Lan Phương : CHÚNG TÔI KHÔNG NGÂY THƠ

CHÚNG TÔI KHÔNG NGÂY THƠ

Ngày hôm nay, suốt hơn bốn tiếng đồng hồ biểu tình và một tuần trước đó, chúng tôi đã nhận được nhiều lời khuyên răn, nhắc nhở. Có lẽ phải viết cái note này gửi tặng quý vị.

Trước ngày biểu tình, trên nhiều diễn đàn, FB của các cá nhân, FB của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có nhiều người khuyên răn không nên biểu tình. Họ cho rằng đó là lời xúi giục của Việt Tân. Dạ xin thưa, ở xứ này, hiếm hoi lắm trên báo chí mới thấy từ “Việt Tân”, còn hai từ “tàu lạ” thì xuất hiện liên tục. Và chúng tôi xuống đường vì chúng tôi không chấp nhận hành vi xâm lược của Trung Quốc, chủ nhân của những chiếc “tàu lạ” đó. Nhiều anh chị cũng cho rằng chúng tôi bị bọn xấu lợi dụng, kích động. Cảm ơn anh chị đã lo cho chúng tôi. Chắc anh chị nghĩ chúng tôi dễ bị nhồi sọ quá. Mà anh chị cũng quên rằng ngoài cái đầu, chúng tôi còn có trái tim, còn biết xót xa khi nhân dân mình bị bắn chết ngoài biển Đông. Chúng tôi không thể để trái tim mình nguội lạnh bằng cách ngày ngày cầu nguyện: “tiền, chứng khoán, xe hơi, nhà lầu, túi xách, giày dép”.

Khi chúng tôi xuống đường, mấy chị của hội liên hiệp phụ nữ liên tục khuyên răn. “Chuyện đó của nhà nước lo. Mấy em về đi. Biểu tình thì phải do nhà nước tổ chức chứ!” Dạ thưa các chị, cái Thành Đoàn nằm chành ành bên Phạm Ngọc Thạch, nhà Văn hóa Thanh niên cũng nằm kế đó, cách lãnh sự quán Trung Quốc có vài chục bước chân thôi ạ. Bao nhiêu năm qua, đã có lần nào Thành Đoàn tổ chức cho chúng tôi một cuộc biểu tình chưa? Nếu có chăng là treo cờ sau xe, cùng Đàm Vĩnh Hưng làm từ thiện, uống trà xanh không độ thôi. Kiểu biểu tình ấy, chúng tôi xin nhường cho Thành Đoàn. Chúng tôi làm phận sự một công dân, khi thấy kẻ thù xâm lược, chúng tôi phải lên tiếng. Chúng tôi có nhảy qua Singapore làm thay việc của tướng Vĩnh đâu mà quý vị phải lo. Khuyên răn không được thì các chị chuyển sang điều tra coi ai là kẻ cầm đầu cuộc biểu tình này. Với suy nghĩ các chị, hành vi biểu tình vô vụ lợi, nhiều nguy cơ như chúng tôi hẳn phải có lợi lộc gì đó mới đi, hoặc có kẻ nào xúi giục xúi dại thì mới vác xác ra đường. Hồi nào tới giờ, tôi nghĩ các chị bị tẩy não, ai dè các chị còn bị thay máu nữa.

Trên FB của tôi, có bạn khá giàu có, lấy chồng tây, đi xe hơi, ăn cheese cake, uống rượu vang lên than vãn. Biểu tình đã khiến các bạn ấy không đi spa được, không tập gym được, kẹt xe, biểu tình làm ảnh hưởng đến các bạn. Dù bạn nói đùa hay nói thật, tôi cũng thấy shock. Và tôi hiểu ra, với các bạn, ông chồng ngon, cái xe lành, nhà penthouse và rượu vang chất chồng thì cũng khó để các bạn từ bỏ mà xuống đường biểu tình. Và bởi chưng, các bạn tự thấy mình không liên quan gì đến hành vi xâm lược Trung Quốc, ngư trường đánh bắt của ngư dân. Nếu ngày mai Trung Quốc không ở biển Đông nữa mà tràn vô Sài Gòn, các bạn cũng vẫn ấm thân. Các bạn có thể đi Mỹ do gia đình bảo lãnh, đi Châu Âu theo chồng con và tiếp tục cuộc đời cheese cake, rượu vang, gym, massage, spa, chồng tây. Các bạn quên rằng các bạn vẫn ăn cá, ăn nước mắm. Con các bạn ăn cơm ở Việt Nam. Ai trồng lúa, ai bắt cá, ai làm nước mắm cho bạn và con bạn ăn vậy?

Người được “khinh bỉ” nhất trước khi biểu tình có lẽ là Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp. Với công văn cấm sinh viên đi biểu tình, nổi nhục này của ông Hiệu trưởng không biết bao giờ mới rửa nổi. Nhưng không sao, ông không lẻ loi. Ở cuộc biểu tình hôm nay, cùng đứng bên ông còn có giảng viên trường ĐH KHXH và NV, cùng vị tướng Hải quân nữa. Những người đáng tuổi cha chú của chúng tôi đứng đó, lặp lại những điều bà Phương Nga đã nói (có khi bà Phương Nga cũng lặp lại của ai đó, tôi đoán vậy). Thưa các thầy, chúng tôi nghe đủ rồi. Các thầy cứ nói, cứ thuyết, rồi được gì? Các thầy sẽ lên chức ư? Hay được khen đã có công giải tán biểu tình? Các thầy ạ, các thầy già rồi, thế cũng đủ cho một đời danh vọng rồi. Tôi không biết ngày đầu tiên cắp sách đi dạy, các thầy đã hứa với lòng mình điều gì? Đào tạo một thế hệ tài đức hay đào tạo một thế hệ hèn nhát? Thầy muốn chúng tôi học Đại học xong, ôm đống kiến thức cũ mèm đó đi làm mướn và cắm cúi làm mướn trọn đời, đừng ngước mặt lên, đừng nhìn xung quanh mình làm gì. Nếu Trung Quốc đến cảng Sài Gòn, chắc thầy vẫn còn ra rả khuyên chúng tôi về đi, họ mới ở cảng Sài Gòn, đã vào Dinh Độc Lập đâu mà sợ. Giờ thì tôi sợ thầy rồi đó!

Sáng nay khi chúng tôi xuống đường, những người từng tham gia biểu tình năm 2007 hoặc bị mời đi uống trà, hoặc bị canh gác. Họ còn phá sóng điện thoại tại khu vực biểu tình. Tôi nghĩ họ sai rồi. Tình yêu nước không truyền qua đường truyền internet hay điện thoại di động. Nó ăn trong máu chúng tôi rồi, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù nhạc sĩ Tuấn Khanh, nhà thơ Trần Tiến Dũng, nhà thơ Bùi Chát có bị đuổi ra khỏi Sài Gòn, chúng tôi vẫn xuống đường. Chúng tôi xuống đường vì ông nội tôi từng là cảm tử quân, giờ chỉ có mộ gió. Chúng tôi xuống đường vì xung quanh chúng tôi, ai cũng có cha, chú, ông, bà đổ xương máu cho đất nước này. Chúng tôi xuống đường vì chúng tôi không chấp nhận hành vi ngang ngược của chính phủ Trung Quốc. Cách hành xử hàm hồ của họ có thể thành công ở Trung Quốc nhưng nó chắc chắn bị phản đối ở Việt Nam. Tôi thật nể phục một anh trung niên người miền Trung khi anh ta đặt câu hỏi cho những anh công an: “Nếu chiến tranh xảy ra, ai sẽ là người cầm súng đánh kẻ thù? Chúng tôi hay các anh? Để bảo vệ ai? Bảo vệ con tôi, và con của các anh nữa!”

Cuộc biểu tình sáng nay tan từ trưa cũng nhờ vào phần lớn công lao chia rẽ nội bộ của mấy anh chị Thành Đoàn. Có thể nói dù không lãnh đạo thanh niên đi biểu tình nhưng Thành Đoàn rất xuất sắc trong việc dẫn dắt anh em ra về. Viết đến đây, tôi thấy rùng mình khi nghĩ về một cái vòng lẩn quẩn. Một sinh viên sau khi ra trường, hoặc làm cho Thành Đoàn rồi leo lên chức Bí thư Đoàn và mang theo đống tư duy ấy. Già rồi thì chắc lại ra thuyết phục thanh niên như bác tướng Hải Quân kia. Hoặc là tốt nghiệp xong rồi được giữ lại trường, lại thành ông giảng viên trường Nhân văn hoặc ông Hiệu trưởng trường Công nghiệp.

Ối giời, thế thì tôi còn mong chờ gì ở quý vị nữa!

von Lan Phương, Sonntag, 5. Juni 2011 um 19:09

Nguồn: http://www.facebook.com/notes/lan-ph%C6%B0%C6%A1ng/ch%C3%BAng-t%C3%B4i-kh%C3%B4ng-ng%C3%A2y-th%C6%A1/10150333285888504 

Những link biểu tình chống Trung Cộng

Video này thật tuyệt! Người dân lý luận với công an về việc chống TQ:
http://www.youtube.com/watch? v=DEAGaRjZ1M4

Phần 1 – CA ngăn chặn người dân biểu tình:
http://www.youtube.com/watch? v=akV_k0h6IWQ&NR=1

Ông thầy này không thể thuyết phục sinh viên:
http://www.youtube.com/watch? v=FJwZ-uaxoZs

http://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1

http://www.facebook.com/media/set/?set=a.220497987974052.64605.100000415584390

http://www.facebook.com/vt4democracy 

Cách Mạng Hoa Lài Đang Diễn Biến Tại Việt Nam

 
Qúy vị hãy vào trang nhà Cách Mạng Hoa Lài trên, để có thể chứng kiến những hình ảnh video clips hào hùng của thanh niên sinh viên Việt Nam, xuống đường Chống Giặc Tàu Xâm Lược tại Sài Gòn và Hà Nội vào ngày 5/6/2011 vừa qua. Theo những hãng thông tấn Reuters, AP, AFP, số người tham dự cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn chỉ vào khoảng vài trăm, chắc các ký gỉa này làm biếng, ngồi trong quán cà phê rồi đưa tin qúa. Nhưng nếu qúy vị coi lại những hình ảnh video clips, sẽ có thể biết ngay sự thật, con số người tham dự cuộc biểu tình có thể lên đến trên 10.000 người tại Sài Gòn, như bản tin ước lượng của Đài Á Châu Tự Do (

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/anti-china-demonstration-update-mlam-06052011115102.html) là chính xác, cuộc biểu tình tại Hà Nội khoảng 2 ngàn người và ở Sài Gòn gấp 5 lần, tức 10 ngàn người, theo những hình ảnh video clips được ghi nhận, có thể con số còn cao hơn. Những đoạn phim tuyệt vời từ trong nước được gởi ra đã cho chúng ta có thể khẳng định: Bắt đầu một cao trào cho cuộc Cánh Mạng Hoa Lài đang diễn biến tại Việt Nam.
 
Vài năm trước đây, chế độ Nguyễn Tấn Dũng đặt mua từ Nga 6 chiếc tàu ngầm, trị gía đến 1.8 tỉ USD, và 12 chiếc máy bay Sukhoi trị gía 600 triệu USD với mục tiêu bảo vệ đất nước, lãnh thổ. Thật ra, làm sao chúng ta biết gía cả đích thực của nó là bao nhiêu, chỉ thấy mất đi 2.4 tỉ USD. Thí dụ thôi nhá, Dũng có thể đưa gía lên cao 2.4 tỉ USD, nhưng khi trả tiền, Dũng chỉ trả có 2 tỉ USD thôi, còn 400 triệu USD bỏ túi, ai biết được. Cách làm ăn này, rất thông dụng trong hệ thống làm ăn của các cán bộ nhà ta, bằng chứng điển hình là vụ Vinashin, 90 ngàn tỉ đồng, tức 4.5 tỉ USD bay mất, chỉ còn lại là những con tàu cũ, như một đống sắt vụn. Sự thật, những vũ khí như tàu ngầm, máy bay, chỉ là những vũ khí phụ, vũ khí chính yếu vẫn là sự đoàn kết toàn dân, của hào khí Diên Hồng trong lịch sử, đã chứng minh, biết bao nhiêu trận, dân ta đều oanh liệt chiến thắng quân Tàu. Và giang sơn gấm vóc này, đã được gìn giữ cho đến ngày hôm nay, lại bị phá nát trong bàn tay của những chế độ CS vừa qua, khi đất nước bị mất dần những phần lãnh thổ, lãnh hải… về tay Giặc Tàu.
 
