MẤY GHI NHẬN TRONG TUẦN

MẤY GHI NHẬN TRONG TUẦN

 

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Hôm Thứ Bẩy tuần trước 25-7-2009, trong một ngày có tới ba bản tin quan trong liên quan đến Việt Nam trên internet. Cả ba bản tin này được nhân lên từng giờ, từng giờ, người này repost, nhóm kia repost. Ít ngày sau, chỉ còn lại một tin sôi nổi nhất trong ba và hiện còn đang được update từng giờ, từng ngày cho tới hôm nay.

 

     Trước hết xin nói đến tin buổi lễ hiến dâng đất cho Tầu cộng.

 

     Buổi lễ diễn ra theo như tường thuật trên các websites là hoành tráng (chữ này thú thực tôi học mót được từ nền “Văn Hóa Đéo” xã hội chủ nghĩa). Quang cảnh lễ tiết diễn ra ngay tại điểm cột mốc Km0 giữa hai nước Tầu-Việt mới được cắm lại. Tại nơi thâm sơn cùng cốc này mà khu đất nơi đặt lễ đài vẫn được trải thảm đỏ nói lên sự quan trọng đặc biệt của biến cố. Các triền đồi chung quanh lễ đài được trải đều một thảm cỏ xanh mướt. Xa hơn nữa là lớp lớp rừng cây xanh hùng vĩ. Người tham dự từ lớn tới nhỏ, từ quan tới lính ai cũng y phục đại lễ rất chỉnh tề. Trống chiêng, cờ quạt, y phục đầy mầu sắc phô trương như một ngày hội lớn.

 

     Đọc bản tin này có lẽ không một ai trong chúng ta không nêu trong đầu cái thắc mắc là tại sao bọn VGCS lại phô trương ầm ĩ hành động bán nước ô nhục này của chúng? Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy điệm kia mà. Thông thường thì thế đấy, nhưng cái này thì bọn bán nước tại Hànội có muốn độn thổ, muốn che, muốn giấu cũng chẳng được. Chúng phải làm thôi vì thằng chủ của chúng ở Trung Nam Hải bắt buộc chúng phải làm, trốn đâu được. Tôi không biết tin này các trang Web tiếng Việt lấy từ đâu ra. Cũng như mọi khi, đọc xong tôi ghi nhận, save để đó rồi tính sau, thời giờ còn phải dành cho nhiều việc khác. Ít ngày sau, tôi rà lại trên các trang web tiếng Việt mà tôi thường vào, và đồng thời cũng vô luôn các tờ báo online ở trong nước như tờ Nhân Dân, Quân Đội ND, Tuổi Trẻ v.v. Điều làm tôi ngạc nhiên là không còn tìm ra bản tin này ở đâu nữa. Đây là một biến cố quan trọng có sự hiện diện của bọn chóp bu hai nước như Giang Trạch Dân, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết. Không có lý nào bọn báo nô trong nước lại coi thường đến thế được. Sự thể chỉ còn cách giải thích thế này:

 

     Một là bọn Tầu cộng mới là kẻ chủ chốt tổ chức buổi lễ này, còn bọn Việt gian bán nước bị lôi đầu đến để làm nhục mà thôi. Cũng là phải, vì lũ bán nước còn mặt mũi nào mà dám phô trương việc bán nước của mình cho người ta ỉa vào mặt à. Lũ Tầu cộng xâm lược huênh hoang tổ chức lễ lạt cho bọn VGCS giao đất cũng như muốn chính thức bố cáo với thế giới rằng đây là việc làm đường đường chính chính giữa hai nhà nước, các anh đừng có hòng mà chõ mồm vào việc nhà của người ta. Nhưng ngụ ý Chính của bọn Tầu cộng vẫn là chúng muốn nắm trong tay một bằng chứng lịch sử chắc chắn để con cháu chúng ta sau này không còn viện dẫn lý do hay bằng chứng gì được để đòi lại đất nữa. Cái thâm độc của bọn Chệt xâm lược là ở chỗ đó. Cha Lễ hay những ai đó còn ngây thơ muốn che giấu tội bán nước của Hồ Chí Minh và đảng VGCS xin hãy ý thức rõ điều này.        

 

     Hai là những tờ báo trong nước không dám muối mặt phô trương việc bán nước của chủ nhân của chúng đã đành, nhưng còn báo chí ngoài này thì sao? Có những trang web không thèm đăng những thứ tin tức và hình ảnh rác rưởi này nên đã không thèm post lên ngay từ đầu. Nhưng còn các trang web và báo online đã đưa lên rồi thì tại sao họ lại lấy xuống vội vã thế, mà lại đồng loạt nữa. Không lẽ đã có một cơ quan chỉ đạo báo chí người Việt tỵ nạn rồi sao? Sự kiện này thực sự làm tôi kinh ngạc.

 

   Thứ hai là tin Buổi Tọa Đàm Khoa Học Biển Đông và Hải Đảo VN tại Saigon

 

     Buổi tọa đàm này do linh mục Nguyễn Thái Hợp nhân danh tòa Tổng Giám Mục Saigon trưởng ban tổ chức và gởi giấy mời. Tin này do Radio Chân Trời Mới của Việt Tân phổ biến cùng với hình ảnh. Bản tin và hình ảnh cũng được Blog X-Café loan đi cùng ngày, nhưng có lẽ cũng lấy từ radio Chân Trời Mới.

 

     Phải ghi nhận một điểm tích cực là đã hơn ba chục năm nay kể từ ngày miền Nam bị thôn tính, giới elite (trí) ở đây ngủ miết bây giờ xem ra đã thức dậy rồi. Đất nước ta may ra còn phần nào hy vọng. Trong căn phòng hội đàm nhỏ bé người ta nhận thấy lẫn lộn cả thằng Cuội lẫn chị Hằng. Một thằng cuội già là lão Trần Khuê. Người đứng tổ chức và phụ tá là hai ông cha Chúa chọn để làm tôi tớ cho CS. Người ta quen gọi bọn này là quốc doanh. Một là Nguyễn Thái Hợp và một nữa là Thiện Cẩm, cả hai tu dòng truyền giáo nhưng không truyền đạo Chúa mà truyền đạo Hồ. Theo như thư mời thì cuộc tọa đàm sẽ có sự hiện diện của hồng y Phạm Minh Mẫn, nhưng có lẽ vì cái vết thương Cờ Vàng tại Úc Châu ngày trước hãy còn làm nhức nhối nên ông đã tự ý vắng mặt. Hai nữa là từ đầu, đám quốc doanh tính tổ chức tại tòa giám mục Saigon , nhưng không hiểu sao, hay vì sợ lộ cái đuôi chồn và chuế quá nên bọn này đã phải dời địa điểm. Mục đích của tọa đàm, theo Nguyễn Thái Hợp, là mong cung cấp thông tin cho thính giả để hiểu rõ hơn về tình trạng Biển Đông và hải đảo VN, đặc biệt là Trường Sa và Hoàng Sa. Nguyễn Thái Hợp nổ xạo thôi vì hắn giấu đầu nhưng lại hở đuôi. Bản tin cho biết cũng có một số phóng viên báo chí nhà nước tham dự tọa đàm nhưng chỉ với tư cách cá nhân. Họ được chỉ thị là không được phép đưa tin về sự kiện này. Báo chí trong nước không được đưa tin mà chỉ có radio Chân Trời Mới của Việt Tân từ Mỹ về được độc quyền thông tin và làm phóng sự. Cái này còn ẹ nữa, thế mới lòi cái đuôi Việt Tân tay sai CS ra. Câu hỏi thứ nhất là tại sao nhà báo VT lại được tự do thong thả hành nghề như thế tại chính lãnh địa của VGCS? Câu hỏi thứ hai, tại sao chỉ có phóng viên của VT được phép quay phim, chụp hình, và làm phóng sự trong khi các phóng viên báo chí trong nước có mặt tại chỗ thì lại bị cấm làm phận sự? Quí bạn đọc tự mình tìm câu trả lời xem sao? Rõ ràng là người ta chỉ có mục đích nhờ báo, đài của VT tay sai CS thổi tin tọa đàm ra để ru ngủ đám trí thức khù khờ hải ngoại thôi chứ không phải cung cấp thông tin cho thính giả trong nước như Nguyễn Thái Hợp nói láo. Bản tin cho biết nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc đọc tham luận nêu bằng chứng lịch sử Hoàng Sa và Trường Sa là của VN, nhưng sau đó trong giờ giải lao ông lại xác nhận chính ông đã được cảnh cáo trước đó rằng không được nói gì thêm ngoài nội dung tham luận đã đọc. Tham luận của nhà học gỉa nhưng nói thiệt Đinh Kim Phúc phàn nàn rằng thật là vô lý Trung Quốc , Philippines , Malaysia lại có thể tuyên bố chủ quyền trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa được? Thật tội nghiệp cho một nhà trí thức ngây thơ cụ. Ông không biết người nhà quê ta thường nói sao: giậu đổ bìm bìm leo. Vẫn theo bản tin, nguời gây ấn tượng nhất trong phần “giao lưu” (bố khỉ chữ nghĩa thời đại Văn Hóa Đéo) với thính giả là tiến sĩ Nguyễn Nhã. TS Nhã đặt vấn đề là nếu chúng ta không đồng thuận thì Tân Cương sẽ không phải là hình ảnh xa vời đối với dân tộc VN. Rất tiếc TS Nhã không nói chúng ta đây là những ai, và đồng thuận là đồng thuận với ai. Ngay bây giờ, TS Nhã thử kêu gọi dân Saigon xuống đường như dân chúng Tân Cương xem chuyện gì xẩy ra, ngay tức thì chứ không xa xôi đâu.

 

     Tọa đàm hay ngọa đàm chi chi đó giữa các nhà khoa bảng và dân trí thức đã tỉnh giấc thì xưa nay xẩy ra nhiều vô số kể, trong nước có, ngoài nước càng nhiều hơn. Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy, tọa hay ngọa cũng vậy, đàm xong rồi thì ai về nhà nấy ăn uống no say, ngủ nghỉ rồi lại tiếp tục một ngày như mọi ngày. Thế thôi. Chuyện nước đã có đảng “no”. Thực tế các ông cũng chẳng “no” được gì. Có điều lạ là kỳ này, chuyện lo việc nước lại là mấy ông cha quốc doanh của Tổng Giáo Phận Saigon. Các vấn đề đại loại như Trường Sa, Hoàng Sa, Bauxite v.v. xưa nay vốn được các đấng các bậc nhà đạo ở Sàigòn giảng cho con chiên là việc chính trị, Giáo Hội không mần chính trị nên không xen vào. Con em ta ở hải ngoại cầm cờ Vàng trong Đại Hội Giới Trẻ ở Úc Châu cũng còn bị hồng y Phạm Minh Mẫn cho là làm chính trị đấy thôi không thấy sao. Hiện tượng có vẻ đổi chiều của bọn quốc doanh này chỉ có thể giải thích là làm theo chỉ thị. Quân đội Tầu cộng tràn vào cao nguyên qua dự án Bauxite người ta tọa mà không đàm. Hàng hóa lậu của Tầu tràn ngập giết chết kinh tế VN cũng chỉ thấy tọa mà không đàm. Người ta cũng chỉ tọa mà không đàm được lấy nửa lời về diễn biến sôi sục đang xẩy ra tại Tam Tòa? Buổi tọa đàm rõ ràng chỉ được nói những gì mà VGCS cho phép nói. Đều này thì tôi khỏi phải chứng minh. Học giả Đinh Kim Phúc đã chứnh minh ở trên, và bọn báo nô trong nước cũng đã chứng minh rồi. Câu hỏi đặt ra là bọn quốc doanh xuất hiện múa may chuyện Hoàng Sa, Trường Sa trong lúc này có mục đích gì? Xin mạn phép trả lời, chỉ là để xả súp bắp (soupape de sureté = safety valve) cho giới trí thức đang sôi sục vì tình trạng mất nước gần kề. Thứ hai là VGCS lần này có lẽ muốn nhờ đến bàn tay của bọn công giáo quốc doanh giăng bẫy hòa hợp hòa giải, bước đầu là trong giới trí thức khoa bảng. Người viết mời quí bạn đọc thưởng thức bản giao hưởng Symphony No 5 của Beethoven do ban đại hòa tấu HHHG này trình tấu cho vui. Xin giới thiệu, giàn nhạc gồm toàn những tay chơi lão luyện: một, quốc doanh trong nước, hai, con chiên chuyên nghề chống cộng cuội ở hải ngoại (bọn bợ đít lũ phản tỉnh bịp Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Trần Ngọc Thành, điệp viên Nguyễn Chí Thiện), ba, đặc biệt có mặt Lm Nguyễn Hữu Lễ, một tay saxophonist có hạng, bốn, Lm Phan Văn Lợi xưa nay vốn là một drump-major nổi tiếng. Giàn đại hòa tấu HHHG dưới sự điều khiển tài ba của conductor Lý Thái Hùng đang gặt hái thành công ngoài tưởng tượng của mọi người.  

 

     Phải nhìn nhận là nếu không có việc độc quyền phổ biến tin tức và hình ảnh buổi tọa đàm của radio Chân Trời Mới của VT thì có lẽ không ai khám phá ra cái âm mưu HHHG này. Bước khởi đầu cũng coi như một thí điểm cho những chiến dịch khác trong tương lai dưới muôn hình vạn trạng. Một công đôi ba việc, có thể VGCS cũng cố ý đưa chuyện tọa đàm lên để làm lu mờ đi hình ảnh bán nước nhục nhã cùng lúc đang diễn ra tại cửa ải Nam Quan. Đáng tội cho những nhà trí thức yêu nước thật lòng như linh mục trẻ Nguyễn Thế Hiển dòng CCT và có lẽ nhiều vị khác nữa mà người viết không nhận ra. Các vị đã quên phong trào “Trăm Hoa Đua Nở” trên đất Bắc ngày nào, hay xa hơn nữa, quên cả chuyện “Bách Hoa Tề Khai, Bách Gia Tề Phóng” ở bên Tầu xưa kia. Đó là những cái lưới cộng sản giăng để bắt cá rất hữu hiệu.

 

     Cuối cùng là tin giáo dân Tam Tòa đấu tranh đòi Nhà Thờ

 

     Tin tức và hình ảnh giáo dân tại giáo xứ Tam Tòa giáo phận Vinh (Xã Đoài) bị công an VGCS hành hung, đánh đập và bắt giam đều do các phóng viên freelancers trong nước (không phải của bọn báo nô, cũng không phải của VT) loan tải trên mạng nên rất trung thực. Tin này cho đến bây giờ vẫn là tin tức “hot” nhất đối với mọi người VN quan tâm đến các vấn đề của đất nước. Người công giáo VN đang hướng về Tam Tòa. Nhân dân VN đang hướng về Tam Tòa. Thế giới cũng đang đổ con mắt vào Tam Tòa. Ở đấy có những trái tim cháy lửa yêu thương Tổ Quốc và Giáo Hội, có những thanh niên nam nữ không tên tuổi mang tâm hồn người chiến sĩ coi cái chết nhẹ tựa lông lồng, có những bà mẹ già yếu kiên cường không sợ đối mặt với kẻ thù võ trang đến tận răng, có những em bé thơ ngây dám bỏ cả chơi đùa, sẵn sàng hy sinh tuổi xuân cho một tương lai mới chỉ là tưởng tượng trong đầu các em, có những vị chủ chăn dám cho đi cả mạng sống vì đàn chiên mà mình có bổn phận chăn dắt. Tất cả họ đều là anh hùng đáng cho tôi ngưỡng phục. Tam Tòa là cái gương kiên cường, bất khuất, đoàn kết cho mọi người VN. Tôi mơ ước giá giáo xứ nào cũng là giáo xứ Tam Tòa, giáo phận nào cũng là giáo phận Vinh, toàn Giáo Hội VN đều được chăn dắt bởi những chủ chăn như thế. Được như thế thì đất nước tôi không mấy hồi mà bọn giặc hồ bán nước bị quyét sạch.

