CHUYẾN XE TANG VỀ QUÊ CHỒNG (Giao Chỉ)

CHUYẾN XE TANG VỀ QUÊ CHỒNG

Giao Chỉ – San Jose

      (Viết theo lời kể lại của Lệ Hà)

 

                           

                                              

 

                           Cố Trung Úy Dù QUÁCH VĂN SỞ

                                 Khóa 24 Trường VBQGVN

 

                                                                 

 

                San Jose ngày 29 tháng 04 năm 2009.

 

Em là Trần Thị Lệ Hà, quê Cần Thơ, hiện cư ngụ tại San Jose, xin kể lại cho bác Lộc và các bác niên trưởng trong quân đội câu chuyện 34 năm về trước. Nếu miền Nam và Saigon gọi ngày 30 tháng Tư 75 là ngày tang của đất nước thì ngày tang của Trần Thị Lệ Hà đến sớm hơn một ngày. Ðó là ngày 29 tháng 4 năm 1975. Ðêm 28 tháng 4 cách đây 34 năm trung úy Quách Văn Sở, võ bị Ðà Lạt khóa 24, từ giã vợ con vào trại Hoàng Hoa Thám sinh hoạt với tân binh nhảy dù. Trung úy mũ đỏ Quách Văn Sở rất có tinh thần trách nhiệm, đã có giấy lên đại úy nhưng còn chờ lễ đeo lon. Quá nửa đêm 28 qua sáng 29 thì Việt cộng pháo kích vào Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám. Sáng sớm 29 tháng 4 lính dù chạy về báo tin anh Sở, chồng của Lệ Hà đã chết. Cùng một lúc khu trại gia binh nhảy dù phải di tản. Em lúc đó 25 tuổi, con trai đầu lòng được 7 tháng. Chẳng có ai thân thuộc. Mẹ con ôm nhau chạy qua nhà ông cậu bên thành Lê Văn Duyệt. Chồng chết ra sao cũng không biết. Ðường xá kẹt hết. Chuyện chiến tranh, trận mạc nhà binh từ khi lấy nhau tất cả đều do anh Sở quyết định. Nay bỗng nhiên trời xập, ôm đứa con dại, em ngồi khóc một mình. Không biết xác chồng nằm ở nơi đâu. Chung quanh Sài Gòn náo loạn, ai mà lưu tâm đến người vợ trẻ mất chồng vào cuối tháng 4. Phải mà anh Sở chết sớm hơn một tháng thì truyền thống lính dù đã đưa xác về tận nhà. Tang lễ uy nghi, có đơn vị trưởng chứng kiến lễ gấp cờ, như em đã thấy tại sân Hoàng Hoa Thám. Nhưng sao anh Sở lại chết vào cuối tháng tư, giờ thứ 25 của cuộc chiến.

Trải qua một đêm dài thảm kịch. Thằng bé Quách Vĩnh Hưng ôm mẹ nằm trên đất lạ. Cả mẹ con đều không thấy tương lai

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 




CHỐN BỤI HỒNG PHÙ HƯ AM (Cao Mỵ Nhân)

CHỐN BỤI HỒNG
                            PHÙ HƯ AM

CAO MỴ NHÂN

 

Trong “thế giới người” của dân tộc ta thời cận đại và hiện đại, đã từng có những kỳ hoa dị thảo, những nhân vật lúc ma ma, khi Phật Phật, hay những thiên tài nửa tỉnh, nửa say. Thí dụ điển hình như nhà thơ BÙI GIÁNG, gần gủi bạn bè hơn như SAO TRÊN RỪNG, SA GIANG (1).

 

Hiện nay ở Thung Lũng Hoa Vàng, cũng có một danh sĩ, nửa ẩn, nửa hiện, nửa bí, nửa khỏa… lại cũng thân, cũng thích bạn văn. Nhân vật nầy sinh trưởng ở miền NÚI ẤN SÔNG TRÀ. Chưa viết hết lời ca tụng, quý vị cũng biết ngay đó là người họ VÕ, tên VĂN, lót chữ THẠNH.

Cứ theo triết tự Bà La Môn, thì danh tính VÕ THẠNH VĂN được thầy bùa của Bà  La giải thích như sau: Khởi từ nghề VÕ, đã rất thịnh phát ngữ ngôn, dẫn đến nghiệp VĂN —và rồi sẽ tới đâu, để kết thúc cuộc nhân sinh sau nầy, phải hậu tính. Ta chỉ chiêm ngẫm hiện tại, để cùng suy diễn mười thành công lực của bạn ta cho vui.

À, chẳng lẽ hôm nay CAO MỴ NHÂN tôi lướt qua… chiêu bói toán của…Lốc Cốc Tử. Mặc dầu cũng có thời ôm trắp tới cửa đại học Nhân Văn học lỏm thiên văn, địa lý của BỘI PHẢN HỒI, vị giáo sư chuyên khoa khuếch tán Vật Lý Học ĐÔNG ĐÔ, tức HÀ NỘI PHỐ ngày nay, đầu thập niên 80 của thế kỷ trước.

Thế thì, mới trên 60 ngày qua thôi, qua hai dịp liên tiếp đầu hai tháng 4 và 5 (năm 2008) mới đây, MỴ tôi lên SAN JOSE dự hai buổi sinh hoạt theo thứ tự của “Văn Bút Tây Bắc HK,” và “Lễ Vinh Danh Các Bậc Thi Sĩ Lão Thành,” được hân hạnh tiếp VÕ hiền đệ.

