếng về văn thơ, nhưng tính tình Bác Dương Huệ Anh rất khiêm nhượng, hiền từ, và thân thiện với mọi người, kể cả những hậu bối như tôi.  Bác, vị cố vấn rất có uy tín của VTLV, một trong những vị giám khảo của các cuộc thi thơ văn hàng năm của VTLV – mà tôi cũng từng là một thí sinh đã may mắn giật được giải đầu, hồi năm 2016 – và là người được rất nhiều văn thi sĩ nổi danh kính trọng, thường viết về Bác và các tác phẩm của Bác, như cố nhà văn Hồ Trường An, cố thi sĩ Du Tử Lê, nhà biên khảo Diệu Tần, nhà văn Đỗ Bình, Paris, v.v…Vậy mà khi tôi tặng Bác 3 TT truyện ngắn, “Yêu Nhau Mấy Núi”, Thằng Nước Mắm”, và “Chung Một ước Mơ”, thì Bác đã đọc rất kỹ càng. Đọc xong Bác gọi tôi và cho những lời khen cùng những lời góp ý, và những lời ủng hộ khuyên bảo quý giá của Bác đã giúp cho tôi lên tinh thần nhiều lắm. Thế là tôi bắt đầu …tới luôn, chuẩn bị cho 2 tuyển tập thơ “Viết Cho Hồn Dân Tộc” và “Vung Rải Niềm Vui” cũng như TT Truyện Ngắn  “Chắp Cánh.”

Đến tháng 11 năm 2021, tôi hoàn thành tập thơ “Viết Cho Hồn Dân Tộc” và mạo muội nhờ bác Dương Huệ Anh viết giúp Lời TỰA.  Tôi nói sơ sơ, chỉ nhờ…cầu may thôi, vì biết Bác đang bận cho những quyển sách của Bác, và cùng vì thấy sức khỏe Bác dạo ấy có phần hơi sút giảm nên tôi ngại đâu dám ép.  Không ngờ Bác đã mau mắn nhận lời, kêu tôi gửi bản thảo liền qua cho bác. Thương làm sao, những câu nói đầy khuyến khích của bác khi đọc tập bản thảo tôi gửi, quý làm sao, những câu chữ đánh máy với các dấu chấm phảy kỹ càng, và cảm động làm sao, mỗi khi Bác đọc bài thơ nào ưng ý thì gọi ngay cho tôi để nói vài lời khen ngợi. “Thơ cô rất có hồn và kỷ thuật thì rất vững vàng, khá lắm!” Chỉ một câu của Bác thôi, mà tôi đã hạnh phúc vô cùng.

Viết đến đây tôi như chựng lại, cảm thấy ân hận và buồn thật buồn, vì nghĩ mình còn nợ Bác DHA một món nợ ân tình khó trả, mà từ hôm nghe tin Bác mất nó cứ miên man vương vấn trong lòng.  Tôi đã in xong “TT Thơ Viết Cho Hồn Dân Tộc” từ cuối năm 2021. Nhưng vì tình trạng Covid vẫn chưa ổn định, rồi thì Tết đến lu bu, tôi lại lười đi bưu điện để gửi sách tặng cho Bác, mà lần lựa đợi đến lúc VTLV có cuộc họp đầu năm sẽ đem sách tặng cho Bác luôn.  Bây giờ thì không còn cơ hội cho Bác thấy Tập Thơ và đọc những lời TỰA rất trang trọng của Bác nữa rồi.

Từ hôm đó đến nay, bao nhiều lần tôi định viết chút gì về bác, để tiễn đưa vị tiền bối hiền hòa mà tôi kính quý. Nhưng mỗi lần mở máy ra, rồi nhìn mấy thùng sách đựng những tập thơ còn trinh nguyên nhà xuất bản gửi tới chưa mở ra, tôi lại nhớ tới Bác, lòng man mác buồn, ý tứ bị lảng xao, chữ nghĩa bay đi đâu mất hết. 

Cho đến chiều hôm qua.  Tôi đi sắp xếp lại tủ sách, để trống chỗ cho một số tập thơ mới và cất vào quyển sách của người bạn văn H.Q. từ Đức Quốc gửi tặng.  Bất ngờ khi tôi cầm lên quyển sách “Chân Dung & Giá Trị Truyện Kiều” Bác DHA tặng tôi năm ngoái, thì từ trong đó rơi ra cái thẻ “Business card” mà Bác đã kẹp vào khi tặng sách cho tôi.

 Đây là những chữ trong note của Bác DHA, xin chép lại dưới đây cho dễ đọc:

                                                                 5/15/2021

Thân mến tặng N.T Phương Hoa, người bạn trẻ, “có tâm, lại có tài”.

           Đáng quí lắm!

Có quyển bàn về Truyện Kiều, nếu có dịp, xin giới thiệu vài lời (in ra chưa RM.

                  Cám ơn cô PH.