 

     Nhà thờ Tam Tòa, nhất là cái tên tòa giám mục Xã Đoài là những địa danh có vẻ như xa lạ đối với nhiều người, nhất là giới trẻ ở hải ngoại. Thế mà bỗng dưng trở nên quen thuộc, rất gần gũi và rất thân thương đối với mọi người Việt Nam gắn bó với Tổ Quốc, quê hương của mình. Người viết lục lọi trong đầu xem Tam Tòa nằm ở chỗ nào trên bản đồ thì mới thấy nó là cái vết thương cũ của đất nước bị phân đôi trong thời Trịnh Nguyễn. Tam Tòa thuộc tỉnh Quảng Bình, mà Quảng Bình thì có dấu tích lịch sử nổi tiếng là Lũy Thầy.

     Gọi là Lũy Thầy vì chữ Thầy ở đây là một danh từ biến thành đại danh từ mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên dùng để xưng hô với một bậc thầy của nhà Chúa là danh nhân Đào Duy Từ. Lũy Thầy hay còn gọi là lũy Đồng Hới hay lũy Nhật Lệ vì nó nằm dọc theo con sông Nhật Lệ, là một tường lũy quân sự tại khu vực ngày nay là Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Lũy này được Đào Duy Từ theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Nguyên xây dựng nhằm bảo vệ Chúa Nguyễn ở Đàng Trong khỏi các cuộc tấn công của chúa Trịnh Đàng Ngoài. Đào Duy Từ quê ở Thanh Hóa. Biết ông là một người văn võ song toàn, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gọi Đào Duy Từ là thầy để tỏ lòng kính trọng. Năm Canh Ngọ 1630, ông chủ xướng việc thiết kế và chỉ đạo xây dựng hai công trình phòng thủ quan trọng là Lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (1630) và Lũy Thầy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình). Lũy Thầy đã đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chúa Nguyễn giữ vững cơ đồ của mình ở Đàng Trong trong suốt gần 50 năm chiến tranh với chúa Trịnh Đàng Ngoài (1627-1672). Sau này, vua Thiệu Trị khi đi qua hệ thống Lũy Thầy, ngưỡng mộ vẻ hùng vĩ của công trình này, và để tỏ lòng nhớ ơn công đức của tiền nhân, đã đặt tên lại cho Lũy Thầy là Định Bắc Trường Thành.

     Tam Tòa là một giáo xứ cổ xưa thuộc giáo phận Vinh nằm trong tỉnh Quảng Bình. Nhà thờ Tam Tòa qua lối kiến trúc Bồ Đào Nha với một quả chuông lớn cổ điển xây vào năm 1886 và khánh thành một năm sau, được kể là một trong những ngôi thánh đường đẹp nhất tại Việt Nam. Ngày 11-2-1965 bọn du kích địa phương VGCS đặt súng trên tháp chuông bắn lên máy bay mỹ để khiêu khích, không lực Mỹ tưởng nhà thờ có quân đội CS đóng nên thả bom đánh sập nhà thờ, chỉ còn lại tháp chuông và bức tường cuối. Sau chiến tranh chấm dứt năm 1975, giáo dân không đủ khả năng để trùng tu lại thánh đường nên các thánh lễ của giáo dân phải cử hành ngay trên cái nền đã đổ nát. Cho tới năm 1996 tỉnh Quảng Bình qui định khu thánh đường là nơi gọi là di tích tội ác chiến tranh Mỹ và cấm không được cử hành thánh lễ ở đó nữa. Tại sao các nấm mồ tập thể tết Mậu Thân tại Huế chúng không cho lưu lại làm di tích lịch sử? Tại sao chúng không giữ lại trường học Ba Càng, Vĩnh Long làm di tích lịch sử? Tại sao chúng phải sang tận Malaysia áp lực chính phủ nước này phá bỏ bia di tích thuyền nhân? Bọn Việt gian bán nước lưu manh.

     Ngày 02-2-2009, bất chấp lệnh cấm, Đức cha Cao Đình Thuyên, giám mục giáo phận cùng 14 linh mục Vinh đến dâng thánh lễ tại nhà thờ Tam Tòa. Hàng ngàn giáo dân đã tới tham dự thánh lễ và hỗ trợ quyết định của Đức Cha Thuyên đòi lại thánh đường.

     Vào khoảng 9 giờ sáng ngày 20-7-2009, hàng trăm giáo dân Vinh tới dựng Thánh Giá, lập bàn thờ, và căng bạt để dâng thánh lễ thì bị công an ập tới tấn công và đàn áp dữ dội. Chúng giật sập cái lều vừa được dựng lên, đạp đổ bàn thờ, cướp đi Thánh giá, hành hung giáo dân kể cả đàn bà con nít. Giáo dân của các giáo xứ lân cận và các linh mục phản ứng lại bằng cách kéo đến thật đông để cầu nguyện một cách hòa bình. Nhưng công an cũng kéo đến rất đông cùng với bon du côn xã hội đen để đàn áp giáo dân. Chúng xịt hơi cay, đâm bàng lưỡi lê, đắnh bằng gậy bất kể lớn bé già trẻ, giáo dân hay linh mục. Hai linh mục bị thương. Cha Ngô thế Bính bị trong thương. Tình hình vẫn còn diễn biến từng ngày, từng giờ. Xin mời quí bạn đọc theo dõi Thông Cáo số 4 của Tòa Giám Mục Vinh dưới đây để biết chi tiết tình hình.

THÔNG CÁO SỐ 4

V/v Tam Tòa tại Đồng Hới, Quảng Bình

1. Tin 2 linh mục và một số giáo dân Vinh bị nhóm "côn đồ" đánh đập tại Tam Tòa trước sự chứng kiến của những người mang sắc phục công an, làm cho dư luận khắp nơi thêm phẫn nộ, bàng hoàng, lo lắng. Nhiều nơi điện thoại về Tòa Giám mục thăm hỏi tình hình và phỏng vấn. Cha Fx. Võ Thanh Tâm – Tổng đại diện Giáo phận Vinh đã xác định chắc chắn có sự việc trên.

2. Chiều 27/7/2009, linh mục Phaolô Nguyễn Đình Phú và mấy giáo dân bị đánh trọng thương về tới Kỳ Anh (Hà Tĩnh). 21 giờ cùng ngày, linh mục Phêrô Ngô Thế Bính được đưa về Phòng khám Đa Khoa của Tòa Giám mục Xã Đoài. Giáo dân kéo đến, thấy cảnh linh mục bị đánh bầm dập mặt mũi và thân thể mang nhiều vết thương đã không thể kìm nén được sự phẫn uất của mình. Không khí sục sôi.

3. Chiều 27/7/2009, Tòa Giám mục nhận được tin chị Yên bị công an Quảng Bình tới nhà mang đi hôm 26/9/2009 được thả về. Lúc 01 giờ sáng 28/7/2009, Tòa Giám mục nhận được tin anh Thống bị mang đi hôm 26/7/2009, lúc đó đang bị công an tống ra đường.

4. Sáng 28/8/2008, phái đoàn Tòa Giám mục vào thăm Cha Phú tại giáo xứ của ngài coi sóc. Được Cha Phú kể lại, phái đoàn hiểu thêm âm mưu ác độc của nhóm côn đồ và những kẻ tiếp tay trong sắc phục công an đứng chứng kiến cảnh tượng kinh khủng đó. Ngài nói, chỉ trước đó mấy phút, khi xe của ngài vừa đậu tại phần đất gần nền nhà thờ Tam Tòa thì nhóm côn đồ ập tới đánh ngài và các giáo dân cùng đi.

5. Tại phòng khám Tòa Giám mục, từng đoàn người đến thăm Cha Bính và hỏi thăm sự thể. Dù bị đau đớn, ngài vẫn cố kể lại những hành động của nhóm côn đồ đánh hội đồng trước sự chứng kiến của công an Quảng Bình, làm cho không khí căng thẳng lan nhanh khắp Giáo phận Vinh. Cha Tổng đại diện và các linh mục tại Tòa Giám mục cố trấn an mọi người bình tĩnh, cầu nguyện, với ý thức rằng hành động của ma quỷ rất dễ lún sâu trong vũng lầy nhơ nhớp của nó. Còn con cái Chúa phải chiến đấu với quỷ ma bằng cách thế khôn ngoan như Lời Chúa dạy.

6. Tối 28/7/2009, một số gia đình có nạn nhân đang bị công an Quảng Bình bắt giữ báo cho Tòa Giám mục biết là chính quyền địa phương đề nghị tới "làm thủ tục" đón người nhà về. Rồi cả ngày 29/7 vấn đề đó cũng chưa xong!
 
7. Chiều 29/7/2009 phái đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội tới Tòa Giám mục thăm Giáo phận Vinh và gửi quà thăm anh chị em giáo dân Tam Tòa.

8. Ngày 30/7/2009, vào lúc 10 giờ, ông Nguyễn Đức Thịnh – Vụ phó vụ Công giáo và bà Đào Thị Đượm – Chuyên viên Công giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam đã tới Tòa Giám mục gặp và trao đổi với linh mục Võ Thanh Tâm – Tổng Đại diện Giáo phận Vinh cùng với linh mục Phạm Đình Phùng – Chánh văn phòng Tòa Giám mục Xã Đoài. Tại cuộc gặp này, Đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ muốn nghe những ý kiến từ Giáo phận Vinh. Linh mục Tổng đại diện lần lượt nêu lên các ý sau đây :

– Sự việc Tam Tòa lúc đầu chỉ là việc nhỏ. Giáo dân chỉ đến dựng cái lán che trên nền nhà thờ Tam Tòa, nền đất thánh thiêng của giáo dân Tam Tòa suốt mấy trăm năm qua. Thế mà công an Quảng Bình đã đánh đập tàn nhẫn, bắt giữ trái phép giáo dân, chiếm đoạt Thánh Giá – biểu tượng cao quý của người Công giáo, chiếm đoạt tài sản của Giáo hội và của giáo dân, rồi lại tiếp tục sa vào sai lầm khi 2 linh mục và một số giáo dân bị đánh trọng thương, càng làm cho dư luận ngày thêm bất bình phẫn uất. Cha Tổng nói: "Chính tôi là người đã vào Tam Tòa thăm các nạn nhân. Họ kể và tôi thấy những viết thương bầm tím trên người họ mà xót xa, đau đớn".

– Về phía Giáo hội, chúng tôi cố gắng trấn an dân chúng. Họ sục sôi vì những hành động tàn nhẫn của công an Quảng Bình.

– Chúng tôi tự hỏi : Nếu UBND tỉnh Quảng Bình nói chỉ có giáo dân và lương dân xô xát với nhau, vậy tại sao công an chỉ bắt giữ giáo dân, đánh đập, giam cả 10 ngày nay rồi, mà lại không bắt một ai là lương dân ?

– Nếu công an nói rằng họ đến để dẹp việc gây rối trật tự công cộng thì tại sao lại lấy hết tất cả các máy quay phim, chụp hình của giáo dân, tới nay cũng chưa trả lại. Nếu họ làm việc chính nghĩa thì phải để cho dân thấy chứ?

– Và nếu công an đến để dẹp việc gây rối thì tại sao lấy hết tất cả, từ Thánh Giá, khung sắt, tôn lợp, xe cộ, máy phát điện, thức ăn, cả đến tiền bạc của giáo dân mà không lập biên bản gì cả?

– Cụ thể hơn cả là tại sao trong mấy ngày qua, công an không bắt nhóm "côn đồ" đông tới hàng trăm đánh đập 2 linh mục và các giáo dân trong ngày 27/7/2009 ?

9. Sau khi nghe những lời trình bày của linh mục Tổng đại diện và linh mục Chánh văn phòng, đại diện Ban tôn giáo chính phủ hiểu rõ hơn vấn đề và muốn được Tòa Giám mục đưa ra những đề xuất. Tòa Giám mục lặp lại những yêu cầu từ ban đầu:

– Thả ngay, thả hết những giáo dân bị công an Quảng Bình đánh đập và đang bị bắt giữ.
– Săn sóc, chữa lành những giáo dân bị công an đánh đập.
– Bồi thường tại chỗ lán che của giáo xứ Tam Tòa.
– Trả lại Thánh giá, trả lại tài sản của Giáo hội và tài sản của giáo dân.
– Dừng ngay việc xuyên tạc sự thật, bôi nhọ tôn giáo, kích động hận thù, gây chia rẽ khối đoàn kết lương giáo.    
– Còn việc 2 linh mục và các giáo dân bị đánh đập, UBND tỉnh Quảng Bình phải chịu trách nhiệm việc chữa trị, lo thuốc men và phải xét xử những kẻ "côn đồ" theo pháp luật. 

11. Lúc 18 giờ ngày 30/7/2009, Tòa Giám mục nhận được tin từ người nhà của các nạn nhân cho biết : công an Quảng Bình đã thả thêm 4 giáo dân bị bắt giữ từ ngày 20/7/2009. Hiện còn 3 giáo dân bị giữ. Còn ông Nguyễn Công Lý bị mang đi ngày 26/7/2009 đã được thả ngày sau đó. 

Xin mọi người tiếp tục hiệp ý cầu nguyện và thể hiện tình yêu thương liên đới với Tam Tòa.

