Tiếng kêu cứu của núi rừng (LM Vĩnh Sang)

Tiếng kêu cứu của núi rừng
VietCatholic News (15 Mar 2009 11:16)
Báo Saigon Tiếp Thị số 22 ra ngày thứ Sáu 6/3/2009, nơi trang 36 có đăng bài “ Chuẩn bị khời công nhà máy luyện Oxid nhôm” của tác giả Bảo Ngọc. Bài báo được nhấn mạnh ( in chữ to ) bởi một đoạn như sau:

Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ ( thuộc tập đoàn than khoáng sản Việt Nam TKV ) đã hoàn tất việc san ủi mặt bằng chuẩn bị khởi công nhà máy luyện oxid nhôm tại xã Nhân Cơ ( huyện Dak Rlap ), Với diện tích 200 hecta, các hạng mục phụ trợ khác như đường vào nhà máy, khu nhà điều hành, … cũng đã hoàn thành.

Với thông tin này, bài báo cho thấy người ta chính thức khẳng định quyết tâm thực hiện dự án khai thác quặng boxit vùng tây nguyên, bất chấp dư luận và bất chấp phản biện xã hội, cho dù các phản biện đó có căn cứ khoa học và văn hóa. Khai thác quặng boxit tại tây nguyên, người ta cố tình thực hiện một cuộc tàn phá hủy diệt môi trường sống của muôn loài, trong đó có loài người, có một chủng tộc con người mang tên Việt Nam.

Không thể biện minh bằng lợi nhuận kinh tế, bởi các nhà kinh tế và khoa học đã chỉ ra rằng không có lợi nhuận cho quốc gia về phương diện kinh tế, ngược lại còn làm thiệt hại kinh tế do lượng điện, lượng nước tiêu thụ quá lớn nhưng giá thành của thành phẩm trên thế giới quá rẻ.

Theo dõi các phản biện được công khai phát biểu, chúng ta không hiểu nổi tại sao người ta lại quyết định như thế nếu người ta còn lương tri.

Không thể tin được qui trình được vạch ra trên giấy mà có thể áp dụng trong thực tế. Người ta biện minh bằng qui trình rằng, làm vệ sinh mặt bằng ( khai thác gỗ ), bóc lớp đất mặt để qua một bên, khai thác lớp quặng bên dưới, sau đó lấp lại lớp đất mặt, bón thêm phân để phục hồi đất và tái trồng cây phủ xanh mặt bằng. Tin được không ? Con nít cũng không tin được. Họ làm như họ đào một khoảng đất vài mét và làm hoàn chỉnh ngay trong ngày, mà ngay cả làm trong một phạm vi nhỏ bé như vậy, họ có bao giờ làm đàng hoàng đâu, cứ xem ba cái lô cốt trong thành phố này, hết ngày này qua ngày khác, rào lại để hạn chế đường giao thông, vắng tanh không một người thợ làm việc, cứ vậy năm này qua tháng khác ( báo Tuổi trẻ số ra ngày thứ hai 9/3/2009 thông tin nơi trang 3: có 194 lô cốt trên 72 tuyến đường ). Mà nếu có cái nào làm xong, thi hãy chạy một vòng để xem cách họ tái tạo mặt bằng, nham nhở như gương mặt nham nhở của những kẻ vô lương tri. Tội nghiệp ! báo ra ngày hôm nay ( báo Phụ Nữ thứ ba 10/3/2009 ) đăng tin về một người con gái, tuổi em còn rất trẻ ( 22 tuổi ), em đã trượt ngã xe vì mặt đường tái tạo không hoàn chỉnh, chiếc xe sau chồm tới cán chết em tại chỗ, đau xót làm sao ! Biết tin này, nhưng kẻ có trách nhiệm có thấy một chút gì ân hận không? Tôi nghĩ là không, vì nếu có thì đã bao nhiêu cái chết thương tâm trước đó do cách làm cẩu thả phải làm cho họ thay đổi cách làm việc đi chứ, dâu cứ mãi như vậy.

Họ rẻ rúng mạng con người quá, họ chỉ biết lợi nhuận dành cho họ, họ bất chấp hậu quả tai hại như thế nào để lại cho người khác gánh chịu. Tôi không tin và tôi chắc rằng rất nhiều người không tin vào lời cam kết theo qui tŕnh để tái tạo mặt bằng của những người chủ trương khai thác quặng oxid nhôm.

Khi khai thác, họ có tính đến việc những cơn mưa ở đầu nguồn sẽ đổ xuống không ? Họ có biết những cơn mưa lũ đầu nguồn sẽ gây ra những tai hại gì khi đống đất dở dang đang được bóc ? Hay họ sẽ “vắt đất thay trời làm mưa, nghiêng ruộng đổ nước ra biển” ? Có thể lắm, xưa nay họ vẫn chủ trương như vậy mà, nếu vậy kinh nghiêm “chống băo, chống lũ, chống lụt, chống …” chống cả trời đất bao nhiêu năm nay sẽ dạy họ thêm bài học nào nữa ? Bao nhiêu người dân vô tội, của cải ruộng vườn, cơ nghiệp,.. sẽ chịu thiệt hại để trả giá cho bài học kiêu ngạo ?

Làm sao để bóc tách được oxid nhôm ra khỏi quặng thô ? Sẽ phải dùng bao nhiêu nước, bao nhiêu điện cho công việc này ? Ngay đầu nguồn, nước bị tận dụng vào khai thác quặng, mạch nước ngầm cũng như không ngầm sẽ ra sao ? Số phận của bao nhiêu gia đình miền xuôi cuối nguồn nước sẽ ra sao ? Ngay bây giờ đă thiếu nước sạch sinh hoạt, khai thác quặng ở đầu nguồn thì thiếu cái gì ? Mấy ngày nay trời chưa khô điện đã thiếu, “mấy ông lớn” đổ lỗi cho nhau, chỉ người dân nghèo chịu … chết, các ông vẫn nằm phòng máy điều hòa không khí, vẫn ngồi xe máy lạnh và vẫn đổ bia đổ rượu để trầm ḿnh trong các cuộc truy hoan “vì công vụ” !

Để bóc tách quặng có dùng hóa chất không ? Các nhà chuyên môn bảo rằng có, mà là hóa chất cực độc, vậy thì những giòng hóa chất thải ra len lỏi đến tận đâu, có thấm vào thịt đất không ? Có tràn vào các giòng sông giòng suối không ? Ai bảo đảm rằng ngăn chặn được giòng chảy này ? Ai bảo đàm rằng không thấm vào thịt đất ? Ai bảo đảm được xin trả lời cho công luận. Công trình hầm Thủ Thiêm, hàng chục chuyên gia, bao nhiêu m&a
acute;y móc tối tân, những bài tính được xây dựng bằng những phương pháp hiện đại, chọn lựa vật liệu rất kỹ lưỡng, thử nghiệm thiết kế cấp phối trước khi thi công, xay đá cục lạnh trộn vào để chống tăng nhiệt, tính toán phụ gia, hàng trăm cán bộ giám sát, thi công thử nghiệm mô hình thu nhỏ,.. . Thế mà 4 đốt hầm vượt sông Saigon sang Thủ Thiên bị … nứt thê thảm !

Hóa chất tràn lan. Vụ án chất độc màu da cam còn có Mỹ để kiện, chất độc từ việc khai thác quặng này kiện ai ? Cứ xem vụ án Vedan thì biết người dân sẽ kiện được ai ? Nửa năm trôi qua của vấn đề, hàng chục năm đi qua trong thiệt hại, các chủ nhân ông vẫn sống nhởn nhơ, vẫn tiếp tục sản xuất, vẫn tắm bia tắm rượu. Cả một guồng máy công quyền hùng mạnh bách chiến bách thắng đứng cãi nhau, báo chí càng la to, sức ì càng lớn, rồi đây khi “cứt trâu hóa bùn”, nhặt vài anh “to miệng” ra tòa là xong mọi chuyện ! Đất nước này, người dân này oằn mình chịu khổ đau.

Một bộ phận rất lớn người anh em miền núi làm nên dân tộc Việt Nam, cuộc sống của những bộ tộc này gắn liền với núi rừng, rừng là nhà để sống, âm thanh của rừng là tiếng nhạc cồng chiêng. Ba mươi năm trước, cuộc di dân ồ ạt lên tây nguyên, biết bao nhiêu hecta rừng đă bị đốn sạch, rừng cạn kiệt, thú rừng cạn kiệt, người anh em miền núi thoi thóp sống, lẻ tẻ một vài thú rừng còn sót lại điên cuồng phá phách để chết, bài học đó vẫn còn sờ sờ trước mắt, nhưng người ta nhắm mắt lại để tận diệt rừng, hóa ra rừng như là “kẻ thù” của họ vậy ! Tội nghiệp rừng, rừng vẫn từng che chở nuôi sống họ, bây giờ họ tự sống được rồi, rừng không còn cần nữa.

Chúng ta đọc được trong học thuyết xă hội của Giáo Hội Công giáo các hướng dẫn sau đây có liên quan đến nỗi đau mà chúng ta đang gánh chịu ( sách Tóm lược học thuyết xă hội của Giáo Hội Công giáo, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Ủy Ban Bác ái Xă hội, Nhà xuất bản Tôn giáo, xuất bản quí 4 năm 2007, sách có bán tại các nhà sách công giáo ).

(470) Các chương trình phát triển kinh tế cần phải cẩn thận lưu ý tới “nhu cầu tôn trọng sự tòan vẹn và chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên”, vì các tài nguyên thiên nhiên thì có hạn, thậm chí có một số tài nguyên không thể tái tạo được. …

(471) Mối quan hệ của những dân bản địa với đất đai của họ và tài nguyên là một điều rất đáng chú ý, vì đó là cách biểu hiệu cốt yếu nhất bản sắc của họ. Vì những nguồn lợi lớn lao về công – nông nghiệp hay vì tiến trình đồng hóa và đô thị hóa quá cao, nên nhiều người trong số các dân tộc này đã đành để mất hay liều mất đất đai mà họ đang sống trên đó, những mảnh đất đă từng gắn chặt với ý nghĩa cuộc đời họ. Quyền lợi của các dân bản địa cần phải được bảo vệ một cách thích đáng. Các dân tộc này cho ta một điển hình về đời sống hài hòa với môi trường mà họ đã rất quen thuộc và đã bảo tồn bấy lâu nay. Kinh nghiệm đặc biệt của họ, vốn là nguồn di sản tinh thần không thể thay thế được cho toàn thể nhân loại, đang có nguy cơ bị đánh mất cùng với môi trường đã khai sinh ra họ.

Không phải Giáo Hội không có lập trường của mình về các vấn đề xã hội, đặc biệt là môi trường trong tương quan với con người. Bây giờ phải làm sao ?

Khai thác bô-xít tại Úc
Kết quả thế này
Làm ơn đừng nói rằng công nghệ khai mỏ của họ không "tân tiến" bằng ta!

Mùa Chay 2009

Lm. Vĩnh Sang, DCCT



Thiên An Môn trong lòng chúng ta (Nguyên Hùng)

Thiên An Môn trong lòng chúng ta

Xe tăng quân đội đàn áp người biểu tình năm 1989

Sự kiện Thiên An Môn đã trôi qua 20 năm (04/06/1989). Mọi việc dường như đã chìm vào quên lãng, người chết đã thành tro bụi, người bị thương đã lành lặn, lửa đã được dập tắt… nhưng ai có thể xóa tan những hình ảnh đau thương vẫn còn trong tâm tưởng của người ở lại?