                                    D.h.Anh

Tôi đọc cái note Bác ghi mà lòng xúc động vô vàn, rưng rưng nước mắt, tự trách mình sao quá vô ý, vô tâm đến mức quên luôn những điều mà Bác đã nói khi tặng sách cho tôi.  Bác muốn giới thiệu quyển sách “Chân Dung & Giá Trị Truyện Kiều” này ra cộng đồng mà bận quá, rồi công việc đẩy đưa, nên Bác chưa có dịp. Khi đó tôi cũng có hứa là sẽ cố gắng viết chút gì để giới thiệu sách của Bác với bà con, và chờ khi hết dịch Covid sẽ bàn tính với VTLV để tổ chức RMS cho Bác. Vậy mà tôi quên luôn! Nếu hôm nay không gặp cái note này, có lẽ tôi “gánh” cái thất hứa với Bác suốt đời mà không hề hay biết.  Tôi thầm xin lỗi Bác và tự hứa sẽ đọc thật kỹ để viết giới thiệu quyển sách này cho Bác trong một ngày gần đây.

Dù chỉ thiếu vài năm nữa thôi Bác Dương Huệ Anh sẽ lên bách tuế, kể ra Bác vẫn thọ hơn rất nhiều người, nhưng sự ra đi của Bác vẫn để lại tiếc thương cho giới văn học và đồng hương, cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ, và khắp trên thế giới.  Ban Biên Tập VTLV có mở riêng một “Trang Tưởng Niệm Văn Thi Sĩ Dương Huệ Anh” trên trang nhà, và mấy tuần qua chúng tôi đã nhận được rất nhiều thơ, văn, lời thương tiếc, hình ảnh chia buồn, liên tục gửi về cho trang này để phổ biến đi khắp nơi.  Cho thấy tình thương mến của cộng đồng với Bác DHA nhiều đến mức nào.

Để đáp lại tấm lòng của Bác DHA đối với những gì Bác đã làm cho VTLV, anh Chủ Tịch Lê Văn Hải cũng đã xin một buổi lễ tụng kinh cầu siêu cho Bác tại chùa An Lạc, San Jose, CA vào ngày 25 tháng 2, 2022 vừa qua, với đông đảo đồng hương và thành viên VTLV tham dự. Sau buổi lễ, Sư Bà và anh Hải lên phát biểu để tưởng nhớ và vinh danh văn thi sĩ Dương Huệ Anh, và sau đó nhiều người lên nhắc nhở về Bác, hát, ngâm thơ, đọc thơ thương tiếc Bác thật là cảm động.  Anh Lê Văn Hải còn đại diện Thi Văn Đàn VTLV đăng báo phân ưu cùng gia đình Bác Dương Huệ Anh trên báo trong vùng Bắc Cali.

Để tiễn đưa người bạn thân DHA lên đường, nhạc sĩ kỳ cựu Lynh Phương đã sáng tác bản nhạc “Niệm Khúc Cuối” và ông tự mình hát, làm YouTube rồi gửi đến cho VTLV phổ biến.  Nhìn dáng người nhạc sĩ lớn tuổi đứng hát với điệu bộ buồn hiu và giọng hát nghẹn ngào, cộng thêm bài hát rất hay, rất cảm động khiến người xem phải rưng rưng nước mắt.

Link bài hát ở đây: https://www.youtube.com/watch?v=Nql8WojHeBM

Những văn thi sĩ từ xa, có hai vị Chủ Tịch của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Cung Thị Lan, và Văn Bút VNHN Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, nhà văn Hồng Thủy, cũng nhanh chóng gửi những lời chia buồn thật chân tình tới VTLV cho Trang Tưởng Niệm.

“Anh Ba DƯƠNG HUỆ ANH của chúng ta đã bỏ chúng ta đi rồi….Chúng ta đã mất một người anh đáng kính, hiền hòa. VBVĐBHK và VBHN đã mất một Thi Sĩ kỳ cựu tài đức song toàn.” Nhà văn Hồng Thủy đã viết, và chị còn đại diện Văn Bút VNHN VĐBKH từ miền Đông gửi nhờ VTLV đăng báo phân ưu cùng gia đình văn thi sĩ Dương Huệ Anh trên báo Việt Ngữ Bắc Cali.

Nhà văn Đỗ Bình từ Paris, Pháp Quốc, có một bài khá dài viết về văn thi sĩ DHA đăng trên Trang Tưởng Niệm, xin trích vài câu:

“Nơi phương trời Mỹ, nhà thơ Dương Huệ Anh đã bước vào tuổi xế chiều, ở đây có những nỗi buồn tha hương luôn ẩn trong tâm hồn người xa xứ, đó cũng là chất liệu, nguồn cảm hứng cho thi nhân. Dù mang nỗi sầu tha hương nhưng nhà thơ vẫn yêu đời nên hồn thơ lại dâng trào nguồn cảm xúc, ông đã sáng tác theo dòng cảm xúc và sáng tác rất mạnh với nhiều đề tài khác nhau. Nhờ kiến thức sâu rộng tác giả đã có những sáng tác giá trị về lãnh vực thi ca, văn chương và biên khảo….” (NHÀ VĂN HÓA DƯƠNG HUỆ ANH – PARIS, MẠN ĐÀM VĂN HỌC&NGHỆ THUẬT – Đỗ Bình)

