Duyên Lãng Hà Tiên Nhất : TẢN MẠN VỀ CHRISTMAS

TẢN MẠN VỀ CHRISTMAS

 

                                                                                                                                       

                                                         Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Christmas năm nay lạnh hơn mọi năm. Nhiều người nói thế. Mà đúng thế thật. Ngay cả những ngày có nắng, ngoài trời vẫn rét căm căm. Có khi gió thổi rát mặt. Ra đường không trùm cái mũ lên đầu là không chịu được. Mấy ngày trước lễ, sáng dậy thấy tuyết rơi phủ trắng các ngọn núi chung quanh thành phố. Tôi đi lễ chiều cho xong bổn phận rồi chạy lẹ về nhà để cố vớt vát cái sự huyền diệu của đêm Chúa ra đời với những bản nhạc xưa còn tích đầy kỷ niệm, cùng một lúc đi chu du đây đó qua màn hình của cái máy computer. Ấy thế mà lại hay. Tôi có thể thưởng thức không khí ngày lễ của rất nhiều nơi trên thế giới, từ Đông sang Tây, từ Âu đến Á. Cái lạnh da diết của mùa Giáng Sinh năm nay đã là chuyện khác thường. Sự nô nức đón mừng lễ Giáng Sinh ở khắp nơi còn là điều khác thường hơn nữa. Chuyện khác thường rõ rệt nhất lại xẩy ra ở những nơi trước đây người ta chẳng biết Christmas hay Noel là gì. Lấy cái thí dụ thực tế là Hànội, Việtnam.

 

     Dân Hànội nô nức đón mừng lễ Giáng Sinh không thua kém hay còn hơn cả Tây phương nữa. Ai không tin  cứ rà trên các mạng lưới toàn cầu thì biết. Các cửa hàng trang trí thật đẹp mắt. Cây Christmas chưng đèn sáng trưng. Người ta tấp nập mua sắm. Các nhà hàng sang trọng bầy biện cực kỳ xa hoa. Các nhà thờ 30 năm về trước vắng như cái chùa Bà Đanh, nay thấy khởi sắc hơn nhiều. Ai dám bảo VGCS là vô thần, và VN không có tự do tôn giáo? Cách đây không lâu lắm, dân Hànội nhất định không biết lễ Giáng Sinh là gì. Tôi quả quyết như thế, bởi vì chính người Hànội cho biết như thế. Ngày Christmas 1980 tôi còn nằm trong trại tù K3 Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Trong giờ giải lao ngoài đồng, chúng tôi lân la nói chuyện với tên cán bộ bảo vệ và hỏi thăm hắn về các sinh hoạt bên ngoài, nhất là về ngày lễ Chúa Giáng Sinh ở miền Bắc. Tên lính ú ớ không hiểu lễ Giáng Sinh là lễ gì. Hắn chỉ biết trong năm có các ngày tết Nguyên Đán, ngày cách mạng 19-8, ngày Độc Lập 2-9, ngày Lao Động 1-5 và ngày Mừng Công khác nhau của từng đơn vị sản xuất. Hắn còn tỏ vẻ thương hại chúng tôi và lên mặt dậy dỗ: “Bây giờ mà các anh còn tin vào Chúa nữa à, sao mà lạc hậu thế.” Hắn cho biết, hôm nay (25-12-1980) ngay ở thủ đô Hànội nơi gia đình hắn ở, mọi người đều lao động bình thường. Công nhân đến nhà máy. Nhân viên đến sở làm. Học sinh đến trường học v.v. Tóm lại là một ngày như mọi ngày.

 

     Không biết sự trở quẻ trong lãnh vực tôn giáo của bọn vô thần đáng vui hay đáng buồn. Niềm vui được tự do tôn giáo của người dân thì mới nhìn thấy được ở cái bên ngoài, còn sợi giây thắt cổ bên trong phải nhìn kỹ mới thấy được. Chẳng thế mà giáo dân cứ phải nổi lên tranh đấu hoài, hết nơi này đến nơi khác, mà cũng chẳng được cái gì. Vẻ tưng bừng của ngày Giáng Sinh tại cái xứ sở công sản này hoàn toàn không mang tinh thần tôn giáo, mà chỉ là hình thức thương mại. Vì thế khi CS cho phép người dân đón mừng lễ Giáng Sinh không có nghĩa là chúng nhìn nhận tín ngưỡng như một nhân quyền. Trái lại, chúng sử dung Chúa như một thương hiệu đắt khách để làm ăn kiếm tiền. Chỉ có thế thôi, và đấy không phải là điều đáng buồn lắm sao?

 

     Bài thánh ca quan trọng nhất trong ngày lễ Giáng Sinh là lời cầu chúc của các Thiên Thần cho nhân loại: Gloria in excelsis Deo, et in terra Pax hominibus bonae voluntatis (vinh danh Chúa trên trời, và bằng an dưới thế cho con người có lòng ngay chính). Lời cầu chúc trên bằng tiếng latinh, nhưng người Mỹ đã dịch ăn bớt, do đó ý nghĩa không được chính xác. Tiếng Mỹ dịch là: Glory to God in the highest, and peace to his people on earth (vinh danh Chúa trên trời, và bằng an cho dân của Chúa trên trái đất). Dịch một cách phiến diện như thế có lẽ không cắt nghĩa được đoạn Kinh Thánh sau đây. Chúa giảng công khai cho dân chúng thế này: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau, cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng (Lc 12, 51-53).” Từ tiếng latinh, ta thấy các Thiên Thần chúc bình an, nhưng chỉ bình an cho những người có lòng ngay chính (hominibus bonae voluntatis) mà không phải cho bất cứ ai. Điều quan trọng là chỉ có những người có tâm thiện mới được hưởng sự bình an. Đó cũng là tâm lý tự nhiên thôi. Những con người khư khư ôm tham, sân si trong lòng chẳng bao giờ cảm thấy mình được bình an, chứ chưa nói đến được hưởng sự an bình thật. Những người luôn vơ vét làm giầu bất chính chắc chắn không bao giờ thư thái trong lòng. Những kẻ chỉ mải mê tranh dành quyền lợi càng không thể được bình an trong tâm hồn. Như thế thì lời Thiên Thần chúc quả có ý nghĩa, và Chúa nói cũng không sai. Bản tính Thiên Chúa trái nghịch với tham, sân, si của người đời, nên Ngài là nguyên nhân của xung đột, hay nói cách khác, Ngài đem đến sự chia rẽ, và sự an bình của trời cao như Thiên Thần cầu chúc chỉ có tác dụng đối với những con người ngay thẳng.

 

     Cái thảm họa của nhân loại thiếu công chính thể hiện rõ rệt nơi Chúa sinh ra là sự xung đột giữa Israel và Palestine . Hiện nay sự xung đột đó còn đang có cơ nổ bùng giữa khối người Hồi Giáo quá khích với các quốc gia theo Thiên Chúa Giáo phương Tây. Những việc Thiên Chúa an bài theo thượng trí của Ngài con người không thể hiểu được. Nhưng cứ theo cách suy nghĩ thiển cận của con người thì việc Chúa chọn sinh ra làm người Do Thái quả là một sai lầm lớn. Thứ nhất, giả như Chúa sinh ra làm một người dân tộc nào đó, ở Phi Châu chẳng hạn, thì có lẽ đã tránh được tình trạng phân hóa chủng tộc tại phần đất Trung Đông vốn dĩ đã phân hóa về vấn đề chủng tộc xưa kia, và càng ngày sự phân hóa càng trầm trọng thêm kể từ ngày Chúa ra đời. Giả sử nếu Chúa là người Congo chẳng hạn, thì người Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo không có lý do gì để sinh chuyện với nhau. Thứ hai, chủng tộc Do Thái có cái gì hay ho đâu, ngoại trừ chỉ số IQ của họ cao hơn so với nhiều sắc dân khác. Lịch sử Do Thái cho thấy ngay từ thời lập quốc, dân tộc này là một giống dân chẳng ra gì.

–  Hèn nhát:    ngay như chính ông tổDo Thái,  thà nói láo chịu mất vợ để tự cứu mạng còn hơn là bảo vệ vợ mình.

–  Vô luân:      loạn luân giữa cha ruột và con gái.

–  Không có tình cảm gia đình:    trong nhà ruột thịt mưu giết nhau. Anh em bán nhau cho bọn buôn nô lệ nước ngoài v.v.

–  Phản bội:   Moise cứu dân khỏi làm nô lệ Ai Cập, nhưng dân vẫn nổi lên chống lại ông.

–  Tệ hơn hết là không có tinh thần dân tộc:    Khi Chúa bị bắt và bị nộp cho tổng trấn Pilate. Trước nghị trường, dân chúng đòi giết Chúa. Pilate nói với dân: “Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua (Chúa Giêsu) của các người sao?” Họ đáp: “Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Caesar.” (Caezar là hoàng đế La Mã, quốc gia thống trị Do Thái vào lúc đó, ghi chú của người viết). Chỉ một câu trả lời như trên với viên toàn quyền đại diện quốc gia xâm lược đủ nói lên tinh thần nô lệ của người Do Thái. Họ thà chấp nhân thân phận nô lệ hơn là một cách nào đó phô bầy ý chí độc lập tự chủ của mình.

 

     Khi mất nước và bị phân tán, người Do Thái đi đến đâu cũng chuyên lo vơ vét làm giầu và gây họa cho dân địa phương đến đó. Nhìn vào những chuyện chung quanh đây thôi, chúng ta thấy rõ. Chẳng hạn hai tập đoàn tư bản ngành ngân hàng và ngành truyền thông Mỹ gốc Do Thái, họ lũng đoạn nước Mỹ đến cỡ nào.

–  Chuyện ngày trước:   Nếu không có tên Do Thái Kissinger đẻ ra chính sách tháo chạy tại khỏi Đông Đương để bắt tay với Trung Cộng, và nếu bọn truyền thông bất lương Mỹ gốc Do Thái không cổ võ và thổi phong trào phản chiến lên, thì chúng ta đâu có đến nỗi phải trở thành người dân bị mất nước?