Văn phòng Thư ký Tòa Giám mục
Chánh Văn phòng
(Đã ký và đóng dấu)
Linh mục Antôn Phạm Đình Phùng

     Trong mấy ngày qua tôi cứ luôn băn khoăn thắc mắc về một vấn nạn là tại sao bọn VGCS mấy năm gần đây lại cứ nhè vào đầu người công giáo mà đập như thế. Chuyện này xẩy ra ở khắp nơi trong nước. Hai vụ nổi tiếng nhất là Tòa Khâm Sứ tại Hànội và giáo xứ Thái Hà Ấp cũng tại Hànội. Bây giờ đến giáo sứ Tam Tòa. Có lẽ bọn đầu lãnh VGCS đã không ngờ đụng phải ổ kiến lửa. Có thể suy đoán rằng trước tình thế nguy ngập của đất nước, bọn Việt gian CS cảm thấy đã đến lúc cần thiết phải mở bang giao với Tòa Thánh La Mã. Nhưng để lập bang giao, chúng cũng cần phải dẹp hết và dẹp cho xong tất cả mọi sức chống đối của giáo dân trước đã. Vì thế mới có những chuyện như chuyện Tam Tòa xẩy ra. Đức cha Cao Đình Thuyên đã căng lều làm lễ từ đầu Tháng 2-2009 đến giờ chứ đâu phải mới đây đâu. Sao bọn chó má không ra đấy ngăn cản từ trước mà phải đợi cho đến bây giờ mới gây chuyện? Vả lại nhà thờ là tài sản của GH chứ có phải của đảng VGCS đâu. Đang lúc xẩy ra biến cố Tam Hòa thì bọn VGCS lại tung ra cái tin tên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sắp sang viếng thăm Tòa Thánh để bàn về vấn đề bang giao. Xem ra chúng có dụng ý mượn tay Tòa Thánh để calm down vấn đề như đã xẩy ra trước đây trong biến cố Tòa Khân Sứ với lá thư của Hồng Y Bertone. Lập bang giao với Tòa Thánh, VGCS còn hy vọng lôi kéo được GHVN đi theo để ủng hộ việc bán nước của chúng. Mong rằng Tòa Thánh đừng làm thế nữa, và giáo dân VN cũng đừng vâng lời vô lý như thế nữa. Việc tranh đấu của giáo dân trong phạm vi quyền công dân Tòa Thánh không nên xen vào, và giáo dân cũng chẳng nên vâng lời một cách vô lý như thế. Giáo Phận Vinh đã để lại một kinh nghiệm sống rất quí báu của giáo xứ Đông Yên. Trong suốt giai đoạn bọn VGCS gọi là thời kỳ chống Pháp chống Mỹ, giáo dân Đông Yên nhất định cương quyết không đi dân công cho VGCS, không đi lính cho VGCS, không để cho VGCS bắt cha xứ của mình đi, không hợp tác với VGCS trong bất cứ vấn đề gì. Cuộc đấu tranh ôn hòa và thụ động này VGCS không làm gì được và giáo dân đã thành công. Nếu giáo phận Vinh và toàn thể Giáo Hội VN đũng kiên cường đấu tranh bất hợp tác như thế thì chế độ VGCS bán nước nhất định phải sụp đổ.

Duyên Lãng Hà Tiến Nhất




Dòng Ðời Bất Hạnh

Dòng Ðời Bất Hạnh

Kính thưa mẹ!

Những dòng này con viết để kính dâng mẹ. Không phải để khơi lại một sự bất hạnh mà Thượng Đế đã đổ xuống cho gia đình chúng ta, mà là con muốn ghi nhớ lại những nỗi đau thương, tận cùng mà gia đình chúng ta đã chịu đựng trong những tháng năm dài cơ cực.
Kính lạy mẹ!
Bây giờ, mẹ đã vĩnh viễn ra đi, từ nay chúng con sẽ không còn gặp lại bóng hình thân yêu của mẹ. Chúng con đã thật sự mất mẹ rồi. Lần về thăm mẹ để rồi ra đi, con cứ nghĩ đó chỉ là buổi sinh ly, chứ nào ngờ đâu chính là ngày vĩnh biệt.
Dù biết rằng – có sinh ắt có tử, đó là định luật mà đấng tạo hóa đã sắp bày, nhưng sao lòng con vẫn cảm thấy thương xót ngậm ngùi.
Thôi , mẹ hãy yên lòng yên nghĩ nghe mẹ. Đêm nay, từ một góc trời xứ lạ – Thành phố Chicago lạnh rét run người, trong một aparment rét giá, nhớ đến mẹ nên con viết những dòng này kính dâng lên mẹ đây. – PTN
* * *
Khi tôi vừa lên bảy tuổi thì cha tôi cũng vừa lìa khỏi cõi đời sau một cơn bạo bệnh. Ba tôi chết đi là một sự mất mát to lớn đối với gia đình chúng tôi, vì cha tôi là người lao động chính trong gia đình. Từ miếng cơm, tấm áo đều do ông mà có.
Năm đó, mẹ tôi vừa tròn hai mươi tám tuổi, chị tôi lên mười, tôi lên bảy và em gái tôi lên năm. Tội nghiệp cho mẹ tôi, một người đàn bà chưa đầy ba mươi tuổi đã phải gánh lấy trách nhiệm nuôi nấng ba đứa con thơ trong một quê hương ngập đầy khói lửa.

Ba tôi chết đi trong khi đất nước vẫn còn ầm vang tiếng súng –
Chiến tranh đã cướp đi biết bao hạnh phúc của mọi gia đình, trong đó có gia đình chúng tôi. Đêm đêm tiếng đại bác từ quận, huyện bắn về, chúng tôi chỉ còn biết chun xuống gầm giường niệm Phật.

Ba tôi mất đi đã để lại cho mẹ con chúng tôi một con số không – một con số không thật sự, bởi vì trước khi ba tôi mất vài tháng, ngôi nhà tranh chúng tôi cư ngụ
đã bị một trận hỏa hoạn thiêu hủy tất cả, ba tôi chỉ dựng tạm lại căn chòi mà chúng tôi đang ở để có chổ che nắng, che mưa rồi dành dụm sẽ cất lại căn nhà khác, nhưng căn nhà chưa cất được thì ba tôi đã ra đi. Nỗi bất hạnh tột cùng đã đến với gia đình chúng tôi.

Thế rồi hằng ngày mẹ con chúng tôi sẽ sống ra sao?
Tôi và mẹ tôi ra đồng mót từng cọng lúa còn xót lại, đem về nhà giã ra nấu cháo cho cả nhà cùng ăn, hoặc vô các nương rẩy làm công để chiều về được người ta trả cho một ít khoai lang, khoai mì sinh sống qua ngày, còn chị tôi ở nhà trông em gái tôi.

Cuộc sống của gia đình chúng tôi, hay nói đúng hơn của đa số dân làng Bình Thành đều vậy. Dù mới bảy tuổi nhưng tôi đã biết thế nào là chiến tranh – đói nghèo cùng cực, chết chóc tang thương. Và tôi cũng đã biết tự hỏi – người ta tạo ra chiến tranh để được gì? Tại sao người ta không thể gạt bỏ những sự thù hằn chém giết mà tạo một cuộc sống an lành cho người dân? Khi đó, tôi chỉ biết hỏi nhưng chưa nhận được câu trả lời. Đêm đêm tôi thường nghe tiếng thở dài của mẹ và thấy được những dòng nước mắt của bà chảy dài xuống má. Mỗi lần thấy mẹ tôi khóc, tôi thương mẹ tôi lắm, tôi muốn ôm hôn bà thật nhiều và tôi nghĩ – tôi có thể chết theo bà nếu bà không còn sống nữa

Dù mới bảy tuổi đầu, nhưng có lẽ vì cuộc sống quá khổ cực nên tôi đã có trí khôn, tôi luôn thầm nghĩ – Nếu mai này đất nước được hòa bình, có điều kiện tôi sẽ xin mẹ tôi cho tôi đi học. Tôi sẽ cố gắng học thật giỏi, đỗ đạt thành tài để thay đổi cuộc sống mà lo cho mẹ tôi được sung sướng như người, nhưng đó là ý nghĩ trẻ thơ của tôi, còn thực tế như thế nào cũng do định số.

Một ngày, trong nhà chúng tôi không còn gì để ăn, tôi và chị tôi rũ nhau vô vườn của một người trong làng bẻ chuối trộm, chẳng may chúng tôi bị chủ vườn phát hiện, ông chủ vườn bắt chị em chúng tôi trói lại dưới gốc cây soài, ông hỏi chúng tôi – “ Tại sao chúng mày vô vườn bẻ trộm chuối của tao”. Chị tôi run rẫy khóc sướt mướt, còn tôi vẫn bình tĩnh trả lời với ông ta – “ Thưa ông Ba ( ông ta thứ ba), sở dĩ chúng con bẻ trộm chuối của ông là vì nhà chúng con không còn gì để ăn, chúng con đói quá”. Ông Ba nhìn trừng vào mặt chúng tôi rồi lớn tiếng – “ được, chúng mày trả lời ngon lành lắm, tao cho chúng mày đói rục xương”. Ngày đó, chúng tôi bị ông ba trói cả buổi mới được thả ra. Khi đó, tôi đã biết suy nghĩ – Tại sao, người lớn không biết thương trẻ thơ? Tại sao người ta không có lòng nhân ái bố thí cho trẻ nhỏ một vài trái chuối trong lúc chúng đang đói khát? Tại sao cùng là đồng loại mà người ta không thương yêu, giúp đở cho nhau – T&igra
ve;nh người đi đâu rồi, có lẽ chiến tranh đã cướp mất rồi chăng?

Một hôm, mẹ tôi ôm chúng tôi vào lòng căn dặn: – “ Hôm nay, mẹ xuống phố kiếm việc làm để mua gạo về cho các con ăn, các con ở nhà đừng đi đâu xa, chiều mẹ sẽ về” . Trước khi đi, mẹ tôi còn bảo chị tôi: “ con nhớ lời mẹ dặn, nhớ trông các em, đừng cho chúng ra nắng .”Tôi còn nhớ, buổi sáng hôm đó là buổi sáng đầy mưa rơi và gió lạnh. Mẹ tôi, đầu đội chiếc nón lá cũ kỹ, người mặc bộ bà ba đen có nhiều chổ vá, chân mang đôi guốc đã mòn, vừa đi vừa ngoáy đầu nhìn lại. Chúng tôi đứng nhìn theo bóng hình mẹ mà thương nhớ ngập đầy. Và rồi chị tôi đã khóc, em tôi đã khóc và tôi cũng đã khóc. Buổi sáng đó đã khắc ghi vào ký ức tôi cho đến suốt cả cuộc đời này.

Ngày hôm đó, mẹ tôi chẳng trở về. Một ngày, rồi một ngày chẳng thấy bóng hình mẹ đâu. Trong nhà chẳng có gạo, đói quá chúng tôi chỉ còn biết ôm nhau mà khóc. Đứa em gái tôi, lúc nào cũng luôn miệng hỏi:
– “ mẹ đi đâu rồi chị?”
-“mẹ đi làm em à”.
– “làm ở đâu hả chị?”
– “chị không biết”
– “ bao giờ mẹ về hả chị?”
– “chắc mai mẹ về”
– “chị ơi! em nhớ mẹ quá.”
– “chị cũng vậy”.


Buổi chiều ngày thứ ba, từ ngày mẹ tôi ra đi, mẹ tôi lại trở về với một thân hình tiều tụy, mặt đầy thương tích. Chúng tôi hỏi mẹ “vì sao!” thì mẹ tôi cho biết là bị tai nạn xe, vô nằm ở nhà thương nên không về được. Lúc đó với tuổi dại khờ, nghe mẹ nói sao hay vậy chứ chúng tôi nào biết gì hơn, nhưng sau này mỗi ngày mỗi lớn, trở về lại Ninh Hòa, hỏi ra tôi mới hiểu sự thật là ngày đó mẹ tôi đã ăn cắp gạo của người ta, nên bị người ta đánh và lính Tây bắt nhốt ở quận. Biết được điều này, không những tôi không oán trách mẹ tôi mà trái lại tôi thấy thương mẹ nhiều hơn. Mẹ tôi đã vì chúng tôi mà làm bất cứ chuyện gì, miễn là có chén cơm cho chúng tôi sống. Từ ngày biết chuyện mẹ tôi bị đánh đòn, bị ở tù cũng vì chúng tôi, tôi cảm thấy phải có trách nhiệm với mẹ tôi trong quảng đời còn lại của mẹ. Tôi đã nguyện với lòng là phải tiến thân để đền đáp công ơn của mẹ.

Chiến tranh chấm dứt, dân làng Bình Thành thở phào nhẹ nhỏm và mẹ tôi nghĩ đến việc trở về quê ngoại – Quy Nhơn.

Theo lời mẹ tôi kể lại, gia đình ngoại tôi không phải giàu sang gì lắm nhưng cũng thuộc hạng trung lưu, nghĩa là không đến nỗi phải lo từng miếng ăn chạy bửa. Mẹ tôi, đã sắp xếp mọi việc theo sự suy nghĩ của bà khi chúng tôi trở về quê ngoại – tôi sẽ được đi học; chị tôi ở nhà trông em; mẹ tôi lo mua bán.

Từng đêm, từng đêm tôi đã nằm mơ tưởng đến một ngày mai ấm no và hạnh phúc – Tôi sẽ sung sướng biết chừng nào khi tôi sẽ trở thành là một cậu học trò – đến trường có thầy, có bạn. Đời tôi không còn khổ cực, lầm than – cơm không có ăn, áo không có mặc.Nhưng khi chúng tôi vừa đặt chân đến Quy Nhơn, tìm được căn nhà của ngoại tôi thì niềm mơ ước của tôi cũng tan thành mây khói. Căn nhà ngoại tôi đang ở là một căn chòi che bằng lá dừa, được dựng bên hông ngôi chùa Tàu Quảng Đông, diện tích chưa được mười mét vuông. Hỏi ra mới biết, những gì ngày xưa ngoại tôi có, chiến tranh đã cướp mất hết, nghĩa là bom đạn đã làm sập nát hết. Chiến tranh! – tất cả không còn gì. Tôi thầm nghĩ.

Rồi một ngày, mẹ tôi dẫn một mình tôi trở lại Ninh Hòa và bà nói với tôi – " Mẹ xa con, mẹ chẳng đành lòng nhưng vì tương lai của con. Mẹ muốn con được ăn học, nhưng ở Quy Nhơn mẹ không có khả năng và bà con cũng không ai giúp được gì nên mẹ dẫn con về Ninh Hòa gởi cho anh Ba – con bác của con, con hiểu cho mẹ.” Nghe mẹ tôi nói vậy, tôi chỉ còn biết khóc chứ biết làm sao hơn, trong khi tôi chỉ là một thằng bé mới lên bảy, dù rằng tôi rất muốn ở gần mẹ, gần chị, gần em.

Về lại Ninh Hòa, hàng ngày tôi đi học ở trường làng Ninh Hiệp, trưa ghé ăn cơm nhờ ở nhà một người bà con – cô Hai – em bà con với ba tôi, tối về thui thủi một mình với một bà già gần tám mươi tuổi – bà con xa bên nội tôi mà anh con bác tôi nhờ ở trông nhà giùm ( anh, chị con bác tôi cha , mẹ mất sớm. Chị đi ở cho người ta và ông anh đi học nghề nên không về nhà). Cơm buổi tối là phần cơm buổi sáng mà bà già bà con nấu để dành – cơm chỉ ăn với nước mắm, hoặc nước muối.

Năm tôi lên chín tuổi thì mẹ tôi dẫn tôi trở lại Quy nhơn. Về lại Quy Nhơn tôi nghĩ – sẽ được gặp lại chị em tôi, tôi mừng lắm nhưng khi bước vô nhà, tôi chẳng thấy chị tôi đâu, hỏi ra tôi mới biết là mẹ tôi đã cho chị tôi lên ở với người dì – chị của mẹ tôi trên xứ thượng – Kon Tum. Vậy là vì sự sống, chị em chúng tôi đã không được sum hợp.