Những vết thương trong lòng họ có thể lành không? Và liệu chính quyền Trung Quốc có dập tắt được ngọn lửa đấu tranh vì nền dân chủ vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân nước họ?

Cuộc đấu tranh đòi dân chủ của nhân dân Trung Quốc đã bị dập tắt cùng với hình tượng Nữ Thần Dân Chủ bị lực lượng quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc dùng thiết vận xa và xe tăng cán nát. Lực lượng ấy thường hô khẩu hiệu vì nhân dân phục vụ, vì nhân dân chiến đấu, nhưng thực tế đã tuân lệnh đảng bắn vào nhân dân, những người đã sinh ra và nuôi dưỡng mình!

Tuy nhiên, đó chính là dẫn chứng hùng hồn nhất cho phần còn lại của thế giới thấy rõ hơn bản chất của nhà nước cộng sản độc tài! Những nhà nước lúc nào miệng cũng tung hê nhân dân, nhưng tay thì bóp cò súng vào nhân dân thế đấy!

Bức ảnh của người biểu tình vô danh (Unknown Rebel) được truyền đi khắp thế giới, gợi lên trong lòng mỗi người có lương tri một xúc cảm vô bờ, một hình tượng đầy tính nhân văn, làm cho chúng ta nghĩ đến phận người nhỏ nhoi trước cường quyền bạo ngược: Một bên là hình ảnh những chiếc xe tăng, những binh sĩ tay lăm lăm súng, mặt đằng đằng sát khí và bên kia, phía đối diện là một con người tay không tấc sắt! Một sự đơn độc đến nghẹn lòng, một sự dũng cảm đến ngưỡng phục…!

Dân chủ sơ khai

Qua đây ta hãy thử nghĩ xem vì sao sự kiện Thiên An Môn thất bại?

Có nhiều đánh giá khác nhau, nhưng điều rõ nét nhất, như chúng ta thấy, đó là cuộc đấu tranh chỉ có ở tầng lớp trên, nhân dân Trung Quốc chưa được chuẩn bị cho một sự kiện ở tầm mức lớn lao như vậy, mặc dù nền dân chủ của Trung Quốc đã có từ sớm so với Việt Nam.

Vào ngày 10/10/1911, cuộc cách mạng Tân Hợi thành công và ngày 01/01/1912, nước Trung Hoa Dân quốc ra đời, Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng thống. Nhưng, sau khi Tôn Trung Sơn bị buộc phải từ chức vào tháng 3/1913 và giao quyền lại cho Viên Thế Khải thì cuộc cách mạng theo chủ thuyết Tam dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc) xem như chấm dứt và bị đàn áp bởi thế lực phong kiến quân phiệt.

Chính quyền dân chủ non trẻ tồn tại được 1 năm 3 tháng, người dân chưa kịp hiểu khái niệm dân chủ tròn méo ra sao. Từ đó, dưới sự cai trị của phong kiến quân phiệt, Trung Hoa Dân quốc loạn lạc liên miên.

Đó chỉ là đấu tranh cục bộ không có lãnh đạo tối cao, cùng chiến lược được đông đảo dân ủng hộ. Đây là yếu tố quan trọng dẫn đến thất bại.

Nguyên Hùng

Đến năm 1949, cộng sản nắm chính quyền, dân Trung Hoa thế hệ kế tiếp phải sống sau bức màn sắt, nào biết được dân chủ ra sao. Sự kiện Thiên An Môn diễn ra từ 15/04/1989 đến 04/06/1989 tuy được đông đảo sinh viên, trí thức, lãnh đạo công nhân hưởng ứng, nhưng tất cả những tầng lớp đó chưa đủ mạnh để buộc nhà nước cộng sản phải nhường bước.

Đó chỉ là cuộc đấu tranh cục bộ không có lãnh đạo tối cao, cùng một chiến lược lâu dài được đông đảo nhân dân ủng hộ. Có thể nói đây là yếu tố quan trọng dẫn đến sự thất bại.

Điều duy nhất đạt được là nói cho cả thế giới và nhà cầm quyền Trung Quốc cộng sản biết rằng niềm khao khát Dân chủ của nhân dân Trung Quốc là có thật dù biết sẽ trả bằng máu.

Việt Nam nhìn nhận

Cùng thời điểm xảy ra sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc, truyền thông quốc doanh Việt Nam không hề đả động gì đến sự kiện, hoặc có nói cũng chỉ nói thoáng qua, dù chiến tranh biên giới vào tháng 02/1979 giữa Việt Nam và Trung Quốc mới xảy ra không lâu, anh em giận dỗi vẫn chưa nguôi.

Điều mà chính quyền Việt Nam lo sợ là sự lớn mạnh của các phong trào dân chủ khắp trong và ngoài nước. Sự cảnh giác của họ được mệnh danh là "Cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình". Đối với nhà nước cộng sản, đây là cuộc đấu tranh sống còn.

Nhà nước Việt Nam đã rút ra được một bài học xương máu từ Trung Quốc, không để sự việc vượt tầm kiểm soát, tiến hành cải cách, đổi mới theo định hướng của đảng cộng sản, bắt đầu vẽ ra dân chủ từ cải cách hành chính đến việc cho thành lập những hội đoàn, hiệp hội, chuyển qua kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (học từ Trung Quốc)…

Thiên An Môn ngày 19.3.2009

Chủ đề Thiên An Môn vẫn là cấm kỵ ở Trung Quốc hôm nay

Nhưng tất cả những việc nhà nước cộng sản làm để cải cách dân chủ cũng chỉ có ý nghĩa như một trái bóng quá căng phải xả hơi bớt, nếu không nó sẽ nổ tung, còn trong thực tế thì người dân thấy mọi việc vẫn như cũ. Bởi vì, với một cơ chế điều hành không chính đáng đang tồn tại thì sai lầm vẫn tiếp nối sai lầm.

Qua sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc, phía Việt Nam có một vài nhân vật trong bộ máy cầm quyền ý thức được sự đòi hỏi Dân Chủ trong dân chúng là điều khó cưỡng lại, nhưng tất cả những ý định cải cách chỉ có thể tồn tại trong ý tưởng của một thiểu số sắp bị gạt ra ngoài lề chứ không thể vượt qua cái bóng của Bộ Chính Trị tại Hà Nội và một cái bóng khác lớn hơn từ phương Bắc.

Trấn áp người dân bằng bạo lực là cách mà chính quyền vẫn thường dùng để để ngăn chặn "hậu họa" (dù là manh nha) cho chế độ: người dân Việt Nam biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc xâm chiếm biên giới và hải phận, hải đảo của Việt Nam bị nhà nước ngăn cấm một cách thô bạo và triệt để, các phóng viên đấu tranh chống tham nhũng bị khép tội và bỏ tù không chính đáng, dân oan khiếu kiện về đất đai bị cô lập và bắt bớ…

Những bất cập đó và sự không chính danh của chính quyền Việt Nam liệu có thể dẫn đến một sự kiện như Thiên An Môn tại Trung Quốc?

Đầu thế kỷ 20, phong trào Duy Tân của cụ Phan Chu Trinh với chủ trương "Khai Dân trí, Chấn Dân khí, Hậu Dân sinh", bằng đường lối đấu tranh ôn hòa bất bạo động, đã đặt nền móng cho cuộc tìm kiếm dân chủ của nhân dân Việt Nam về sau.

Bài học hôm nay

Thế hệ tuổi trẻ hiện nay, so với thời sinh viên Trung Quốc ở sự kiện Thiên An Môn, ngoài ý chí đấu tranh còn được giúp sức bởi hệ thống thông tin toàn cầu Internet. Qua Internet, con người có thể tiếp cận với kho tàng tri thức nhân loại một cách dễ dàng hơn lúc nào hết. Cũng qua Internet, con người có thể kết nối chặt chẽ với nhau bất kể không gian.

Những thuận lợi này đã mở ra rất nhiều cơ hội cho việc học tập (khai Dân trí), vận động cho mọi công dân ý thức được quyền và trách nhiệm của mình để đấu tranh với các thế lực đã hủ bại lỗi thời, nhằm mục đích xây dựng một nhà nước dân chủ (chấn Dân khí), tiếp nhận và phát triển các thành tựu khoa học, kỹ thuật, xã hội tiên tiến trên thế giới vào công cuộc phát triển đất nước trong tất cả mọi mặt của đời sống (hậu Dân sinh).

Ý thức về quyền tự do đã hình thành trong tư tưởng của đa số các sinh viên, trí thức tại Việt Nam, nhưng chưa gắn kết lại thành khối đấu tranh rộng khắp.

Nguyên Hùng

Hiện nay, ý thức về quyền tự do và sự đòi hỏi phải có một nhà nước dân chủ đã hình thành trong tư tưởng của đa số các sinh viên, trí thức tại Việt Nam, kể cả trong một bộ phận lớn dân chúng, nhưng trong thực tế chưa được gắn kết lại thành một khối đấu tranh rộng khắp khả dĩ làm đối trọng với chính quyền.

Sau 20 năm, nhìn lại sự kiện Thiên An Môn, những con người yêu chuộng tự do trên khắp thế giới đang phải sống trong sự độc tài toàn trị sẽ không cảm thấy cô đơn nữa, dù con đường phía trước đầy khó khăn gian khổ.

Trên suốt đoạn đường sắp tới, có một điều mà những người đấu tranh cần hiểu rõ: Dân chủ không chỉ nói đến một thể chế chính trị mà còn nói đến cách sống của người dân trong cộng đồng.

Với ý thức công dân đầy đủ, người dân phải biết đòi hỏi được sống đúng với quyền tự do căn bản của mình. Có như vậy mới xây dựng được một xã hội dân chủ và từ đó mới có chính thể dân chủ pháp trị. Có một chân lý không phải ai cũng nhận ra "Những sự vĩ đại thường bắt đầu bằng những điều tầm thường nhất".

Những ai đã từng chứng kiến sự sục sôi của người dân theo tỷ lệ phiếu bầu được kiểm mới cảm nhận được giá trị từng lá phiếu.

Và đến bao giờ người dân Việt Nam chúng ta mới được sục sôi và tự hào với lá phiếu của mình?

Bạn có câu trả lời hay không?

Mời quý vị bấm vào đây để gửi phản hồi về bài viết.

 




Phila, PA: Thế hệ trẻ tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày QLVNCH

Phila, PA: Thế hệ trẻ tổ chức  Lễ kỷ niệm Ngày QLVNCH

Lễ kỷ niệm Ngày QLVNCH ở Phila.

