VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM NGÀY QLVNCH 19/06. CAO MỴ NHÂN: CHÙM THƠ Về QUÂN LỰC VNCH- TS MAI THANH TRUYẾT- DONRY NGUYỄN – LÊ MỸ HOÀN – NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – LÊ VĂN HẢI – HỒ DUY HẠ.

TS MAI THANH TRUYẾT: Hằng năm vào khoảng 19 Tháng 6, có nhiều tổ chức thuộc Quân Lực VNCH  ở hải ngoại tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực. Năm nay là năm thứ 43.

Ngày 19 Tháng 6, được coi là Ngày Quân Lực VNCH là vì sau đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Chính quyền và Quân Đội  VNCH bị suy yếu trầm trọng bởi tình trạng chỉnh lý, tranh giành quyền lực liên tục giữa các tướng lãnh trong QLVNCH . Tình trạng chính trị , quân sự cũng như kinh tế của Miền Nam lúc đó thật bi đát.

Lợi dụng tình thế bất ổn này, quân chính quy CS Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Miền Nam. Trước tình trạng khẩn trương, nguy ngập đó Chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu quyết định trao trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực VNCH.

Một buổi lễ ra mắt Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương được long trọng tổ chức tại Thủ Đô Saigon vào ngày 19 Tháng 6, 1965. Hai Ủy ban này đã  tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm chỉ huy QLVNCH trong việc bảo vệ đất nuớc, quê hương.

Từ đó ngày 19 Tháng 6 là một ngày lịch sử, có tên là “Ngày Quân Lực VNCH”. Sau đó hằng năm ngày Quân Lực 19 Tháng 6 được cử hành rất trọng thể với sự tham gia các đơn vị của các quân binh chủng trong QLVNCH, để biểu dương sức mạnh và ý chí đoàn kết, quật khởi của toàn quân, toàn dân  Miền Nam, quyềt chiến đấu chống CS xâm lược Miền Bắc.

Ngày nay, Quân Lực VNCH không còn nhưng người quân nhân VNCH vẫn không ngừng chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền  và sự vẹn toàn lãnh thổ. Tập thể Chiến Sĩ VNCH đã được hình thành để nâng nỗ lực đấu tranh lên tầm mức cao hơn, mạnh mẽ  hơn.

Người chiến sĩ VNCH và đồng bào ỏ hải ngoại hôm nay  không có vũ khí trong tay để anh dũng chiến đấu trên chiến trường như ba mươi ba năm trước đây, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất,  người chiếnsĩ VNCH và đồng bào hải ngoại vẫn tiếp tục đấu tranh đem lại nhiều  thắng lợi trên  Bình diện chính trị. Chắc chắn ngày tự do và hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước không còn bao xa.

Dưới bất cứ hoàn cảnh nào, nơi đâu,  tôn chỉ của người quân nhân vẫn là Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm.

Mai Thanh Truyết

==

CHÙM THƠ 19/06 – CAO MỴ NHÂN

==

CÙNG NHAU HÁT TIẾP KHÚC QUÂN HÀNH.     CAO MỴ NHÂN

Trời chưa sáng đã nghe hồi trống lệnh

Anh lạnh lùng thức dậy, chúng ta đi

Vào  chiến cuộc, bao người đang đến hẹn

Một lòng tin phơi phới: các anh về

*

Cờ vàng đã tung bay trên khắp ngả

Trăng hạ huyền lãng đãng báo tin Xuân

Nền Cộng Hoà thao thức đợi chinh nhân

Rồi từ đó, ta gọi hồn đất cũ

*

Những con đường đã xua mây viễn xứ

Để cho người gặp gỡ người xa xưa

Để cho anh tha thiết gọi hồn thơ

Cho em viết chan hòa lời non nướ

*

Rằng : lý tưởng vẫn bền lòng phục quốc

Dân tộc ơi,  ngàn vạn nét đan thanh

Ôi sung sướng trọn đời ta mong ước

Hãy cùng nhau hát tiếp Khúc quân hành

    Rancho Palos Verdes  9 – 6 – 2026

                 CAO MỴ NHÂN

==

TẶNG ANH.      CAO MỴ NHÂN

Chỉ cần nghe hơi hướng

Tuổi trẻ ở đôi tay

Mới biết mình sung sướng

Sức khỏe còn trên vai

*

Nên mời anh gánh vác

Càn khôn vũ trụ này

Đất trời không xa lắm

Tất cả đều quanh đây

*

Hôm qua là dĩ vãng

Ngày mai đó tương lai

Còn hôm nay hiện tại

Tinh thần phải hăng say

*

Muốn làm nên nghiệp lớn

Hãy đo sức nhân gian

Coi thử hạt bụi vướng

Nghĩ to như thái sơn

*

Khi ta còn tuổi trẻ

Phải tiết kiệm phút giây

Để không buồn tiếc rẻ

Trôi qua những tháng ngày …

Rancho Palos Verdes.   8 – 6 – 2026

         CAO MỴ NHÂN

==

Em GÁI HẬU PHƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN

Kích giặc xong rồi, về phố thị

Thong dong đi dạo chợ  Sài Gòn

Ngó cô bán bánh, chào thơm phức

Mời lính biên phòng thử bánh ngon

*

Anh không mắc cở mà đùa rỡn

Cô muốn tôi mua loại bánh nào

Chính chiến mịt mù, nay mới hưỡn

Hậu phương chỉ có bánh thôi sao

*

Cô bé nhìn anh cười, đỏ mặt

Em không biết nữa, anh qua bên

Chị kia chắc có nhiều quà khác

Anh lắc đầu , anh muốn cạnh em

*

Thế rồi, vài tháng sau là vợ

Anh vẫn biên phòng, thương nhớ thêm

Cô bé để rơi dòng lệ tủi

Năm sau, em quả phụ ưu phiền …

(Chuyện một cô bé hậu phương, sau một năm là quả phụ tử sĩ  VNCH )

Rancho Palos Verdes   28 – 5 – 2026

               CAO MỴ NHÂN 

==

VỀ THĂM ĐƯỜNG 9.     CAO MỴ NHÂN

Ôi nhớ quá tiếng xe tăng cày đất

Xẻ sa trường đôi vạt sóng thiên thu

Bạn anh đấy khép hờ đôi mắt sắt

Yên phận nằm nghe gió bão biên khu

*

Anh trở lại Đông Hà qua đường 9

Cây Nhân Sinh từng lớp mọc hoang đường

Đồi 31 còn cuộn dòng uất nghẹn

Bạn anh nhìn pháo lịm bặt bi thương

*

Nửa trăm năm vẫn tanh mùi máu lửa

Ngậm ngùi nhìn dấu vết tiểu đoàn xưa

Anh cứ đứng chôn chân trong nỗi nhớ

Trận chiến nào em khóc sau giông mưa

*

Thôi ta về, chuyến tầu đêm hun hút

Như gọi hồn tử sĩ vọng trời xanh

Không còn ánh hỏa châu soi sáng khắp

Trở về thăm mặt trận vỡ trên thành …

Hawthorne  26 – 5 – 2026

        CAO MỴ NHÂN

==

NỬA TRĂM NĂM GẶP LẠI.     CAO MỴ NHÂN

Nửa trăm năm đã vụt trôi qua

Trông đợi người đi lệ thấm nhòa

Chạnh nhớ ngày xưa khi kích giặc

 Bên nhau nào biết sẽ chia xa

Đồng hoang cỏ cháy nối thương đau

Người với ta chung một nỗi sầu

Cơm xấy sau mưa tràn bếp ngập

Bên trời tên lửa gọi cung dâu 

*

Hẹn hò chớp mắt như tan biến

Kinh rạch đò ngoan vẫn thả chèo

Sóng vỗ ngoài xa nơi đất biển

Hành quân ổn định xóm thôn nghèo

*

Đông Hà, cửa Việt  sương giăng tối

Sao trách ai quên chẳng ngó ngàng

Đành đợi hoả  châu soi sáng lối

Người ôm hoài bão chẳng than van

*

Giờ đây nhịp đập tim đau nhói

Ta hỏi người khi mặt trận tàn

Hoài niệm tình vương theo đạn khói

Có còn chăng, dấu tích tan hoang

*

Người ơi bi lụy càng ngây ngất

Trong nỗi ưu tư liệm mảnh hồn

Thương nhớ dặm về buồn héo hắt

Bên nhau tâm sự não nề tuôn …

         Hawthorne.   9 – 5 – 2026

( Họa Thơ. Nhật Hồng. Nguyễn Thanh Vân  )

                   CAO MỴ NHÂN 

==

DƯỚI CỜ VÀNG.       CAO MỴ NHÂN

Sáng ra chào lá cờ vàng

Tung bay trong nắng huy hoàng mùa xuân

Thấy như gặp lại cố nhân

“Giày saul nón sắt ” tháng năm thủa nào

*

Em nhìn lên tít trời cao

Mây pha sắc áo bay vào sử xanh

Ngàn đời yêu dấu riêng anh

Sa trường sôi động, tan thành mộng mơ

*

Quân đi rầm rập  dưới cờ

Sáng tươi sông núi cùng thơ lên đường

Trăm phen hoa nở khói sương

Đạp lên nỗi chết biên phương hận thù

*

Bây giờ nói chuyện biên khu

Bâng khuâng âm hưởng thiên thu chiến hào

Đạn bay xé mảnh nhung bào

Trái tim thúc giục tuyến đầu ghi công …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGANG TRỜI TIẾC THƯƠNG.        CAO MỴ NHÂN

Em về giữa buổi bình minh

Nắng  vừa soi tỏ bóng hình người xưa

Cả không gian bỗng tiễn đưa

Hồn chinh phu trải gió mưa nơi này

*

Chiến trường cạn chén riêng tây

Tình yêu nước đã khô bay mộ chàng 

Trao anh nguyên sắc cờ vàng

Này đây, tất cả lỡ làng quê ta

*

Em về câm nín xót xa

Sau lưng lạnh toát hồn ma tượng đài

Bó nhang chợt tắt u hoài

Nắng hong nỗi nhớ ngang trời Tiếc Thương

*

Thôi anh, tóc rối tơ vương

Vòng tay buông lỏng nghe hương khói tàn

Một mình hận tủi vô vàn

Buồn ơi mộng mị quan san bái từ …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGÀY QUÂN LỰC 19/06

Mười Chín Tháng Sáu lại về trong gió,

Tôi nghe vang tiếng quân hành từ dĩ vãng xa xôi.