–  Chuyện hiện nay:   Sự việc không thể chối cãi là nếu bọn truyền thông Do Thái bất lương không ra mặt thiên vị và thổi Obama lên quá đáng thì liệu ông ta có khả năng vào nổi tòa Bạch Ốc và ngồi lên cái ghế tổng thống không? Bọn tư bản Do Thái nhất định đưa Obama lên làm tổng thống để làm gì? Có thể đây là đòn “Hồi mã thương” (giả bộ thua chạy rồi quay dáo lại giết địch thủ). Ở đây, tôi không phê phán các chính sách của ông Obama, tốt hay xấu, thành công hay thất bại, cũng không kỳ thị ông là người da đen, mà chỉ nêu lên điểm nghi ngờ về thân thế của ông. Ông Obama có đủ điều kiện luật định để trở thành Tổng thống của nước Mỹ không, đó là điều dư luận Mỹ đang đặt ra. Hiến Pháp Mỹ bắt buộc làm Tổng Thống phải là người đương nhiên là công dân Mỹ lúc sinh ra (natural born citizen). Để chứng minh là natural born citizen, ông Obama phải có tờ giấy khai sanh (long form birth certificate). Cho đến nay đã có trên 9 triệu người Mỹ nạp thỉnh nguyên thư (gọi là Pink Slip) lên Quốc Hội để đòi ông Obama xuất trình giấy khai sanh của ông, nhưng Tòa Bạch Ốc lươn lẹo, chỉ xuất trình giấy chứng nhận khai sanh (Certification of birth) mà thôi. Tại sao thì đấy là câu hỏi rất nhiều người đặt ra mà không thấy ai trả lời. Bọn truyền thông gốc Do Thái im thin thít về chuyện này. Thử tượng tượng thế này, nếu một ngày nào đó người ta khám phá ra ông Obama không phải là một người Mỹ natural born citizen, thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Có phải tất cả mọi đạo luật, sắc lệnh, hay gì gì đó một ông Tổng Thống illegal ký đều không có giá trị và vô hiệu lực không? Chuyện này nếu là thật thì nước Mỹ sẽ đi về đâu? Nếu ông Obama là một natural born citizen thì chuyện không có gì đáng nói. Nhưng nếu không thì ai là người mang trách nhiệm nhiều nhất đưa ông Obama và Tòa Bạch Ốc, nếu không phải là bọn truyền thông bất lương tả phái Do Thái?

 

     Một dân tộc đáng ghê tởm như thế mà được Chúa chọn làm dân riêng của Ngài. Có mà Trời hiểu. Nước Do Thái đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới hơn hai ngàn năm trăm năm rồi, thế mà các nước phương Tây còn xúm nhau lại phục quốc cho nó. Đây lại là một chuyện lạ nữa. Biết bao nhiêu quốc gia đã bị xóa tên trên bản đồ: Chiêm Thành, Chân Lạp, Tấn, Sở, Tề, Yên v.v. Tại sao thế giới không phục quốc cho họ? Người ta bảo đó là Chúa muốn, sấm ký của các Tiên Tri gần 26 thế kỷ trước đã nói như thế. Hai tác giả Dr John Ankerberg và Dr Jimmy DeYoung trong cuốn Israel Under Fire đã trích dẫn lời tiên tri như sau: “God told the prophet Ezekiel in 570 B.C. what He will do in the future (Ezekiel 37: 21-22 NASB):

1. He “will take the sons of Israel from among the nations where they have gone.”

2. He “will gather them from every side and bring them into their own land.”

3. He “ will make them one nation in the land.”

Và các ông khẳng định: “wenty five hundred years later, there can be no doubt that these three prophecies have come true in our generation.”

 (tạm dịch: Năm 570 trước công nguyên, Chúa nói với tiên tri Ezekiel về những điều Ngài sẽ làm trong tương lai:

1. Ngài sẽ đưa về các con cái Israel từ những dân tộc mà chúng đã đến.

2. Ngài sẽ tập hợp chúng lại từ mọi phía và đem chúng về đất riêng của chúng.

3. Ngài sẽ biến chúng thành một dân tộc trên mảnh đất này.

     2500 năm sau, không còn hồ nghi được là 3 lời tiên tri trên nay đã thành hiện thực trong đời chúng ta.)

 

     Hai tác giả cũng còn nêu lời tiên tri khác nữa để dẫn chứng: “I will bring them back to this place ( Jerusalem ) and let them live in safety” (Jeremiah 32: 37) (Ta sẽ đem chúng về Jerusalem để cho chúng được sống trong an bình.)

 

     Những bằng chứng về sự phục quốc Israel mà hai tác giả John và Jimmy trích dẫn đều là lời của các tiên tri từ trong Cựu Ước. Lời tiên tri Do Thái cũng đại loại giống như Sấm Trạng Trình của Việt Nam . Người VN tin sấm Trạng Trình và người Do Thái tin sách tiên tri của họ. Biết tường tận sự việc theo như lời sấm nói trước khi nó xẩy ra lại là chuyện khác, khó lắm. Dân Do Thái bị lưu đầy nhiều lần và cũng đã trở về gầy dựng lại đất nước nhiều lần trước đây, một lần từ Ai Cập, và một lần nữa từ Babylon (thành phố cựu thủ đô của xứ Babylonia, khoảng 55 miles S. Baghdad hiện nay). Vấn đề đặt ra là một dân tộc mà tính tình thì tham lam và phản bội, xử sự lại nham hiểm và tàn nhẫn, trước một đối thủ nuôi đầy thù hận và sắt máu vây quanh, liệu đất nước Do Thái có thể sống an bình được sau khi tái lập như lời tiên tri cho biết không? Câu trả lời có lẽ ở ngay trong biến cố Giáng Sinh: nếu mọi người đều có cái tâm ngay chính thì an bình sẽ được như lời Thiên Thần chúc. Trái lại, nếu ai nấy cứ giữ mãi cái tâm man trá thì Chúa đến, Ngài mang đến sự chia rẽ và thanh gươm chứ không phải sự bình an, hoan lạc.

 

      Christmas 2009

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất




Thư Khanh : CÔ BÉ HỒNG VƯỢT BIÊN

CÔ BÉ HỒNG VƯỢT BIÊN

THƯ KHANH xin kể lại chuyện một cô bé học trò của THƯ KHANH đi vượt biên – Chuyện thực 100 % mà Sống Chết như trong phim ! Rất Bi Thương và Kết CỤC ra sao …? !
Xin được kể lại :
Tôi là cô giáo của Bé Hồng từ lúc bé còn nhỏ cho đến hết cấp HAI . Bé Hồng là học trò mà học giỏi ngoan , xinh . Nhất là lại ở cùng xóm . Bé là con gái nhỏ của ông bà Cả Hiển . Ông bà đông con và có cô con gái lớn làm ở Toà Đại Xứ Mỹ Sài Gòn . Đặc biệt gia đình ông bà Hiển rất ngoan Đạo Chúa nên ngày nào tôi cũng được ngắm gia đình ông bà Hiển ăn mặc đẹp đẽ dẫn con cháu đi đến nhà thờ Thái Hoà trong khu . Đi nhà thờ từ xóm trong là phải đi qua con ngõ trước cửa nhà tôi nên …cứ khi nghe tiếng chuông lần thứ nhất là thế nào tôi cũng mang cái ghế ra ngồi dưới gốc cây hoa đại ở trước nhà tôi để ngắm Giáo Dân đi nhà thờ .
Ngắm họ an bình vui vẻ và trong những bộ quần áo đẹp . Họ bước vội khi chuông đổ hồi báo sắp lễ …- Cảnh thật đẹp !
– Bé Hồng với tà áo dài nho nhỏ chân chim bước theo mẹ đi ngang … – Em ngó tôi nhìn ra còn khoanh tay chào tôi . Tôi mỉm cười gật đầu …- Rồi ba má Hồng cũng quay vào nhìn tôi . Tôi chào với : " Chào Hai Bác đi lễ ạ ! " .
Tình thân thương trong chòm xóm thật ngọt ngào …
– Rồi khi Bé Hồng lên cấp Ba , Bé phải sang trường Nguyễn Thượng Hiền để học . Vì trường tôi là hết cấp Một + Hai thôi .
Tôi và Bé Hồng vẫn hay gặp nhau trên Quãng Đường khi bắt đầu vào xóm để về nhà . Những trưa hè , tôi dắt con đi dạy về , tay che dù …- Từ xa tôi đã thấy bóng Bé Hồng trong tà áo trắng bong , cặp áp ngực , đầu đội cái mũ , tóc loà xoà chấm vai . Hồng đi nhanh bước chạy lại đi cùng với tôi . Tình thân thày trò và xóm láng vẫn không khác khi Bé Hồng còn học tôi .
Gặp bé Hồng ngay đầu ngõ , dưới gốc cây me xoè tán xanh mát …Chúng tôi đứng lại cho mát tí – Bé Hồng bỏ mũ ra , mồ hôi lăn trên má , đôi má hồng như hai bông hồng …  -Đứng dưới tán cây  ngay cạnh tiệm PHỞ CƯỜNg gần Hồ Tắm Cộng Hoà – Mùi phở bốc thơm . Tôi hỏi Bé Hồng : " Em có muốn  ăn phở không ? " . Bé Hồng trả lời : " Em hay ăn – Mẹ cho ăn hoài . Em đang đói nhưng thôi về mẹ đợi cơm – cơm mẹ nấu ngon lắm cô ạ ! ".
Hồng còn kể cho tôi chuyện bọn con trai cùng lớp chúng cứ nói : " Trường em học là Trường NGU THƯỢNG HẠNG ! cô ạ . Chúng bảo nên đổi trường khác học ! " . Tôi giải thích cho em về tên trường – tên Cụ Nguyễn Thượng Hiền và khuyên không được đọc lái đi thành NGU THƯỢNG HẠNG !
– Rồi …. sau BA MƯƠI THÁNG TƯ ĐEN , Bé Hồng đã lớn – có lẽ học năm cuối cấp Ba rồi !
Cộng Sản chiếm Miền Nam – Tôi vẫn thường gặp Hồng ở chỗ tán cây đầu ngõ … Cô cháu nhìn nhau không nói song Bé Hồng cũng lớn nên  hiểu sự lo âu của tôi .
Bỗng  bốn năm  hôm liền  !  tôi không gặp Bé Hồng … Tôi nghi bé đi Vượt Biên rồi .Tôi ngóng xem gia đình bác Hiển đi nhà thờ Thái Hoà , qua cửa nhà tôi !
Tôi ra tựa lưng vào cổng chờ bác đi qua !
Bác đi có một mình … vẻ mặt bác buồn rầu ! Tôi chào bác xong hỏi liền : " Các cháu đâu bác , Bé Hồng đâu … ? ! " . Bác Hiển  thật tình chậm ước mắt :
" Các cháu bị cúm cả tuần nay . Riêng  Con bé Hồng đi vượt biên thoát chết  nhưng bị bắt đang bị giam trong khám Chí Hoà ! "
Tôi buồn vô cùng cũng khóc luôn , tôi nói : " Bác đi lễ đi kẻo trễ , lát  về cháu đón bác và bác cho cháu biết tiếp … cháu thương nó quá bác ạ  ! ".
– Xong lễ ! Chuông nhà thả chậm rải …  như thê lương …!!-
Tôi ra tựa lưng vào cổng chờ bác Hiển để mời bác vào trong nhà cho bằng được .
Bác cho hay :
" Cháu Hồng đi Vượt Biên !
Chẳng may ra tới ngoài khơi thì tàu bị bão . Tàu vỡ , mọi người chết hết . Còn mình cháu ôm được một mảnh ván của tàu . Cháu cứ cố ôm chặt mảnh ván trên mặt sóng !  Cháu kiệt sức quá sắp buông tay khỏi mảnh ván rồi thì may phước có một cái tàu HẢI QUÂN của TÂY  ĐỨC  họ nhòm thấy , vội đến cứu vớt cháu lên Tàu của họ . Lúc họ vớt lên cháu xỉu đi và quần áo sóng đánh gần như không còn một manh  !!!
Cháu đã được cứu chữa kịp thời ở trên tàu cho tỉnh lại và khai   lý lịch .
                           NHƯNG !!!!!!!!!!!! !!!!!!!!! !!!!!!!!! !!
Khi được nuôi dưỡng trên tàu mới được ít giờ thì TÀU CỦA HẢI QUÂN  CỘNG SẢN VIỆT NAM đuổi theo đòi tàu HẢI QUÂN ĐỨC phải trả cháu cho Việt Nam nhốt vì TỘI PHẢN QUỐC ! . Vượt Biên
Là Phản Quốc !
Thuyền Trưởng củaTàu Hải Quân Đức là một viên trung uý CHƯA VỢ – Anh ta  giải thích cho Tàu Cộng Sản là :
" Chỗ chúng tôi vớt cô Hồng lên tàu chúng tôi-  thuộc  Hải Phận quốc Tế – Thì cô Hồng là Công Dân nước TÂY ĐỨCrồi  , Việt Nam không có quyền đòi " .
Người THUYỀN TRƯỞNG VIỆT NAM vẫn khăng khăng bắt trả lại cô Hồng vì Tôi VƯỢT BIÊN = PHẢN QUỐC !!!!!!!!!
Viên Trung Úy Thuyền Trưởng Đức đành trả Cô HỒNg về cho Việt Nam và có nói  : " Hồng ! Anh sẽ kiện ra Quốc Tế ! " .
– Bác Hiển nói : " Cô giáo cầu xin cho cháu – Bây giờ cháu đang bị giam ở khám CHÍ HOÀ ! " .
                                              – RỒI ….
Ba tháng trôi qua thật đau buồn ! BỖNg MỘt HÔM bác Cả HIỂN qua nhà tôi cho hay :
     " Cháu Hồng được Quốc Tế can thiệp cho ra tù rồi . Và cháu đã LÀM LỄ THÀNH HÔN cùng VIÊN THUYỀN  TRƯỞNG NGƯỜI ĐỨC đã CỨU VỚT Cháu  Trên Biển Cả THẬP TỬ NHẤT SINH ! " .Đây là hình ĐÁM CƯỚI cháu .
             THƯA QÚY VỊ , đọc xong một  câu chuyện như thế này QÚY VỊ nghĩ sao ? !
           * Đây là chuyện thực – Cô bé Hồng đang sống Hạnh Phúc ở NƯỚC ĐỨC .
THƯ KHANH ( Tặng riêng CÔ BÉ HỒNG – con bác Cả Hiển ở Giáo Xứ Thái
Hoà  )