Tuyết Mai

Phila, PA.- Năm nay Lễ kỷ niệm Ngày QLVNCH ở Phila, PA được tổ chức vô cùng trọng thể so với nhiều năm trước. Trưởng ban tổ chức là Cựu Quân Nhân Không Quân Nguyễn Do và Anh David Võ, Chủ Nhiệm báo Việt Mỹ Magazine. Ddavid Võ là một người trẻ,  thế hệ thứ hai, có tài năng và nhiệt tình phục vụ trong những sinh hoạt cộng đồng và chính trị  ở Hoa Thịnh Đốn và Pennsylvania. Buổi lễ được tổ chức vào lúc 1 giờ trưa ngày 20 Tháng 6, năm 2009 tại Nhà hàng Maxim, Phila, PA.
Ban tổ chức đã chuẫn bị rất chu đáo từ nhiều tháng trước, với chương trình diễn hành trong khuôn viên kỳ đài Việt Mỹ và đường số 6, nhưng mưa tầm tã nên cuộc diễn hành phải bị hủy bỏ. Chương trình được cử hành trong Nhà hàng Maxim.
Hiện diện trong buổi lễ này có hầu hết đại diện các hội đoàn lớn PA và nhiều đại diện các tiểu bang lân cận. Riêng phái đoàn Virginia có Ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch Cộng Đồng vùng HTĐ, MD&VA, Ông Lý Văn Phước, Cố Vấn CĐ/HTĐ, MD&VA, Ông Lý Hiền Tài, Phó Chủ Tịch Liên Minh Dân Chủ Thế Giới và cũng là Phó Chủ Tịch CĐ/HTĐ, Ông Đào Hiếu Thảo cùng rất nhiều cựu quân nhân Quân Chủng Không Quân…
Điều đặt biệt trong buổi lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực lần thứ 44 này có sự tham gia đông đảo của thành phần dân sự, đặc biệt là của thế hệ trẻ, hậu  duệ. Điều gây ấn tượng tốt đẹp là  toán Quốc Quân Kỳ Hoa Kỳ và VNCH là do những thanh niên thế hệ trẻ mặc quân phục và cầm súng thủ cờ.  Các thanh  niên này chưa bao giờ cầm súng chiến đấu ở VN, nhưng được cha chú bác hướng dẫn lễ nghi quân cách, đã  rước  quốc kỳ vào vị trí hành lễ và lễ chào quốc kỳ đã được cử hành hết sức là trang trọng. Điều này nói lên ý nghĩa,  thế hệ cha, chú , bác  trong QLVNCH đã và đang truyền lại cho thế hệ con em tinh thần chiến đấu của QLVNCH và đây là cơ hội giúp cho con em có cơ hội tham gia, tổ chức trong tương lai.  
Một ấn tượng tốt đẹp khác về buổi lễ kỷ niệm Ngày QLVNCH ở Phila là sân khấu đã trang hoàng rất đặc biệt, rất huy hoàng với huy hiệu của hầu hết các quân binh chủng trong QLVNCH ngày xưa.
Chương trình đựơc điều hợp rất sinh động bởi Không quân Đào Hiếu Thảo. Sau nghi lễ chào quốc kỳ và mặc niệm là lời chào mừng của Ban Tổ Chức,  Ông Nguyễn Do, Chủ tịch Hội Không Quân ở Phila, PA. Kế đến là  phần phát biểu của Ông Nguyễn Đức Nhiệm,  Chủ Tịch Cộng Đồng Phila, PA. Tiếp nối,  Ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch CĐVN vùng HTĐ, MD&VA được mời lên phát biểu. 
 Ông Đỗ Hồng Anh nói,  đây là dịp để bày tỏ lòng tri ân những chiến sĩ anh  hùng của QLVNCH đã hy sinh để bảo vệ đất nước trong thời gian qua, và trong cuộc chiến đó QLVNCH chưa hề thất trận trong năm 1975, mà Quân Đội  anh hùng đó đã bị bức tử bởi sự phản bội của đồng minh mà thôi. Bây giờ tinh thần đấu tranh đó được thể hiện dưới một hình thức khác là đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền cho đồng bào trong nước. Với sự tiếp nối của thế hệ trẻ, hy vọng chúng ta sẽ sớm đạt được sự thành công để chúng ta có thể trở về tổ chức ngày QLVNCH ngay tại Thành Phố Saigon của Miền Nam thân yêu.
 Ông Anh cũng bày tỏ niềm vui  trước sự đoàn kết giữa hai Cộng đồng Hoa Thịnh Đốn và Philadelphia. Ông hy vọng sự đoàn kềt này sẽ đẩy mạnh công cuộc đấu tranh, đem lại tự do dân chủ cho quê hương VN, đồng thời cũng phục vụ cho đồng hương tại hai tiểu bang này được tốt đẹp hơn.
Tiếp theo là phần phát biểu của Anh David Võ, một thành viên trẻ trong BTC. Mặc dầu là một ngừơi của thế hệ thứ hai, nhưng David Võ đã hiểu rõ về cuộc chiến VN. Anh có nhận định “Trước năm 1975 QLVNCH đã chiến đấu tự vệ chống lại CS BắcViệt do CS Quốc Tế nuôi dưỡng.  Trong cuộc chiến đấu khốc liệt này, người lính VNCH đã quên mình, vì nước,  vì dân. QLVNCH không những chỉ chống lại cuồng vọng xâm lăng của CS BắcViệt mà còn anh dũng đánh Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa. Điều đó nói lên rằng QLVNCH đã quyết tâm giữ nước, lo cho dân. Nơi nào có  bóng dáng của QLVNCH và cờ vàng ba sọc đỏ, thì nơi đó dân chúng được sống an ninh, sung túc. Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ tuyên bố được rằng QLVNCH có  chính danh và chính nghĩa”.
Anh David Võ nói qua về hoàn cảnh lịch sử đưa tới sự hình thành của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, được long trọng tổ chức tại Saigon  ngày 19 Tháng 6, năm 1965. Quân lực VNCH đã đứng ra gánh vác hai nhiệm vụ trọng đại của đất nước.
Thứ nhất là trấn áp làn sóng đỏ của Chủ nghĩa CS BắcViệt được thế lực của CS Quốc Tế nuôi dưỡng, tràn vào miền Nam qua  biên giới Lào-Miên-Việt Thứ hai là tiếp tục duy trì  và củng cố nên dân chủ pháp trị qua cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến năm 1966, để một lần nữa làm sáng tỏ Hiến Pháp VNCH với tầm cỡ quốc tế. Xong sứ mệnh,  càc vị tướng lãnh trong hai Ủy Ban lui về cương vị thuần túy quân sự. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu với tư cách công dân ra ứng cử Tổng Thống và đã đắc cử. Đến Tháng 3, 1975 v&i
grave; áp lực của HK ông đã từ chức. Điều này chứng tỏ danh dự của chế độ và quân đội vẫn còn tồn tại trong lịch sử và trong lòng của dân tộc.
Anh Đavid Võ nói  tiếp, ngày nay , QLVNCH không còn, nhưng các cựu quân nhân vẫn giữ tinh thần và nhân cách của mình, không than vãn ai oán, dù phải chịu cực khổ, bạc đãi trong chế độ CS, vì mọi quân nhân trong QLVNCH đã được đào tạo trong tinh thần “Danh dự, Tổ Quốc, Trách Niệm”. Họ luôn luôn được an ủi và vỗ về bởi tấm  gương hy sinh cao cả, vị quốc vong thân của quý vị tướng lãnh Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm Văn Phú, TrầnVăn Hai và Lê Nguyên Vỹ cùng nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đã âm thầm tuẫn tiết.
Tại hải ngoại, vì không chấp nhận chế độ độc tài đảng trị lạc hậu của CS và nhất là hiện nay Đảng CS VN đang bán đất, dâng biển và làm thái thú cho Tàu,  các cựu quân nhân VNCH thành lập các hội đoàn, đoàn kết gắn bó với nhau trong tinh thần huynh đệ chi binh, luôn luôn hướng về quê hương đất nước để yểm trợ, cổ vũ tinh thần đấu tranh của từng cá nhân, đoàn thể và tôn giáo .
Cuối cùng Anh David Võ nói anh mạo muội đại diện cho thành phần cựu quân nhân QLVNCH ở Phila, phối hợp với giới trẻ đứng ra tổ chức ngày lễ trọng đại này, anh cảm ơn sự hưởng ứng nồng nhiệt của đồng hương  mọi giới từ các tiểu bang Washington , D.C., Maryland, New Jersey và Philadelphia… về tham dự.
Sau buổi lễ,  Ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch CĐ/HTĐ, MD&VA  cho biết một vài cảm nghĩ, Ông cảm thấy sự đoàn kết “Quân – dân” ở Phila, PA rất đậm đà, chặt chẽ và ở đây có dấu hiệu tốt là thế hệ hậu duệ sẽ tiếp nối những gì mà chúng ta đã thực hiện trong bao nhiêu năm qua. Hy vọng với sự tiếp nối đó, công cuộc đấu tranh tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê nhà sẽ khởi sắc hơn và những buổi tổ chức với sự tham gia của thế hệ trẻ, sẽ giúp các con, em  hiểu rõ hơn vì sao ông cha đã hy sinh xương máu để bảo vệ  Miền Nam Tự Do  trước năm 1975. 
Theo sau là chương trình văn nghệ hát về lính rất hấp dẫn.




BÁC HỌC, KHOA HỌC LỪNG DANH CỦA THẾ KỶ 15, 16 CHO ĐẾN HÔM NAY

BÁC HỌC, KHOA HỌC LỪNG DANH CỦA THẾ KỶ 15, 16 CHO ĐẾN HÔM NAY  

ĐỀU TIN CÓ THIÊN CHÚA

 

THÁI ĐỘ CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO

GIẢI NOBEL KHOA HỌC

 1.  Albert EINSTEIN                      Vật Lý          Do Thái Giáo

2.  Max PLANCK                                nt              Tin Lành

3.  Erwin SCHROEDINGER              nt              Công Giáo

4.  Werner HESENBERG                  nt              Tin ành

5.  Robert MILLIKAN                        nt              Tin Lành

6.  Charles TOWNES                        nt              Tin Lành

7.  Arthur SCHAWLOW                    nt              Tin Lành

8.  William PHILLIPS                       nt              Tin Lành

9.  William BRAGG                           nt             Tin Lành

10. Guglielmo MARCONI                 nt             Công Giáo

11. Arthur COMPTON                       nt             Tin Lành

12. Arno PENSIAS                             nt             Do Thái Giáo

13. Nevill MOTT                                nt             Anh Giáo

14. Isidor Isaac RABI                      nt             Do Thái Giáo

15. Abdus SALAM                             nt              Hồi Giáo

16. Antony HEWISH                        nt             Tin Lành

17. Joseph J. THOMSON                 nt              Anh Giáo

18. Alexis CARREL                       Y Khoa         Công Giáo

19. John ECCLES                             nt              Công Giáo

20. Joseph MURRAY                       nt              Công Giáo

21. Ernst CHAIN                              nt              Do Thái Giáo

22. George WALD                           nt              Do Thái Giáo

23. Ronald ROSS                             nt              Tin Lành

24. Derek BARTON                      Hóa Học      Tin Lành

25. Christian ANFISEN                   nt              Do Thái Giáo

26. Walter KOHN                            nt              Do Thái Giáo

27. Richard SMALLEY                     nt              Tin Lành

   II.  GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG

 

29. Rudyard KIPLING                    nt               Anh Giáo

30. Alexander SOLZHENITSYN     nt              Chính Thống Giáo

31. Francois MAURIAC                   nt              Công Giáo

32. Hermann HESSE                       nt              TCG (phái ?)

33. Winston CHURCHIL                nt              Anh Giáo

34. Jean-Paul SARTRE                   nt              Nhiều phái 

35. Sigrid UNDSET                          nt           Tin Lành/Công Giáo

36. Rabindranath TAGORE           nt              Ấn Giáo Hindu

37. Rudolf EUCKEN                        nt              TCG (phái?)

38. Isaac SINGER                           nt              Do Thái Giáo

 III.  GIẢI NOBEL HÒA BÌNH

39. Albert SCHWEITZER         Hòa Bình        Tin Lành

40. Jimmy CARTER                       nt               Tin Lành

41. Theodore ROOSEVELT           nt               Tin Lành

42. Woodrow WILSON                  nt               Tin Lành

43. Frederick de KLERK               nt               Tin Lành

44. Nelson MANDELA                   nt               TCG (phái ?)

45. Kim DAE-JUNG                       nt                Công Giáo

46. Dag HAMMARSKJOELD          nt               TCG (phái ?)

47. Martin Luther KING, JR         nt               Tin Lành

48. Adolfo Perez ESQUIVEL        nt                Công Giáo

49. Desmond TUTU                      nt               Anh Giáo

50. John R. MOTT                         nt               Tin Lành

51. Mother TERESA                      nt               Công Giáo

 

       IV.  CÁC VĨ NHÂN VÀ THƯỢNG  ĐẾ

Sren KIERKEGAARD, 

Robert BROWNING và Perey Bysshe SHELLEY

Jean Jacques ROUSSEAU

Franz LISZT

Eugene DELACROIX

Ludwig Van BEETHOVEN

Franz SCHUBERT

William SHAKESPEARE

Johanne Wolfgang GOETHE

Ralph Waldo EMERSON

Paul CEZANNE

MICHELANGELO

Leo TOLSTOY

Johanne Sebastian BACH

Van Rijin REMBRANDT

Ngoài các vĩ nhân trên, các họa sĩ, nhạc sĩ, văn thi hào, triết gia sáng giá sau đây, đa số thuộc thế kỷ 20, cũng đều đặt niềm tin vào Đấng Tạo Hóa, Thượng Đế, Thiên Chúa.