Và rồi một ngày, mẹ tôi lên Kon Tum thăm chị tôi, mẹ tôi đã khóc hết nước mắt, khi tận mắt nhìn thấy sự khổ cực của chị tôi làm việc như một người tôi tớ. Một đứa trẻ mới mười ba, mười bốn tuổi phải làm đủ mọi việc trong nhà, từ cơm nước, giặt giũ mà còn bị la mắng đủ điều. Thương con, mẹ tôi đã dẫn chị tôi trốn đi, (vì mẹ tôi rất kiên sợ dì tôi), nhưng cuối cùng dì tôi đã tìm được mẹ và chị tôi ngoài bến xe đò, bà giận dữ đánh mẹ tôi tại bến xe và lột lại chiếc áo ấm mà bà đã mua cho chị tôi sau mấy năm làm lụng cực khổ. Tình đời là thế, tình người là vậy.

Khi mẹ tôi dẫn chị tôi trở lại Quy Nhơn, bà kể cho chúng tôi nghe những nỗi thống khổ của chị tôi, chúng tôi đã ôm lấy chị tôi khóc thật lâu. Nghĩ thương chị tôi quá.- Bây giờ ngồi viết những dòng chữ này, hình ảnh của ngày xưa cũ lại hiện về, nước mắt tôi lại chảy. Nhớ lại ngày xưa, tôi thấy nhớ mẹ, thương chị và em tôi nhiều, dù bây giờ mẹ tôi đã không còn và chị và em tôi trên đầu ai cũng đã có sợi bạc.

Rồi việc gì đến cũng đến, một hôm có người bà con với mẹ tôi ghé nhà thăm, bà là cô giáo của một trường tư thục nhỏ, do bà tự cai quản, sau
khi chuyện trò, bà đồng ý cho tôi vào học trường của bà với điều kiện – bà ta không lấy tiền học, còn tôi mỗi ngày giúp bà quét dọn, làm vệ sinh cho trường. Được đi học là tôi mừng quá rồi, điều kiện gì tôi cũng chịu hết, vậy là tôi được đi học trở lại.

Ngôi trường “ tiểu học Nhơn Phước” của cô giáo Tý – người bà con với mẹ tôi, nói là ngôi trường cho đúng chữ nghĩa, chứ nó chỉ là một ngôi nhà đã mục nát, ngồi trong trường nhìn lên trần thấy ánh mặt trời. Bàn học chỉ có sáu cái, học sinh khoảng hơn bốn chục người nhưng đủ mọi lớp – từ lớp mẫu giáo đến lớp ba, học sinh ngồi chen chúc chật chội, vì vậy nên tôi là người học sinh “đặc biệt” được ngồi trên đống gổ (mà ai đó đã để nhờ) làm bàn học. Nhưng dù sao đi nữa, được đi học là tôi thấy vui sướng lắm rồi.

Hằng ngày, mẹ tôi đúc bánh xèo bán bên ngoài hiên nhà của ngoại tôi, chị tôi phụ giúp mẹ tôi, còn tôi thì mỗi tối bưng quả hột dưa, được gói sẵn đem vô rạp hát “ Cộng Hòa” bán. cuộc sống của gia đình chúng tôi tạm thời là vậy, nhưng sự đời cũng không thể im xuôi. Một hôm, cô giáo Tý nói với tôi:
“ Con à! Dì ( bà thường xưng với tôi như vậy, vì bà có bà con với mẹ tôi) rất thương con vì con hiếu học nhưng dì không biết sao hơn, vì trường Dì chỉ dạy đến lớp ba là hết, mà con đã học đã hai năm lớp ba rồi. Đáng lẽ nếu có điều kiện thì con không phải chịu thiệt thòi vậy, mỗi năm con đủ khả năng lên một lớp. Suy nghĩ kỷ, không vì quyền lợi của Dì mà không nghĩ đến con, do đó Dì muốn con nên về nói lại với mẹ con cố gắng cho con đi học trường khác để lên lớp trên học, chứ học với Dì uổng phí thời gian lắm. Nghe cô giáo Tý nói, tôi biết là bà nói đúng nhưng sao lòng tôi vẫn cảm thấy buồn.

Vậy là sau mấy năm học với cô giáo Tý, tôi lại phải chịu cảnh thất học. Tôi buồn lắm nhưng biết sao hơn.

Một ngày, tôi đến nhà Trương Phi Hùng – người bạn cùng học lớp ba với tôi nơi trường cô giáo Tý. Mẹ Hùng là một người đàn bà rất nhân ái – Mỗi sáng, tôi thường ghé nhà Hùng rũ Hùng cùng đi học, mỗi lần như vậy, bà thường cho tôi một gói xôi và thường nói với Hùng về hoàn cảnh của tôi và bà cũng thường bảo Hùng nên đối xữ tốt với tôi. Nghe tin tôi đã nghỉ học, bà thương cảm tôi lắm nên nói với tôi về nhà lấy
giấy khai sinh đem đến cho bà, để bà xin cho tôi vào trường công lập Nguyễn Huệ cùng với Trương Phi Hùng. Nghe mẹ Hùng nói, tôi mừng lắm, trên đường về tôi cứ liên tưởng đến ngày tôi được vào trường Nguyễn Huệ – với bộ đồ trắng nam sinh của ngày thứ hai, áo trắng quần xanh của ngày thường. Có thầy cô, bạn bè đông đủ – vui! chắc vui lắm.

Nhưng sự hy vọng của tôi đã tan biến mất, sau khi nghe mẹ tôi phân trần – “ Mẹ cũng muốn cho con đi học lắm, nhưng con thấy đó, nhà mình không có miếng ăn thì làm sao có tiền cho con ăn học đây, chưa nói đến, bây giờ phải đi làm giấy khai sinh cho con tốn kém không ít ( Tôi chưa có giấy khai sinh), hơn nữa, rồi tiền sách vỡ , quần áo, bút mực và bao nhiêu chuyện khác. Con hãy tạm ở nhà mua bán giúp mẹ rồi mẹ sẽ tính”. Nghe mẹ tôi nói như vậy, tôi chỉ còn biết im lặng.

Cuộc đời cơ cực nó cũng trở về cơ cực. Không còn đi học nữa, thời gian không thể để cho tôi rảnh rỗi, do đó ngoài buổi tối bưng quả hột dưa, cam, quít vô rạp “ Cọng Hòa” bán hát bội ( Rạp này, các đoàn hát bội thường mướn hát), buổi sáng, tôi và chị tôi thức dậy từ năm giờ sáng xuống lò bánh mì “Toàn Phước” gần chợ Qui Nhơn lãnh bánh mì bán cho đến mười giờ trưa, có khi ế ẫm đến cả mười hai giờ không chừng. Chị tôi khi đó đã lớn, đã biết mắc cở, làm dáng cho nên mang bao bánh mì trên vai vừa đi vừa rao:-“ Ai mua bánh mì nóng giòn không?” thì chị tôi thấy xấu hỗ. Biết tính chị tôi như vậy, tôi thương lắm. Tôi nghĩ – Nếu nhà tôi khá giả thì giờ này chị tôi cũng đã là một cô nữ sinh như người ta rồi, đâu có e thẹn mang bao bánh mì rao bán. Do đó, tôi thường bảo chị tôi, cứ đứng đợi tôi một chỗ nào đó, khi nào bán xong phần tôi là tôi bán tiếp phần chị, khi hết bánh thì hai chị em cùng về.

Ngày tháng cứ vậy trôi qua, một hôm tôi đang đi bán bánh mì nơi đường Cường Để, tôi thấy trước một ngôi nhà có dán giấy quảng cáo “ Luyện thi Tiểu học và đệ Thất”, bỗng dưng hai chữ “ Đi học!’ hiện lên trong ý nghĩ của tôi, vừa lúc đó một người đàn ông từ trong nhà bước ra gọi tôi mua bánh mì, nhân dịp, tôi hỏi thăm người đàn ông, và biết được ông ta là thầy dạy học ở đó, tôi bèn kể rõ hoàn cảnh của tôi và xin ông cho tôi được học miễn phí. Nghe tôi kể, biết được hoàn cảnh của t&ocir
c;i, ông cũng thương cảm, nhưng ông ta bảo:- “ cái khó khăn là em mới học lớp ba, còn phải học hai lớp – nghĩa là hai năm nữa em mới có thể đi thi được, hơn nữa thầy dạy luyện thi chỉ có ba tháng hè thôi, chỉ dạy toán và văn làm sao em học đủ bài vở để đi thi”. Nhưng sau, vì thấy tôi năn nỉ và muốn học quá nên ông đồng ý cho tôi học. Vậy là từ đó, mỗi tối tôi không còn đi bán hột dưa nơi rạp hát “ Cọng Hòa” nữa, mà đi học lớp “luyện thi Tiểu học và đệ thất” với thầy Tâm nơi đường Cường Để”, Và với sự cố gắng tột cùng, năm đó – 1960, tôi đã đậu được bằng Tiểu Học – một niềm vui lớn nhất trong đời tôi.

Nhưng rồi, sự học của tôi cũng chỉ giới hạn ở cái bằng Tiểu học, vì khả năng của mẹ tôi chỉ làm nổi cái giấy khai sinh cho tôi đi thi Tiểu học, chứ bà không đủ khả năng sắm áo, quần, sách vở và biết bao nhiêu chuyện khác của một người học sinh. Vì vậy, sau khi đậu xong bằng Tiểu học, tôi lại phải trở lại công việc của những ngày cũ – Buổi sáng bán bánh mì; Buổi tối bán hột dưa, cam, quít nơi rạp hát “Cọng Hòa”. Và hai năm sau gia đình tôi lại có sự biến đổi mới – Mẹ tôi tái giá.

Từ ngày mẹ tôi tái giá, cuộc sống của gia đình tôi cũng chẳng lấy gì khả quan lắm, vì người dượng ghẻ của tôi là một người đàn ông vợ chết còn mẹ già và hai đứa con gái nhỏ. Cuộc sống của gia đình ông cũng chẳng khác gì gia đình tôi. Ông là một công nhân của một hãng kem nhưng vừa bị cho thôi việc – Đang thất nghiệp. Vì vậy, gia đình chúng tôi có sự thay đổi, nhưng chị em chúng tôi chẳng có sự thay đổi gì.

Năm ấy, tôi đã mười bốn tuổi, tôi đã hiểu được một phần lý lẽ của cuộc sống –“ Muốn thay đổi cuộc đời là phải có bằng cấp. Mà muốn có bằng cấp là phải đi học”, vì hiểu rõ như vậy, nên một hôm, tôi mới nói chuyện với mẹ tôi:

“ Thưa mẹ! con nghĩ – mẹ tái giá là để cho gia đình chúng ta bớt khổ sở, con và chị hai không còn mang bao bánh mì chạy rong khắp buổi sáng; buổi tối không còn mang quả hột dưa, cam quít vô rạp “Cọng Hòa”, chứ mẹ tái giá để rồi cuộc sống của chúng con không khác gì ngày xưa thì mẹ tái giá làm gì? Thưa mẹ! bây giờ, con muốn đi học. Có đi học mới thay đổi được cuộc sống của chúng ta thôi mẹ ạ!”Và trong niên học năm đó – 1963, tôi đã nhờ cậu tôi – làm trưởng ấp Phan Bội Châu, làm đơn và ký nhận “ con nhà nghèo” để tôi vô trường Bồ Đề – cơ sở giáo dục của Giáo Hội Phật giáo xin học bổng. Được sự chấp thuận của ban giám đốc và cơ sở giáo dục Phật Giáo tỉnh, từ năm đó tôi đã thật sự là một học sinh của trường Bồ Đề với một điều kiện mà nhà trường đã đòi hỏi ở tôi một sự cố gắng và chăm chỉ tột cùng –“ Hàng tháng phải xếp hạng cao mới cho học bổng”. Và trong sáu năm học ở trường Bồ Đề, vì cái nghèo, vì muốn thay đổi cuộc sống ở tương lai, tôi đã phải tranh đấu với chính con người tôi – Không ham chơi, không đua đòi, sống ẩn mình như một cụ non. Và cũng vì cái nghèo, sự học của tôi đã phải chấm dứt khi tôi vừa thi xong mảnh bằng Tú Tài phần hai – Đối với hoàn cảnh của tôi lúc đó đã là quá đủ, tôi không còn dám ước mơ gì hơn. Và cũng từ đây, tôi bắt đầu bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời.

Hành trang vào đời của tôi chỉ là một bộ đồ cũ mặc trong người và hai bộ đồ cũ đựng trong xách tay. Buổi sáng, chào mẹ, chào chị, chào em một mình bước lên xe đò về miền xa lạ – Đà Lạt để vào trường Võ Bị Quốc Gia, nhưng rồi vận đen vẫn hoài đeo đuổi, nên khi tôi đến là trường đã khai giảng. Dù thế nào tôi cũng không thể trở về lại Quy Nhơn, vì vậy, tôi đành chấp nhận đi vào quân trường Bộ Binh Thủ Đức.
Những ngày tháng ở quân trường, chính là những tháng ngày thử thách sự chịu đựng tột cùng của người lính – vui, buồn lẫn lộn…..

Phan Tưởng Niệm
Sat Aug 16, 2008 11:40 am




Vũ Cao Đàm: Hành vi nhỏ… dã tâm lớn

Trích Bài viết của Vũ Cao Đàm:  Hành vi nhỏ… dã tâm lớn

Lướt nhanh trên mạng những ngày này, chúng ta luôn tìm được nhiều thông tin đắt giá:

Thương lái Trung Quốc (dân thường nói ngắn gọn, là bọn Tàu) về các chợ nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao, thậm chí những cái móng từ 4 chân của một con trâu được bọn Tàu mua với giá hơn hẳn một con trâu. Thế là nông dân Việt Nam và bọn “trâu tặc” ra sức chặt móng trâu đem bán,… vẫn còn lãi một con trâu thịt mang bán ở chợ. Chỉ một thời gian rất ngắn, bọn chúng đã triệt phá tan hoang sức kéo của nông dân nghèo Việt Nam. Tiếp đó, dân loan tin cho nhau, hàng lũ lái trâu từ bên Tàu tràn qua biên giới để “tiếp thị” bán trâu. Trong cái lũ thương lái mới này còn có cả kẻ tiếp thị bán trâu sắt (máy kéo). Dân tình vỡ lẽ: Thì ra chúng thu mua móng trâu là vì như thế!

Ở một nơi khác, thương lái Tàu đi các chợ thu mua rễ hồi, thế là những bọn “hồi tặc” mở chiến dịch triệt phá rừng hồi, một dược liệu quý hiếm của Việt Nam; chúng mua râu ngô non, xúi giục nông dân triệt phá nương ngô mang bán, đánh vào trúng cái dạ dày của những người mà bọn Tàu gọi là “đồng chí tốt” Việt Nam; chúng thu mua mèo nhằm triệt phá một nguồn trừ chuột cắn lúa; rồi chúng mua ốc bươu vàng, xúi giục nông dân nuôi ốc bươu vàng tràn ngập đồng ruộng phá hoại mùa màng, tấn công vào chiến lược an ninh lương thực của quốc gia “láng giềng tốt” Việt Nam.