Trong suốt 36 năm qua, chúng ta chưa bao giờ thấy được một cuộc biểu tình vào khoảng 10 ngàn người ở Sài Gòn như thế. Đây là một biến cố lớn có thể được ghi vào lịch sử. Cuộc biểu tình được xem như tự phát. Gần như tất cả các tổ chức đấu tranh, và các trang mạng, trang blogs cá nhân, đều đồng lòng chuyển tải cùng ngày, cùng giờ và cùng địa điểm biểu tình. Đoàn biểu tình xuất phát từ những nhóm nhỏ, đã đi khắp nhiều nơi trong thành phố Sài Gòn, đi đến đâu dân theo đông đảo đến đó. Một vài lá cờ đỏ sao vàng, một vài chiếc áo mang cờ đỏ sao vàng, có một vài người mang tấm hình Hồ Chí Minh, rồi cũng có những bài ca được hát vang lên: "Việt Nam – Hồ Chí Minh"… Đấy, những tuổi trẻ hôm nay vẫn còn ôm giữ lá cờ đỏ sao vàng, ôm hình HCM, rồi còn ca vang bài hát tôn sùng HCM. Đấy, toàn là biểu tượng cộng sản đấy, ấy thế mà dường như những tên cầm quyền đã run sợ đến té…, dzui thiệt, kể cả những tên công an quèn đang thi hành những chỉ thị của cấp trên. Qủa là một tuyệt chiêu, tuổi trẻ hôm nay thật sự đã trưởng thành, mỗi khi sắp bị công an tấn công, chúng ta nghe tiếng hô vang mãnh liệt:  "Việt Nam – Hồ Chí Minh", hay "Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng" đã làm mấy anh công an cuốn quít lên, mở những barriers (vật cản) cho đồng bào vào khu vực biểu tình, dzui thiệt. Khốn nạn thay cho lá cờ búa liềm của Đảng, lấy từ Liên Sô về, dzui thiệt, chẳng thấy ở đâu, có lẽ nó muốn vất vào thùng rác theo Liên Sô rồi.
 
Chúng ta hãy lắng nghe thanh niên trả lời tên trung tướng Phó Đô Đốc Đỗ Xuân Công, Tư lệnh Binh Chủng Hải Quân, kiêm Ủy Viên Trung Ương Đảng ra sức chiêu dụ tuổi trẻ bằng những lời nói vô cùng nhục nhã như (http://www.youtube.com/watch?v=giJcu5QPA_0)
 
– Chúng ta đấu tranh bằng thương lượng, hòa bình, và đàm phán… để ổn định, phát triển… Chúng ta biểu tình đến đây là đủ thể hiện lòng yêu nước rồi… xin các em giải tán.
 
Lời nó hèn nhát của tướng Công đã bị thanh niên phản đối dữ dội.
 
Thực ra, mục đích lưu manh của tên trung tướng này và của một ông giáo sư nữa, là mong sao câu giờ để bọn công an được huy động tới bao vây khu vực biểu tình, và đã giải tán được cuộc biểu tình. Ai lại không muốn đất nước hòa bình ??? Nhưng vừa phải thôi chứ, có khi cần phải tìm hòa bình trong chiến tranh, tướng Công dư biết điều đó mà. Cái kiểu nói chuyện của tướng Công nó giống y hệt như một con rùa rút cổ, còn rút luôn cả cái đuôi. Lòng yêu nước còn phải có giới hạn à, tại sao chỉ yêu nước đến đây là đủ ??? Ai mà nghe cũng muốn tát vào mặt ông tướng Công này. Lòng yêu nước của chúng tôi không đủ đâu, phải tát cho ông một cái tát để ông hiểu được lòng yêu nước như thế nào. Những thanh niên đã khí khái phản đối bằng những lời hét to:
 
– Tại sao Trung Quốc cứ bắn phá tàu đánh cá của VN ???
– Lúc đó Hải Quân Việt Nam ở đâu ???
– Nói quan tâm, mà không làm gì hết.
– Dân Việt Nam chết ông có biết không ???
 
Toàn là những câu bắt bí ngay vị tướng Công này. Làm sao tướng Công có thể trả lời được, đâu phải sự việc chỉ xảy ra từ ngày hôm nay. Sự việc đã lập đi lập lại hàng trăm lần, kể từ 2005, ngày 8 tháng 1, tàu chiến của Giặc Tàu đã giết hại 9 ngư dân của Việt Nam, có một con tàu bị truy sát tới trên 400 vết đạn, không biết ông tướng Công có còn nhớ chăng ???
 
Rồi ông giáo sư hiệu trưởng trường Đại Học Khoa Học và Phổ Thông kia, cũng cầm loa kêu gọi các thanh niên giải tán, cũng với ý nghĩ tương tự (http://www.youtube.com/watch?v=FJwZ-uaxoZs&NR=1):
 
– Chúng ta phải đấu tranh bằng con đường ngoại giao… dựa vào luật pháp quốc tế… Lòng yêu nước của các em tới đây là đầy đủ rồi.
 
Phải nói tên giáo sư này lưu manh thiệt, nếu gọi rằng Nhà nước CS muốn dựa vào luật pháp quốc tế, tại sao Việt Nam không kiện Tàu Cộng ra trước Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, trong khi đó VN làm Chủ Tịch Hội Đồng Luân Phiên của LHQ ??? Toàn là những luận điệu láo khoét để lường gạt thanh niên, nhưng đã bị thanh niên phản đối quyết liệt.
 
Ngoài ra qúy vị nên thưởng lãm những video clips sau, để thấy những giòng máu nóng chạy rần trong cơ thể, đôi hình ảnh có thể làm cho qúy vị xúc động và có thể bật khóc:
 
http://www.youtube.com/watch?v=akV_k0h6IWQ (Sức Mạnh Của Dân, người dân đã xô hàng rào cản trở vào Tòa Lãnh Sự Tàu Cộng tại Sài Gòn)

http://www.youtube.com/watch?v=ycLTxxxWr6U&NR=1 (Không Bao Giờ Chịu Khuất Phục, đoạn video này quay cảnh một anh thanh niên khỏe mạnh đòi quyết tử bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa)

 
http://www.youtube.com/watch?v=DEAGaRjZ1M4&NR=1 (Hoan Hô Các Anh Công An, ở đoạn video đặc biệt này, qúy vị sẽ thấy người dân đã chiêu dụ các anh công an mở rào cản. Rải rác trong phim, qúy vị thấy những anh sỹ quan công an mang cấp tá (2 gạch), cấp úy (1 gạch), đâu có khác chi Cách Mạng Hoa Lài ở Tunisia, ở Ai Cập, những người an ninh đứng về phía người dân)
 
Cuộc biểu tình ngày 5/6/2011đã bị giải tán, nhưng dư âm, hay hậu chấn của nó, chẳng khác nào một hỏa diệm sơn, chựt chờ có cơ hội là sẽ bộc phát mãnh liệt. Ngày hôm nay, đã có nhiều trang mạng đăng tải "Toàn dân tiếp tục biểu tình vào ngày 12/6/2011. Làm người Việt Nam, chúng ta hãy tích cực loan tin này cho toàn thể đồng bào được biết, bằng mọi hình thức, truyền đơn, qua các trang mạng Facebook, Multiply, Twitter, điện thoại… Mỗi người một tay, không ai lãnh đạo ai, hãy nắm tay nhau xuống đường Chống Giặc Tàu Xâm Lược để giành lại những phần đất đai, hải đảo và lãnh hải của Việt Nam đang bị mất.
 
Xem chừng cuộc xuống đường biểu tình 12/6/2011 này sẽ mãnh liệt hơn gấp bội, xảy ra tại bất cứ địa điểm nào, không nhất thiết phải ở Tòa Lãnh Sự và Tòa Đại Sứ Tàu Cộng, và cũng có thể nhiều tỉnh lớn cũng sẽ bộc phát những cuộc biểu tình tương tự.
 
Ngày 6 tháng 6 năm 2011
Xin phổ biến tự do
 




Giáng Sinh Thời Thơ Ấu

Giáng Sinh Thời Thơ Ấu
 
                                                                                                                        Mỗi năm Giáng Sinh về trên đất khách quê người tôi lại nhớ tới những năm Giáng Sinh thời thơ ấu ở bên nhà. Thời đó nối dài tới bây giờ ngót nghét cũng đã 55 năm ròng. Mà dạo đó, gia đình nội ngoại tôi đã là những Phật tử thuần thành, chủ nhật nào cũng theo ba má tôi đi chùa nên hai anh em tôi được Gia Đình Phật Tử chùa Khải Đoan hoan hỉ đón nhận vào đoàn Phật Tử Chim Non, rồi dần dà thành Oanh Vũ, Mở Mắt, Chân Cứng v.v… Đồng phục nam muôn năm vẫn áo sơ-mi cụt tay màu lam, quần sọt xanh, nón nỉ lam rộng vành. Đồng phục nữ cũng áo sơ-mi cụt tay, váy đầm xanh có quai. Gọi là Phật tử đi chùa tụng kinh niệm Phật hằng tuần, nhưng cứ đến ngày lễ Giang Sinh thì anh em tôi lại đi… nhà thờ Tin Lành, cạnh nhà hộ sanh Thanh Bình cất xeo xéo trước mặt nhà ba má tôi ngó qua. Đi chùa chẳng hiểu Phật là ai, thì đi nhà thờ có thiết gì đến Chúa. Sở dĩ trẻ con chúng tôi hè nhau trốn chùa đi nhà thờ là chỉ để chực được phát cho mỗi đứa một tấm cạt Noel sau giờ cầu nguyện, vậy thôi. Những tấm cạt đó trẻ con chúng tôi quí lắm. Mùa đông ở Việt Nam làm gì có tuyết rơi trắng trời trắng đất; làm gì có ba Vua cỡi lạc đà hướng về ngôi sao Phương Đông chiếu sáng thành Bethlehem; làm gì có Chúa Hài Đồng nằm trong máng lừa; làm gì có những con sóc lông xù, hay những lũ chim hồng tước, cà cưỡng, gõ kiến, hoành oanh líu lo trên những cây thông ngoài cửa sổ lốm đốm tuyết rơi; làm gì có những gói quà Noel thắt nơ xanh xanh đỏ đỏ; cũng chẳng hề thấy ông già Noel râu trắng bóc, mập ú trong bộ đồ mùa đông đỏ chói, viềng lông trắng vai mang túi quà nửa đêm nhờ mấy con tuần lộc chở đi phát quà cho trẻ con vân vân. Tất cả những hình ảnh xinh đẹp đó chỉ sống trong những tấm cạt Noel mà suốt thời thơ ấu tôi chẳng hề may mắn được phát cho một tấm, trừ những tấm xấu ơi là xấu. Đi nhà thờ Tin Lành, tôi nhớ hoài lần nào cũng như lần nào, cứ đến phiên mình thì được phát cho cái cạt Noel nhỏ nhất và xấu nhất trong hàng chục tấm xinh xắn, lộng lẫy nằm óng ánh trong tay những tín đồ người lớn thuần thành. Thiệp Noel mà tôi chê xấu mỗi năm đó không phải tại tôi xui xẻo mà là người đại diện ông Mục Sư lúc phát thiệp, thấy tôi nhỏ nhít nên thay vì tới phiên tôi được phát cho cái đẹp thì bị đổi lấy cho cái xấu một cách trắng trợn, hết sức bất công. Rõ ràng nụ cười nhân ái kia chợt tắt ngấm và bàn tay chìa ra tấm thiệp đầy màu sắc quyến rũ kia chợt khựng lại, rụt về rồi nhanh chóng lựa, lựa, lựa, lựa tới lúc hài lòng nhận thấy tấm nào bết nhất thì dành cho thằng con nít mũi dãi lòng thòng là cái thằng tôi. Lúc đó, cái đầu óc bé nhỏ của tôi chợt nảy ra một ý nghĩ trẻ con là ước gì người phát thiệp kia chính là ông già Noel rộng lượng, thành tâm và vui tính. Tiếng cười hô hô hô của ông sẽ mang cho đời sống của trẻ em biết bao niềm vui và cái đẹp trinh tuyền.
 
Bây giờ tôi ở đây, xa cảnh chùa xưa và ngôi nhà thờ nọ đến hơn nửa vòng trái đất; xa những tấm thiệp Giáng Sinh thời thơ ấu kia ngót 55 năm dài. Và để bù đắp sự thiệt thòi đáng buồn một cách trẻ con kia, mỗi năm, tôi âm thầm lội tuyết đi tới cửa tiệm bách hóa chọn hai tấm thiệp Giáng Sinh mà tôi cho là đẹp nhất, ý nghĩa nhất, mua về. Một cái gởi cho Má tôi; cái còn lại trao tận tay cho người bạn đời hiền lành, yêu dấu nhất của đời tôi.

 

                                             PHAN NI TẤN




BÀI HỌC NẶNG KÝ TỪ VIỆT NAM.(Thai Quang)

BÀI HỌC NẶNG KÝ TỪ VIỆT NAM.

                    Anderson Thai Quang.

                    Tác giả là một trí thức
Việt kiều Mỹ  từng  mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và… chào thua.
Xin trân trọng giới thieu những "bài học nặng ký" của  ông: 

                    "Hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa. 
Hồ Chí Minh không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con . Võ Nguyên Giáp thì có ông con rể Trương Quang Bình  là người giàu nhất nước… Tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối."

                    *

             Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhung nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng 9 1ã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ.

                  * CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT.

                     Một chút ít về cái "tôi" để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này.. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miề n Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngư ợc xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi
chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.

                    Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số an tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một "con rồng mới". Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên," Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm."

                    
              * HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG.

                 Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

                     Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và địn
h chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm.

                     Tôi nhận ra rằng cái cơ chế "kinh tế thị trường" mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng mồi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh va bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

                    Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu có. Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.                    

                     Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước.   

                    Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào.  Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn  sách ‘Ho Chi Minh: A Life’ bởi William Duiker và cuốn ‘Đỉnh Cao Chói Lọi’ cua Ba Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng "tấm gương đạo đức của BC3c Hồ".                    

                     Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách ‘China and the Vietnam wars’ của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, H Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng.
Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao ve=2 0chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán l&agrave
; tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng?                    

                     Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này.                    