A.  WITTGENSTEIN, BERGSON, De CHARDIN, WEIL.

B.  STRAVINSKY, ROSSINI, SIBELIUS, MASCAGNI, RENOIR.

C.  SHAW, D.H.LAWRENCE, PIRANDELLO, DELEDDA, RILKE, SOLZHENITSYN.

TÔN GIÁO TẠI HOA KỲ

Riêng tại Hoa Kỳ, theo cuộc thăm dò của Trường Trinity College năm 2008, thì khoảng 76% dân chúng theo TCG, so với 86% năm 1990.   Một cuộc thăm dò khác, cho biết 79% dân Hoa Kỳ theo TCG chia ra như sau: 

Giáo Phái Tin Lành :  51.3 %

Công Giáo Roma :       23.9 %

Giáo Phái Mormon :    1.7 %

Do Thái Giáo :             1.7 %

Hồi Giáo :                   0.6 %

Ngoài TCG, Phật Giáo có khoảng 0.7 %

Các Giáo Phái khác :                      1.6 %

Số người vô tôn giáo:                       15 %

Phần còn lại không rõ :                  3.2 %

               VÔ THẦN

Người vô thần là người không ý thức, bác bỏ, phủ nhận niềm tin vào Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Thượng Đế, Thiên Chúa, Jehovah, Allah…  vì  họ cho rằng không có bằng chứng hiễn nhiên, rõ ràng, hay họ dựa vào các triết thuyết, xã hội học, lịch sử, và thiên nhiên.

Thông thường, từ VÔ THẦN áp dụng cho những người, hoặc phe phái chống lại TÔN GIÁO theo sau các trào lưu TIẾN HÓA hay KHOA HỌC PHÁT TRIỄN của Thế Kỷ Ánh Sáng.  Nhưng, các triết thuyết có ảnh huởng lớn đối với xã hội loài người phát xuất từ Âu Châu, đặc biệt từ tiền bán thế kỷ 19 với các triết gia  như Auguste Comte, Hegel, Feuerbach, Engels, và Karl Marx.

Theo Auguste Comte, một triết gia người Pháp (1798-1857), văn minh nhân loại phát triển theo 3 giai đoạn (luật tam trạng=law of 3 stages):

Từ giả tưởng(gt)=thần học qua trừu tượng(tt)=siêu hình đến khoa học(kh)=thực nghiệm.  Ở giai đoạn 1 (gt), đầu óc con người còn ấu trĩ, họ gán tên "thần" cho những hiện tượng thiên nhiên như thần sấm sét, thần gió, mưa, bão, lụt, lửa…Ở giai đoạn 2 (tt), con người đã tiến bộ biết tìm hiểu nguyên nhân sự việc nhưng vẫn chưa thoát được đầu óc tưởng tượng và chưa coi trọng vai trò của lý trí.  Ở giai đoạn 3 (kh), con người chỉ dựa vào thực nghiệm mà luận bàn vạn vật vũ trụ… nói cách khác là những gì kinh nghiệm và quan sát được mới là có thật.

Dựa vào "thuyết tam trạng" nói trên, Auguste Comte cho rằng, những người có tôn giáo là những người còn sống trong giai đoạn thần học, siêu hình, giả tưởng, ấu trĩ, dốt nát… 

Ta hãy xem thử qua bản thống kê sau đây có phải người dân Âu, Mỹ, Úc Châu có ấu trĩ, dốt nát so với người dân của các Châu lục khác như A. Comte nói không:  Âu Châu, TCG chiếm 80%, Mỹ Châu khoảng 85%, Úc Châu gần 80%.  Về tín ngưỡng của các nhà bác học,  thống kê của M.A. Eymieu, trong số 432 vị thuộc Thế Kỷ 19, có 367 vị tin có Thượng Đế.  Giám Đốc Đài Thiên Văn Bourges, Moreuxi: “Hầu hêt giám đốc mọi đài thiên văn thế giới đều tin có Thượng Đế."

Hai triết gia Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) và Feuerbach (1804-1872), cả hai đều người Đức có lối lập luận gần giống nhau về Thượng Đế mà theo họ, chỉ là ước vọng của con người tạo nên:  "Thượng Đế là thần thoại hão huyền do mộng ước con người bày đặt; không có mộng ước thì cũng không có Thượng Đế."

Hegel cho rằng con người bị "vong thân," mất tinh thần khi tin vào thần linh.  Feuerbach lại nhấn mạnh thêm con người chẳng những vong thân về mặt tinh thần mà còn luôn cả thể xác.  Từ "vong thân" có nghĩa là "con người tự làm cho mình nghèo hèn đi để làm giàu cho Thượng Đế và do đó tôn giáo trở thành ác quỷ hút máu nhân loại."  Do đó con người phải được giải phóng để có ý thức nhận biết Thượng Đế của con người chính là con người (homo homini Deus).

Tại Đức cũng như Nga, quan niệm trên của Hegel và nhất là của Feuerbach rất ảnh hưởng đến các triết gia vô thần khác như Bauer, Bradley, Dewy, đặc biệt là Engels (1820-1895), vừa triết gia vừa kinh tế, chính trị gia, Marx (1818-1883),  là luật sư, triết gia, chính trị gia và đương nhiên ảnh hưởng giây chuyền  đến thế hệ trẻ thời đại, tạo nên một đổi thay rất lớn.  Và, Cộng Sản chỉ là việc thực thi nhân bản thuyết của Feuerbach.  Từ 1844, Karl Marx và Engels trở thành môn đồ của Feuerbach.  Họ xem Feuerbach là người thầy vĩ đại và ca tụng Ông là người đã phục hồi được địa vị con người (xem La Sainte Famille 1845, Marx và Engels viết chung).

Tuy nhiên có điểm khác giữa Feuerbach và Marx là Feuerbach ít để ý đến khía cạnh chính trị, xã hội, lý thuyết còn mơ hồ, thiếu thực tế; còn lý thuyết của Marx hay Marxism gồm toàn bộ vấn đề mà con người đặt ra, tinh thần cùng vật chất.  Theo Marx, "Đạo của công nhân là vô đạo vì nếu có thì nó tìm cách phục hồi thần linh tính của con người."  Với y, mọi sự chỉ lệ thuộc kinh tế; giải quyết được kinh tế thì cũng giải quyết được vấn đề tôn giáo.  Về sau, Vladimir Ilyich Lenin (1870-1924), nhà "cách mạng" Nga Sô cũng tự cho mình thuộc truyền thống Feuerbach. 

Để kết luận, khi bác bỏ niềm tin vào Thượng Đế, Đấng Chí Tôn, Tạo Hóa, Ông Trời, Thiên Chúa, Jehovah, Allah, thì với chủ trương vô thần của Cộng sản, đã dẫn đến những hiện tượng quái gở sau đây:

1.  Marxism trở thành giáo điều 

2.  Giáo đìễu Marx trở thành "kinh nhật tụng"

3.  Tôn thờ lãnh tụ vừa ngu, vừa gian, vừa ác.

4.  "Tham quan"lăng Lenin,"Bác" Hồ, băt ép dân, học sinh phải diễn kịch biểu tình hoan hô lãnh tụ, thay cho hình thức đi kiệu, đi chùa của cac tôn giáo.

5. Giai cấp lãnh tụ thì giàu sụ, dinh thự có hằng trăm, tiền đô có hằng tỷ.. tha hồ ăn chơi, đàng điếm. Ngược lại nhân dân thì chạy ăn mỗi ngày không đủ no, không đủ mặc, không đủ tiền cho con đi học, con trẻ phải đi bới rác…

6- Các lãnh tụ và cán bộ Cộng sản thì tha hồ nói dối, nói láo, nhưng băt nguòi dân phải nghe, phải làm theo và không ai  được nói lên sự thật. Ai nói sự thật thì bị thuộc hạ của lãnh tụ Cộng sản viêt báo, phát thanh, phát hình thoá mạ, chửi bới, bịa chuyện, vu khống đủ cac thứ tội; còn bị  đánh đạp,  bỏ tù, và “tai nạn” xe đụng chêt.

7.  Thiên đàng ở trần thế do Karl Marx hứa hẹn trở thành địa ngục trần gian, cho nhân dân ở những quôc gia theo tà thuyêt Cộng sản.

 Francis Dương

 

***
THEO TRỜI THÌ TỒN TẠI, NGHỊCH TRỜI THÌ BỊ DIỆT VONG




Nguyễn Trọng Hoàn : Tướng Đỗ Cao Trí & TÔI

Tướng Đỗ Cao Trí & TÔI

NGUYỄN TRỌNG HOÀN

Tướng Đổ Cao Trí

 

     1.

         Lý do tôi phải mào đầu dài dòng để kể câu chuyện này, như sau:-

     Sau khi Quân đội VNCH tan rã, cả nước Nam tan rã, chúng ta phải sống tha phương nơi đất khách quê người. Vì nơi dung thân là nước Mỹ, giầu có, nên tấm thân của mình, của gia đình mình, trông lên những người bản xứ thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống những đồng bào của mình đang còn ở quê nhà, thì quả một trời một vực! Tuy vậy, đối với một số người thì là một sự đổi đời, còn với nhưng người khác, niềm hoài vọng ngày trở về cố hương xa lắc cứ dần dần bị xói mòn, riêng những người lính trận chúng tôị Mời bạn đọc tiếp:

 Bản thân tôi thì không ra gì, dở chàng dở đục, nhưng bạn bè tôi, nhìn ngang nhìn ngửa đứa nào cũng nổi tiếng. Ngày trước, chúng nổi tiếng trên chiến trường, qua Mỹ chúng nổi tiếng bằng cái nghề tay trái: Làm báo viết văn! Tôi thích mang những sở trường của họ ra khoe với những người lạ, làm cứ như những ưu điểm của họ có thể lấp trống giùm cho tôi những nhược điểm của bản thân.mình.      

 Đại tướng Đỗ Cao Trí lẽ dĩ nhiên không nằm trong trường hợp trên, vì nếu như bây giờ, ai người ta cũng có thể gọi bằng thằng, càng gọi khỏe càng lộ chất “Ông” trong người mình ra. Thì ngày xưa, cái móng tay của ông ấy tôi cũng không bằng, huống chi nói là bạn với bè?         

Có điều, một vị tướng ngày xưa, thì thiếu gì thuộc hạ… Tôi có may mắn là thuộc hạ của ông Đại tướng tài ba và nhiều tai tiếng nàỵ.       