Những người lính CỘNG HÒA khoác chiến y giữ nước,

Đã từng qua lửa đạn khắp núi đồi.

.

Từ Cổ Thành, An Lộc, Kontum,

Đến những vùng sông nước mịt mùng khói súng,

Máu anh thấm vào lòng đất mẹ

Nở thành những đóa hoa bất khuất của quê nhà.

.

Anh ngẩng cao đầu giữa bão táp phong ba

Gìn giữ tự do bằng danh dự và sinh mệnh.

Dẫu chiến tranh đã lùi vào lịch sử

Tên tuổi người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA gìn giữ quê hương

.

Vẫn sáng mãi trong lòng những người yêu nước,

Như ngọn lửa không bao giờ tắt của sử vàng dân tộc.

19/06 toàn dân đều khóc

Tưởng nhớ anh – người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA!

Phương Hoa – 19 Tháng 6, 2026 -Ngày QLVNCH

==

LỜI MẶC NIỆM -Donry Nguyên

*

Hỡi oai linh núi sông hùng vĩ,

Đây cơ đồ xương máu tiền nhân.

Đây sự nghiệp, giang sơn gấm vóc,

Đã lưu truyền suốt bốn ngàn năm.

*

Đàn con Việt cúi đầu mặc niệm,

Tưởng nhớ về công khó cha ông.

Bao lớp người hy sinh nằm xuống,

Đem máu mình tô thắm non sông.

*

Hãy hát lên bài ca dựng nước,

Của giống nòi Đại Việt hiên ngang.

Tay vung gươm, tay cầm ngọn bút,

Giữ cõi bờ, chống bọn xâm lăng.

*

Xin nguyện cầu hồn thiêng sông núi,

Thắp sáng lòng con cháu Rồng Tiên.

Cùng hợp sức chung tay xây lại,

Ngọn cờ vàng tươi sáng Việt Nam!

-Donry Nguyễn.

==

BÀI TÌNH CA CỦA GÃ LÍNH GIÀ

*

Có người em hỏi, anh là lính,

Khi đất nước cần, dám đứng lên?

Giống thời trai trẻ, ta nào ngán,

Sẵn sàng giáp mặt với đao binh.

*

Ta gã lính già luôn mong ước,

Được đứng chào nghiêm dưới quốc kỳ.

Thẩm quyền nếu bảo, mai ra trận,

Ta sẽ chấp hành, cất bước đi.

*

Hề chi, ta lính còn quân số,

(Đâu có giấy tờ giải ngũ đâu?)

Tuy đã lâu rồi, lương chẳng nhận,

Bộ áo trây-di bạc thếch màu.

*

Ta chàng lính pháo chưa từng bại

(Kịp đánh đâu mà thắng với thua?)

Chẳng qua thế nước, cơn chìm nổi,

Tạm bước lưu vong, đợi buổi về.

*

Tuổi cao dù yếu, còn dư sức …

Ôm đàn hát lại bản tình ca.

Cho em biết được lòng ta vẫn,

Sau trước yêu em rất thật thà.

*

Em chớ trách hờn sao đi mãi

Chắc là quên mất nợ quê hương?

Thưa em, từ độ mùa xuân ấy …

Nặng trĩu trong ta, một chữ buồn!

*

Đợi giờ sông núi reo mùa mới,

Theo bước hùng binh lại trở về.

Xin hẹn cùng em mùa trẩy hội,

Hai đứa mình đi dưới bóng cờ.

-Donry Nguyễn.

==

THƠ LÊ MỸ HOÀN

==

THU ĐÔI MƯƠI – Lê Mỹ Hoàn

Những chiếc lá cuộn rơi bước chân ngày cũ

Trong vườn tao đàn thuở ấy tuổi đôi mươi

Áo thướt tha như cuộn áng mây trời

Khi những mùa thu về lá rơi ngập lối

Tao đàn lắng tiếng trở mình thức dậy

Còn mãi xa như gợn sóng thời gian

Khi những bài thơ ngàn xưa vang vọng

Vời vợi âm xa lũ lượt trở về

Trong cặp sách thư tình và bài học

Lẫn lộn trang vở những hồi hộp hôm qua

Còn dấu âm thầm tiếng ai hò hẹn

Màu áo anh còn đẫm gió quan hà

Có ánh mắt đêm dài miền đất đỏ

Anh mang về cát bụi chiến chinh xa

Anh mang về cùng với cả giấc mơ

Vườn hoa thơm ngát thanh bình muôn thuở

Cuộc tình năm xưa mùa lá đang rơi

Cùng đếm bước trên vỉa hè Lê Lợi

Những bước thì thầm còn lên tiếng gọi

Ta vẫn hẹn bao năm chờ đợi

Áo em thu vàng cùng với tuổi đôi mươi.

Lê Mỹ Hoàn – 6/2026

==

CHÂN TRẦN TRÊN ĐỒI CÁT

Ngày về thăm quê

Trùng dương bát ngát

Chân trần chạy trên đồi cát

Mượt mà như dải lụa quấn quanh

Chân trần chạy thẳng lên đồi

Tưởng như đến bên trời trước mắt

Gió cát quật vào mặt vào mắt

Mặt trời nghiêng và bóng đổ

Đồi cát chập chùng đôi cánh trắng

Gió thổi tung màn lụa phủ thân ta

Lòng cuộn theo cơn lốc

Bụi mờ vết chân qua

Quá khứ xa xôi

khung trời ẩn hiện

Đại bác nổ rền xé rách đêm thâu

Ánh hỏa châu soi sáng cát vô hồn

Lá cây gầy

lấp loáng giọt sương tuôn

Lòng mẹ mái tranh

nước mắt ru buồn

Bóng anh người lính chiến

Áo chinh nhân xuống biển lên ngàn

Lặng lẽ súng trên tay

Băng qua vùng lửa cháy

Đã một lần nơi đây

Em, anh và quê hương tan nát

Ôi chinh chiến điêu tàn

Tình yêu và biển mặn

Quê hương ước mơ ơi

Hôm nào đã mất

Một non sông và mối tình anh.

   Lê Mỹ Hoàn – 5/2020

==

BIỂN ĐÊM NHỚ SÀIGON

Biển đang dâng chén lưng sầu      

Núi cao mây lấp ngang đầu nỗi đau

Non xanh biển mộng là đâu

Sóng đâu phủ sóng tình sâu đáy lòng

*

Ra đi về hướng đại dương

Có loài rong biển vẫn thương đường về

Đêm nghe tiếng hát trầm mê

Biển còn đắm mộng lời thề vấn vương

*

Ta đi thấu suốt đoạn đường

Mà sao lòng vẫn nhớ thương Sàigon

Sàigon thuở ấy mưa luôn

Hàng me chua ngọt nắng luồn tóc em

 *               

Sóng dồn khát vọng bao đêm

Ai bơi qua mộng hão huyền bên kia

Để rồi năm tháng vô đề

Gót chân phiêu lãng hỏi về nơi đâu

*

Ngàn sao thắp lệ em sầu

Long lanh những ngọn đèn màu phố xưa

Tiếng chân nhịp bước mong chờ

Ngựa thồ cuối ngõ ngoại ô đêm buồn

*

Trưa hè phượng đỏ môi son

Màu son chưa nhạt mái trường năm xưa

Thế rồi sóng bấp bênh bờ

Nấm mồ hoa phượng tình thơ ngậm ngùi

*

Hồ Rùa phủ bóng lá rơi

Dọc đường Nguyễn Huệ từng đôi dập dìu

Ta về nắng gió Pleiku

Áo em gió lộng rừng thu quân hành   

*

Bến Thành quen mãi bước chân

Xuyên qua cửa Bắc lại gần cửa Tây

Mình tao ngộ ở nơi đây

Âm thanh biển bỗng gọi đầy nỗi vui             

*

Ơi! Dòng nước chảy chia hai

Nhà Bè bến nước, Đồng Nai ai về

Tiếng hò sóng nước đê mê

Thôi em, đã lỡ vụng về giấc mơ

*

Huy tà bóng lặng chơ vơ

Từ nghe cõi vọng mơ hồ về đâu

Địa đàng tỉnh giấc canh thâu

Cùng ta chuốc chén mộng sầu ly tan.

          Lê Mỹ Hoàn – 5/2019

==

==

Sau Tháng Tư Đen, những người chiến sĩ VNCH tị nạn CS tại khắp nơi trên thế giới đã sống những ngày tháng còn lại trong nuối tiếc, ngậm ngùi, và ân hận vì đã không làm tròn sứ mạng bảo vệ đất nước.

Món nợ non sông chưa trả đã dầy vò rất nhiều người, nhất là những chiến sĩ có tinh thần trách nhiệm cao đã không ở lại tử thủ khi Sài Gòn đổi chủ. Họ tìm đường sống, tiếp tục sống, tiếp tục theo đuổi và duy trì nhiệm vụ chống chế độ CS đã và đang làm băng hoại đất nước, dân tộc VN. Cuộc tranh đấu tiếp tục kéo dài, giấc mơ hồi hương vẫn xa vời vợi, mục đích vẫn chưa nằm trong tầm tay với. Tâm hồn người chiến sĩ mục rữa vì quá khứ ám ảnh, vì chờ đợi mỏi mòn. Trách nhiệm của người chiến sĩ vẫn đeo đẳng không nguôi mà tuổi già và bệnh tật đã dẫn đường cho thần chết tìm đến. Từng người một giã từ đồng đội, lúc lâm chung không muốn phủ lá Cờ Vàng vì nghĩ rằng mình đã không xứng đáng được hưởng danh dự này.