Trang Tưởng Niệm này cũng có bài viết của Thi sĩ Dương Viết, xin được trích:

“….Nhờ buổi ra mắt sách này, tôi mới biết nhà thơ Dương Huệ Anh…..ông đã là công chức, là

 cán bộ ngành ngoại giao, Đông Y Sĩ, viết biên khảo về nhiều vấn đề như đạo giáo, văn chương, viết văn, chuyên viên địa ốc… Thảo nào nhà văn Diệu Tần coi ông Dương Huệ Anh là một người đa năng đa tài chẳng khác gì văn sĩ Ernest Hemingway”(Một Vài Kỷ Niệm Với Nhà Thơ Dương Huệ Anh- DVĐ)

Nhà thơ Lê Tuấn, Ban Truyền Thông VTLV thì gửi những dòng thơ tha thiết:

“Có một vì sao chợt tắt

Muôn ngàn vì sao cúi mặt xót thương

Tiễn đưa về cõi vô thường

Thi nhân tao nhã vấn vương một thời.”

Thi sĩ Minh Thúy cũng nức nở:

“Màu Xuân rực rỡ chưa tan

Mùa Xuân đã khóc vội vàng tiễn đưa

Mắt mờ như bám hạt mưa

Rơi dòng ký ức mộng xưa trở về”

Và nữ sĩ Cao Mỵ Nhân, người bạn thơ thâm niên cùng nhà thơ DHA cũng thương cảm trách khẽ:

“Cụ bảo rằng không bỏ bóng Xuân

Sao hôm nay lại biệt dương trần

Xưa từng xướng hoạ lời chân thiện

Giờ đã phiêu linh cõi thánh thần”

Nhà thơ Nguyễn Huy Khôi từ nơi nửa vòng trái đất cũng tiếc thương vị thi sĩ tiền bối:

“Tiền bối ly từ,… dạ nhói đau!

Tinh hoa văn nghiệp quyện hương ngào!

Khôn cầm  tương ngộ đôi lời giã

Chẳng kịp tri ân một tiếng chào!”

Thi sĩ Hoàng Mai Nhất của VTLV thì tỏ rõ nét đau thương trong thơ:

“Nhói đau tin đến thật thình lình

Bác Huệ Anh về chốn lặng thinh

Cách biệt từ nay thôi chẳng gặp

Chia ly xa hẳn hết tâm tình”

Nghệ sĩ ngâm thơ Khánh Hà (Thu Quyên) kính cẩn:

“Bây giờ thưa Bác Dương Huệ Anh

Bác đã vì THƠ gửi cái TÌNH

Bác biết tuổi đời đang chạng vạng

Bác mong người trẻ có BÌNH MINH”

Phương Hoa đã nghẹn ngào:

“Cố Vấn Thi Đàn đi chẳng giã

Huệ Anh thi sĩ biệt không chào

Bao năm tại thế ôi thương quý!

Chớp mắt về Trời thật tiếc sao!”

Văn thi sĩ Phương Thúy,Trang Chủ  Diễn Đàn Cô Gái Việt cũng đã viết cho Trang Tưởng Niệm, “Tuy chưa được hân hạnh gặp Thi sĩ Dương Huệ Anh lúc sinh tiền, nhưng có lòng mến phục người đã tự nguyện vác cái ngà voi khổng lồ, sáng lập nên Cơ sở VTLV từ năm 1992.”

Và còn… rất nhiều, rất nhiều, văn thi sĩ của các diễn đàn thơ văn khắp gửi thư về cho VTLV đăng vào Trang Tưởng Niệm những lời văn, lời thơ, lời viết tận đáy lòng, bày tỏ sự tiếc thương vô bờ một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa Việt Nam rất thành công nơi hải ngoại.

Xin mời quý vị ghé vào VTLV để xem:  https://vantholacviet.com/thanh-kinh-phan-uu/

Sau cùng, văn thi sĩ Dương Huệ Anh đã rời bỏ thế gian, nhưng tinh thần yêu văn thơ và bảo tồn tiếng Việt cùng vô số tác phẩm giá trị để đời của Bác sẽ mãi mãi còn lưu lại trong giới văn học Việt Nam cho đến ngàn sau.

Hôm nay, ngày 9 tháng 3, 2022, là ngày gia đình đưa linh cữu Bác về miền vĩnh cửu. 

*

Kính hương linh bác Dương Huệ Anh,

Cháu vì ở xa không thể có mặt trong buổi hẹn cùng các thành viên VTLV để chia tay Bác lần cuối, nên cháu có bài viết này để tiễn bác lên đường, mong Bác hoan hỉ cho.