 Sau tết Mậu Thân, Việt cộng ngậm ngùi suy ngẫm học thuyết quân sự cũ rích: Tiến công và nổi dậy! Đó là sở trường mà chúng gọi là tổng công kích. Công là đánh tới, Kích là bẩy lên, hay xúi giục ai nổi lên.

      Thành phần chủ lực ở ngoài tấn công vào. Đám nằm vùng xúi dân nổi loạn. Khốn thay cho Việt cộng trong cuộc tấn công này, bộ đội chủ lực thì xâm nhập vào được nhưng chẳng có ma nào xúi được dân nổi lên cả, ngay cả những người dẫn đường cũng lặn luôn. Nên bọn cán ngố cứ như con dế bị ngắt mất cọng râu. Thế là làm mồi cho quân ta mà thôi!.         

Nhân đây, tôi cũng xin mở một dấu hỏi to tướng, về âm mưu “Thay ngựa giữa dòng” của người Mỹ. Họ đã biết trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của Việt cộng, nhưng họ lờ đi “Để xem mày (VNCH) có chống cự nổi không, còn sức chống, tao giúp tiếp, dở quá, bỏ luôn.”

Một bằng chứng là khoảng 26, 27 tháng Chạp là các cố vấn Mỹ ở các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị biệt lập đã cuốn gói trở về “hậu phương” rồi!

Thế rồi, thiên bất dung gian, kẻ gian đại bạị. Ngay sau đó, trong khi ông Hồ mang cái hận ngàn thu ấy xuống âm ty địa phủ thì đám cán bộ mang tàn quân lết bên Căm Bốt để cùng nhau hát bài: “Dậy mà đi!”

Tôi tham gia cuộc hành quân Toàn-thắng của Sư đoàn 25 BB, mục đích để tiêu diệt nốt đám tàn quân ấy! Chiến đoàn tôi mang tên 333 từ hướng mật khu Ba Thu, đánh xuôi xuống vùng Mõm Chó, Chi Phụ Bravet rồi theo quốc lộ 1 thọc thẳng lên Svayrieng (Xoài Riêng). Trận này, diễn tiến như thế nào, tôi sẽ kể sau.


          2.

         Mẫu giáo:

Tôi có một thói quen: mỗi khi sắp tham dự vào một cuộc hành quân xa, tôi thường xin về Sài Gòn một thoáng để thăm mẹ. Phần nghĩ đến một thời gian dài sắp tới phải nhá cái khẩu phần C chết tiệt. Phải về với mẹ để được ăn một món gì cho khoái khẩu. Phần vì tôi luôn đeo đẳng cái cảm giác, sự sống của những người lính trận chỉ đếm bằng từng ngày một… “Mình không về gặp bả, ngộ có gì…”. Tôi lại không bao giờ dám nói với mẹ là mình sắp đi xa: "Con hành quân ở vùng ven biên ấy mà, tạt về thăm đẻ một chút thôi rồi con phải đi liền!"

“Một chút” của tôi thường bị kéo dài bởi nồi canh cua rau đay nấu với mướp hương hoặc những miếng thịt heo cháy cạnh mà chỉ tự tay mẹ làm thì mới vừa miệng tôi thôị…

Lần này, chính cậu “Tà loọc” đã làm hại tôi:

– Bà có hộp dầu ông hổ nào không, con xin cho Trung úy một hộp? Ở Miên nghe nói mùa này là mùa gió chướng, Trung úy lại chỉ hợp với loại dầu này!

Mẹ tôi ngừng têm trầu:

– Lại đi đánh nhau tận bên Miên cơ à?

Tôi thấy mẹ tôi lấy khăn lau nước mắt. Ăn cơm xong, mẹ ra đi văng ngồi nhai trầu, giọng bà như muốn khóc:

– Đánh nhau như vậy đủ rồi, hay để đẻ nói với chú Hạ (thông gia nhà tôi), nói với bác Thuần xin cho con về văn phòng?
Biết sẽ phải nghe điệp khúc ấy, tôi đứng dậy vươn vai, lấy chiếc áo trận, vừa mặc vừa nói như hát vọng cổ:

– Mẹ ơi! Mai kia mốt nọ yên giặc con cũng trở… Dzề!.

Mẹ tôi chì chiết:

– Con người ta, cha mẹ bảo sao nghe vậy, chúng nó ăn trắng mặc trơn, nhơn nhơn ăn học… Còn cái thứ con nhà nàỵ… Ngu như bò!

Mẹ tôi đưa hộp dầu ông hổ cho chú lính, mẹ nói:
 – Ở Miên họ hay dùng bùa ngải lắm đấy! Lại hay “thư” nữa đấy! Có người bụng cứ trướng lên, mổ ra một đống toàn răng với tóc không đấy nghe con! Con gái của họ, không phải như gái bên mình, đá gà đá vịt vào rồi không thích thì bỏ đâu đấy! Đừng dại nghe con..

Khác với những lần trước, mẹ tôi đưa tôi ra tận cổng, hành động này của mẹ khiến tôi vừa xúc động vừa lo lắng. Mẹ tôi chỉ vào chiếc balô căng đầy mà chú lính đang để vào băng sau xe jeep:
– Mẹ có cho mang theo cho con một cỗ bài chắn, đóng quân ở đâu, trong lúc rảnh rỗi, thày trò rủ nhau đánh cờ con cho vui, nhớ đừng đi lang thang nghe con.

Hai mẹ con đang bịn rịn thì Hương phóng xe tới. Mặt cô đỏ au. Mẹ tôi giữ ý, chỉ Hương:

– Thôi cô cậu giã từ rồi lên đường cho sớm, mẹ vào..

         Hương cầm lấy hai cánh tay tôi, chân dậm dậm xuống đất:
         – Em vừa lên hậu cứ kiếm anh, anh sắp đi Miên hả?
         Tôi cười:

– Việc binh cốt ở thần tốc và bất ngờ, anh chưa xuất phát mà ngã ba Ông Tạ đã biết, Hàng Xanh đã biết thì còn đánh đấm cái mẹ gì nữa?

         Hương đưa ngón tay dí vào môi tôi:

         – Sao lại nói tục với em? Hôm nọ hứa cái gì nào. Em có tin mừng mới phải lên báo cho anh chứ bộ!

         Tôi sướng run lên, tôi biết ngay cái tin đó là gì rồi, nhưng cũng giả vờ hỏi:

         – Tin gì vậy ?

         Nàng lại ghé sát vào má tôi, mái tóc có mùi bồ kết làm tôi ngây ngất:

 – Em “ Có” rồi. Hú vía, hú vía! Mà này, anh qua bên Miên, ăn bánh trả tiền nhé! Con gái Miên ghê lắm đấy!

      3.

         Ngày N.

Lần đầu tiên từ khi tôi ra trường, tôi được “đối đáp” với một vị Tướng, mà lại là vị tướng nổi danh mới oách chứ:
Trung tướng Đỗ Cao Trí ngoái cổ lại hàng ghế phía sau hỏi to:

– Ông nào là Đại đội trưởng Trinh sát đâu ?

Tôi đứng bật dậy như lò xo bung:

– Có mặt.

– Nãy giờ ông có nghe kỹ diễn tiến của ngày N và N+1 không?
 – Nghe rõ!

Ông Tướng đứng dậy, đưa tay ra hiệu cho Đại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 333, đưa que chỉ bảng cho ông. Bây giờ tôi mới nhìn thấy rất rõ ngoại mạo một ông Tướng khét tiếng nàỵ. Vầng trán cao xám ngoét, đôi mắt sáng, đỏ au như mắt cá chầy (Người ta bảo con mắt ổng có cô hồn đấy! Nhất tướng công thành vạn cốt khô mà!). Phần từ đầu tới thắt lưng, tướng pháp không chê vào đâu được, nhưng từ thắt lưng xuống tới đôi giầy “ Máp”, giống như củ khoai lang cắt đôi, dựng ngược, từ từ teo tóp… Tôi bỗng rùng mình, chua chát nghĩ đến chiếc bóng chênh vênh của Kinh Kha bên dòng Dịch Thủy:
                        

                        Gió hiu hiu sông Dịch lạnh lùng ghệ

     Tráng sĩ một đi không trở về!

         Tướng Trí xòe nguyên bàn tay mum múp trên tấm bản đồ không ảnh, kéo một đường dài từ Gò Dầu Hạ, dọc theo quốc lộ 1 lên tận Svayrieng:

         (Ôi! Những ai từng “đi” nhận lệnh hành quân, còn nhớ chăng cái cảm giác xương sống lành lạnh, mỗi khi thấy ông đơn vị trưởng của mình xòe tay trên một tấm bản đồ 1.25.000 trong đó một ô vuông nhỏ xíu nhưng ngoài thực tế là một cánh đồng bạt ngàn, đi mù con mắt mà vẫn không tới?).

         – Ông Chuyên, cho các mục tiêu vừa thuyết trình, giạt ra xa quốc lộ 1 chừng một cây số…

         Bỗng ông ngừng lại:

  – Ông Cường, thằng Tiểu đoàn 1 của ông đến đâu rồi?
 Đại tá Cường, rập hai chân lại trong một cử chỉ vừa nghiêm trang, vừa như lấp ló có tin vui:

– Thưa Trung tướng, thằng 1 của tôi vừa làm chủ Chi-Phụ.
– Tốt, như thế này nhá: Ông Cường cho Bộ chỉ huy Chiến đoàn của ông, dời từ đây lên Chi-Phụ. Tôi nhắc các ông từ bây giờ bọn cố vấn Mỹ không theo mình vào Miên nữa đâu đấy!

Ông nhìn mấy cố vấn Mỹ, rồi bảo người thông dịch viên:
         – Dịch nguyên văn cho “chúng nó” nghe câu này: “Phải tập đánh độc lập đi, dựa mãi vào mãi thằng Mỹ mai kia mốt nọ, chúng qua cổng rút cầu thì sao?”

Ông lại xòe bàn tay ra, dùng ngón trỏ và ngón giữa căng theo quốc lộ 1, rồi ông dùng que chỉ bảng chỉ ngay vào mặt Thiếu tướng Nguyễn Xuân Thịnh, Tư lệnh sư đoàn 25, gốc pháo binh:
         – Ông Thịnh, từ đây lên Xoài Riêng còn trong tầm bắn tác xạ của Tiểu đoàn 252 Pháo binh không?

         Tôi thích thú nhìn tướng Thịnh, ông Tướng có mấy sợi lông tài trên nốt ruồi đen, trên khuôn mặt to đen lạnh lùng như ông thần đất, mà mọi khi chúng tôi rất hãi, cũng
phải đứng bật lên:

         – Thưa, tới!

         Bất ngờ tướng Trí chỉ ngay vào tôi:

         – Trung úy Hoàn, mở sổ tay ra.

         Tôi rụng rời… Trong cái nóng hầm hập của phòng hành quân tạm, mọi người đổ dồn về phía tôi, một sĩ quan có cấp bậc nhỏ nhất, lại được tướng Trí nhớ tên. Tôi đỏ mặt, tính háo danh, và sự sung sướng lấn át hết cảm giác sợ hãi. Tự tin hơn là tôi đã chuẩn bị một quyển sổ tay, mà những sĩ quan nào, hơn một lần bị “ông Tướng sổ tay” hạch hỏi vì: “Là cấp chỉ huy mà không có quyển các-nê đờ-nốt là một sĩ quan tồi….”. Tôi cầm quyển sổ tay.  A! Có một điểm đầu tiên rồi đấy!