                     Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suot 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

                      Anderson Thai Quang




Tôi viết về Hồ Chí Minh (Trần Khải Thanh Thủy)

Tôi viết về Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Khải Thanh Thủy
Như mọi đứa trẻ ở Việt Nam khác, tôi sinh ra chỉ biết có bác Hồ, lên 2 đã nghe các bài hát véo von trên đài: Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng, Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên Việt Nam, rồi: Bác chúng em dáng cao cao người thanh thanh, bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài. Bác chúng em thề cứu nước trả thù nhà. Hồ Chí Minh bác Hồ Chí Minh sống muôn năm… Lại: Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ v.v. Nghiã là có cả một phong trào sáng tác các bài hát về bác, để bọn trẻ chúng tôi tha hồ được nhồi sọ, tha hồ ê a hát theo…
Lên 5, tôi theo gia đình đi sơ tán, giữa vùng quê nghèo đói, người dân coi giấc ngủ bữa ăn, củ khoai, cây lúa quan trọng hơn việc nhồi nhét chữ nghiã trong đầu, tôi nhanh chóng nổi bật lên chinh phục bọn trẻ làng; vừa là con cán bộ sơ tán, đi học có áo trắng, quần lửng để mặc, trong khi bọn trẻ quê đi học còn phải mặc áo rách, hở khuy, tòi ra cả một đống bụng màu nâu xỉn. Chỉ riêng việc ấy thôi cũng đủ để tôi được các thầy cô cảm tình trở thành cháu ngoan Bác Hồ, tôi lấy làm kiêu hãnh về điều ấy lắm. Khi trở lại Hà Nội, tuy danh hiệu cháu ngoan không còn vì có vô vàn đứa trẻ khác giỏi và ngoan ngoãn hơn tôi, nhưng hình ảnh bác vẫn còn in dấu mãi trong tôi. Mở mắt là nghe tiếng thơ phát trên đài:

Nhà em treo ảnh bác hồ,
Bên trên là một lá cờ đỏ tươi
Ngày ngày bác mỉm miệng cười
Bác nhìn các cháu vui chơi trong nhà…

Mười năm học phổ thông, tôi bị đúc khuôn nhồi sọ bởi đủ thứ tư tưởng nội quy, quan điểm, lập trường, đúng như lời nhận định của nhà bác học Tôn Thất Tùng: Trẻ em Việt Nam là một sinh vật ngủ đêm quá ngắn còn ban ngày phải đối phó với đủ mọi quy định nghiệt ngã của nhà trường. Nào nội quy, quy chế, nào thi cử nặng nề, rồi chương trình dài lê thê. Suốt 15 năm học (từ vỡ lòng đến khi tốt nghiệp Đại học), chúng tôi chỉ biết có "Học, học nữa, học mãi" theo lời dạy của Lê Nin. Không ít đứa trẻ trong số chúng tôi học đến mức… đau tim, hộc máu chỉ vì muốn đua chen một chỗ đứng trên giải đường đại học. 15 năm học với tôi như một cực hình tra tấn, trong khi nhà nước cho tiêu chuẩn mỗi tháng 13 kg gạo, một lạng thịt, dăm bìa đậu, mà chúng tôi phải đạp xe 8-10 cây số tới trường xa lơ lắc, người vêu vao như những đon mạ còi không lớn nổi vì thiếu dinh dưỡng. Nhiều đứa trong bọn tôi nói vui nhưng cũng đầy ngậm ngùi cay đắng: Hình như nhà nước càng hạn chế bán gạo, tớ càng ăn khỏe. Ba bát cơm một bữa chả là cái quái gì, mà ăn hơn thì bố mẹ lại phải nhìn nhau, nhịn ăn để nhường phần cho. Thật không biết sau khi ra trường có nên ông nên bà gì không mà nhìn ánh mắt mẹ buồn buồn trong bữa ăn, tế nhị nhắc các em trong nhà bớt ăn thức ăn đi một chút vì anh nó sắp thi học kỳ là thấy thương quá. Không biết sau này phải trả nghiã bố mẹ ra sao?

Tốt nghiệp ra trường với số điểm ưu, tôi những tưởng sẽ được trọng dụng, ai ngờ nhận quyết định đi Lai Châu, mẹ ôm lấy tôi, nước mắt lã chã: ở nhà thôi con ạ, lên trên ấy nước độc, rừng thiêng, không sống nổi đâu.

Nhà nghèo 4 năm trời tôi vẫn không xin được việc, rồi không thể ăn bám bố mẹ trong khi túi tiền bị Đảng "bao" nhiều "cấp" ít, tôi đành phải trốn mẹ ra đi. Mẹ tôi khóc còn hơn ngày ông ngoại bị đội trưởng đội cải cách đến bắt, phải rạch ruột bằng mắt kính bẻ đôi để tử tự. Lên rừng đang thời điểm 1986, cả nước ngắc ngoải trong cơn đói, tầng lớp trí thức chúng tôi được Đảng ưu tiên chỉ đạo tự túc lương thực 3 tháng. Hết ba tháng này lại ba tháng khác, quả thật tôi không hiểu làm sao mình qua được những ngày dài đói lả ấy. Câu thơ của nhà thơ Duy Phi cứ khoan sâu trong óc:

Đời ông lặp lại đời cha
Đời con cháu nối mãi đời cụ kỵ
Quý khoai sắn hơn là sâm với quế
Rau muống ơi, xin hãy muộn mùa hoa.

Anh chủ nhà, quê Ninh Bình, lên khai hoang kinh tế mới, nơi chúng tôi thường xuyên qua lại để trò chuyện, giải thích: – Mong rau muống muộn mùa hoa để làm bánh đấy các cô chú ạ.

Có lẽ chúng tôi sống được là nhờ bà con – những phụ huynh học sinh gốc kinh lên nông trường theo tiếng gọi của Đảng, đùm bọc bằng tất cả tấm lòng trân quý nhất. Mở cửa ra, thấy nặng tay, cố ảy, chợt có vài trái bí mán lăn long lóc xuống tận chân đồi. Tử tế hơn là cân sắn, cân khoai, nải chuối, quả đu đủ rừng. Học bác sĩ Tôn Thất Tùng trong những ngày theo kháng chiến, có ngày tôi phải ăn 20-30 quả chuối thay cơm. Đói cồn cào xót ruột đến mức nhìn thấy chuối là sợ nhưng nhà nước đã cố tình cắt cơm chúng tôi thì biết làm thế nào? Chả lẽ lại vác cái dạ dày thõng thẹo hình dấu phẩy lên sở giáo dục mà bảo: Chúng tôi đói lắm, trả lương, cấp gạo cho chúng tôi ăn đi, đừng bắt tự túc lương thực mãi thế? Vì kế hoạch trăm năm chúng tôi phải lên rừng trồng người rồi, đừng bắt chúng tôi phải vì kế hoạch 1 năm trồng lúa nữa. Bao nhiêu thầy cô giáo chúng tôi đói quá phải bỏ qua cả "lợi ích một đêm" là… làm tình rồi. Trước ba đêm không gặp nhau một lần thì khí dồn lên não, bây giờ ba tháng tự túc lương thực, đói cơm, rét cật làm sao chúng tôi "dậm dật" được?

Trong tôi lúc ấy không hề có khái niệm nổi loạn, đêm đêm chong mắt chấm bài cho học trò
, rồi vẩn vơ nghĩ về nhân tình thế thái. Sáng ra nghe tiếng ru của anh chủ nhà vọng sang mà thêm nẫu ruột:

Con ơi con ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi chợ cơm đâu mà đòi
Đói no thì đã tỏ rồi
Cha đành lấp lửng những lời ru suông.

Thằng bé con út của anh chị mới được hai tháng mà bố mẹ đã lăn lê ngoài đồng bãi nương rẫy kiếm ăn. Thức ăn duy nhất là nước đường loãng đựng trong chai thay sữa giao cho bà nội cứ mút chùn chụt. Cả ngày chỉ được ăn thêm 2 đĩa bột muối. Không hiểu sao nó vẫn cứ lớn lên được?

Buồn, đói, chả còn cách nào giải khuây, trong khi hội bạn lao vào chơi "tú lơ khơ" giết thời gian thì tôi lao vào những mê cung rắc rối của ngôn từ. Không ngờ những vần thơ đầu tiên về Đảng cộng Sản thân yêu của tôi lại là những vần thơ tiên đoán về thời thế:

Nhầm lẫn rồi hỡi bác kính yêu
Chủ nghĩa xã hội đang trên đường tắt lụi
Giữa đất nước của Lê nin vĩ đại
Cách mạng Nga làm Lịch sử thụt lùi

Thế kỷ nghèo sinh sản bác vĩ nhân
Bày con cháu gắng gánh tròn hậu quả
Là ngư dân bác chỉ lo được thế
Đất nước đói nghèo nhờ di chúc thiêng liêng.

Bài thơ dài 11 khổ, giữa tuổi đời 29, tưởng tràn căng sức sống mà lại nặng trĩu những âu lo. Lúi húi chép lại thành 5, 7 bản để tặng cho những người thân yêu nhất không ngờ, đáp lại thái độ chân tình của tôi họ xua tôi như đuổi tà:

– Thôi thôi, tôi không nghe cái thứ thơ chính trị, chính em ấy đâu. Bạn không định biến tôi thành thằng phản động chứ?

Trong khi bao bài thơ trữ tình trước đó, hầu như bài nào tôi cũng được khen, có chị còn nghiện thơ của tôi, mượn về nhà cho con cái chép lại vào sổ tay.

Bây giờ nó nằm trong tình trạng "im lặng đáng sợ" với ai cũng chỉ có một thái độ duy nhất "không biết, không nghe, không thấy."

– Cái gì phải đến đã đến, 3 năm sau toàn bộ hệ thống Đông Âu sụp đổ. Điều mà tôi dự đoán trong thơ đã hoàn toàn linh nghiệm. Bạn bè bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác, dè dặt hơn, thận trọng hơn, như thể tôi là một kẻ nổi loạn thực sự và nếu chơi với tôi sẽ có ngày mất đoàn, mất Đảng như chơi.

Năm 1994 tôi mới được về Hà Nội lo chuyện lập gia đình. Đám cưới của hai trí thức nghèo cùng làm nghề gõ đầu trẻ chỉ toàn ảnh đen trắng. Khi hạch toán, toàn bộ số tiền mừng vừa khoẳn các khoản thuê. Cho dù phải ngửa tay xin mẹ tiền mua xe đạp nhưng tất nhiên tôi vui lắm, rốt cục tôi cũng biết thế nào nghiã vợ tình chồng, là áo đơn, áo kép không bằng da nọ nép da kia, là vợ chồng hoà thuận là tiên trên trần (Ban ngày) còn ban đêm ắt hẳn phải thành "tiên ở trần" rồi.

Sự nghèo đói cứ lẽo đẽo theo chân chúng tôi từng bước, thay vì gõ đầu trẻ chúng tôi bắt đầu gõ vào đầu nhau chan chát (như chó đốm với mèo khoang). Vì đồng lương chết đói không thể nào bôi đủ cho ba người từ đầu đến cuối tháng. Trong khi còn mẹ già, em dại. Quả là kiếp trí thức trong thời đại Hồ Chí Minh – nơi thiên đường xã hội chủ nghĩa do bác du nhập từ Nga về khổ hơn kiếp lợn, kiếp chó. Suốt thời sinh viên và thời lên rừng khai sáng văn minh cho đồng bào dân tộc, cho đến tận lúc này chúng tôi vẫn bị Đảng bỏ quên. Không "đào tận gốc trốc tận rễ" như khẩu hiệu năm 1930, 1931 là còn may chán.