THÀNH KÍNH NGUYỆN CẦU HƯƠNG LINH BÁC DƯƠNG HUỆ ANH  SỚM VỀ MIỀN CỰC LẠC

Phương Hoa – Ban Biên Tập Thi Văn Đàn VTLV




TIN BUỒN: Vĩnh Biệt “Em Gái Hậu Phương” Dạ Lan! Lê Văn Hải

Vĩnh Biệt “Em Gái Hậu Phương” Dạ Lan!

Huyền Thoại “Người Đẹp” Trong Tim Cả Triệu Người Lính VNCH!

Tiếc Thương Giọng Nói ngọt ngào “Em Gái Hậu Phương” Dạ Lan 2 (Hồng Phương Lan) Xướng Ngôn Viên của Đài Phát Thanh Quân Đội VNCH, vừa mới ngừng tiếng nói!

Chút Quen Biết:

Tôi hân hạnh được biết Chị Phương Lan, (giọng nói Dạ Lan trên đài) khi tôi vừa mới lớn, khoảng năm đệ ngũ, đệ tam. Vì nhà tôi là hàng xóm, bên cạnh nhà Thiếu tá Cường, Tiểu đoàn 5 Chiến Tranh Chính Trị. Tôi chơi với Vượng,  Hiển, là 2 con  trai của TT. Chiều nào thu thanh từ đài Phát Thanh Quân Đội về, cả đoàn nghệ sĩ, thường ghé nhà TT Cường, nghỉ ngơi, vui chơi, ăn nhậu, ca hát.

Dù mới lớn, tối nào tôi cũng đón nghe chương trình phát thanh Dạ Lan. Ôi những lời tâm tình tha thiết, gởi những người trai đang ngoài trận chiến, mịt mù khói lửa. Những đoản văn mơ mộng giới thiệu những nhạc phẩm “tình ca thời chinh chiến”, kèm theo lời tặng đến các chiến sĩ đủ mọi Quân Binh Chủng, rất nồng ấm yêu thương. Chỉ một lần nghe, là nhớ mãi!

Được dịp gặp phía ngoài, tôi hơi chút ngạc nhiên, vì Chị trông không giống như những bức chân dung, mà đã phát cho các Anh Chiến Sĩ. Giọng nói phía ngoài, không ngọt ngào bằng, như khi nghe qua làn sóng phát thanh.

Khi tôi vào quân ngũ, cho đến ngày mất nước. Thì chưa một lần tôi nghe lại chương trình Dạ Lan cả. Trước nhất tôi không có Radio, thứ hai, trai tráng còn nhiều mục chơi khác sôi nổi hơn nhiều, hơn là ngồi trước cái Radio, thả hồn theo mây gió!

Hôm nay, nghe Chị qua đời, lòng thấy bồi hồi thương tiếc quá, biết Chị trên đất Mỹ này đã lâu, sao tôi đã không kiếm cách liên lạc, hỏi thăm.

Bản tính con người là thế, cứ để đến khi mất, mới thấy tiếc nuối.

Huyền Thoại 2 Dạ Lan, 1 Tiếng nói!

Nhiều người không biết, có 2 Dạ Lan, cùng một “Tiếng nói của những em gái hậu phương!”  

Đầu thập niên 1960, ở miền Nam Việt Nam chưa có vô tuyến truyền hình, phải đến năm 1966, mới thành lập đài truyền hình ở Saigon. Thời điểm này, người ta chủ yếu đón chờ thông tin từ 2 đài phát thanh chính, đó là Đài Tiếng Nói Việt Nam và Đài Phát Thanh Quân Đội. Thường là sau bữa cơm chiều, rất nhiều người “ghiền”, nhất là các anh chiến sĩ xa xôi, canh mở Radio, để nghe Dạ Lan “Em gái hậu phương” tâm tình và giới thiệu những bài nhạc mới.

Dạ Lan 1

Dạ Lan là chương trình của Đài Phát Thanh Quân Đội thời kỳ 1964 đến1975. Nhằm an ủi và nâng cao tinh thần binh sĩ, trong đó lấy âm nhạc làm phương tiện chính. Chương trình bắt đầu được phát sóng năm 1964 và xướng ngôn viên là cô gái xưng tên là Dạ Lan. Chương trình phát thanh này được phát mỗi đêm trên làn sóng dành riêng cho quân đội, có công suất rất mạnh, có thể nghe từ Bến Hải, đến Cà Mau, nghĩa là khắp dải đất miền Nam.

Trong hồi ký của nhà văn Văn Quang, kể về quá trình hình thành chương trình Dạ Lan như sau:

“Vào khoảng đầu thập niên 1960, Đại tá Trần Ngọc Huyến là người có sáng kiến tạo ra Chương trình Dạ Lan trên Đài Phát Thanh Quân Đội. Ngay sau khi ra mắt, chương trình này được hầu hết quân nhân yêu thích. Dần dần trở thành chương trình được mến mộ nhất của đài.

