Những đứa con rơi của Hồ Chí Minh

Những đứa con rơi của Hồ Chí Minh


Default
Ảnh chụp Nguyễn Tất Trung

Con người huyền thoại: Vũ Trung-Nguyễn Tất Trung 



Tác giả: Nguyễn Thái Hoàng 


1. Con người Huyền thoại Vũ Trung-Nguyễn Tất Trung 



Vì nỗi mong mỏi tha thiết của mọi người muốn biết rõ về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Tất Trung – đứa con rơi của ông Hồ Chí Minh trong vòng tay “nhân ái yêu thương” của các đồng chí – Hoàng nghĩ mình không có quyền né tránh câu hỏi này, khi thực tế đã bày ra trước mắt. 

Bạn LHA (Hoa Kỳ) viết: “Cám ơn bạn Nguyễn Thái Hoàng đã cho bạn đọc biết về tung tích của anh Nguyễn Tất Trung. Trong cuốn hồi ký "Đêm Giữa Ban Ngày" của nhà văn Vũ Thư Hiên có nói rằng sau khi bà Nông Thị Xuân bị ám hại, thì Nguyễn Tất Trung được giao cho Vũ Kỳ nuôi rồi sau đó không còn biết tin tức gì nữa. Tôi không hiểu tại sao cùng là hậu duệ của ông Hồ lại bị phân biệt đối xử như vậy, anh Trung cũng là con “Vua” như Nông Đức Mạnh, nhưng ông Mạnh lại được làm tổng bí thư, trong khi Trung lại quét lá đa. Cây đắng không thể sinh trái ngọt, hy vọng anh Nguyễn Tất Trung là trường hợp ngoại lệ". 

Dù không muốn làm mọi người thất vọng, nhưng Hoàng cũng phải nói thật điều này: LHA nói đúng: Cây đắng không thể sinh trái ngọt. Nguyễn Tất Trung không phải trường hợp ngoại lệ mà đã bị Đảng nhuộm đỏ từ đầu đến chân. Rất có thể Hoàng có lỗi trong việc này vì đã thông tin không đầy đủ đến bạn đọc, làm bạn đọc hiểu lầm. Thực tình, cũng như LHA và rất nhiều người Việt Nam khác, Hoàng cũng tràn trề hy vọng về một Tất Trung khác, một Tất Trung vì nỗi đau xé gan xé ruột của mẹ mình, của chú, dì, và họ hàng bên ngoại mà hành xử khác, biết phân biệt đâu là chính nghĩa, đâu là trọng tội, cho dù tội ác ấy được phủ bằng màu cờ đỏ sao vàng đi chăng nữa, thì bàn tay của kẻ cầm cờ chắc gì đã sạch? đã không nhuốm máu mẹ đẻ mình? Như bao nhiêu năm anh đã từng thét vào mặt họ: "Phải làm sáng tỏ cái chết của mẹ tôi, không thằng nào khốn nạn bằng thằng bố tôi, đẻ con ra mà không dám nhận con…v.v".

Thật không ngờ Đảng đã “vững vàng đường lối, kiên trì quan điểm lập trường cách mạng” đến cùng để biến “Tất Trung” thành “Tất Nhụt”, thiếu hụt niềm tin và bản lĩnh chiến đấu, từ căm thù cái ác, cái xấu trở thành nguội lạnh vô cảm, vô đạo như hiện nay.

Để giúp mọi người hiểu rõ về Nguyễn Tất Trung, cũng là thanh minh sự lầm lẫn của mình, Hoàng xin nói dông dài một chút như sau: 

Vì ảnh hưởng nghề nghiệp, trong khi chưa bị Đảng thiến hết nhân cách Hoàng vẫn lê la ở khu vực ga Trần Quý Cáp là nơi bà con từ 60 tỉnh thành trong cả nước đổ về, tụ tập, khiếu kiện vượt cấp, để tìm hiểu , hỏi han, tuy biết chẳng thể giúp được gì cho họ mà chỉ để tìm hiểu xem mức độ đểu giả độc ác của Đảng cộng sản đến đâu thôi? Trong một lần như vậy Hoàng ngồi nghỉ ở quán bia số nhà 62 cùng phố , được anh Mẫn (chủ quán) rỉ tai cho biết là Vũ Trung rất hay đến đây uống bia. Từ hôm đó Hoàng chủ động đến đó nhiều lần để chờ gặp cho bằng được con người huyền thoại này.

Thú thật lần đầu nhìn thấy anh Trung dựng xe bước vào quán, Hoàng hồi hộp ghê lắm, tim đập, chân run, cái nhìn đầy tinh lực, chăm chú như thể của đôi tình nhân trong thơ Đàm Phố: "Yêu nhau mà mắt nhìn không chớp, thấy nhau rồi chỉ muốn nuốt trôi nhau". Sau cái mỉm cười xã giao, bắt tay với chủ quán, Trung lui về với cốc bia của mình, trở thành người khác hẳn, lặng lẽ u uẩn, câm nín, căm tức, căng thẳng. .. Về hình thể Trung rất đẹp, trẻ hơn cái tuổi 49, 50 của mình rất nhiều. Da trắng, sống mũi cao, lông mi cong vắt, môi đỏ, nói chuyện rất có duyên, miệng cười, mắt cũng cười theo. Nghiã là hoàn toàn giống mẹ, như trong "Đêm giữa ban ngày" của Vũ Thư Hiên: "Cô Xuân 21 tuổi, khá đẹp, nước da trắng hồng, môi đỏ, nụ cười như hoa nở". Tuy cũng có dáng cao dong dỏng, nhưng không hề có dấu vết gì của ông Hồ kể từ dáng vẻ khuôn hình đến các nét trên gương mặt. Về trang phục, Trung ăn vận gọn gàng, lịch sự và bắt mắt, đến mức anh bạn đi cùng Hoàng – vốn quyền cao, chức trọng, phải thầm thì: "Thằng cha đẹp quá, mình mà là con gái, nhất định phải
chửa hoang với nó, ít nhất là 7 lần".. Qua nhiều lần bí mật quan sát, Hoàng cảm thấy bề ngoài Trung đóng vai lãng tử con nhà giàu, chịu chơi, nhưng bên trong là nỗi đau không lời, nỗi đau khấn bốn phương trời còn đau, thậm chí Hoàng chỉ có thể mượn thơ Thế Lữ để tả: "Ngậm một khối căm hờn trong tim óc…"

Nghĩ mãi cuối cùng dịp may cũng đến, trong số bạn thân của Hoàng có một anh thuộc diện "con ông cháu cha" vốn trước học cùng trường trung học mang tên Nguyễn Văn Trỗi ở Trung Quốc với Trung. Thế là anh vui vẻ gọi điện thoại hẹn gặp và kéo cả Hoàng đi. Trong suốt buôỉ gặp mặt vui vẻ đó, Hoàng càng củng cố thêm nhận định của mình. Lần ấy đúng dịp ông Vũ Kỳ mất, Trung nhắc đến cái chết của bố nuôi đầy quyến luyến. Từ lúc ông bắt đầu trở bệnh, đến lúc phải thở bằng ô xy, rồi 20 ngày cuối, trong lúc cả nhà xúm vào săn sóc, ông yêu cầu đưa giấy bút, kiên quyết bắt rút ống thở để ra đi, hoàn toàn tỉnh táo, không một chút vật vã đau đớn. Ngay sau đó chính phủ đã ký duyệt cho gia đình 50 triệu để xây mộ ở nghĩa trang Mai Dịch…

Trong câu chuyện hễ nhắc đến ông Hồ là Trung thay đổi thái độ, mặt cau có, căng thẳng. Mỗi khi anh bạn đưa ra những lời phủ nhận về một số phần tử "quá khích", "nói xấu" ông Hồ, Trung đều gạt đi, bảo: "Ông lạc hậu, quan liêu quá. Chịu khó lên mạng mà đọc đi, không thì nghe lời dân gian nói ấy, ông Hồ mất đi chỉ để lại: "Ba Đồng Chinh Bằng Tôn" (1) có ích mẹ gì đâu…Trong cuộc vui Trung còn đọc cả thơ "cửa mở" của Việt Phương (Thư ký riêng của Phạm Văn Đồng) cho cả hội cùng nghe (đại ý): 

Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ 
Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ 
Mở đài địch như mở toang cách cửa, 
Nghe nó chửi mà thấy cả ngày mai…


Sau này trong vài lần gặp lại, Hoàng có đặt thẳng vấn đề với Trung: 

– Trong cuộc đời có bao giờ anh cảm thấy mình bị đối xử tệ bạc không?