Hàng tốp thương lái Tàu xuất hiện từ Hà Giang cho đến Lâm Đồng để thu mua chè vàng, là thứ chè chặt thô phơi tái, không cần chế biến. Thương lái Tàu mua chè vàng với giá rất cao, kích thích nông dân chặt trụi đồi chè mang bán. Thế là thương lái Tàu đã triệt hạ vùng nguyên liệu cho các nhà máy chè Việt Nam. Không còn con đường nào khác, các doanh nghiệp chè Việt Nam phải sang mua chè nguyên liệu từ Trung Quốc. Đến khi nông dân Việt Nam cần trồng lại đồi chè, thì các “đồng chí tốt” từ bên kia biên giới, vì tình quốc tế vô sản lại lọ mọ xuất hiện, “giúp” mua giống chè từ Trung Quốc chở qua cho nông dân Việt Nam.

Thâm độc hơn, chúng mở chiến dịch thu mua dây đồng vụn với giá cao “trên trời”, đẩy từng đoàn “đồng tặc” lùng sục chặt trộm dây đồng từ các đường điện cao thế, băm nát mạng lưới điện quốc gia của nước “láng giềng tốt” để nước này đốt đèn dầu đi theo họ “hướng tới tương lai”. Có nơi, bọn “đồng tặc” lẻn vào kho ăn cắp từng cuộn dây đồng mới “coong” mang bán, thì “các đồng chí tốt” lên mặt đạo đức: “Ấy chết, cái ngộ không mua cái cuộn dây tôồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các tôồng chí tâu lố!” (Chúng tôi không mua cái cuộn dây đồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các đồng chí đâu nhé).

Cho đến khi bọn thương lái Tàu đi thu mua cáp quang phế liệu, thì các nhà đương cục của chúng ta mới được phen ngớ ra, không hiểu bọn chúng mua cái “của nợ” này để làm gì. Vì mua dây đồng thì còn có thể hiểu là chúng lấy nguyên liệu, nhưng cáp quang thì thật không thể hiểu được chúng mua để làm gì? Đến khi dân nghèo lặn xuống biển chặt phá mạng cáp quang viễn thông, thì mới “ngã ngửa” ra, là chúng đang phá hoại con đường huyết mạch thông tin của Việt Nam… Chắc là các “đồng chí Việt Nam” nghĩ mãi không biết xử thế nào với những người “đồng chí tốt” bên nước vô sản Trung Hoa, đành phải đưa ra tòa vài thằng dân nghèo “trót dại” lặn xuống biển chặt trộm cáp quang.

“Láng giềng tốt” giúp… xây dựng các công trình thủy lợi

Sau 1954, Việt Nam được Trung Quốc giúp xây dựng nhiều công trình thủy lợi. Tôi đã tiến hành một cuộc phỏng vấn với Giáo sư TTA, Viện trưởng một viện nghiên cứu thủy lợi ở Hà Nội về sự giúp đỡ thủy lợi của người “đồng chí tốt”, vị Giáo sư kéo tôi vào phòng làm việc và cho xem một video clip quay suốt dọc dòng sông biên giới Việt – Trung.

Trời ơi, chúng ta không thể tưởng tượng được, người “đồng chí tốt” đã làm những trò gì đâu! Các “đồng chí” xây 120 cái kè chắn chéo dòng nước trên các dòng sông biên giới, tạo những luồng nước xoáy để làm sạt lở bờ phía Việt Nam, ăn cắp đất mang về phía đất nước “láng giềng tốt” bên kia biên giới. Đất bồi sang phía bắc đến đâu, các đồng chí xây nhà cao tầng và kéo giai cấp vô sản quốc tế Trung Hoa đến đó.

Xem xong clip của Giáo sư TTA, tôi bàng hoàng… Tất cả các triều đại Đường, Nguyên, Tống, Minh, Thanh, chưa có bất kỳ một triều đại nào trước Triều đại cộng sản Trung Hoa sử dụng những biện pháp tồi tệ như vậy với Việt Nam.

Việt Nam đã đối đầu với những đế quốc lớn, đã đối mặt với đủ loại thủ đoạn tàn bạo của nhiều loại đế quốc, nhưng có lẽ đây là ngón đòn xâm lược thâm hiểm và bẩn thỉu nhất của một loại đế quốc mới nổi: Đế quốc Trung Cộng.

Tôi hỏi Giáo sư TTA: “Ông có thể cho biết, có công trình thủy lợi nào mà Cộng sản Trung Hoa giúp Việt Nam không chứa đựng những “yếu tố đểu” tương tự như vậy không?”. Ông chau mày trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu…

“Tôi khó trả lời anh quá”, Giáo sư nói với tôi như vậy.

Đến hành vi gây ô nhiễm môi trường “gien” Việt Nam
>

> Trên đường phố và sân bay Việt Nam hôm nay tràn ngập người Trung Quốc. Tôi vừa ngồi ở sân bay Đà Nẵng. Tôi đến hơi trễ, hỏi anh bạn ngồi bên phải tôi: “Máy bay Hà Nội gọi vào chưa?”, thì nghe câu hỏi lại bằng tiếng Tàu “Shen ma?” (Cái gì?). Tôi quay bên trái hỏi, thì lại nghe “Shen ma?”. Tôi quay phía sau hỏi, lại thấy “Ni shuo shen ma?” (Ông nói cái gì?)… Tôi ngỡ ngàng, tưởng mình lạc vào sân bay Bắc Kinh.

Làng sinh viên HACINKO (Phố Ngụy Như Kontum) không còn chỗ cho thuê vì hơn 500 người Trung Quốc đã “trấn” ở đó. Họ chen lấn trong thang máy và trong nhà ăn, thậm chí chiếm đứt thang máy để chơi đùa leo lên leo xuống, không cho bất kỳ ai sử dụng thang máy. Người Tàu đến đó mở hàng ăn, hàng bán quần áo, mua bán tấp nập như một chợ Tàu. Tối tối sinh viên Tàu trượt patin và la ó huyên náo một góc phố… Họ làm cho tôi liên tưởng tới hai mươi vạn quân Tàu Tưởng tràn vào Việt Nam năm 1945,… ghẻ lở, bẩn thỉu, ngông nghênh và láo xược.

Sao mà người Trung Quốc thắng thầu lắm thế? Chuyện bauxite Tây Nguyên đã có quá nhiều người nói rồi. Tôi đơn cử vài chuyện vặt vãnh khác: Chỉ ở một tỉnh ở rất gần Hà Nội thôi, Trung Quốc chưa làm xong Nhà máy điện HB, hàng ngàn công nhân Tàu chưa kịp rút, thì Tàu đã thắng thầu làm Nhà máy điện MK, và hàng ngàn công nhân Tàu lại xuất hiện. Những người Tàu từ các cơ sở sản xuất này lan tỏa khắp nơi để gieo rắc “hạt giống đỏ” cho cách mạng vô sản Trung Hoa, đỡ cho các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam và các công ty môi giới hôn nhân khỏi phải xuất con gái qua Tàu… Tôi có dịp trao đổi với các chị phụ trách hội phụ nữ ở mấy tỉnh Tây Nguyên, thì được biết, các chị đang rất lo ngại, chưa biết xử lý thế nào với nạn con gái Tây Nguyên có bầu với công nhân Tàu (!).

Chúng ta nhìn thấy một cảnh tượng đang đến gần: Đội quân thứ 5 của Trung Cộng đang ngày càng được mở rộng. Cần cảnh báo: Khi Trung Cộng mới sáp nhập Tân Cương vào Trung Quốc, dân Hán ở đây chỉ chiếm chừng 4-5%. Sau nửa thế kỷ, dân Hán đã lên tới 45%. Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó, chúng ta có thể rất cần đặt câu hỏi: “Bao giờ dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thiểu số trên chính đất nước mình?”.

Và rồi xoa dịu bằng mấy công trình văn hóa?

Gần đây chắc là Trung Nam Hải đã nhận ra sự phẫn nộ của dân chúng Việt Nam trước những hành vi xâm lược của họ, họ đã “kỷ niệm” cho dân Việt Nam mấy pha ngoạn mục: Trước hết là 30 triệu USD xây dựng ký túc xá cho Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh để đào tạo cán bộ cho Đảng. Tiếp đó là Cung Văn hóa hữu nghị Việt – Trung, chắc rồi đến Viện Khổng Tử,… và rồi không biết còn những thứ gì nữa.

*

Viết đến đây, tôi chợt nhớ cái thời lớp thanh niên chúng tôi say mê theo các nghệ sỹ ca ngợi,… những cánh hoa mộc miên bay tới đâu, tình hữu nghị của dân tộc Trung Hoa lan tỏa đến đó… Sao mà lãng mạn.

Ngẫu nhiên, tôi ngồi để hồi tưởng tâm tình lãng mạn theo những “Cánh hoa mộc miên” với Giáo sư Phạm Huy Tiến, một nhà địa chất, cũng có thời đi tu nghiệp “tiến tu Giáo sư” ở Học viện Địa chất Bắc Kinh (đối diện Học viện Khoáng nghiệp của tôi). Giáo sư Tiến cười rũ ngắt lời tôi: “Các bố nhầm hết rồi. Các nghệ sỹ cũng nhầm rồi. Cánh rừng mộc miên khi xưa nằm trên đất Việt Nam. Bọn địa chất chúng tôi lăn lộn ở đó quá nhiều. Cả đỉnh thác Bản Giốc nữa, cánh địa chất chúng tôi từng lên đó nấu cơm ăn… Nhưng rồi Trung Quốc lấn chiếm, nuốt toàn bộ cánh rừng mộc miên vào lòng Tổ quốc Trung Hoa”… Và thế là những cánh hoa mộc miên lại hồn nhiên bay “từ đất Trung Hoa”, lan tỏa tình hữu nghị “vạn cổ trường sinh” giữa hai dân tộc.

Ấy thế mà, trong khi tôi được nghe các bạn nghệ sỹ của chúng ta ca ngợi “Hoa mộc miên mọc đến đâu, lan tỏa tình thữu nghị của dân tộc Trung Hoa đến đó”, thì, trong một trang mạng nào đó, tôi lại nghe những người cộng sản Bắc Kinh lập luận: “Hoa mộc miên bay đến đâu gieo hạt đến đó; Cây mộc miên mọc ở đâu, đất trung Hoa ở đó. Việt Nam chỉ có cây tre, làm gì có cây hoa mộc miên!”.

*

Trung Hoa là một đất nước có một đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Như vậy có thể suy luận, mà không sợ sai lầm: Tất cả những sự kiện nêu trong bài viết này đều do các nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đưa đường chỉ lối.

Chính những người cộng sản Trung Hoa đã làm tan vỡ hoàn toàn tình cảm nồng ấm của những người thuộc thế hệ chúng tôi với một đất nước đã sinh ra Đức Tổ Vũ Hồn của dòng tộc của tôi, một đất nước, mà có thời tôi đã coi là Tổ quốc thứ hai của mình.

VCĐ




Thiều Vũ : Con tầu TRƯỜNG XUÂN

 
 
 
 
Tàu Tr°Ýng Xuân
 
 
Nhân ngày 30 tháng Tư đen
Xin mời quý Bạn đọc lại bài….
 
Con tầu TRƯỜNG XUÂN 
 
hay Một chứng tích Lich Sử 
Thiều Vũ



Nhan " THANG 4 DEN ", moi quy vi doc lai bai ve " con tau TRUONG XUAN " .

Tàu Tr°Ýng Xuân

 

                                                                                                            

Tháng 4 năm 1975-Saigon / “ Một con tàu ngơ ngác ra khơi ” (Nam Lộc) / Một thuyền trưởng tuyệt vọng / Gần 4 ngàn hành khách của định mệnh / Cuộc hành trình không bờ bến / Vỏn vẹn 3 ngày hải hành trôi nổi / Hai người tự tử thủy táng / Hai đứa trẻ ra đời / Con tàu kéo Song An, cứu tinh số 1 / Thương thuyền nhân đạo Ðan Mạch, cứu tinh số 2 / Sau cùng, tàu Trường Xuân không chìm được kéo về Hồng Kông với thi hài của người khách cuối cùng: Ðại tá Wong A Sáng, sư đoàn 5 bộ binh / Câu chuyện 34 năm trước được kể lại vào dịp ghi dấu 35 năm sau (1975-2010 ). / Và giới thiệu người con gái của biển Ðông: Chiêu Anh. (Shining Light).
* * *
Có con tầu nằm trên bến đỗ…
Ngày xưa tại Việt Nam gần như chỉ có 1 hãng thương thuyền hàng hải lớn nhất là Vishipcoline của chủ Tàu Tr°Ýng Xuânnhân Trần đình Trường. Hiện ông Trường là nhà tư bản có nhiều tài sản và hotel tại Nữu Ước.

Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy.

Một trong các thương thuyền của hãng là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông Lũy sinh quán tại Nam Ðịnh, ra đời năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh nghiệm hàng hải.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi, Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại sống với cộng sản. Ông tìm đường ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng được Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của Trường Xuân lần này phải là sinh mệnh của những con người. Ông cần có thủy thủ đoàn và ông cần cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là gian nan phức tạp vào cái tuần lễ cuối cùng của cái tháng 4 đen oan nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa 30/4/75.

Lúc đó thủy thủ đoàn gần 30 người nhưng ông chỉ có vỏn vẹn 5 người. Có lẽ ông cần chừng 300 hay 400 Tàu Tr°Ýng Xuânhành khách, nhưng chưa có người nào.

Con tàu Trường Xuân ngủ yên trên bến Saigon giữa đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975.

Saigon hấp hối
Tại Saigon mặt trận Long Khánh đã tan vỡ, tất cã 3 quân khu đều nằm trong tay giặc. Chỉ còn miền tây vẫn yên tĩnh. Sáu sư đoàn cộng quân 3 mặt tiến về Saigon. Các đơn vị pháo của Bắc quân đã chuẩn bị trận địa pháo vào thủ đô. Các tiền sát viên chỉ điểm cộng sản đã có mặt tại các vị trí quân sự.

Phi cơ trực thăng Hoa Kỳ đang bay di tản những phi vụ cuối cùng. Nội các mới của Việt Nam Cộng Hòa họp bàn về việc bỏ súng và bàn giao. Ðài phát thanh Saigon chuẩn bị đọc những lời tuyên bố đau thương của tổng thống Dương văn Minh gửi người anh em phía bên kia , xin mời vào nói chuyện. Thủ tướng Vũ văn Mẫu kêu gọi người anh em đồng minh Hoa Kỳ phía bên này, xin vui lòng ra đi.

Giữa mùa hè chói chang, radio của quân đội Hoa Kỳ chơi bài Tuyết Trắng, một ám hiệu kêu gọi ra đi lúc trái gió trở trời. Ðài quân đội Việt Nam Cộng Hòa hát nhạc quân hành trong tuyệt vọng.

Ðó là Saigon của đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975. Con tầu Trường Xuân bụng đầy sắt vụn vẫn nằm ngủ yên trên bến sông Khánh Hội. Lửa bắt đầu bốc cháy bên kho đạn Thành Tuy Hạ.