Nhưng hơn một năm sau, vì lý do riêng, nữ xướng ngôn viên Xuân Lan xin nghỉ việc, dọn về Đà Lạt. Đài Phát thanh Quân Đội bèn chọn một nữ xướng ngôn viên khác, có giọng nói y hệt Xuân Lan, khiến thính giả không thể phân biệt được, đâu là người mới đâu là người cũ. (Đài cũng cố tình cho người nghe hiểu lầm như thế, nên đã không có một lời đính chính.) Người tiếp tục chương trình Dạ Lan, cũng do một sự tình cờ, lại vẫn có tên thật là Lan, Hồng Phương Lan.

Dạ Lan 2

Hai tiếng Dạ Lan có thể hiểu đó là một loại “hương thơm quyến rũ về đêm.” Cũng có một sự trùng hợp, tên 2 nữ xướng ngôn viên cùng có tên là Lan. Xuân Lan hay Phương Lan, nên có thể hiểu là một tên chung và cũng là tên riêng.

Chị Phương Lan làm việc tại Đài phát thanh Quân Đội cho đến phút của Sài Gòn năm 1975. Như thế, thời gian Chị làm xướng ngôn viên Chương trình Dạ Lan khoảng 6 đến 7 năm.

Chương trình Dạ Lan được phát thanh từ 7 giờ đến 9 giờ tối mỗi ngày, bắt đầu bằng lời giới thiệu ngọt ngào:

“Đây là chương trình Dạ Lan, tiếng nói của những người em gái hậu phương, gửi những anh trai tiền tuyến”

Xướng ngôn viên của chương trình, là giọng nói một cô gái Bắc ngọt ngào. Ngoài những thông tin thời sự, phần hấp dẫn nhất của chương trình, là phần nhạc và phần thư tín.

Nhưng đối với những “anh trai tiền tuyến”, họ chỉ cần nghe được giọng Dạ Lan hàng đêm, nên cô xướng ngôn viên nghiễm nhiên là “linh hồn” của chương trình. Là đại diện của những người em gái hậu phương, hàng đêm nhỏ to tâm tình cùng các anh lính khắp miền đất nước. Trở thành “Người Tình Trong Mộng” của biết bao nhiêu chàng trai thế hệ.

Chương trình không ngờ thành công vượt bậc. Thư từ các chiến sĩ, nhất là từ các vùng đất xa. Thể theo lời yêu cầu, nên Cô Hoàng Xuân Lan được cho phép đi chụp hình in thành (carte postale) ảnh để trong bóp, để gửi tặng anh em chiến sĩ ngưỡng mộ. Bức ảnh được in trên bìa báo Xuân Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1965, do nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Nguyễn Kỳ ở Saigon chụp vào thập niên 60.

Một số hình chụp cô Xuân Lan, “em gái hậu phương Dạ Lan” cũng được ấn hành, để gởi tặng đến các chiến sĩ tiền đồn. Nhiều anh còn phóng lớn treo ngoài vọng gác!

Tuy vậy nhân vật số 2 “em gái hậu phương Dạ Lan” thì chưa bao giờ xuất hiện trên truyền hình, báo chí hay sinh hoạt văn nghệ ngoài đời. Mà chỉ duy nhất qua làn sóng điện, vì ngoài đời nhan sắc cô không có gì gọi là “nghiêng nước, nghiêng thành” gì cả.

Nhưng Cô cũng nhận được không ít thư từ tỏ tình với cô, của các “anh trai tiền tuyến” Nhiều anh tiền tuyến đi phép về Sài Gòn, có tìm đến Đài phát thanh Quân Đội, nhưng không bao giờ gặp được Dạ Lan bằng xương bằng thịt.

Dạ Lan 2, Không Phải Là Người Bắc, Mà Là Người Trung, Muôn đời vẫn là … “Người Tình Không Chân Dung!”

Thực ra Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) là người Huế, nhưng lạ, là lại có giọng Bắc chính hiệu. Cô làm ở đài phát thanh quân đội từ những năm 1957 đến 58, trước cả Xuân Lan. Không ai biết mặt và biết tên Dạ Lan cả. Nên tên Dạ Lan có thể là bất cứ người nào. Vì vậy Dạ Lan được xem là người đẹp “huyền thoại”, ai muốn tưởng tượng Dạ Lan là ai, như thế nào cũng được.

Sau 75, thương nhớ đến chương trình Dạ Lan, nhiều người lại thắc mắc về xuất thân của Dạ Lan và số phận của 2 cô ra sao. Nhờ đó, các thính giả sau này mới biết được có 2 cô Lan, và sau đó, người ta đã liên lạc được với cả 2 cô.

Qua sự thăm hỏi của nhiều người, cuối cùng người ta được biết, cô Hoàng Xuân Lan (Dạ Lan 1) hiện đang sống ở Saigon và cô Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) đang định cư tại S.Carolina, và cho đến giờ này, lạ là trong thư từ và cả email giao thiệp cả hai cô, đều ký tên mình là Dạ Lan.