Trung đáp không hề né tránh:

– Có chứ, không phải chỉ một lần mà là thường xuyên – Và Trung kết luận: 

– Đến bom đạn thành cổ Quảng Trị còn không lấy nổi mạng mình, kể cũng lạ…

Biết được điều lạ lùng này Hoàng vội vã thốt lên: 

– Tại sao anh phải đi lính, là con Bác Kỳ thì cùng lắm cũng chỉ là lính cậu, lính văn phòng thôi chứ, sao lại phải ra mặt trận ?

Trung bảo: 

– Không có đâu, 10 năm trên khắp các chiến trường đông, tây, nam, bắc, nhưng căng thẳng nhất vẫn là thành cổ Quảng Trị và mặt trận Căm-pu-chia.. Trong hai thời điểm khắc nghiệt ấy, trung bình mỗi ngày mình phải chia tay với vài chục thằng bạn, chúng nằm lại thành cổ, bên kia bờ sông Thạch Hãn, hoặc đạp phải mìn bị thương phải chuyển lên quân y viện…

Hoàng thăm dò: 

– Có bao giờ anh nghĩ mình là con người của huyền thoại, luôn bao bọc quanh mình cả một lớp huyền thoại hư thực không?

Trung trả lời, mắt như có lệ:

– Mình cạn khô nước mắt khóc mẹ từ lâu rồi, đừng hỏi nữa. 

Lúc này Hoàng mới kịp nghĩ ra là trong tất cả những lần gặp gỡ, chưa khi nào Trung được phép đi một mình mà luôn luôn có các "ông bạn" cặp kè bên cạnh. 

Thú thật đêm đầu tiên sau lần gặp, Hoàng trằn trọc băn khoăn không ngủ nổi, càng lên mạng càng đọc được thông tin về ông Hồ, Hoàng càng mong muốn được gặp lại, thậm chí Hoàng đã nghĩ, dù có dao kề cổ Hoàng cũng phải viết về con người này…

Tất nhiên ý nghĩ ấy là viễn vông ở Việt Nam, vì tất cả các tổng biên tập, các giám đốc nhà xuất bản đều đã nhận được một bài học nhớ đời sau vụ tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Minh Hạnh mất chức vì đã dại dột đăng tin về người vợ Trung Quốc của ông Hồ.

Lần cuối cùng Hoàng gặp Trung tại quán cà phê bông giấy 2, đường Lê Thành Nghị, Hà Nội. Người Chủ quán là vợ Trung, trẻ, đẹp, duyên dáng tên Duyên. Tại đây, qua những lời bộc bạch chân tình của chị Duyên về sự quan tâm săn sóc của chú Khải, chú Lương, chú Mười, anh Mạnh v.v., Hoàng biết Trung đã bị Đảng dùng chức tước mua chuộc v&agra
ve; bị nhuộm đỏ từ đầu đến chân, ít nhất là từ mười năm nay. Trước đó theo lời Trung thú nhận: anh luôn có "cận vệ" theo sát, cấm vận mọi điều, chỉ khoảng 10 năm trở lại đây mới được quyền đi đó đi đây vào Nam thăm bạn hay thăm lại đồng đội xưa", v.v. Hiện ngôi nhà cũng là quán cà phê của anh chính là nhà được phân theo tiêu chuẩn cấp tướng tá của Tổng cục 2, tương đương chức thứ trưởng các bộ, ngành, với diện tích 160 m2 (2). 

Điều đặc biệt quan trọng mà Hoàng biết được là sau khi gia nhập Tổng cục 2, Trung đã từng cùng Nguyễn chí Vịnh, con Nguyễn Chí Thanh tham gia các phi vụ mua bán máy bay, vũ khí đểu để trang bị cho Tổng Cục bằng nguồn vốn kếch sù của Bộ quốc phòng và phất lên nhanh chóng. Hiện tại Trung là một trong số 7 người giàu nhất Việt Nam (còn goị là nhóm G7) gồm Phan Minh Hoàn (con Phan văn Khải), Nguyễn Hoài Bảo (con bà Lê thị Hoài), Lê Khả Diễn (con Lê Khả Phiêu) v.v. Trong số 5 đứa con của ông Vũ Kỳ gồm: Nhung – Quang – Trung – Vinh – Minh, thì Trung giàu ức vạn lần, kể cả cậu Vinh đang ở Đức cũng chỉ có số tài sản bằng một phần nhỏ của Trung.

Từ chỗ coi mình là người "ngoài luồng", không chịu mang họ Vũ, không muốn sống cuộc đời thứ 2, lúc nào cũng đòi được Đảng buông tha để đi khắp thế gian, la lớn cho cả thế giới biết về cái chết oan nghiệt của mẹ mình (“Tiếng oan dạy đất, oán ngờ loà mây”!), Trung đã bị Đảng trừng phạt nặng nề trong chính ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm Hà Nội. Nào tống đi lính để thành "anh hùng thời đại", nào tiêm thuốc độc cho trí não u mê, tiêm thuốc triệt sản để thành một zôm-bi – vật vờ như một cái bóng, chỉ làm hùng hục như trâu (3) không có trí khôn để nhận biết mình là ai, cũng không biết ai ngoài mình, kể cả chuyện tình ái…. Thấp tay và tàn bạo hơn hẳn các thầy pháp Châu Phi – điểm huyệt cho người chết sống lại để điều khiển, sai khiến như những zôm-bi, Đảng đã làm ngược lại, biến một cơ thể trẻ trung, khoẻ mạnh thành một xác chết biết đi….. cho đến khi liều lượng của thuốc hết tác dụng, Đảng kịp thời dở lại chiêu bài dụ dỗ mua chuộc kèm doạ nạt, cưỡng bức… Sống giữa lòng Đảng, xa rời nhân dân, kết cục Trung đã được nặn tạo lại từ đầu, thành một quan chức cao cấp thành đạt trong quân đội, càng ngày càng cố hợp pháp hoá mình trong vai đứa con ngoan của Vũ Kỳ để yên bề, thoát hiểm, và làm giàu.