Cựu Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (1932-2005) đã nói : “Tôi làm Tướng không bảo vệ được nước. Khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước nên khi tôi chết già, yêu cầu đừng phủ quốc kỳ lên quan tài tôi vì tôi tự biết mình không xứng đáng được hưởng lễ nghi nầy.

Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến tiễn đưa tôi lần chót.”

Cựu Trung tá Phi đoàn trưởng phi đoàn 239 Phạm Vương Thục (1942-2011) đã để di chúc :

“Không phủ cờ cho Anh vì Anh không đáng được phủ cờ. nếu BCH (Ban Chấp Hành) bắt buộc phải làm thì xin làm theo nghi thức thật bình thường …”

Tôi đọc những lời di chúc này mà ngẩn ngơ. Sao lại thế? Một lần gia nhập quân đội là trọn đời thuộc về quân đội. Dù quân đội đã tan hàng, buông súng nhưng làm sao xóa bỏ quá khứ, cái quá khứ đã làm nên hiện tại, con người ngày nay. Qua lá Cờ Vàng, người chiến sĩ vẫn thấy quê hương, vẫn kính cẩn chào trong những buổi lễ, vẫn còn thấy lòng rung động, vẫn còn thấy nỗi nhục nhằn, chua xót. Bao nhiêu năm sống đời lưu lạc, vẫn ấp ủ quê hương trong lòng, sao đến phút cuối lại tự mình cắt đứt?

Phủ Lá Cờ Vàng

Mai anh chết cờ vàng xin dâng phủ,

Như một lời được nhắn nhủ đến ai.

Dù chiến chinh đã tàn lụi lâu dài,

Dù gươm súng, chiến bào không còn nữa,

Dù chiến bại làm tâm hồn mục rữa,

Dù cuối đời khí phách tựa khói tan,

Cờ vàng kia, anh xứng đáng được quàng,

Để ghi nhận tháng ngày mang nợ nước,

Để cám ơn hy sinh không lường được,

Những hao mòn thân thể, nhược tâm tư,

Những máu xương đã đổ tại chiến khu…

Đâu phải chết mới đền bù nợ nước.

Xin vui nhận lá Cờ Vàng thuở trước,

Là hồn thiêng tổ quốc rước anh về.

Những người con vẫn anh dũng, uy nghi,

Vẫn kiên cường ngay cả khi chiến bại.

Trên quan tài lá Cờ ôm ưu ái,

Hãy trở về, mãi mãi với quê hương!

Nguyễn P. Thúy, 02/07/2012

==

Thơ rất thật viết từ hồn thổn thức,

Từ lòng đau bởi vận nước suy vong.

Thơ căm hờn lũ Cộng sản hại dân,

Thơ sỉ vả kẻ đảo dâng, đất bán.

Thơ cuồng nộ trước độc quyền ngu dốt,

Thơ ngậm ngùi bao uất ức, nổi trôi.

Thơ xót xa quê đói khổ, tả tơi,

Thơ khóc thuyền nhân chết nơi biển rộng.

Thơ uất hận những cùm gông địa ngục,

Thơ đớn đau trước vùi dập, tang thương.

Thơ vạch trần bao dối trá, phỉnh lừa,

Thơ nhạo báng cha, tiên, sư, giả mạo (*).

Thơ nhắc nhở những chiến công đã tạo,

Thơ hô hào vì Quốc đạo, tổ tiên.

Thơ thiết tha tình dân tộc ba miền,

Thơ thúc dục người hiên ngang đứng dậy.

Thơ: vũ khí, tràn đầy bao nung nấu,

Thơ bừng bừng, rực dấu lửa kết tinh.

Lửa Thiện Chân thắp sáng tỏa niềm tin,

Lửa bốc cao thành đuốc thiêng dân tộc.

Đốt cho hết những bạo tàn lũ Cộng,

Cháy ra tro quỷ đỏ đội lốt người.

Để mầm non còn có chỗ đâm chồi,

Vươn lớn mạnh đắp bồi cho đất mẹ.

Thơ reo vui khi Việt Nam trọn vẹn,

Có nhân quyền, đạo đức với tình người.

Một mai đây khi đất nước yên vui,

Thơ thắm thiết chuyện ngọt bùi, tình tự.

Thơ rất thật viết từ hồn hạnh phúc,

Từ lòng vui bởi vận nước phục hưng.

Nguyễn P. Thúy, 3/10/2008

(*) Cộnng Sản bắt dân thờ Hồ Chí Minh như Tiên Thánh và lập ra sư quốc doanh, cha

(linh mục) quốc doanh để chi phối tôn giáo.

**

NHỚ NGƯỜI CHIẾN SĨ VÔ DANH – NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

Bao năm qua tôi vẫn nhớ đến anh,

Những người chiến sĩ vô danh, rất trẻ.

Hành trang gói theo: tình thương vỏn vẹn,

Vì non sông nguyện dâng hiến cuộc đời.

Vai ba lô trĩu nặng vội lên đường,

Dù biết trước hiểm nguy đương chờ đợi.

Nhịp quân tiến mù tung trong gió bụi,

Bao hiểm nguy vẫn thách thức tử thần.

Dẫu mai này có vị quốc vong thân,

Vẫn kiêu dũng tròn phận dân nước Việt.

Các chiến sĩ, những người trai tuấn kiệt,

Một ngày nào trả hết nghiệp binh đao.

Người về quê, máu đẫm ướt chiến bào,

Kẻ đất mẹ chôn sâu đời vĩnh viễn.

Thương binh tủi, ngậm ngùi sau cuộc chiến,

Đùm bọc nhau trong túng thiếu, lầm than.

Tháng Tư Đen, sụp đổ cả miền Nam,

Thân bại tướng, không hàng, đành tuẫn tiết.

Tù cải tạo cam chịu bao khắc nghiệt,

Đói triền miên và tật bệnh giết dần.

Nơi đất người, xây dựng lại từ đầu,

Đời no ấm vẫn thấy sầu ghê gớm.

Nỗi nhục nhã, không lúc nào nguôi hận,

Chí kiên cường theo ngày tháng lê thê.

Bao nhiêu năm, vẫn ấp ủ hẹn thề,

Sài Gòn hỡi, ngày về – Xuân Như Ý (*).

Chiến tranh cướp bao đời trai hao hủy,

Nghĩa trang buồn nơi an nghỉ nghìn thu.

Mộ bia anh, không nhang khói, trùng tu,

Dù khi thác vẫn là tù cấm cố.

Vì thương lính, rất hận loài Cộng đỏ,

Góp sức mình tiêu diệt lũ ác nhân.

Tiếp tục con đường anh đã âm thầm,

Quyết chiến đấu đến tận cùng sinh lực.

Ngày nào đó thế thời xoay mệnh nước,

Khi quê hương mạch sống được khơi mầm.

Sử Việt Nam xin trân trọng ghi ân,

Tôn vinh những anh hùng vô danh ấy…

Nguyễn P. Thúy

December 09, 2009

(*) Bài Xuân Như Ý trong thi tập Cõi Lòng của tác giả Vinh Nhất Tâm

==

THƠ HỒ DUY HẠ & THƠ HỌA CỦA BỬU TRUYỀN

=

NGƯỜI LÍNH GIÀ

Người lính già co ro ôn dĩ vãng
Của một thời ngang dọc tuổi thanh xuân
Ngoài biên cương đạn xé tung bảo bùng
Xem nhẹ tựa lông hồng không sợ hải

.

Cuộc đời lính dọc ngang ngoài biên ải
Vì quê hương tổ quốc nên hy sinh
Để lại người thân quên cả chính mình
Lòng sôi sục nuôi căm hờn giữ nước

.

Chinh chiến tàn có ai mà hiểu được
Thèm chút hương yêu ấm áp đậm đà
Anh em mình đồng đội đã lìa xa
Nơi cải tạo trong ngục tù hẻo lánh

.

Rời quê hương đi tìm đường lẫn tránh
Ở xứ người ôn nỗi nhớ không nguôi
Bao nhiêu năm trong dạ vẫn bùi ngùi
Thân lữ khách luôn nhớ về quê mẹ

.

Cảm xúc này con xin dâng chia sẻ
Người lính già ôm ấp nỗi cô liêu
Ba chúng con tuổi đã xế về chiều
Cầu nguyện CHÚA ban bình an phước hạnh

.

“Cảm xúc về thăm khi thấy ba nằm co ro”
Hồ Duy Hạ

=

NGƯỜI LÍNH GIÀ TÂM SỰ – HỒ DUY HẠ

Ngày Lễ Cha chúng con về sum họp
Đọc bài thơ con dành tặng riêng Ba
Cháu và con quy tụ chung một nhà
Ba xúc động nói lên lời cảm tưởng

.

Chuyện có thật mấy mươi năm về trước
Chị các con gang dạ thật vô biên
Dáng nữ nhi hiếu thảo và ngoan hiền
Ba hãnh diện đứa con đầu can đảm

.

Đời của Ba lớn lên trong sầu thảm
Chính mắt Ba nhìn thấy cảnh đau thương
Lòng của Ba ray rức từng đêm trường
Mong để lớn xung phong đi chiến đấu

.

Trai thanh niên phải hiên ngang hùng hậu
Quyết căm thù ý chí phải xông lên
Yêu quê hương Tổ Quốc phải đáp đền
Thật mới đáng nam nhi trai thời loạn

.

Người cộng hòa hoan nghênh luôn tiếp đón
Người thanh niên nuôi ý chí xông pha
Từ giã Mẹ Cha từ bỏ quê nhà
Nơi chiến trận quên mình in thù hận …

.

Người con gái da vàng yêu Tổ Quốc
Ngồi bên Ba nghe kể chuyện xa xưa
Thuở thiếu niên Ba núp trên ngọn dừa
Chứng kiến cảnh đau thương ôi! Khủng khếp

.