         Tôi thấy Tướng Trí cười:

         – Quân số hành quân của ông bao nhiêu ? 

         – Trình Trung tướng: 102. Sĩ quan 9. Hạ Sĩ quan 15, binh sĩ…

         Tướng Trí hét lên:

         – Sao nhiều thế, sao sĩ quan nhiều thế, hạ sĩ quan ít thế? Bịa hả?

         Đại tá Cường đỡ cho tôi:

         – Thi hành khẩu lệnh của Trung tướng trước đây, quân số các đơn vị Trinh sát phải luôn luôn bổ sung đầy đủ. Sĩ quan nhiều vì trong Trung đội viễn thám, mỗi Toán viễn thám phải có một sĩ quan trưởng toán. .

         Tướng Trí ngắt lời:

         – Tôi biết rồi.

         Rồi ông lại dùng que thuyết trình chỉ xuống phía dưới, giọng ông chắc nịch:

         – Tất cả mở sổ tay ra.

         Như cái máy, Tướng, Tá phía dưới đồng loạt để tay lên túi áo trận.

         Tướng Trí đọc chính tả:

         – Viết đi: Sức mạnh của một đơn vị bộ binh chiến đấu (phẩy) không phải ở lớp Sĩ quan chuyên chỉ tay năm ngón (phẩy) mà nằm trong lớp Hạ sĩ quan cốt cán (chấm) Tóm lại, bộ binh là hoàng hậu của chiến trường (phẩy) mà chiến trường thắng hay bại tùy thuộc vào cấp bậc từ Hạ sĩ nhất đến Thượng sĩ nhất, viết rõ chưa? ( Chấm hết).

         Rồi ông lại chỉ vào mặt tôi:

         – Trung Úy lên đây.

         Con người nhỏ con kia sao toát ra cái uy quyền lạ kỳ. Tôi đã vào sinh ra tử nhiều lần nhưng chưa bao giờ tôi lúng túng đến như thế. Tôi ríu tíu đỡ cây que chỉ bảng:

         – Trung úy chỉ cho tôi xem đâu là Quốc lộ 1. Tốt. Đâu là cây cầu chính vào thành phố. Tốt… Trung úy có thể chiếm thành phố này chỉ với một mình đại đội của Trung úy được không?
         Cả sống lưng của tôi như bị điện giật… Một đại đội Trinh sát với một nhúm người như thế này, làm sao đây?

         Tính háo danh của tôi lại bật dậy:

         – Được, thưa Trung Tướng.


         – Tốt, thế mới là trinh sát chứ! Như thế này nhá. Ông Cường cho…

         … Máu háo thắng cùng niềm kiêu hãnh cứ dâng lên từng đợt trong con người phàm của tôi cho đến khi tôi tập họp đại đội dưới một thửa ruộng khô vừa xong mùa gặt. Tôi huênh hoang khoe:

         – Đích thân Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn vừa chỉ thị, một mình Đại đội ta sẽ chiếm Tòa thị sảnh Svâyriêng!

         Từ sĩ quan cho tới lính mặt mày nhớn nhác. Có nhiều người nhẩy lên vì thích thú. Có người giơ cao khẩu M16 hét lên:
         – Chơi luôn!

         Có vài nét mặt đăm chiêu của sĩ quan, tôi lờ đi, nói lớn, ngất ngất hào khí:

         – Mọi người có nửa tiếng để sắp xếp lại quân trang quân
dụng, bỏ lại hết thực phẩm, quân trang nặng nề. Tóm lại chỉ mang súng đạn cá nhân. Hai Trung đội trưởng trinh sát và Trung đội trưởng viễn thám ra đây nhận lệnh.

         Lệnh có gì đâu, nhưng nghe xong, mặt ai cũng như chàm đổ… Sau đấy khoảng hơn một tiếng. Hơn 10 chiếc xe vận tải dân sự từ Gò Dầu Hạ trở về Miên, bị chúng tôi trưng dụng. Trung đội trưởng kè súng vào hông người tài xế Miên, còn lính nằm ở phía sau. Đạn lên nòng, xe cứ thế mà chạy trên quốc lộ phía bên Miên. Ngày ấy, cứ vài cây số lại có một cái bàn đặt ngay quốc lộ để đơn vị Miên nào đóng gần quốc lộ thâu tiền mãi lộ!

         Đoàn xe của Đại đội cứ thế mà chạy, qua trạm, chạy luôn, khiến những người lính Miên trên các trạm ấy xả súng vào đoàn xe, cũng may không có ai bị thương.

         Tôi ngồi ngay xe thứ 2, xe trước tôi là Toán viễn thám 1 của Chuẩn úy Cừu. Bỗng tôi thấy đoàn xe chạy chậm lại, cái dốc cầu vào thị xã cong cong làm tôi không quan sát được chiếc xe phía trước.

         Có tiếng thằng Một:

         – Hải Điểu, đây Một.

         Tôi chụp máy:

         – Tôi nghe đây!


         Tiếng của Cừu gấp gáp:

         – Trình Thẩm quyền trên đường tụi Miên giăng concertina nhiều quá, có cả mấy con ngựa gỗ nữa . .

         Một tràng súng xé không gian, tiếp theo là những tràng súng khác thi nhau vãi vào đoàn xe.

         Tôi hét to trong máy:

         – Cho xuống xe ngay, xung phong! Cả đại đội sẽ yểm trợ cho ông, chiếm ngay cái bốt canh kia kìa!

         Một chiếc trực thăng xà ngay xuống, tôi thấy rõ Tướng Trí đội nón đỏ đang quần quần ngay trên cái đồn tôi vừa ra lệnh cho Cừu chiếm. Chiếc trực thăng đảo một vòng rồi bay lơ lửng ngay trên đồn Miên. Tôi vừa hô xung phong vừa kinh ngạc nhìn lên thấy Tướng Trí đã ngồi vào vị trí của người xạ thủ đại liên. Ông xoay họng súng vào phía lô cốt, một tay khoát khoát như cổ động cho đám quân dưới đất. Có tiếng hét của Cừu:

         – Tụi nó bắn lên máy bay của ông Tướng kìa.

         Một khẩu đại liên phòng không từ một cái đồn nhỏ bên
phải cầu đang khạc hung hãn lên hông bên kia của chiếc máy bay. Chiếc trực thăng chao nghiêng.

         Tôi kéo trung sĩ Thuận trong toán Viễn thám, chỉ tay về hướng ổ đại bác phòng không:

         – Cậu dẫn toán men theo bên này cầu, diệt phứt cái lô cốt kia đi cho tôi.

         Thuận nhận lệnh, anh dẫn toán chạy lên, vừa dùng súng M79 hướng mũi trực xạ, một tiếng nổ làm bật tung khẩu súng phòng không, đồng thời biến mất những tên lính Miên, xạ thủ của khẩu phòng không ấỵ .

         Chiếc trực thăng chở Tướng Trí lại vòng tới, lần này ông lại bay thấp hơn, ông biến thành xạ thủ của chiếc “gunship”, chĩa những lằn đạn về phía đồn chính.

         Bỗng mọi người dưới đất xanh mặt khi chiếc máy bay rung lên, như con rồng chuyển mình, bốc lên cao. Một cái nón đỏ, đúng là nón của ông Tướng bay vụt ra, xoay vòng vòng như chiếc lá rồi bay vút về phía cây cầu. . .

         Những người lính trinh sát vừa hò hét vừa tiến lên, đen kịt thành cầu, những tiếng la phát ra từ những trái tim nóng hổi:
         – VN, VN!

         Tôi kéo chú hiệu thính viên lao tới, hai mắt tôi rưng rưng… Thuận hớn hở chạy về phía tôi giơ cao chiếc mũ đỏ có ba ngôi sao gắn chéo. Người ta bảo nóng giận thì mất khôn, nhưng vui mừng quá cũng mất khôn luôn, với lại tính háo danh nằm sẵn trong tôi, nó sai bàn tay tôi, ném cái mũ sắt đang đội, lấy cái nón đỏ đội vào đầu. Lại nghĩ: “Có ngày “mày” cũng được “nằm” vào đầu tao thôi!”.

         Tôi vừa đắc chí vừa chạy tới, chạy một quãng thì hiệu thính viên đưa cho tôi chiếc combiné:

         – Mặt Trời gặp Trung úy.

         Tôi nghe tiếng Tướng Trí.

         – Đừng bắn, đừng bắn nữa, chúng nó từ chân cầu đang phất cờ trắng kia kìa.

         Một hàng dài lính Miên, có cả đàn bà, con nít đang cầm những mảnh khăn trắng giơ cao trên đầu. Tôi vừa ra lệnh ngừng bắn thì hiệu thính viên lại đưa ống nghe cho tôi. Tiếng tướng Trí:
         – Tốt lắm, để một toán nhỏ lại giữ đầu cầu thôi, còn cậu tiếp tục đi.

         Như những con gà chọi đang say đấu, chúng tôi lao cả đoàn xe về phía trung tâm thành phố. Dưới đường người ta vẫn thong thả đi lại, những người lính Miên vẫn đeo súng lơ ngơ ngắm phố. Chắc không có một ai hiểu việc gì đang sắp xẩy ra với ho.. Tiếng Cừu báo qua máy:

– Trình Thẩm quyền mục tiêu kia rồi.

         “Băng ga lo” hoành tráng, nơi tôi phải chiếm, đang ẩn mình dưới những tàn cây cổ thụ, mục tiêu diễm lệ của tôi kia rồi!
         Xe của Cừu húc đổ ngay con ngưạ gỗ, tiếp theo xe của tôi và các xe sau trờ tới. . .
         Cừu đưa khẩu colt vào ngay ngực tên lính gác, qua một người lính gốc Miên thông dịch.

         – Văn phòng Tỉnh trưởng đâu ?

         Tên lính đưa tay chỉ về phía cổng lớn nơi có hai con ngựa đá rất to. Cả đại đội lại lao về phía đó. Chẳng có đội hình gì cả.   Khi Ban chỉ huy của tôi chạy vào trong đại sảnh thì một cảnh tượng vừa tức cười, vừa thống khoái hiện ra trước mặt: Trung úy đại đội phó Trần Như Xuyên đang ghìm khẩu súng M16 về hướng những người mặc toàn lễ phục đang chắp tay lậy như tế sao!

         Té ra tại đây đang diễn ra buổi đại tiệc!

         Tiếng người thông dịch:

         – Trong các ông, ai là Tỉnh trưởng?

         Một người chắp tay xá xá. Bỗng có tiếng lao xao phía sau tôi. Có người lính hét to:

         – Sao sẹt! Sao sẹt kìa!

         – Vào hàng, Phắc!

         Tướng Trí xông thẳng đến tôi, ông đến trước tôi khoảng ba bước, ông rập hai chân vào nhau rồi đứng nghiêm chào tôi. Tất cả quan quân mặt ai cũng xanh như tầu lá! Chết mẹ tôi rồi! Cái nón đỏ có hàng lon Trung tướng tôi đang đội trên đầu, chỉ đem cho tôi cái thích thú phù du, nhưng sẽ là một thảm họa khôn lường cho tôi.

         Tôi vừa sợ hãi vừa xấu hổ, đưa tay lên đầu, giật ngay cái mũ xuống rồi bằng hai tay, trịnh trọng đưa trả nón, y như kẻ bại trận dâng cây kiếm quy hàng.