Việc Trung đến các bậc lão thành cách mạng để tìm hiểu về cái chết của mẹ đẻ là việc hoàn toàn có thật, chính Hoàng đã gặp Trung trong ngôi nhà của ông Ngô Thế Nùng – một tướng lĩnh cũ trong quân đội. Chỉ vì anh rể là Hoàng Minh Chính mà cả hai vợ chồng ông Ngô THế Nùng bị trượt dài vì lý lịch, không sao leo lên được nữa. Hôm Hoàng đang ngồi với bác gái – nói chuyện về việc cụ Chính chuẩn bị sang Mỹ chữa bệnh thì Trung lò dò tìm đến, anh Hà ra mở cửa đưa vào, Hoàng vừa kịp nghe Trung nói: "Tôi phải gặp mẹ ông để tìm hiểu về cái chết của mẹ đẻ tôi", vì lý do tế nhị Hoàng buộc phải ra về, sau đó gặp lại ở quán cà phê… Khi đã phát hiện ra chân tướng thật của Trung thì không bao giờ muốn gặp lại nữa (trước đó hỏi về nghề nghiệp, lần nào Trung cũng bảo: Tự mở một công ty trách nhiệm hữu hạn, thu nhập bấp bênh và hoàn toàn không liên quan gì tới đám G7)…

Bạn Nguyên Cam nhắn tin: Hoàng tìm cách chụp ngay một tấm hình của Nguyễn Tất Trung và chuyển ra hải ngoại để mọi người có thể nhìn thấy đứa con rơi của ông Hồ, hy vọng "Đàn chim Việt" sẽ là nơi đầu tiên đăng ảnh Nguyễn Tất Trung cho toàn thế giới biết…

Điều này thật dễ lại thật khó, vì cả thế giới khi biết đến "tin mật" này trên mạng thì cánh "solôchôm" của chính quyền sẽ theo sát anh Trung từng bước và mạng sống của Hoàng rất có thể sẽ bị phơi trên "gác bếp" của Đảng ngay, chẳng thể "tung tăng" lên mạng mà tiếp tục gửi ảnh đâu. Hoàng đã nghĩ nhiều cách, kể cả nhờ các bậc bô lão vốn được anh Trung quý mến, tiếp đón niềm nở, nhưng họ cũng sợ lôi thôi với công an Việt Nam nên không dám chụp, đành chờ dịp khác vậy. Trong 4 triệu đồng bào Hà Nội, Hoàng nghĩ, nhất định sẽ có người thay Hoàng làm việc này, thậm chí cả quang cảnh quán cà phê "Bông giấy", cách bày biện trang trí trong nhà và cả gia đình anh Trung gồm chị Duyên và cháu Vũ Thành nữa.




Hoàng Thanh : “Chỉ với một nụ cười…”

 
       
 
Thân chuyển quý Bạn…
và Thân chúc một Lễ Tạ ơn…
Vui vẻ và ý nghĩa…
 
Thiều Vũ
 
 

  ( bấm vào file đính kèm, nếu như bạn không đọc được )





 

 

 




Thư Sinh : Một Tuần Tản Mạn

Bài viết đã được đăng trên tuần báo Tin Việt News số 725 phát hành ngày Thứ Sáu 16/4/2010 tại San Jose

Một Tuần Tản Mạn

 

VÀI SINH HOẠT TRONG THÁNG TƯ ĐEN

 

* Thư Sinh

 

Ở nước Mỹ, hình như tháng Tư dương lịch là một tháng tươi mát rực rỡ nhất trong năm, với muôn loài  thảo mộc đâm chồi nẩy lộc đơn hoa kết trái. Nhưng đối với người Việt lưu vong, tháng Tư lại nhuốm vẻ ảm đạm, với những tấm lòng trĩu nặng về dĩ vãng 35 năm về trước.

Riêng tại Thung Lũng Hoa Vàng, chúng ta ghi nhận được một số sinh hoạt liên quan đến tháng Tư đen tối này.

Trước hết, phải nói đến buổi ra mắt cuốn sách “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” của Song Nhị. Tuy mang tính cách văn học nghệ thuật, nhưng buổi RMS này cũng là một cơ hội để tác giả, Ban Tổ Chức, và quí vị yêu sách  đến với nhau, và cùng nhau hồi tưởng lại những năm tháng đầy đau thương tang tóc trên quê hương Việt Nam chúng ta.

Anh bạn trẻ Lê Văn Hải, trưởng ban tổ chức RMS, cho đó là một “sinh hoạt văn học nghệ thuật nổi lửa để tưởng niệm tháng Tư đen”. Lối ví von đúng lúc đúng thời đó đã đánh trúng tâm lý đồng hương, làm cho buổi RMS thành công tốt đẹp. Dù hôm ấy, ông Trời có sụt sùi bằng một cơn mưa dai dẳng, nhưng vẫn không làm nản lòng nhụt chí gần ba trăm người kéo đến hội trường Học Khu East Side.

Như vậy, về mặt nhân hòa, cộng với số sách tiêu thụ, chắc cũng đủ để làm ấm lòng tác giả Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Và có lẽ, ông Song Nhị còn lên tinh thần hơn nữa, khi nhận được email từ văn hữu Võ Ý, với những lời tỏ bày hết sức chân thành như thế này:

“Cá nhân chúng tôi đến tham dự RMS Nửa Thế Kỷ Việt Nam, không những để góp lời tán dương sức chịu đựng can trường và chí khí của con ngựa chiến Song Nhị, mà còn nhân thể để nói một lời tạ lỗi với anh là, chúng tôi cảm thấy xấu hổ vì đã lặng thinh không một lời bênh vực khi anh bị hàm oan. Chúng tôi tin rằng, tác phẩm máu lệ Nửa Thế Kỷ Việt Nam sẽ xóa tan những nghiệt ngã và mang lại nhuệ khí mới trên con đường phục vụ văn hóa và lý tưởng quốc gia dân tộc của nhà văn Song Nhị”.

Ông Song Nhị và Nhóm Cội Nguồn đã bị hàm oan ra sao trong vụ in ấn, phát hành hai cuốn sách của hai nhà văn quốc nội? Bài tản mạn kỳ trước, Thư Sinh tôi đã bàn đến khá đầy đủ rồi. Coi như “tin buồn văn học hải ngoại” đã kết thúc một cách có hậu, với sự nối kết đầy cảm thông và thân ái của hầu hết những người trong cuộc.

Tuy vậy, vẫn có một “văn hữu” còn ấm ức. Anh ta chuyển nỗi  ấm ức của mình, bằng cách… cầu trời mưa xuống, cho buổi RMS  phải  chịu cảnh…. ế độ!

Tôi không biết, đối với ban tổ chức buổi RMS và anh văn hữu hẹp lòng hẹp dạ kia, thì thành ngữ “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” đã rơi vào phía nào.

Xem ra, anh ta không được thiện tâm như ông Võ Ý, và không độ lượng như bà Cao Ánh Nguyệt, người đã trả lại sự thật cho Song Nhị, khi đăng đàn giới thiệu cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Bài giới thiệu cuốn sách của bà, nói theo cách Lê Văn Hải – đã “Nổi Lửa” cho buổi RMS và những người tham dự. Dù trong lúc hào hứng, ông bạn Lê Văn Hải đã có phần dành dân lấn đất trong bài diễn văn khai mạc, bà vẫn lên diễn đàn với thái độ tự tin, không cần nhìn vào bài viết sẵn, nói thao thao bất tuyệt. Thật đúng là gốc nhà giáo, có khác. Trong gần hai chục phút, bà đã chinh phục được cảm tình của gần ba trăm quan khách, qua những lý luận vững chắc, làm nổi bật toàn bộ nội dung tác phẩm Nửa Thế Kỷ Việt Nam.

Bảo rằng, tôi khen bà như thế, là quá đáng. Vì bản tính đám mày râu chúng tôi vốn sẵn “ga lăng” với phái nữ. Nhưng đến mấy bà trong nhóm văn nghệ Mây Hồng cũng khen bà một cách nhiệt tình, thì  sự ca ngợi đầy vô tư ấy, đã là một phần thưởng tinh thần cho bà rồi vậy.