Nỗi khổ con người của từ muôn kiếp
Nung căm thù Ba quyết chí đứng lên
Gánh vác giang sơn nợ sẽ đáp đền
Ba chiến đấu xung phong khi vừa lớn

.

Người lính già vai trò nay đã trọn
Kể chuyện xưa ôn lại thuở ấu thơ
Bao nhiêu năm hình ảnh vẫn không mờ
Con hãnh diện người Ba hiền khả kính ..

.

Tặng đến Ba nhân Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .
Ngày 19 Tháng 6 Năm 2008
Hồ Duy Hạ

*

NGƯỜI LÍNH GIÀ TỰ SỰ – BÀI HỌA CỦA BỬU TRUYỀN

Sinh Nhật Cha, cả nhà vui sum họp
Bảy mươi bảy năm dãi dầu phong ba
Cha kiên tâm xây dựng nên nghiệp nhà
Bên cạnh mẹ chan hòa chung lý tưởng

.

Thời niên thiếu luôn hướng về phía trước
Ươm tương lai xây mộng ước vô biên
Luyện kinh văn, học tập đức thành hiền
Nung chí cả anh hùng gương can đảm

.

Dời núi lấp sông vượt ngàn sầu thảm
Hồ thỉ tang bồng nồng ấm tình thương
Tổ quốc lâm nguy đầu quân chiến trường
Xông pha giết giặc kiên cường tranh đấu

.

Ngày nghỉ phép, gặp người em phúc hậu
Tuổi đôi mươi vầng trăng sáng vừa lên
Đụng tay em, em hờn dỗi mắc đền
Lời xin lỗi, nhưng tim rung tán loạn

.

Kể từ đó, có phép về, em đón
Cầu Bằng Lăng tình thắm nắng vàng pha
Hoa lồng hương chớm kết trước cửa nhà
Tiếng pháo cưới, đám trai làng vỡ hận

.

Chàng tiếp tục lên đường vì tổ quốc
Nàng ôm con chăm sóc mái nhà xưa
Tình yêu nhau ngọt mát như nước dừa
Dù chiến cuộc đến hồi quá khủng khiếp

.

Ngày gẫy súng, binh nghiệp tròn nửa kiếp
Không hận thù, từ chỗ ngã đứng lên
Nợ non sông vẫn canh cánh đáp đền
Nợ tình vợ nuôi cháu con khôn lớn

.

Nợ chiến hữu trả vay còn chưa trọn
Xin gửi trao tất cả các con thơ
Trả hộ Cha, đừng xao nhãng phai mờ
Trong muôn một, nhất là Mẹ yêu kính!

Bửu Truyền

==

Người Lính Năm Xưa – THƠ DƯƠNG VIỆT CHỈNH

==

Người Lính Năm Xưa

(19-6, vinh danh các chiến sĩ QLVNCH)

Người lính năm xưa rất hào hùng

Đêm ngày chiến đấu giữ núi sông

Tinh thần bất khuất và cao cả

Vì nước vì dân sống hết lòng

.

Người lính hiên ngang ấy đã từng

Có tình yêu đẹp tựa như trăng                                              

Hẹn ngày đất nước tàn chinh chiến

Đám cưới đầu xuân nắng thanh bình  

.   

Người lính phong sương có gia đình

Hậu phương tiền tuyến vẫn nhớ mong                                 

Hứa ngày về phép vui hạnh phúc

Bữa cơm đoàn tụ thắm nghĩa tình

.

Người lính ước mơ riêng không thành                                                   

Bởi còn khói lửa với đao binh

Những lời hứa hẹn đành chôn chặt        

Giấu nỗi xót xa tận đáy lòng

.

Người lính đắng cay mất nước nhà

Vào tù vì chính nghĩa quốc gia,

Vùi chôn thân xác nơi rừng núi,

Uất hận ly hương mãi không nhòa

.

Người lính lưu vong nay đã già

Đường về quê mẹ cứ dần xa

“Lực bất tòng tâm” đành nuốt lệ

Nhận đất tha phương gọi là nhà

.                                

Người lính như gương sáng rạng ngời

Người hùng một thuở đất nước tôi

Người mang hoài bão nuôi chí lớn

Tôi hảnh diện người chiến sĩ ơi

Dương Việt-Chỉnh, 15-6-2026

==

TIN TỨC VỀ NGÀY QLVNCH 19 THÁNG 6 – KQ LÊ VĂN HẢI

=

==

=

-Ngày Quân Lực 19-6 là dịp để chúng ta tưởng nhớ và tri ân những người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả mạng sống của mình cho lý tưởng Tự Do, Dân Chủ và sự sống còn của dân tộc.

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi miền Nam đứng trước hiểm họa mất nước, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm đứng lên nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ quê hương. Họ chiến đấu không vì quyền lợi riêng tư, mà vì sự bình an của đồng bào, vì tương lai của các thế hệ mai sau, với tinh thần cao đẹp: “Vì Nước quên mình, vì Dân phục vụ.”

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hy sinh của trên 300.000 chiến sĩ đã nằm xuống và hàng trăm ngàn thương phế binh còn mang thương tích suốt đời, vẫn là những trang sử hào hùng không thể nào quên. Dù thời gian trôi qua bao lâu đi nữa, lòng tri ân đối với những người đã vị quốc vong thân, vẫn còn nguyên vẹn trong lòng những người Việt yêu chuộng tự do.

Ngày hôm nay, chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng tử sĩ, những người đã chọn hy sinh đời mình để bảo vệ chính nghĩa. Chúng ta cũng không quên những chiến hữu còn sống, những thương phế binh và gia đình quân nhân đã âm thầm chịu đựng biết bao mất mát trong suốt nhiều thập niên qua.

Ngày Quân Lực không chỉ là ngày tưởng niệm quá khứ, mà còn là ngày nhắc nhở chúng ta về những giá trị cao quý của trách nhiệm, danh dự, lòng yêu nước và tinh thần phục vụ tha nhân. Những giá trị cao đẹp ấy vẫn tiếp tục soi sáng con đường của người Việt hôm nay và mai sau.

Nguyện cầu hương linh các vị tướng lãnh, các chiến sĩ vị quốc vong thân và toàn thể quân dân đã hy sinh cho tự do được an nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Xin cho thế hệ hôm nay luôn biết trân quý tự do, đoàn kết xây dựng tương lai và gìn giữ những lý tưởng cao đẹp mà các anh đã để lại.

Tinh thần Người Lính Việt Nam Cộng Hòa – Vì Dân mà chiến đấu, Vì Nước mà hy sinh – mãi mãi bất diệt!

Thứ Sáu, Đúng Ngày 19/6, Tại Vườn Truyền Thống Việt

Chút Quà Từ Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose:

=

-Đặc Biệt Nhân Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Và Kỷ Niệm 2 Năm Thành Lập Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose, Ủy Ban TĐXDTĐ, xin Kính tặng Quý Cựu Quân Nhân, một món quà nhỏ và một phong bao lì xì, như một lời cảm tạ và lời chúc sức khỏe!

=

=

=

-Có những người lính chiến thắng được dựng tượng đài bằng đá. Có những người lính thất trận, được dựng tượng đài trong lòng người.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa thuộc về lớp người thứ hai!

Họ rời mái trường, gác lại tuổi thanh xuân, khoác lên mình màu áo trận để gìn giữ quê hương, trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Hai mươi năm dài, họ đi qua những cánh rừng, những dòng sông, những đồi cao đầy khói lửa, mang trên vai trách nhiệm bảo vệ sự bình yên cho hàng triệu người dân miền Nam.

Rồi chiến tranh khốc liệt kết thúc.

Không chỉ mất một cuộc chiến, họ còn mất quê hương, mất tương lai, mất cả quyền được nhắc đến bằng sự công bằng của lịch sử. Người sống bước vào lao tù, người chết nằm lại trong những nghĩa trang hoang phế. Những thương binh tàn tật sống âm thầm bên lề xã hội. Nhiều gia đình mang theo nỗi đau ấy qua nhiều thế hệ.

Có lẽ đó là một trong những thân phận bi thương nhất của người lính trong lịch sử hiện đại: chiến đấu hết lòng cho lý tưởng mình tin tưởng, rồi phải sống những năm tháng còn lại trong lãng quên, lưu đày và mất mát.

Nhưng thời gian có thể làm phai mờ nhiều thứ, không thể xóa được lòng biết ơn.

Bởi sau tất cả, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó trong ký ức của đồng đội, trong những lá Cờ Vàng nơi đất khách, trong những tượng đài tưởng niệm được dựng lên khắp thế giới tự do, và trong trái tim của những người vẫn còn nhớ rằng, đã có một thế hệ thanh niên từng hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả cuộc đời mình cho quê hương.

Xin thắp một nén hương lòng cho những người lính năm xưa.

Cho những người đã nằm xuống. Cho những người còn sống trong ký ức. Và cho những người, dù bị lịch sử bỏ quên một thời, vẫn không bao giờ bị lãng quên trong lòng dân tộc.

Tinh thần Huynh Đệ Chi Binh vẫn còn đó. Lý tưởng Tự Do vẫn còn đó. Cuộc đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ, nhân quyền và không còn độc tài cộng sản vẫn còn đó.

Chúng tôi quyết tâm tiếp tục con đường mà những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chọn: Phụng sự Tổ quốc. Bảo vệ Dân tộc. Tranh đấu cho Tự do.

375bbcf9-7bba-4d29-bf24-3ed71a5efba9nknknknn;nk;.png

Cho đến ngày Việt Nam thật sự có Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do.

Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Tổ Quốc Việt Nam Muôn Năm!

LÊ VĂN HẢI




Đọc Truyện THỦY NHƯ: Nguyễn Văn Thanh – Người Chắp Cánh Cho Nhiều Bài Thánh Nhạc Việt Nam.




THỦY NHƯ – Tùy Bút ÔNG BẢY LẤM.