Nhờ thừa hửơng hệ gien của dòng họ: "Trứng rồng lại nở ra rồng" tôi được chuyển nghề, từ gõ đầu trẻ sang gõ đầu mình. Rồi thường xuyên có mặt trong đội ngũ viết thuê cho các nhà xuất bản. Nhờ vinh dự đặc biệt này, mà tôi thường xuyên được tiếp xúc với các nhà văn nhà báo lão thành, những cây đa cây đề, bậc tiên chỉ trong làng báo và làng văn xã hội chủ nghĩa. Tuổi già là kho báu. Tiếp cận với họ tôi thực sự được tắm trong suối nguồn hào phóng của tri thức, trong đó có cả đề tài về bác. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy họ có những nhận định táo bạo về vị cha già dân tộc, chẳng hề tôn kính chút nào như nhà nước và Đảng đã đầu độc họ. Không hề sợ phạm huý, giữa những người cầm bút với nhau. Họ bộc lộ thẳng thắn: "xì ông cụ nhà mình toàn đạo trích, giỏi giang cái đếch gì". Để chứng minh, họ lôi ra tràng giang đại hải những tiếng Nôm tiếng Hán, tôi nghe mà ù cả tai, rồi người khác tiếp tục khẳng định: Cả tập "Ngục trung nhật ký" có phải của cụ đếch đâu, trình độ cụ biết chó gì mà đòi làm thơ chữ Hán, chẳng qua cụ ăn cắp của người khác thôi, điều này thì có ông Từ Mục hay Hữu Mục gì đó ở Hải Ngoại chứng minh rồi… Và: Sao cái lớp trẻ dễ tin thế nhỉ, người như cụ Hồ mà giản dị, độc thân sao được? Rồi: Thằng bé Trung, con ông cụ không biết giờ này sao rồi. Đảng mình ác thật… Những lời tiên tri ấy lập tức găm sâu vào đầu óc tôi như r
êu xanh bám chặt vào tảng đá.Suốt cả đêm tôi lúi húi chép lại từng lời từng chữ vào trang sổ của mình, sáng ra có điều gì không rõ lại phải làm như vô tình hỏi lại để tăng tính xác thực cho tư liệu… Trước đó qua số bạn bè cùng dạy, tôi may mắn gặp nhà viết chèo Tào Mạt, nổi tiếng với "bài ca giữ nước", sau khi mối quan hệ trở nên thân mật, ông bộc lộ: Tôi được trung ương giao cho viết một vở chèo về bác, thú thật lúc đầu tôi thấy vinh dự lắm liền vào ngay thư viện ôm một đống sách về để nghiềm ngẫm, vào tận quê ông cụ để lấy thêm tư liệu, đọc cả sách nước ngoài ca ngợi cụ, rồi để cả năm trời kiểm chứng, cuối cùng phải bỏ, vì cụ Hồ là người người hoàn toàn không tin được, đầy gian giảo, xảo quyệt, khác hẳn với những điều bịa đặt trong sách. Bây giờ để có tác phẩm thay thế, tôi phải chuyển sang viết về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Tôi ngỡ ngàng nhìn ông như nhìn một tên nghịch tặc, nhưng tôi tin trong ông phải có ẩn ức sâu sa lắm mới nói được những lời nguy hiểm chết người như thế. Không bao lâu sau tôi nghe tin ông bị người của Đảng rình bắt tại khu vực 51 Trần Hưng Đạo, 65 phố Nguyễn Du, 9 Nguyễn Đình Chiểu, 19 Hàng Buồm [1] những nơi ông thường xuyên lui tới để gặp gỡ anh chị em trong giới "tối" tác. Cũng may bà Trần thị Bát, một người đàn bà vô cùng quê mùa nhưng lại rất "tỉnh đòn" trong những việc bắt bớ, rình rập này đã lăn xả vào giữ chân chồng suốt một thời gian dài không cho ông ra Hà Nội, nên vụ vây bắt không thành. Sau đó không bao lâu ông bị bệnh và chết, nhưng ấn tượng từ câu nói của ông về bác Hồ làm tôi không thể nào quên. Tết 2003 tôi đến nhà bác Chương Thâu, người bỏ tiền của sang Nhật, tìm tư liệu để viết 14 tập về nhà yêu nước Phan Bội Châu. Ông không nói lộ ra ngoài nhưng đọc trong mắt ông, tôi biết ông chẳng ưa gì người cha già của dân tộc mình. Ông bảo: Nếu cho phép treo ảnh lãnh tụ, ông chỉ treo ảnh một mình cụ Phan Bội Châu thôi. Tôi nghĩ phải có lý do gì thôi thúc lắm ông mới bỏ gần cả cuộc đời để nghiên cứu và hoàn thành một tác phẩm kinh điển 14 tập về cụ Phan như thế. Dày dặn và trang trọng hơn tác phẩm "Tư bản luận" của Mác hay "Chước tác" Hồ Chí Minh. Tôi tin trong quá trình nghiên cứu Phan Bội Châu ông thừa biết tội của cha già đã bán đứng nhà yêu nước họ Phan cho thực dân Pháp lấy tiền như thế nào. Vì thời thế ông không tiện bộc lộ, mà bắt chúng tôi phải tự mò mẫm tìm hiểu lấy mà thôi.

Năm 2005, tình cờ tập "Nhật ký trong tù" rơi vào tay tôi. Trước đó tuy phải học, phải nhồi sọ về bác nhưng tôi chẳng nhớ điều gì cụ thể ngoài nỗi đắng cay vì thi tốt nghiệp bị 2 điểm môn văn (suýt trượt) trong khi phân tích bài "Giải đi sớm" của người. Lần này tôi đọc kỹ lưỡng hơn, như sợi tóc chẻ làm tư, một khối quay ru bích quay đủ 7 mặt. Tôi ngạc nhiên vì một câu bác nhận xét tập thơ của Cù Huy Cận lại rất đúng trong trường hợp này: Bài hay xen lẫn với bài thường. Như thơ của hai người khác nhau cùng làm vậy. Cái hay thì vượt trội hẳn lên, còn bài thường thì ngô ngọng, chả có vẻ gì là thơ cả. Trong tôi loé lên sự nghi ngờ và quyết định phải làm rõ sự nghi ngờ của mình dù phải mất bao nhiêu thời gian đi chăng nữa.

Nhìn một cây không thể thấy cả cánh rừng, tôi mò vào thư viện mượn hai cuốn: Thơ Hồ Chí Minh và Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cùng rất nhiều tác phẩm của các nhà thơ lớn viết về người như Tố Hữu, Chế lan Viên… Càng đọc tôi càng tin vào nhận định sắc sảo của những ông bạn già. Đúng là thơ văn đích thực của cụ chả có gì đáng nói cả, nếu so với những bài thơ của người dân oan bị mất đất mất nhà thì thơ họ làm còn hay hơn vạn lần (cho dù đa phần là mù chữ), ít nhất nó cũng có tâm trạng buồn phiền đau xót, có sự việc cụ thể mà tôi tin dưới bầu trời mặt đất này không nơi nào còn tồn tại những cảnh đời khổ ải như ở Việt Nam, vì thế mà lay động tâm trí, lương tâm người đọc (trừ bọn quan tham, vua điếc) điều khiến tôi phẫn nộ là cụ rất ảo tưởng về mình, trừ mảng thơ chúc tết mà tôi đã mạo muội dự đoán: Lượng thơ không đáng kể, tầm nhìn xa không quá bản thân mình. Và: Thật là một sự xúc phạm ngôn từ quá lớn nếu gọi đó là thơ vì lổn nhổn các lời chúc khẩu hiệu gói trong nền cờ cách mạng v.v và v.v, còn một mảng thơ tuyên truyền gồm 30 bài. Quả thực chưa lần nào đọc thơ (kể cả thơ của tác giả nghiệp dư, đem đến nhờ tôi đọc để nâng cấp hy vọng được xuất hiện trên văn đàn) tôi phải phẫn nộ như lần này. Thơ như đấm vào lỗ tai như thế mà bắt anh chị em dân vận phải học thuộc lòng rồi đi tuyên truyền vận động bà con. Cụ còn bảo hễ ai thuộc nhiều sẽ được trọng thưởng. Chả trách lớp lãnh đạo đàn em cụ đều thuộc diện khinh học cả, vẫn lãnh đạo đất nước như thường, khiến 81
triệu dân Việt Nam được thể "thiến" nhanh, "thiến" thẳng, "thiến" vững chắc lên chủ nghĩa xã hội (bỏ qua giai đoạn giãy chết là chủ nghĩa tư bản). Nghĩa là bị đảng thiến là sẽ chết ngay chứ không cần giẫy chết như kiểu thiến của chế độ tư bản chủ nghĩa…

Trong nỗi bức xúc tột cùng ấy tôi bắt tay vào viết bài đầu tiên:Phát hiện thêm về Hồ chủ tịch, tuy được bạn đọc hưởng ứng hết sức nhiệt tình, nhưng tôi tâm đắc với một nhận xét chẳng ưu ái gì về đứa con tinh thần của mình "Gọi là phát hiện thêm nhưng thực chất chẳng có gì mới cả, quan trọng chỉ là một tiếng nói trung thực ở trong nước". Thú thực lúc đầu tôi hơi tự ái, vì 20 năm cầm bút, kể cả khi còn phải lấp ló sau cánh màn sân khấu, tôi chưa khi nào bị nhận xét theo kiểu kỳ cọ, coi thường như thế. Sau khi sục sạo vào cả kho tư tưởng, xưởng ý kiến của tất cả 256 người, đặc biệt là bản di chúc cuối cùng của cụ do báo Thức Tỉnh San Jose đăng lại từ tờ Con Ong ở Pháp, tôi hiểu là tác giả những lời nhận định cực đoan đó hoàn toàn có lý. Chỉ là mới và thêm so với những người trong nước bị Đảng kìm kẹp, đầu độc tư tưởng thôi, còn với độc giả Hải Ngoại thì họ biết tỏng ra rồi. Thế mà tôi nhớ trước khi lên mạng, tôi bí mật cho một vài người bạn thân thiết trong nước đọc, họ rất lo ngại. Người bảo tôi sinh phải giờ liều, gan to hơn trái núi, người dặn cẩn thận với cánh PA25 đấy. Họ quan niệm "bắt nhầm hơn bỏ sót". Bắt một người để cả triệu phải khiếp lây rồi ai nuôi con v.v và v.v. Chứng tỏ với người Việt Nam thế hệ trung niên như chúng tôi – tất cả những mặt trái của tấm huân chương (trong đó có bác) đều bị bưng bít, ai nói khác đi một chút là bị kẹp chì ngay, kẹp tư tưởng không được thì tổ chức cho kẹp xe để kẹp đầu luôn.

Nhờ các tư liệu quý báu mà bạn đọc Hải Ngoại cung cấp (gấp trăm nghìn lần những điều tôi nghe lỏm từ các lão làng hôm nào), tôi quyết định phải dựng lại chân dung Hồ Chí Minh, để thế hệ cháu con không bao giờ bị đầu độc nữa. Có sách mới áo hoa là nhờ ơn ông bà bố mẹ chứ Đảng bóc lột con dân còn hơn tư bản, thiến dân theo kiểu thiến nhanh, thiến mạnh, thiến vững chắc lên địa ngục xã hội chủ nghĩa thì không chết là may rồi lấy đâu ra mà "vui tung tăng em ca có đảng cuộc đời nở hoa". Trong vương quốc tối tăm này tiền bạc của cải chỉ giành cho những kẻ độc tài, mù loà về đạo lý, lương tâm, kiến thức, còn tầng lớp trí thức chúng tôi, những người may mắn sinh ra từ những quả trứng rồng lại phải chịu cảnh thất nghiệp, tù túng, chết mòn trong vây, nhục hơn cả Từ Hải chết đứng. Như câu thơ tôi đã viết:

Đất nước chìm trong cảnh mù loà
Bao nhiêu Từ Hải chết trong vây
Trời xanh biển rộng đâu mà vẫy
Đành làm mọi tôi ở xứ này.

Nghiã là làm mọi tôi cho những kẻ xuất thân từ dòng giống liu điu khác như Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn An v.v.

Suy xét cả bốn đời từ đời ông bà nội ngoại đến đời bố mẹ rồi đời tôi và đời con tôi, chúng tôi không những không hề được lợi lộc gì từ Đảng mà còn bị Đảng bóc lột đến trắng mắt, trắng tay. Ông nội tôi xuất thân trong một gia đình giàu có ở thôn quê, 2 tháng rưỡi đã được bố mẹ bế lên Hà Nội ở, được nuôi ăn học đầy đủ, sau khi tốt nghiệp trường hậu bổ trở thành quan thông ngôn, chuyên phiên dịch tiếng pháp cho nhà nước Đại Pháp. Nếu các cụ tôi còn bao nhiêu cánh đồng thẳng cánh cò bay ở quê, thì ông nội tôi cũng giàu ức vạn. Trong nhà có tới 13 gia nhân, người ở, từ vú nuôi, con sen, đến người ở, người giúp việc bán hàng, người kéo xe tay, tài xế chuyên buôn vải và gạo tấm từ Nam Định lên cho bà tôi bán tại cửa hàng riêng của gia đình. Vào tay cách mạng, ông tôi mới 48 tuổi bị đột quỵ mà chết, cả nhà lẫn xe hiến hết cho nhà nước. Bác tôi học trường An-Ba-se-ro không chịu nổi cảnh mấy con mẹ bán xôi ngoài cửa trường mình hôm trước một điều cậu hai điều con, nay lên làm tổ trưởng dân phố, mặt vênh như bánh đa nướng chuyên săm soi vào tận gầm giường người khác để tìm vàng tâng công, liền bỏ vào Nam. Bố tôi học trường Bưởi được "giác ngộ" cách mạng từ bé. Nên khi 14, 15 tuổi đã lên giọng chửi bố và anh là bám đit đế quốc đòi từ để một lòng một dạ theo Cách mạng. Sinh ra là con quan, có gia nhân theo hầu từng li từng tí mà khi trở thành anh bộ đội cụ hồ khổ hơn trâu, chó. Từ một thư sinh trắng trẻo khôi ngô thành khỉ Trường Sơn, rồi chết trong mòn mỏi kiệt quệ, trong ngờ vực đớn đau giữa mùa hè 1986. Thời kỳ khốn khó nhất của Việt Nam, sau mười năm phỏng giái, lãnh đạo miền Bắc tiếp quản, thu gom hết tài sản của miền Nam trù phú cho riêng mình nên cả nước ôm nhau ngắc ngoải trong từng ô tem phiếu. Từ lúc theo cách mạng không được ăn no lấy một ngày,
ngược hẳn với quãng đời trước đó. Bà ngoại tôi dù có công nuôi cả đại đội trong nhà vẫn bị quy thành địa chủ. Goá chồng lúc 55 vì ông tôi tự tử trong trại giam, 9 đứa con mạnh đứa nào đứa ấy chạy. Cứ chị cả tha em út, anh hai cõng em 5 v.v. người lên rừng, người xuống biển người vô Nam. Bác cả tôi, vì muốn gặp lại ông bà và các em nên sau khi giải phóng Miền Nam, kiên quyết không di tản, dù có 6 người con là lính cộng hoà, cấp bậc trung tướng, thiếu tá, đem xe về tận nhà rước má… cuối cùng phải trả bằng cái giá đớn đau nhất: Chết trong nghèo đói bệnh tật, con cái thất nghiệp, nhà cửa tiêu điều xơ xác. Chị họ tôi đỗ thủ khoa, từng được bà Trần Lệ Xuân vợ của ông cố vấn Ngô Đình Nhu đội vương miện trên đầu, 8 lần vượt biển cùng người yêu không thành, cuối cùng đành để anh ra đi trước, nếu còn sống thì thu xếp đón vợ mới cưới sang sau… vậy mà cho đến năm 47 tuổi ước mơ mới thành hiện thực. Sống bên nhau vì nghiã thôi còn tình thì quá date rồi, đúng như bài hát mà các thành viên trong trại tù của chị vẫn nghêu ngao hát: Tù lâu quá đi thôi, L… tôi teo hết rồi, Đảng ơi [2].