         Tướng Trí, chìa cả hai tay lấy chiềc nón đỏ… Mọi người chờ cơn thịnh nộ của ông Tướng Sấm Sét…

         Ông cúi xuống gỡ ba ngôi sao ra cười hiền từ:

         – Giữ giùm cậu ba ngôi sao này, còn tặng cậu cái mũ làm kỷ niệm, làm kỷ niệm thôi nhé! Coi chừng quân cảnh bắt về tội tiếm phục quân hiệu đấy.

         Mặt tôi nóng ran lên như người lên cơn sốt.

         Tướng Trí đến ngay trước viên Tỉnh trưởng Miên, tính võ biền cố hữu của ông biến mất và y như một chánh khách chuyên nghiệp, ông giơ tay, bắt tay viên Tỉnh trưởng. Ông nói một tràng tiếng Pháp, tôi nghe lõm bõm, hình như ông ra lệnh cho viên Tỉnh trưởng phải kêu gọi các lực lượng dưới quyền quy hàng, bằng cách ra lệnh cho các đơn vị ấy, tháo hết các cơ bẩm của các loại súng rồi cho chở lên các bộ chỉ huy liên hê… Rồi y như ông chủ, chính tay ông khui whisky:

         – Vào đây, Đại đội trinh sát vào đây, các chú khá lắm, “moi” phải khao các “toi” một chầu mới được. Tôi bước ra trước, nhưng ông làm tôi quê hết sức khi ông hỏi lớn:

         – Chú lính nào ít thâm niên nhất, cấp bậc nhỏ nhất vào đây.

         Rồi cũng y như khi lúc xung phong, chẳng kể quan lính, mạnh ai nấy ùa tới vây quanh ông y như một người thân. Chính tay ông rót cho mỗi người một ly ruợu nhỏ.

         Bỗng tướng Trí lấy tay đập vào trán:

         – Chú nào bắn trái M79 trúng ổ đại liên cứu “moi” thế?

         Tôi chỉ vào viên Trung sĩ viễn thám:

         – Trình Trung tướng, Toán phó viễn thám, Trung sĩ Thuận!
         – Thấy “moi” nói có đúng không? Nhớ đấy! Hạ sĩ quan mới là lực lượng nòng cốt của quân đội!

         Ông rút trong túi ra quyển sổ tay, nhìn chăm chăm vào bảng tên của Thuận, ghi xong ông hất hàm hỏi:

         – Trung sĩ nhất bao lâu rồi?

         Thuận hớn hở trả lời:

         – Thưa Trung tướng, gần hai năm.

         Tướng Trí nghiêm nghị:

         – Cho cậu lên Thượng sĩ.

         Rồi ông quay lại phía tôi, nhắc lại điệp khúc:

         – Phải nằm lòng, Hạ sĩ quan mới là nòng cốt…

         Lần này không thấy ông bắt ai ghi vào sổ tay cả.

         4.

         Cô gái Miên.

         Sau khi chiếm xong dinh Tỉnh trưởng, Đại đội Trinh sát của tôi, được lệnh kéo trở ngược lại Bravét, một thị trấn nằm giữa Chi-Phu và Svrâyriêng, vừa đóng chốt, vừa giữ an ninh cho một toán công binh chiến đấu làm cầu. Đây là một cây cầu nhỏ nhưng rất quan trọng về mặt chiến lược đã bị quân lính của Si-Ha-Núc phá sập khi họ rút lui về Nam Vang. . .

         Buổi chiều, tôi dẫn các Trung đội trưởng đi tìm chỗ đóng quân. Đến cây cầu đang xây, tôi nói với Đại đội phó Xuyên:
         – Cái thằng Trưởng toán công binh này, giờ này không đến nhận lệnh đóng quân là làm sao? Chúng nó làm gì mà túm quanh căn nhà sàn kia thế? Thôi ta vào đấy xem sao ?

         Vừa thấy chúng tôi đến. Toán người đứng xung quanh nhà sàn bỗng bỏ chạy. Biết có việc gì không ổn, toán sĩ quan đi theo tôi chạy đến. Tôi vừa bước lên chân cầu thang đã nghe thấy tiếng quát của Xuyên:

         – Sĩ quan mà khốn nạn vậy à ?

         Trước mặt tôi là một người con gái Miên thân thể lõa lồ, nằm tênh hênh, bất động giữa sàn nhà, một toán 5, 6 người lính đang lui cui mặc đồ. Tôi hoa mắt lên vì giận, khẩu súng colt 45 run run chĩa vào một người, có lẽ là sĩ quan đang nghênh ngang đứng trước Xuyên:

         – Ông cấp bậc gì?

         – Chuẩn úy!

         – Mấy người hiếp dâm người phụ nữ này? 

         – Bẩy người.

         – Tại sao ông làm cái việc vô lại này? 

         – Xa vợ lâu ngày, kẹt quá ông ơi!

         Bỗng tôi nghe thấy người phụ nữ rên:

         – “ Miên tê! Miên tê” ( Trời ơi, trời ơi).

         Cô cong người lên, thở hắt ra, hai bàn chân rung rung, rồi xụi lơ. Hành động cuối cùng của một sinh vật trước khi lìa đời. Cơn giận như một nồi áp suất quá tải, bật tung, tôi nã luôn hai phát vào đôi chân đang giạng ra như thách thức của viên sĩ quan, mà ngay chiều hôm ấy, tôi biết anh ta là em của một ông Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng của một Cục… ( Ng Van Chức, cục công binh ?? )


         5.

         Phúc hữu trùng lai!

         Sáu tháng sau, tôi dời Đại đội trinh sát để sang Tiểu đoàn 2, người ta bảo, đi kèm với một sự may mắn thường là một tai nạn. . . .
         Hai viên đạn súng colt hôm ấy, có một viên trúng bắp vế của viên sĩ quan nọ, và viên đạn này đã đưa tôi đến cái ngưỡng cửa của Quân lao Gò Vấp. Tôi sẽ phải về trình diện phòng dự thẩm 1 ở bến Bạch Đằng, nơi có một ông Đại tá tên X. chẳng tha một ai khi phải trình diện ông ta…

        Đại tá Lều Thọ Cường bắt tay tôi như bắt tay một thuộc cấp lần chót. Tôi leo lên trực thăng, rồi nhìn xuống bến phà Neak-Luông. Nơi đóng quân của đơn vị tôi, nước sông cuồn cuộn đục ngầu, phẫn nô.. . . Bỗng lòng tôi chùng hẳn xuống. Tại sao cuộc đời lại có thể bất công thế nhỉ??… Tôi vừa xuống máy bay tại sân bay Trảng Lớn, thì gặp máy bay của Trung tướng Đỗ Cao Trí cùng sĩ quan tham mưu của ông cũng vừa đáp xuống. Tôi đang tính né qua cái hunger để tránh mặt ông thì có một Đại tá cầm tấm bản đồ vẫy tôi:

         – Đại úy, đến trình diện Trung tướng.

Tướng Trí hỏi tôi:

         – Cậu đi phép hả ?

         Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã móc quyển sổ tay ra. 

         Nhưng tôi vội nói:

         – Trình Trung tướng, tôi không về phép.

         Tướng Trí tròn mắt:

         – Dù hả, oai nhỉ, dù bằng máy bay cơ à?

         Giọng tôi bi ai:

         – Trình Trung tướng lần này tôi về Sài Gòn để ra Tòa án binh!

         – A! Cái vụ cậu nện cái thằng sĩ quan hiếp dâm chứ gì. Sao không bắn què cả hai chân nó luôn cho rồi? Quân đoàn đã có văn thư gửi Nha quân pháp về vụ này rồi! Khỏi, khỏi, cho cậu về thăm cha mẹ, thăm bồ bịch 48 tiếng rồi trở lại mặt trận giết giặc cho tốt.

         Không để tôi cám ơn, ông bỏ đi ngay.

         Tôi đứng như trời trồng, giữa trùng vây của bụi, khói và nóng, thế mà người tôi mát lạnh, nhẹ tênh, tôi có cảm giác như đang đi vào cổng nhà Hương.

         Có giàn hoa thiên lý ngan ngát.

         Có nếp nhăn áo lụa vàng dậy muộn.

         Có hương bồ kết thoang thoảng quyện theo bước chân chim…


         6.

         Người đi, đi mãi…

         Một tháng sau, Tiểu đoàn tôi đang hành quân tại Kăm Pông Trapeck, vùng biên giới phía Đông Nam căn cứ Thiện Ngôn, trên một ngọn đồi trọc, một người lính hiệu thính viên chỉ về phía Trảng Lớn la to:

          – Một em gẫy cánh rồi!

         Tôi ngoảnh lại, một khối đỏ như một quả cầu, đang ôm một chiếc trực thăng xoay vòng vòng rồi đâm nhào xuống đất.
Ngay tối hôm ấy, tôi được biết chiếc máy bay ấy đã chở cố Đại tướng Đỗ Cao Trí về miền đất không bao giờ có tiếng súng trận nữa.        
         Tôi bước ra ngoài lều vải, chòm sao Hiệp sĩ đêm nay có cái đầu bị mây đen che khuất, có thanh gươm mờ nhạt, nhấp nháy như muốn khóc.

NGUYỄN TRỌNG HOÀN
 



Nguyễn Thi Hàm Anh : Thăm Bà Cả Đọi

Thăm Bà Cả Đọi
Sunday, December 27, 2009 
medium_A-1-BaCa.jpg

Bà Cả trước một quán cơm mang thương hiệu “Bà Cả” do con cháu điều hành. (Hình: Hàm Anh/Người Việt)

medium_VN-BaCa-01.jpg

Bà Cả năm nay đã ở tuổi 81. (Hình: Hàm Anh/Người Việt)

medium_VN-BaCa-02.jpg

Chiếc cầu thang xi măng cũ kỹ lên căn gác Nguyễn Huệ một thời là điểm tụ tập của các nhà báo trước năm 1975. (Hình: Hàm Anh/Người Việt)

medium_VN-BaCa-03.jpg

Quán Bà Cả ở số 42 Trương Ðịnh, quận 1, Sài Gòn, với thương hiệu Ðồng Nhân. (Hình: Hàm Anh/Người Việt)

medium_VN-BaCa-04.jpg

Vài món quen thuộc ở quán Bà Cả. (Hình: Hàm Anh/Người Việt)

Nguyễn Thị Hàm Anh/Người Việt

Chúng tôi từng đến quán Bà Cả Ðọi cách đây tám năm, nay quay lại căn gác đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn thăm bà. Khung cảnh vẫn y như cũ, nhà cửa không thay đổi, không xây cất sửa sang mới, chỉ có con hẻm nhỏ coi có vẻ còn chật chội hơn trước vì xe đậu quá nhiều.

Xe gắn máy đậu mấy lớp vì ngay đầu hẻm là một hàng cơm bình dân, cuối hẻm một hàng cơm tấm và xe bún mắm đậu khoảng giữa.

Bắt đầu khởi nghiệp từ bà Cả, xem chừng cái ngõ này có duyên nghiệp với hàng cơm, vì sau khi bà Cả đóng cửa hàng của mình thì hai hàng cơm khác mọc ra ngay và thực khách không nề hà chỗ ngồi chỉ là những chiếc bàn thấp bé kê dọc theo một bên hẻm, phía bên kia dựng xe san sát cùng với xô chậu, nồi niêu xoong chảo… Hàng cơm bình dân với thịt kho, rau xào… Hàng cơm tấm với bì, chả, trứng… mùi thức ăn xào nấu thơm lừng.

Nhà bà Cả tít cuối cùng hẻm lại phải leo một cầu thang xi măng để lên nhà. Giữa trưa nắng gay gắt, bà đang ngủ, tôi không muốn phá giấc ngủ của bà cụ tám mươi mốt tuổi nên hẹn chiều quay lại.