Số là tuổi đời, ngã nầy hơn họ VÕ, nhưng tuổi đạo (?) thì họ VÕ lại hơn Lão Bà Bà. Hóa cho nên, theo thuyết tương đối, luật bù trừ… thì chúng tôi là bạn.

Tôi cũng rất đồng ý kiến với VÕ THẠNH VĂN, qua một số nhận xét chung của cuộc thế và sự thể… văn vẻ ở miền thung lũng có rất nhiều hoa vàng xưa nay, rằng, HOA VÀNG nở mãi thì cũng đơn điệu, nên phải thêm chút HOA XANH, HOA TÍM, HOA MUÔN MÀU tùy thung thổ, đất đai, vườn tược… cho riêng mỗi chúng ta.

NGUYỄN ĐỨC SƠN tức SAO TRÊN RỪNG, thuở mới làm thơ đầu thập niên 60, thế kỷ trước, đã cảm thấy thoải mái ở một phần đời nào đó trên bãi biển. Anh ta tự do phóng uế những cặn bã sau khi tiêu hóa, bài tiết ngay trên ghềnh biển, gió mát, sau đó còn làm thơ. Tất nhiên tuyệt đại đa số nhân dân ta không thích kiểu thơ ca như vậy rồi. Sau ngày 30.4.75, NGUYỄN ĐỨC SƠN mang vợ con lên rừng, kiếm sống qua ngày, vì không thích chế độ ràng buộc quản lý.

VÕ THẠNH VĂN khác xa NGUYỄN ĐỨC SƠN, không phải vì VÕ THẠNH VĂN đang sống ở Mỹ, một đất nước đầy đủ tiện nghi, mà, VÕ THẠNH VĂN trong “suốt cuộc hành trình đơn độc đi vào tiểu ngã để truy tầm đại ngã, con người vừa hân hoan vừa bắt gặp, vừa ngậm ngùi chua chát cho thân phận làm người” để viết ra 10.000 (mười ngàn) câu lục bát, với 70.000 (bảy chục ngàn) chữ, lập thành KINH VÔ THƯỜNG, đóng thành  2 quyển Thượng và Hạ, lại có thể nói là 10 tập thơ CÁT BỤI, mỗi tập 1.000 (một nghìn) câu.

Bạn đọc theo dõi lối kể lể ở CHỐN BỤI HỒNG nầy, sẽ hỏi CAO MỴ NHÂN rằng, tác giả đóng bộ 10 tập thơ CÁT BỤI đó, thành 2 quyển Thượng và Hạ, đặt là KINH VÔ THƯỜNG … để làm gì?

Chao ôi, đã gọi là VÔ THƯỜNG thì còn hỏi để làm gì nữa à! Huống chi, tiểu đề đã khẳng định chỉ là 10 tập thơ CÁT BỤI. Mà đã CÁT, đã BỤI… thì còn gì thêm để giải thích!? Hoặc độc giả muốn hỏi KINH VÔ THƯỜNG của VÕ THẠNH VĂN mang ý định khuyến đạo gì đây? ĐẠO TRỜI hay ĐẠO PHẬT, hay còn ĐẠO chi khác nữa?

Xin thưa, đã là ĐẠO, thì quý hóa lắm rồi, kể cả ĐẠO ĐỜI cũng mang chân lý sống –một cách sống ý nghĩa:

“Bụi từ thập giá phục sinh

”Về qua biển đỏ xây linh hiển đài

”Cát từ sa mạc phôi khai

”Về qua biển chết đầu thai kiếp người

(Bốn câu kết tập CÁT BỤI 1, VÕ THẠNH VĂN)

Nhà thơ HÀ THƯỢNG NHÂN đã đề tựa KINH VÔ THƯỜNG của VÕ THẠNH VĂN: “Suy cho đến cùng thì đời người chẳng có gì cả. Sống lâu hay chết yểu thì cũng có lúc bắt đầu và chấm dứt. Cho nên cổ nhân nói: Không có thọ yểu, không có sang hèn. Dù biết đời chẳng có gì cả mà tác giả VÕ THẠNH VĂN lại viết KINH VÔ THƯỜNG dài đến 10.000 (mười nghìn) câu lục bát…” [HÀ THƯỢNG NHÂN].

Đặc biệt hơn SAO TRÊN RỪNG là VÕ THẠNH VĂN không quá đề cao mình (tiểu ngã), vì đã từ bao giờ VÕ THẠNH VĂN thấy tiểu ngã lẫn vào trong vô cùng đại ngã, khiến xót xa cho thân phận con người như cát, như bụi thôi.

Cho nên, đã một lúc nào đó, VÕ THẠNH VĂN thu xếp sinh hoạt đời mình, để đi ở ẩn, giả dụ tạm ở ẩn giữa cuộc sống xa hoa thực dụng của xử sở Hoa Kỳ, VÕ THẠNH VĂN tự đặt đạo hiệu cho mình là PHÙ HƯ DẬT SĨ, thỉnh thoảng diện bích nơi PHÙ HƯ AM, Vùng Bắc Vịnh, miền Bắc Cali.

Đôi lúc, người bình thường chúng ta tự hỏi là: Tại sao đang hiện diện ở thế kỷ 21 nầy, con người càng lúc càng văn minh tiên tiến hơn, có thể tới thời điểm nào đó, thân xác con người sẽ máy móc hóa toàn bộ đến từng phần tử tế bào, mà lại có những PHÙ HƯ DẬT SĨ, những ẢO HUYỀN ẨN SĨ v.v… để mơ mộng, hoang tưởng kiếm tìm một thế giới không thực, không giống cái xã hội chung quanh, thực tế 100%… là tại sao nhỉ?