Mẹ tôi 16 tuổi đã phải ra khỏi nhà trở thành Thanh niên xung phong. Làm đường tàu, tuyến đường Hà Nội Thái Nguyên, dưới bóng tối của Đảng, lại dính thêm thành phần là con đại địa chủ, cho dù có là địa chủ kháng chiến đi chăng nữa cũng khổ và nhục hơn triệu triệu lần thời thực dân pháp xâm lược. Tôi được học hành nhờ mẹ thắt lưng buộc bụng, cộng thêm những cẳng cải già, cuống súp lơ, bắp cải trước nhà của bếp trường đại học thải ra, mẹ tôi tiếc rẻ nhặt lại, lược bỏ hết phần xơ phía ngoài lấy lõi bên trong làm rau ăn quanh năm. 15 năm học không một ngày học thêm, toàn vịn câu nói của bố mà vươn lên: Khả năng con người là vô tận, hãy biết khai thác bản thân mình con ạ. Thế là từ lúc lên 9, lên 10 đã biết gõ vào đầu mình để nắm bắt kiến thức và bây giờ liên tục gõ vào đầu mình để viết, lặn ngụp trong câu chữ kiếm ăn, nuôi con và nuôi gia đình nhỏ của mình, không hề nhận được bất cứ đặc ân nào của Đảng, vì ngay sau khi chuyển từ miền núi về Hà Nội đã bị người của Đảng tống ra khỏi biên chế để thế chân con em cháu cha vào. Bắt đầu có chút của ăn của để là nhờ sự giới thiệu, dẫn dắt, kê chỗ đứng của các nhà dân chủ và bây giờ hoàn toàn trông vào tấm lòng của bà con anh em Hải Ngoại, những người biết được cái tài của tôi mà trọng dụng. Nếu không hẳn tôi đã chết rũ trong ngôi nhà xã hội chủ nghĩa tồi tàn vì không công ăn việc làm hoặc phải tự thiêu như bà Phạm thị Trung Thu để đòi lại quyền lợi cho con cái. Vì thế bắt tôi ơn Đảng, ơn bác sao được? Nhà bác học Lê Quý Đôn người đi trước Mác 300 đã nói: Người tài không dùng, sĩ phu ngoảnh mặt kia mà. Nếu Đảng kết tội tôi ngoảnh mặt với Đảng cũng là lẽ đương nhiên. Hơn nữa Đảng nào có tốt đẹp gì, bắt tôi phải đồng loã với cái ác, cái xấu của Đảng sao được? Ngay Hồ Chí Minh trong di chúc của mình cũng nói rõ sự sai lầm của mình vì đã đưa đất nước đi theo con đường của Liên Xô, Trung cộng cơ mà. Ngày 14-8-1969, trước khi đi tìm Lê Nin Các Mác để hỏi tội, cụ đã từng tuyên bố trong di chúc cho cô con gái lai Pháp của mình rằng: Chủ nghĩa này chẳng qua chỉ là giả bộ. Họ lừa dối nhân dân để chiếm lấy chính quyền cho nước Nga khi đó".

Trước khi biết mình bị đầu độc bằng mũi tiêm của bác sĩ Tôn Thất Tùng, cụ đã mong ước cho nước ta và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa sớm ra khỏi ách cộng sản.

Nhưng thôi tội của Đảng kể muôn năm không hết, mình tôi kể chỉ là giọt nước trong biển cả, sẽ đến ngày 81 triệu dân Việt Nam vùng lên kể tội Đảng, trả Đảng về đúng nơi mà Đảng đã chui ra. Đó là bóng đêm, là hang tối, là khe sâu, vực cao… không khác được.

Hà Nội, cuối năm 2005

Ghi chú:
[1]- Trụ sở hội liên hiệp văn hoá nghệ thuật, nhà xuất bản tác phẩm mới hội nhà văn Hà Nội và hội nhà Văn Việt Nam.
[2]. Nhại lời bài: Mặt trời bé thơ của Trần Tiến.




ĐÊM VIỆT NAM (Hà Thúc Sinh)

Một chút về Hà Thúc Sinh

 

Tôi quen biết và sinh hoạt văn học nghệ thuật với Hà Thúc Sinh đã 1/4 thế kỷ. Anh là một ngưòi đa tài, với hơn 20 tác phẩm, từ Thơ, Văn, Nhạc đến Dich Thuật. Trí Nhớ Đau Thương là tập thơ đầu tay của anh, xuất bản năm 1967, nhưng tập Dạo Núi Mình Ta  (thơ 1972, tái bản 1973) mới thực sự tạo nên tên tuổi một Hà Thúc Sinh.

Là cựu sĩ quan QLVNCH, sau ngày mất nước anh bị bắt đi tù cải tạo 5 năm. Vượt biên đến Mỹ năm 1980, tiếp tục cầm bút viết Đại Học Máu, một trong những hồi ký cải tạo gây tiếng vang trên văn đàn hải ngoại, đồng thời là một cái gai gây nhức nhối cho bạo quyền Hà Nội lúc bấy giờ. Nhưng âm nhạc vẫn là "tiếng động" của Hà Thúc Sinh, một phương tiện truyền thông dễ đi vào lòng người. Đặc biệt tập nhạc Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh được anh thực hiện qua giọng hát "gọi hồn" của Khánh Ly, nói lên thân phận nghiệt ngã của một kiếp người sinh tử dưới gông cùm của bạo quyền Hà Nội.

Để nhìn rõ hơn về con người đa tài này, kính mời Quí vị đọc Đêm Việt Nam (đính kèm), một bài nhận định bằng sự mẫn cảm sâu sắc, một cảm xúc chân thành của Phạm Tự Trọng, người bạn tù cải tạo một thời với Hà quân.

Trân trọng

 

Lão Ngoan

ĐÊM VIỆT NAM

          

  

Phạm Tự Trọng

 

       Cũng như hầu hết mọi người, trong một nghĩa nào đó, âm nhạc là điều không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của tôi. Kiến thức âm nhạc của tôi tất nhiên chỉ giới hạn trong vị trí của một người mê nghe nhạc, và dùng âm nhạc như cái thước đo cảm xúc của chính mình trong đời sống pha trộn giữa niềm vui và nỗi buồn.

       Tôi lại có thể được may mắn hơn nhiều người là vì từng được cảm nhận âm nhạc không chỉ giữa cái vui buồn, mà ở ngay giữa thời điểm tuyệt vọng nhất trong cuộc đời, gần như là sự chết không chỉ cho riêng mình mà cả số phận những người thân yêu của mình : giữa trại tù cải tạo CSVN. Tôi không định viết về “Tù Cải Tạo” vì đã có quá nhiều người kể về nó. Bắt người ta nghe đi nghe lại một chuyện ai cũng biết sẽ trở thành nhàm hóa nhảm. Tôi chỉ muốn nói đến cảm xúc về những dòng thơ nhạc một người đã viết và hát cho tôi nghe trong hoàn cảnh này.

        Đúng thế, có một nhạc sĩ, có một ca sĩ, có một đêm tối, có chung quanh là rình rập bắt bớ; một tiếng hát thì thào cất lên trần truồng từ tăm tối. Ngoài tiếng hát tất cả đều im lặng, sự im lặng như phát thành tiếng thay cho tiếng đàn đệm. Người ca nhạc sĩ đó chính là Hà Thúc Sinh với những bản Tủi Nhục Ca mà "Đêm Việt Nam" của anh là một, tôi nói không sai, đã được hoàn thành và hát cho bạn bè nghe ngay trại tù Trảng Lớn vào đêm Giáng Sinh 1975.

 

      Đêm hôm đó rét lắm, cái rét mà người miền Nam bảo là “bộ đội cụ Hồ” đem từ Bắc vào. Riêng đám tù, cái rét còn kinh khủng hơn, vì khi ra đi nộp mình ít người mang theo  chăn mền áo ấm. Và trong cái giá lạnh đó, chúng tôi sáu, bảy đứa co ro ở một góc tối nhất trong cái hội trường làm từ những tấm “ghi” sắt, để ăn “Réveillon !” bằng “gô” nước chùm bao với một nhúm thuốc lào. Ở đấy, chúng tôi “bình luận thời cuộc”, đoán mò tình hình gia đình, và trao đổi nhau những câu thơ đắng ngắt. Nguy hiểm lắm, chết như chơi, vì bọn vệ binh quản giáo có thể ập tới bất cứ lúc nào, chưa kể vài cái cần ăng-ten không tránh khỏi; hơn nữa trong bọn lại có Xuân Ròn tức HTS, người đã bị “ghim” ngay vài tuần đầu sau ngày nhập trại vì tội “mười năm ra rả chửi cách mạng”  ( Câu chửi thường được Chính Trị Viên tên Môn dùng để xỉ vả Xuân.). Nhưng thây kệ, trời rét nhưng máu tuổi trẻ không bao giờ biết rét, mọi người ai làm được câu thơ nào đều đưa ra, trừ anh chàng ròn nhất vẫn im lìm. Có tiếng nói hơi lớn, “Thằng Xuân nãy giờ chỉ ‘ăn không’, có gì đi chứ.”. Một tiếng suỵt khe khẽ cất lên, “Khẽ chứ. Câm hết, nghe đây.”. Ngay khi nghe HTS hát vài câu đầu tiên bài “Đêm Việt Nam”, người nghe cảm thấy như đang chìm vào nỗi dằn vặt trong tủi nhục :

                                           

                              Đêm thế giới đang dồn một lần

                              Trên đất nước tôi gọi Việt Nam

                              Đêm bát ngát những khu trại giam

                              Đời thênh thang thu hẹp dần dần

 

                              Đêm em bé lên mười cùm gần

                              Anh chiến sĩ gốc Biệt Động Quân

                              Đêm thiếu nữ áo đơn tạm thu

                              Ngồi kề vai gái giang hồ lo

 

                              Đêm đấu tố và thủ tiêu

                              Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu

                              Người chết nhanh…Người phát điên

                              Đêm cáo chung tự do nhân quyền

 

                              Đêm nhức buốt phang bằng chầy vồ

                              Vang tiếng thét sau cùng “Tự Do”

                              Đêm có tiếng súng sau trại giam

                              Người tù binh chết bên bìa rừng

 

                              Đêm thế giới đang dồn một lần

                              Trên miếng đất đã thừa lầm than

                              Đêm trút xuống hố sâu diệt vong

                              Là Việt Nam nước tôi buồn tênh

                             

        Tiếng hát không lớn nhưng mạnh như một luồng điện cao thế đâm bổ vào mọi người. Anh hát hai lần. Tiếng hát đã dứt mà im lặng vẫn đóng cục,  một lúc mới có những tiếng thở ra rồi hít vào như bị hụt hơi. Phải mang thân phận đó và trong thời gian không gian đó, người nghe mới cảm nhận hết được thế nào là “cảm xúc đo âm nhạc lẫn âm nhạc đo cảm xúc”.

 

       Bài Đêm Việt Nam, có lẽ là một trong hai tủi-nhục-ca đầu tiên của HTS, đã được hoàn thành và hát trong cái Tình cái Cảnh như thế đó. Bài kia là “Trại Biến Hình”, mô tả một “quyền uy điên cuồng” nuôi người trong những Trại Chăn Nuôi, nơi mà Chúa đã phải “ngậm ngùi vì khi xưa đặt người lên trên mọi loài”  mà không đóng chặt cánh cửa Hỏa Ngục, để thoát ra thứ quyền uy Lucifer toan tính biến hình và tẩy sạch chất người khỏi người. Và từ cái mưu toan quỉ quái đó, người tù đã thấy không còn hình tượng thậm chí có lúc đã quên mình từng là con người. Bài thơ Người Về bất chợt truyền tai nhau trong cư dân Trại Biến Hình như lan truyền ước vọng có ngày “người về hát một câu nhỏ, hôm nay ta lại làm người”.