++

ÔNG BẢY LẤM -Thủy Như

Hôm đó, sân nhà cậu tôi đầy nắng. Cái nắng Quảng nam không phải là “một chiều nắng hiền hoà” như Cung Tiến tả, mà là nắng trắng lóa mắt, khô rang, rớt xuống sân gạch nghe như có tiếng giòn tan. Từ ngoài ngõ bước vô đã nghe mùi khói củi cay cay, mùi nén khử quyện với mùi mỳ tươi mới xắt thơm lừng. Rồi mùi nước mắm gừng, mùi thịt gà luộc, mùi xôi cẩm, xôi vang, mùi lá chuối gói bánh ú. Tất cả quyện vào nhau thành thứ hương vị rất riêng của ngày giỗ ở nhà cậu tôi.

Hôm ấy nhà cậu đông người lắm. Người lớn ngồi ở gian giữa, đàn ông uống trà nói chuyện mùa màng, đàn bà lui cui dưới bếp, còn đám con nít tụi tôi được dọn cho một bàn riêng bên hiên. Cái bàn thấp, phủ tấm ni-lông cũ in hình hoa đỏ đã phai màu. Mỗi đứa một cái chén, một đôi đũa, ngồi chen vai nhau và đứa nào cũng hí hửng. Bữa giỗ là dịp hiếm hoi để được ăn ngon.

Sau năm 75, cái gì cũng thiếu, bữa cơm nhà nào cũng đầy khoai lang khô cõng một vài hột cơm. Cơm trắng là thứ xa xỉ. Thịt cá thì chỉ có trong những bữa giỗ chạp như ngày hôm đó.  Nhưng mẹ tôi và các dì rất khéo.  Chỉ có một ít thịt mỡ heo và một con gà cộng với rau củ quả trong vườn, mẹ, mợ và các dì làm được những bữa giỗ thật thịnh soạn cho mấy chục người ăn.

Xin kể thêm về vài món đặc biệt trong bữa cỗ nhà ngoại.  Trước hết là món chuối chần, một món mà đến bây giờ tôi vẫn thấy nước miếng tứa ra đầy miệng mỗi khi nhớ lại. Đó là những trái chuối hột non được cứa thành những lát thật mỏng nhưng vẫn còn dính nhau bên hông.  Sau đó luộc lên, ép bỏ nước và nắn lại thành hình con tôm.  Rồi bỏ những con tôm chuối ấy rim với tép mỡ.  Ăn vào thì béo béo, bùi bùi, ngọt ngọt, mặn mặn, cay cay. Cứ như là một món hải sản hạng sang vậy. 

Chuối chần

Một món nữa đã làm tôi ngạc nhiên vì tên gọi. Đó là những tô nước rang. Làm sao mà rang được nước chứ? Ấy vậy mà các dì tôi nấu được.  Tôi không biết nấu như thế nào nhưng chỉ nhớ lần  đầu tiên ăn món nước rang ấy. Tô nước rang có vài lát thịt heo nhỏ hình vuông kho màu nước mắm nổi chung với những gốc hành hương nửa xanh nửa trắng. Bỏ vào tô nước rang nóng hổi   một nhúm cải cay xắt ghém với chuối chát kèm theo rau húng. Húp một cái và nhai với rau ghém cải xanh và chuối chát non. Mùi thơm chạm vào mọi khứu giác của tôi. Chao ơi! Sao mà nó ngon thiệt là ngon. Tôi chưa bao giờ nghe người miền nào có món ăn lạ lùng như món nước rang quê tôi. Chẳng biết vì ngày xưa đói nên ăn món gì cũng thấy ngon nhưng đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hương vị của những món ăn dân dã ấy.

Nước rang

Tôi và mấy anh chị em họ chuẩn bị ngồi vào bàn tiệc dành cho đám con nít thì dì tôi nhìn ra cửa và nói lớn:

“Ông Bảy tới kìa.  Dọn cho ổng một mâm đi.” 

Đám con cậu dì tôi đẩy ghế chạy vụt ra sân.  Tôi cũng đứng lên theo đuôi tụi nó.  Tôi đứng trên hiên nhà nhìn ra ngõ.  Một bóng người mò mẫm bước lên cái sân gạch nhà cậu tôi.  Đó là một ông già ốm, vì ốm nên trông có vẻ cao.  Tóc ông húi cua, một tay mang bị và một tay cầm cây gậy khua khua về phía trước.  Cặp mắt ông nhướng lên giống như để thấy cho rõ hơn nhưng đôi mắt chẳng mở lớn thêm được một chút nào.  

Mấy đứa con nhỏ của cậu dì tôi vơ lấy que củi khõ khõ xuống sân gạch. 

“Đi qua phía ni nề ông Bảy!”

“Không, không, hướng ni.  Chỗ nớ có bụi cây…” 

“Phía bên ni nề, bên nớ có đống củi …” 

Đám con nít í ới chỉ dẫn, khõ những cây củi xuống mặt gạch làm náo loạn cả một góc sân.  Ông già đứng lại, cây gậy quơ quơ trong khoảng không, cái mặt hơi ngước lên, nghiêng nghiêng như lắng nghe phương hướng. Ông trông bình tĩnh chứ không tức giận hay lúng túng. Ông mím môi, lần từng bước chậm rãi. 

Dì Ba từ trong bếp bước ra, rẽ đám con nít ra và la lớn.

“Nố ni hư quá!  Tụi bây vô nhà ngồi xuống bàn đi.”   

Rồi dì nhẹ nhàng với tay ra cầm cây gậy của ông già và nói:

“Ông Bảy đi theo tui nghe.”  

Đám con nít vừa bước lui vô nhà vừa ngoái lại xem ông già quờ quạng theo dì tôi tiến vào hiên nhà.  Dì dắt ông lên thềm, kê cho ông cái đòn ngồi ở góc hiên, nơi có bóng mát của cây mít đổ xuống. Dì nói:

 “Ông Bảy ngồi đây nghe.  Để tui đi lấy đồ ăn cho ông Bảy.” 

Tôi đứng nép bên cột nhà nhìn ông cách tò mò. Từ trước tới giờ, tôi chưa từng thấy người mù ở gần như vậy. Tôi cứ nghĩ người mù thì không thể đi đâu xa, mà chỉ quanh quẩn trong nhà. Vậy mà ông già mù này lại tự chống gậy đến tận nhà cậu tôi, đúng vào ngày giỗ. 

Tôi hỏi mấy đứa em họ.  

“Ông Bảy là ai rứa?” 

“Ông già mù đi xin ăn.  Ổng không thấy đường mà đi đâu cũng tới hết.”   

Một đứa khác chen vô:

“Ngày mô có đám giỗ là có ổng. Nhà mô trong xã ổng cũng biết.”

Tôi nghe vậy càng thấy lạ. Một người không thấy đường thì làm sao mà biết nhà nào có giỗ? Làm sao mà nhớ được từng lối đi, từng cái cổng, từng bụi tre, từng mô đất? Nhất là cái truông đá nhấp nhô dẫn vô nhà cậu tôi. Tôi đây sáng mắt mà nhiều khi đi còn vấp.  Rồi con đường làng chật hẹp ngày ấy sát bên mép ruộng sâu mà tôi sém trượt chân té xuống mấy lần. Rồi tôi nghe các dì và mợ nói chuyện trong bếp,. 

“Đời ông Bảy rứa mà sướng nghe.  Ngày mô cũng có đồ ăn ngon.”  

Có người cười: 

“Ờ. Mình còn ăn khoai độn cơm, chớ ổng ăn cỗ có cơm trắng quanh năm.” 

Câu nói ấy theo gió bay ra hiên. Tôi nhìn ông Bảy. Ông ngồi rất ngay ngắn và chờ đợi.  Cái bị đặt bên chân, hai bàn tay gầy guộc để trên đầu gối.  Áo ông đã cũ, bạc màu, vá chằng chịt.  Cái quần nâu rộng thùng thình, nhăn nhúm cuộn rút lên gần đến gối.  Bụi đường đen đúa bám trên đôi chân mốc thếch của ông.

Dì Ba bưng ra một mâm cơm mỗi thứ một ít với đầy đủ các món ăn như đã bày trên cái bàn cho đám con nít tụi tôi.  Dì nói với ông già: 

“Đây. Ông Bảy ăn đi.  Còn hai cái bánh ú ni với cục xôi tui bỏ vô giỏ đem về ăn tối nghe.” 

“Cảm ơn cô.” 

Ông già thều thào đáp lại. Giọng ông khàn khàn, như tiếng gió luồn qua rặng tre khô.  Ông nói tiếp: 

“Cô cho tui xin ly nước.” 

Dì Ba hỏi:  

“Ông uống nước lá mùng 5 không?” 

Tôi thấy hình như ông cười. Nụ cười rất nhẹ, chỉ động ở khoé miệng.  

“Nước chi cũng được cô ơi.”  

Nước lá mùng 5 là thứ nước đặc biệt của quê ngoại tôi.  Mỗi năm vào giữa trưa ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch tức là Tết Đoan Ngọ, người dân quê tôi ra nổng hay lên rừng chặt những bụi cây có lá, chặt khúc dài bằng nửa lóng tay. Sau đó đem phơi khô rồi để dành nấu với nước uống thế trà. Người dân quê ngoại tôi nói rằng hái lá cây gì vào ngày Tết Đoan ngọ khi phơi khô xong cũng đều thơm giống như nước chè xanh.  Tôi chưa từng thử nước lá của những ngày khác nhưng đã nếm thử nước lá mùng năm.  Quả là thơm thật.  Chẳng biết vì lá mùng 5 thơm hay tại vùng đất quê ngoại tôi làm cho nước lá thơm như vậy.

Dì Ba đem ra cho ông Bảy một ly nước có khói nóng bay lên.  

“Nước đây bớ ông Bảy.  Coi chừng nóng đó nghe!” 