Song le, nếu ai cũng như ai, thực tế, thực dụng, máy móc… thì còn đâu, và còn ai biết đến cái lẽ huyền vi, sự vô cùng, cái bất tuyệt của TRỜI ĐẤT, VŨ TRỤ, hay ĐẠI NGÃ… để khép mắt van xin Đấng HÓA CÔNG, Ngài TẠO HÓA (nếu không dám nhắc tới THƯỢNG ĐẾ siêu việt) cho loài người chúng ta thể hiện LÒNG TIN (khó, rất khó diễn giải)… thì bấy giờ, chỉ còn cầu nguyện là thượng sách.

Thành ra, những nhân vật nửa cụ thể, nửa mơ hồ, trừu tượng, ma ma, PHẬT PHẬT… đôi hồi, e cũng rất cần thiết đấy.

 

Hawthorne 22.5.2008

 

CAO MỴ NHÂN

(1) SA-GIANG đây là bút hiệu của TRẦN TUẤN KIỆT, sinh năm 1939 tại Sa- Đéc, theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc (Sài Gòn), từng cộng tác với các báo Văn Hóa, Ngày Nay, Phổ Thông, Nghệ Thuật, Văn, Tiếng Nói, Sống Chủ Nhật… đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm1969 . Đã viết: Thơ Trần Tuấn Kiệt, Bài Ca Thế Giới, Cõng Gió, Triền Miên Ngâm Khúc, Cỏ Nội, Sa Mạc Lan Dần, Tiếng Đồng Nội, Thi Ca Việt Nam Hiện Đại… Khác với SA GIANG, bút hiệu của NGUYỄN VĂN PHẬN cầm bút mới mấy năm gần đây  tại Hoa Kỳ. (NT).

 




Phan Tưởng Niệm : CÒN LẠI GÌ CHO NHAU

 

 

CÒN LẠI GÌ CHO NHAU


 


Dòng thời gian thắm thoát rơi quá nhanh – mới đó mà đã hơn ba mươi năm qua rồi – mới ngày nào, tôi chỉ là chàng thanh niên ngớ ngẩn – mỗi sáng,mỗi chiều đứng bên gốc thông già len lén nhìn em vào lớp – vậy mà bây giờ, tôi đã là người  tuổi đã về  già  – mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc – còn em – da mặt cũng đã có nhiều vết hằn theo năm tháng ? – thời gian sao qua quá vội !

Nuối tiếc chỉ là nuối tiếc – chúng ta còn lại gì cho nhau trong những tháng ngày còn lại ? – tình yêu ! – đã hết rồi – còn gì để nói đến tình yêu – thời gian đã bắt đầu gậm nhấm thể xác chúng ta – những vết loang lổ hằn sâu trên khuôn mặt đã bắt đầu xuất hiện – em không còn nhìn tôi mĩm cười – tôi không còn nhìn em ngây dại – chúng ta chỉ còn lại một ánh mắt nhìn thương hại cho nhau . – Hai mái đầu đều đã bạc !

Buổi chiều này – sau hơn ba mươi năm – tôi lại gặp em – trong ánh mắt xa lạ – em ngỡ ngàng – tôi bất chợt. Cơn mưa cuối mùa đổ xuống nơi tôi và em đang đứng – em thì thầm nhỏ nhẹ như lời thì thầm nhỏ nhẹ xa xưa – mỗi lần tôi và em đi phố dưới mưa – " coi chừng mưa ướt" – lời dặn dò năm xưa đã gợi lại trong tôi biết bao kỷ niệm .

Ngày ấy, khi tôi gặp em- tôi chỉ là một thằng con trai lang bạc – đêm nằm rừng, ngày vượt suối – đi tìm một lý tưởng vô hình hay tìm một tương lai mờ ảo mà tôi là một thằng con trai trong số những thằng con trai ngu ngốc chưa hiểu thế nào là dối trá cuộc đời – để rồi một ngày cuối tháng tư – tôi âm thầm lặng lẽ đi vào nơi tăm tối – còn em ngoãnh mặt quay lưng – ra đi không một lời từ biệt. Hơn ba mươi năm trôi qua – dòng thời gian đã cuốn trôi biết bao dấu tích – nhưng cái dấu tích hằn khắc sâu trong tâm khảm tôi vẫn là em – bao năm đợi chờ tôi chấp nhận làm người cô độc – mong một ngày gặp lại em – dù là trong đắng cay oan nghiệt – và cái oan nghiệt đau đớn nhất đối với tôi là khi biết được người chồng hiện nay của em lại là người bạn thân nhất của tôi lúc còn ngồi ở ghế nhà trường – một người bạn thân nhất của chúng ta – khi em và tôi còn yêu nhau.

Còn lại gì cho nhau không em ? – có chăng chỉ còn là đắng cay , chua chát – cái mặn nồng xa xưa của chúng mình giờ như đã nguội lạnh – vậy là cuối cùng rồi chúng ta cũng đã gặp lại nhau – dù rằng quá muộn – nhưng có lẽ đây là cuộc gặp gở cuối cùng của tôi và em trong cuộc đời nàỵ

Buổi chiều trên con phố Argyle của miền Chicago lạnh giá – người đàn ông cô độc lần lủi bước đi dù cơn mưa cuối mùa cứ đổ xuống – người đàn bà đứng lẵng lặng nhìn theo – dòng nước mắt rơi …rơi dài …rơi dài .. .

Phan Tưởng Niệm





Ðâu Là Sự Thật ?

Ðâu Là Sự Thật ?

Ðặng Xuân Khánh (Sinh viên trẻ đang sống trong lòng quê hương VNXHCN)

Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).

Ðặng Xuân Khánh

Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Dim”, ”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v…

Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để “giải phóng miền Nam” thoát khỏi sự “kìm kẹp của Mỹ, Ngụy” v.v giải thích giùm:

1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho “Mỹ – Diệm kìm kẹp” mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi! Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của chủ tịch HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho “Mỹ – Diệm kìm kẹp”? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà??

2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội “giải phóng” thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội “giải phóng”? Nếu dân miền Nam bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp”, cần phải được “giải phóng”, thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các “đồng chí bộ đội”, tay bắt mặt mừng và cám ơn “được giải phóng”, chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các “đồng chí” ấy? Ðua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị “kìm kẹp”, không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp” chứ không muốn được “giải phóng” à?

3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, “bộ đội giải phóng” chiếm toàn bộ miền Nam, đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Ðông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Ðỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?

Theo ước tính của các cơ quan truyền thông, thông tin quốc tế thì hơn 1 triệu người đã đi bằng hình thức này (h**p://archives. cbc.ca/id- 1-69-324/ l…ty/boat_ people).

Chúng tôi đã được học tập là “Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam”, nào là “bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu”, nào là “ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với Diệm hay Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày “Giải phóng” 30/4/1975 – 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên? Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam “giải phóng”, lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Ðảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN “tươi đẹp”?

4. Nă
m 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi.
Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam??? Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam???

5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để “bám gót đế quốc”, là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”, là “thành phần phản động”, là “những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn” như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là “Việt kiều yêu nước”, “khúc ruột ngàn dặm”? Có đúng họ “yêu nước” không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???

6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi Ngô Ðình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá… Mỹ chỉ bắt đầu đưa lính vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết Ngô Ðình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960???




Nguyễn Hà Tịnh : Thảm Cảnh Vượt Biển

Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, qúy độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được,…tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển.

VỤ THỨ NHẤT 87 người bị giết

NHÂN CHỨNG Bà Nguyễn Thị Thương 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo sư Trần Quang Huy, phân khoa trưởng Văn Khoa Đại Học Saigon, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.

Ghe mang số SS0646 IA dài 13 m 5, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01 tháng 12 năm 1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03121979. Hai tàu cướp ThaiLan cặp hai bên hông thuyền tị nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.

80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật qúy. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tị nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tị nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tị nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dụa chết chìm.

Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo sư TRẦN QUANG HUY. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.

Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm im lìm không nhúc nhích được nữa.

Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tị nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tị nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Ủy Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.

Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ năm, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tị nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại TháiLan ra đón họ vào đất liền.

Không lâu sau đó Bà NGUYỄN THỊ THƯƠNG sinh thêm đứa con gái út trong trại tị nạn Song Khla và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông TRẦN QUANG HUY. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà THƯƠNG đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.

Bà NGUYỄN THỊ THƯƠNG kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chún
g tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi.

VỤ THỨ HAI 70 thuyền nhân Việt nam tị nạn bị giết

NHÂN CHỨNG Ông Vũ Duy Thái 44 tuổi, đi cùng vợ là Bà Đinh Thị Bằng 40 tuổi cùng 4 con và 2 cháu. Hiện chỉ còn mình Ông sống sót.

Ghe VNKG 0980 dài 14 m, bề ngang 2 m 2 chở 120 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 29 tháng 12, 1979. Lúc 7 giờ sáng ngày 31121979 gặp tàu hải tặc Tháilan. Tàu này sơn màu đỏ cam, mang số 128 ở đầu mũi, gồm 12 tên cướp võ trang súng dài và dao, búa, rìu. Tàu của chúng phóng tới húc vào làm nứt bể mũi ghe tị nạn. Bọn hải tặc nhảy qua và lập tức phá máy ghe làm thủng thêm vết nứt, nước bắt đầu tràn vào. Bọn chúng lục soát chụp giựt đồng hồ, nhẫn vàng v.v… trong lúc nước nước tràn vào ghe của người tị nạn càng nhiều hơn và bắt đầu bị chìm dần sau khoảng 1 tiếng đồng hồ.

Khi ghe chìm hẳn, đàn bà, trẻ con la khóc hoảng hốt níu kéo lẫn nhau. Bọn cướp nhảy xuống biển và chỉ chọn lựa cứu các cô gái trẻ đẹp. Lúc đó tàu của bọn hải tặc neo đậu cách đó 50 m. Bọn cưới đã lôi kéo về tàu chúng 5 cô gái. Một số đàn ông và thiếu niên tị nạn biết bơi cũng lội về phía tàu của chúng và bám leo lên. Nhiều người bị xô đẩy xuống, nhưng vì chúng ít người nên cuối cùng còn 50 người sống sót leo lên được tàu của chúng kể cả 5 cô gái được chúng cứu trước đó. Những người này đã chứng kiến trước mắt 70 người còn lại bị chết chìm dần dần. Mọi người nhìn thấy những bàn tay chới với ngoi lên khỏi mặt biển rồi mất hút.

Ông Vũ Duy Thái rời Việt Nam cùng vợ và 4 con, 2 cháu. Riêng Ông trong lúc hỗn loạn đã bơi bám vào tàu hải tặc và níu được vợ và một đứa con. Còn 3 đứa con khác và 2 cháu thì bị chết chìm. Tuy nhiên vợ và đứa con còn lại của Ông đã bị uống nước quá nhiều, khi kéo lên được thì không còn nhúc nhích. Ông hi vọng dùng phương pháp hô hấp nhân tạo sẽ cứu sống được, nhưng bọn hải tặc đã quăng vợ và con Ông xuống biển trở lại cho chết luôn.
Anh Phạm Việt Chiêu, 26 tuổi là tài công kể lại chính anh và một số đàn ông khác còn khoẻ đã vớt được một số người chưa chắc đã chết hẳn mà có thể chỉ mới bị ngất xỉu nhưng bọn hải tặc đã bắt bỏ họ xuống biển lại. Sau đó tàu hải tặc trực chỉ đảo KO KRA và chúng giam giữ nạn nhân trên đảo.

Ngày 1.1.1980, một chiếc tàu Hải quân Thái mang số 18 đến đảo vào ban đêm có võ trang vũ khí. Mọi người mừng rỡ tưởng được cứu thoát. Nhưng những người lính Hải quân chẳng chút thương tâm đoái hoài đến dân Việt tị nạn đang lâm cảnh khốn cùng, họ chỉ lo việc khám xét bằng cách bắt tất cả mọi người lột bỏ quần áo trần truồng kể cả đàn bà con gái rồi bỏ đi.

Ngày 2.1.1980 một tàu Hải quân Thái khác mang số 17 lại tới đảo. Lính Thái lại ùa lên lục soát. Tất cả phụ nữ bị lột truồng không còn mảnh vải che thân công khai trước đám đông để bọn lính này sờ nắn khám xét như để tìm vũ khí kẻ nào có giấu diếm. Sau đó, chúng rút về tàu đậu gần bờ biển và đến trưa ngày 411980 mới bỏ đi.

Trong thời gian hải quân Thái làm việc, bọn cướp vắng mặt nhưng ngay sau khi lính Thái vừa bỏ đi thì lập tức 4 chiếc tàu hải tặc tràn người lên đảo. Bọn cướp lại lục soát thêm nhiều lần nữa. Dĩ nhiên những nạn nhân VN khốn khổ chẳng còn gì để chúng cướp bốc nữa. Chúng luân phiên nhau hãm hiếp phụ nữ tại chỗ giữa ban ngày.Chúng chẳng cần tìm chỗ nào kín đáo để làm hành động thú tính này. Năm em gái Việt Nam KH 15 tuổi, BT 17 tuổi, AH 12 tuổi, NY 11 tuổi và MT 15 tuổi bị chúng cưỡng hiếp tập thể ngay trước mắt mọi người.

Lẽ ra, thảm kịch còn kéo dài chưa biết đến ngày nào chấm dứt, nếu không may mắn được vị cứu tinh là Ông SCHEITZER Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc xuất hiện kịp thời cứu giúp và kết thúc thảm ác trạng này. Ông đã đến đảo KRA trên một chiếc tàu Cảnh Sát Thái lan.

VỤ THỨ BA Hải tặc Thái bắt gái vn bán vô ổ điếm

NHÂN CHỨNG Nguyễn Thị Ánh Tuyết 17 tuổi đi cùng chị là Bà Nguyễn Thị Năm bà này đã bị hải tặc giết trước đó và Công Huyền Tôn Nữ Mỹ kiều 17 tuổi.

Ghe không số, dài 10 m, chở 78 người, khởi hành tại NhaTrang ngày 08121979. Ra khơi được 3 ngày thì hết nhiên liệu và thực phẩm, thuyền lênh đênh trên biển trong 10 ngày. Thời gian này có 12 trẻ em đã bị chết vì đói khát. Thi thể các em phải bỏ xuống biển. Đến ngày 21121979 gặp 2 tàu hải tặc Tháilan. Bọn cướp buộc giây vào ghe VN với tàu của chúng, dùng vũ khí ép buộc tất cả mọi người qua tàu chúng để lục soát.

Bà Nguyễn Thị Năm 33 tuổi đang mang thai 5 tháng, đi cùng chồng là &
Ocirc;ng Lê Văn Tư và 3 đứa con 9 tuổi, 5 tuổi và 3 tuổi. Cả 3 đứa trẻ này đã chết trong thời gian 10 ngày ghe bị trôi lênh đênh trước đó. Bà NĂM quá đau khổ và mệt mỏi không còn đủ sức leo qua tàu hải tặc khi chúng ra lịnh. Bọn cướp đã xốc nách Bà lên nhưng Bà vẫn nằm im, một tên cướp liền dùng xẻng xúc cá đập túi bụi vào đầu Bà NĂM. Bà đã bị nứt sọ chết ngay tại chỗ và chúng xô xác Bà xuống biển.

Mọi người kinh hoảng vội leo sang tàu hải tặc để cho chúng có chỗ trống lục soát, phá phách, xét quần áo, thân thể tìm đồ qúy. Sau đó tất cả đàn ông bị bắt nhốt vào hầm nước đá, đàn bà chúng cho ở trên sân tàu để sờ mó nghịch ngợm. Rồi chúng lùa thuyền nhân tị nạn qua trở lại chiếc ghe đã thủng nát. Khi đến ghe thì một người đàn ông đã chết vì đã bị giam giữ trong hầm nước đá lạnh cóng. Chiếc ghe tị nạn lại tiếp tục thả trôi lênh đênh trong nỗi tuyệt vọng cùng cực của mọi người.

Ngày hôm sau, hai chiếc tàu hải tặc khác lại đuổi theo, tới gần vùng đảo KO KRA chúng lại lên ghe lục soát cướp bốc. Lần này 3 thiếu nữ xinh đẹp nhất bị chúng bắt đem đi. Con thuyền tị nạn lại tiếp tục trôi trong tình trạng vô cùng bi đát. Máy ghe bị hư hỏng, không thức ăn, nước uống và ghe thì đã ngập nước vì lúc đó tất cả đàn ông đã quá đói khát không còn đủ sức tát nước nữa. Không ai biết số phận 70 người còn lại trên chiếc ghe khốn cùng đó, lúc này ra sao

Hai chiếc tàu hải tặc chia nhau 3 cô gái VN. Hai cô N.T. Ánh Tuyết và Mỹ Kiều bị chiếc tàu của tên SAMSAC làm chủ bắt giữ. Còn chiết tàu kia bắt Cô LAN 17 tuổi mang đi mất hút, cho tới bây giờ không còn nghe tin tức gì về Cô ấy nữa. Hai cô ÁnhTuyết và Mỹ Kiều bị bọn SAMSAC mang vào đất liền, nhốt trong một khách sạn tại Songkhla. Chúng tách rời hai cô ở phòng riêng khác nhau. Ánh Tuyết bị một tên, được nghe gọi là BÍT canh chừng. Còn Mỹ Kiều thì ở chung phòng với tên SAMSAC.

Ánh Tuyết kể lại là Cô đã la hét kêu ầm lên khi tên BÍT định cưỡng hiếp Cô, khiến mọi người ở các phòng chung quanh cùng khác sạn đa số là người Tây Phương đổ xô tới xem và tên BÍT đã bỏ chạy. Riêng tên SAMSAC ở phòng gần đó nghe tiếng ồn ào vội đem Mỹ Kiều đi giấu trong một khách sạn khác ở tỉnh Haadyai cách Songkhla hơn 30 Km. Khi cảnh sát đến điều tra, chính cô Ánh Tuyết đã dẫn CảnhSát đến bến tàu Songkhla, nơi có chiếc tàu của bọn SAMSAC vẫn còn đậu đó và các thủ phạm hải tặc đã bị bắt kể cả tên SAMSAC mà Cảnh sát đã tìm thấy hắn sau đó cùng với Cô Mỹ Kiều tại khách sạn nói trên.

Tại Ty Cảnh Sát chúng đã khai là định bán hai Cô gái này cho một đường giây chuyên buôn gái cho các ổ điếm.

Trên đây, chúng tôi chỉ đưa ra một vài vụ điển hình thuyền nhân Việt Nam bị thảm nạn hải tặc Tháilan hành hạ, giết chóc xảy ra trong tháng 12-1979 tại đảo KO KRA. Tưởng cần nhắc lại rằng tệ nạn hoành hành của hải tặc THÁI không phải vào thời gian này mới xuất hiện. Trong mấy năm trước 1979 khi ở Việt Nam khởi sự có làn sóng Thuyền Nhân VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO thì người Việt tị nạn của chúng ta đã trở thành những con mồi ngon cho bọn hải tặc THÁI.

Báo chí trên thế giới cũng đã nhiều lần đề cập đến thảm kịch kinh hoàng mà BOAT PEOPLE đã phải chịu khổ nạn. Tuy nhiên kể từ khi các ngư phủ THÁI nhận thấy việc cướp bóc Thuyền Nhân sẽ làm cho họ trở nên giàu có mau chóng hơn là đánh cá thì số ngư dân Thái kiêm thêm nghề hải tặc đã ngày trở nên đông đảo, đưa tới hậu quả là người VN đi tị nạn bằng đường biển càng ngày càng bị rơi vào mạng lưới của bọn cướp biển dày đặc bủa vây trong khắp vùng Vịnh Thái lan.

Nguyễn Hà Tịnh




Hà Thúc Sinh – Lan Man Chuyện Thơ

Hà Thúc Sinh – Lan Man Chuyện Thơ  

Có lẽ trên đời này không gì sướng bằng một người làm thơ in được tập thơ đầu tay. Cảm giác sung sướng ấy chắc không khác nhau nhiều lắm giữa một thi sĩ trẻ chưa thành danh hay một ngòi bút lão luyện đã bước vào cái thập niên có thể là cuối cùng của một đời người. Và có lẽ cũng chẳng ai hào sảng hơn các thi sĩ khi in được tập thơ đầu tay ấy.

Ôi thôi họ ký tặng kể chi. Còn nhớ cách nay 36 năm, khi HÐHQ ngoài Trung vào nhờ người viết trực tiếp đứng ra lo việc ấn hành thi tập “Chiến Tranh Việt Nam và Tôi” cho Nguyễn Bắc Sơn, vì gần nhà, gia đình lại có sự quen biết qua lại với cha Lãm, với ông Ngọc quản lý, người viết đem tập thơ sang in ở nhà in của nhật báo Xây Dựng trong đường Thánh Mẫu. Khi nhìn cái maquette, ông Ngọc có ý quan ngại hỏi rằng: “Các anh in thơ bià ruột cầu kỳ thế này thì đời nào lấy được vốn về.” Nguyễn Bắc Sơn đứng sau lưng cất cái giọng Phan Thiết nói ngay: “Ý anh bác ơi, in thơ để tặng chớ ai in thơ để bán bao giờ!” Tập thơ “in để tặng” ấy thất bại não nề về tài chính cho nhà xuất bản Ðồng Dao dù mấy chục năm sau nó được ngợi ca như một kỳ thư của thời chiến tranh VN. Ngay Võ Phiến khi ngoài bảy mươi mới ấn hành được một thi tập, và hiển nhiên ông đâu có bán, chỉ để đắc ý ký tặng văn thi hữu. Nhưng khác với thơ Nguyễn Bắc Sơn được người cùng thời lẫn người lớp sau ái mộ, thơ Võ Phiến không tệ, nhưng rõ ràng nó không được tiếp đón nồng nhiệt bởi giới trẻ. Khi còn sống gần nhau ở Nam Calif., có lần ông ghé tệ xá uống trà và than rằng: “Tôi có tặng cho X (một người viết phê bình trẻ bên Úc) một cuốn, và cậu ấy có thư cho tôi bảo rằng ‘cháu đã nhận được tập thơ của bác và đã đọc, nhưng nếu chọn cháu chỉ có thể chọn được cái tựa tập thơ thôi.’”

Như thế, thơ ngày nay, nói không sợ thậm xưng, quả đã rẻ rúng lắm. Nó chẳng những rẻ với giới bán sách mà rẻ với cả báo giới, với cả những nhà phê bình. Xin cứ để ý mà xem. Ở các nhật báo, tuần báo… thơ lai cảo thường được dùng để trám những khoảng trống. Nó đứng ngang hàng với những cái khung chia vui chia buồn; thảm hơn, có khi nó được dùng như một cái vignette trám vào bên dưới mấy cái quảng cáo “Nhiều em mới về…” vân vân và vân vân. Trừ những tạp chí có tính văn học nghệ thuật hẳn hòi thì không nói, kỳ dư thơ ngày nay mang cái số phận hẩm hiu giống đám lưu dân không ai muốn chứa chấp. Sở dĩ người viết tự nhiên viết về thơ một cách khá chua chát như thế là vì mới đây có một người bạn từ VN viết thư qua nhờ tìm mua giúp cho anh một số thơ của những thi sĩ tị nạn tại Mỹ. Càng nhiều càng tốt. Nội dung lá thư cho biết bạn ta lại đang lăm le trở thành một nhà phê bình đây. Nhưng chiều bạn, nhiều dịp đi qua những thành phố lớn đông người Việt như quận Cam, San Jose, San Diego, Houston, Virginia… hễ thấy có tiệm sách Việt ngữ là lại tạt vào lục tìm cho bạn được tí nào hay tí nấy. Thế mà kết quả chẳng có là bao. Có lần hỏi một bà chủ tiệm sách quen ở quận Cam về thi tập của một nhà thơ mới nổi tiếng thì bà lắc đầu nói rằng “Chưa nghe thấy tên bao giờ”. Giở ngay một tạp chí loại văn học nghệ thuật đang bày bán trên quầy chìa cho bà ấy xem trang điểm sách có kèm quảng cáo về một thi tập đang được to tiếng tán tụng trên thi đàn, có hàng chữ “Tìm mua nơi các tiệm sách Việt ngữ trên khắp thế giới,” thì bà cười bảo: “Bộ nói dóc bị đánh thuế hay sao hả ông? Ông biết mà, tôi bán sách chỗ này đến nay đã gần 30 năm, nói thật với ông tôi chưa nghe cái tên ông này bao giờ; mà có nghe chăng nữa, tiệm bằng cái lỗ mũi thế này đào đâu ra chỗ bày bán mấy cái thơ thơ thẩn thẩn ấy.”

Nghe xong mà thấy choáng váng mặt mày. Nhớ lại thời tiền 75. Chiến tranh như thế, máu đổ xương rơi như thế, những tiệm sách từ  Sài Gòn xuống tới các tỉnh lỵ chật hẹp như thế, nhưng người yêu thơ vẫn có thể ghé qua tìm được rất nhiều loại thơ của nhiều loại thi sĩ. Thơ ta, thơ tây, thơ tàu, thơ nhật, thơ tiền chiến, thơ thời chiến, thơ tình, thơ thiền, thơ cay chua mặn ngọt, nói tóm thơ gì cũng có. Ngày nay thơ không còn chỗ dung thân. Và phải chăng vì thế rất nhiều thi sĩ đã thôi không còn làm thơ và một ngày kia ở đất người họ sẽ nằm xuống như một người… thợ (ở một ngành nghề nào đó) thay vì giấc mộng ban đầu ước sao ngày trăm tuổi mình sẽ nằm xuống như một người thơ được yêu mến như Ðinh Hùng từng mơ ước:

Khi anh chết các em về đây nhé
Về quanh anh và xoã tóc bên mồ…

Thơ và thi sĩ ngày nay như đều lọt vào những âm mưu hủy diệt non. Những người tri kỷ của nó thì lần lượt đã qua đời. Hãy xem như ông Khai Trí. Gặp nhau trước khi ở tù ông thao thao nói về việc in thơ; gặp nhau trong tù ông tiếp tục thao thao nói về chuyện in thơ; gặp lại nhau bên Mỹ ông in thơ thật. Mười bốn năm trước gặp lại ông ở Nam Calif, ông níu lấy nói chuyện sách vở, rồi thì: “S. ơi, cho tôi mấy bài thơ nhé, kỳ này sẽ in một tuyển tập ‘Tình Yêu Trong Danh Ngôn và Thi Ca’ dày và đẹp lắm đấy.” Người viết giấu tiếng cười trong bụng. Sau 75 ông đã mất hết rồi. Giờ chạy sang Mỹ, tiền đâu ông tính chuyện in thơ, lại còn in dày, in đẹp? Mà giá gom góp được ít tiền chăng nữa, in thơ rồi ông đem bán cho ai? Nhưng cũng cứ về lục đưa cho ông hai bài nhè nhẹ. Dè đâu năm sau trước khi về lại VN tính chuyện “in ấn lớn,” và “nhà sách Khai Trí mới phải cao ba tầng và có hầm cho xe hơi đậu,” ông đã vứt tiền qua cửa sổ Mỹ một lần cho đời biết tay. Hai tuyển tập về thơ và danh ngôn ông cam kết sẽ in đã chính thức “âm thầm” ra đời. Chẳng hiểu quay về Việt Nam lần ấy, trước khi buông bỏ mọi thứ mộng lớn mộng con ông có làm được gì khá hơn thời trước 75 không; nhưng dù có hay không, tuyển tập thơ ông Khai Trí gửi đến từng tủ sách gia đình bạn bè già trẻ của ông ở hải ngoại mười lăm năm trước vẫn thường rực sáng lên cái tính tri kỷ với các người thơ của ông—nói ông là tri kỷ vì trong trường hợp in thơ này ông đã vượt ra ngoài cái con người vụ thực cố hữu; nói cách khác, việc làm của ông trong vụ này cũng có tính “mơ mộng” không khác lắm với chính các thi sĩ góp thơ cho ông in.

Các thi sĩ thì ước sao khi chết có các em về xoã tóc bên mồ; không biết tri kỷ của thi sĩ như ông Khai Trí thì có ước không, nếu có, ông đã ước điều gì? Thơ ngày nay không có chỗ bày trong các tiệm sách để đến được tay các… cô em dài tóc; thi sĩ ngày nay dần dà mất đi các tri kỷ là những người yêu thơ, ngâm thơ, và in thơ của họ. Rồi họ, những thi sĩ thời mạt thơ này sẽ ra sao? Biết đến bao giờ nữa họ lại mới tìm lại được họ như Xuân Diệu thủa chưa hỏng tự tìm thấy mình:

Tôi là con chim đến từ núi lạ.
Ngứa cổ hót chơi.
Khi gió sớm vào reo um khóm lá.
Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời…

Ồ mà Xuân Diệu là ai? Hỏng ở chỗ nào? Lẽ tất nhiên cái chuyện ông trổ giọng hô hào chém giết ta oán trách làm gì. Khi sợ hãi thái quá người ta đều có thể có những phản ứng bất nhân tương tự. Ðến như Nguyễn Tuân kia mà còn tay nâng lên chén rượu, nước mắt ngắn dài, than rằng sở dĩ ta còn sống được vì ta đã biết sợ kia mà. Cái hỏng của Xuân Diệu nằm ở chỗ này:

Hồi ấy, một ngày trung tuần tháng Năm năm 1975, người viết từ miền Tây mới thoát chết về được tới nhà ít ngày thì thốt nhiên có anh bạn nhà thơ Trần Tuấn Kiệt ghé thăm. Anh bảo: “S. ơi, mày có xe chở tao lên toà đại sứ Ðại Hàn xem anh em họ làm trò gì ở trển. Nghe nói hôm nay họ tụ tập đông lắm.” Thế là cái máu tò mò đã kéo chúng tôi lên đường Nguyễn Du. Thấy có mấy chiếc bàn quán cóc kê ngay trên lềâ đường chúng tôi tấp vào gọi cà phê và nhìn vào bên trong toà  đại sứ. Quả nhiên anh em văn nghệ sĩ Sài gòn đã tụ vào bên trong đông thật. Họ đang xếp hàng trình diện và đăng ký. Nơi mấy chiếc ghế bành kê ở tiền sảnh còn thấy mấy đàn anh văn nghệ ngồi uống cổ nhắc với nhau nữa. Người viết nghĩ bụng mình quân nhân thì cứ nhẩn nha xem cách mạng xử với quân nhân thế nào, hà cớ đâm đầu vào đó trình diện làm gì, mà đã có ai chỉ trán gọi tên đâu mà phải trình với diện. Bàn bên cạnh thấy có một ông già gầy, trán cao, không nhớ là có râu dài hay không. Ngồi đối diện với ông già ấy là Duyên Anh và thêm một người nữa. Hỏi Kiệt ai vậy, nói không biết. Rồi vì cuộc đối đáp giữa Duyên Anh và người lạ mặt có lúc xem ra hơi gay gắt khiến chúng tôi đều lắng tai nghe.

Giọng Duyên Anh:

– Thì việc đếch gì anh phải đi làm thơ hô hào chém giết tởm thế?

Ông già cười tỉnh bơ, đáp:

– Ðó là thơ kiếm cơm. Còn thơ tình của tớ ấy à, thơ tình Xuân Diệu ấy à, đến nay không dưới bốn ngàn bài đâu nhé. Bây giờ thống nhất rồi. Khi cách mạng không còn cần triệt để chuyên chính nữa, tớ giao cho các cậu in đấy, có khả năng thì cứ in đi.

Ðấy, đấy là thi sĩ Xuân Diệu mà ngẫu nhiên ngẫu nhĩ người viết được nhìn thấy bằng xương bằng thịt một lần trong đời, đã tự thú như thế: ông hô hào giết người chỉ là để… kiếm cơm.

°

Ðời thơ, nghĩ cho cùng, in được tập thơ đầu tay với tấm lòng nguyên chất thi nhân và được ngợi ca như NBS, hay lúc xế chiều in được tập thơ đắc ý dù kém được chia sẻ như VP vẫn có nhiều lý do để vinh dự hơn là được in 4 ngàn bài thơ như XD mà trước khi chết, nhất định đã có đôi khi chính ông ta phải tự thấy mình đã quá lấm lem.

HÀ THÚC SINH