Nhưng không phải chỉ có bà Cao Ánh Nguyệt là vị nữ lưu duy nhất đã “Nổi Lửa” trong tháng Tư đen năm nay. Vì gần cuối tháng, còn một sinh hoạt xem ra còn nổi lửa hơn nữa, cũng do một vị nữ lưu chủ xướng. Đó là cô Hoàng Mộng Thu, với chương trình văn nghệ mang chủ đề “Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”. Chương trình này sẽ được diễn ra vào lúc 2 giờ chiều ngày Thứ Bẩy 24 tháng 4, tại trường Trung Học Yerba Buena, số 1807 Lucretia Avenue, thành phố San Jose.

Qua lá thư ngỏ, cô Hoàng Mộng Thu đã tâm sự rằng: Kể từ sau 30 tháng Tư năm 1975, cô mới biết thế nào là sự hi sinh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa, cũng như sự tàn độc của chế độ Cộng Sản sau khi miền Nam rơi vào tay chúng. Do đó, từ khi qua Mỹ, cô đã tự nguyện tham gia vào nhiều sinh hoạt với các hội đoàn quân đội.

Riêng mùa Quốc Hận năm nay, được sự hổ trợ của một số hội đoàn quân đội, cô sẽ làm một chương trình văn nghệ dựng lại hình ảnh thân thương hào hùng của những người lính năm xưa. Bởi thế, khi nhìn vào tờ chương trình được phổ biến hạn chế, tôi thấy toàn là những bản nhạc lính và được hát bởi những người yêu lính, thương lính.

Có điều, chương trình văn nghệ đầy ý nghĩa này, lại hoàn toàn miễn phí. Vậy, Hoàng Mộng Thu và các bạn của cô lấy tiền đâu ra để mà thực hiện. Một thân hữu đã trả lời thắc mắc của tôi bằng một thái độ đầy lạc quan: Cô xin được từ các nhà hảo tâm một ít tiền. Từ nay cho tới ngày hát cho lính đó, chắc sẽ còn nhiều vị góp thêm. Hoặc cùng nữa, nếu có lỗ lã chút đỉnh, thì cô và các bạn sẽ gánh chịu.

Thiệt đúng là, cô Hoàng Mộng Thu này chịu chơi thiệt! Cô đã thổi một ngọn lửa, làm ấm lòng mấy anh chiến sĩ, và khiến cho ngày 30 tháng Tư năm nay bớt đi những nét ảm đạm.

Tết vừa qua, chị em Hoàng Mộng Thu cũng đã làm cho đám lính tráng chúng tôi tràn đầy niềm vui, với cái quán lính trong Hội Tết.

Và tôi biết, trong quá khứ, cô còn mang cả sự ấm cúng vào trong nhà tù dành cho mấy đám trẻ Việt Nam phạm pháp.

Ấy vậy mà, có một lần, cô đã thất bại: Cháu Michelle, đứa con gái đầu lòng yêu dấu của cô. Sau khi cháu Michelle qua đời, người mẹ can trường này vẫn tiếp tục theo đuổi cuộc vận động phong trào hiến tủy trong cộng đồng người Việt, nhằm cứu giúp những người chẳng may bị chứng bệnh ung thư máu, như cháu Michelle. Và khi tôi viết đến những dòng chữ này (ngày thứ tư 14 tháng 4 năm 2010) – thì cô Hoàng Mộng Thu đang điều trần trước lưỡng viện Quốc Hội tiểu bang California, để vận động cho một dự luật – theo đó,  tất cả những công tư chức tiểu bang nếu đi hiến tủy, hoặc hiến các bộ phận khác trong cơ thể – sẽ được hưởng lương trong ngày đi hiến tặng và những ngày nghỉ  dưỡng sức.

Cũng cần phải  nói thêm rằng, đạo luật này sẽ được áp dụng chung cho mọi sắc dân trên toàn tiểu bang.

Chúng ta hi vọng dự luật này sẽ thành luật vĩnh viễn. Đó là niềm an ủi cho một người mẹ mất con. Vì nếu được lưỡng viện quốc hội chấp thuận, đạo luật sẽ mang tên đứa con gái yêu dấu của cô: Michelle!

 Vì khi nói đến đạo luật Michelle, chúng ta sẽ liên tưởng đến một bà mẹ chiến đấu bền bỉ, một phụ nữ thích làm những việc xã hội. Nhưng có lẽ, ít ai biết đến một Hoàng Mộng Thu thật mềm yếu trong tình yêu lứa đôi. Tôi chợt nhớ và tìm ra từ trong tủ sách gia đình tập thơ mang tên “Những Vần Thơ Của Tỵ”. Tập thơ mỏng, gồm mấy chục bài thơ tuy không tên (tựa bài thơ), nhưng bài thơ nào cũng man mác nỗi buồn, về một cuộc tình dang dở. Chẳng hạn như những câu thơ sau đây:

”Xa anh rồi mưa trời làm ướt tóc

Không còn ai che tóc ướt trời mưa

Xa anh rồi mắt khóc ướt như mưa

Còn ai nữa? Lau mưa cùng mắt ướt”

 

“Em cắn lệ chia sầu trên đầu bút

Lời thơ đau sầu mọc ở trong tim

Bởi tại em hay thơ thẩn đi tìm

Tình sầu đắng vẽ lên thơ với mộng”

Tôi nghĩ, nếu tiếp tục làm thơ, cô xứng đáng được gọi là một thi sĩ. Bởi, so với những “thi sĩ” dang tiếp tục gia tăng một cách đáng ngại tại vùng Bắc Cali này, cô vượt trội hơn họ rất nhiềụ! Vì cũng như lão thi sĩ Hà Thượng Nhân, tôi rất thích những câu thơ đầy ẩn ý và đầy tính sáng tạo. Mà mấy câu thơ sau đây, là điển hình:

“Trái đào còn trên cây

Để vầng trăng nằm ngửa

Một cụm mây trắng bay

Đêm ngày cho qua bữa”.

Tập thơ đầy nữ tính như thế đấy. Nhưng lạ thay, trong lời tựa, Hoàng Mộng Thu chưa hẳn là một người lụy vì tình. “Vì dòng nước mắt cũng chảy từ hai lỗ trống, xuống ven cánh mũi, trên má, rồi mình quẹt đi” (Những Vần Thơ Của Tỵ – trang 4). Những giòng chữ sau đây, cho chúng ta thấy, cô hướng về tha nhân, hơn là cho chính bản thân mình:

“Tôi có những người bạn nghèo khốn trong thời niên thiếu, sống hay chết vẫn nằm trong trí nhớ, nằm trong trái tim tôi suốt cả một quãng đời.

Và tôi có những người em không quen, không thân, nhưng tôi vẫn xót xa khi nhìn thấy các em với những bản án pháp luật mà em vô tình hay cố ý phạm phải”.

“Những Vần Thơ Của Tỵ được phổ biến trong ngày lễ của Cha (Father’s day) 15-6-97 tại thành phố San Jose California, và để gây quỹ cho anh em Thương Phế Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, theo lời kêu gọi thống thiết của một thương phế binh (Ngô Duy Thế) đăng trên báo Thằng Mõ, trang 37, số tháng 4-1997”

Như vậy, tập thơ tình này đã biến thành tiền, để giúp anh em Thương Phế Binh. Và nếu tính từ số báo Thằng Mõ tháng 4-1997, cho đến tháng 4 năm nay – là đúng 14 năm. Cô Hoàng Mộng Thu vẫn giữ nguyên một tấm lòng chung thủy với những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Riêng chủ đề chương trình văn nghệ mang tên Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, làm tôi nhớ lại một chương trình văn nghệ khác cũng nói về lính, do Niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc thực hiện đã khá lâu. Chương trình này được quay thành video, mà lâu lâu mở ra xem lại, tôi vẫn cảm thấy thích thú. Vì tôi cũng là “diễn viên” trong cuốn video đó.

Năm nay, lần Quốc Hận lần thứ 35. Một con số có ý nghĩa. Nên niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc của chúng ta lại thực hiện một chương trình văn nghệ nữa, với chủ đề “35 năm nhìn lại”, sẽ được tổ chức vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật 23-5-2010, tại đại hí viện Center For The Performing Arts, thành phố San Jose. Căn cừ vào những điều niên trưởng Vũ Văn Lộc viết trên nhật báo Thời Báo, tôi cảm nhận dược tính chất tích cực trong chương trình văn nghệ có tầm vóc vĩ đại này.

Nếu đúng như vậy, thì tất cả những sinh hoạt liên quan đến ngày 30 tháng 4 năm nay, sẽ không còn mang vẻ u ám đen tối như những năm trước đây – Phải không bạn.

 

Thư Sinh




Giao Chỉ : Nhân lễ Chiến Sĩ Trận Vong Mỹ, nhớ Nghĩa Trang Biên Hòa

Kính gửi quí thân hữu

Ngày lễ Chiến sĩ Trận vong tại Hoa Kỳ năm nay (Memorial Day May 31-2010)

đối với chúng tôi có nhiều ý nghĩa đặc biệt.

Tôi có cơ hội được anh Chu Hải của VOA phỏng vấn về hiện trạng Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa.

Bài hỏi chuyện đã được in trên Web. của VOA và được phát thanh về Việt Nam.. Phần in trên Web của VOA trong hai ngày, trở thành một đề tài tranh luận rất nóng, và có số Email đóng góp ý kiến gửi về nhiều nhất. Một số thuộc phe cộng sản hay thân cộng thì không tán thành đề nghị Nghĩa Trang Biên Hòa trở thành khu di tích lịch sử quốc gia. Một số khác thì tán thành. Người trong nước cũng như hải ngoại đều có ý kiến tức giận hằn học hoặc hòa nhã, lịch sự. Ðiều quan trọng nhất là rất nhiều người tại Việt Nam đã nghe được nội dung của đề tài, nhân dịp 35 năm nhìn lại. Ghi nhớ các dữ kiện lịch sủ đã trải qua, trong ý nghĩa của chiến sĩ trận vong. Chúng tôi xin chuyển tiếp Email của VOA đến quí vị. Xin Click vào www1.voanews… sẽ đọc được nội dung đề tài, với rất nhiều tranh luận quốc cộng gửi đến đóng góp ý kiến. Quí vị cũng có thể tìm nghe trực tiếp bài phỏng vấn tên trang Web của VOA.

Ngoài ra, cùng chung một đề tài, xin gửi đến theo attach những tài liệu liên quan như sau:

1)    Hãy cứu lấy Nghĩa trang (Tổng kết về hiện trạng và Lịch sử Nghĩa Trang Quân đội Biên hòa.

2)    Tài liệu về đối thoại trực tuyến với thủ tướng VN năm 2007 bất thành.

Xin quí vị vui lòng đọc qua. Chúng tôi sẽ bắt đầu chiến dịch vận động với các dân biểu lần thứ hai trong năm 2010 và sẽ xin quí vị tiếp tay.

Trân trọng.

Vũ văn Lộc

 

 

Xin gui den anh bai vua dua len web:
 
Việt Nam Cập nhật Thứ Bảy, 29 tháng 5 2010 RSS Feeds RSS

Nhân lễ Chiến Sĩ Trận Vong Mỹ, nhớ Nghĩa Trang Biên Hòa

Vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 5, người Mỹ kỷ niệm lễ Chiến Sĩ Trận Vong, tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã hy sinh trên khắp các mặt trận kể từ sau cuộc nội chiến Nam Bắc 1860. Ngày này cũng là dịp để người Việt nhớ đến những người đã nằm xuống trong cuộc chiến vừa qua. Ông Vũ Văn Lộc, Giám đốc tổ chức IRCC ở San Jose, California trao đổi với VOA về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nơi vẫn còn 16.000 mộ phần quân nhân miền Nam vào tháng 4 năm 1975.

Tượng “Thương Tiếc” trước cổng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị giật sập sau 1975

Hình: IRCC

Tượng “Thương Tiếc” trước cổng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị giật sập sau 1975

Chia sẻ

Tin liên hệ

VOA: Xin ông cho biết sự liên hệ giữa tổ chức IRCC của ông và Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa?

Ông Vũ Văn Lộc: IRCC là cơ quan định cư của người di dân. Bên cạnh đó, tôi có thực hiện một viện bảo tàng thuyền nhân Việt Nam Cộng Hòa tại San Jose. Trong viện bảo tàng, tôi có nhu cầu thực hiện lịch sử và mô hình của nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thành ra cơ quan này là cái duyên của tôi.

Trước năm 75 tôi là một trong những người có liên hệ đến việc xây dựng nghĩa trang này, chúng tôi có theo dõi để biết các diễn tiến của nghĩa trang cho đến bây giờ.

VOA: Cách đây mấy năm, Thủ tướng Việt Nam đã ký quyết định dân sự hóa nghĩa trang này, quyết định này có ý nghĩa gì và kết quả cụ thể cho tới giờ này ra sao?

Ông Vũ Văn Lộc: Tôi nghĩ các ông ấy đã đến lúc phải làm nhưng tôi nghĩ biến thành nghĩa trang nhân dân thì chẳng đi đến đâu cả, bởi vì cái ý nghĩa quan trọng nhất là những người chiến binh miền Nam, khi người ta nằm xuống trong nghĩa trang đó, người ta không thể biến thành nhân dân được. Các ông ấy làm như vậy là lẩm cẩm, cho nên từ lúc đó chúng tôi đã yêu cầu nó phải là một di tích lịch sử của chiến tranh, vẫn luôn luôn là những ngôi mộ và nghĩa trang của phía quân lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy mới đúng.

Thực ra thì có vẻ như họ đã nhìn nhận có sự kiện đó, nhưng họ muốn bẻ ngoặt sang phía khác. Trên thực tế có một điểm như thế này: họ chưa có hành động tàn nhẫn là bốc đi chỗ khác hay là di tản.

Nếu đó là một nghĩa trang nhân dân thì sẽ giống như các nghĩa trang nhân dân khác trên đất nước. Có thể một ngày nào đó, nếu có nhu cầu muốn giải tỏa thì vẫn giải tỏa được. Nhưng nếu là một di tích lịch sử của chiến tranh để lại thì việc giải tỏa có thể không thể thực hiện được.

Thêm nữa, đã là nghĩa trang nhân dân thì sẽ theo quy chế của nghĩa trang thường, tức là ai muốn bốc mộ đem đi chỗ khác cũng được, muốn chôn thêm người vào đó cũng được. Như vậy chỉ độ vài chục năm sẽ có dân thường chôn ở đó; thế thì ý nghĩa của một nghĩa trang quân đội trong một thời kỳ chiến tranh hoàn toàn mất hết.

VOA: Cũng cách đây mấy năm, cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ cũng kêu gọi Việt Nam xét lại vấn đề Nghĩa Trang Biên Hòa khi ông ấy về Việt Nam, ông có ghi nhận kết quả nào về lời kêu gọi này hay không?

Một góc của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước năm 1975

IRCC

Một góc của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước năm 1975

Ông Vũ Văn Lộc: Tôi có theo dõi nhiều nhưng không thấy kết quả gì cụ thể cả, mà ông Kỳ không có một suy tính tham mưu khoa học đầu đuôi. Ông chỉ nói theo ngẫu hứng, theo nhu cầu chính trị và cá nhân. Ông ấy cũng chẳng biết trong đó còn lại bao nhiêu ngôi mộ, chia lô như thế nào, hoàn cảnh thực tế như thế nào.

Do nhu cầu nghiên cứu nên chúng tôi biết khi chúng ta bỏ nước ra đi năm 75 thì ở đó có 16.000 ngôi mộ, và do diễn tiến từng ngày một xảy ra thì bây giờ cũng còn vào quãng 11.000. Như vậy đang còn một số đất trống có thể chôn cất thêm được quãng bốn năm ngàn người nữa. Còn nhà máy nước Bình An thì bên cộng sản họ cho đóng vào ngay chính giữa khu nghĩa trang, làm cho con đường đi từ cổng nghĩa trang đi qua Đền Tử Sĩ tới Nghĩa Dũng Đài bị cắt ra. Xong họ mở một cửa hông nhỏ để cho mọi người vào thăm. Tính chất họ làm chẳng có gì gọi là đàng hoàng cả.

Vì thế tôi nghĩ ông Kỳ cũng chưa tạo được một ảnh hưởng gì và cũng không biết mình đòi hỏi cái gì cho đúng đắn và làm cái gì cho nó rõ ràng cả. Ông chỉ nói có tính cách chính trị mà thôi.

VOA: Ông vừa nói nghĩa trang bây giờ đã mở cửa cho mọi người vào thăm. Hiện nay việc thăm viếng này đã dễ dàng hay vẫn còn khó khăn như trước?

Ông Vũ Văn Lộc: Nói một cách công bình thì không khó khăn nhưng cũng rất lẩm cẩm. Chẳng hạn như không giống một nghĩa trang dân sự thực sự, nó vẫn tạo ra sự nghi ngờ và thân nhân vào thăm viếng không thoải mái, phải ghi tên, phải trả lời xem thăm ngôi mộ nào, ở đâu. Những cái đó không giống một di tích lịch sử mà cũng không giống một nghĩa trang thường.

Còn một điểm quan trọng nhất là bởi vì không có sự gìn giữ đàng hoàng nên có cây mọc giữa ngôi mộ, đường xá có cỏ mọc, thành ra tôi có một ước mong là chẳng cần xây cất bằng một ngân khoản lớn lao gì, chỉ cần giữ cho cây cỏ đừng tàn phá nghĩa trang; rồi nhiên hậu, lịch sử đến một giai đoạn nào người ở hải ngoại hay trong nước còn mồ mả thân nhân có thể có cơ hội chấn chỉnh cho đàng hoàng.

VOA: Mới đây, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa Trang Biên Hòa là chứng tích lịch sử quốc gia, ông nghĩ sao về đề nghị này?

Bia mộ hư hỏng của Hạ sỉ Lê Văn Cảnh

IRCC

Bia mộ hư hỏng của Hạ sỉ Lê Văn Cảnh

Ông Vũ Văn Lộc: Cái đó phải là một di tích của quốc gia. Đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Nam Bắc của Mỹ, hay bất cứ một cuộc chiến tranh nào, khi có một nơi tập trung chôn cất những tử sĩ như vậy thì đương nhiên nó phải là một di sản lịch sử của quốc gia.

Nhưng thực tình mà nói, cái này nó nằm trong Chính Trị Bộ, chứ còn Quốc hội thì tôi chả có hy vọng gì. Cái này phải do đảng cộng sản phải nhìn ra vấn đề rồi đến chính phủ phải làm.

Ở hải ngoại này mình phải vận dụng các chính phủ thông qua Quốc hội các nước thì mới có thể được, thành ra tôi cũng có biên thơ cho nhiều ông Dân biểu và Thượng nghị sĩ Mỹ, nói với họ bây giờ chúng tôi là công dân Mỹ, và đó là những mồ mả của thân nhân chúng tôi thì các ông phải lưu ý chứ. Nhưng lẽ dĩ nhiên vấn đề này chưa phải là ưu tiên của họ. Tôi ước mong toàn thể khối hải ngoại và cả người trong nước cùng nhau vận động, bởi vì kể cả các chiến binh đối phương của chúng tôi họ cũng phải nhìn nhận như thế.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc của Hoa Kỳ là một bài học về tính chất văn minh của một nước là luôn luôn phải tôn trọng những người chết, cho nên ba mươi mấy bốn chục năm sau thì tất cả những tử sĩ của miền Nam rải rác đều được đưa vào trong nghĩa trang quốc gia Arlington của liên bang chôn cất. Họ làm cũng đàng hoàng lắm. Việt Nam muốn học đòi văn minh thế giới thì cũng phải làm như vậy.

VOA: Theo ông, giải pháp lý tưởng đối với Nghĩa Trang Biên Hòa nên theo hướng giải quyết như thế nào?

Ông Vũ Văn Lộc: Bây giờ tôi nghĩ người cộng sản họ có những khó khăn nội tại, nhưng họ vẫn có thể tiến từng bước một. Thứ nhất là tuyên bố đó là di sản lịch sử quốc gia.

Thứ hai, các ông ấy phải di tản ngay nhà máy nước đá Bình An đang nằm chình ình ngay giữa nghĩa trang, làm sao một di sản quốc gia mà có một nhà máy chặn đường vào nghĩa trang được.

Thứ ba, không cần phải xây cất lại cho nó hoành tráng, chỉ cần giữ cho nó có căn bản để nhiên hậu những bước kế tiếp, có thể con cháu của các liệt sĩ đã chết từ từ sẽ làm lại.

Khi chúng tôi đi khỏi Sài gòn thì ở đó còn 16.000 ngôi mộ, bây giờ đã cải táng được ít nhất 5.000; và cũng còn một số đất trống nữa. Nếu theo đúng kiểu trên thế giới người ta làm, thì những liệt sĩ được chôn rải rác ở khắp nơi, khi tìm được thì họ đem vào cải táng ở đó.

Bây giờ những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa chết trong lúc bị tù cải tạo ở các nơi, nếu bây giờ muốn cải táng từ những miền xa xôi thì cũng phải được chôn ở đó. Lẽ dĩ nhiên, gia đình hay bạn bè có thể làm, không cần chính phủ cộng sản phải làm. Như vậy nó mới trở thành một di sản quốc gia một cách rõ ràng, thể hiện được tình người Việt Nam nói chung cho các thế hệ tương lai.

Cũng có thể ngay cả những người như chúng tôi có thể cải táng đem về chôn ở đó. Tôi cũng sẵn sàng rất mong khi tôi chết trở về nằm ở đó, giống như nhạc sĩ Nam Lộc đã đặt trong một bài hát “xin cho tôi một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi.”




Nguyễn Tài Ngọc : Xem Paris By Night 99: Tôi Là Người Việt Nam


Hi Friend,
Now you have an open mind after reading Topic 1 last week.  Please continue a good trend by reading a
new "fresh" viewpoint on this Topic 2.
May be you would not agree with the author on some aspects.  But I still hope that you have an enjoyable reading tonite.
  

Regards,
Albert Dong

=======================================

                     

                                         

Xem Paris By Night 99: Tôi Là Người Việt Nam

 

 

 

trung tướng Charles Rigault de Genouilly đem chiếc cửa Đà Nẵng

100 triệu đồng Việt Nam (khoảng $6000 dollars, nếu hối xuất 1 dollar = 16,500 đồng Việt Nam) :

http://www.sonca.com.vn/Default.aspx?Module=ShowNews&Ncid=3&Nid=27.

Một thấy Huệ Tông nhổ cỏ ở vườn, Thủ Độ nói:Nhổ cỏ thì phải nhổ Huệ Tông : Điều ngươi nói, ta hiểu rồi. Sau đó, tự tử ở sau vườn

Web:http://saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm




Phóng Sự Hội Thảo Tại Paris (03/10/2010)


Phóng Sự Hội Thảo Tại Paris (03/10/2010):
Tổ Quốc Lâm Nguy! Phụ Nữ Việt Nam Phải Làm Gì?
 
 
Đất nước Việt Nam là một mãnh giang sơn đầy bất hạnh. Kể từ ngày lập quốc tới nay, con dân Việt luôn phải chiến đấu để tồn tại và phát triển.
 
Trải qua chiều dài lịch sử ấy, vào những giờ phút sinh tử của đất nước, trang tranh đấu sử ghi lại không biết bao liệt nữ đã hiên ngang chung vai cho đại cuộc. Ở giai tầng nhận lãnh trách nhiệm gánh vác giang sơn, hai Trưng nữ đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc.
 
Tại giai từng thấp hơn, sử sách ghi dấu oai linh xông pha trận mạc của Bà Triệu, nữ tướng kỵ binh lỗi lạc Bùi Thị Xuân. Ở vào một qúa khứ không xa, cô Giang và cô Bắc để lại tấm gương can trường và hy sinh.


 
Vào thời VNCH, trong những « Hoa Lạc Giữa Rừng Gươm » nữ quân nhân của QLVNCH, liệt nữ Lê Thị Kim Lan bị CSVN xử bắn khi còn mang thai tại Gò Công, Trương Thị Hồng Phượng, oai hùng trước làn tên mũi đạn tại Phong Dinh, như Phù Đổng Thiên Vương tại tuyến đầu, phản công lấy lại an bình cho người dân, vào dịp tết Mẫu Thân.
Không kể bao nữ quân nhân của QLVNCH, đã phải vùi thân, không mãnh chiếu bọc thây, tại chốn lao tù của CSVN, nơi rừng thiêng nước độc.


 
Vào những thời điểm cần sức mạnh hợp quần để chiến đấu, dân tộc nầy đã có những phong trào tiên phong và nữ giới đã đóng vai trò quan trọng trong các phong trào ấy.
 
Phong trào Cách Mạng Quốc Gia hay Đoàn Công Dân của thời Đệ I Cộng Hòa của những năm 54-57, ra đời để hậu thuẩn chí sĩ Ngô Đình Diệm, trong công cuộc tạo lập thể chế dân chủ đầu tiên cho Việt Nam.
 
Liên Đoàn Công Giáo Nghệ Tỉnh Bình của những năm 51-53, được thành lập để tạo niềm tin cũng như hợp quần trước đe dọa của CSVN tại Liên Khu IV. Gần đây có phong trào quần chúng Giáo dân cầu nguyện đòi công lý tại TGP Hà Nội.
 
Tất cả những phong trào ấy luôn có một bộ phận chỉ huy cũng như điều hành chuơng trình hành động và có thể kiểm soát được, tuy còn tương đối, các thành phần thuộc phong trào, qua danh tánh hay dấu ấn nhận diện.


 Bác Sỹ Trần Đại Sỹ trình bày tham luận
 
Còn phong trào Dân Chủ Hóa Việt Nam hiện nay, tuy bề mặt được xem ra là một phong trào quần chúng rất rầm rộ, trải rộng từ quốc nội tới hải ngoại. Nhưng không có ban lãnh đạo cũng như thiếu hẵn một cơ cấu như những phong trào kể trên. Nên gặp phải nhiều rắc rối trong hành động. Hơn nữa trong tình cảnh vàng thau lẫn lộn, cuối cùng không biết ai là nhà Dân Chủ đích thực và ai là CS trá hình để đánh phá.
 
Đó là lý do chính trong các lý do khác, thúc đẩy một số chị, giòng giống hào kiệt với chí hiên ngang, nặng lòng cho quê hương đang chìm đắm trong bạo tàn của CSVN, noi gương hai Trưng Nữ của năm 39 sau Chúa Giáng sinh, đứng ra thành lập:”Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Hành Động Cứu Nước” và ra mắt tại Pháp vào ngày 04/10/2009.
 
Đúng một năm sau ngày thành lập, vào ngày 03/10/2010 tại địa điểm nhà thờ St. Hyppolyte, 27 Ave. de Choisy, 75013 Paris, phong trào tổ chức cuộc hội luận với chủ đề: Tổ Quốc Lâm Nguy! Phụ Nữ Việt Nam Phải Làm Gì?
 
Một Chuyến Khăn Gói Lên Đường Về Paris Ủng Hộ Các Chị


 
Dien Gia & Ban Tổ Chức Hội Luận

Sau khi thông cáo của các chị xuất hiện trên các diễn đàn tự do Yahoo Groupes, bần hạ gửi ngay một E-mail ủng hộ và hứa sẽ về Paris trong ngày ấy. Ngay sau đó, chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, một trong số các chị
Sáng lập phong trào và đương kim chủ tịch của phong trào, phúc đáp và bày tỏ hy vọng có sự hiện diện của bần hạ trong ngày ấy. Tuy bần hạ rất quen thuộc Paris, nhưng chị Ngọc Hạnh sốt sắng và ân cần loan báo cho bần hạ biết sẽ có vài chị ra đón tại sân bay. Còn nỗi gì có thể vuốt ve hơn, khi được các chị ra đón.


Thành Phần Tham dự Hội Thảo
Bần hạ khăn gói lên đường từ sáng sớm, vào lúc 6 giờ 30 phút của ngày 02/10/2010, để kịp chuyến bay và lận theo món thổ sản của Thụy-Sĩ làm qùa. Nhưng tại sân bay Charles De Gaulle, bần hạ và chị Thu Sương có nhiệm vụ ra đón, không tìm ra nhau.
 
 
Những Đặc Thù Của Buổi Hội Thảo
 
Tuy số người tham dự hội thảo khoảng 200. Nhưng họ tới từ nhiều quốc gia khác nhau cũng như nhiều chính đảng và hội đoàn khác nhau:
 
Chị Trần Thị Hồng Khương, phát ngôn viên của phong trào từ Philadelphia Hoa Kỳ. Ls Nguyễn Thành, điều phối viên ủy ban Công Lý Hòa Bình cho HS/TS, từ Hoa Kỳ. Chị Đặng Thị Danh, chủ tịch Cộng Đồng Quốc Gia Montréal, Gia Na Đãi. Chị Phan Thị Liên Anh, cơ sở phong trào phụ nữ Edmonton, Gia Na Đãi. Chi Bich Thuy & Nhat Hien Hội Phụ Nữ và phái đoàn Đức quốc. Chị Thái Thanh Thủy, đại diện đảng Thắng Tiến, từ Đức quốc. Chị Nguyệt Hương, Đại Việt Quốc Dân đảng, từ Hòa Lan, Anh Thiên Vân, đại diện Việt Nam Quốc Dân đảng, từ Đức quốc.
 
Ts Nguyễn Bá Long và Phong Trào Hiến Chương Năm 2000. Niên Trưởng Nguyễn Quang Tạ, Hội Trưởng Hội Hải Quân Trần Quang Khải, Philadelphia. Ông Nguyễn Quốc Phục Việt, Phong Trào Tự Do Cho Việt Nam, từ Hoa Kỳ. Niên Trưởng Nguyễn Lợi, TTĐHTTCS, từ Gia Na Đãi. Bs Phan Khắc Tường, chủ tịch Cộng Đồng người Việt Quốc Gia Paris và vùng phụ cận. Thiếu Tá hải quân Đặng Vũ Lợi và Hội Hải Quân Hàng Hải VNCH Paris. Niên Trưởng Nguyễn Thanh Ngọc đại diện Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ Âu-Châu. Niên Trưởng Nguyễn Lợi đại diện Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ Gia Na Đãi. Đại diện của Tồ Chức, Hội Đoàn, Cộng Đồng người Việt Tự Do tại Pháp. Bs Nguyễn Quốc Nam, Liên Minh Dân Chủ.Cô Cao Kim Hậu, đại diện 3 phong trào kết hợp, từ Gia Na Đại. Thu Sương MC.
 

 
Ngoài ra còn có sự hiện diện của: Bs Tôn Thất Sơn, nhân sĩ hổ trợ phong trào PNVNHĐ từ Na Uy, Bs Trần Đại Sỹ , Bs Phan Minh Hiển Paris, Bs Nguyễn Ngọc Qùy Paris, ông bà Nguyễn Thanh Ngọc, Ông bà Dược Sỹ Phạm Đăng Lý, Nhà Văn Nguyễn Việt Nữ từ California và một số nhân sĩ khác. Đặc biệt, Hòa Thượng Thích Không Tánh và TT Thích Thiện Minh, nguyên Tổng Vụ Trường, Tổng Vụ Thanh Niên GHPGVNTN, nguyên Hội Trường Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam tại quê nhà, gửi bài góp ý và chúc mừng.
 
Một Số Hình Ảnh
                                                      
 
 
Hội Thảo Thông Qua Các Đề Tài
 
Đúng như chương trình đã gửi liên quan tới các thuyết trình, sau lời giới thiệu cũng như chào đón nồng ấm của chị Nguyễn thị Ngọc Hạnh gửi tới quan khách, chị Trần Thị Hồng Khương tường trình một năm hoạt động của Phong Trào. Kế tiếp Bs Trần Đặng Sỹ thuyết trình đề tài: “Tinh thần Trưng Vuơng trong lịch sử Việt Nam”. Đề tài “Hà Nội đang toan tính dâng HS/TS cho Bắc Kinh qua luật biển LHQ” do Ls Nguyễn Thành trình bày, thu hút mãnh liệt chú ý của cử tọa.
 
Sau các thuyết trình ghi trên,các Vị Nữ Lưu: Đặng Thị Danh,Phạm Thị Nga Đại Diện Hội Phụ Nữ tại Đức quốc,Thái Thanh Thủy đảng Thăng Tiến,Bà Nguyệt Hương Đại Việt Quốc Dân Đảng, Ông Thiên Vân Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại diện Hội Đoàn, Tổ Chức, đến từ các quốc gia phát biểu.
 
 
Trước khi bế mạc hội thảo kéo dài từ 3 giờ tới 7 giờ tối, một hội luận giữa cử tọa và Ls Nguyễn Thành,Trần Đại Sỹ,Hồng Khương, Ngọc Hạnh và một số nhân sỹ được ban tổ chức mời để trao đổi ý kiến. Lúc chia tay, các thành phần tham dự rất mến mộ các chị của Phong Trào và như lưu luyến. Sau đó các Chị mời một số thân hữu ra quán dùng cơm tối, do các chị khoản đải .
 
Những Cảm Nghĩ Về Phong Trào và Lời Chúc
 
Những Cảm Nghĩ
 
Cuộc đấu tranh cho Dân Chủ Hóa Việt Nam cần yếu tố hợp quần. Hợp quần tới từ Phong Trào và chính đảng.
Các chính đảng hiện nay luôn có một lãnh đạo và một tổ chức. Tuy lãnh đạo và tổ chức thế nào lại là vấn đề khác.
 
Nhưng phong trào Dân Chủ hóa Việt Nam còn ở trong trạng thái thiếu tổ chức tổng quát. Nên không thể kiểm soát được các thành phần cũng như thiếu một chương trình hành động ở thế tích cực cũng như theo thời điểm.
 
Nên rơi vào một trạng huống vàng thau lẫn lộn, cảnh quân mình đánh lính ta đã xảy ra, làm rối loạn và gây tăm tiếng không hay cho Phong trào Dân Chủ hóa VN.
 
Hơn nữa phải theo chiến thuật Domino. CSVN đánh tới đâu, ta đỡ tới đó. Nên không nắm đựợc phần chủ động của thế tấn công.
 
Đề bổ khuyết vấn nạn ấy, Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước ra đời. Có một lãnh đạo và có khả năng kiểm soát các thành phần.
 
Với cải tổ mới mẻ ấy và có tổ chức có thể kiểm soát các thành phần giống như một chính đảng, nên Phong Trào Phụ Nữ Hành Động cứu nước nằm giữa Phong Trào và chính đảng. Đó là nét đặc biệt của Phong Trào nầy. Từ đó, nếu vấn đề CSVN chung vào phá hoại hay dùng nhân danh để tấn công các nhà Dân Chủ khác được xem đã giải quyết trên lý thuyết.
 
Vấn nạn hiện nay là các chính đảng, tuy cương quyết chống cộng,nhưng chưa ngồi lại với nhau đựơc để tạo thế liên hòan hành động.
 
Trong Hội thảo vừa qua tại Paris do Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước, các chính đảng, tuy chưa hầu hết tất cả các chính đảng, đã gửi đại biểu về tham giữ. Một khích lệ lớn lao.
 
Tại điểm nầy, khách bàng quan thầm nghĩ là các Chị của Phong Trào là những xúc tác tạo hợp quần của các chính đảng trong tương lai. Sự thật hay hy vọng? Nếu các Chị thành công việc nầy. Một đóng góp cho thắng lợi không phải là nhỏ.
 
Lời Chúc
 
Thành phần nữ giới hay “Phái Yếu” trong xả hội chiếm khoảng 50%. Một lực luợng quan trọng trong các cuộc đấu tranh. Để bù trừ mặc cảm bị gọi là “Phái Yếu”, Thượng Đế ban riêng cho phái nầy “Một Trực Giác “ khủng khiếp và trực giác nầy rất hữu dụng trong công cuộc giải thể CSVN.
 
Hơn nữa ngày nay, thế giới đã bắt đầu nhận thấy tài ba chính trị của một số nhân vật, thật lỗi lạc, xuất thân từ phái yếu nầy. Nên khi các Chị Phụ Nữ VN đứng ra lập Phong Trào nầy, thời nên xem đó là một điềm báo nữ giới đã vào tham chiến và ngày thắng lợi sẽ tới không xa.
 
Tuy mới ra đời chỉ vừa một năm, một Phong Trào được cưu mang trong các đột biến vừa qua tại quê nhà, sinh ra trong đe dọa của xâm lăng nhà Hán, đang lớn lên trong phá hoại của CSVN và chia rẽ của các chính đảng, phải phát triển trong thiếu thốn, nhưng không vì thế mà Phong Trào sẽ không trưởng thành nay mai.


Các chị của Phong Trào đang cần sự ủng hộ nhiệt tình của tất cả các chiến hữu Dân Chủ và của toàn dân, nội cũng như ngoại. Xin ơn trên phù hộ các Chị.

Thụy-Sĩ
Những ngày đầu thu 2010.
Tiến Sỹ Hồng Lĩnh