Ông đưa hai tay ra đỡ lấy ly nước và chậm chậm đưa lên miệng uống từng ngụm nhỏ. Xong vài hớp, ông đặt cái ly xuống cẩn thận, như sợ làm đổ mất lòng tốt của người ta. Từ trong bàn ăn của đám con nít, tôi nghiêng đầu nhìn qua vai của chị họ ráng xem thử ông già ăn uống như thế nào. Tay ông lần mò trên cái mâm, tìm đến tô mỳ bưng lên chậm rãi ăn.  Trông ông không có vẻ của một người ăn xin bị đói bụng mấy ngày.  Dầu đôi tay lọng cọng lùa những sợi mì vào miệng làm những cọng rau vươn vãi trên mặt trên cằm, nhưng ông có vẻ như đang thưởng thức một bữa ăn ngon, biết ơn từng miếng nhỏ. 

Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết cái nghèo.  Tôi chỉ biết mỗi ngày mẹ thường nhường phần ngon cho con, còn mình thì ăn miếng cháy, miếng khoai.  Tôi chỉ biết mỗi lần có thịt cá là tụi tôi mừng như Tết.  Vậy nên nhìn ông Bảy ăn, tôi vừa tò mò, vừa có chút ganh tị ngây thơ. Tôi nghĩ, “Đúng là ông Bảy sướng thiệt.  Ngày nào cũng được ăn các bữa cỗ với các món ăn thật ngon.” 

Chiều hôm đó khi ngồi phụ mẹ gọt khoai sau hè nhà cậu, tôi hỏi mẹ: 

“Mẹ, cậu mời ông Bảy hả mẹ?”  

Mẹ lắc đầu: 

“Không ai mời biểu chi hết nhưng đám giỗ ở đâu ông Bảy cũng tới xin ăn.  Nên nhà mô thấy ổng vô là cũng làm cho ổng một mâm.”  

Tôi hỏi tiếp: 

“Răng mà ổng biết nhà mình có giỗ mà tới?”  

Mẹ trả lời: 

“Ổng nhớ hết ngày giỗ của những người trong làng.  Mà nếu ổng quên thì có người nhắc. Hoặc là khi ổng đi đường, ổng nghe người ta nói thì tìm tới. Trời cho. Người mù thì tai thính và nhớ dai lắm đó con ơi.”  

Rồi mẹ kể thêm là ông Bảy Lấm không vợ, không con, bị làng mắt từ lúc sinh ra.  Khi cha mẹ ông qua đời, ông ở trong căn nhà đó và hàng ngày đi vòng quanh xã tìm đến những nhà có giỗ để xin ăn.  Thì ra dì tôi nói cũng đúng.  Ông Bảy không phải ăn cơm độn khoai như bao nhà thời đó.  Với mấy trăm nóc nhà trong xã, dường như ông được ăn cỗ mỗi ngày.   

Từ đó, trong trí nhớ con nít của tôi, ông Bảy Lấm trở thành một nhân vật vừa tội nghiệp vừa lạ kỳ.  Mỗi lần về quê ngoại ăn giỗ, nghe ngoài ngõ có tiếng gậy khua lộc cộc là tôi lại ra nhìn. Ông không chỉ đến nhà người ta để xin ăn cỗ, nhưng có khi ông ghé vô xin miếng nước.  Nhằm khi trời mưa, áo ông ướt sũng, tóc dính bết vào trán, vậy mà ông vẫn cười khi nghe người ta hỏi: 

“Ông Bảy lạnh không?”

“Lạnh chút rồi khô cô ơi.”

Ông nói câu gì cũng nhẹ như không. Như thể mọi sự trên đời, đói no, mưa nắng, có người thương hay không, đều là chuyện phải đi qua trong một ngày.  

Lớn lên một chút, tôi mới hiểu câu “đời ông Bảy sướng” của người lớn.  Không hẳn là lời khen, cũng không hẳn là mỉa mai. Đó là cách người quê tôi nói cho qua cái nghèo, cái khổ.  Thấy ai bất hạnh quá thì không nỡ nói tội.  Thấy ai nghèo mà còn có miếng ăn thì gọi là sướng. Cái chữ “sướng” ấy nghe nhẹ tênh mà phía sau là cả một đời tối mù, cô độc. 

Học xong lớp 12, tôi rời Tam kỳ, rời cả con đường quê có hàng tre cong duyên dáng, rời mùi nước lá mùng 5, rời những bữa giỗ có tiếng dao thớt trong bếp và tiếng trẻ con cười ngoài sân. Dẫu vậy món chuối chần, nước rang và hình ảnh ông Bảy Lấm vẫn không rời tôi.  Một lần về thăm mẹ và tôi lại hỏi chuyện những người trong làng quê ngoại và dĩ nhiên là có ông Bảy Lấm.  

Mẹ kể ông Bảy Lấm qua đời lặng lẽ trong căn nhà cuối xóm. Người trong làng gom góp làm ma chay và chôn cất ông trong một miếng đất của làng cùng với bao nhiêu nấm mộ khác. Ông không có con cháu đưa tang nhưng nhiều người trong làng đã chung tay đưa ông đến phần mộ. 

Nghe mẹ kể đến đó, tôi nghĩ, “Đời ông Bảy vậy mà cũng trọn.  Lúc sống, ông đi qua hầu hết các nhà trong xã Tam thành và ăn bao nhiêu mâm giỗ. Lúc chết thì làng nước lo cho một đoạn cuối cùng.”  Nhưng câu chuyện về ông Bảy chưa dừng ở đó. 

Mẹ kể tiếp. Một ngày nọ, người trong làng thấy có người dẫn thợ hồ ra nghĩa địa của làng.  Họ chở gạch, xi măng, cát, đá và bắt đầu xây một ngôi mộ tử tế.  Kẻ đi qua, người đi lại, liếc nhìn thắc mắc. Ở làng quê, chuyện xây mộ không phải là lạ, nhưng lạ là ngôi mộ họ xây lại nhằm đúng chỗ mộ ông Bảy Lấm. Có người đứng xa nhìn, xì xầm:

“Ai tốt rứa hè?”

“Chắc bà con chi của ông Bảy ở xa về?”

“Làm chi có.  Bà con ổng mình biết hết mà.” 

Khi ngôi mộ đã xây gần xong, một người trong xóm không nén được tò mò đã đến gần hỏi.

“Cậu xây mộ cho ai đó?” 

 Người đàn ông lau mồ hôi: 

“Dạ con đi làm ăn xa.  Chừ cũng hơi kha khá nên về xây mộ cho ba con.”  

“Cậu là con ông Bảy Lấm hả?”  

“Dạ không phải.”  

“Rứa răng cậu xây mộ cho ông Bảy Lấm?” 

Người đàn ông đứng chết lặng.  Thì ra lâu ngày xa quê, mộ đất giống nhau, người đó đã nhầm mộ ba mình thành mộ ông Bảy Lấm.  Toán thợ xây ngừng tay chờ đợi. Người đàn ông đứng nhìn một hồi lâu rồi thở ra: 

“Thôi, lỡ rồi.  Cứ xây cho xong.  Cũng là người làng mình.” 

Vậy là ông Bảy Lấm, cả đời không vợ không con, không nhà cao cửa rộng, khi chết lại có một ngôi mộ xây tử tế vì một sự nhầm lẫn đầy nhân nghĩa. 

Đây là một câu chuyện có thật ở quê ngoại tôi xã Tam thành, Tam kỳ, Quảng nam, Việt nam. Câu chuyện đời ông Bảy Lấm làm tôi nhớ tới câu Kinh Thánh, “Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy.” Ma-Thi-Ơ 6:34  

Có lẽ ông là người đã sống đúng như vậy.  Ngày nào khó nhọc đủ cho ngày ấy. Ngày nào có đường của ngày ấy.  Ông không lo xa được vì đôi mắt không nhìn thấy phía trước.  Nhưng có lẽ chính vì không nhìn thấy phía trước, ông học cách lắng nghe từng bước chân hiện tại.  Cây gậy chạm đất ở đâu, ông biết mình đang ở đó.  Tiếng người gọi từ đâu, ông quay về hướng đó.  Mùi khói bếp bay từ nhà nào, ông lần theo nhà ấy.  Và giờ đây tên ông đã được nhắc lại trong bài viết này.  Có thể câu chuyện đời ông đã đi xa khỏi xã Tam thành, khỏi Tam kỳ, khỏi Quảng nam, khỏi Việt nam.  

Và biết đâu một ngày nào đó sẽ có người tìm đến mộ ông.  Họ có thể không biết mặt ông.  Họ có thể chưa từng nghe tiếng gậy của ông.  Nhưng họ biết rằng dưới nấm mộ kia là một người đã sống một đời lặng lẽ, nghèo khó, mù loà, mà vẫn được làng quê cưu mang bằng những mâm cơm giỗ và một ngôi mộ xây nhầm. Biết đâu! 

Ở đời, có những điều dường như là tình cờ, nhưng nhìn kỹ lại thấy như có một sự sắp đặt dịu dàng của Thượng đế.  Một người đi xa về xây mộ cho cha, lại xây nhầm cho một ông già không con.  Một ông lão cả đời lần mò trong bóng tối, cuối cùng lại được bước vào ký ức sáng rõ của bao người. Một đứa trẻ năm nào tò mò nhìn ông Bảy Lấm ăn mỳ dưới mái hiên, nhiều năm sau ngồi trên bàn viết bên kia Thái bình dương kể lại câu chuyện của ông.  Biết đâu chính những điều ấy là cách cuộc đời xoa dịu những phận người nhỏ bé. 

Chiều hôm đó, trong ký ức của tôi, ông Bảy đang đi ra khỏi sân nhà cậu tôi.  Cái bị cũ đeo bên vai.  Cây gậy khua lộc cộc. Nắng chói chang đổ trên lưng ông.  Đám con nít đứng im trên hiên nhìn theo ông chậm rãi khuất sau ngõ đá nhà cậu. 

Cộc … cộc… cộc…

Tiếng gậy của ông như tiếng thời gian gõ xuống một miền quê nghèo mà ấm.  Như tiếng một đời người đi qua bóng tối nhưng không đi một mình.  Đời tôi cũng vậy.  Tôi cũng đã nhiều lần tưởng đi một mình qua bóng đêm dày đặc ngỡ như không lối ra.  Nhưng giờ nhìn lại mới thấy rằng luôn có Chúa cạnh bên trong những ngày đen thẳm đó.

Viết thêm 5/2026

Thuỷ Như




VTLV -VÀ VĂN THI HỮU: TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG LỄ TẠ ƠN 2025

San Jose: Giới Thiệu Những Sinh Hoạt Trong Dịp Lễ:

HÔM NAY! BỮA ĂN MIỄN PHÍ MÙA LỄ TẠ ƠN

• Martha’s Kitchen — Dùng tại chỗ (không cho mang về)

•Ngày: 25 Tháng 11, 2025 (hôm nay!)

•Giờ: 4:00 – 5:00 chiều

•Địa điểm: Martha’s Kitchen

(749 Story Road, San José)

•Liên lạc: 408-293-6111

•Thông tin thêm: https://www.shfb.org/get-food/holiday/

Muốn xem thêm danh sách các bữa ăn mùa lễ, xin truy cập:

Second Harvest: https://www.shfb.org/get-food/holiday/

San Jose tưng bừng chuẩn bị Turkey Trot 2025 – Cuộc chạy bộ lớn nhất nước Mỹ trong ngày Lễ Tạ Ơn!.

Xin mời Quý Vị Thân Hữu thưởng thức lại Youtube:

                       TRỌN ĐỜI TẠ ƠN

           của Nhà Thơ Trần Quốc Bảo (Richmond, Va.).

    Bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của N.S. Nam Lộc

              với lời ca của Ca Sĩ Ngọc Minh.

           Thực hiện: Phạm Văn Tuấn.(26 Feb. 2025)

                           PvTuan.   25 Nov. 2025.

TRỌN ĐỜI TẠ ƠN

Thơ Trần Quốc Bảo.  

Hết lòng cảm tạ Ơn Trên,

Mỗi ngày được sống bình yên dưới trần

Cho dù là kiếp phù vân

Tôi như cây cỏ ân cần nở hoa.

Tạ ơn Mẹ, Tạ ơn Cha,

Đã cho con được sinh ra cõi đời

Tạ ơn Thầy, dạy làm người

Biết yêu thương, biết nụ cười bao dung.

Tạ ơn Hiền Hữu thủy chung,

Đồng hành, đồng hướng, lại cùng đồng tâm

Tạ ơn Em, Bạn trăm năm,

Cho anh Hạnh Phúc, như mâm cỗ đầy!

Tạ ơn: Trăng, Nước, Cỏ, Cây,

Từng đêm say đắm, từng ngày mộng mơ  

Tạ ơn cung Nhạc, dòng Thơ

Để hồn lãng mạn, thẫn thờ đam mê…

Xin tạ ơn mảnh Đất Quê,

Sắt son vẫn một lời thề trong tim

Cầu mong Vận Nước chuyển mình

Tôi về hôn Đất, tạ tình Quê Hương!

Trần Quốc Bảo

     Richmond, Virginia

Địa chỉ điện thư của tác giả:

      quocbao_30@yahoo.com

*

*

*

MỪNG ĐÓN THANKSGIVING

Năm nay mừng đón Thanksgiving

Cảm tạ Trời ban Mỹ hiển vinh.

Bởi hướng tâm hồn tin Thượng Đế

Nên mang phúc lợi hiến dân mình.

Thành công kinh tế đem hưng thịnh

Vững mạnh quốc phòng tạo thái bình.

Tổng thống Trump, thiên tài lãnh đạo

Với lòng yêu nước trọn chân tình!


DUY ANH

Happy Thanksgiving 2025

San Jose tưng bừng chuẩn bị Turkey Trot 2025 – Cuộc chạy bộ lớn nhất nước Mỹ trong ngày Lễ Tạ Ơn!

*Góp phần hỗ trợ người nghèo, trẻ em và người vô gia cư trong mùa lễ hội.

SAN JOSE, CA – Hàng chục ngàn cư dân Thung Lũng Silicon và vùng phụ cận sẽ đổ về Downtown San Jose vào Ngày Lễ Tạ Ơn – 27/11/2025 để tham dự Applied Materials Silicon Valley Turkey Trot 2025, được xem là cuộc chạy bộ lớn nhất nước Mỹ trong ngày Thanksgiving.

Chương trình năm nay gồm nhiều phần thi hấp dẫn: 5K – 10K, Kids Fun Run, và Virtual Race dành cho những ai muốn tham gia từ xa. Không khí rộn ràng, vui tươi, đầy tinh thần thể thao và cộng đồng hứa hẹn sẽ tiếp tục là nét đẹp truyền thống của Thung Lũng Silicon mỗi dịp lễ.

Sinh hoạt gây quỹ quy mô cho các tổ chức từ thiện như Second Harvest of Silicon Valley, Healthier Kids Foundation, HomeFirst, và Second Harvest Santa Cruz County – góp phần hỗ trợ người nghèo, trẻ em và người vô gia cư trong mùa lễ hội.

Chi tiết & ghi danh: SVTURKEYTROT.COM

Theo dõi: @SVTURKEYTROT

Một sinh hoạt ý nghĩa, lan tỏa tinh thần biết ơn và chia sẻ – đúng tinh thần Lễ Tạ Ơn tại Silicon Valley.

GÂY QUỸ ĐỒ CHƠI CHO TRẺ EM NGHÈO MÙA LỄ

• BLVD Kings Holiday Toy Drive — Xin mang đồ chơi mới, chưa gói

•Ngày: 29 Tháng 11, 2025

•Giờ: 7:00 sáng – 5:00 chiều

•Địa điểm: Bãi đậu xe Eastridge, phía trước Old Sears

(88 Eastridge Loop, San José)

 LỜI MỜI THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH “EMBRACE A SENIOR – GIFT GIVING CAMPAIGN” LẦN THỨ 10

*Nhằm mang đến món quà ý nghĩa cho các vị cao niên, cựu quân nhân và các thân chủ đang sống trong hoàn cảnh cô đơn hoặc khó khăn trong mùa lễ cuối năm.

-Santa Clara County Public Administrator/Guardian/Conservator Office thông báo triển khai chương trình thường niên lần thứ 10 “Embrace A Senior – Gift Giving Campaign”, nhằm mang đến món quà ý nghĩa cho các vị cao niên, cựu quân nhân và các thân chủ đang sống trong hoàn cảnh cô đơn hoặc khó khăn trong mùa lễ cuối năm.

Thời gian nhận quà:

Từ hôm nay, đến 14/12/2025

Các hình thức đóng góp:

1. Gởi quà trực tiếp tại các địa điểm:

•353 W. Julian St. – khu vực thang máy tầng 1

•1867 Senter Road – Fisherman’s Wharf Hallway

2. Chọn thẻ quà tặng tại các “Gift Giving Trees”:

•333 & 353 W. Julian St.

•1867 Senter Rd.

(Lấy thẻ – mua quà – bỏ lại vào thùng cạnh cây.)

3. Danh sách quà tặng Amazon:

Quét QR Code trên poster để chọn và mua quà. Quà sẽ được gởi đến đúng địa chỉ được ghi sẵn trong danh sách.

4. Đóng góp tài chánh:

Gởi check về:

Santa Clara County Public Administrator Guardian Conservator

353 W. Julian St, 4th Floor, San Jose, CA 95110

(Ghi “Embrace a Senior” ở memo.)

Mọi thắc mắc xin liên lạc:

•Patty Vincent: (408) 755-7678

•Maria Marchello: (408) 758-4520

Chương trình kêu gọi tấm lòng của cộng đồng cùng chung tay đem hơi ấm và niềm vui đến các bậc cao niên trong mùa Giáng Sinh.

**SƯU TẦM ĐẶC BIỆT: SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ NGÀY LỄ TẠ ƠN!

(Happy Thanksgiving!)

1. Lễ Tạ Ơn – Từ buổi đầu kéo dài… 3 ngày!

Lễ Tạ ơn đầu tiên trong lịch sử loài người diễn ra vào năm 1621, tại thuộc địa Plymouth.

Bữa tiệc kéo dài đúng ba ngày với sự tham dự của những người hành hương Pilgrims và người bản địa Wampanoag.

Điều thú vị:

•Họ không có nĩa – chỉ dùng thìa, dao và… ngón tay!

•Món gà tây lúc ấy chưa phải là “ngôi sao bàn tiệc”; chim nước, ngô, bí đỏ và cá mới là món chủ lực.

2. Ngày Quốc Lễ – Chính thức từ năm 1941

Dù đã tồn tại hàng trăm năm, mãi đến năm 1941, Quốc Hội Hoa Kỳ mới chính thức quy định:

Thanksgiving sẽ diễn ra vào Thứ Năm tuần lễ thứ tư của Tháng 11.

Canada cũng mừng Lễ Tạ ơn, nhưng sớm hơn, vào Thứ Hai tuần lễ thứ hai của Tháng 10.

3. Nguồn gốc tên gọi “Turkey” – Một sự lầm tưởng lịch sử!

Khi Columbus đặt chân lên Tân Thế Giới, ông tưởng rằng mình đang ở gần Ấn Độ – nơi nổi tiếng có nhiều chim công. Thấy con chim lớn lạ lùng này, ông gọi luôn là:

“Tuka” – nghĩa là chim công trong tiếng Tamil của Ấn Độ.

Và thế là cái tên Turkey ra đời, dù thật ra gà tây thuộc họ… chim trĩ.

4. Gà tây – biểu tượng không thể thiếu

Một vài con số gây choáng:

•280 triệu con gà tây được người Mỹ tiêu thụ dịp Thanksgiving.

•91% người dân Mỹ có món gà tây trên bàn tiệc.

•Gà tây đã xuất hiện tại châu Mỹ từ… 10 triệu năm trước (theo hóa thạch).

•Một con gà tây hoảng sợ có thể chạy tới 20 miles/giờ!

Gà tây cũng là động vật bản địa đầu tiên được thuần hóa ở châu Mỹ.

5. “Ân xá gà tây” – Nghi lễ vui tại Tòa Bạch Ốc

Truyền thống kỳ lạ nhưng đầy dí dỏm này được duy trì từ thời Tổng thống Harry Truman.

Mỗi năm, Tổng thống Mỹ sẽ ấn xá cho một chú gà tây, giúp nó “thoát kiếp lên bàn tiệc” và được sống an nhàn ở trang trại.

6. Những con số khổng lồ trong ngày lễ lớn nhất nước Mỹ

•52,2 triệu người Mỹ lái xe ít nhất 50 dặm để về sum họp gia đình.

•Chi phí trung bình cho một bữa tiệc Thanksgiving khoảng 50–64 USD cho 10 người.

•Hơn 40 triệu dĩa đậu xanh hầm (Green Bean Casserole) được ăn mỗi năm.

•Tháng 11, người Mỹ tiêu thụ hơn 50 triệu bánh táo.

7. Những địa danh “Turkey” độc nhất vô nhị

Ở Hoa Kỳ có nhiều địa danh mang tên “Turkey”:

•Turkey, Texas

•Turkey, North Carolina

•Turkey Creek, Louisiana

Và còn 9 thị trấn khác trên toàn quốc có tên liên quan đến “Turkey”.

8. Macy’s Thanksgiving Parade – Cuộc diễn hành huyền thoại

Diễn ra từ năm 1924, truyền hình trực tiếp toàn quốc trên NBC.

Bị gián đoạn 3 năm (1942–1944) do Thế Chiến II.

Điểm thu hút nhất:

Những bóng bay khổng lồ hình nhân vật hoạt hình và thú khổng lồ, di chuyển suốt 4 km giữa trung tâm New York.

9. Bóng đá & Thanksgiving – Tình yêu lâu đời của nước Mỹ

Từ trường trung học, đại học đến NFL chuyên nghiệp, bóng đá là “gia vị” không thể thiếu.

Nhiều nơi còn gọi ngày này là Turkey Bowl Game.

10. Black Friday – Ngày mua sắm “điên rồ” nhất trong năm

Ngày sau Lễ Tạ ơn được gọi là Black Friday, mở đầu mùa mua sắm Giáng Sinh.

Hai giải thích nổi tiếng:

1.Cảnh sát Philadelphia dùng chữ “Black” để mô tả giao thông hỗn loạn vì đám đông mua sắm.

2.Các nhà bán lẻ nói “Black” nghĩa là chuyển sổ sách từ lỗ (mực đỏ) sang lời (mực đen).

Dù hiểu theo cách nào, Black Friday vẫn là ngày… cả nước Mỹ đổ ra đường để săn sale.

11. 6 tiểu bang “nuôi cả nước”: Trung tâm sản xuất gà tây Hoa Kỳ

69% số gà tây nước Mỹ đến từ 6 tiểu bang:

•Minnesota (đứng đầu)

•North Carolina

•Arkansas

•Indiana

•Missouri

•Virginia

12. Bữa ăn Tạ ơn – “khổng lồ” đúng nghĩa

Theo The Calorie Control Council, mỗi người Mỹ nạp khoảng:

3.000 calories chỉ trong một bữa tối Thanksgiving.

Đủ cho… 1,5 ngày hoạt động liên tục!

Kết luận – Lễ Tạ ơn: nhiều hơn một ngày lễ

Thanksgiving không chỉ là gà tây, bánh bí đỏ hay những con số kỷ lục.

Đó là ngày:

•gia đình sum họp,

•bạn bè xích lại gần nhau,

•và mọi người nói với nhau hai chữ giản dị:

“Cám ơn!”

Happy Thanksgiving 2025!

Chúc bạn và gia đình một ngày thật ấm áp, đầy tình thân và niềm vui.

Không Quân LÊ VĂN HẢI – VTLV

THƠ NGÀY LỄ TẠ ƠN – THỦY LÂM SYNH

**




TẠP CHÍ “THẾ HỮU VĂN ĐÀN” – Từ Diễn Đàn Thân Hữu.

MỜI BẤM VÀO Các Mũi Tên NƠI GÓC TRÁI TRÊN HOẶC DƯỚI ĐỂ LẬT TRANG ĐỌC TIẾP:




Trần Kiêm Đoàn: HỌP MẶT TÌNH VĂN NGHỆ: XÓM HOÀNG HÔN BẮC CALI.


HỌP MẶT TÌNH VĂN NGHỆ

XÓM HOÀNG HÔN BẮC CALI

25934C5A-E4A9-46D6-8AE8-F6A0FCB39EEC (1) - Copy.jpeg

Văn nghệ chỉ là văn chương nghệ thuật nhưng ý nghĩa truyền đời và lan tỏa khi nó có một cái tình: Tình sáng tác, tình trình bày và tình thưởng thức… Nếu dòng văn nghệ thiếu mất đi những nguồn tình như thế thì văn chương chỉ là những con chữ, nghệ thuật chỉ là mây bay và độc giả, khán giả chỉ là sương khói.

Thu Cali năm nay, anh chị em văn nghệ Bắc Cali gặp nhau tại Sacramento, thành phố thủ phủ tiểu bang California, thật đông vui và ấm tình văn nghệ. Trong số ba bốn chục anh chị em từ San Jose, Sacramento và các vùng lân cận quây quần bên nhau tại nhà hàng King Palace, đã thấy xuất hiện những bước đi chầm chậm hơn xưa, những dáng vẻ phai màu lạ lẫm, gập ghềnh chống gậy cầm tay… Đặc biệt lần nầy có cả nhà văn Linh mục Nguyễn Hữu Lễ từ phương xa cùng về họp mặt với xóm hoàng hôn Bắc Cali nữa nên không khí thêm phần sống động.

Gặp nhau, ngó đi ngó lại nhận ra người còn kẻ mất. Ôi mới đó! Mới đó mà hôm nay anh chị em đã nhắc tên những người vắng mặt, ngỡ như qua “những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ”:

Minh Đức Hoài Trinh, Vi Khuê, Diệu Tần, Ngô Thùy Yên, Nguyễn Xuân Hoàng, Hà Thượng Nhân, Hồ Linh, Cao Sơn, Nguyên Trung, Tô Ngọc, Thành Đạt, Tô Hòa Dương, Tôn Thất Sang, Hoàng Gia Thành, Phan Dương, Nguyễn Quý Nhượng, Lê Quang Sinh…  

Nếu đếm thời gian bằng sự phôi pha, nếp nhăn và mái tóc thì có thể gọi nhau hôm nay là “xóm hoàng hôn” bởi các anh chị viết văn, làm báo, sáng tác nhạc, hội họa thì chỉ trừ vài em trung niên, còn tất cả đều đã là U-80, U-90 và đặc biệt có niên trưởng Diên Nghị là U-100 nhưng vẫn còn “dzô” phong độ như hổ nhớ rừng!

Những anh chị em cầm bút chuyên nghiệp cũng như tài tử làm khách văn chương sáng tác và thưởng ngoạn hoặc chủ báo, chủ nhiệm, chủ bút… góp mặt hôm nay, phần lớn đều đã xông xáo trong nghề từ vài ba chục năm trở lên. Tuy năm tháng không phải là thước đo chính xác bề dày cũng như tầm xa nghệ thuật nhưng sự gắn bó lâu dài với cái nghề bạc bẽo “lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa” – theo kiểu nói kiêu bạc của Vũ Hoàng Chương – thì nếp chung thủy với văn nghệ cũng là cái tình rất đáng quý.

Những cơ sở văn học nghệ thuật, báo chí tiếng Việt góp mặt tại Bắc Cali đã ra đời, sinh hoạt và vươn lên trong những điều kiện giới hạn thật khó tin đối với tầm nhìn của đại chúng khách quan bình thường: Có những tờ tuần báo như Hải Vân, Đất Đứng là cơ sở báo chí tư nhân chỉ có duy nhất một chủ biên kiêm luôn tòa báo như Hải Vân News (Châu Ngọc Thủy), Cao Ánh Nguyệt (Phụ Nữ Cali) hay một gia đình tiếp tay nhau làm báo như Đất Đứng (Nhật Thịnh, Khuê Dung và hai con trai). Tinh thần hăng say làm báo của người Việt, tiếng Việt đã làm cho giới báo chí xứ người ngạc nhiên và khâm phục trước hiện tượng một vài cá nhân chủ báo bao biện mọi công việc bài vở, biên tập, in ấn, phát hành, quảng cáo, kế toán… liên tục kéo dài trong vài ba chục năm. Hôm nay cũng là dịp họp mặt nhiều chủ nhân, chủ biên của các tờ báo trong vùng như Lê Văn Hải (Mõ), Song Nhị (Cội Nguồn), Trần Văn Ngà (Tiếng Vang), Khuê Dung (Đất Đứng), Chính Văn (Amy Duong), Cao Ánh Nguyệt (Phụ Nữ Cali)…

Những khuôn mặt thân quen trong giới văn bút đang hoạt động chậm lại và thưa dần theo tuổi đời chồng chất. Ngày tháng đi qua, thế hệ văn bút tiếng Việt đàn anh, đàn chị đã lần lượt ra đi khá nhiều.

Cuộc họp mặt năm nay do Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn tổ chức. Được gặp nhau với những người bạn văn và thân hữu cao niên đã khiến cho bầu không khí hội ngộ đầy cảm động, nhìn nhau với những khuôn mặt theo thời gian phôi pha nhưng niềm vui phát khởi từ tình thân như gia đình văn bút vẫn đậm đà ý nghĩa.

Thời gian thì không chậm lại và tuổi hoàng hôn thường mau tối nên anh chị em bịn rịn chia tay hẹn ngày gặp lại. Dẫu có “mai sau dù có bao giờ…” thì buổi gặp mặt anh chị em hôm nay cũng mang đến niềm vui kéo dài xa tắp để còn đốt lò hương cũ “a thing of beauty is a joy forever – vui là chính” mà John Keats từng mê ly.

Hẹn lần sau giữa mùa Thu Cali.

Sacramento, mạnh Thu 2024

Trần Kiêm Đoàn