 

Người Về

 

Người về giữa mùa hoa nở

Trên môi ngậm một nụ hồng

Dòng đời dừng chân soi bóng

Mái tóc như gọi buồn lên

 

Người về như dòng sông mỏi

Chân xưa xin lạy đường dài

Ngọn đời dù cho le lói

Cũng có tay vòng ấm vai

 

Người về như dòng mưa lũ

Tưới trên vườn hồn em khô

Người về như là ngăn giữ

Hóa đá thân em từng giờ

 

Người về thắp lại ánh lửa

So dây chơi một đoạn buồn

Cuộc đời tự dưng thấy ấm

Tiếng hát xanh ngời lòng em

 

Người vê hát một câu nhỏ

Hôm nay ta lại làm người

Cành đời vào Xuân thay lá

Áo cũ xin gởi gió bay

 

       “Người Về” lúc đầu là  thơ, sau đó khi tác giả tự phổ nhạc vẫn giữ tên “Người Về” với nguyên văn lời thơ và được lan truyền qua nhiều trại tù. Những năm tiếp theo, khi tôi đã chuyển đi nhiều trại không còn ở chung với tác giả nữa, tôi thấy nhiều anh em hát bài này và bài “Đêm Việt Nam”. Gần 20 năm sau, khi mới tới Mỹ và lần đầu nghe Khánh Ly hát hai bài này tôi thấy thật xúc động nhưng cũng hơi ngỡ ngàng vì “người” đã thành “mộng”.Tất cả những chữ “người” trong bài “Người Về” đều được đổi sang “mộng” để   có tình ca “Mộng Về”, và hơi tiếc là chữ “Mộng” lại được người hát hiểu là một ước muốn thể hiện trong giấc ngủ giới hạn trong tình yêu đôi  lứa, vì “Mộng” ở đây hàm y  một ước ao thực tại hơn là cơn mơ trong giấc ngủ. “Người về” lúc ấy mang y nghĩa là chất người được trả về con người. Người là mùa Xuân và chỉ có người mới biết cười trong cái “mùa Xuân” ấy, và thật rõ ràng khi đoạn kết thúc bản nhạc có câu “Người về hát một câu nhỏ. Hôm nay ta lại làm người”. Với “Mộng Về”, tác giả cũng thật khéo khi chỉ biến “người thành mộng” mà cả bản nhạc khác hẳn nội dung thành một tình ca mượt mà trong cay đắng, mượt và đắng như “Mộng về như là ngăn giữ hóa đá thân em từng giờ” hay “Ngọn đời dù cho le lói, cũng có tay vòng ấm vai.”

   

       Thỉnh thoảng hát cho bạn bè nghe “Đêm Việt Nam”, tôi mạn phép tác giả sửa “chết bên bìa rừng” thành “xác bêu hàng rào” vì tôi đã thấy một người tù chết xác bêu trên hàng rào. Trong tù, ban đêm người tù muốn ra khỏi “lán” để đến khu nhà vệ sinh phải cầm theo một cái đèn bão treo sẵn gần cửa, vừa đi vừa la “báo cáo các anh tôi đi vệ sinh”, khi xong quay lại lán thì “báo cáo anh tôi đi vệ sinh về”. Có một người tù kiết lỵ phải lập đi lập lại chuyện đó nhiều lần trong một đêm, tới khi mệt quá câu báo cáo rút ngắn  còn “vệ sinh”, lúc quay lại lán chỉ còn sức kêu tiếng “Về”, và lần đi vệ sinh cuối cùng không có tiếng báo cáo “Về” của người tù kiết lị nữa, đã “có tiếng súng sau trại giam” thay cho tiếng “Về” của người tù ấy. Sáng ra, vài người được lệnh ra khiêng xác người tù kiết lỵ thấy cái xác nằm vắt ngang hàng rào với nhiều vết đạn, và được cho biết “bị bắn trong lúc leo rào trốn trại”. Kiết lị gần chết còn sức đâu mà trốn trại ? Không biết ! Chỉ thấy trên tay xác người tù thiếu cái nhẫn và chiếc đồng hồ. Tôi đã nghe tiếng súng sau trại giam và thấy cả xác tù vắt ngang hàng rào. Tôi hát “Đêm có tiếng súng sau trại giam. Người tù binh xác bêu hàng rào” mới cảm thấy một cảm xúc trọn vẹn.

 

        Dân Việt Nam nghèo đói đến nỗi trước khi chết nhiều người chỉ xin được ăn một bát cơm trắng, mà người Bắc gọi là “ăn giối” (giối = trối, trối trăn, trối chết), còn “ốm dậy ăn giả bữa” để chỉ những người khỏe lại sau cơn bệnh và  thường ăn được nhiều vì cơ thể đòi bù lại những ngày chê cơm trên giường bệnh. Có người chưa kịp nuốt xong miếng cơm giối đầu tiên đã trợn mắt chết vì không còn sức nuốt. Người chết chỉ một lần, cơn hấp hối cũng chỉ một lần và được tính trong giây phút. Những người tù sống dở chết dở, không được sống và không được chết. Họ phải sống trong cơn hấp hối bất tận năm này qua năm khác. Những bát cơm giối đã đến với Hà Thúc Sinh trong sự hấp hối triền miên đó, và anh đã viết “Tủi Nhuc Ca” như những lời để lại. Những dòng thơ nhạc tủi nhục của anh sống và thật như những tấm hình chụp. “Đám Ma Văn Hóa” được kể qua tiếng hát Khánh Ly thật gợi hình gợi cảm. Người trong kiếp trâu bò trên đường rừng quanh co dưới trời mưa, có chàng trai chết bên bờ suối,có lũ người mà người ta chỉ cần trăm tay không cần tim. Những hình ảnh đó mang hồn bơ vơ Phạm Công Văn Hóa, có oan hồn Cúc Hoa Việt Nam và thân phận đọa đầy côi cút của  những Nghi Xuân, Tấn Lực trong bàn tay độc ác mụ dì ghẻ Chế Độ.  Hồn Phạm Công trong cổ tich còn có chỗ để đòi công ly. Hồn Phạm Công bây giờ bị gặm nhấm không nơi đến đành bơ vơ dật dờ ngọn cỏ.

 

       Lịch sử VN có 2 cuộc di cư vĩ đại, 1954 và 1975, mà cả hai cuộc di cư có họ máu với nhau. Cuộc di cư lần đầu xẩy ra cũng là khi Hà Thúc Sinh ở vào cái tuổi còn chạy rong nghêu ngao “Em Bé Di Cư”, một bài “tếu ca” được sửa lời từ “Em Bé Quê” của Phạm Duy : “Ai bảo di cư là khổ. Di cư sướng lắm chứ. Ngồi tàu bay với lại ô-tô miệng thì hát bi bô. Vui thú xi- nê cả ngày. Tiền nhiều tiêu cho đã. Ước mong sao khi túi không xu ta có lại di cư…”. Như những đứa trẻ di cư khác, tuổi thơ của anh cũng gỡ gạc được vài năm “Nắng Đẹp Miền Nam” trong hòa bình, rồi sau đó lại phải lớn lên trong khói lửa và rồi lao mình vào cuộc khói lửa đó. Bài hát tếu năm xưa không ngờ lại là một lời tiên tri thê thảm, “Khi hết tiền ta lại ước mong có cuộc di cư”, và cuộc di cư lần hai đã đến khi quê hương “hết tiền”, nhưng  không nằm trong “ước mong” mà trong kinh hoàng. Hàng loạt những bài ca tủi nhục của anh đã ra đời từ sự kinh hoàng đó.

 

       Tủi Nhục Ca HTS gồm khoảng gần 30 ca khúc, trong đó phần lớn được sáng tác trong tù. Những bản nhạc này không bắt người ta phải phùng mang trợn mắt lên mà hát, không phải gân cổ lên như khi hoan hô đả đảo. Thật hiền hòa, nó chỉ là những tiếng kêu cứu từ vực sâu tăm tối đánh động lòng người.

 

       Có một thời chất liêu trai trong tiếng hát Khánh Ly đã như cuộn giây đưa con diều Phản Chiến Trịnh Công Sơn bay bổng. Cuộn dây tuy dài nhưng con diều chỉ thả được tới một độ cao giới hạn nào đó, và khi trời hết gió con diều hết bay. Nói như thế không có nghĩa là chê nhạc Trịnh không ra gì. Người ta có thể “chê” TCS, nhưng tất nhiên chưa ai dám xúc phạm đến huyền thoại âm nhạc của một Tài Danh Thế Kỷ như ông. Riêng Nhạc Phản Chiến TCS, nó đã có thể vượt được khoảng không gian nào đó nhưng không vượt được thời gian. Thời gian càng qua đi người thich nghe loại nhạc này càng ít hơn kể cả trong nước, vì nó càng ngày càng trở thành nạn nhân của chế độ hiện tại ở VN. Nếu đồng y Nhạc Phản Chiến TCS đã có góp phần cho chiến thắng tạo ra một chế độ càng ngày càng trở thành tội ác, thì người ta sao lại không thể càng ngày càng không thích cái phương tiện tạo ra chế độ diệt dân hại nước đó.Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh thì lại có một giá trị lâu dài vì tính trung thực và tính lịch sử của nó, và dĩ nhiên cái hồn thơ hồn nhạc của tác giả là yếu tố quan trọng ắt có để xúc động lòng người. Thử nghe tiếng hát Khánh Ly với “Đoạn Đường Núi Sọ” vẫn thấy thật xúc động, vẫn thấy thật xót xa khi con “đường gai xưa Chúa bước” vẫn còn đang đeo đuổi đất nước và con người Việt Nam. Rồi một mai dẫu “con đường gai” không còn nữa, người ta vẫn ghi nhớ “Đoạn Đường Núi Sọ” để mà sợ hãi. Có thể nói Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn là sự trang trí cho thật thơ mộng con đường dẫn đến một khu vườn cằn cỗi không sự sống. Tủi – Tình Ca Hà Thúc Sinh lại là chiếc máy ghi những tấm hình thê lương trong khu vườn chết đó. Nếu Nhạc Phản Chiến TCS thúc đẩy một sự đầu hàng tội ác thì Tủi Nhục Ca HTS chính là tiếng tha thiết kêu gọi lương tâm con người vậy.

 

        Nhà báo Frank J. Green của The San Diego Union trong Troubadour of Freedom số ra ngày 27-5-1986 đã nhắc lại cái nhìn không hoàn toàn lắm của một số người Mỹ về Hà Thúc Sinh, “…Ha – who has been called the Bob Dylan of Vietnam – is something of a superstar among the international Vietnamese community…”. Đối với Hà Thúc Sinh, “Bob Dylan của Việt Nam” chỉ đúng với anh vê “Phương Tiện”. Nếu dành cho Trịnh Công Sơn, sự đánh giá này chính xác cả về Phương Tiện lẫn Mục Đích như Joan Bazer đã từng phát biểu.

 

       Bob Dylan là một ca nhạc sĩ Mỹ, tay phản chiến hạng nặng, từng đoạt nhiều giải cao quí như Golden Globe, Grammy, và Academy Awards. Thời thập niên 60, nhiều bài hát của ông đã được dùng như “Thánh Ca” trong các Phong Trào Phản Chiến và Đấu Tranh Dân Quyền tại Mỹ, điển hình như “Blowing In The Wind” và “The Times They Are A-Changing”, kiểu thánh ca “Nối Vòng Tay Lớn”, “Hát Trên Những Xác Người”… của Trịnh Công Sơn ở Việt Nam. Hà Thúc Sinh không phải là người phản chiến và cũng không là người hiếu chiến. Chưa ai tìm được một nét phản chiến nào trong Văn Thơ Nhạc của anh. Anh cũng chưa hề hiếu chiến bao giờ. Sự gia nhập Quân Đội trước 1975 của anh là một việc làm thi hành bổn phận công dân trong y niệm tự vệ trước một hiểm họa. Đọc thơ Nghinh Địch Hành của anh sẽ thấy thái độ của anh cũng là của mọi người lính miền Nam đối với chiến tranh và những người lính bên kia :

 

                                                          Nghinh Địch Hành                               

 

                                                         Giao thừa đâu mà vội        

                                                         Hãy khoan đã chú mày      

                                                         Cứ đóng xa vài dặm           

                                                         Mà ăn uống cho say           

 

                                                         Ta cũng người như chú       

                                                         Cũng nhỏ bé trong đời       

                                                         Có núi sông trong bụng      

                                                         Mà bất lực hôm nay

            

                                                         Chiến chinh trời cũng sợ

                                                          Chỉ còn lại hai bên

                                                          Vội vàng chi cho cực

                                                          Cứ thong thả nghỉ đêm

 

                                                            Vì nói thật cùng chú

                                                            Trăm năm có là bao

                                                            Binh đao sao biết được

                                                            Sinh tử ở nơi nào

 

 

                                                            Nếu chú có cha mẹ            

                                                            Ta chẳng những người thân   

                                                            Còn mang thêm lắm nợ          

                                                            Với rượu và gió trăng

             

                                                             

                                                            Chú cứ ăn cho đủ

                                                            Mai chết sẽ chết no

                                                            Ta cũng cần đêm cuối

                                                            Từ giã gió trăng xưa

 

       Đúng quá Nghinh Địch Hành. “…Tay bóp cò lòng xót hơn muối xát. Thương thân mình thương cả địch quân…”.

 

        Bob Dylan và Trịnh Công Sơn giống nhau ở chỗ cả hai có cùng tư tưởng phản chiến và đều dùng âm nhạc làm phương tiện thực hiện chung một mục đích khích động quần chúng đem tai họa đến cho cả một dân tộc. Hà Thúc Sinh chỉ giống 2 người này trong việc lấy âm nhạc làm phương tiện, nhưng mục đích thì khác hẳn, anh chỉ hiền hòa khơi động tình yêu và lương tâm con người qua thơ nhạc như những tiếng kêu oan cho những kẻ đang bị bức tử. Con đường đi của Bob và Trịnh thật êm chân và được hàng triệu người tung hô hỗ trợ. Đường đi của những Tù Cải Tạo CSVN thật cô đơn và đầy những hầm chông với thú dữ, mà phía trước chỉ là bóng đêm dầy đặc đầy chết chóc. Xem ra Sinh chỉ giống Bob và Trịnh phần nào ở “Cách” chứ không về “Lối”.