Cô gái thuyền nhân trong bụng mẹ
Cũng vào cái tuần lễ sau cùng của tháng 4 nghiệt ngã đó, có bà sản phụ vào nhà thương ngày 27/4/1975 để chuẩn bị sanh đứa con thứ hai.

Bà dược sĩ trẻ tuổi có mang 9 tháng 10 ngày. Ðứa bé sẽ ra đời bất cứ lúc nào. Bây giờ tính sao đây. Xin mổ để sanh sớm rồi chạy, hay là tìm đường chạy rồi muốn ra sao thì ra. Chợt có được giấy phép di tản bèn bỏ nhà thương vào tòa đại sứ Mỹ. Nhưng rồi máy bay không trở lại. Cộng sản vào đến cửa ngõ Saigon. Gia đình tìm đường xuống Khánh Hội. Tìm ghe chạy ra tàu Trường Xuân sáng 30 tháng 4-75. Bà bầu cùng gia đình, mẹ già, con trai nhỏ 2 tuổi leo giây lên Trường Xuân.

MC Clara Maersk (Denmark) Mother and children.

Gia đình bà dược sĩ Saigon, mới ra trường năm 1972 đã thành những người khách không mời của chuyến hải hành vô định trên tàu Trường Xuân, ra đi xế chiều 30 tháng 4-1975.
Ðứa bé gái
hoài thai từ Saigon tự do, nhưng gan lì nằm trong bụng mẹ hay sợ súng đạn nên không chịu chào đời. Cho đến khi Trường Xuân ra đến hải phận quốc tế. Ðứa bé mới chịu ra đời. Ðó là câu chuyện 34 năm trước viết lại cho ngày kỷ niệm 35 năm sau vào tháng năm 2010.

Trở lại với Trường Xuân
Vào chiều 30 tháng 4-1975, con tàu Trường Xuân sau khi đã thành lập xong 1 thủy thủ đoàn tình nguyện và có gần 4,000 hành khách ngẫu nhiên đã lên đường hết sức vất vả trong điều kiện kỹ thuật tồi tệ và bị phá hoại mọi bề.

Hành khách không vé của Trường Xuân gồm đủ tất cả hai ba thế hệ Việt Nam Cộng Hòa, mọi thành phần, mọi giai cấp, mọi hoàn cảnh. Ðủ cả ba ngành lập, hành và tư pháp. Có mặt sĩ nông công thương binh. Không hề thiếu nam phụ lão ấu. Các nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình diễn. Chuyến hải hành vào chân trời vô định với một ông thuyền trưởng nhân đạo và hết sức kiên định. Những tay phụ tá tình nguyện rất xuất sắc và sau cùng định mệnh đã đưa 3,628 con người đi tìm tự do đến được bến tự do.

Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã nói rằng Trường Xuân sẽ không thoát được nếu không có Song An. Song An là ai ? Ðây chỉ là tên con tàu kéo nhỏ bé đang trên đường từ Vũng Tàu về cảng Saigon. Anh già Trường Xuân đang mắc cạn bèn túm lấy đứa bé Song An đòi nó kéo. Vậy mà nó kéo được. Ra đến hải phận, cho đến lúc anh già Trường Xuân tự chạy được bác cháu mới chia tay. Lẽ dĩ nhiên câu chuyện hải hành của đêm dài 30 tháng 4-75 không giản dị như thế ! Với lửa cháy ngập trời Thành Tuy Hạ và tiếng súng đuổi theo trên sông Lòng Tào, đêm hôm đó là đêm dài nhất của cuộc đời Trường Xuân.

Khi anh già Trường Xuân từ giã cậu bé Song An trên đại dương, khách Trường Xuân góp tiền cho Song An trở về Saigon. Hai, ba bị tiền hàng chục triệu đồng Việt Nam đưa qua. Lái tàu Song An nói 1 câu kỳ diệu “ Thôi ! tiền nhiều quá, đủ rồi. Ðừng đưa nữa “.Trong đời chúng ta hiếm khi nào nghe được những lời nói đó.

Với tâm tình như vậy, tàu kéo Song An từ giã Trường Xuân. Tiếng còi tạm biệt trên trùng khơi nghe những nghẹn ngào.

Có vài hành khách bỏ Trường Xuân nhẩy theo Song An trở về Saigon. Trên 3,600 khách Trường Xuân ngó theo Song An nhỏ dần trên đường trở lại quê hương. Khóe miệng chợt thấy vị mặn. Ðây là nước biển sóng đánh bên thành tàu hay là nước mắt biệt ly.

Rồi con tàu Trường Xuân chạy 1 mình. Gần 4,000 hành khách. Không đủ nước, không có thức ăn. Máy móc trục trặc. Nước tràn vào khoang tàu. Sắt vụn vô tri dưới hầm tầu. Con người tuyệt vọng ở trên boong.

Hai người tự tử được thủy táng. Việt cộng phá hoại chỗ này. Máy tàu hư hỏng chỗ kia.

Con tàu vô định có thể sẽ là quan tài nổi. Một hỏa diệm sơn chưa nổ. Các tin tức bi quan được lệnh của thuyền trưởng phải dấu kín. Trường Xuân nín thở, ỳ ạch tiếp tục chạy. Chợt có tiếng kêu : “Có người rớt xuống biển.”

Ông thuyền trưởng Nam Ðịnh đứng im trên đài chỉ huy lặng người bất động. Nửa giờ trôi qua như 1 thế kỷ. Captain Phạm ngọc Lũy sau cùng ra lệnh quay tàu lại vớt người. Một quyết định vô vọng. Hành khách nói. Một quyết định sai lầm. Hành khách nói. Hy sinh 4,000 người để cứu 1 người là nhầm lẫn. Hành khách nói. Captain điên rồi.

Tại sao ? Thuyền trưởng sau này trả lời. Tìm vớt 1 người để cứu 4,000 người.

Như vậy có thể hiểu rằng con tàu Trường Xuân đang là một hỏa diệm sơn sẵn sàng phun lửa nổi loạn. Hành động bình tĩnh quay tầu lại tìm 1 người là bài học nhân đạo cho mọi người và giữ cho được sự bình an của toàn thể con tàu.

Có thể Thượng Ðế trên cao đã nhìn thấy chuyện vớt người giửa biển của Trường Xuân nên đã đem lại vị cứu tinh số hai. Ðó là con tàu Ðan Mạch. Tiếng Trường Xuân kêu cứu vọng trên đại dương. Tàu Ðan Mạch trên đường viễn du hỏi rằng thế đã kêu hạm đội Mỹ chưa? Trả lời : “Có số đâu mà kêu.” Ðan Mạch thở dài. “Thôi chờ đó, chúng tôi sẽ đến tiếp tế và rước chừng 1,500 đàn bà trẻ con.”

Ra đời giữa trời biển mênh mông
Trước đó vài giờ đồng hồ, sáng ngày 2/5/75, bà dược sĩ họ Bùi đau đẻ. Gần 4,000 con người phải chừa ra 1 chỗ trống cho sản phụ. Ðứa bé gái ra đời khoảng 2 giờ sáng. Con bé gốc Saigon Việt Nam, nằm trong bụng mẹ trên Trường Xuân, được kéo đi bởi Song An. Sanh ra giữa biển Ðông, Thái bình dương. Không sữa, không nước, không cơm, không cháo. Một người dúi vào tay sản phụ miếng cam thảo.

Bà nhai ra rồi lấy nước miếng bôi vào miệng con gái. Tiếng khóc chào đời vang trên biển rộng mênh mông. Một thanh niên nhấc bổng đứa bé đưa qua tàu Ðan Mạch. Bà mẹ nhìn theo bóng con vươn lên trời xanh, nước mắt một lần nữa lại như vị mặn của biển khơi.

Khai sanh của ch&aacut
e;u đề ngày 2/5/1975 trên tàu Ðan Mạch, tên cháu là Chiêu Anh.

Trường Xuân: Ôi, Trường Xuân !
Như vậy là tổng cộng ba ngàn sáu trăm hai mươi tám người đến bến tự do, bây giờ định cư ở bốn phương trời. Một thế hệ Trường Xuân ra đời và nối tiếp.

Thoạt tiên tất cả được đưa về tạm trú ở Hồng Kông. Nhà chức trách Hương Cảng hứa hẹn sẽ không trả về Việt Nam.

Trước khi rời con tàu, thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đi thanh sát một vòng. Hình ảnh cảm động sau cùng là một người đàn ông mệt mỏi cúi xuống cõng bà mẹ già tê liệt. Trên khoang tàu mênh mông hiện chỉ còn là bãi rác. Một người đàn ông ạch đụi cõng mẹ qua tàu Ðan Mạch, quả thực là hình ảnh hết sức ngậm ngùi. Ðó là ông thiếu tá nhẩy dù Phan Huy Hoàng, sau này đưa mẹ về định cư tại Texas.

Khi vị thuyền trưởng rời tàu Trường Xuân thì nước đã tràn vào khoang máy. Vẫn còn dưới hầm, thân xác 1 ông già sẽ thủy táng theo con tàu.

Nhưng sau này được biết, khi người lên hết tàu Ðan Mạch, Trường Xuân ngập nước nhưng không chìm. Hai tháng sau được kéo về Hồng Kông, đi theo hành khách của nó.

Con rể của ông già nằm trên Trường Xuân đã nhận xác cha. Di hài vị dân biểu gốc Nùng của Việt Nam Cộng Hòa: Ðại tá Wong A Sáng của sư đoàn 5 bộ binh, một thời đồn trú tại Sông Mao. Con người và con tàu, cả hai đều làm xong nhiệm vụ cuối cùng cho hai chữ tự do.

Một thế hệ tương lai
Bà dược sĩ trẻ tuổi họ Bùi bây giờ định cư tại Montreal, Canada và học lại nghề cũ từ 1977. Pharmacie BUI tại Gia nã Ðại có từ ngày đó.

Ðứa bé gái Chiêu Anh ra đời giữa Thái Bình Dương tháng 5-75, hai mươi tư năm sau vẽ 1 bức tranh họa cảnh tàu Trường Xuân nộp cho trường đại học ParkTàu Tr°Ýng Xuânson school of Design, New York. Cô được nhận vào học và tốt nghiệp danh dự với huy chương vàng về ngành sáng tạo y phục thời trang. Hiện Chiêu Anh còn độc thân và làm việc tại San Francisco Hoa Kỳ. Trong một bản văn tự thuật bằng Anh ngữ, Chiêu Anh kể chuyện mình như sau.

“Con là Trường Xuân Baby. Từ biển cả, con là một thuyền nhân sống sót. Khi Sài Gòn thất thủ, cha mẹ chạy xuống tầu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy. Trong cái đêm dài sâu thẳm, vào lúc 2 giờ sáng 2 tháng 5-75 con sanh ra đời. Ðó là giây phút của hãi hùng và hy vọng. Ðời con khởi sự vất vả. Mắt hài nhi không mở. Xương quai bị gẫy, vai bị cụp. Mẹ đói không có sữa cho con. Vị cam thảo ngọt bôi vào miệng sơ sinh vẫn còn ghi nhận cho đến ngày nay. Tầu Danish của thuyền trưởng Ðan Mạch Anton Martin Olsen đã cứu gia đình con và đưa vào nhà thương Anh Quốc tại Hồng Kông. Khai sanh của con với chứng chỉ công dân Denmark trên tầu MS Clara Maersk. Vì những giấy tờ này, tòa đại sứ Ðan Mạch lo cho cả gia đình định cư tại Canada trong 21 ngày. Con đã tiếp tục sống trong những ngày thơ ấu khó khăn vất vả như những gia đình tỵ nạn khác. Cùng với người anh hơn con 2 tuổi, chúng con cố sức học hành để xây dựng tương lai. Con xin được học bổng để theo ngành sáng tạo thời trang và tốt nghiệp 1998 với bằng danh dự tại đại học hàng đầu New York. Con bắt đầu làm việc cho các hãng thời trang nổi tiếng tại Paris, New York và San Francisco. Con đã có dịp đi đến tất cả các đô thị lớn nhỏ từ Âu châu, Á châu, Mỹ châu trong thế giới của ngành sáng tạo thời trang. Nhưng con luôn luôn nhớ rằng mãi mãi vẫn là một thuyền nhân sống sót, một Trường Xuân Baby.”

35 năm nhìn lại
Kể từ tháng 4-75 cho đến tháng 4-2010 chúng ta có 35 năm nhìn lại. Mỗi năm chúng tôi sẽ chọn 1 nhân vật hay 1 sự kiện để giới thiệu.

Trên sân khấu CPA của San Jose tháng 5-2010, người đầu tiên được giới thiệu sẽ là cô Chiêu Anh, Shining Light.

Cô sẽ hiện diện với thân mẫu từ Canada, với bác thuyền trưởng Phạm ngọc Lũy 91 tuổi, với hình ảnh của Trường Xuân, của Song An, và của con tàu Ðan Mạch.
Khởi đầu từ năm 75 trở đi, qua 76, 77 cho đến 2009 và 2010. Lịch sử giở lại từng trang. Bi thảm, hào hùng, tuyệt vọng và hy vọng. Nhưng mở đầu vẫn là chuyến hải hành ngắn ngủi nhưng hết sức đặc thù.

Chuyến đi của Trường Xuân
Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Saigon tháng 4 đen
Bốn ngàn người vượt biển, Bỏ đất nước điêu linh. Trên con tàu vô định

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. 35 năm nhìn lại
Xem ai còn ai mất, Lệ tuôn khắp dặm trường. Bốn phương trời thế giới

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Gần bốn ngàn người sống.
Với ba mạng tử vong. 2 đứa bé lọt lòng. Giữa mênh mông trời biển

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Một thế kỷ vừa qua…
Tương lai rồi sáng chói. Chuyện này cần kể lại…

Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Ngàn năm còn nhớ mãi…

Tàu Tr°Ýng Xuân

 




Trương Minh Hòa : VIỆT KIỀU VẪN LÀ VIỆT GIAN.

VIỆT KIỀU VẪN LÀ VIỆT GIAN.

– TRƯƠNG MINH HÒA ( tinparis.net) –

" Việt gian, Việt Cộng, Việt kiều.
Ba thứ cộng lại, tiêu điều nước Nam".

ới nhản quan của đảng Cộng khỉ, từ khi có mặt trên hành tinh nầy, tại bất cư nơi nào, những kẻ tự nhận là" con cháu loài vượn cổ" đều có cùng những đặc tính sau đây:

-Cùng nhau tôn thờ tên khoa bảng bất lương, gian manh học thức Karl Marx làm sư tổ: Karl Marx là kẻ thất thời, bị chính quê hương hắn trục xuất nên phải sống tha hương. Nhờ người bạn thân là Federick Engels, thuộc gia đình giàu có, mà Marx gọi là tư bản, nuôi dưỡng, đùm bọc trong thời gian sống ở Anh, nhưng lại" ăn cháo đát bát" lên án những nhà giàu là:" bọn tư bản phản động"; cho đến khi giả từ gác trọ, chôn tại nghĩa địa Hyde Park ở London (đám ma của hắn chỉ có 8 người, gồm gia đình và bạn thân Engels), điều nầy chứng tỏ là lúc đương thời, tư tưởng Cộng Sản của hắn không được ủng hộ từ quần chúng, nhất là cái gọi là:" giai cấp vô sản chuyên chính" gồm thành phần mà hắn coi là" đỉnh cao trí tuệ loài người, giai cấp tiên tiến", được hắn ban cho cái sứ mệnh" cướp chính quyền" và thành lập nên cái gọi là" chính quyền vô sản chuyên chính" với một cơ cấu điều hành quốc gia, toàn là" dốt, ít học mà làm lớn". Karl Marx nhìn thấy người giàu mà căm thù, thay vì làm ăn, để cho cuộc sống khá hơn, lại" trút căm thù thành sách vở" để dạy những kẻ bất lương vừa cướp của, giết người và vừa lên lớp dạy đời qua cái gọi là" cách mạng vô sản chuyên chính".

-Tất cả cùng lấy màu máu tươi làm cờ và sao vàng, búa liềm làm biểu tượng: cũng giống như cướp biển, ở bất cứ vùng biển nào, cũng hay lấy lá cờ màu đen với sọ cà xương tréo màu trắng làm biểu tượng. Tại các nước bị Cộng khỉ cai trị, dân chúng đói khổ, nhưng lại là nơi giàu có cờ đỏ, bích chương, tuyên truyển khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn.

-Tôn thờ những khỉ đầu đàn của từng đảng Cộng khỉ: Nga có Lenin, Stalin, Trung Cộng có Mao Trạch Đông, Cu Ba có Fildel Castro, Bắc Hàn có Kim Nhật Thành….

-Không bao giờ công nhận lịch sử của các sắc dân nằm trong vòng" khỉ trị", nên lịch sử của" loài người thật sự" đã bị đảng Cộng khỉ tìm cách xuyên tạc, bóp méo và tiêu hủy dần theo thời gian, sau đó thay bằng thứ" khỉ sử" với những" anh hùng khỉ", nhất là lãnh tụ khỉ, là" chủ nghĩa anh hùng khủng bố" của loài khỉ" tiếm danh" thành con người. Cho nên sau thời gian cai trị, những danh nhân, anh hùng dân tộc bị thay thế bằng tên xa lạ của những con khỉ, có thành tích" cướp, vét, giết sạch"; như tại Việt Nam có đường Lê Duẫn, Trường Chinh, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong…. đương nhiên là con khỉ đức đầu đàn Hồ Chí Minh được thay tên cho thủ đô Saigon ở miền nam sau ngày:" đảng Cộng khỉ chiến thắng nhờ thời cơ, ngày 30 tháng 4 năm 1975".

– Toàn thể dân chúng, từ nông dân, công nhân, trí thức… đều bị Khỉ dùng bạo lực cai trị đều bị biến thành nô lệ: vì nguồn gốc là khỉ, nên không bao giờ thương con người, nên đảng Cộng khỉ" bắt người làm lao nô, bắt phụ nữ bán cho các động mãi dâm", khi nhìn về nước Việt Nam, thật đau lòng:

Do đó hai chữ VIỆT GIAN có" quá trình lâu dài" kể từ khi có đảng Cộng khỉ xuất hiện tại nước Việt Nam. Đối với đảng Cộng khỉ Việt Nam, thì tất cả những ai, không chấp nhận tà thuyết dạy cướp của giết người, bắt dân làm nô lệ…. đều là Việt gian. Cái mũ Việt gian qui chụp vào các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Hòa Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa, Tin Lành….từ cái mũ Việt gian, đảng viên Cộng khỉ tha hồ mà ra tay ám sát, thủ tiêu trong thời kỳ tranh tối tranh sáng 1945 đến 1954, nên khắp nơi, cảnh người bị giết với những hành vi dã man như: chặt đầu, mổ bụng, moi gan, xỏ xâu từng chùm, trôi sông, trên đồng...mà nhà thơ Quang Dũng than thở trong bài" Đôi Mắt Người Sơn Tây", cái cảnh giết người nầy đâu phải do thực dân Pháp hay các đảng phái quốc gia, mà do những thành viên đảng Cộng khỉ, hầu hết là" đầu trộm đuôi cướp, dốt nát, hung bạo" vâng lịnh tên lãnh đạo đảng khỉ là Hồ Chí Minh, thi hành để được phong chức, quân hàm:

Thời kỳ gọi là" kháng chiến đánh Tây giành độc lập" che đậy mưu đồ" dùng máu xương của người Việt Nam để phục vụ quyền lợi của khối Cộng khỉ quốc tế", từ bắc chí nam, đâu đâu cũng có cảnh giết người, thù tiêu.... đảng Cộng khỉ lợi dụng chiêu bài yêu nước để giết những người quốc gia, dân thường, chúng thành lập ra cả những đơn vị ám sát mà tại miền Trung; thời đó có gã Bùi Tín từng làm đại đội trưởng, y phục luôn" nhuộm máu tươi" của nạn nhân, trong đó có gia đình ông Võ Tự Đản, ở Hoa Kỳ, tố cáo gã họ Bùi đã sát hại nhiều thành viên trong gia đình ông; thế mà sau khi gã đại tá quân hại nhân dân đóng vai" ông Tám Khỏe hải ngoại", miệng thì" tuyên bố ly khai với Việt Cộng", nhưng vẫn" Khỉ chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm" và chạy tội cho đảng cướp Cộng khỉ vụ thảm sát hơn 4 ngàn người dân trong trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968..
    
Tại miền Nam, thời Việt Minh, có cái gọi là Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, do những tên" Cộng khỉ" như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Bửu Vinh….tàn sát hàng chục ngàn trí thức, dân thường….trong cái tư tưởng của đảng Cộng khỉ, trước sau như một:" thà giết lầm hơn tha lầm". Nạn nhân bị giết bằng những thủ đoạn man rợ, bị dán bản án là Việt Gian, thế là dân chúng không hiểu, nên tin tưởng lầm là như thế, nên nạn nhân bị giết mà bị mang tiếng Việt gian, không ai giải độc cho oan hồn; thời gian đi qua, khỏa lấp bao tội ác tày trời của đảng Cộng khỉ. Trong quyển sách có tựa là" Nhất Phá Sơn Lâm, Nhì Đâm Hà Bá" của tác giả Võ Phước Hiếu, có kể câu chuyện của một thanh thiếu niên tên Ba La, mẹ Việt, cha Ấn Độ, có người bạn thân là thằng Tám, ở miệt Chợ Lớn….trong thời kỳ Việt Minh ( bên trong là Cộng Sản), chúng đã bắt lầm thằng Ba La, do cơ sở địa phương báo cáo, nên cậu Ba La bị bắt, đưa ra tòa án nhân dân và bị kết án cái tội" làm Việt gian" cho Tây, bị hành quyết tại sân đá banh, bên hông cầu Rờ Nô Bình Tiên…Việt Cộng trá hình tổ chức Việt Minh phát động phong trào khủng bố, nên nhiều vụ giết người oan ức, lại bị gán cho hai chữ Việt Gian, nhan nhản thời" mùa thu rồi, ngày hai mươi ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến"; theo sách của Võ Phước Hiếu ghi:" Phong trào bắt Việt gian làm nhiều người oan ức….." như vụ bắt cụ Bùi Quang Chiêu ở chùa Giác Hải, Phú Lâm, ông là lãnh tụ đảng Lập Hiến, thuộc giới điền chủ và tư sản tại Nam bộ…
   
Sau hiệp định Genève, cũng do đảng Cộng khỉ Việt Nam cấu kết với hai quan thầy khỉ là Liên Sô, Trung Cộng, cùng với thực dân Pháp chia đôi nước Việt Nam. Những tên khủng khủng bố được cài lại và sau nầy có đám" quân hại nhân dân" xâm nhập qua đường mòn mang tên khỉ chúa Hồ Chí Minh, tiếp tục tàn sát loài người ở miền Nam. Nên tại các vùng nông thôn, nhiều người bị giết, cũng dã man như thời 1945-1954, nạn nhân gồm: những viên chức Việt Nam  Cộng Hòa, không đóng thuế nông nghiệp ( thứ tiền vô lý do đảng Cộng khỉ tự bày ra đề bắt nạn nhân đóng), những người không theo và chấp nhận đảng Cộng khỉ, bị thù oán cá nhân bởi những tên nông dân dốt, bò cày theo đảng cướp Cộng khỉ….nạn nhân bị chặt đầu bằng mã tấu và trên ngực có tấm giấy các-tông, với những dòng chữ" như cua bò trên bãi sình" là: phản động, Việt gian….

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu người bỏ nước ra đi tìm tự do, cũng bị chụp mũ là Việt gian, phản động, nên tên" tưởng thú" tức là" thủ tướng khỉ" Phạm Văn Đồng chửi bới:" bọn đĩ điếm du côn". Nhưng sau nầy, khi nhìn thấy túi tiền " Việt gian" quá lớn, gởi về hàng năm từ vài trăm triệu nay tăng lên nhiều tỷ Mỹ Kim, tìm năng chất xám hơn 300 ngàn…nên đảng Cộng khỉ Việt Nam" uống lưỡi nhiều lần" đổi giọng:" khúc ruột nghìn dậm nối liền" nhưng thật ra, nếu người Việt hải ngoại nghèo mạt, thì vẫn là bọn đĩ điếm du côn, phản động, Việt gian…

Sau khi Liên Sô và toàn khối Cộng đảng Đông Âu sụp đổ, đảng Cộng khỉ Việt Nam phải đổi màu nhưng không đổi ruột, để tạm tồn tại, kéo dài chế độ khỉ trị, qua công thức kinh tế:" người không ra người, ngợm không ra ngợm" là:" lấy kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Dùng tiền, kỷ thuật, uy tín, thị trường của các nước mà đảng Cộng khỉ luôn cho là" bọn đế quốc tư bản phản động" để làm giàu cho đảng viên Cộng khỉ, cứu nguy kinh tế….nhưng bên trong vẫn một lòng:" nhất định đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Marx Lenin" thỉnh thoảng hâm nóng bằng những đợt" học tập lại tư tưởng của con khỉ chúa Hồ Ch&iacu
te; Minh". Tức là đảng Cộng khỉ Việt Nam, dù ăn" bơ thừa sữa cặn", túi tiền phình ra, giàu sang nứt:" nón cối" nhưng luôn thù" bọn tư bản phản động" và tìm cách đâm sau lưng, như lúc cuộc chiến A phú Hãn, Iraq, thì đảng Cộng khỉ lên giọng đạo đức là sợ dân chúng bị chết mà chống Mỹ và các nước đồng minh. Đảng Cộng khỉ Việt Nam lại rất là" hồ hởi phấn khởi" sau khi nhìn thấy cảnh Trung tâm thương mại ở New York, Ngũ Giác Đài bị Al Qaeda tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001, nhiều tên ăn mừng cùng với Osama Bin Laden và sau nầy ở hải ngoại, có một số tay sai viết bài cho mà Mỹ bị đánh là đáng kiếp….hùa theo cũng có thiền sư Thích Nhất Hạnh sang Mỹ vào tháng 10 năm 2001, phét pháp và bỏ 45 ngàn Mỹ Kim để đăng trên tờ New York Times, giọng đạo đức giả, luôn tiện phét là: My dội bom ở A phú Hãn, giống như Mỹ từng dội bom xuống 300,000 căn nhà dân ở Bến Tre, mà bên dưới chỉ có vài du kích…
   
Người Việt sinh sống ở hải ngoại, chắc chắn không chấp nhận chế độ Cộng khỉ, đa số là công dân của các nước dân chủ. Do đó, để thu gom túi tiền, nhân tài, đảng Cộng khỉ chiêu dụ bằng những biện pháp: miễn visa, song tịch…và gọi là Việt kiều, tức là ý đồ của đảng Cộng khỉ là: coi tất cả những người Việt đang sinh sống hơn 100 quốc gia trên thế giới, đều là" công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam" ( TÀN ÁC-GIAN THAM-LỪA BỊP). Tuy nhiên, chỉ có những người nào trở về, có ghi " sơ yếu lý lịch" trong hồ sơ, là có thể bị lùa vào thành phần dân do đảng Cộng khỉ cai trị, đây là sách lược" giành dân, lấn hải ngoại" mà đảng Cộng khỉ luôn đặt trọng tâm để thu thêm tiền. Những ai gọi là  Việt kiều, tức là theo quan điểm của Cộng khỉ: dân của đảng Cộng khỉ, sống ở nước ngoài. Nhưng, ai không về, tức là đảng không kiểm soát, nắm vững sơ yếu lý lịch đều là" bọn phản động nước ngoài".
   
Những kẻ được" nâng cấp" Việt kiều một cách" không người lái" và " tự biên tự diễn" do đảng Cộng khỉ cũng đừng vội mừng, ngoài miệng là Việt kiều" thân thương", nếu có tiền và mạt rệp thì là" Việt kiều phản động, Việt gian". Trong khi đó, đảng Cộng khỉ vẫn coi những người từng bỏ nước ra đi là " phản động" nên đảng âm thầm tuyên truyền trong dân chúng, nên ngày nay, nhiều người tại Việt Nam gọi Việt kiều là Việt Gian. Đó là sự thật mà những ai trở về nên lưu ý, vì đảng Cộng khỉ vẫn trước sau như một:

Việt kiều tam du:" du lịch, du hý, du dâm", gián điệp, đón gió, nghệ sĩ thành văn công, nhà văn nhà thơ thành " văn nô, thi nô" khi trở về xin in sách….chính là những kẻ phản bội đê hèn, đáng được gọi là Việt gian. Nhưng cái thứ " sớm đầu tối đánh" tức là:" trước là tỵ nạn, sau bầu bạn Cộng khỉ" dù ở nước Âu Mỹ, cũng được Cộng khỉ lưu ý kỷ…nên cả hai phía Quốc-Cộng đều không ai ưa, đó là Việt gian chánh hiệu" hai hàng" và đương nhiên là họ không được cả hai phía tin cậy, chỉ là loại" giẻ rách đỡ đầu móng tay" đối với đảng Cộng khỉ, đến khi hết tiền, bị vắt chanh bỏ.

 Như thế, trong thời gian qua, đã có một số Việt kiều về ở luôn, một thời gian sau, bị đảng Cộng khỉ tới đòi tiền dài dài và cuối cùng đành phải áp dụng câu:" khi Việt kiều tháo chạy", tiền hao quá nhiều mà" hưởng chùm khế ngọt chẳng bao nhiêu". 

Đó là bài học về đảng Cộng khỉ mà trong hàng ngũ tỵ nạn, nạn nhân Cộng Sản, vẫn có một số người chưa hiểu hay không muốn hiểu, nên trở thành nạn nhân lần nữa; nhưng lần nầy thì tiền mất mà danh cũng bay" hùm chết để da, người ta chết để tiếng", nên cái danh hiệu VIỆT GIAN vẫn được cả Việt Cộng lẫn người Việt Nam gọi để chỉ hạng người" sáng lánh nạn, chiều bắt mánh với đảng cướp Cộng khỉ"./.