Mặc dù tuổi tác khiến quên nhiều, lẫn nhiều nhưng khuôn mặt, hình dáng bà Cả vẫn thế.

Giờ không còn bận rộn túi bụi như xưa, việc làm ăn ngày càng phát đạt nhưng bà Cả thanh nhàn không xênh xang áo gấm, áo thêu xanh đỏ kiểu cọ. Tám năm qua, cũng như mấy chục năm trước, tôi vẫn gặp lại hình ảnh bà nền nã, giản dị trong chiếc quần đen, áo bà ba, hoàn toàn không chút thay đổi trừ mái tóc cắt ngắn bạc phơ hơn. Vẫn vóc người đậm đà, nguyên vẹn gương mặt phúc hậu thường xuyên đậu nụ cười rất dễ mến.

Sài Gòn thiếu gì hàng cơm bình dân, chắc chắn một phần lý do khiến nhiều người thích lui tới hàng bà Cả chính vì vẻ tươi tắn, đôn hậu, chính vì lối trò chuyện từ tốn, chân thật của bà chủ quán, hoàn toàn không giống như tính cách của bà chủ hàng cơm mà các tiểu thuyết ưa mô tả là lanh lẹn và đanh đá.

Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt không khỏi mỉm cười khi câu chuyện nhắc tới quán cơm bà Cả Ðọi ngày nào:

– Ðám nhà báo không hiểu sao rất thích bà Cả. Tòa soạn báo Sống nằm trên đường Lê Thánh Tôn, trưa nào Chu Tử cũng kéo anh em đến đó ăn cơm.

Nhà thơ nghĩ một lúc rồi xòe tay đếm.

– Có Anh Quân, Tú Kếu, Nguyễn Thụy Long, Trần Tuấn Kiệt…

Ông tỏ vẻ ngạc nhiên.

– Cái quán thì nhỏ xíu, có mỗi một gian phòng, tới giờ nghỉ trưa ai cũng ùa đến, ngồi chen chúc đụng cả vào nhau ồn ào.

Quả vậy, gian phòng không rộng lắm, khi đông quá, khách phải leo bậc thang gỗ ở gian trong để lên ngồi trên lầu. Hẳn là sự đông đúc náo nhiệt cũng là một yếu tố thu hút khách và giới làm báo có thói quen đến đấy tụ tập, một số chọn như là chỗ đóng đô nên chắc chắn cứ tạt qua gặp mặt đủ cả. Quán cơm bà Cả Ðọi là chỗ họp mặt văn nghệ như La Pagode, như Thanh Thế…

Bà Cả tỏ vẻ vui thích khi kể:

– Cậu Trường Kỳ lần nào về Saigon cũng ghé tôi chơi, có cả cậu Jo Marcel, cậu Tùng Giang…

Bà hay nhắc tới tên Trường Kỳ vì ngày xưa chính anh là người đã bỡn cợt gọi quán cơm của bà là quán “Bà Cả Ðọi.” Cứ khi cạn túi, hết tiền thì ghé đấy ăn bữa cơm vừa rẻ, vừa ngon vừa no. Giới văn nghệ có cảm tình đặc biệt, quán được nhắc đến đây đó trên báo luôn tới nỗi về sau thành chết tên.

“Cả” chứ không phải “Hai”

Thật ra quán cơm không sang trọng nhưng vẫn có những đặc điểm riêng biệt. Bà Cả tên thật là Túc, vốn gốc làng Ðồng Nhân, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Bà vào Nam từ lâu, khoảng 1948, lấy chồng người cùng quê. Thoạt tiên hai vợ chồng mưu sinh bằng cách mở kiosque bán nước giải khát: bia chai, nước ngọt… cho nhân viên, thợ thuyền khu vực Chợ Cũ, Sài Gòn.

Khách đến uống nước thì hỏi ăn, thế là nhân thể bà nấu phở. Rồi theo nhu cầu của khách hàng, từ phở, bà mở thêm hàng cơm. Chẳng bao lâu, khách mau chóng kéo đến càng lúc càng đông đúc ngồi tràn ra làm mất trật tự vỉa hè, chính quyền bấy giờ thấy vậy đuổi không cho buôn bán nữa. Bà rút lui lên căn gác của người chú trong ngõ hẻm đường Nguyễn Huệ và chuyển hàng ăn uống từ vỉa hè về đó.

Khu vực Chợ Cũ dần dần phát triển, cửa hàng, công sở, văn phòng mở cửa… Lại thêm làn sóng di cư năm 54 khiến số lượng người Bắc ở Sài Gòn tăng lên đáng kể. Quán tưởng chừng không thuận lợi về mặt vị trí vì phải đi vào cuối ngõ, phải leo cầu thang mới tới được một căn phòng không rộng rãi lắm ở tận cùng thế giới đó. Té ra hàng ăn vẫn đông, ngày càng đông khách.

Tự nhận chỉ là hàng cơm bình dân nhưng những món ăn của bà Cả nấu sạch sẽ, ngon lành, không khô quèo “cơm hàng cháo chợ” như các hàng cơm bình dân khác, mà mang vẻ “cơm nhà” như được nấu bởi bàn tay hiền hậu của bà mẹ hay người vợ, bởi bàn tay của người nội trợ quen thuộc.

Bà Cả phân bua:

– Tôi chỉ nấu món ăn bình dân thôi ấy mà.

Ðúng là bữa cơm của quán bà Cả không cao lương mỹ vị, chế biến không cầu kỳ, trình bày không mỹ thuật, chén đũa cũng bình dân, chỉ là những món ăn gia đình như mâm cơm người ta vẫn thường dọn tại nhà. Thành công mà chính bà không ngờ lại nằm ở chỗ ấy khi người thực khách không có điều kiện ăn cơm nhà, lại có thể thưởng thức một bữa cơm nhà ngay tại quán.

Ðặc biệt, người miền Bắc tha hương trên bước đường lưu lạc tới một vùng đất mới với phong tục, khí hậu, thổ nhưỡng mới, đã tìm thấy nơi quán ăn nhỏ bé của bà Cả một chút phong vị quê hương. Không phải món Nam mà là món Bắc, nêm nếm đúng khẩu vị Bắc không lai tạp, giọng nói Bắc, tính cách Bắc. Một khoảnh quê hương xa lìa đã được bà Cả vô tình tái hiện trong quán ăn của bà làm ấm lòng người xa xứ. Ở miền Nam quanh năm nắng nóng, chỉ trong bữa cơm chốc lát, họ cảm thấy an ủi khi bắt gặp lại một mảnh sinh hoạt gần gũi thân thương tưởng chừng đã mất hẳn. Tên gọi Quán bà Cả chứ không phải bà Hai, bà Bảy, bà UÔt… càng mang đặc tính “Bắc Kỳ.”

Người của lịch sử văn hóa Sài Gòn?

Tôi nhìn quanh căn gác Nguyễn Huệ, nhà kiểu Pháp cũ, không sửa sang gì nhiều, vẫn chiếc cầu thang gỗ nâu nằm trong ký ức giới văn nghệ, và hỏi bà Cả:

– Bà có mời khách dùng cơm ở đây không?

Bà lắc đầu:

– Không, bây giờ chỗ này chỉ để ở thôi, tôi mời các cậu ấy ra ngoài quán.

Sau 75, dù không còn cánh nhà báo lui tới nữa, một thời gian dài, quán bà Cả vẫn là địa điểm ăn trưa của giới văn phòng, tư chức… từ các cao ốc chung quanh đường Nguyễn Huệ, Hải Triều, Hàm Nghi, Hồ Tùng Mậu, Ngô Ðức Kế… Khách quen đến ăn chật phòng, như trước kia, đôi khi vẫn phải dọn thêm bàn trên gác lửng.

Sau này bà Cả mua được hai căn nhà ở đường Trương Ðịnh và Tôn Thất Thiệp, hàng cơm được dời ra hai nơi đó với bảng hiệu chính thức là quán Ðồng Nhân giao cho các con trông nom, và gần đây thêm một quán nữa do con gái út đứng làm chủ ở Thị Nghè vẫn giữ cùng một thương hiệu Cơm Bà Cả. Khách hoài cổ đi xa lâu ngày về Sài Gòn vẫn quen lối ghé lại căn gác Nguyễn Huệ cũ kỹ, dọc cầu thang xi măng đặt đầy các chậu cây xanh mướt, không còn quán cơm nhưng may mắn, vẫn còn được gặp bà chủ hiền hậu sẵn sàng ngồi chơi tiếp khách.

Lần trước tôi ghé, bà Cả còn khỏe khoắn, dù quán xá đã có con cháu trông nom nhưng mỗi buổi sáng, bà vẫn đi bộ ra quán nhặt rau. Bây giờ, bà đã yếu nhiều, chân đi chậm chạp từng bước và trí nhớ đã kém, nhớ quên lẫn lộn. Chiều chiều, trời nhạt nắng, cô cháu gái chở ra quán, bà chỉ ngồi trước cửa ngắm nghía hàng cơm vỉa hè thủa nào giờ đây là căn nhà hai gian rộng rãi, cửa hàng khang trang góc ngã tư nằm ở những con đường sầm uất giữa thành phố.

Có nhiều người chưa từng biết mặt bà Cả, chưa ăn hàng cơm Nguyễn Huệ trước kia bao giờ nhưng truyền miệng nhau, người ta vẫn tìm tới quán cơm Bà Cả Ðọi. Ða số Việt kiều về Sài Gòn đều tìm tới quán của bà. Cả khách ngoại quốc cũng vào gọi đĩa cà tím nướng, tô canh cải xanh…

Quán cơm Bà Cả bây giờ sạch sẽ khang trang, không còn là căn gác lùi sùi cho dân “đọi” tìm tới qua bữa. Dù sao giữa trung tâm thành phố, đó vẫn là quán cơm bình dân với những món ăn từ xưa đến nay không thay đổi: thịt đông, thịt lợn nấu giả cầy, đậu rán, dồi trường, rau muống xào, trứng non, trứng đúc thịt… Ðếm có tới gần ba chục món ăn bày ở quầy đặt ngay cửa ra vào. Quán Bà Cả đặc biệt không có thực đơn, khách cứ đứng ngắm nghía chọn lựa món ăn ngay đó, rồi có người bưng thức ăn đến bàn.

Chúng tôi gọi cá trê rán chấm nước mắm gừng, ốc nấu giả ba ba màu nghệ và thơm mùi tía tô, canh cua rau đay mướp mát rượi trưa nắng và một món mà khi vào các quán ăn Bắc kỳ, tôi không khi nào quên gọi là dưa chua, cà pháo chấm mắm tôm.

Dưa vàng muối chua vừa tới, cà pháo quả nhỏ, trắng nõn giòn tan chấm vào chén mắm tôm tim tím vắt chanh nổi xốp… Món ăn của quán bà Cả dù kho hay xào đều có màu vàng tươi, nhìn rất bắt mắt chứ không thâm màu như đa số các quán cơm bình dân khác.

Bà Cả đi một vòng quanh quẩn trong quán xem xét mọi thứ với vẻ hài lòng, bà ngừng trước mặt ân cần hỏi tôi có ngon miệng không.

Tôi chào bà Cả Ðọi ra về chẳng cần biết bà có thích chữ “đọi” hay không bởi vì cũng như bà Ba Bủng, bà Cả Cần… chỉ là những quán ăn nhỏ bé, bình dị nhưng một mai khi viết về lịch sử văn hóa Sài Gòn, e rằng người ta không thể quên tên!