 

       Căn cứ vào nhạc đã xuất bản tại Mỹ, có thể phân loại Nhạc Hà Thúc Sinh như sau :

       –Nhạc Sinh Hoạt : Trên 10 bài viết riêng cho Hướng Đạo.

       –Lưu Lạc Ca : Hơn 20 bài, nói lên thân phận lạc loài bơ vơ trước cảnh nước mất nhà tan. Nhiều người lầm tưởng Lưu Lạc Ca được viết nơi đất khách quê người. Thực ra phần lớn những bản nhạc này được viết ngay trên quê hương và ngay cả khi tác giả còn trong các Trại Tù Cải Tạo, chỉ một số ít được sáng tác tại đảo Bidong và Mỹ. Không hẳn chỉ khi ra khỏi nước mới mang kiếp lưu lạc, tác giả đã nhìn thấy chính mình cùng với hàng triệu người khác trong phút chốc đã trở thành những kẻ xa lạ mang kiếp lưu lạc ngay trên chính quê hương mình.

       –Tủi Nhục Ca : Khoảng 30 bài, hầu hết được sáng tác trong nước. Như đã mô tả ở trên, đây là những bản nhạc rất hiền lành, từ âm điệu đến nội dung.

       -Tình Ca : Gần 50 ca khúc, phần rất lớn được sáng tác ở hải ngoại.

 

       Sính Lễ là 1 trong 12 tình khúc trong CD “Người Em Quận Cam” do Hồng Hạnh hát. Bài này tôi được nghe lần đầu do chính tác giả hát vào Mồng Một Tết đầu tiên của đời tù. Tôi nhớ rõ như vậy vì Sính Lễ độc ác quá. Chỉ riêng cái tên của bài hát cũng đủ để bắt những anh chàng có vợ phải nhớ về ngày cưới. Nó còn nhắc tôi tới ngày Mồng Một Tết năm trước, người vợ mới cưới của tôi phải đi “Tết Mới” một mình, vì đúng ngày đó tôi cùng đơn vị đang bận quần nhau với địch tái chiếm một vùng đất ở Long Khánh. Sính Lễ làm tôi nhớ vợ, nhớ ngày cưới trước đó không lâu tôi cũng có sính lễ như Sính Lễ, bây giờ người vợ mới vừa đôi mươi lại phải một mình nuôi đứa con đầu lòng mới vài tháng tuổi. Tôi thấy thật tội lỗi khi Sính Lễ chì chiết nhắc lại những gì tôi đã tuyên hứa với tình yêu :

 

       “xin tặng em khung cửa anh mở về phía tương lai

       “xin tặng em hoan lạc anh từng tìm kiếm lâu dài

       “xin tặng em con đường hoa hẹn hò ta đi tới

       “nơi không gần không xa quá loài người  

 

       …Cái “khung cửa” mà anh tặng em để “mở về phía tương lai” có ai ngờ đâu là khung cửa nhà tù giam giữ hết cả mọi thứ tình yêu, và “con đường hoa” chỉ còn là ngõ tối đầy gai nhọn em đang một mình ôm con nghiến răng dẫm lên bằng những bước chân trần… Tôi diễn tả xúc cảm của mình khi nghe Sính Lễ cũng cải lương ra phết, nhưng không phải, chất “cải lương” chảy ra từ “xúc cảm” thì đúng hơn.

 

       Thiên Thai của Văn Cao đưa người vượt Thế vào cõi Bồng Lai, nơi xa hẳn loài người, du dương cùng bầy Tiên Nữ. Sính Lễ của Hà Thúc Sinh lại đưa người vào “nơi không gần không xa quá loài người” ngay tại Thế, vì loài người sẽ trốn hết vào lúc “thế giới chỉ còn đôi ta”, và chỉ lúc này thôi mới quên được những gì đang tại Thế. Bài này tác giả viết để hát tặng một người bạn ngày tân hôn năm 1973 khi Hiệp Định Paris bắt đầu được giả vờ thực hiện. Không biết y của tác giả thế nào chứ tôi thấy Sính Lễ có lớp mây đen dưới lớp vải điều, hay tại tình yêu của tôi bị trúng đạn từ cái hiệp định giả vờ đó cũng không biết, mà khi vừa mở Sính Lễ ra đã thấy đầy chất đắng bên trong :

 

                                Xin tặng em đây mùa Xuân một buổi sáng vươn vai

                                Bông Hồng gai chiếc bàn vuông vừa từ giã đêm dài

                                Xin tặng em những giọt sương vừa chợt khô trên kính   

                                Con chim xanh cuống quit mái Tây hiên….

 

       Hiệp Định Paris đến, dù không vừa lòng, người ta cũng phải chấp nhận nó như một số phận và cứ coi đó như mùa Xuân bắt đầu hé mở. Hòa Bình khác gì bông Hồng dầy gai đặt trên chiếc bàn vuông cho “4 bên” chụp giựt, bàn tay anh nào cũng tóe máu đầy vết gai đâm. Những dòng nước mắt tạm ngưng chờ chảy như “những giọt sương vùa chợt khô trên kính” chỉ biết ngơ ngác chờ xem, và chưa gì những “con chim xanh” tình yêu đã vội “cuống qúi‎t” dồn về “mái Tây hiên” đón cầu may chút nắng hoàng hôn, hoặc xa hơn nữa nếu tiên trí hóa Sính Lễ thì “mái Tây hiên” vài năm sau phải chăng là cái hiên nhà tận phương Tây chờ lũ chim xanh cuống quít tìm tới ?  Ôi Mẹ ơi ! sính lễ gì mà đắng quá, dầu nó cũng có “vui tiệc vui, người đầy hết chỗ ngồi” nhưng chỉ là những niềm vui gỡ gạc. Lại nữa, đang “Tặng em tia nắng ngày mới , miệng cười tươi đến nụ cuối…” chợt phang ngang “một hồn say đắm dẫu mưng vết thương. Tặng em u ám chiều tối. Dầu cho giông gió gởi tới… “. Tiên tri chứ còn gì nữa. Nhưng cũng từ cái vị đắng đậm đó mới thấy được giá trị cái vị ngọt lịm hiếm hoi của tình yêu, khác gì muối mặn càng làm ngọt lịm ngụm nước lã đến sau. Sính Lễ chẳng viết cho riêng ai, cùng với Người Về tức Mộng Về, nó là Thiên Tình Sử Bi Thảm của nhiều thế hệ cộng chung.

 

       Những ngụm nước ngọt lịm chính là những Tác Phẩm HTS ồ ạt ra đời sau khi anh vượt thoát ngoi khỏi cái ao tù đầy muối mặn. Từ Bidong rồi sang tới Mỹ, anh lao đầu vào việc như người “ốm dậy ăn giả bữa” sau cơn bệnh dài đằng đẳng. Chép lại những tác phẩm đã có sẵn trong đầu, làm báo, viết văn, sáng tác thơ nhạc…, anh xông xáo không ngừng nghi trong mọi bộ môn văn nghệ. Trong lãnh vực âm nhạc, Phạm Duy từng nói và viết về anh, “…người tiếp nối và thắp sáng nền Tân Nhạc VN.”. Đây không phải là lời khen “có qua có lại cho toại lòng nhau”, nhưng là lời làm chứng công bằng từ một người có quá đủ tư cách làm chứng. Những năm đầu sau biến cố 1975, nói chung, nền Tân Nhạc VN khác gì ngọn đèn bị rút hết dầu. Ỏ trong nước, “nhạc vàng” đã trở thành thứ quốc cấm. Tại hải ngoại, mọi người bở hơi tai vì cơm gạo thì còn tai nào mà dành cho âm nhạc, còn người sáng tác thì khi bỏ chạy đã để quên mất cảm hứng nơi quê nhà mất rồi còn đâu. Tân nhạc Việt Nam đang trong cơn hoạn nạn đó thì Sinh vượt thoát tìm tới và “…thắp lại ánh lửa, so dây chơi một đọan buồn.”. Phạm Duy quả thật không quá đáng khi nói anh là người “tiếp nối và thắp sáng nền Tân Nhạc VN.”.

   

       Sau 5 năm với những bát cơm giối, người “ốm dậy” HTS nghiến ngấu ăn giả bữa. Chỉ trong 5 năm đầu từ khi tới Mỹ, anh vừa trông coi một tờ báo ở San Diego vừa cho ra đời Đại Hoc Máu và hàng trăm tác phẩm thơ – văn khác, cùng với hàng loạt những tình khúc nở rộ. Mới tới Mỹ không lâu, “Tủi Nhuc Ca” được cho thu băng năm 1981 với tiếng hát Khánh Ly, Lưu Lạc Ca trong “Hẹn Em Sài Gòn” thu băng năm 1986 qua các giọng trong nhóm Hưng Ca VN, rồi tiếp theo là những CD’s “Lạy Em Mênh Mông” trích từ 30 tình khúc của tập nhạc cùng tên và CD “Người Em Quận Cam” gồm những tình khúc trong Tình Ca Hà Thúc Sinh, lần lượt được mọi người nồng nhiệt đón nhận. Tính chung cho tới nay anh đã cho xuất bản hơn 100 ca khúc các loại, hơn 20 cuốn sách gồm hàng trăm truyện ngắn, truyện ky, truyện dài, và nhiều tập thơ trong đó chỉ riêng tập “Thơ Viết Giữa Đường” đã có 123 bài dài ngắn đủ loại. Nếu thơ nhạc không thực sự là hơi thở, khó ai có thể đa mang được như vậy.

                                                                                                                

        Truyền thuyết loài Hummingbird, nguời Da Đỏ kể rằng,” Có chàng trai yêu nàng con gái thuộc một bộ lạc thù địch,và họ thường lén lút hẹn hò nhau bên bờ suối. Cha nàng biết được, bắt nàng lấy một người khác cùng bộ lạc. Nàng buồn quá bèn một mình đến bên bờ suối khóc lóc xin thần linh giúp và vị thần đã biến nàng thành 1 bông hoa đỏ bên bờ suối, để khỏi phải lấy người mình không yêu. Còn chàng, đêm đêm vẫn ra bờ suối ngồi chờ người yêu, Thần Mặt Trăng thấy tội nghiệp và cho biết nàng đã hóa thành 1 bông hoa đỏ. Chàng hỏi làm sao tìm được nàng, Thần Trăng biến  chàng thành con chim nhỏ để có đôi cánh bay đi tìm nàng, và từ đấy bông hoa đỏ nào chàng cũng nhào đến hôn thử trong khi đôi cánh bé nhỏ đập liên hồi phát ra tiếng vi vu gọi tên người yêu. Và cứ vậy cả đời gặp đâu hôn đó mà chàng vẫn không tìm được mùi vị quen thuộc của nụ hôn đầu… ”. Kể ra anh chàng Humming này cũng may, bông hồng  nào cũng được nếm thử. (Phỏng theo chuyện kể từ một người hàng xóm cũ của tôi, thuần giống Native Americans.)

 

        Một số Tình Ca HTS nghe như có tiếng vi vu từ đôi cánh mỏng manh loài Hummingbird, mà khi hát lên thấy cái gì nghèn ngẹn nơi cổ và nghe như tiếng đập liên hồi của đôi cánh mong manh phát tiếng vo ve mất mát. Tuổi trẻ nào khi vào đời mà chả mang theo một giấc mơ tình yêu. Nhưng dù chỉ là giấc mơ thôi Tuổi Trẻ Việt Nam Thời Chinh Chiến cũng không dám, sự “không dám” tự nguyện mà người thanh niên thời chiến nào cũng nghĩ đến. Lửa đạn đã đốt sạch biết bao nhiêu thế hệ, để rồi khi có thứ “hòa bình nhảy múa tìm đến” lại còn thê thảm hơn, vì cái thế hệ út ít trong cuộc chiến còn tí tuổi trẻ sót lại cũng bị cướp đoạt đem đày đọa tan nát trong giam cầm. Tuổi trẻ gắn liền với tình yêu, tình yêu lại là một thứ đạo cho tuổi trè tôn sùng.Tuổi còn thanh niên, HTS đã viết tình ca như những lời sám hối của một kẻ “lỗi đạo” bằng  âm hưởng tiếc nuối, một tâm trạng “tiếc của” phải chăng có từ khi tuổi trẻ nhận ra rằng sự hy sinh của bao lớp người đang trở thành “công dã tràng” ?    

 

                                       Ôi xa thật rồi

                                       Những lá thu mơ hồ đùa chơi theo gót son đời…

                                   …Hồn anh nuôi mùa xưa nghiêng nắng xuống

                                       Đường hoa Cúc ngồi tiếc nhớ một mình…

                                      (Niệm Khúc Thu Xa, 1973)

 

       Bóng hình mà anh tìm kiếm chính là cái tình yêu tuổi trẻ đã mất mát, nó không hẳn là một bóng hình cụ thể người Nữ nào. Và cho tới bây giờ khi tóc đã đổi mầu, âm hưởng tiếc của trong Tình Ca HTS vẫn không thay đổi.

 

                                       Tôi với em tan bầy lạc đàn

                                       Sầu hoa rơi khi chớm hoa tươi

                                       Tôi với em trôi một dòng đôi

                                       Khóc ai nghe, ơi bèo bọt ơi….