Nguyễn Lê Quân : CÁC RẠP CINÉ SÀI GÒN XƯA

CÁC RẠP CINÉ SÀIGÒN XƯA

Nhắc đến các thú vui mà không có mục xem ciné thì quả là một điều thiếu sót giống như cầu thủ bóng tròn ra sân cỏ mà trái banh… bị bà xã ôm ở nhà vậy đó.
Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có bao nhiêu là tôi cúng hết cho mấy ông chủ rạp hát
bóng. Thú thật là tôi mê ciné từ lâu lắm rồi, khoảng một ngàn chín trăm… hồi đó. Mấy công thức toán học, vật lý thì tôi ù ù cạc cạc chứ còn phim ảnh thì tôi rành 6 câu. Phim gì ? Hãng nào ? Ai đóng ? Ai đạo diễn sản xuất ? là tôi thuộc vanh vách. Thậm chí đến cả ngày giờ sanh của tài tử điện ảnh tôi cũng nằm lòng luôn mặc dù đôi lúc tôi quên sinh nhật của ba má tôi và của cả… chính tôi nữa. Mấy tấm vách ở nhà tôi dán đầy những posters của Gary Cooper, John Wayne, Burt Lancaster, Robert Mitchum, Kirk Douglas…, Ava Gardner, Yvonne de Carlo, Susan Hayward, Jane Russell, Rita Hayworth…
Thỉnh thoảng tôi "dợt le" với đám con nít lối xóm :
– Liz Taylor mới ly dị với Mike Todd.
– Nathalie Wood vừa làm đám cưới với Robert Wagner
– Tuần rồi, James Dean bị tử nạn xe hơi.
– Phim Quo Vadis tổn phí tới 5 triệu mỹ kim
Nghe tôi thuyết trình, tụi nhỏ chỉ có há mồm trố mắt thán phục. Tụi nó cứ tưởng như tôi vừa đi Mỹ… Tho mới về (mà thực sự tôi là người Mỹ… Tho chứ bộ). Dần dà, tôi được coi như là kim chỉ nam "hát bóng" của cả xóm. Hể có tranh cải nhau về điện ảnh là mọi người kéo đến gặp tôi để nhờ phân xử. Lẽ dĩ nhiên tôi tuyên bố vung vít (nghề của chàng mà lị), còn nếu có chỗ nào bí, tôi tự động phịa luôn thì cũng chẳng chết thằng Tây nào và cũng chẳng ma nào mà biết được.
Tụi nhỏ có lúc mượn tên tôi để bảo đảm cho câu chuyện của chúng : "Anh Lộc, anh ấy nói dzậy đó". Giá mà có cuộc thi kiến thức điện ảnh lúc bấy giờ thì… "chưa chắc thằng này hơn thằng nào đó nghe".

Ấy chết, từ nãy giờ tôi đã đi lạc đề hơi xa, xin mời các bạn trở lại câu chuyện đầu năm rạp hát.
Hôm nay nhân tiết Xuân nơi xứ lạnh quê người, chúng ta hồi tưởng lại "nước thanh bình của trên 30 năm cũ" vào khoảng thập niên 5, 60, để chúng ta cùng du xuân một vòng quanh các rạp của hòn ngọc Viễn Đông. Cũng xin thưa trước cùng các bạn là những sự việc được ghi ra đây theo trí nhớ có hơi hẹp bề khổ của tôi nên nếu có gì sai sót thì xin các bạn đánh cho hai chữ đại xá.
Thiện tai ! Thiện tai !
Saigon thân yêu của chúng ta lúc bấy giờ có 2 hệ thống rạp trình chiếu khác nhau.
1- Rạp thường lệ: có giờ xuất hẳn hoi giống như các rạp ở Canada.
2- Rạp thường trực : chiếu liên tu bất tận, ai vô ra bất cứ lúc nào cũng được. Rạp thường trực có cái dở là có khi ta vừa vào rạp thì thấy thằng kép chính bị bắn gục rồi một lúc sau lại thấy nó hung hăng đấm đá tưng bừng thì thật là mất sướng. Nhưng có ưu điểm là khán giả không phải sắp hàng chờ đợi giờ, xuất lôi thôi.
Để bắt đầu cho chuyến du xuân tưởng tượng, mời các bạn đi từ Chợ Lớn trước nhé.
Rạp hát đầu tiên chúng ta ghé thăm là rạp Hồng Liên ở đường Minh Phụng (dưới dốc cầu Bình Tiên). Rạp này chuyên chiếu phim Tàu chuyển âm tiếng Việt và đặc biệt là con nít ở đâu mà tàu chở hổng hết. Lớp khóc đòi bú, lớp khóc vì nóng nực, lại có đám la hét cười giởn om sòm khiến ta có cảm tưởng đi lạc vào nhà trẻ. Thôi thì phải "dĩ đào vi thượng" để tới rạp Victory Lê Ngọc ở đường Tổng Đốc Phương (góc Nguyễn Trải). Rạp này cũng thường chiếu phim Tàu (ngay trung tâm Chinatown mà lị) nhưng được cái tương đối sạch sẽ và có chút trật tự.

Quẹo xuống đường Đồng Khánh về hướng Saigon có một lô rạp Lido, Oscar, Hào Huê cũng thuộc loại khá. Vì ở lằn ranh giới giữa Saigon Chợ Lớn nên những rạp này chiếu phim Tây Tàu
Rẽ qua Xóm Củi có rạp Huỳnh Long thuộc loại bình dân học vụ. Tuy nhiên tôi thích nhất cái màn xe ngựa uýnh trống tùng xình quảng cáo, 2 bên thành xe gắn 2 tấm paneau bành ky vẽ những cảnh action của phim đang trình chiếu. Xe chạy khắp phố phường, ngựa phi nhịp nhàng theo tiếng trống trong khi đám con nít rượt theo 2 bên xe hò hét vang trời để xin cho được tờ giò-ram (programme) đủ màu xanh đỏ trắng vàng.
Đến vùng chợ Thái Bình thì có 3 rạp:
– Rạp Quốc Thanh ở đường Võ Tánh nay tên Nguyễn Trải, bên hông Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Rạp khá khang trang, sau trở thành sân khấu cải lương mà đoàn Dạ Lý Hương đóng đô thường trực.
– Rạp Khải Hoàn ngay góc Cống Quỳnh và Phạm Ngũ Lão thường chiếu phim Tây. Coi được nhưng kẹt cái thiếu máy lạnh nên ai vào xem cũng cứ muốn "yêu nhau cởi áo cho nhau" hết.
– Trên đường Phạm Ngũ Lão cạnh chợ Thái Bình có rạp Thanh Bình sau này sửa sang lại thật lịch sự. Khi sửa lại mang tên là rạp Quốc Tế.

– Rẽ ra đường Trần Hưng Đạo có rạp Đại Nam của ông Ưng Thi nổi tiếng sang trọng. Vào coi rạp này thì nên ăn mặc cho đàng hoàng một chút. Chứ áo thun quần cụt, còn chơi thêm đôi dép Nhật lủng la lủng lẳng như "Phánh ký Hủ tiếu" thì người ta cười… cha mẹ mình.
Đầu đường Nguyễn Thái Học (ngã ba Phạm Ngũ Lão) đỗ xuống tận Cầu Ông Lảnh là nơi tọa lạc 2 rạp: Đình Tân Kiểng và Nam Tiến, dành cho những khán giả dễ tính, sau này chỉ để cho các đoàn cải lương, hát bộ, hồ quảng.
Xuống ngay downtown Saigon có rạp Vĩnh Lợi ở đường Lê Lợi gần bệnh viện Đô thành. Vào xem phim ở đây có cái tiện lợi là nếu "thả dê" bậy bạ lỡ bị ăn guốc "phun máu đầu" thì chỉ cần mấy bước là tới nhà thương ngay. Rạp thuộc loại trung bình. Coi phim xong rồi tạt vô quán Thanh Bạch đá một dĩa cơm rang "bổn tiệm" hay một ổ bánh mì gà thì thiệt là mát trời ông địa.
Xích lại đường Nguyễn Huệ, các bạn sẽ thấy ngay rạp Rex, rạp hát đầu tiên có thang cuốn (escalator) cũng của ông Ưng Thi (Đại Nam). Đây là rạp de luxe nhất của Sài Gòn xưa. Khán giả rất thanh lịch, ai lạng quạng thì ngài Đô trưởng ở kế bên sẽ bước qua hỏi thăm sức khỏe liền. Giá vé mắc hơn các rạp khác nhưng money’s worth. Nghe tụi bạn nói trong ngày khai trương (chiếu phim Ben Hur với Charlton Heston), có một người đẹp nọ đi thang cuốn lúc lên gần tới tầng lầu không hiểu quýnh quáng thế nào mà để cái thang "mắc dịch" nó cuốn luôn cái quần, chỉ còn độc cái quần lót nhỏ xíu. Thế là nhiều khán giả may mắn hôm đó được no con mắt với màn striptease 50%. Tôi chắc kiếp trước vụng đường tu nên không có diễm phúc địa được hình ảnh "kêu gọi" này. Mà thèm thì nói vậy chứ nếu tôi có mặt ở đó trong giờ phút nghiêm trọng như vậy thì chắc bị tẩu hỏa nhập ma đến chết mất thôi.

Đối điện rạp Rex là rạp Eden mà cho tới bây giờ nhắc đến là tôi vẫn còn "Ô Mê ly đời ta". Số là trên lầu 3 của rạp này có chia từng ô riêng rẻ, rất ư là riêng biệt kín đáo để "bàn tay đưa anh vào cuộc đời" và "bú mồm" thả giàn. (danh từ bú mồm là do các đồng chí ta sáng tạo chứ Mỹ gọi là kiss). Kế tiếp, ta đi trên con đường Tự Do xuống tận bến Bạch Đằng để vào xem phim ở rạp Majestic mà tây đầm coi cũng rất nhiều.
Tưởng cũng nói thêm là hầu hết các phim chiếu tại Saigon lúc bấy giờ đều nói tiếng Pháp hoặc chuyển âm tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ. Phim nói tiếng Anh thì chỉ Xuân Thu nhị kỳ. Có lẽ các hảng phim nghĩ rằng Việt Nam là cựu thuộc địa của Pháp nên cứ phạng cho cái Francophonie là tiện việc sổ sách.
Hướng về chợ cũ, đi ngang qua các hàng bánh mì nổi tiếng để đến đường Tôn thất Đạm, bạn có thể vào xem phim bình dân ở rạp Nam Việt. Rạp nhỏ và nóng nực lắm. Cách đó không xa là rạp Kim Châu trên đường Nguyễn Văn Sâm (nay tên đường Nguyễn Thái Bình, góc Hàm Nghi) tương đối còn mới và chiếu phim cũng "xịn" lắm. Nghe nói là của con gái bà Bút Trà báo Sài Gòn Mới.
Băng qua đường Pasteur gần ngã tư Lê Lợi có rạp Casino Saigon thuộc loại trung bình. Tuy nhiên sau khi xem phim xong, dẫn đào tấp qua bên kia đường làm một dĩa bò bía đính kèm ly nước mía Viễn Đông thì cũng có điểm với em lắm chứ bộ. Đi một đoạn ngắn tới đường Pasteur, ta thấy rạp Asam mà dân Saigon thường gọi là "Á sẩm". Sau đó có lẽ chủ rạp thấy tên "Á sẩm" mất gốc quá nên đổi lại là rạp Hồng Bàng cho nó đúng điệu Giao chỉ, sau khi sửa rạp cho đẹp mắt. Ném về phương diện phim ảnh và cơ sở thì rạp này "ngang cơ" với Casino Saigon. Còn về tiết mục phụ diễn ăn uống, nếu Casino Saigon có nước mía Viễn Đông thì rạp này có tuyệt chiêu ra khu Huỳnh Thúc Kháng, Chợ Cũ ăn đủ các món rất nổi tiếng mà giới có tâm hồn ăn uống rất khoái khẩu.
Nếu muốn thưởng thức văn hóa cari, mời bạn bước chân tới rạp Long Phụng ở đường Gia Long (nay tên Lý Tự Trọng) nơi chuyên chiếu phim của hậu duệ ông Gandhi như Công Chúa Thủy Tề, Sữa Rừng Thay Sữa Mẹ với các than hầm minh tinh: Ganeshan, Savitri…

Để xem nữ sinh Saigon hấp dẫn cở nào, mời các bạn đến rạp Lê Lợi đường Lê thánh Tôn. Ở đó bạn sẽ thấy rất nhiều nữ sinh với chiếc áo dài hoa xuân thướt tha, thân liễu dịu dàng trông bắt con mắt lắm. Chính vì thế mà dê thả vào rạp đông nghẹt đến đổi không còn chỗ ngồi. Tội nghiệp nhiều em đứng xem phim mà bỗng cảm thấy như có ai cầm ổ bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn kê sát phía sau mình thì đích thị là nó đó ! Các cô phải di tản đi chỗ khác gấp gấp chứ không thì bị ô nhiểm môi trường rán chịu à.
Tôi cá với các bạn vào coi phim ở rạp Long Thuận (trên đường Trương Định ngang ga xe lửa Saigon phía đường Lê Lai) mà dám ngồi ghế đàng hoàng. Tại sao lọa vậy ? Thưa vì đó là mật khu của rệp. Hổng biết chúng theo con đường nào mà tràn ngập rạp. Từ chân ghế, mặt ghế, thành ghế đến lưng ghế, chỗ nào tụi nó cũng đóng chốt hết. Muốn an toàn thì phải ngồi chồm hổm kiểu cán ngố vào restaurant, mà bố ai ngồi chồm hổm trong suốt 2 tiếng đồng hồ cho nổi. Thôi thì tránh rệp không xấu mặt nào vậy….
…. Đi dài theo đường Cao Thắng, bạn có thể vào coi rạp Việt Long (ngay ngã ba Trần quý Cáp nay là Võ Văn Tần) cũng thuộc loại khá. Vào cuối năm 1974, rạp được tân trang và đổi tên là Văn Hoa Sài Gòn và sau 1975 là rạp Thăng Long. Tôi còn nhớ (vì chính tôi đi coi chứ ai) phim cuối cùng được chiếu là phim "The French Connection" do tài tử Michael Caine đóng vai chính.

Gần cuối đường Cao Thắng (ngã tư Phan thanh Giản nay là Điện Biên Phủ, xéo chợ 20), có rạp Đại Đồng Saigon rất ư là bình dân, chiếu toàn phim cũ, giá vé chỉ bằng giá một tô phở xe lửa. Nhưng được cái xe bò viên ngay trước rạp thì tuyệt cú mèo. Quẹo qua đường Phan thanh Giản về hướng ngã bảy, nơi tọa lạc rạp Long Vân thuộc loại kha khá. Rạp lúc nào cũng đông khán giả, chắc nhờ ở ngay trung tâm nhân mãn của Saigon : cư xá Bàn Cờ, cư xá Đô Thành, chung cư Minh Mạng…
Phía bên kia ngã bảy, đường Vĩnh Viễn là rạp Thành Chung (Vườn Lài) mà khán giả vào xem có cái "thú đau thương" là nếu trời nóng thì tắm hơi, còn trời mưa thì tắm nước từ nóc rạp dột xuống.
Có những chiều tôi kéo vài người bạn cùng tới đường Hồng Thập Tự (nay tên đường mới Nguyễn Thị Minh Khai, ngang tiệm bàn ghế Phan văn Nhị) để tìm một tô cháo vịt nóng hổi thơm lừng hành hương nước mắm gừng đậm đà rồi đưa cay một ly nước mắt quê hương. Sau đó băng qua đường vô rạp Olympic xem phim "Le Mirage de la Vie" do Sandra Dee đóng thì thấy đời còn dễ thương lắm chứ. Rạp Olympic sau đó được đoàn Kim Chung từ Aristo, đường Lê Lai, tới bao rạp làm sân khấu thường trực.
Rời đường Hồng Thập Tự, bạn thừa thắng xông lên tới rạp Kinh Đô đường Lê Văn Duyệt (bây giờ được gọi Cách Mạng T8, ngã ba Huyền Trân công chúa) ngang Tổng Liên Đoàn Lao Công của bố già Trần Quốc Bửu. Có lẽ mang tên là Kinh Đô nên rạp rất sạch sẽ thanh lịch. Tiếc là rạp chỉ hoạt động có 4, 5 năm gì đó rồi đi chỗ khác chơi nhường địa điểm lại cho cơ quan USAID của Mỹ.

Bây giờ mời bạn đàng trước – bước – tới ngã tư Trần Quý Cáp, Lê văn Duyệt để vào xem rạp Nam Quang (chợ Đủi) thuộc loại Bình dân học vụ. Cũng nằm trên đường Lê văn Duyệt, qua khỏi trung tâm nghỉ mát dài hạn Chí Hòa có rạp Thanh Vân, cũng đại loại như rạp Nam Quang. Có điều cần lưu ý các bạn là các rạp này có nhiều Bê-Đê lắm đó. Đang ngồi xem phim mà bạn bỗng "giác ngộ" là có bàn tay năm ngón của thằng ngồi bên cạnh vượt biên vào vùng cấm địa của bạn để bấm nốt nhạc thì chính nó đó. Nó định biểu diễn altosax đó. Bạn chỉ còn có đi chỗ khác xem cho khỏi ngất ngư con tàu đi. Đi một chút tới đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm văn Hai), rẽ vô chợ Ông Tạ bạn sẽ gặp ngay rạp Đại Lợi chiếu đủ thứ phim Âu Á. Quẹo xuống đường Trương Minh Giảng (tên mới Lê Văn Sĩ) có rạp Văn Lang giờ rạp đổi tên Minh Châu, không gì đặc biệt.
Và bây giờ mời bạn ghé vào Đakao để xem rạp Casino Đakao (ngã ba Hiền Vương – Đinh tiên Hoàng). Rạp này chung một chain với rạp Casino Saigon nhưng kém thanh lịch, sạch sẻ hơn. Tuy nhiên bạn có thể tự yên ủi bằng tô mì Cây Nhãn danh tiếng gần bên rạp.
Đi trên đường Hai Bà Trưng qua khỏi Cầu Kiệu tới chợ Phú Nhuận bạn sẽ gặp rạp Văn Cầm Phú Nhuận chung một chủ với rạp Văn Cầm Chợ Quán (Nguyễn Biểu – Bến Hàm Tử, trước 1975 rạp tân trang thành rạp Hoàn Kiếm). Theo tôi đây là rạp nhỏ nhất Saigon và giá vé rẽ nhất. Tiền nào của nấy đó các bạn ạ.
Nếu không muốn vào xem rạp Văn Cầm thì mời bạn quay trở về Tân Định để tới rạp Kinh Thành bên hông chợ Tân Định (nay là nhà sách). Rạp này rất xưa nên dưới mức trung bình trên mọi phương điện. Cách đó không xa, trên đường Trần Quang Khải có rạp Văn Hoa. Đây là rạp mới nhất của thủ đô Saigon nên màn ảnh, âm thanh tuyệt hảo, ambiance lại rất khang trang lịch sự, chiếu toàn phim mới.

Sau đó, ta cùng hướng về Gia Định qua đường Bạch Đằng (bên hông chợ Bà Chiểu) có rạp Cao Đồng Hưng, hay trên đường Châu Văn Tiếp (nay tên Vũ Tùng) con đường từ Lăng Ông đến chợ Bà Chiểu có rạp Huỳnh Long chiếu toàn phim Ấn Độ. Còn đường Nguyễn văn Học (ngã tư Bình Hòa) có rạp Đại Đồng Gia Định. Cả hai rạp dưới xa mức trung bình, nạn đứt phim rất thường xãy ra. Có điều là cạnh rạp Đại Đồng có quán cơm tấm bì ăn cũng phê lắm. Giờ thì bạn hãy đi dọc theo đường Lê Quang Định (Gia Định) để đến trạm cuối của cuộc du xuân là rạp Lạc Xuân nằm trên đường Gia Long (nay tên đường Nguyễn Văn Nghi, bên cạnh chợ Gò Vấp). Rạp chiếu toàn phim cũ và cái projecteur chắc của Tây để lại nên phim cứ sọc rằn làm nhức mắt người xem.
Thưa các bạn, sau khi đi một vòng các rạp chiếu bóng Saigon, các bạn có thấy bồi hồi nhớ thương quê hương thân yêu của chúng ta hay không ? Chắc hẳn là có vì không ai trong chúng ta không giữ trong tâm tư những hình ảnh, những kỉ niệm êm đềm của một thời hoa mộng. Có thể đó là một buổi tối đi bên người yêu giữa trời lất phất mưa dưới hàng me lá xanh rơi nhè nhẹ trên mái tóc em. Hay có thể cũng là một ngày về thăm quê Ngoại, ăn bửa cơm tép kho canh rau dền trong mái tranh nghèo bàng bạc khói lam chiều, bên dòng sông nước lững lờ đẩy đưa đám lục bình tim tím trôi giạt đến một phương trời vô định.
Trở lại chuyện coi phim, ta không thể không nói đến bói tuồng đầu năm, một tập tục rất thú vị của dân tộc. Này nhé ! bạn đừng xem trước quảng cáo phim mà cứ đi thẳng tới một rạp nào đó rồi xem phim mà đoán vận mạng trong năm. Nếu gặp phim cao bồi đấm đá chẳng hạn như Gunfight at the O.K.Corral thì bảo đảm trong năm có chuyện thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Còn nếu xem nhằm phim bài bạc như Casino thì quanh năm sẽ ngồi sòng hơi nhiều. Nếu coi trúng phim travel như "Around the world in 80 days" thì cứ chuẩn bị mà đi du lịch. Nếu không đi Mỹ… Tho thì cũng đi Tây… Ninh hoặc Đức… Hòa vậy, Còn như ai mà lỡ coi phải phim cấm trẻ em như Nam Nữ Y Học Bửu Giám "thì cầm chắc là phải tới nhà thuốc Võ văn Vân mua một lô ‘Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn" nếu là quý ông, còn quý Bà thì sao ? Mắc cở gì mà hổng chịu xài "Dưỡng thai nhành mai" cho fetus nó được nhờ.

Nguyễn Lê Quan    




Vu Sơn : Bưng Bít Thông Tin

Bưng Bít Thông Tin.

Bưng bít thông tin vẫn là căn bệnh trầm kha của các nước CS, từ ngày công nghệ thông-tin bùng nổ,người dân được tiếp cận thông tin từ hải-ngoại phần nào đã làm cho lảnh đạo khó nói phét hơn , báo chí được thông tin rộng rãi hơn.Những bức tường lửa được dựng lên nhưng "Vỏ quýt dày có móng tay nhọn" Vượt bức tường lủa hầu như ai xử dụng internet đều biết cả nên những tuyên bố vu vơ chỉ làm trò cười cho dân chúng.

   NGHỊCH LÝ : Chính phủ  tuyên bố thu nhập bình quân ở nông thôn là 2.400.000VND/1 người, cán bộ là 1700.000VND/ 1 người, GDP lúc nào cũng tăng đến chóng mặt. thế nhưng ai về nông thon sẻ thấy,người dân không đủ ăn, lam lũ suốt ngày không có tiền cho con cái đến trường. Hằng đêm TV với các chương trình Căn nhà mơ ước. Thắp sáng tương lai, đèn đom đóm Vượt lên chính mình …..Đều chiếu lên những cảnh nghèo khổ, nông dân làm mõi ngày được vài chục ngàn (1USD) người khá làm được 50 ngàn nhung mỗi tuần làm được mấy ngày ??? Cơm rau bữa đói bũa no tiền đâu cho con ăn học ???. Những doanh nghiệp tài trợ toàn là tư nhân. còn các công ty quoc doanh thì sao ? Lời giả lỗ thật nhưng ai cũng có ô dù, khi bị phát hiện thì chuyển công tác, có khi nhờ khuyết điểm mà lên vị trí cao hơn..

    Bệnh Thành Tích, các quan luôn luôn muốn địa phương mình là nhất nen báo cáo láo, ém nhẹm những khuyết điểm. Dịch cúm gia cầm. Bò lở mồm long móng. Giờ đến heo tai xanh bị ít thì im luon, bị nhiều lúc dó mới báo cáo, được thời gian ngắn  cho là đã chặn đúng dịch bệnh, nhưng thực sự gia súc.gia cầm chết hết rồi còn đâu mà dịch bệnh.

    Trở lại trước năm 75 trận nào đánh cũng thắng, thương vong không đáng kể…anh em HO từ trong trại cải tạo đã đươc nghe nhiều. Bây giờ ta nhìn vào thưc tế : Trước năm 75 ta có bao nhiêu Nghĩa Trang Quân Đội ? bây giờ mỗi tỉnh có 2-3 Nghĩa trang Liệt Sĩ. mộ bia hàng hàng lớp lớp, nếu làm con số thống kê 64 tỉnh thành có lẽ ai cũng phải khiếp, đó là chưa kể ngày nào cũng phát hình, đọc danh sách tìm đồng đội chưa kiếm được xác !!!!

    Trở lại câu nói của HCM: Cán bộ là đầy tớ của nhân dân, câu chuyện  truyền miệng nhau ai chưa biết nghe rồi nửa cười nửa mếu: Khổ quá nhân dân gởi đơn lên Thiên đình quá nhiều Ngọc Hoàng sai Thiên Lôi xuống đánh mấy thằng dân, ăn hiếp đầy tớ. Thiên lôi xuống trần gian rồi trở về báo với Ngọc Hoàng : Nhân dân nghèo lắm, đánh chết không cam lòng. Đơn từ ngày càng nhiều, Ngọc hoàng mới biết mấy thằng đầy tớ tác oai tác quái, bấy giờ sai Thiên-Lôi xuống đánh mấy thằng đầy tớ. Thiên Lôi xách búa đi rồi lại xách búa về thưa với Ngọc Hoàng : Không an thua gì, toàn nhà đổ bê tông cả chục lầu búa này đánh khôg nhằm nhò gì….
     Tội nghiệp cho số phận người dân VN quá.
                       VS

Quả tang bưng bít thông tin

Posted: Tháng Sáu 28, 2010
by BÁO TỔ QUỐC in
Bùi Tín
Thẻ:
Bùi Tín
0

Ngày 21-6-2010 vừa qua là kỷ niệm 85 năm “ngày Báo chí cách mạng Việt Nam” (21-6-1925 – 21-6-2010).

85 năm trước, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng – tiền thân của đảng Cộng sản Đông dương- đã xuất bản số báo “Thanh Niên” đầu tiên theo lối thủ công, viết tay, in bằng thạch.

Năm nay là kỷ niệm chẵn – 85 năm – nên có một số hình thức kỷ niệm khác thường, như phát 130 giải thưởng báo chí năm 2009, họp mặt kỷ niệm.

Báo chí, đài phát thanh trong nước do lãnh đạo đảng CS kiểm soát chặt chẽ viết nhiều bài ca ngợi nền báo chí Việt Nam “đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, là cơ quan tuyên truyền cổ động, tổ chức tập thể của đảng, là động lực tiên phong của nhân dân trên mặt trận tư tưởng, văn hóa”.

Vẫn là kiểu viết lách theo công thức giáo điều sáo mòn, trong khi các cơ quan báo chí và nhân quyền quốc tế đều coi nền báo chí Việt Nam hiện tại là nền báo chí bị kềm kẹp chặt chẽ nhất, nền tự do báo chí ở Việt Nam bị xếp vào loại thấp nhất của thế giới, – thứ 15
7 trên 172 nước; ngay ở châu Á cũng bị xếp dưới xa các nước Ấn Ðộ, Mông Cổ, Philippines, Thái Lan, Mã Lai, Đài Loan…

Hai năm nay việc sửa đổi Luật báo chí bị lần lữa không thời hạn, trong khi hàng loạt nhà báo, – trong đó phần lớn là cán bộ đảng viên cộng sản, – bị bắt, bị tù, bị tịch thu thẻ nhà báo, bị treo bút, thôi việc, cảnh cáo răn đe …Các báo Du lịch, Thanh niên, Tuổi trẻ, Người đại biểu nhân dân, Pháp luật, Lao động…đều gặp những vấn đề gay gắt với ban Tuyên huấn đảng và bộ thông tin truyền thông. Báo mạng “Tin Sáng” của Bộ khoa học- công nghệ bị đình chỉ.

Viện IDS – Nghiên cứu phát triển bị bức tử. Chính phủ còn ra Nghị định cấm phản biện công khai …Một viên tướng an ninh còn khoe đánh sập 300 blogs, mạng điện tử “xấu”. Tổ chức Phóng viên không biên giới phong các nhà lãnh đạo Hà Nội là những “sát thủ của tự do báo chí”, “những kẻ ăn thịt nhà báo” – “Les prédateurs des journalistes”.

Giữa lúc trên thế giới, các nước đều coi tự do truyền thông là cần thiết, cao quý, thiêng liêng, bất khả xâm phạm…thì những chủ trưởng kiểm soát thông tin, bưng bít thông tin, xuyên tạc tin tức, cấm tư nhân làm báo là nhưng chủ trương kỳ quặc, lạc lõng, như ở một hành tinh khác, như lùi về thời trung cổ.

Kỷ niệm 85 năm ngày Báo chí cách mạng năm nay rõ ràng là gượng gạo, mỉa mai, có thể nói là trơ tráo và trâng tráo, coi thường công luận và độc giả.

Ngay ở trong nước ai chẳng biết báo Nhân dân, cơ quan chính thức của đảng cộng sản là tờ báo bị ế ẩm, bị chê trách nhiều nhất, tin tức nhạt nhẽo, công thức, lại chứa đầy những dối trá, bịa đặt, xuyên tạc. Có bạn đọc và blog tư nhân yêu cầu trả lại cho nhân dân tên của tờ báo Nhân Dân, sao lại lấy tên của nhân dân đặtcho báo của đảng? Cái thủ thuật đồng nhất đảng với nhân dân là sự lừa dối lớn nhất, kỳ quái nhất, mỉa mai nhất, đến nay không còn lừa dối nổi ai, nhất là khi đảng không còn đại diện quyền lợi người dân, khi đảng đang có thái độ quỵ lụy hèn nhát trước kẻ ngoại xâm bành trướng và hung bạo với người dân yêu nước.

Trên mạng Talawas, nhân dịp này, nhà văn Võ Thị Hảo đã viết bài chỉ rõ nguy cơ của một nền báo chí bị kềm kẹp, kiểm soát gắt gao, nguy cơ kinh khủng của một đất nước mà tự do báo chí bị công khai khai tử. Lẽ ra lúc này báo chí Việt Nam với nhiều nhà báo có tâm huyết, tài năng sẽ viết nên những bài điều tra phóng sự cực kỳ hấp dẫn, lôi cuốn, có ích cho xã hội, thỏa mãn mong chờ của bạn đọc khao khát tự do, bình đẳng, công bằng, thì trái lại chỉ toàn là những bài báo nhạt nhẽo vô vị.

Nhân dịp này, nhà báo Phan Quang đã phát biểu về tự do báo chí, lên án thói xấu “bưng bít thông tin” đang không hiếm ở nước ta. Ông Phan Quang đã về hưu, năm nay 83 tuổi, từng trong Ban biên tập báo Nhân dân, từng phụ trách đài Tiếng nói Việt Nam, từng là phó chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam. Bản thân ông có nhiều kinh nghiệm thiết thân về tệ bưng bít và xuyên tạc thông tin, để khi về hưu rồi, nhìn lại và suy ngẫm, mới vỡ lẽ ra nhiều vấn đề thiết thực, lý thú. Ông từng cổ xúy khí phách của “kẻ sỹ mới”, trí thức mới, dám nói lên sự thật dù cho có thiệt cho bản thân, và nay ông cựu chủ tịch Hội nhà báo, đảng viên cộng sản lão thành lên án khá mạnh thói bưng bít thông tin.

Thì đây, một màn biểu diễn bưng bít thông tin thật là hoành tráng, ngay trên báo Nhân dân của đảng cộng sản, lại đúng ngày kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng.

Ngày thứ bảy 19-6 vừa qua, quốc hội Hà Nội trong phiên họp bế mạc đã bỏ phiếu bác bỏ đại dự án Đường sắt cao tốc của chính phủ, với 208 phiếu bác bỏ, 185 phiếu tán thành và 34 đại biểu không bỏ phiếu.

Sáng thứ hai 21-6, một số báo trong nước loan tin quốc hội bế mạc, trong đó có nói đến việc quốc hội “bằng đa số 208 / 185 đã bác bỏ”, “đã nói không”, “đã không thông qua đại dự án này”.

Thế mà chỉ có báo Nhân dân của đảng CS và báo Đại đoàn kết của Mặt trận Tổ quốc ngày thứ hai 21-6 là có cách đưa tin rất kỳ quặc. Tin lờ tịt việc bỏ phiếu về đại dự án Đường sắt Cao tốc, không đưa kết quả bỏ phiếu, chỉ nói lửng lơ, nguyên văn như sau (y hệt nhau trên 2 báo):

“Tin hoạt động của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết đối với Điều 1 và Điều 2 của Nghị quyết. Tuy nhiên, do tỷ lệ tán thành không quá bán, nên 2 điều này đã không được thông qua. Phát biểu tại phiên họp, phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cho biết, do Quốc hội không thông qua Điều 1 v&a
grave; Điều 2, 2 điều cốt lõi của Nghị quyết, vì vậy Quốc hội quyết định chưa biểu quyết thông qua Nghị quyết này tại kỳ họp thứ bảy, QH khóa XII”.

Việc bưng bít thông tin, xuyên tạc thông tin, chế tạo thông tin đạt đến trình độ nghệ thuật tinh vi và cao thủ vậy.

Nó có ý nghĩa đặc biệt, vì đúng vào ngày Kỷ niệm cái gọi là Báo chí cách mạng. Thế là người chỉ đọc báo Nhân Dân không biết gì đến Đại dự án Đường sắt Cao tốc trị giá 56 tỷ đôla, không biết gì đến cuộc tranh luận gay go, đến cuộc bỏ phiếu với kết quả bất ngờ, những con số chênh lệch rõ rệt và thất bại của chính phủ và của đảng. Tất nhiên đây chỉ là một thất bại bước đầu, họ sẽ còn giở nhiều mưu kế, như cái kế bưng bít thông tin trên đây. Trình độ chính trị, nhận thức của nhân dân, bạn đọc, công luận đã không còn như thời đóng cửa, kín mít như xưa.

Chuyện Đại dự án ĐSCT bị bác bỏ đã và đang thành đề tài bàn luận sôi nổi trong ngoài nước, trên vỉa hè Hà Nội, Sài Gòn, trên hàng vạn Blog cá nhân, thúc đẩy cuộc đấu tranh bền bỉ cho tự do, dân chủ, cho tự do báo chí, chống thói xấu bưng bít và xuyên tạc thông tin trong cái gọi là nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Nguồn: Blog Bùi Tin (VOA)




Nguyễn Bá Chổi : Mừng Sinh Nhật Bác, Thôi đi các cháu !!!

Cu Tèo qúy mến,

  sinh nhật Bác. Thú thật với Tèo, từ ngày có “Đổi Mới”, và theo đà đổi nhanh, đổi mạnh, đổi vững chắc làm ăn kiểu  trong vòng mấy tháng qua đã gần hai chục đồng bào bị công an đánh chết, khi thì tại hiện trường khi thì tại trụ sở Công Anh rồi vu khống họ chết bị bệnh hoặc tự sát; mà phải chi các nạn nhân bị điều tra về tội phạm gì quan trong như FBI Mỹ tra khảo khủng bố tìm tin tức về nơi ẩn náu của Bin Ladin cho cam; đàng này chỉ vì họ đi đưa đám tang, vì chạy xe không đội mũ an toàn, thậm chí gỡ mũ ra để nói điện thoại trong khi xe …ngừng lại v.v…

ắc Hà nào đó, với tựa đề “

 rằng đảng cũng đã  tái xác nhận  là ngày 2/9, như DVD khẳng định .

“ lại có cháu Phùng Hoài Ngọc đi moi hết tự điển này đến tự điển khác để tìm định nghĩa của hai chữ “huyền thoại”, như sau (tr ích):

Huỵền thoạiHuyền thoại(trang 668): Khái niệm chỉ một hình thức tư duy đặc thù của con người thời nguyên thủy, trong đó cái kỳ ảo che giấu những sự thật, được bảo lưu dưới nhiều dạng thức của đời sống tinh thần nhiều nhóm cư dân trên thế giới và đi vào văn học nghệ thuật. (…) Ở thế kỷ XX, huyền thoại trở lại với nhân loại (…). Nhân vật lịch sử có thể trở thành nhân vật huyền thoại: truyện pha trộn cái thực với cái hoang đường, cái hư ảo, cái kỳ diệu, thường bằng phương pháp phóng đại các kích cỡ, làm lệch lạc hình tượng nhân vật hay sự kiện lịch sử, có khi thần bí hóa nó, nhằm mục đích giải thích một nhân vật kỳ vĩ hoặc tuyên truyền trong đại chúng một tư tưởng nào đó.” (Hết trích)

ể mừng sinh nhật Bác, mà thực ra các cháu nay đang quay lại giết bác, Tèo ơi

Năm này đã lỡ bày trò nỏ ra răng cả.Kể từ năm tới mà đi, 2012, đến ngày 19 Táng 5, nhớ hãy thôi đi các cháu. Đó chỉ là ngày Đô đốc hải quân Pháp Thierry D’Argenlieu đến Hà Nội Bác phải treo cờ chào rồi phịa ra để mừng sinh nhật Bác như lời ông Vũ Thư Hiên, con của ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký riêng của Bác, nói trong DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh đó Tèo à .