Trương Minh Hòa
20.06.2010




Tony Nguyên :Duy Quang và sóng gió cuộc đời

Duy Quang và sóng gió cuộc đời

 

Ít ai biết đằng sau giọng ca “bạch diện thư sinh” thống lĩnh sân khấu âm nhạc trong nước và hải ngoại mấy chục năm qua lại là một người đàn ông long đong trong tình cảm, từ những cuộc tình đến hôn nhân chính thức.

Người đàn ông ngoài lục thập ấy từng trải qua vài mối tình, chung sống như vợ chồng với ca sĩ Julie Quang nhưng không hôn thú. Rồi anh chính thức kết hôn với người đẹp Mỹ Hà, hoa khôi người Việt tại Washington  DC (Mỹ). Cuộc sống hạnh phúc với vợ đẹp, con khôn không kéo dài khi vợ anh sa đà bài bạc, gia đình cũng vì đó mà tan đàn xẻ nghé.

Giọng hát thời trẻ của tôi nướng hết vào cuộc chơi của vợ

 

http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/7/files/2010/07/Duy-Quang-va-song-gio-cuoc-doi_Tin180.com_001.jpg

– Anh nổi tiếng với một giọng ca được mệnh danh là “thư sinh hát, hát rất thư sinh”. Bao nhiêu năm qua, anh có còn tự tin để nói mình vẫn thư sinh dù tuổi đã…xế chiều?

Tôi nghĩ, trời ban cho người nào một chất giọng nào đó sẽ tồn tại với thời gian, trừ khi họ trác táng quá. Giọng nói trầm hơn nhưng với tôi, may mắn là vẫn giữ được những nốt cao như ngày xưa để có thể rung cảm một cách trẻ trung, trong sáng với âm nhạc.Những cảm xúc âm nhạc cũng như tình yêu, mình giữ được như lửa vì nó vẫn cháy. Nếu anh cảm thấy chán chường, thất vọng, thì đừng nói giọng hát mà cả cảm xúc của mình cũng thay đổi.

– Khi nghe anh hát cùng một ca khúc ở hai thời điểm cách xa nhau, tôi thấy hình ảnh người đàn ông trong anh cứ mỏi mệt dần. Vì sao vậy?

Có thể những thời điểm đó tôi phải làm việc nhiều, bận nhiều thứ và có nhiều xung đột tâm l‎ý không tốt. Nhưng tôi sống rất lạc quan, lúc khó khăn nhất tôi cũng tự tìm ra niềm vui cho mình, chẳng có gì khổ tâm.

– Nhiều người thắc mắc tại sao một nam ca sĩ đang rất thịnh ở hải ngoại như anh bỗng dưng quyết định hồi hương một mình, không vợ, không con?

Q uyết định về Việt Nam với tôi cũng không khó khăn vì thực ra từ lúc ra đi, lòng tôi đã nghĩ đến một ngày về. Với người có tâm hồn nghệ sĩ, lại thường xuyên hát những giai điệu buồn bằng tiếng mẹ đẻ, cuộc sống tha hương luôn có khoảng trống về mặt tinh thần khó bù lấp. Mãi đến năm 2004, tôi mới được thực hiện ước nguyện. May mắn là khi tôi về, con tôi cũng lớn, đứa 18, đứa 11 tuổi. Tôi nhờ cô em út là Thái Hạnh chăm sóc các con giúp.

– Thế chị Mỹ Hà, mẹ của các con đâu, mà anh phải gửi con cho em gái?

Mẹ các cháu hư lắm, tôi không muốn nhắc tới. Vợ tôi mê đánh bài, tôi tiếc cho cô ấy. Cô ấy có những điều tốt đẹp nhất mà không biết giữ. Danh tiếng của chồng, những đứa con ngoan, hạnh phúc gia đình…cuối cùng cũng không lớn bằng niềm đam mê cờ bạc.

Nếu cô ấy không vướng vào con đường đấy, giờ tôi là triệu phú Mỹ rồi đó. Bao nhiêu tiền đều nướng hết. Nó giống như cái túi không đáy, bỏ vào bao nhiêu tiền lại rớt xuống bấy nhiêu. Mười năm trời, tôi đã bán 3 căn nhà, cắn giá thấp nhấp 400 ngàn USD và cao nhất gần 1 triệu USD.

 

http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/7/files/2010/07/Duy-Quang-va-song-gio-cuoc-doi_Tin180.com_002.jpg

– Anh không có cách nào khuyên giải được vợ cũ sao?

Cô ấy giỏi lắm, ai gặp cũng đều bị cô ấy thuyết phục. Tất cả bạn bè tôi cũng như các công ty làm ăn với tôi đều bị cô ấy mượn tiền. Nặng nề lắm! Lấy tiền tôi đi cũng không trầm trọng bằng việc cô ấy làm ảnh hưởng đến danh tiếng của tôi. Tôi từng bị mất rất nhiều bạn bè, họ trách tôi, cứ nghĩ là tôi đồng lõa nhưng giờ họ hiểu tôi hơn.

Trong 10 năm, nhiều lần cô ấy hứa hẹn làm lại nhưng vẫn chứng nào tật ấy. Có lúc vài tháng hoặc nửa năm cô ấy chịu “làm lại”, tôi ngủ ngon hơn một chút. Nhưng đến lúc tôi phát hiện ra, mọi việc trầm trọng lắm rồi. Nghe thì cay đắng nhưng tôi nói thật, niềm tin xin đừng đặt quá nhiều vào một số mối quan hệ thân. Người dưng khó hại mình nhưng người thân thiết, họ biết quá nhiều điểm yếu của mình nên dễ đẩy mình vào con đường cơ cực. Khi về đây, tôi lại tiếp tục “dính chưởng”. Có thể do cái dở của tôi là tin người quá.

Trải qua bao mệt mỏi như vậy, tình yêu cũng tổn thương và rồi mất dần, mất dần…Ma lực của cờ bạc thật kinh khủng, nó lấy đi của con người tất cả: thời gian, tình yêu và cả hạnh phúc nữa. Giọng hát thời tuổi trẻ sung sức của tôi gần như nướng hết vào cuộc chơi của vợ.

– Các con anh phản ứng thế nào với một người mẹ như vậy?

Khi đó mấy đứa còn nhỏ, có nói chúng cũng chẳng hiểu. Sau này lớn lên, các con biết chuyện đều giận lắm, nên chẳng thiết tha đến mẹ nữa. Sống trong cảnh nay bán nhà, mai bán nhà, quả là địa ngục với các con, dù tôi cũng không muốn để con bị ảnh hưởng chuyện đó.

– Anh có biết vợ cũ của mình hiện giờ ra sao không?

Cô ấy ra đi không giữ liên lạc. Mỗi khi muốn biết tin tức về cô ấy, tôi phải hỏi thăm người quen, được biết là cuộc sống của cô ấy cũng khá tội nghiệp. Cũng dễ hiểu là một người phụ nữ không tiền, không công ăn việc làm, không còn tuổi trẻ, thì không thể tránh khỏi vất vả.

– Nếu một ngày nào đó gặp lại cô ấy, anh sẽ phản ứng thế nào, oán trách hay thương cảm?

Oán trách ư? Không đâu, bởi cô ấy đã cho tôi 2 đứa con ngoan, xinh đẹp. Dù vợ cờ bạc và tôi sống mất thăng bằng suốt gần 10 năm, nhà cửa mất sạch, để rồi chịu không nổi đành chia tay nhau nhưng dẫu sao bây giờ, mọi chuyện cũng đã thành quá khứ, oán trách nhau làm gì nữa.

Nếu nhìn cô ấy khổ sở, chắc tôi đau lòng lắm. Dù gì cũng là người từng 17 năm đầu ấp tay gối và là mẹ của các con tôi. Tôi nguyện cầu cho cô ấy những gì tốt đẹp nhất và nguyện cầu cho tôi đừng phải nhìn thấy cô ấy với một số phận không may mắn.

– Có phải chuyện buồn về cuộc sống riêng đã khiến anh quyết định trở về Việt Nam ?

Sự tan vỡ gia đình chỉ là một động cơ nhỏ thôi. Tôi bắt đầu lại ở quê hương bằng những bài hát, những kỷ niệm đẹp. Áp lực kiếm tiền cũng không nhiều vì thực ra tôi cũng dành dụm được một ít, phần gửi nhà băng bên đó để lo cho các con ăn học, phần mang về Việt Nam đầu tư. Số tiền hàng tháng cũng đủ cho một cuộc sống dễ chịu.

Tôi và Yến Xuân ngộ nhận về nhau để rồi làm thất vọng lẫn nhau.

 

http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/7/files/2010/07/Duy-Quang-va-song-gio-cuoc-doi_Tin180.com_003.jpg

Duy Quang và Yến Xuân

– Sau bao sóng gió với người vợ cũ Mỹ Hà, anh gặp Yến Xuân. Cô ấy đã làm anh say ngợp trở lại với tình yêu?

Đúng vậy. Tôi gặp Yến Xuân khi đã ly dị người vợ cũ 7 năm. Tôi đã hy vọng Xuân là một người bạn, một người yêu và là một người vợ tốt bởi người bạn thì hiểu nhau hơn, người yêu sẽ thương nhau hơn và người vợ thì lo lắng cho gia đình hơn. Nhưng những gì tôi chờ đợi đều không được. Yến Xuân không đủ sức lo cho mọi thứ chu toàn. Đúng hơn là hai người ngộ nhận về nhau để rồi làm thất vọng lẫn nhau.

– Yến Xuân thất vọng về anh điều gì, có phải như lời đồn đại rằng, một người nổi tiếng như Duy Quang lại không có nhiều tiền?

Cũng đừng nói thế tội nghiệp cô ấy. Dĩ nhiên có những chuyện chỉ người trong cuộc mới hiểu, nói ra chẳng hay ho gì. Ăn thua là cảm xúc đã mất đi thì không thể nào ở với nhau được. Cả hai chúng tôi đã cùng giết chết cảm xúc đó. Những khó khăn của đời sống đã làm tôi chai lì mặc dù tôi chưa bao giờ lớn tiếng hay gay gắt với cô ấy.

Suy nghĩ khác nhau từ từ tạo ra khoảng cách, dẫn đến tình trạng hai người đồng sàng dị mộng, không còn thiết tha gì với nhau nên nếu tiếp tục ở với nhau thì khổ thôi. Tuyệt đối trong trường hợp này không hề có một người đàn bà hay một người đàn ông nào chen vào. Có thể lỗi cũng thuộc về tôi nữa, tôi không đủ sức làm cho mọi thứ tốt hơn.

– Vậy nếu đủ sức, sẽ là như thế nào?

Nếu tôi có nhiều tiền hơn và quan tâm đến vợ nhiều hơn, đại khái thế. Nếu tôi đừng có những gánh nặng gia đình, mọi thứ sẽ đỡ hơn. Chuyện xảy đến tôi đâu có muốn và có lẽ cô ấy cũng không muốn. Cô ấy cũng thấy chia tay là điều hay, tốt cho cả hai.Chia tay rồi, chúng tôi vẫn nói chuyện bình thường. Những gì làm được cho cô ấy cả trong công việc lần trong cuộc sống, tôi đã làm. Tôi biết khi chưa có tôi, Yến Xuân rất khác và tôi từng mong có tôi thì cô ấy sẽ hát khá hơn.

Gần 2 năm chung sống với nhau, cô ấy tiến bộ hẳn về kỹ thuật và cách thể hiện. Đến lúc tôi đưa Yến Xuân qua Mỹ hát, nhiều người còn hỏi cô này là ai sao mà hát hay thế. Cô ấy hát hay ở những bài hát êm đềm, đừng xưa quá, nhạc của những năm 80 hoặc nhạc jazz.

– Anh có tiếp tục dõi theo từng bước nghề nghiệp của cô ấy không? Anh có nghĩ một ngày nào đó hai người sẽ quay lại với nhau?

Tôi để ‎ý nhưng không góp ý vì bây giờ mà xen vào nữa rất khó nói. Tình cờ, có lần tôi đến một phòng trà mới. Nghe Yến Xuân hát, tôi thấy cô ấy tiến bộ hẳn, thậm chí hơn cả thời có tôi. Cô ấy không biết tôi ngồi bên dưới đâu. Tôi và Yến Xuân không chờ đợi nhau quay trở lại.

Kiếp đam mê và đường tình không hoa hồng

http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/7/files/2010/07/Duy-Quang-va-song-gio-cuoc-doi_Tin180.com_004.jpg

– Dường như ca khúc "Kiếp đam mê" do anh viết như đóng đinh vào số phận của anh sau bao sóng gió tình cảm. Bài hát này anh viết cho cô gái nào vậy?

Tôi viết cho một người tình ở Mỹ, một cô gái rất đẹp. Lúc đó tôi chưa gặp Mỹ Hà (người vợ đầu). Sau khi gặp Mỹ Hà, tôi chia tay với cô gái này. Cùng với bài này, tôi viết một bài nữa như tặng cho người vợ nhưng thực ra là tặng cho mối tình thầm lặng này. Bài đó có tên là Vì yêu em.

– Chứ không phải là ca sĩ Julie? Được biết cô ấy cũng là vợ anh và hai người có với nhau một người con. Sao không nghe anh nhắc đến cô ấy?

Julie là mối tình đầu của tôi và là người khiến tôi lựa chọn âm nhạc. Chúng tôi sống với nhau không có hôn thú một thời gian thì chia tay. Nguyên nhân tan vỡ thì thôi, để tôi giữ riêng cho mình. Giờ cuộc sống của cô ấy cũng thầm lặng lắm. Đi thêm vài bước, và giờ cũng cô đơn như tôi lúc này.

– Anh đa tình quá!

Đúng là tôi đa tình nhưng lại rất chung tình. Khi yêu người nào, tôi chỉ biết đến người đó thôi. Hai năm sau khi chia tay Julie, tôi mới đến với cuộc tình mới.

– Sau những đổ vỡ, anh có muốn tiếp tục đến với hôn nhân?

Một người nghệ sĩ mà không yêu chắc sẽ chết, nhưng nếu kết hôn thì tôi không nghĩ tới nữa. Ở vậy còn hơn lấy phải những người đồng sàng dị mộng. Cuộc chia tay của tôi và Yến Xuân cũng còn quá mới nên tôi chưa sẵn sàng cho một tình yêu.

Có những lúc tôi tự hỏi sao định mệnh luôn đẩy tôi vào những cảnh ngộ không bình thường như vậy. Tôi thấy nhiều người không nổi tiếng, ít tiền, nhưng lại có cuộc đời rất bình dị. Hay là trời cho tôi nhiều thứ mà cũng lấy lại của tôi nhiều thứ đến thế.

Tôi đã cố gắng nhiều để thay đổi số phận, cố gắng mở lòng ra hơn, dễ dãi hơn với mình và với người nhưng không được. Nhiều người khó khăn, nỗi buồn không xâm chiếm được, còn tôi muốn mở lòng để yêu thương người hơn nhưng rồi cuối cùng tôi lại là kẻ mất nhiều thời gian.

Tony Nguyen