                                   …Tôi mơ hoài một ngày thu mưa

                                       Em quay về bàn chân năm xưa

                                       (Tôi Với Em, 1992)

 

       Đối với Đấng Tạo Ra Trời Đất, tôi thường làm dấu thánh giá sau mỗi bữa ăn thay cho lời tạ ơn đã ban cho tôi của ăn hàng ngày, một thói quen tôi vần thường làm kể cả khi còn trong tù mà Cán Bộ Kỷ Luật Cao-Văn-Liên của Trại CT Xuyên Mộc đã biếm nhẽ xỉ vả “Tại sao trước sau khi ăn lại phải ‘chỉ thiên chỉ địa’, đồ mê tín dị đoan. Cấm tiệt nghe chưa.”. Đối với Đời, tôi cám ơn tất cả những gì mà đời đã cho dù ngọt hay đắng. Khi nghe một bản nhạc và tôi xúc động, tôi thầm cám ơn tác giả cũng như ca sĩ hát bản nhạc đó. Tôi không ủng hộ Trịnh Công Sơn về Nhạc Phản Chiến, chưa hẳn tôi đã ghét ông. Khi nghe “Ướt Mi” hay những bản không phải là Nhạc Phản Chiến, tôi cám ơn cả Khánh Ly lẫn tác giả; cũng như tôi vô cùng cảm kích Từ Công Phụng khi được nghe chính ông hát Mùa Thu Mây Ngàn hay Mắt Lệ Cho Người …,  v.v… Trong trường hợp này,tôi luôn luôn phân minh giữa cảm tình và cảm súc. Với Hà Thúc Sinh cũng thế, tôi kể lại sự xúc động của mình khi được nghe anh hát trong tù cũng chỉ vì không muốn mình là kẻ vô ơn với những dòng thơ nhạc của anh. Cảm tình của tôi dành cho Sinh đến sau một cảm xúc, và tôi đã viết bài này không vì cái đến sau đó.

 

          Có lần tôi được trực tiếp nghe một ca sĩ, nổi tiếng tương đối, nói kiếm được năm ngàn đô-la cho một show hát hai bản nhạc, tính ra mỗi lần hát một bản nhạc kiếm được hai ngàn năm trăm. Bản nhạc đó có thể được người ca sĩ đó hát nhiều trăm lần trong đời, nghĩa là kiếm được nhiều trăm lần hai ngàn năm trăm. Đó chỉ là lợi tức cho một bản nhạc. Trong khi người nhạc sĩ làm ra bản nhạc đó chưa chắc đã có đồng nào, mà nếu có thì cũng chỉ chút đỉnh tượng trưng. Còn những tràng vỗ tay sau mỗi bài hát nữa, khán giả chỉ dành cho người ca sĩ, chứ có mảy may nghĩ tới người làm ra bản nhạc đâu. Cứ tưởng tượng, trong lúc những tràng pháo tay như bất tận đang đưa vinh quang và cuộc sống thừa bứa vật chất đến những người trình diễn nói chung, thì tại một góc tối nghèo nàn hôi hám nào đó có kẻ cũng đang đưa bàn tay xương xẩu chỉ vào chiếc TV sờn mép nơi góc nhà mà miệng ú ớ “Hình như là nhạc của mình.”, mới thấy thật bất công và bất hạnh cho thân phận người nhạc sĩ Việt Nam Lưu Lạc. Thậm chí có những bản nhạc khi được giới thiệu trước khi hát đã không hề nhắc nhở gì tới người sáng tác ra nó nữa. Mỗi lần nghe tin có buổi tổ chức Đêm …cho một nhạc sĩ nào đó là y chang có Cáo Phó theo sau, và sau Cáo Phó thì linh hồn người nhạc sĩ nào thật nổi tiếng mới được hưởng một chương trình vinh danh thật lớn, vì có nổi tiếng mới … bán được vé giá cao. Chưa thấy một văn nghệ sĩ chân chính nào, người đã hiến dâng cả đời cho Nghệ Thuật cũng như góp công vun xới cho Nền Văn Hóa Dân Tộc, được “vinh danh” khi còn đủ tỉnh táo để biết được những gì mình đã làm ! ? Xin đừng làm ma cúng ruồi. Xin đừng cúng giỗ linh đình những người quá vãng đã bị bỏ đói lúc sinh thời !

 

        Đặc biệt bài viết này, xin vinh danh và cám ơn tất cả những người đã làm ra những dòng nhạc, những áng văn hay vần thơ mang sức sống và làm đẹp thêm cho đời, trong đó có cả những tác giả sáng tác trong tù còn được nhớ hay đã quên tên nhưng còn sống ngày hôm nay. Ngày mai  còn gì nữa đâu, khi…

                                                    

Phạm Văn Trọng  

Chandler, AZ.  4/2009      

 

 




CHÍNH CHỊ CHÍNH EM

CHÍNH CHỊ CHÍNH EM

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Suốt tuần qua một vụ ngoại tình trên cấp cao của chính quyền Mỹ đã được báo chí đưa tin sôi nổi khiến dư luận Mỹ và cả thế giới đặc biệt chú ý. Thống đốc tiểu bang South Carolina, ông Mark Sanford 41 tuổi của đảng Cộng Hòa, sau bao năm lén lút che đậy mối tình vụng trộm, phản bội vợ và lừa gạt cả niềm tin của người dân mà ông cai trị, đã phải ra trước ống kính TV, ngậm ngùi ứa nước mắt thú nhận mối tình tội lỗi đó. Mối tình đó không phải là chuyện qua đường của mấy gã đàn ông đã có vợ con rồi nhưng vẫn “thèm của lạ” như thế thường vẫn thấy, mà là một sự say đắm đến độ không thể nào dứt bỏ được. Người tình của ông là một phụ nữ đẹp, sống ở Buenos Aires Argentina, bà Maria Belen Chapur 41 tuổi, cựu phóng viên TV. Bà này đã ly dị chồng và có 2 con. Sanford đã quen Chapur này từ 8 năm trước, nhưng ông nhấn mạnh bà chỉ trở thành nguời tình của ông từ giữa năm 2008.

Câu chuyện vỡ lở vì Sanford quá nhớ người yêu nên đã đi một nước cờ liều… trước khi quá muộn. Thứ tư tuần trước bỗng nhiên ông Thống đốc đi vắng, không ai biết ông đi đâu, cả chính quyền tiểu bang và ông Phó Thống đốc cũng không biết. Nhưng thư ký riêng của ông nói ông đi leo núi ở dãy núi Appalachian, thuộc miền Tây nước Mỹ. Thật ra ông đã bí mật leo lên phi cơ bay đến Thủ đô Argentina để đến với bà Chapur và khóc với bà trong thời gian suốt 5 ngày. Chuyện tình vụng trộm của ông đã vỡ lở vì bà vợ của ông đã biết và yêu cầu ông phải rời ngay khỏi căn nhà ông đang sống với vợ và 4 người con.

Vợ của ông, Đệ nhất phu nhân tiểu bang South Carolina , tuy đã biết chuyện phản bội của ông chồng Thống đốc từ nhiều tháng trước nhưng vẫn im lặng, cuối tuần qua bà Jenny Sanford mới chính thức lên tiếng. Bà Sanford nói sau khi bà biết chồng ngoại tình, bà đã bắt buộc ông phải chấm dứt chuyện đó, coi như bà đã tha thứ. Nhưng có ngờ đâu ông đã nói dối bà về vụ đi chơi núi để lén đi Argentina . Bà nhấn mạnh: “Tôi tha thứ tội ngoại tình, nhưng tha thứ không có nghĩa là dung dưỡng”. Bà Jenny không phải là một phụ nữ tầm thường, bà đã học ở Đại học Georgetown, đã từng làm Phó Chủ tịch Wall Street và nếu không có bà giúp đỡ, ông Sanford cũng khó lòng làm Thống đốc South Carolina đến nhiệm kỳ thứ hai.

Sanford là người nổi danh và có uy thế nhất trong đảng Cộng Hòa. Ông là Chủ tịch Hội đồng các Thống đốc Cộng Hòa ở Mỹ. Trước khi “vụ ăn vụng” bị lộ, nhiều người trong đảng còn nói ông có thể sẽ ra ứng cử Tổng Thống cho đảng Cộng Hòa năm 2012. Nhưng lúc này cuộc đời chính trị của ông đã tàn lụi chỉ vì một người đẹp ở Nam Mỹ. Ông đã phải từ chức Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cộng Hòa và nhiều Nghị sĩ cũng như các ông Thống đốc Cộng Hòa các tiểu bang khác đều nói ông phải từ chức ngay cả chức Thống đốc chớ không chờ đến hết nhiệm kỳ vào đầu năm 2011. Cố nhiên các giới chính trị đều sợ chuyện tình vụng trộm của Sanford gây tai tiếng chung cho cả những người đang giữ các chức vụ cao cấp của nước Mỹ. Sự thật chuyện các ông lớn đi ăn vụng ở Mỹ cũng không phải là hiếm.

Các nhà báo Mỹ sinh trưởng ở Mỹ, nên đã biết rõ hơn những người chỉ mới đến định cư ở nước này. Nói đến lãnh vực đó, họ kể ra một loạt những chuyện tình bê bối đã bị bật mí của các ông ở cả hai đảng, như Thượng nghị sĩ John Ensight, CH-Nev., TNS David Vitter, CH La., cựu Chủ tịch Hạ Viện Newt Gingrich, CH-Ga. Ngoài ra có hai vị trước đây đã lãnh đạo đảng DC, rồi sau đã có lần dự định ra tranh cử TT cho đảng là các ông John Edwards và Gary Hart, nhưng không thành chỉ vì đã có tội đi ăn vụng, lại thêm vị cựu Thống đốc New York Eliot Spitzer, cựu Thị trưởng New York và cả Thống đốc New York đương nhiệm là David Paterson. Những chuyện “ăn vụng” qua mặt vợ đó có thể đã làm sụp đổ một ông cựu Thống đốc là Jim McGreevey – hoặc đưa đến bão tố lớn như trường hợp Quốc hội trước đây đã bổ nhiệm một Công tố viên đặc biệt để đưa TT Bill Clinton ra đàn hặc, suýt làm bay cả chức Tổng Thống, chỉ vì Clinton bị tố là đã “ăn vụng” với người đẹp Monica Lewinsky ngay tại Bạch Ốc.

Về vụ ông Clinton bị lôi ra đàn hặc, người ta không quên Sanford thời đó là một trong những người đã công kích Clinton nặng nề nhất ở Quốc hội. Vậy tại sao Clinton không bị truất phế? Tôi đã theo dõi vụ này và không quên hình ảnh ông Clinton ra trước Quốc hội. Trước ống kính TV, Clinton đã tuyên bố một câu xanh rờn và chắc nịch cho dân Mỹ và cả thế giới nghe: “Tôi không hề có quan hệ tình dục với người đàn bà đó”. Chỉ một câu như vậy đã khiến Clinton thoát nạn vì ông đã nói đúng sự thật chớ không phải chối cãi. Mấy chữ “quan hệ tình dục” làm tôi thắc mắc. Tôi nghĩ các nhà luật học cũng như các nhà làm luật Mỹ nên xác định cho rõ cái gọi là “quan hệ tình dục” gồm có những hành động như thế nào cho hậu thế được nhờ.

Vào đầu Thế kỷ 21, tư tưởng dân Mỹ đã tiến bộ hơn trước rất nhiều. Các học giả hóm hỉnh đã nhắc đến lịch sử, cho biết các chính trị gia thời xưa – kể cả vị hai Tổng Thống vĩ đại nhất nước Mỹ là John F. Kennedy và Franklin D. Roosevelt – đều đã ăn vụng, nhưng họ khôn khéo biết chùi mép, nên không xẩy ra chuyện gì. Các nhà tâm lý học thời nay còn phụ họa thêm, họ nói cái kiếp làm chính trị trước sau đều mang một mối họa như vậy tiềm ẩn trong người. Tại sao vậy? Không một nhà phân tâm học nào xác định được nguyên nhân. Người ta chỉ có thể nói những người ra làm chính trị để tranh chấp quyền hành và danh vọng đều có chung căn bệnh là hành động liều lĩnh, tất cả đều có tài thuyết phục, quyến rũ, rồi khi có danh vọng lớn – kể cả các ông Tổng Thống – những tham vọng và tài năng đó kết hợp thành một khuynh hướng khó coi nhất: đó là thèm muốn chuyện làm tình với người lạ. Có thể đó cũng là một khía cạnh thầm kín nhất của lòng tự đắc, cao ngạo: Ta khác người thường, ta muốn cái gì cũng được.

Đến đây tôi chợt nhớ đến câu khôi hài Việt ngữ “Chính chị chính em”. Làm chính trị nắm quyền cao cấp nhất, vậy mà khi đã có “chị” rồi lại đèo bòng thêm “em” làm chi nữa cho khổ? Làm chính trị, ham danh, ham quyền là chuyện thường tình, nhưng lại ham cả sắc dục là có khi nổ lớn, thân bại danh liệt. Vì thế các cụ già Việt Nam, các “khứa” lão của giới ăn chơi, đã hóm hỉnh đá giò lái đổi chữ trị thành chữ “chị”, ngụ ý chế diễu đã có chị tất nhiên phải có cả “em” nữa. Tục ngữ sặc mùi gốc Việt ngày nay đã trở thành túi khôn hiện đại trên chính trường Mỹ. Kẻ nào bội phản gia đình của chính mình cũng là đã bội phản lòng tin của dân chúng Mỹ. Một ông Tổng Thống mất lòng tin của dân, siêu cường Mỹ sẽ mất luôn uy tín trên khắp thế giới, không cách nào gỡ lại được.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh