Giao Chỉ : GENÈVE 54 CHIA CẮT


 
GENÈVE 54 CHIA CẮT                  
                  Giao Chỉ – San Jose
 
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
 
Viết cho ngày 20 tháng 7 (1954-2010)

Tháng 7 năm 2010 có gợi nhớ cho người Việt tỵ nạn chúng ta một chút kỷ niệm nào không? Cách đây 56 năm cũng vào tháng 7 năm 1954, Hiệp Ðịnh Genève chia đôi đất nước. Hôm nay, từ hơn nửa thế kỷ và một đại dương xa cách, xin có đôi lời ghi lại. Trước hết là một số sử liệu, nhắc lại một lần vào cuối cuộc đời.
Tháng 9-1945, Nhật đầu hàng Ðồng Minh, Thế chiến thứ II chấm dứt chính thức trên mặt trận Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng cộng sản tuyên bố Việt Nam độc lập. Người Pháp trở lại Ðông Dương.
Ngày 19 tháng 12-1946, toàn quốc kháng chiến. Vào những ngày của mùa Thu khói lửa năm xưa, tất cả thanh niên Việt

Vào thời gian này, không ai biết gì về quốc cộng. Người ta nói rằng: Khi cách mạng mùa Thu, anh 20 tuổi, anh không theo kháng chiến, anh không phải là người yêu nước. Và tôi là cậu bé con của trường Cửa Bắc, Nam Ðịnh cũng bắt đầu học bài học yêu nước nồng nàn.
Hà Nội tản cư, sinh viên học sinh gia nhập tự vệ thành mang dấu hiệu sao vàng tham dự vào trung đoàn thủ đô. Trong Nam các thanh niên tiền phong Sài Gòn cầm gậy tầm vông hợp đoàn chống Pháp.
Cho đến ngày nay, tất cả các vị cao niên 75 và 80 tuổi trở lên còn sống đến bây giờ chắc hẳn còn nhớ rất nhiều về mùa Thu khói lửa năm xưa của thời kỳ 1946. Rồi tiêu thổ kháng chiến, rồi tản cư, rồi về Tề, biết bao nhiêu là ngôn ngữ đặc thù của cả một thời thơ ấu.
Ba năm sau, tháng 3-1949, vua Bảo Ðại từ Hương Cảng trở về. Bình minh của phe quốc gia mới bắt đầu nở hoa cay đắng trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Cuộc chiến vẫn tiếp tục trên toàn thể đất nước vào năm 1950. Một năm nhiều dữ kiện. Tháng giêng, Trung Cộng công nhận cộng sản Việt Nam. Tháng 2, Hoa Kỳ công nhận Việt Nam Quốc Gia. Tháng 3, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp tại Ðông Dương. Tháng 6, toán cố vấn Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.
Tiếp theo hai năm 1952 và 1953, cường độ chiến cuộc gia tăng mãnh liệt.
Rồi đến năm 1954 định mệnh. Tháng 5-1954, Ðiện Biên Phủ thất thủ, hội nghị Genève về Ðông Dương khai mạc. Tháng 6-1954, ông Ngô Ðình Diệm từ Mỹ về nước. Tháng 7-1954, Genève quyết định chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17, trên con sông Bến Hải giữa nhịp cầu Hiền Lương.

Và cái ngày định mệnh của cả dân tộc là ngày 20 tháng 7-1954. Anh, Pháp, Tàu v.v… ký vào hiệp ước cùng với phía cộng sản Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam quốc gia không ký.

                               Quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
Thủ tướng Pháp đương thời hứa với quốc dân là hiệp định phải ký xong nội ngày 20 tháng 7-1954. Họp bàn đến nửa đêm chưa xong. Ðồng hồ phòng nghị hội cho đứng chết lúc 12 giờ khuya. Tiếp tục họp đến sáng hôm sau. Ký xong rồi cho đồng hồ chạy lại. Ngoại trưởng Việt Nam là cụ Trần Văn Ðỗ khóc vì đất nước chia đôi ngay tại hội nghị.
Từ Hà Nội một số sĩ quan Quốc Gia Việt Nam cùng sĩ quan Pháp tham dự hội nghị Trung Giá để quy định việc đình chiến. Các đơn vị Pháp và tiểu đoàn khinh quân Việt Nam âm thầm rút khỏi Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Nam Ðịnh để lại sự hoảng loạn đau thương cho nhiều giáo khu Việt Nam tự trị.
Tại miền Bắc, Pháp và phe quốc gia có thời hạn tập trung 80 ngày tại Hà Nội, 100 ngày ở Hải Dương và 300 ngày tại Hải Phòng.
Tại miền Nam, bộ đội tập kết tại Hàm Tân 80 ngày, Bình Ðịnh 100 ngày và Cà Mau 300 ngày.
Ngày nay bao nhiêu người trong chúng ta còn nhớ đến thời kỳ tập kết ở miền Nam và di cư của miền Bắc. Bộ đội miền Nam trước khi ra đi đã phát động chiến dịch gài người ở lại nằm vùng và phong trào lập gia đình ồ ạt để hẹn ngày trở lại hai năm sau hiệp thương và tuyển cử. Trung úy Giao Chỉ tham dự hành quân tiếp thu Cà Mau thấy người cộng sản tập kết chào nhau với bàn tay xòe hai ngón hẹn gặp lại sau hai năm, kèm theo khẩu hiệu: Ra đi là chiến thắng, ở lại là vinh quang. Kháng chiến miền Nam ra Bắc để lại những người đàn bà mang bầu trong thôn xóm và súng đạn chôn sau vườn.
 
                                  
Trong khi đó ở miền Bắc cộng sản cố sức cản đường không cho lính quốc gia di tản và ngăn chặn cuộc di cư vĩ đại từ tháng 8-1954. Nhưng phe Quốc Gia vẫn có đủ một triệu người ra đi.
Trung úy Vũ Ðức Nghiêm, tốt nghiệp khóa 1 Nam Ðịnh đã di cư vào Nam cùng đơn vị và gia đình lúc ông hơn 20 tuổi. Từ Phát Diệm, ông đi cùng Tiểu đoàn Khinh quân 711 về Hải Dương rồi rút về miền Nam.
 
                                 
Ðại úy Lê Kim Ngô di tản trường Công Binh từ Bắc vào Nha Trang và tham dự hành quân tiếp thu Bình Ðịnh. Cả hai ông Vũ Ðức Nghiêm và Lê Kim Ngô về sau đều có dịp trở về đất Bắc trong lao tù cộng sản trước khi qua định cư tại Hoa Kỳ. 
 
                                  
                                  
                                             
Cũng trong đợt di cư theo gia đình công giáo, thanh niên Phạm Huấn 17 tuổi còn nhớ mãi về Hà Nội của tuổi hoa niên. Sau khi ký hiệp ước Paris, thiếu tá VNCH Phạm Huấn có dịp trở về trong phái đoàn chính thức để viết nên tác phẩm "Một ngày tại Hà Nội" vào năm 1973. Sau đó ông Phạm Huấn lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn năm 1975 và chưa một lần trở lại.
Ngày 7 tháng 7-2004, tôi và đại tá thiết giáp Hà Mai Việt vào thăm Phạm Huấn tại Nursing Home của bác sĩ Ngãi ở khu Tully, San Jose
Sinh năm 1937, người thiếu niên Hà Nội trở thành sĩ quan trẻ trung của Sài Gòn bây giờ vẫn còn là vị cao niên trẻ nhất của Nursing Home. "Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm." Phạm Huấn nói rằng nếu có ngày các ông lấy lại được Sài Gòn thì tôi cũng sẽ chơi một chuyến xe lăn về quê cũ. Nhưng từ tháng 7-1954 cho tới tháng 7-2010 ngày tháng cũng xa rồi mà mộng ước cũng xa rồi. Phạm Huấn và nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đều lần lượt ra đi từ San Jose bỏ cả mưa Sài gòn lẫn mưa Hà Nội.
Năm 1954, có cô bé 15 tuổi lên máy bay một mình đi theo gia đình người bạn để vào Nam tìm tự do. Mồ côi mẹ, cha ở lại đi tìm con trai rồi kẹt luôn. Cô bé tên là Nguyễn Thị Chinh và sau này chuyến đi đã đem đến cho miền Nam một đệ nhất minh tinh gọi là Kiều Chinh. Chuyến đi của Kiều Chinh 1954 từ biệt Hà Nội đầy nước mắt chia ly trong tình phụ tử. Năm 1975, Kiều Chinh lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn trong một chuyến bay trắc trở vòng thế giới giữa lúc thủ đô miền Nam hấp hối.
Và cũng vào năm 1954, một cô bé 9 tuổi Nguyễn Thị Lệ Mai xuống tàu di cư vào Nam. Sau này cô trở thành ca sĩ tiêu biểu của cuộc chiến lầm than, một đời lưu vong trong một kiếp trầm luân. Tên của người ca sĩ 40 năm hát rong trên khắp địa cầu là Khánh Ly.
Và cùng với Vũ Ðức Nghiêm, Lê Kim Ngô, Phạm Huấn, Kiều Chinh, Lệ Mai còn có Bùi Ðức Lạc cũng là thành phần Bắc Kỳ di cư đến tạm trú ở khu Phú Thọ Lều để đến 75 thì trở thành người di tản mang màu áo pháo binh Dù.
Năm 1972 trong nước mắt Hạ Lào, Bùi Ðức Lạc nghe Khánh Ly nức nở, đã nói rằng trận liệt mất đường về không phải vì Mỹ bỏ mà tại vì nhạc Trịnh Công Sơn.
Một người khác gốc Phát Diệm đã sớm trở thành dân di cư Hố Nai rồi chuyển qua vượt biên với một vợ 9 con tiếp tục bình tĩnh làm báo hàng ngày tại San Jose. Ðó là Ký Còm – Vũ Bình Nghi.
Tại sao miền Bắc lại di cư tỵ nạn? Tại sao miền Nam lại di tản vượt biên? Truyền thống của dân Việt là muôn đời sống với lũy tre xanh, với mồ mả tổ tiên, với làng xóm. Vạn bất đắc dĩ phải ra đi mang tiếng tha hương cầu thực nhưng rồi vài năm lại trở về. Quốc văn giáo khoa thư thủa nhỏ đã ghi rằng chỉ có chốn quê hương là đẹp hơn cả.
Trung úy Phan Lạc Tuyên khi tham dự hành quân tiếp thu tại Bình Ðịnh đã viết nên bài nhạc bất hủ. Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ. Nhưng chính tại miền quê đơn sơ ở Bồng Sơn này suốt 20 năm chưa bao giờ yên tiếng súng.
Khi người cộng sản nổi dậy với một cuộc chiến toàn diện khốc liệt và quá độ đã triệt tiêu hoàn toàn mọi sự hòa giải trong tình tự dân tộc. Ðầu tiên là các dân thành thị, trí thức, tiểu tư sản và tôn giáo phải bỏ Kháng Chiến về thành. Tiếp theo là bỏ miền Bắc di cư vào miền Nam.
Năm 1954, người Bắc vào Nam đã đánh thức con rồng Sài Gòn tỉnh giấc. Qua những khác biệt ban đầu rồi chuyển đến thời gian hòa hợp. Miền Nam bắt đầu khởi sắc từ ẩm thực đến văn chương báo chí. Từ văn nghệ đến kinh doanh. Và sự hòa hợp không hề có biên giới.
Ðại úy Lê Công Danh, gốc công tử Cần Thơ đứng đón di cư ở bến nhà Rồng đã bế luôn cô Bắc Kỳ nho nhỏ tóc demi garson về làm áp trại phu nhân.
Trung úy công binh Nghiêm Kế, dân chơi Hà Nội phải lên tận Biên Hòa xứ Bưởi cưới cô Bé về làm chính thất, sống 20 năm ở các trại gia binh với 8 đứa con lần lượt ra đời.
Trung úy Giao Chỉ đi chiến dịch Ðinh Tiên Hoàng phải xuống tận Rạch Giá để rước về người đẹp xứ Kiên Giang. Sau hơn 50 năm tình cũ, chàng mới nhận ra rằng không phải chỉ Ðà Lạt mới có hồ than thở, mà ở miền Hậu Giang cũng có khá nhiều.
Những ông sĩ quan trẻ Bắc Kỳ xấp ngửa vào Sài Gòn đều đem về mỗi ông một cái hồ than thở. Qua đến Hoa Kỳ nàng vẫn còn than thở qua Cell Phone…
Sau những đoạn trường 1954, thì tiếp đéán câu chuyện tình Bắc duyên Nam trên mọi lãnh vực. Tất cả cùng nhau xây dựng xong nền Cộng Hòa với một đạo quân đẹp đẽ biết chừng nào.
Cho đến năm 1975 và rồi đến tận ngày nay là 2010, người Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi. Từ di tản đến vượt biên, vượt biển, đoàn tụ, HO, con lai.
Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương?
Tại sao chúng ta lại rời bỏ quê hương?
Một lần đi là một lần vĩnh biệt.
Một lần đi là hết lối quay về.
Năm 1954, khi ra đi dân Bắc Kỳ di cư ít có hy vọng trở về chốn cũ. Bài ca "Hướng về Hà Nội" được hát nỉ non suốt ngày đêm trên Radio. Cho đến khi chính phủ sốt ruột phải ra lệnh cấm. Những cánh bưu thiếp liên lạc Bắc Nam rời rạc được một vài tháng rồi cắt đứt sau hai năm xa cách.
Qua thập niên 60, Hà Nội mở đường dây Ông Cụ, đưa cán bộ vào Nam xây dựng hạ tầng cơ sở và dựng nên cuộc chiến mà ngày nay chính cựu đảng viên cộng sản Dương Thu Hương cũng nhận xét là một cuộc chiến sai lầm, hy sinh quá nhiều sinh mạng và tiềm lực của cả hai miền đất nước.
Hôm nay, nhân dịp ghi dấu 55 năm cuộc hiệp định Genève chia đôi đất nước, chúng ta cùng suy ngẫm về dòng sinh mệnh đã đưa đẩy người Việt lưu vong. Sẽ không thể có được câu trả lời coi như là chân lý cho một vấn nạn lịch sử.
Trong cuộc sống hàng ngày, biết bao nhiêu là điều bí ẩn không hề có đáp số. Tại sao có người hạnh phúc và có người đau khổ? Tại sao có người bị hy sinh và có người tồn tại? Tại sao có người thành công và có người thất bại? Những ngày tháng lịch sử như 20 tháng 7, như 30 tháng 4 chỉ là những dấu ấn trong dòng sinh mệnh của một dân tộc, của một cộng đồng. Ðó là ngày của cay đắng nở hoa.
Mới đây các quốc gia văn minh nhất của nhân loại Tây phương kể cả Nga, Ðức, Anh, Pháp, Canada, Úc, Mỹ và nhiều nước khác cùng dự lễ kỷ niệm 60 năm đổ bộ Normandie. Bây giờ chúng ta cũng là công dân của một xứ sở văn minh là Hoa Kỳ, hãy cùng nhau nhớ về ngày lịch sử 20 tháng 7 của 55 năm về trước, ghi dấu lịch sử là một cách hành xử của con người văn minh.
Một lần nữa xin nhắc lại 20 tháng 7-1954, 55 năm về trước hiệp định Genève chia đôi đất nước. Một triệu người miền Bắc di cư vào Nam. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó dành cho quý vị.
Tiếp theo từ 30 tháng 4-1975 cho đến nay, trên hai triệu người Việt lần lượt ra đi. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó cũng dành cho quý vị. Tại sao quý vị lại ra đi? Và trong kỳ tới, chúng tôi trở lại với một đề tài khác. Tại sao lại trở về? Tại sao lại không trở về? Trở về quê hương. Câu hỏi cho cả đời người. Câu hỏi cho cả một thế hệ. Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Nhà thơ Ðỗ Trung Quân đã viết:
                               Quê hương, mỗi người có một
                               Như là chỉ một mẹ thôi…
 
Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Hay là như Vũ Hoàng Chương đã than thở:
                                       Chúng ta là đám người đầu thai nhầm thế kỷ
 
Có thực sự đau thương như vậy không? 
Chúng ta ra đi đem theo quê hương, hay là chúng ta ra đi bỏ lại quê hương? Với con đường an cư lạc nghiệp ở xứ này, phải chăng chúng ta đang sống hạnh phúc với quê hương mới?
Giáo sư Elie Wiesel, người Mỹ gốc Do Thái sinh trưởng ở Romania, nạn nhân của nạn diệt chủng Holocaust được cứu sống lúc 16 tuổi. Nhập tịch Hoa Kỳ năm 1963. Ðoạt giải Nobel về Hòa Bình năm 1986,Ông đã nói rằng: Nơi nào tôi sống có tự do và hạnh phúc, nơi đó chính là quê hương.
 
Giao Chỉ –
San Jose tháng 7-2010


Nam đều đứng lên đáp lời sông núi. Phạm Duy đã viết lời ca như sau: Một mùa Thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt, cùng ngàn vạn thanh niên vung gươm phá xiềng. Lúc đó tôi mới hơn 10 tuổi. Tuổi măng non thơ dại và hào hứng biết chừng nào.




Hoàng Thảo : Dòng chữ HS.TS.VN

Bài từ blog: 1975hoangthao.multiply.com

Chúng tôi là những sinh viên vùng cao miền Tây Bắc của tổ quốc. Những ngày học ở dưới xuôi, chúng tôi thường hay thấy các bạn sinh viên dưới đó kẻ dòng chữ HS.TS.VN. Rồi đọc ở những trang mạng như bauxite, danluan, chantroimoi… chúng tôi mới biết các bạn sinh viên khắp các tỉnh thành trong cả nước đang thể hiện mãnh liệt tinh thần yêu nước, bảo vệ chủ quyền lãnh hại, quần đảo trước sự xấm lấn của giặc Tầu bằng dòng chữ trên.

Mấy anh em chúng tôi nói với nhau, chả lẽ quê mình không có những dòng chữ này sao? Quê mình ngay sát biên giới Tầu, nhất định cần phải có, không thể thua kém các bạn tỉnh khác. Hè rồi về quê, anh em chúng tôi chở nhau bằng xe máy đi dọc con đường từ Lai Châu sang đến Điện Biên để thực hiện việc kẻ dòng chữ yêu nước như các bạn dưới xuôi đang làm.


Lúc đầu chúng tôi kẻ dòng chữ HS.TS.VN được mấy nơi. Lúc sau bọn tôi thấy dân đi qua họ nhìn như không hiểu. Mấy anh em bàn nhau viết tắt thế này, bà con ở đây kém thông tin, không hiểu được đâu. Phải viết rõ thôi, thế là chúng tôi quyết định viết xen kẽ, cứ dòng HS.TS.VN lại đến dòng chữ rõ ràng Hoàng Sa Trường Sa Là Của Việt Nam. Khi viết dòng chữ rõ ràng này thì có một ông trung niên đến hỏi tại sao các cháu lại viết thế. Chúng tôi trình bày về sự an nguy của hai quần đảo này trước tham vọng của bọn Trung Quốc và tình hình thanh niên cả nước đang nỗ lực kẻ những dòng này, riêng tỉnh nhà ta  giáp biên giới với Trung Quốc mà lại chưa có, nên chúng cháu phải kẻ. Người đàn ông nghe xong tức giận nói:


– Chú cũng là lính biên phòng hồi chống Tàu đây, chúng mày kẻ như thế chưa đủ, phải viết thêm vào cho chú câu ” đéo phải của Tầu”.

Chúng tôi nói cho chú biết, mình làm thế này cần phải văn minh, nói như thế người đọc không thiện cảm. Người đàn ông càng tức hơn, chú ấy quát:

– Mẹ, ở đây miền ngược không như dưới xuôi, cái gì cũng phải thẳng luôn. Chúng mày sợ không dám làm thì sơn làm gì. Mày viết đi để bà con đây đọc xong, tao sẽ giải thích. Chứ viết của Việt Nam thì người ta chả hiểu gì hết. Chúng mày có viết không thì để tao viết.

Anh em chúng tôi nhìn nhau, sau cũng đành gật đầu chiều ông cựu chiến binh máu nóng đó. Thế là thành dòng chữ Hoàng Sa Trường Sa Là Của Việt Nam lại thêm cái đoạn Đéo Phải Của Tầu ở phía dưới là vậy.

Sang đến địa phận khác, đang viết thì có một thanh niên dân đi qua bỗng đứng lại nhìn. Hỏi chuyện chúng tôi, nghe chúng tôi giải thích. Anh ấy giằng lấy cái bình xịt nói

– Các chú cho anh viết với.

Anh viết xong dòng chữ Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam xong, yêu cầu chúng tôi chụp tấm ảnh làm kỷ niệm. Chúng tôi hỏi chụp ảnh này công an  biết anh viết, bắt anh xóa hết tất cả thì sao. Anh ấy nói:

– Tao làm đường đoạn này, bắt tao xóa hôm nay, ngày mai tao lại viết. Bọn mày để lại cho tao cái bình sơn. Tao làm đến chỗ nào đẹp tao sơn mấy nhát.

Chúng tôi tiếp tục đi, vì trời đổ mưa, sơn không ăn vào tường, thành cầu nên chúng tôi dừng lại. Tuy thế cũng điểm lại gần 300 cây số của hai tỉnh Điện Biên, Lai Châu đã rải rác những dòng chữ Hoàng Sa Trường Sa Là Của Việt Nam. Có lúc đang sơn có những chiếc xe biển xanh chạy qua, nhưng anh em chúng tôi không hề nao núng vẫn cố sơn thật nắn nót. Chúng tôi bảo nhau mình làm phải đàng hoàng, nắn nót để chọ họ (chính quyền) khi thấy mình làm, hay khi đọc những dòng chữ ngay ngắn đầy đủ họ càng phải ý thức về tâm nguyện của thanh niên. Một tâm nguyện cực kỳ chính đáng mà nhà nước cần phải quan tâm.

Thế là vùng Tây Bắc xa xôi của tổ quốc cũng không hổ thẹn với các bạn dưới xuôi. Những dòng chữ đỏ thắm tình yêu quê hương đất nước đã được thể hiện đầy đủ, rõ ràng trên những tuyến đường quốc lộ đông người đi lại. Thông điệp về tình yêu quê hương, về ý chí khẳng định chủ quyền đất nước đã được ghi dấu rành rẽ trên hai tỉnh Điện Biên, Lai Châu. Dù ở vùng núi cao địa đầu tổ quốc nhưng tấm lòng của người miền núi vẫn hướng tới những quần đảo xa xôi của tổ quốc mãi ngoài khơi. Những người ngư dân Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Khánh Hòa và những người sơn tràng Điện Biên, Lai Châu mãi mãi là cùng một dân tộc Việt Nam, sẽ gắn bó chung cùng số phận không phân biệt vùng miền. Bởi bất cứ một miếng đất, vùng biển, hòn đảo nào của đất mẹ Việt Nam bị cắt lìa đều gây đau đớn cho đất mẹ Việt Nam.

Chúng tôi sẽ tiếp tục kẻ những dòng chữ này trên quê hương mình, và vận động các bạn ở quê hương cùng góp tay để Hoàng Sa, Trường Sa mãi mãi trong ý thức, tâm khảm người Việt Nam dù ở bất cứ đâu đều phải ghi khắc rằng là của chúng ta, của dân tộc Việt Nam, của đất mẹ Việt Nam hàng ngàn năm lịch sử.
 


http://1975hoangthao.multiply.com/journal/item/3/3?replies_read=1

Nhóm Thanh Niên Hành Động Vì Đất Nước Dán Tờ Rơi HS.TS.VN

Giới Trẻ "Đói" Thông Tin Về Biển Đông

 

Nguồn: Tumasic.tk

– Sáng hôm nay, thông tin về sự xuất hiện của "nhóm Thanh niên hành động vì Đất nước" được làn truyền đi nhanh chóng, kèm theo những thông tin về hành động dán tờ rơi có in chữ "Hoàng Sa Trường Sa Là Của Việt Nam" tại một số địa điểm ở thành phố Sài Gòn và thành phố Biên Hòa.

Theo lời giới thiệu của anh Nguyễn Văn Tân, "nhóm Thanh viên hành động vì Đất nước" có một số thanh niên đã tham gia vào cuộc biểu tình của sinh viên – học sinh trước Đại sứ quán Trung Quốc cuối năm 2007 để phản đối âm mưu xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của họ. "Những cuộc biểu tình này đã bị chính quyền Việt nam ngăn cản. Chúng tôi có người đã phải bỏ học vì áp lực của nhà trường, sau khi bị công an kêu lên thẩm vấn, làm khó khăn. Từ đó, anh em xuống tinh thần, không dám làm gì, mặc dù sự bức xúc đối với các vấn đề biên giới, hải đảo và chủ quyền đất nước vẫn còn nguyên vẹn", họ nói.

Hoàng sa trường sa là của Việt Nam

Tờ rơi "Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam" của nhóm Thanh niên hành động vì Đất nước trên một tấm biển quảng cáo.  (ảnh: nhóm Thanh niên hành động vì Đất nước )

Tuy nhiên, sau khi thông tin về hành động phát tờ rơi "kêu gọi toàn dân Việt hãy phát huy hào khí dân tộc, chống lại tham vọng xâm lấn của Trung Quốc" của Ủy ban phối hợp hành động vì Dân Chủ được lan đi, những thanh niên này đã tỏ ra rất phấn chấn, hào hứng vì " Ít ra người Việt Nam đã không bất lực ngồi yên để bọn Trung Quốc tiếp tục lấn lướt, trước sự đồng lõa của chính quyền hiện nay".

Những thanh niên trong nhóm này cho rằng sự lấn lướt của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, đặc biệt các vấn đề trên biển Đông, là do sự đồng lõa của chính quyền Việt Nam.

Hoạt động được nói trên của nhóm Thanh niên hành động vì Đất nước được thực hiện 1 tuần trước, ngày 22/04, sau khi đã bàn bạc kĩ lưỡng nhằm mục đích "góp phần thúc đẩy một số người Việt Nam khác mạnh dạn bày tỏ ý kiến" và "nói lên tinh thần yêu nước", tiếp tục những nỗ lực mà Ủy ban phối hợp hành động vì Dân Chủ đã thực hiện đầu xuân Canh Dần năm nay.

Họ nói sẽ tiếp tục thực hiện các hoạt động tương tự tại nhiều nơi và dưới nhiều hình thức khác nhau. Chia sẻ những suy tư của mình về thái độ của thanh niên Việt Nam nói chung với những vấn đề của đất nước, đặc biệt là vấn đề chủ quyền dân tộc, đại diện nhóm Thanh niên hành động vì Đất nước nói "hy vọng là dấy lên được một phong trào "thanh niên hành động vì đất nước". Vì đối với chúng tôi, chỉ khi nào thanh niên Việt Nam ý thức được đất nước đang lâm nguy và nhập cuộc bằng nhiều cách thức khác nhau, thì mới hy vọng thay đổi được tình hình, buộc chính quyền Việt Nam phải dứt khoát hơn thái độ đối với bọn bá quyền Trung Quốc".

Gần đây, một số thanh niên ở Hà Nội, Sài Gòn, … đã có những hành động thiết thực để lên tiếng về quyết tâm bảo vệ chủ quyền của dân tộc Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi người.

hoàng sa trường sa là của việt nam

hoàng sa trường sa là của việt nam

việt nam

hồ chí minh city

Tờ rơi với nội dung yêu nước của nhóm Thanh niên hành động vì Đất nước được dán trên biển quảng cáo, cột điện, … tại thành phố Sài Gòn và Biên Hòa ngày 22/04. (ảnh: nhóm Thanh niên hành động vì Đất nước )

Hiện nay, sự nhận thức của một bộ phận giới trẻ Việt Nam về mối đe dọa đối với chủ quyền dân tộc đã phát triển rõ rệt, thông qua những hành động phun chữ "HS.TS.VN" lên tường, phát tờ rơi, phát áo mũ có in nội dung "Hoàng Sa – Trường Sa Việt Nam", … cùng những hình thức độc đáo khác. Tuy nhiên, vẫn còn đại đa số thanh niên Việt Nam tỏ ra thờ ơ với vấn đề này, hoặc muốn tìm hiểu cũng không biết tìm hiểu ở đâu.

Người Trẻ "Đói" Thông Tin Về Biển Đông

(PV Phương Loan – VNN)

"Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh bị lấn lướt trên Biển Đông, cầncông khai hóa, cho thế giới được biết những hành động sai trái của bên kia. Và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước", nhà nghiên cứu Dương Danh Dy trò chuyện với sinh viên ĐH Ngoại thương.

Chiều 26/4, hội trường nhà D, ĐH Ngoại thương chật cứng sinh viên. Họ đến để thỏa cơn khát thông tin về chủ quyền biển đảo, về số phận của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, về những diễn biến mới nhất xung quanh vấn đề trọng đại này của đất nước.

Gần 300 cánh tay đã cùng giơ lên khi được hỏi, liệu các bạn có biết quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang nằm trong tay Trung Quốc? Và cũng ngần ấy con người ngậm ngùi trước câu hỏi, liệu có ai trong số các bạn biết sự thật đau lòng ấy trước khi vào cổng trường đại học.

Đói thông tin là nỗi niềm chung của sinh viên khi trao đổi với hai vị khách mời, TS sử học Nguyễn Nhã, và nhà nghiên cứu Dương Danh Dy.

vietnam

TS Nguyễn Nhã trong một buổi triển lãm tư liệu về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Ảnh: vapa.org.vn

Nam sinh viên tên Đức tâm sự. "Ngay bây giờ, ở quê, bạn bè và thế hệ cha mẹ em vẫn nghĩ, Việt Nam vẫn còn quần đảo Hoàng Sa".

Thế nên, trong suốt ba tiếng trao đổi về chủ quyền Biển Đông, phòng hội thảo luôn chật kín, với những khuôn mặt sinh viên háo hức lần đầu được chính thức cho biết thông tin và vui buồn với những thông tin mới mẻ về vấn đề trọng đại của đất nước.

"Chất vấn" trưởng ban tổ chức Hội thảo, Bí thư Đoàn trường Ngoại thương, anh Nguyễn Văn Triệu đang là giảng viên sử, về trách nhiệm của người dạy sử khi sinh viên kêu "đói" thông tin, anh cho hay: "Không thể trách được người dạy sử… Không phải chúng tôi không nói cho sinh viên hay, nhưng chỉ ở một phạm vi, mức độ nhất định mà thôi".

"Đến các nhà nghiên cứu, biết cả đấy, nhưng chia sẻ được hay không, ở mức độ nào là cả một vấn đề", anh trăn trở.

Ngay ý tưởng tổ chức cuộc tọa đàm cho sinh viên về chủ quyền biển đảo đã được Đoàn trưởng ĐH Ngoại thương đưa ra từ năm ngoái, thế nhưng cũng chờ đợi sau một năm mới tổ chức.

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy không dưới 3 lần đã nhắc lại sự dũng cảm của ban lãnh đạo và Đoàn trường Ngoại thương khi đã dám chấp nhận điều kiện "được nói thẳng, nói thật" của ông.

"Thời gian qua, với vấn đề Biển Đông, Đảng, Nhà nước ta cũng đã làm được nhiều việc: từ chỗ im lặng đến chỗ lên tiếng, từ chỗ phiếm chỉ, chúng ta đã nêu đích danh thủ phạm", ông Dy ghi nhận.

Theo ông Dy, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn điều này. "Phải nói rõ cho nhân dân, cho đảng viên chúng ta biết, vấn đề là thế này, chủ trương của ta như thế này… Người dân Việt Nam chúng ta cần được biết".

Ông Dy cho hay, với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông không chỉ là chuyện bá quyền, nước lớn, mà còn là vấn đề sống còn. Sau mấy chục năm phát triển quá nhanh, Trung Quốc đang đối mặt với sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, hoang hóa đất đai, và họ gửi gắm phần đền bù tài nguyên đó ở Biển Đông.

Vì thế, vấn đề Biển Đông càng trở nên phức tạp, khó giải quyết hơn.

Hơn nữa, dẫn báo chí chính thống Trung Quốc, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho hay,"Trung Quốc đã chuẩn bị xong cho dư luận về việc sẵn sàng thu phục Trường Sa của Việt Nam bằng vũ lực. 92% của hơn 300 triệu dân mạng Trung Quốc tán thành chủ trương đó"

"Việt Nam chúng ta thì sao?", ông Dy đặt câu hỏi. "Rồi mới đây, chính quyền Quảng Đông đã cho phép đấu thầu các hòn đảo không người ở. Nếu một ngày, Quảng Tây cũng sẽ làm như vậy, quần đảo Trường Sa của chúng ta sẽ ra sao?"

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy chỉ rõ "muốn giải quyết vấn đề Biển Đông, muốn hòa bình, chúng ta phải bàn thảo, và cả thỏa hiệp".

Đồng thời, Việt Nam cũng phải tập trung xây dựng thực lực cho mạnh. Việt Nam không chạy đua vũ trang, không hiếu chiến, nhưng chúng ta phải tự trang bị để bảo vệ mình.

"Chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc về Việt Nam, nhưng chúng ta phải biết nhân nhượng, hòa hợp. Phải gỡ cho được mọi mâu thuẫn có thể gỡ được", ông Dy nói. "Bên nào cũng đòi hết, thì chỉ có cách cầm súng, mà như thế, không ai là người có lợi. Cả Việt Nam, Trung Quốc và các nước liên quan đều phải tính".

Ông nói thêm, Việt Nam muốn ngả ván bài này cũng không dễ, nếu không muốn đối tác nghĩ mình ở thế yếu mà dấn hơn lên. "Phải trí tuệ, bản lĩnh, nghệ thuật mới làm được".
"Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác.
Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế".

"Việt Nam không thể im lặng mãi để chịu cảnh bị lấn lướt trên Biển Đông, phải công khai hóa, cho thế giới được biết những hành động sai trái của bên kia. Và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước".

Các diễn giả cũng nhắn nhủ sinh viên chủ động tìm kiếm và trao đổi thông tin. "Mỗi người góp một tiếng nói, chúng ta sẽ được lắng nghe. Nhìn thực tế sẽ thấy, họ biết và họ có lắng nghe", ông Dy nhắn nhủ.

TS Nguyễn Nhã nói: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó làm có tội với tổ tông, dân tộc". Làm tốt công việc của mình, đóng góp cho cuộc đấu tranh chủ quyền của Tổ quốc là cách để người trẻ sống có ích và trách nhiệm.

Bởi như một bạn sinh viên ngoại thương phát biểu: "vô cảm với vấn đề Biển Đông cũng đã là có tội với tổ tông".

Và ngược lại, theo anh Nguyễn Văn Triệu, "với những vấn đề hệ trọng của quốc gia dân tộc như Biển Đông, Đảng, N
hà nước cần chủ động cung cấp thông tin cho người trẻ, thu hút sự quan tâm của họ. Khi quan tâm, biết dân tộc mình đang như thế nào, ở đâu, có khó khăn gì, cơ hội gì, người trẻ sẽ được đánh thức, sẽ biết mình làm gì để góp vào sự vươn lên của đất nước"
.




Không làm được việc lớn thì làm việc nhỏ này

Không làm được việc lớn thì làm việc nhỏ này:

– Không ăn tiệm Tàu, 
– Không đi mua lương thực trong chợ Tàu,
– Không du lịch Tầu.

Giới truyền thông Hoa Kỳ đã tham dự, vận động tẩy chay hàng hóa Trung cộng đang có tại thị trường Hoa Kỳ…

Xin Quý Vị cùng đồng tâm hiệp lực thực hiện việc làm chính đáng này…

Mọi người, mọi nhà nhất quyết không mua hàng nhập cảng từ Tàu cộng…

không tham dự bất cứ dịch vụ gì với Tàu cộng…

Từ nay và mãi mãi…

vì Tàu cộng vốn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam…

Cũng xin Quý Vị vui lòng góp tay phổ biến rộng rải…

Chân thành cám ơn.
                                                                              
TRUYỀN THÔNG HOA KỲ VẬN ĐỘNG TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG CỘNG và ỦNG HỘ HÀNG HÓA SẢN XUẤT TẠI HOA KỲ(MADE IN USA- CANADA-FRANCE . . .)…  
                    
 

DO IT ! CHALLENGE ALL STORES ! SAVE AMERICA !!!

http://thefamily.com/wp-content/uploads/2011/03/Diane-Sawyer.jpeg

http://www.youtube.com/watch? v=38MfZ17nT50&feature=related

Did you all see that Diane Sawyer has a special report on this very subject?

They removed ALL items from a typical, middleclass family’s home, that were not made in the USA.  There was hardly anything left besides the kitchen sink. Literally.  During the special they are going to show truckloads of items – USA made – being brought in to replace everything. And will be talking about how to find these items and the difference in price etc.

It was interesting that Diane said that if every American spent just $64 (more than normal) on USA made items this year, it would create something like 200,000 new jobs.

 

http://thefamily.com/wp-content/uploads/2011/03/grocery-shopping.jpg

CHECK THE CAN

I WAS BUYING FOOD THE OTHER DAY AT WALMART.

ON THE LABEL OF SOME PRODUCTS IT SAID ‘FROM CHINA’.

FOR EXAMPLE THE “OUR FAMILY” BRAND OF THE MANDARIN ORANGES SAYS RIGHT ON THE CAN ‘FROM CHINA’.

I WAS SHOCKED!!  SO FOR A FEW MORE CENTS I BOUGHT THE LIBERTY GOLD BRAND OR THE DOLE SINCE IT’S FROM CALIF.

TAKES FOREVER JUST TO BUY FOOD AND DO LABEL READING ! !

Are we Americans as dumb as we appear – or – is it that we just do not think? While the Chinese, knowingly and intentionally, export inferior and even toxic products and dangerous toys and goods to be sold in American markets.

Yet 70% of Americans believe that the trading privileges afforded to the Chinese should be suspended. Well, why do you need the government to suspend trading privileges?

SIMPLIFY  – DO IT YOURSELF, AMERICA!!

http://thefamily.com/wp-content/uploads/2011/03/grocery2.jpg

 

Simply look on the bottom of every product you buy, and if it says ‘Made in China’ or ‘PRC’ (and that now includes Hong Kong), simply choose another product, or none at all. You will be amazed at how dependent you are on Chinese products, and you will be equally amazed at what you can do without.

Who needs plastic eggs to celebrate Easter? If you must have eggs, use real ones and benefit some American farmer. Easter is just an example, the point is do not wait for the government to act. Just go ahead and assume control on your own.

 

THINK ABOUT THIS:   If 200 million Americans refuse to buy just $20 each of Chinese goods, that’s a billion dollar trade imbalance resolved in our favor…fast!!

The downside? Some American businesses will feel a temporary pinch from having foreign stockpiles of inventory. Wahhhhh!!!

 

The solution?  Let’s give them fair warning and send our own message. Most of the people who have been reading about this matter are planning on implementing this! It will hit the Chinese for 1/12th of the total, or 8%, of their American exports. Then they will at least have to ask themselves if the benefits of their arrogance and lawlessness were worth it.

 

START NOW.

Let’s show them that we are Americans and NOBODY can take us for granted.

 

If we can’t live without cheap Chinese goods for one month out of


our lives, WE DESERVE WHAT WE GET!

 




Cà phê Sài Gòn xưa

Cà phê Sài Gòn xưa

   Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó. Cà phê loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút bretain vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Giống như uống coca thì phải có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá cho giống khác người, cho đẳng cấp. Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm nhận lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không? Bạn đã có đủ những gì bạn cần, sao lại cứ thích đi uống cà phê tiệm? Tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970. 

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-1.jpg 

 

   Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-4.jpg 

 

   Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

 

   Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công. Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông”, “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử địa, Bách khoa, Văn và vân vân…

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-2.jpg 

 

   Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.

 

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-3.jpg 

 

   Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức)- đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài. Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị. Những năm 1980, Cà-phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào?

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-5.jpg 

 

   Viện Đại học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Đại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng. Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-8.jpg 

 

   Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến: Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Đa Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường. Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà”. Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ. Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi- nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-6.jpg 

 

   Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Đào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất … Đa La. Ngày khai trương, Đa La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Đa La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Đa La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.

 

   Cà phê Hân ở Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si. Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự – Cường Để còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Đa Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.

 

http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-7.jpg 

 

   Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai ; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ.

 

   Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Định. Phá lấu đã có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Đằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Để. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một tay hoạ sĩ tên Vị Ý. Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu. Cuộc sống SV cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng. Tống Biệt hành, Đôi mắt người Sơn Tây sống chung với Cô hái Mơ. Đại bác ru đêm sánh vai với Thu vàng. Ảo vọng và thực tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm chút Tội ác Hình phạt, Zara đã nói như thế! Che Guervara, Garcia Lorca. Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.

 

LƯƠNG THÁI SỸ – AN DÂN




Hãy cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hòa! (Giao Chỉ)

Hãy cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hòa!
Giao Chỉ – San Jose
Nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa nào là nghĩa trang.
Từ muôn trùng xa cách. Nhắn ai về cố hương.
           Ðốt nén nhang viễn xứ. Gửi người dưới mộ sâu.
           Bao nhiêu năm quên lãng. Chợt xót thương một lần…

 
Thăm nghĩa trang xưa
          Năm nay mới bước vào mùa Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ, vé máy bay về Việt Nam ăn Tết đã bán hết. Kinh tế lên, người ta có tiền, vui vẻ về quê ăn Tết. Kinh tế xuống, thất nghiệp, buồn tình cũng về quê ăn Tết!
          Thôi bạn đã về, xin nhắn bạn về thăm một chỗ,
          Các cháu đã về, xin nhắn cháu về thăm một nơi:
                             Nghĩa trang Biên Hòa.
          Ngày xưa, lúc mới chạy đi, ông Kỳ viết cuốn sách tựa đề là 20 năm, 20 ngày. Ý ông nói là miền Nam chiến đấu trong 20 năm, nhưng mất trong 20 ngày. Ông hô hào chiến đấu, nhưng ông lại bỏ đi. Hụt hẫng cả đạo quân. Hai mươi năm sau, ông lại ra sách, tự xưng là con của Phật. Rồi ông trở về, cũng thăm lại nghĩa trang. Ngông nghênh, áo xanh, quần xọoc. Ông làm nhục anh em. Ông làm buồn lòng người sống, và ông làm tủi vong linh người chết. Sau khi đóng vai hàng thần lơ láo, ông làm hoen ố hình ảnh nghĩa trang xưa đã hoang phế lại còn thêm ảm đạm.
          Không,
Tôi không muốn các bạn về thăm như ông Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
          Ngày xưa, ông Trung tướng Thiệu có tuyên bố một câu khá ngậm ngùi:
                             “Mất nước, là mất tất cả”.
Thật đúng như thế. Chúng tôi và các bạn sĩ quan cao niên, chẳng những mất nước, mất cả binh đoàn, đành mất cả thể diện. Ðám chạy đi mang mối tủi nhục lưu vong, người ở lại gánh nỗi buồn ‘cải tạo’. Nhưng Trung tướng Nguyễn văn Thiệu đã qua đời, ông không biết rằng cho đến ngày nay, ba mươi ba năm sau cuộc chiến, chúng ta chưa mất hết. Chúng ta vẫn còn lại nghĩa trang Biên Hòa.
          Khi cuộc chiến miền Nam đứt phim vào tháng tư phiền muộn, Bắc quân vào tiếp quản miền Nam. Bộ đội ăn cướp theo binh đoàn. Cơ sở ăn cướp theo chính quyền. Nhà, nhà bị chiếm. Ngành, ngành tiếp quản. Trại lính, nhà thương, phòng sở và doanh trại. Tất cả đều bị chiếm đóng. “Giặc từ miền Bắc vô Nam, bàn tay dính máu đồng bào”. Bài ca tiên tri của cục chính huấn như còn vang vọng nơi đây. Nhưng thực ra, có một nơi, giặc chỉ phá phách mà không chiếm đóng. Ðó là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nơi chúng ta đã bỏ lại 16 ngàn tử sĩ dưới mộ sâu, trong lòng đất nơi quê mẹ. Nơi có đại diện quân dân chính. Có đầy đủ quân binh chủng. Nơi thể hiện thực sự tình huynh đệ chi binh.
          Với tư cách là người biết về nghĩa trang này trước năm 1975 và đã có dịp nghiên cứu suốt 15 năm qua sau cuộc chiến, tôi xin gởi đến các chiến hữu bản tường trình đầu đuôi và các đề nghị cần thiết để cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa.
 
Nghĩa trang ngày gẫy súng
             Khi miền Nam gẫy súng ngày 30 tháng 4 năm 1975, nghĩa trang Biên Hòa là phòng tuyến rộng 125 mẫu đang trải qua những giây phút sau cùng. 16 ngàn tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa nằm dưới mộ sâu, chung quanh ‘Nghĩa dũng đài’ chiếm ngụ hơn 50 mẫu. Từ trung tâm chia ra làm 8 lô theo hình nan quạt. Các cấp chỉ huy nằm trong vòng chính giữa, rồi đến vòng cung mai táng các sĩ quan. Mộ chôn từ năm 68 Mậu thân đến mùa hè Ðỏ lửa 72 đã có bệ ciment. Mộ chiến sĩ tử trận sau này còn đắp đất nằm vòng ngoài. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, những người còn lại quanh nghĩa trang đã chôn cất lần chót tất cả di hài quân dân lẫn lộn vào những mộ tập thể. Từ đó đến nay không có ai được chôn cất thêm tại khu nghĩa trang lịch sử nữa. Sau 1975 nghĩa trang quân đội Biên Hòa chỉ có những ngôi mộ cải táng đem đi, không có chôn cất mới.
          Bức tượng ‘Thương tiếc’ ngoài đầu xa lộ bị địch phá bỏ, kéo đi. Nhà máy nước Bình An chiếm đóng giữa con đường từ Ðền Tử Sĩ đến Nghĩa Dũng Ðài. Chung quanh khu nghĩa trang, bộ đội, dân chúng và chính quyền chiếm dụng làm doanh trại và nhà cửa.
          Vì lý do muốn xâm lấn thêm đất vòng ngoài, có lần chính quyền Cộng sản ra lệnh một số ngôi mộ phải cải táng. Ai có thân nhân nằm tại vùng bị giải tỏa phải dọn đi, nếu không, thì chính quyền sẽ giải quyết. Cho đến nay, không ai biết rõ Cộng sản đã giải quyết ra sao, nhưng cụ thể là phía Nam và phía Bắc của vòng tròn chôn cất chung quanh Nghĩa dũng đài đã bị xâm chiếm. Rồi chính quyền cho xây một bức tường theo con đường vòng phía Nam nghĩa trang, chỉ dành lối vào bên hông. Ðường vào cổng chính đã bị nhà máy nước Bình An chắn ngang. Doanh trại bộ đội xây cất thêm phía Bắc. Trồng cây xanh khắp nơi trong nghĩa trang để huấn luyện tân binh. Toàn thể khu vực trở thành vùng quân sự cấm quay phim, chụp hình. Lúc dễ, lúc khó, thân nhân vẫn được vào thăm mộ nhưng phải đi theo bức tường phía Nam và đi ngả sau. Ðó là tình trạng đã xảy ra cho đến tháng 4-1993
Tảo mộ chui                                                
          Từ khi biết được Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa vẫn còn đó, chúng tôi bắt đầu liên lạc với các gia đình có mộ tử sĩ. Xin hình ảnh tảo mộ, xin copy của cuốn phim quay việc cải táng. Bắt đầu gởi người về thăm viếng từ 1993 đến 1996. Từ năm 1997, tổ chức các toán thương phế binh Saigon, Gia định đi công tác. Nhiều toán nhận nhiệm vụ vừa tảo mộ vừa vẽ bản đồ. Chúng tôi cần tài liệu để làm mô hình nghĩa trang cho Viện Bảo Tàng. Các anh em thương phế binh thăm mộ ngày Tết, thanh minh tháng ba, tháng năm xá tội vong linh, ngày Quân lực tháng sáu, lễ Giáng sinh, rồi tiếp đó lại chào mừng năm mới. Thực sự cũng chẳng tốn kém nhiều. Một chút tiền gởi thêm là đủ cho các chiến binh quê nhà vận động bà con công tác. Hình chụp được rất nhiều. “Before and After”. Cùng một chỗ. Trước là cỏ mọc um tùm, sau là mộ phần quang đãng. Trước là đám đất xác xơ, sau đã vun lên thành ngôi mả mới. Rồi bia được gắn lại với tên kẻ sơn rõ ràng. Người thương binh còn sống vui mừng, anh tử sĩ đã chết cũng ngậm cười nơi chín suối. Công việc diễn tiến đến nay, trước sau đã 15 năm. Những năm sau này có các đoàn thể và gia đình trong nước hay hải ngoại về tảo mộ. Có gia đình sửa sang phần mộ. Có gia đình cải táng. Bà con hai xã Bình An và Bình Thắng có thêm dịch vụ. Hiện có cả danh thiếp phát ra ghi tên bà Hai, ông Ba chuyên nghề trông nom mộ phần lâu dài, hay chỉ dọn dẹp một lần cho tươm tất.
          Cho đến nay, việc tảo mộ tại nghĩa trang Biên Hòa không còn là một công tác tưởng như là điệp vụ khó khăn. Cũng không phải là độc quyền của một cơ quan từ thiện, hay một cá nhân, đoàn thể. Hơn 10 ngàn mộ còn đó, ai cũng có thể tình nguyện vào dọn dẹp. Những người chiến sĩ của chúng ta vẫn mãi mãi nằm chờ dưới đất lạnh nơi quê hương, Anh là bà con thân thuộc của chính chúng ta. Mồ mả đắp xong, cỏ dọn sạch, nén hương viễn xứ đốt lên cho không khí đượm mùi nhang khói. Ðặc biệt mở bao thuốc lá Hoa Kỳ, châm cho mỗi anh một điếu. Một bao là hai mươi điếu. Ðốt cháy đỏ rồi cắm xuống cạnh hai mươi tấm bia ciment đã tàn tạ. Nếu nghe được tiếng động dưới mộ sâu, cũng không phải là chuyện lạ.
          Các bạn lên nghĩa trang buổi sáng, cùng người dân quê, ta dọn dẹp chừng vài chục mộ phần. Tìm khu nào um tùm, hoang vắng nhất mà công tác. Buổi trưa làm một lễ nhỏ đạm bạc. Chọn một chiến sĩ nằm chính giữa làm bà con, chung quanh mộ của anh là xóm giềng. Làm đến đâu quay phim chụp hình đến đó. Buổi chiều, là giây phút thắp hương và hút chung điếu thuốc giã từ. Mặt trời đã lặn sau Nghĩa dũng Ðài. Cảnh nghĩa trang quân đội tuy hoang vắng thê lương nhưng vẫn có vẻ đẹp trang nghiêm và huyền bí. Mỗi người nằm dưới đất đều có một câu chuyện và chính người viếng mộ cũng có một câu chuyện. Câu chuyện tử sinh đôi ngả. Chuyện chinh chiến, tù đầy, vượt biên và cuộc sống còn lại.
          Trong suốt 15 năm tổ chức tảo mộ, chúng tôi có 10 đoạn phim quay từ năm 1997 đến năm 2008, và chúng tôi có hàng ngàn tấm hình. Hình các bia mộ, hình cảnh nghĩa trang trước và sau 75, và hình các công trình kiến tạo.
          Một trong các trưởng toán công tác danh tiếng của chúng tôi là ông Trần Văn Tảo, người đã tổ chức lễ tưởng niệm các chiến sĩ VNCH nhiều lần, có làm lễ truy điệu và có quay phim. Một hôm ông gọi điện cho chúng tôi, báo cáo tấm mộ bia chiến sĩ vô danh trước đây vẫn còn, sau biến mất, nay mới tìm thấy lại. Nếu không cất đi, sẽ bị phá hoại hay đánh cắp. Ông Tảo nói thời gian gần đây, ông bị đau nặng, không biết sẽ ra đi lúc nào. Vậy xin niên trưởng bên Mỹ lo cho cháu nó ra đi. Cháu đây là tấm mộ bia. Ðó là anh chiến sĩ vô danh, không có tên, nhưng có ghi ngày mai táng.
          Chúng tôi cho tin về để bác Tảo cất dấu. Sau đó anh em chúng tôi tìm đường cho bia đá vượt biên. Ðây là mộ bia chiến sĩ vô danh duy nhất và nguyên thủy của nghĩa trang quân đội Biên Hòa từ trước năm 75. Cháu qua Hoa Kỳ vào đầu năm 2004. Ðến tháng 4 năm 2004, trưởng toán công tác Trần Văn Tảo qua đời. Công việc giao cho người khác tiếp tục. Tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa ngày nay có một tấm bia chiến sĩ vô danh mới làm lại. Ðây chỉ là phó bản. Bản chính đã đặt tại Viện Bảo Tàng ở San Jose.

 
Ngày Quân Lực 1975
          Nếu năm 1975 không phải là năm Cộng sản tổng tấn công. Nếu không có trận dò dẫm mở đường đánh Phước long. Nếu không có trận dứt điểm Ban Mê Thuột. Không có cuộc triệt thoái 2 quân đoàn từ hỏa tuyến cho đến cao nguyên. Chúng ta đã tổ chức ngày Quân lực tại Nghĩa trang quân đội Biên Hòa vào 19 tháng 6 năm 1975.
          Ngày đó toàn thể quân đội vẫn còn căng ra khắp bốn vùng đất nước để dành dân giữ đất nên không thể tập trung về Sài Gòn tổ chức diễn hành. Phủ tổng thống và Bộ Tổng tham mưu QLVNCH dồn nỗ lực cho ngày quân lực vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh. Tất cả các tiểu khu đều tổ chức lễ chiến sĩ trận vong tại nghĩa trang quân đội riêng của mỗi tỉnh. Trung ương có Bộ Tổng tham mưu phối hợp công tác giữa ba Tổng cục: Tiếp vận, Quân huấn, và Chính trị. 16 ngàn ngôi mộ được hoàn chỉnh với 100% các tấm ciment phải đúc xong, Nghĩa dũng đài với vành khăn tang hoàn tất.
          Một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan từ các quân trường Hải,Lục, Không quân về tham dự.
          Ngay từ buổi chiều hôm trước, các sinh viên đã chia vùng và lên phiên. Mỗi người phụ trách 10 ngôi mộ. Khi hoàng hôn phủ xuống là hương nến thắp lên. Lễ truy điệu lúc 10 giờ đêm, cũng được gọi là đêm Canh Thức.
          Từ trên Nghĩa dũng đài nhìn xuống hay từ Ðền tử sĩ ngó lên, 16 ngàn ngôi mộ thắp nến một lượt, một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan cầm đuốc đi lại giữa hàng mộ chí. Ðoàn trực thăng của Phái đoàn Chính phủ, Quốc hội, Tổng thống và các tướng lãnh Tổng tham mưu chiếu đèn đáp xuống. Ðội quân nhạc của Hải, Lục, Không quân cùng rền rĩ tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ. Từ phía sau doanh trại của Liên đội chung sự, tiếng nổ vang trời do Công binh đốt mìn và tiếp theo là ngọn lửa bốc cao với các thung dầu thô lấy từ giếng dầu Bạch hổ ngoài khơi biển Ðông. Trên nền trời xám, khói đen bay lên cuồn cuộn như ngọn nấm của bom nguyên tử.
          Ðó là biểu hiện giấc mơ của Tổng thống Thiệu muốn lấy kho dầu biển Ðông thay cho viện trợ Mỹ mà chống giữ miền Nam. Cầu nguyện cho linh hồn 16 ngàn tử sĩ nằm tại nghĩa trang quân đội Biên hòa phù hộ cho miền Nam đang rã rời vì Mỹ bỏ rơi. Nhưng đây chỉ là giấc mơ không bao giờ thành sự thực. Những tháng đầu của năm 1975 là ngày giờ của thảm họa kinh hoàng nối tiếp. Chúng ta không bao giờ có ngày tưởng niệm 19 tháng 6 năm 1975 tại nghĩa trang Biên Hòa. Ngay sau 30 tháng 4-75, tại nghĩa trang với 16 ngàn ngôi mộ, không một ngôi mộ nào được toàn vẹn, không một tử sĩ nào còn được viếng thăm nhang khói. Hàng trăm ngàn quân, dân, chính Việt Nam Cộng Hòa xếp hàng vào trại ‘cải tạo’.
 
Dân sự hóa
          Tháng 7 năm 2007, chính quyền Cộng sản Hà nội ra lệnh dân sự hóa nghĩa trang Biên hòa. Từ 16 ngàn ngôi mộ đã cải táng, đến nay còn hơn 10 ngàn ngôi mộ. Từ 125 mẫu năm 1975 nay bị chiếm hết đất trống
nên chỉ còn 52 mẫu. Bức tường phía Nam được xây vào thời kỳ 80. Nay bàn giao xong, bộ đội rút đi. Bức tường phía Bắc xây thêm để ngăn nghĩa trang với khu giao cho Trung tâm giáo dục. Khu phần mộ được gọi là Nghĩa trang nhân dân xã Bình An. Bảng cấm chụp quay phim đã được gỡ bỏ. Việc quản trị chưa có lệnh chi tiết. Cho phép cải táng đem đi nhưng không được phép chôn cất mới, dù rằng tại đây vẫn còn chỗ cho gần 5000 ngôi mộ bỏ trống.
          Cộng sản vào chiếm nhà của dân Saigon vượt biên. Cộng sản vào chiếm ngụ nhà của HO ra đi. Những ngôi mộ tử sĩ miền Nam cải táng về quê. Không có chiến binh Cộng sản qua đời vào nằm thay thế.
          Ngay sau khi lệnh dân sự hóa ban hành, chúng tôi có dịp đặt vấn đề với ông Thủ tướng Việt Nam, qua hình thức đặt câu hỏi trực tuyến bằng Internet. Qua đài BBC chuyển tiếp. Câu hỏi được ghi nhận nhưng không có câu trả lời.
          Tiếp theo, gởi hồ sơ đặt vấn đề đến văn phòng Thủ tướng tại Hà Nội, gởi qua Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, qua đại sứ Mỹ tại Việt Nam, qua các dân biểu. Kết quả cho biết tài liệu đã nhận được nhưng cũng chưa có câu trả lời.
 
Hỏi thăm Thủ tướng
          Với tư cách là một công dân Hoa Kỳ, có chiến hữu nằm tại nghĩa trang, chúng tôi đã xin Thủ tướng chính phủ Việt Nam các điều chính sau đây:
1) Ban hành quyết định dành nghĩa trang quân đội Biên Hòa là khu di sản lịch sử của quốc gia, cần bảo vệ và duy trì nguyên trạng. Tuyệt đối không được lấn chiếm, phá hoại hay làm hư hỏng các công trình kiến trúc lịch sử và các phần mộ.
2) Cho điều tra và quy định trách nhiệm cho giới chức nào đã phá hoại 10 thước chiều cao của Nghĩa dũng đài vào năm 2004. Ðây là một công trình có giá trị lịch sử rất quan trọng. Nếu không được bảo vệ sẽ mở đường cho việc phá hoại toàn diện về sau.
Lời yêu cầu kể trên dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, phản ảnh tính văn minh của nhân loại, được bảo vệ bởi các công ước quốc tế về việc tôn trọng di hài tử sĩ, mồ mả chiến binh. Chính phủ Việt Nam đã ký kết từ Geneve 54 đến Paris 73 cũng như các luật lệ theo công pháp quốc tế mà Việt Nam phải tuân thủ với tư cách là thành viên của Liên hiệp quốc.
 
Nghĩa trang vẫn còn đó, tại sao?
Sau 33 năm cuộc chiến, ngày nay nghĩa trang Biên Hòa vẫn còn đó . Lý do chính là vì có sự tới lui thăm viếng của gia đình tử sĩ. Mặc dù bị phá hoại và quên lãng nhưng thực sự vẫn có thể coi như tồn tại. Tuy nhiên không có gì bảo đảm tất cả sẽ bền vững muôn đời. Thời gian, thiên nhiên và chính con người sẽ làm các di tích lịch sử tàn lụi hay được bảo vệ. Vì vậy nhờ sự chia xẻ thông tin, thường xuyên thăm viếng, chúng ta sẽ có nhiều nỗ lực và sáng kiến thích hợp. Nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ tại Arlington là một thí dụ cụ thể. Xin hãy ghi lại những năm lịch sử của một đất nước trẻ trung và hùng cường nhất thế giới. Chiến tranh dành độc lập 1775-1783, tử sĩ chôn khắp mọi nơi. Năm 1864, tử sĩ đầu tiên của cuộc nội chiến Nam Bắc chôn tại Arlington. Khi chiến tranh chấm dứt, miền Bắc chôn tổng cộng 16 ngàn tử sĩ của liên bang tại nghĩa trang quốc gia. Ðồng thời có khu mộ tập thể chôn cất chung binh sĩ của cả hai miền. Trên toàn lãnh thổ của các tiểu bang miền Nam đã có hàng trăm nghĩa trang lớn nhỏ mai táng chiến binh của phe bại trận nhưng đã được xây dựng và bảo toàn bởi luật lệ của liên bang từ phe chiến thắng. Nhưng thực sự phải chờ đến bốn mươi năm sau, mới đến ngày hòa giải dân tộc. Gần 500 ngôi mộ tử sĩ miền Nam được cải táng đem vào chôn tại Arlington, chung quanh tượng đài với hình ảnh bà mẹ chiến sĩ dân quân của phe Liên hiệp thua trận. Tiếp theo, nhiều mộ phần của các chiến sĩ anh hùng hy sinh từ cuộc chiến tranh cách mạng chống Anh Quốc cũng được cải táng đưa vào Arlington. Ðó là phương cách của người Mỹ đối xử với phe thù nghịch sau chiến tranh, dựa trên nền văn hóa trẻ trung của hơn 200 năm lập quốc. Dân tộc Việt Nam chúng ta, với 4,000 năm văn hiến, tiền nhân đã dậy rằng, nghĩa tử là nghĩa tận. Ðến bao giờ nghĩa trang Biên Hòa mới có thể trở thành di sản lịch sử của quốc gia. Ðến bao giờ những di hài các chiến binh miền Nam chết trên chiến trường, trong các trại tù mới được tìm kiếm và đem về cải táng tại Biên Hòa. Lúc đó Nghĩa trang Biên Hòa có còn không?

Cứu lấy nghĩa trang
          Trên đây là toàn bộ bản tường trình về Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Chúng tôi cũng có một bản tóm lược về lịch sử nghĩa trang đính kèm. Ðể có thể cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa một cách cụ thể, xin đề nghị các điểm sau đây:
          Thứ nhất: Không khuyến khích quý vị về thăm quê hương, nhưng hàng triệu người đã về. Chúng tôi xin các bạn, có về Việt Nam, xin một lần đến thăm nghĩa trang Biên Hòa.
          Thứ hai: Viết thơ cho dân biểu địa phương để xin quí vị quan tâm đến vấn đề này. Không cần đặt ra những đề nghị phù phiếm, không tưởng. Không đòi hỏi phải xây cất, trùng tu qui mô lớn lao. Không cần phải tổ chức lễ hội giải oan hay hòa hợp. Chỉ cần xin bảo vệ cho toàn thể 52 mẫu còn lại không bị xâm phạm. Các kiến trúc hiện hữu sẽ không bị hư hỏng thêm. Nhiên hậu những bước kế tiếp sẽ được thời gian giải quyết.
 
Cho tôi xin một mộ phần
          Cá nhân chúng tôi có một câu chuyện. Năm 1968, chiến tranh khốc liệt, khói lửa lan đến cả Saigon, Chợ lớn. Một lần, tôi và Ðại tá Ðỗ Tùng lên thăm nghĩa trang, gặp Ðại tá Nguyễn tử Ðóa, cục trưởng Quân Nhu. Nửa đùa nửa thiệt, bác Ðỗ Tùng và tôi, xin đặt mỗi người một lô. Bây giờ ông Ðóa qua đời, chôn ở miền Trung Mỹ. Ông Ðỗ Tùng đi trước, chôn ở nghĩa trang Hollywood.
Trong số ba anh Bắc kỳ ngày xưa lẩm cẩm dành đất nghĩa trang Biên Hòa, chỉ còn một người, có ngày sẽ về nằm lại ở nơi hẹn ước. Nếu có sớm nằm chơi dưới cội hoa trên miền đất tạm dung thì thế hệ tương lai sẽ thi hành di chúc. Ðứa cháu ba đời đem hũ tro tàn leo 65 bậc thang sắt đặt trên đỉnh ngọn Tháp của Nghĩa dũng Ðài. Ngọn gió đông bắc tháng tư sẽ thổi di hài cát bụi của người giao chỉ bay khắp cánh đồng mộ chí. Sống đã chẳng trọn tình chiến hữu, đành tìm con đường chung sự lãng mạn để trả nợ binh đoàn.
          16 ngàn ngôi mộ bỏ lại năm 1975, trên 5,000 tử sĩ đã cải táng về quê khắp 4 vùng chiến thuật. Ðể lại 8 khu nghĩa trang, khu nào cũng còn đất trống. Nếu nghĩa trang được bảo vệ, quý vị thử nghĩ coi, đâu có anh cán bộ cộng sản nào dám vào nằm cạnh nhẩy dù hay thủy quân lục chiến!. Dân chúng cũng không muốn vào đấy nằm. Có chăng là các cựu chiến sĩ VNCH, các thương binh liệt sĩ còn tại Việt Nam. Hay là những người lính tha hương muốn về gởi nắm xương tàn nơi quê hương. Nếu là cựu chiến sĩ, thì vào đó chứ còn đi đâu? Lịch sử nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ cho thấy cả trăm năm sau mà người ta vẫn còn cải táng đem di hài tử sĩ vào Arlington.
Ðó là lý do tại sao chúng ta phải cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa…
Khi tôi chết, đừng đem tôi ra biển,
Hãy đem về chôn tại nghĩa trang xưa                                       Giao Chỉ, San Jose.



BÁC CHUỒN KHỎI LĂNG (Kỵ Binh)

 

 BÁC CHUỒN KHỎI LĂNG

     Kỵ Binh                                     
  ……     Ngày 23/2/2009
 Cu Tèo cháu,
Bác biết Cu Tèo của Bác thế nào cũng thắc mắc sao meo này Bác chỉ đề chấm chấm thay vì ghi Hànội ngày tháng năm như mọi khi. Bác đã chuồn khỏi lăng Ba Đình cách đây mấy hôm và đang ở một nơi bí mật, và vì an ninh tính mạng bản thân, Bác không thể tiết lộ hộ khẩu hiện giờ cho ngay cả Cu Tèo là kẻ thân tín cuối cùng còn lại của Bác .
Đúng lô gích ra thì Bác chưa nên có email này vì các lực lượng an ninh tình báo đang đổ xô đì tìm bắt lại Bác. Không như ở Mỹ ông Tổng Thống Bút hô hoán rùm beng đi bắt Bin Ladin “death or alive”, ở nước Việt Nam ta anh hùng đầy đường hễ ra ngõ là gặp thì âm thầm lặng lẽ. Đám nào đi bắt Bác cứ đi; đám nào canh gác lăng, trục lên trục xuống cái hình nộm Bác cho khách viếng cứ canh, cứ trục. Tuy âm thầm lặng lẽ, nôm na là “như mèo dấu kít”, nhưng lực lượng đi lùng Bác rất hùng hậu, được tăng cường tối đa, đến độ các đồng chí bên Bộ Chính Trị buộc lòng phải cho giảm biên chế các bộ phận chìm nổi có trách vụ theo dõi giáo dân Công Giáo Hànội dịp phái đoàn Vatican qua làm việc với chính phủ ta. Sự giảm biên chế này đã làm mỏng đi lực lượng bao vây, bám sát …địch, khiến cho phái đoàn Vatican hồ hỡi sảng “hy vọng Giáo Hoàng thăm Việt Nam trong năm nay”. Còn lâu mới có chuyện Việt Nam XHCN bang giao với Vatican khi đàn anh láng giềng chưa làm trước chuyện này. Cứ nhìn lại vụ anh hai ra lệnh cho đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu chớ có léng phéng ký vào WTO lúc đó được TT Mỹ Clinton chìa ra cho trước mặt …
Cu Tèo ơi, Bác đi hơi xa mất rồi, trong khi Bác đang phải mày la mặt lét liếc dọc liếc ngang xem ông chủ càphê internet có dòm ngó gì không. Sau khi trốn khỏi lăng, Bác không phải hóa trang gì nhiều, vì con người Bác sau 40 năm (1969-2009; Bác nhớ đi gặp Cụ Mác Cụ Dao năm 1969, không biết có chắc không nữa đây) đâu còn giống Bác như cái xác giả trong hòm kiếng kia; Bác chỉ cần nhổ phách mấy cọng râu quăng mẹ nó đi là không ai nhìn ra Bác..Hồ nữa. Mà quả đúng vậy, từ hôm đi bụi đời đến giờ, nào vào quán ăn, nào vào siêu thị sắm ít đồ dùng lặt vặt, thậm chí Bác nỏ nhịn nổi bia ôm, cũng vào luôn. Bác để ý thăm dò mà chẳng ghi nhận mảy may dấu hiệu , ánh mắt nào nghi ngờ Bác là …Bác Hồ hết ráo . Ông chủ quán cà phê internet này cũng dễ chịu, khống đòi Bác trình Chứng Minh Thư Nhân Dân, khi Bác chưa mua kịp cái giấy dỏm. Ngoại hình thì thoải mái như thế, nhưng lời lẽ I meo, cho CuTèo, Bác đang phải thận trọng kẻo người ta liếc trộm thấy thì chết.
Bác biết Cu Tèo đang cực kỳ bức xúc muốn biết động cơ nào thúc đẩy Bác…chuồn khỏi lăng trong khi càng ngày các đồng chí lãnh đạo Đảng càng đề cao tư tưởng Bác. Mới đây thôi, sau Tết Con Tru, cán bộ đầu ngành giáo dục ra chỉ thị kể từ này, các cháu thiếu nhi lên năm phải biết nhận diện Bác Hồ.
Đấy đấy, Cu Tèo ơi, khốn nỗi là ở chỗ nàỵ,. Cái chỗ “mới lên năm” mà đã “nhận diện” ra Bác!. Đây là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước Bác chuồn khỏi lăng! Cu Tèo đừng nóng ruột.Hẵng từ từ. “Nhận Diện Bác Hồ”. Bọn phản động đã nhận diện ra Bác, một số không ít đồng chí đồng hội đồng thuyền nay cũng đã nhận diện ra Bác.. Bác chỉ còn hy vọng vào các cháu nhi đồng là chỗ dựa cuối cùng, là nơi ẩn núp tung tích Bác cuối cùng. Thế mà này các cháu tí teo ấy cũng phải biết nhận diện, tức là nhìn thấy bộ mặt thật của Bác.
Bác nghe văng vẳng tiếng Cu Tèo : Bác bi quan quá . Bác có tật thì cũng rán thêm thời gian nữa, khoan đã dật mình. Biết đâu “nhân diện” ở đây là biết phân biệt bác Hổ với bác Hồ, là, Bác là người bác của mọi người, bác của bất chấp tuổi tác,bác của của bậc cha chú ông bà, bác của cả tổ tiên dòng tộc nhà bác, bác của muôn đời, “vạn thế bá biểu” kiểu “vạn thế sư biểu” Đức Khổng Tử! Biết đâu “Nhận diện” ở đây là nhận ra bác trinh tiết, bác đạo đức, bác tìm đường kíu nước, bác của “Nhật Ký Trong Tù” thi hào, của “Đời Hồ Chủ Tịch” đức khiêm tốn …
Thôi thôi, dẹp đi Tèo ! Xưa rồi cái giọng ba que, nay còn đem ra mà xỏ  lá được ai.“Nhận diện bác Hồ`” đây là nhận chân, là thấy rõ cái “Mặt Thật” của bác, cái Đêm Giữa Ban Ngày” của chế độ bác gầy dựng lên trên xương máu và khổ đau của hang triệu sinh linh.
Bác “trinh tiết”: hết Vũ Thư Hiên , đến Dương Thu Hương  Au Zénith. Vũ Thư Hiên chỉ thuật lại theo lời trối của người cha. Còn con cháu Duong Thu Huong này thế mà thâm. Nó thâm từ gốc thâm đi, thâm từ ngã ba thâm ra . Nó đi bộ đội để giải phóng Miền Nam. Khi Miền Nam bị phỏng …rồi, nó gục mặt xuống vỉa hè đường Lê Lợi Sàigòn, tức tưởi ăn năn, “mọi rợ đã chiến thắng văn minh”; về Bắc nó đòi iả vào mặt các đông chí lãnh đạo đảng; nay ra nước ngoài , đu8ợc tư do viết không cần lách, nó  làm bộ đưa bác lên “Đỉnh Cao Chói Lọi” mà thực ra để ném bác thật đau, thật “chắc cái ịch” xuống cái ..lỗ Nông Thị Xuân. Nông Thị Xuân đẻ ra con của bác là Nguyễn Tất trung, nay là Vũ Trung. Cu Tèo muốn biết điạ chỉ con trai của bác , cứ hỏi ông Bùi Tín bỏ Đảng sang Paris, chứ bác thì ..cha con chẳng dám nhận nhau . Trinh tiết bác đã mất, đạo đức bác đã chết dí thêm lần này nữa nơi cái lỗ Nông Thị Xuân này, sau những cái lỗ Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thi Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, chưa tính đến những cái lỗ Pháp, lỗ Nga.
 Bác tìm đường kíu đói mà thành ra kíu nước. Cha bị đuổi việc vì say rượu đánh chết người, Bác lêu bêu không biết đi đâu, xuống tàu Tây xin làm bồi độ nhật,.và quá trình từ đây đến nhà kíu tinh, thế nào hư thực ra sao, ai cũng biết mà cóc dám tin ..
Tài thi văn thì “Ngục Trung Nhật Ký” thì trước đây đã bị ông Giáo sư Lê Hữu Mục , nay lại nhà học giả Đỗ Thông Minh vạch mặt là hàng chôm chỉa . Đức “khiêm tốn” của Bác thì không ai phải “tốn” khiêm nhường lá mặt lá trái như cánh tay (Trần Dân) Tiên Bác vẽ vời hoa lá !
Vậy thì cái yêu cầu nhi đồng lên năm phải biết nhận diện Bác là nhận diện ra sự thật như thế. Bác Hồ dạy, à không phải, Bác lại quen mồm chứng nào tật đó, châm ngôn dạy “khôn chết dại chết; biết sống”. Bác đây học hành chẳng bao nhiêu nên không thể gọi được mình khôn, nhưng gọi là dại thì không đúng. Phải nói là Bác nhờ “biết” nên “sống mãi trong sự nghiệp” Cu Tèo đến hôm naỵ. Bác biết lường gạt, tráo trở; Bác biết cười hí hửng khi được CIA Mỹ kêu đứng chụp hình chung ở biên giới Việt Hoa; Bác biết ca bài con cá trong tờ đơn xin Thực Dân Pháp cho vào học trường Thuộc Đia đê được sau này ra phục vụ nước Đại Pháp, Bác biết xuống giọng nỉ non cho cha được đi làm trở lại ; Bác biết oà lên khóc khi vớ được cuốn Tư Bản Luận; Bác biết bán quách cụ Phan Bội Châu cho Pháp vưà được tiền xài vừa khử được một nhà …không chịu theo đường Bi Đát.Bác biệt gom vàng của dân để nạp cho bọn Tàu phù đừng đụng đến Bác; Bác biết phỏng tay trên ngày Thực dân phải trao trả độc lập ; Bác biết cả việc con cái đẻ tùm lum. đứa bên Tây, đứa bên Tàu , đứa trong hang Pắc Bó, đứa giữa lòng thủ đô Hà Nội, mà vẫn giữ được tiếng thơm trọn đời hy sinh chuyện đực cái để lo cứu nước mà thôị .
Nay Bác cũng biết tụi nhóc tì nhi đồng bây giờ chúng mò vào được internet là chúng “nhận diện” tức biết tỏng Bác thuộc loại con gì rồi.
Bác biết trước mà không lo chuồn sớm khỏi lăng để chờ chúng vào bạt tai đá đít Bác à ?
Cu Tèo thân thương,
Bác vẫn nhớ “điều ước” của Cu Tèo trong Meo Xuân gửi Bác trước đây ,là Bác “ngóc đầu dậy giữa Ba Đình, nhận sai lầm mà sám hối.”. Lâu nay Bác cứ chần chừ rán lê lết câu giờ biết đâu có phép lạ cứu Bác cứu Đảng. Nhưng nay thì không kịp nữa. Đồng chí Lê Khả Phiêu đã để lô cái trống đồng là bảo vật quốc gia trong nhà . Cái vở tuồng diễn cho thái tử Nhật xem công an bắt Huỳnh Ngọc Sỹ mà quên mất cái khâu còng tay quá lỗ liễụ . Hôm qua hôm kia các đồng chí lãnh đạo lại mừng tiệc cắm cọc dâng đất biên giới cho Tàu xong. Vụ Bốc xít, quân Trung quốc đã kéo vào đầy Tây Nguyên. Đồn điền trà, cà phê nhà của làng mạc cả một giải Tây nguyên đồng bào kinh thượng gắn bó bao đời này còn bị đào xốc lên, xá gì cái lăng Ba Đình mà Bác thì giờ đây mười hai con giáp chẳng giống con nào nữa.
Không kịp nữa rồi . Thôi thì Bác mong Cu Tèo hiểu sự chuồn đi khỏi lăng của Bác như là hành động tạ tội của Bác cùng trăm họ và nước non.
Bác sì tốp ngay đây, có ai như công an mạng đến kiểm tra blogger !
Nhớ cầu cho Bác qua khỏi .