Kết

Dù 2 cô là ai, không quan trọng, nhưng giọng nói êm ái đầy tình thương tình mến Dạ Lan, vẫn sống mãi trong tim, hàng triệu những người Trai, một thời khoác bộ Quân Phục, cầm súng gìn giữ Quê Hương Miền Nam tự do, no ấm trên 20 năm. Dù cuộc chiến đã qua gần nửa thế Kỷ, giọng nói “cô em gái hậu phương” ngọt ngào có tên Dạ Lan vẫn thổn thức mãi trong tim những người Lính VNCH!

Kiếp người, rồi cuối cùng, cũng phải chia tay! “Những người muôn năm cũ, hồn…ở đâu bây giờ!”

(LVHải tổng hợp, như một nén hương, dâng người đã khuất!)




TRANG TƯỞNG NIỆM – VĂN SĨ VĂN QUANG – Lê Văn Hải & THƠ Đưa Tiễn – Của Phương Hoa

THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA VĂN SĨ

VĂN QUANG

*

VĂN QUANG từ giã bút nghiên rồi

Mất một nhân tài thương tiếc ôi!

“Trời Tím” đẫm buồn, mây quyện gió

Tầng xanh nghẹn tiếc, lệ pha lời

“Tơ Lòng” đà dứt, tâm an lạc

“Cuồng Vọng” không còn, ý thảnh thơi

Kính tiễn thăng thiêng miền Cực Lạc

Người đi tác phẩm mãi lưu đời.

*

Phương Hoa – MAR 16th 2022

Hôm Nay: Nhà Văn Văn Quang Vừa Tử Giã Chúng Ta!

Lại Thêm Một Vị Sao Trên Bầu Trời Văn Nghệ Miền Nam Vừa Vụt Tắt!

Nhà Văn Văn Quang Vừa Từ Giã Chúng Ta!

Lê Văn Hải

Tin Buồn Tháng 3!

Tin từ một thân hữu cho hay, Nhà văn Văn Quang, đã qua đời lúc 10 giờ 20 phút, ngày hôm nay! Thứ Ba, 15 tháng 3 năm 2022, tại tư gia, đường Nguyễn Thiện Thuật, thành phố Sài Gòn, Hưởng thọ 90 tuổi.

Tuy Nhà văn Văn Quang ở Sài Gòn từ sau ngày mất nước, nhưng những bài viết của Ông, xuất hiện thường xuyên trên khắp các báo chí Hải ngoại, từ cuối thập niên 90, cho tới khoảng năm 2017. Cuối cùng với bài viết, giã từ bạn đọc, sau bài này, Ông “gác bút” vì không còn sức mang “nắng mưa Sài Gòn” đến với “những người muôn năm cũ!”

Ông được coi như “tai mắt” tường trình mọi biến chuyển, thay đổi về thành phố thương yêu, của một thời “Sài Gòn, đẹp lắm, Sài Gòn ơi!” trước 75.

Ông là nhà văn duy nhất ở trong nước, mà lại có tình thân thiết nhất với rất nhiều người đọc tiếng Việt bên kia vòng trái đất.

Sự ra đi của Ông, làm biết bao người thương nhớ, nuối tiếc! một Nhà văn thân yêu của Miền Nam.

Nhà Văn Văn Quang Và Tôi

Trước 75, tôi chỉ là người Lính, với cấp bậc vào hàng “củ lũ nhí” nhất, thì làm sao có cơ hội quen biết đến hàng sĩ quan cấp tá, lại mang chức Giám Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội như Ông.

Nhưng tôi đã đọc rất nhiều tác phẩm của Ông, văn ông nhẹ nhàng, trong sáng, đầy tính nhân bản. Mang nỗi u uẩn, đau thương người dân, người trai, khi đất nước trong thời chinh chiến.

Khi tác phẩm Chân Trời Tím dựng thành phim, do Đạo diễn Quốc Phong và Liên Ảnh sản xuất. Tôi đã là những người đầu tiên, đứng xếp hàng trước rạp Văn Hoa Dakao để chờ xem. Thổn thức với Hùng Cường, Kim Vui của mối tình trong cuộc chiến. Lòng quặn thắt với Nhạc phẩm Nửa Hồn Thương Đau, sáng tác của Trần Thiện Thanh, dành riêng cho phim này, qua tiếng hát vút cao của Thái Thanh.

Sau Tháng Tư Đen tan tác,

Khoảng cuối thập niên 90, lúc đó tôi đã giữ một tờ tuần báo, một cây viết của tờ báo, cũng là nhân viên tòa soạn, bút hiệu “Điền Tuấn” Cũng là người bạn thân thiết với Nhà văn Văn Quang, đã đưa ra một đề nghị với tôi:

-“Có một nhóm văn nghệ sĩ ở Sài Gòn, vừa mới từ cải tạo về, muốn viết bài cho tờ báo mình, để có chút tiền cà phê, cà pháo, anh em có cơ hội gặp mặt cho vui”

Tôi đồng ý ngay, chỉ thắc mắc:

-“Nhưng trả tiền nhuận bút bằng cách nào? Có ảnh hưởng gì đến người trong nước không?”

-“Dừng lo, chúng tôi có đường dây!”

Từ đó, tờ báo tôi, xuất hiện rất nhiều bài báo, từ những cây viết trong nước, nhưng nhiều nhất, vẫn là những bài của Nhà văn Văn Quang!

Thời gian này, người Việt Hải ngoại, mang thân phận của một kẻ lưu đầy, chưa bang giao, nên nghĩ vĩnh viễn không có đường về quê hương! Những bài viết kể chuyện nắng mưa Sài Gòn, nơi chôn bao nỗi nhớ, là những bài “ăn khách” nhất của tờ báo.

Khi Nhà văn Tô Ngọc qua Mỹ, Ông đến tòa soạn ngay ngày hôm sau, thông báo với tôi: “Anh em gởi lời cám ơn, “bịch thuốc bổ,” gởi về mỗi tháng, để Anh em mới có cơ hội gặp nhau vui lắm, chưa kể giúp được những trường hợp khó nghèo!”

Tôi rất vui mừng, không ngờ chuyện nhỏ, mà có kết quả quá vui, thật to lớn như thế! Từ đó, tôi có cơ hội thăm hỏi Ông qua thư từ.

Sau này, mừng cho Nhà văn Văn Quang, vì đã cộng tác với rất nhiều tờ báo của Hải ngoại. Có vẻ từ đó, đời sống Ông cũng dễ thở hơn chăng.

Vài Dòng Tiểu Sử”

Nhà văn Văn Quang tên thật là Nguyễn Quang Tuyến, sinh năm 1932 tại Thái Bình.

Năm 1953, ông gia nhập Quân Đội Quốc Gia, phục vụ trong nhiều đơn vị tác chiến tại miền Bắc trước hiệp định Geneve năm 1954.

Từ năm 1957, Văn Quang chuyển sang ngành Tâm lý chiến, với nhiệm vụ Trưởng phòng Báo chí Quân Đội thuộc Cục Tâm lý chiến, Tổng cục Chiến tranh Chính trị QLVNCH. Cũng là Trưởng ban biên tập của các tờ báo Quân Đội VNCH.

Tác phẩm đầu tay của Văn Quang là “Tiếng Tơ Lòng” được đăng trên nhật báo Thanh Dân, Hà Nội. Cuối năm 1953, tác phẩm thứ nhì ra đời, là tập truyện ngắn Thùy Dương Trang, do Lạc Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1957.

Từ đó cho đến 30 Tháng Tư 1975, Văn Quang cộng tác thường xuyên với rất nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí tại Sài Gòn.

Văn Quang có hơn 28 tác phẩm được xuất bản. Các tác phẩm của ông hầu hết là truyện dài, trong số có những tác phẩm, gây được nhiều tiếng vang như: “Nét Môi Cuồng Vọng”, “Nguyệt Áo Đỏ”, “Người yêu Của Lính” Ông đã có bốn tác phẩm được chuyển thành phim: “Ngàn Năm Mây Bay”, “Chân Trời Tím”, “Đời  Chưa Trang Điểm”, “Tiếng Hát Học Trò”.

Sau 75, Ông trải qua 13 năm rưỡi đi tù cải tạo. Khi ra tù, Văn Quang trở về Sài Gòn, sau đó từ chối ra đi theo diện HO, quyết định tiếp tục ở lại Việt Nam, Nhà văn duy nhất cộng tác với rất nhiều báo chí Việt ngữ tại hải ngoại.

Trong bài chia tay với độc giả, với tâm tình thật cảm động: “Hơn 60 năm cầm bút, tôi không có gì đáng tự hào, bởi chỉ như người Lính khi ra trận, không biết mình đã bắn được bao nhiêu viên đạn! Tất cả chỉ vì ba lời thề “TỔ QUỐC – DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM!”

Thương tiếc Nhà Văn thân thương vừa rời bỏ chúng ta, xin mời cùng thưởng thức một bài Tạp Ghi của Ông, như nén hương tưởng nhớ, để “nhắm mắt cho tôi tìm!” thấy… Ông!

CÁI MUỖNG

Văn Quang

I.

Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại

là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra mở vào.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ nhắn cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.

II.

Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có một ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” của trại đã quy định.

Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó hy vọng lòi ra một vài cái “tội”. Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Đi làm suốt một ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm “căng” thì vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người “chẳng có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.

III.

Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Đó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống su hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ su hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống su hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tôi đã gặp ở phòng trà tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống su hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.

Đây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “cậu huyện Nhụ nằm ở đó”.

Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:

– “Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.”

Tôi nằn nì:

– “Đấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển.Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi.”

Dực nhìn tôi nghi ngại:

– “Hay là mày giấu tiền trong đó?”

Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.

– “Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu tiền được?”

Dực nửa đùa nửa thật:

– “Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?”

– “Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.”

– “Vậy sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.”

Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:

– “Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày đưa vào túi xách. Đứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc men… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:

– “Thôi được, nếu đã là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.”

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “con có ở xa hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi rồi mai bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn! Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Đó chính là mùa xuân của tôi.

Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:

– “Bộ ông điên sao?”

Tôi điên thật, hy vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút và khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi được cái muỗng. Đôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:

– “Tôi biết ông mất cái gì rồi.”

IV.

Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sàigòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sàigòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ và sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật đó trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 nhân dịp cháu lập gia đình. Nhưng tôi ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang




TRANG TƯỞNG NIỆM: LS Cựu CỐ VẤN VTLV GIUSE NGUYỄN VĂN THÀNH

Đã thực hiện như ý Nhà Tang yêu cầu.

Đăng 2 trang, trên Tuần Báo Thằng Mõ số này. (Cáo Phó và Phân Ưu)

Riêng Hải sẽ thông báo tin buồn này, đến Quý Bạn Bè Thân Hữu của Luật Sư Nguyễn Thành tại San José.

Trong thập niên 80, 90, rất nhiều người quen biết Ông.

Đã đến giờ, Anh Em chúng mình đang nhận được Tin Buồn liên tiếp, hiếm lắm mới có Tin Vui!

Ai cũng có vé trong túi, chỉ chờ tầu tiến vào sân ga, bước lên…là đi!…luôn!

LÊ VĂN HẢI




Vài Nét Về Nhiếp Ảnh Gia Lê Đức Tế Vừa Bay Xa! – Lê Văn Hải

Vài Nét Về Nhiếp Ảnh Gia Lê Đức Tế Vừa Bay Xa! – Lê Văn Hải

Vài Nét Về Nhiếp Ảnh Gia Lê Đức Tế Vừa Bay Xa!

Nhiều người công nhận, Ông là một trong những Nhiếp Ảnh Gia, có những hình chụp đẹp nhất Việt Nam!

Khó kiếm có ai có thể so sánh. Ông đã đoạt được rất nhiều bằng khen, từ các hội ảnh quốc tế. Trước 75, Ông là công chức của Bộ Y Tế Xã Hội. Định cư tại Hoa kỳ, từ năm 1991. Rất thân thiết với VTLV. Có sinh hoạt gì, hay tặng hình để bán đấu giá gây quỹ. Hội trưởng Hội Nhiếp Ảnh Trúc Viên, San José.<!>
Cầm máy ảnh lão luyện, đầy kinh nghiệm, lâu đời trước 75.
Thành viên trong các hội ảnh nổi tiếng thế giới như: PSA, VNPS, RPS, FIAP…
Ông sinh năm 1938, tại Bình Khê, Bình Định. Qua đời ngày 18 tháng 2 năm 2022. Hưởng Thọ 83 Tuổi. Pháp danh Vạn Thường.
Sự ra đi của Ông, là một mất mát lớn của bộ môn nghệ thuật Nhiếp Ảnh, khá mới mẻ, so với những bộ môn nghệ thuật khác, của VN.
Vô Cùng Thương Tiếc!
LVHải
(Sau đây là một vài tác phẩm nhiếp ảnh của Ông)

THƠ ĐỀ ẢNH – MINH THÚY:

Cảm Ảnh Đề Thơ 

Dáng lụa khung chiều nắng nhẹ tơ 

Nương đồi bóng núi tạo nguồn thơ 

Hoàng hôn phủ xuống trâu vừa kéo 

Bóng mẹ gánh triêng gióng nẻo mờ 

Áo tím thu về nón lá che 

Ba cô duyên dáng bước chung kề 

Thướt tha tà áo bay trong gió 

Họ nói điều gì …chớp ảnh mê

Đẹp đóa hoa Sen nở nhuỵ vàng

 Xanh hồ lá bọc nét đài trang

 Cánh hồng tinh khiết màu thanh nhã

 Niềm tục vừa buông ngắm nhẹ nhàng

Nghệ sĩ ruổi rong khắp nẻo đường 

Rung đầy cảm giác bóng quê hương

Cao nguyên thiếu nữ ôm gùi lá 

Đôi hạc cánh chào thật dễ thương 

Nhiếp ảnh tầm thu nhặt hạ ghiền

 Hồn lơ lửng đắm cảnh thiên nhiên

Lạc tàn ánh mắt say thi ảnh 

Nghệ thuật ghi tràn phút tịnh yên

 
Tác phẩm đam mê tặng lại đời 

Người về các bụi được nhàn thơi 

Vườn xuân lối mộng lưu niềm thỏa

 Nhiếp Ảnh Gia Lê Đức Tế rời        

   

  Minh Thuý Thành Nội  -Tháng 3/2/2022

Kính cầu nguyện hương linh nhiếp ảnh gia Lê Đức Tế sớm được siêu sanh tịnh độ .