 

Một sinh nhật Bác đại buồn,

 Bác Hồ

 




Câu chuyện cảm động về con tàu mang số hiệu MT065

Câu chuyện cảm động về con tàu mang số hiệu MT065

2008-11-07

Vấn đề thuyền nhân một lần nữa lại được khơi dậy, khi vào ngày thứ Tư 12-11, Chương trình Phóng sự Nước Ngoài trên hệ thống Đài ABC ở Úc sẽ cho chiếu một phim tài liệu về Thuyền Nhân Việt Nam, và bi cảnh ấy cũng sẽ được Đài truyền hình CNN ở Hoa Kỳ phổ biến.

courtesy UNHCR

Tàu vượt biên mong manh trên biển

Nội dung phim do Đài ABC thực hiện nhân chuyến “Về Bến Tự Do” vào tháng 9 vừa qua, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam trụ sở tại Úc tổ chức, nói về chuyến tàu định mệnh MT065 chở hơn 300 thuyền nhân Việt Nam bị chìm ở bờ biển Malaysia hồi đầu tháng 12 năm 1978, khiến hơn 170 người thiệt mạng.

Trong khi gần một triệu thuyền nhân đã đến được các trại tỵ nạn, thì cũng chừng ấy số người đã vùi thây giữa biển khơi, hay trên núi đồi rừng rậm.

Văn khố Thuyền nhân VN

Những cơn ác mộng

Những ai đã trở về các nước vùng Đông Nam Á, nhất là đến Malaysia và Indonesia, dừng chân tại những nghĩa trang thuyền nhân, đều cảm thấy bùi ngùi thương cảm cho những người khước từ một thiên đường huyển hoặc, đành gạt lệ rời bỏ quê hương làng mạc, ruộng vườn, người thân… để liều mình vượt trùng dương tìm đường sống trong cái chết.

Trong khi gần một triệu thuyền nhân đã đến được các trại tỵ nạn, thì cũng chừng ấy số người đã vùi thây giữa biển khơi, hay trên núi đồi rừng rậm.

Cũng trong chuyện bỏ nước ra đi đó, ngày 26-11-1978 tàu Kim Hoàng MT065- tức Mỹ Tho 065, chở trên 300 Hoa Kiều đăng ký bán chính thức vượt biên rời Việt Nam. Sau 5 ngày lênh đênh trên biển cả, khoảng 5 – 6 giờ chiều ngày 30-11-1978 thì tàu tới bờ biển Malaysia.

Vì chính sách đẩy tàu thuyền ra biển, lính biên phòng Mã Lai bắn ra không cho tàu cặp bến, tàu phải bỏ neo cách bờ khoảng 200 thước chờ trời sáng tìm phương cách giải quyết. Nửa đêm bão tới. Khoảng 5 giờ sáng thì tàu chìm khiến trên 170 người thiệt mạng. Tử thi được mai táng trong hai ngôi mộ tập thể tại tiểu bang Kelantan ở Malaysia.

080505-BoatPeople_nguoiviethaingoai.org
Chiếc thuyền con đến Hồng Kông, nơi thuyền nhân bị cưỡng bức hồi hương khốc liệt nhất. Hình từ nguoiviethaingoai.org

Tháng 8-2005, lần đầu tiên phái đoàn người Việt hải ngoại, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) trụ sở ở Úc tổ chức, đã đến thăm viếng và cúng tế ở nơi này.

 

Tháng 9-2008 vợ chồng tài công tàu Kim Hoàng theo phái đoàn VKTNVN trở về thắp nén nhang cầu nguyện cho hai đứa con, một đứa cháu và tất cả những người không may mắn đã vĩnh viễn gửi thân nơi xứ lạ quê người ròng rã trên 30 năm qua.

Sau 5 ngày lênh đênh trên biển cả, khoảng 5 – 6 giờ chiều ngày 30-11-1978 thì tàu tới bờ biển Malaysia. Vì chính sách đẩy tàu thuyền ra biển, lính biên phòng Mã Lai bắn ra không cho tàu cặp bến

Hồi tháng 4 năm 2000, bài viết của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn về chuyến vượt biên của mình, được đang tải và phổ biến mọi nơi. Trong chuyến đi kinh hoàng đó, vợ và con của anh đã thiệt mạng.

Qua bài viết, nhà văn mô tả khá chi tiết về chuyến tàu định mệnh này, và cho thấy phe tài công, chủ tàu cùng gia đình đã bỏ tàu lên bờ; vì không người điều khiển nên tàu chìm, khiến trên 170 người mạng vong.

Những uẩn khúc trên tàu MT065

Anh Trần Đông, Giám Đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam rất băn khoăn về vấn đề này. Gần đây anh tìm gặp anh Phạm Văn Hoàng, từng là tài công MT065 vừa nói, và ra sức tìm hiểu chi tiết biến cố sáng mùng 1-12-1978 này.

Thưa quý thính giả, chúng tôi liên lạc được với anh Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, cùng tài công Phạm Văn Hoàng của tàu MT065, hiện cư ngụ tại Melbourne, nước Úc.

Qua cuộc trao đổi sau đây, câu hỏi đầu tiên mà chúng tôi nêu lên với anh Trần Đông là làm sao anh có thể tìm ra được ngôi mộ tập thể mai táng 123 thuyền nhân tàu Kim Hoàng MT065 ? Và làm sao anh biết chắc đó chính là mộ của những nạn nhân này ? Anh Trần Đông giải thích:

Trần Đông:  Thưa qúi vị, tháng 8 năm 2005, trong chuyến trở về thăm Malaysia, chúng tôi được đưa đến thăm khu nghĩa trang ngôi mộ tập thể thuyền nhân VN ở Cherang Ruku thuộc bang Kelantan phía Bắc Malaysia.

Chúng tôi thấy trên ngôi mộ này có 5 tấm bia, ghi ngày mai táng là mùng 1 tháng 12-1978, và danh sách tên 123 người đó có ghi rõ thuộc tàu MT065. Lúc đó chúng tôi chưa biết MT065 là tàu nào, và vấn đề đưa đến tai nạn chìm tàu xảy ra như thế nào.

Chúng tôi chỉ thắp nhang cầu nguyện để ghi nhận bi cảnh ấy thôi. Mãi về sau chúng tôi mới được biết chi tiết nhiều hơn.

Chúng tôi thấy trên ngôi mộ này có 5 tấm bia, ghi ngày mai táng là mùng 1 tháng 12-1978, và danh sách tên 123 người đó có ghi rõ thuộc tàu MT065. Lúc đó chúng tôi chưa biết MT065 là tàu nào, và vấn đề đưa đến tai nạn chìm tàu xảy ra như thế nào.

Trần Đông

Thanh Quang: Thưa anh, có gần 180 người thiệt mạng trên tàu MT065, nhưng tại nghĩa trang Cherang Ruku vừa nói thì chỉ mới có 123 người. Như vậy những thi thể còn lại được mai táng ở đâu ?

Trần Đông: Trong chuyến về thăm Malaysia hồi tháng 8 vừa nói, tại mạn Bắc của bang Kelantan, chúng tôi có đến một nghĩa trang khác cách nghĩa trang Cherang Ruku khoảng 30 cây số về phía Bắc, thì chúng tôi phát hiện một ngôi mộ tập thể thuyền nhân ở đó, tên Balai Bachok, nơi mai táng 46 người, gồm 43 thuyền nhân người lớn và 3 thuyền nhân trẻ em.

Và trong những chuyến đi Malaysia sau này, chúng tôi cũng tìm hiểu xem chiếc tàu nào bị chìm ở Balai Bachok. Nhưng tất cả cư dân địa phương mà chúng tôi dò hỏi đều không ai biết 46 thuyền nhân mai táng ở Balai Bachok thuộc tàu nào.

Chúng tôi chỉ ghi nhận được sự kiện là ngôi mộ này được thành lập hồi mùng 4 tháng 12-1978, tức 3 ngày sau tai nạn chìm tàu MT065 ở  Cherang Ruku.

Mãi sau này, khi đúc kết nhiều sự kiện khác nhau, thì chúng tôi mới suy ra và chắc chắn rằng những nạn nhân được mai táng tại ngôi mộ tập thể Balai Bachok đó thuộc tàu MT065.

chúng tôi phát hiện một ngôi mộ tập thể thuyền nhân ở đó, tên Balai Bachok, nơi mai táng 46 người, gồm 43 thuyền nhân người lớn và 3 thuyền nhân trẻ em.

Trần Đông

Thanh Quang: Vừa rồi là lời anh Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân VN. Và bây giờ, chúng tôi xin được hỏi anh Phạm Văn Hoàng, tài công chuyến tàu định mệnh này. Thưa anh Hoàng, đầu năm 1978, anh là chủ tàu Kim Hoàng MT065 ?

Phạm Văn Hoàng: Dạ phải.

Thanh Quang: Tàu dài bao nhiêu thước, tàu biển hay đi sông, thưa anh ?

Phạm Văn Hoàng: Dạ tàu dài 18 thước, đi biển hồi đó tới giờ.

Thanh Quang: Trang bị máy gì ?

: Máy Rey 6 (Rey 671).

 

Thanh Quang: Thưa anh, khi vượt biển thì tàu này là tàu đăng ký. Như vậy anh vẫn còn là chủ tàu, hay đã bán tàu cho người khác ?

Phạm Văn Hoàng: Dạ đi đăng ký thì người Việt mình không đăng ký được, phải người Tàu mới được đăng ký. Chiếc tàu này có người giới thiệu nên tôi bán cho hai anh Tàu ở Saigòn xuống mua. Một anh tên Lu Uởn, còn anh kia người ta kêu là Tư Lùn.

Thanh Quang: Như vậy nhiệm vụ của anh trong chuyến đi này là gì ?

Phạm Văn Hoàng: Tài công.

Thanh Quang: Xin anh tóm lược những gì đã xảy ra vào chiều ngày 30 tháng 11 và sáng mùng 1 tháng 12-1978.

Phạm Văn Hoàng: Chiều đó, khoảng 5 giờ thì tụi tôi tới sát bờ đất Mã Lai thuộc tiểu bang Kelantan, bị lính biên phòng bắn, không cho tụi tôi lội vô bờ. Lúc đó tàu tôi neo cách bờ từ 100 tới 200 thước, để chờ đợi Cao Ủy LHQ tới.

Nhưng không may, tới khoảng 1 giờ khuya thì bão tới. Đến 5 giờ sáng, tụi tôi cho một số người lội vô bờ để thương lượng, nhưng vẫn có một đoàn xe Mã Lai pha đèn ra, rồi nó bắn ra, không cho tụi tôi vô.

Nhưng rồi tôi thấy chiếc tàu không thể nào chịu nỗi nữa, vì càng lúc bão càng lớn, sóng càng to, mưa gió quá chừng. Lúc đó tôi mới nói là bây giờ mình cứ ôm phao lội vô bờ. Khi một số người lội được vô bờ thì trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tàu bể ra, chìm. Tôi bị chết 2 đứa con.

Thanh Quang: Thưa anh, có người cho là tài công, rồi cả chủ tàu, bỏ mặc bà con trên tàu, trong khi họ lo tìm đường thoát thân, bất kể tình cảnh của bà con đi trên tàu, anh có ý kiến gì về vấn đề này không ?

Nhưng rồi tôi thấy chiếc tàu không thể nào chịu nỗi nữa, vì càng lúc bão càng lớn, sóng càng to, mưa gió quá chừng. Lúc đó tôi mới nói là bây giờ mình cứ ôm phao lội vô bờ. Khi một số người lội được vô bờ thì trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tàu bể ra, chìm. Tôi bị chết 2 đứa con.

Phạm Văn Hoàng

Phạm Văn Hoàng: Có một số người, đại khái như nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, tôi có nghe đã kể vụ này trên Internet. Nhưng thực sự những người đó là khách, ngồi dưới hầm tàu thì không hiểu bên trên tụi tôi điều hành như thế nào. Cũng như trong 2 người chủ tàu thì có một người chủ tàu đã chết luôn cả vợ lẫn con.

Còn chủ tàu kia – là Tư Lùn, thì một vợ và 4 đứa con gái của anh cũng chết hết, còn lại một thằng con trai thôi. Tôi thì chết 2 đứa con. Em gái vợ tôi, là thợ máy, chết một đứa con. Như vậy không thể nào tụi tôi bỏ tàu chạy vô bờ. Vì cố ý chạy trước, thì tụi tôi đâu có chết người nào ?

Thanh Quang:  Cám ơn anh Phạm Văn Hoàng rất nhiều.

Phạm Văn Hoàng: Dạ, cám ơn anh.

Đâu là sự thật?

Thanh Quang: Xin trở lại với anh Trần Đông, thưa anh, qua phần tìm hiểu của anh với anh Nguyễn Ngọc Ngạn, tài công Phạm Văn Hoàng cùng một số người khác nữa, thì đến hôm nay, anh có nhận xét gì về biến cố tàu Kim Hoàng MT065 ?

Trần Đông: Thưa quý thính giả, sau khi nghiên cứu kỹ bài viết của anh Nguyễn Ngọc Ngạn, và tìm hiểu qua tài công Phạm Văn Hoàng cùng một số người khác, thì chúng tôi rút ra được một số kết luận.

Thứ nhất, về bài viết của anh Ngạn, anh Ngạn có ghi là “Khi tôi tĩnh lại trên bờ thì thấy mình nằm sấp trên đống xác chết ngổn ngang. Nước từ trong bụng ọc ra giúp cho tôi hồi sinh”.

Như vậy anh Ngạn từ lúc bị ngất xỉu cho đến khi bị trôi dạt lên bờ thì khoảng thời gian đó không quá 5 phút, vì quá 5 phút, tế bào não sẽ chết và nạn nhân sẽ chết luôn. Do đó, kết luận thứ nhất là từ chỗ tàu bị đắm cho tới bãi biển, khoảng cách đó cũng rất là ngắn, mà theo anh Hoàng là không quá 200 mét, thì điều đó là đúng.

080505-BoatPeople_hongKong_UNHCR.jpg
Người tị nạn ở Hồng Kông chờ đi định cư. PHOTO by UNHCR

Điểm thứ hai, trong bài văn của anh Ngạn, anh Ngạn có viết là “Tôi vùng đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh. Lính Mã Lai đang quay những người sống sót vào gốc dừa. Họ cũng như tôi là những người được sóng đẩy vào bờ và may mắn thoát khỏi tử thần.

 

Nhưng họ không được phép cứu những người ngộp nước như tôi. Nếu được cấp cứu thì tôi chắc là trong đám người kia, ít lắm cũng có cả chục người được sống dậy”. Phần này, theo chỗ chúng tôi tìm hiểu thì cũng không được đúng hẳn.

Theo như lời anh Hoàng thì trong số những người sống sót, cũng có nhiều người tham gia vào việc cấp cứu những người còn sống, thí dụ như sốc nước hay làm những động tác hồi sinh để cho nạn nhân được sống lại.

Điểm thứ ba trong bài viết này là “Lính Mã Lai không cho cứu là bởi vì những kẻ xa lạ và bất nhân ấy đang lột quần áo người chết để lấy vàng và đô-la giấu trong gấu quần, gấu áo, cổ áo, vạt áo .v.v…”. Vấn đề những người chết, khi xác họ dạt vào bờ thì lính Mã Lai có lục soát, lấy giấy tờ và lấy vàng bạc thì phần này có đúng, theo ghi nhận của những người mà chúng tôi tìm hiểu được.

Về điểm thứ tư trong bài viết của anh Ngạn, là “Hôm sau, từ trại tạm cư, chúng tôi được đưa trở lại bãi biển, thả bộ dọc xuống hướng Thái Lan, tìm thêm được một số xác chết nữa nhưng cũng không thấy vợ tôi”.

Khi liên kết sự kiện này cho đến sự kiện ngôi mộ tập thể Balai Bachok, cũng như theo lời một nhân chứng nữa, thì nhân chứng thứ hai này cho biết là 3 ngày hôm sau, cảnh sát Mã Lai có vào trại và đưa một số người ra để giúp việc mai táng.

Vấn đề những người chết, khi xác họ dạt vào bờ thì lính Mã Lai có lục soát, lấy giấy tờ và lấy vàng bạc thì phần này có đúng, theo ghi nhận của những người mà chúng tôi tìm hiểu được.

anh Trần Đông

Riêng trong phần viết của anh Ngạn, anh ấy đưa một chi tiết thú vị, đó là đi bộ xuống hướng Thái Lan. Thật ra là đi lên, vì đi xuống là phía Nam, còn đi lên là về hướng Bắc, giáp với Thái Lan. Đi bộ dọc lên phía trên và tìm kiếm thêm một số xác chết nữa.

Như vậy tức là sóng biển nó dập hướng lên trên, và ngôi mộ tập thể Balai Bachok, nơi chôn 46 thuyền nhân, cách hướng Bắc của mộ tập thể Cherang Ruku khoảng 30 cây số, tức cũng hướng về phía trên.

Vậy khuynh hướng lúc xảy ra vụ chìm tàu MT065, là một số xác bị đẩy lên trên mạn Bắc. Cho nên 3 ngày hôm sau – tức ngày 4 tháng 12-1978, 46 xác chết của tàu MT065 đã trôi dạt vào bờ Balai Bachok, và người ta vớt chôn tại ngôi mộ tập thể thứ nhì gồm 43 người lớn và 3 trẻ em như vừa nói.

Do đó, khi nối kết các sự kiện lại với nhau, chúng ta có thể biết được chính xác là nghĩa trang ở Balai Bachok cũng là nạn nhân của tàu MT065.

Điểm thứ 5, qua những bài viết và qua lời kể của anh Phạm Văn Hoàng cùng nhiều người khác nữa, thì chúng ta thấy phần lớn những người phụ nữ và con nít được ở trên boong tàu, còn thanh niên và người lớn phần lớn ở dưới hầm. Cho nên khi tàu bị lật, thì những người trên boong ngã xuống nước hết. Những người trong hầm khó có thể thoát ra được.

Tính theo số tuổi của những người đã chết thì chúng tôi sơ kết như vầy: Có 3 người không biết tuổi là bao nhiêu. 26 người tuổi từ 30 trở lên. 43 người tuổi từ 15 tới 30. Và 51 người tuổi dưới 15. Như vậy phần lớn những người chết có tuổi từ 15 trở xuống.

Thưa quý vị, phần kết luận chung của chúng tôi là trong tình cảnh như vậy, việc quy kết trách nhiệm là ai – của chủ tàu hay tài công hoặc của người nào ?

Phần lớn những người còn sống sót, sau khi vào trại, theo lời kể của một số người, thì rất nhiều người, vì gia đình, thân nhân bị chết nên họ cũng có tố cáo với Cao Ủy và cảnh sát Mã Lai rằng chủ tàu và tài công bỏ tàu, đưa gia đình vào bờ, khiến tàu không người điều khiển nên bị lật và chìm.

Tính theo số tuổi của những người đã chết thì chúng tôi sơ kết như vầy: Có 3 người không biết tuổi là bao nhiêu. 26 người tuổi từ 30 trở lên. 43 người tuổi từ 15 tới 30. Và 51 người tuổi dưới 15. Như vậy phần lớn những người chết có tuổi từ 15 trở xuống.

Trần Đông

Nhưng qua lời anh tài công Hoàng cho biết rõ ràng thì chính phe chủ tàu và tài công cũng đều là nạn nhân của bi cảnh này. Hơn nữa, theo lời họ kể, thì họ vào bờ là để thương lượng với cảnh sát Mã Lai nhằm tìm cách giúp đỡ cho cả tàu, chứ không phải họ vào bờ để bỏ tàu.

Thưa quý vị, đó là thảm cảnh đã xảy ra. Và thảm cảnh này một phần phát xuất từ lỗi lầm của nhà cầm quyền cộng sản VN khiến rất nhiều người bỏ nước ra đi. Một phần nữa là ở Malaysia, do chính sách đẩy tàu thuyền ra biển, và chính sách này không chỉ Mã lai áp dụng, mà cũng ở tại Thái Lan nữa.

Chúng tôi biết là đa phần mồ mả của thuyền nhân tại Malaysia đều là nạn nhân được mai táng trong khoảng thời gian 1978-1979.

Thanh Quang: Vừa rồi là lời của anh Trần Đông, Giám Đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.

Thưa quý vị, mới đó mà đã 30 năm trôi qua. Câu chuyện được ghi lại, không phải cố ý khơi lại một nỗi buồn quá khứ, không nhất thiết để hằn thêm một nét hận thù, cũng không phải nhằm nhắc lại một tội ác, mà chủ yếu là để tìm hiểu thêm và làm sáng tỏ một uẩn khúc, để những người vĩnh viễn nằm xuống trong 30 năm qua, biết đâu họ mòn mõi trông chờ người thân, nay được người thân biết đến.

080505-boatpeople2_HongKong_by fence_.jpg
Tình cảnh người tị nạn đang xếp hàng chờ cơm ở Hồng Kông, chụp năm 1989, là một trong những trưng bày ở Vancouver, Canada.

Phạm Văn Hoàng