Kỵ Binh : Mơ Được Gặp Chúa / Thư để lại của một quan tham sắp bị tử hình ở Trung Quốc

Chào  Bác giữa đêm,

Nhận meo Bác cả tháng rồi mà mãi đến nay Tèo mới phúc đáp được. Lý do chậm trể là lòng dạTèo đang cực kỳ hoang mang, trăm mối tơ vò trước “việc đạo” nhà Tèo xem ra đang có mòi “đổi mới tư duy” quy lụy “việc đời”xã hội chủ nghĩa…Tâm tư của Tèo lúc này ngẫm ra hao hao  tâm tư tổng thống thiệu, “mất đất nước là mất tất cả”, việc nhà đạo cũng đang có mòi mất luôn, Tèo buồn quá chẳng còn muồn nói năng chi, chẳng  buồn i-meo i-miếc chút nào nữa. Xin Bác lượng thứ .








con kiến đen nằm dưới cục đá đen trong một đêm trời tối đen ( Tèo xin mượn lời cố LM. Trần Thanh Ngoạn giảng ở nhà thờ chánh tòa Banmêthuột thập niên 60 của thế kỷ trước)  đâu cần lên mạng như bác cháu ta lên mạng lâu nay . May nhờ Chúa chẳng chấp nhất gì nên chỉ nhìn Tèo cười khẩy rồi phán tiếp:

 bài “Miền Bắc 20 Năm Xây Dựng XHCN” với luận điệu ca ngợi CS khiến con tức giận, nhưng chính khi bọn linh mục quốc doanh lũng đọan hàng giáo phẩm nhằm hủy bỏ chuyện Giáo Hội phong thánh cho 117 vị tử đạo VN, cha Tín đã lên tiếng bênh vực mạnh mẽ quyết định của ToàThánh hơn cả hàng giám mục..” Tất cả chỉ là cái roi như cái roi chủ nghĩa CS chính ta sinh ra để vừa trừng phạt vừa cho sáng mắt ra loài người tội lỗi u mê. Trái đất con ở đang vào giai đoạn vàng thau lẫn lộn mà thau lắm hơn vàng; Giáo Hội Công Giáo VN  lúc này lại càng cần phải thanh tẩy ưu tiên hàng đầu.



******************************************************************************

“Thư để lại” của một quan tham sắp bị tử hình ở Trung Quốc

 
Văn Cường nguyên Giám đốc Sở Tư pháp
 
 

Dương Danh Dy giới thiệu

 

Văn Cường nguyên Giám đốc Sở Tư pháp, nguyên Phó Giám đốc Sở Công an thành phố Trùng Khánh do phạm tội tham ô( nhận hối lộ hơn 12 triệu NDT, không thuyết minh được số tài sản trị giá hơn 10 triệu NDT..) hủ hóa, bao che cho bọn mafia.. đã bị toà án thành phố này tuyên án tử hình ngày 7/7/2010. Trước khi chết hắn đã để lại bức thư, xin lược dịch giới thiệu.

“Ta sống không nổi mấy ngày nữa đâu. Ta không ngờ lại bị phán tử hình, nhưng đã đến bước đó thì kháng cáo lên trên cũng chẳng có kết quả gì. Ta đây, cả cuộc đời làm công an, đã xử rất nhiều vụ án lớn, đã giết rất nhiều người, trước đây đã từng lo rằng sẽ có một ngày sẽ chết trong tay người nhà một số kẻ bị mình xử tử hình, không ngờ cuối cùng lại bị chết trong tay người của mình…Thế nhưng, ta đã nghĩ ra, những sự việc mà ta tham dự và biết được quá nhiều, nếu ta không chết sẽ có rất nhiều kẻ ăn không ngon ngủ không yên. Không giết ta, hậu hoạn lớn vô cùng, ta chết sẽ có lợi cho bọn chúng…Vì vậy có mấy câu muốn nói rõ trước khi đi xa.

 

Văn Cường (người ngồi bên trái) trả lời phỏng vấn trước giờ thi hành án tử hình hôm 7/7.

 

Nói ta tham ô bao nhiêu tiền, chơi bao nhiêu con gái. Ta không phủ nhận điều đó.Nhưng điều ta muốn nói là, điều đó đáng trách ta nhưng cũng không đáng trách ta, tất nhiên trách nhiệm của ta là lớn hơn. Bất kể là ai nếu đặt vào vị trí của ta đều sẽ tham ô nhiều như vậy, chơi gái nhiều như vậy, thậm chí còn nhiều hơn. Có một số nữ học sinh, ta không chơi thì người khác cũng sẽ chơi. Nói Văn Cường ta đây cưỡng hiếp, ta mà lại phải cưỡng hiếp à?…Ai chẳng biết cán bộ hiện nay nếu không tham ô, không háo sắc thì ai dám tin, dám trọng dụng anh? Dù anh làm việc có tốt đi nữa cũng chẳng có ích gì! Loại cán bộ giống như ta, trong cả nước nếu không nói là mấy triệu thì chí ít cũng phải tới mấy chục vạn người. Chỉ bêu xấu rồi giết một mình Văn Cường, thì giải quyết được cái gì?

 

Điều ta muốn nói nữa là, con đường ta đi từ một anh cảnh sát nhỏ bé tại huyện Ba rồi lên tới chức Phó Giám đốc Sở Công an một thành phố trực thuộc trung ương, không phải là chỉ bằng con đường tham ô… Đối với ta trước tiên là công việc sau mới đến tham ô… Ai cho ta cái quyền muốn làm gì thì làm ở Trùng Khánh? Nhiều người biết rõ một số việc ta đã làm nhưng lại giả bộ là không biết? Đã không muốn để ta sống thì ta sẽ nói hết mọi điều ra: ta tham không chỉ có số tiền đến thế! Vậy số còn lại đi đâu? Tất nhiên là đến nhà người ta, có việc ta nhờ người làm, có một số việc tự ta làm. Nhờ người khác làm không có tiền có được không? Những người lấy tiền của ta cũng như những người đưa tiền cho ta hiện nay đang hướng dẫn quần chúng tham quan những trưng bầy chứng tích tham ô của ta. Ta không phủ nhận tính chân thực của các chứng tích đó, nhưng nếu các người tới nhà những kẻ đó xem xét sẽ thấy chút quà bẩn thỉu mà ta nhận thật đáng thương.

 

Văn Cường ta cũng là người có học… Trước đây ở Trung Quốc, đã có rất nhiều người vỗ tay khen ngợi việc chặt đầu bọn tham nhũng. Thế nhưng sau những cái vỗ tay khoái chí đó mọi việc vẫn như cũ. Mấy trăm năm qua Trung Quốc có thay đổi không? Ta thấy chẳng thay đổi gì cả. Giết ta chẳng qua là bịt được mồm một mình ta, nhưng liệu có bịt được nguồn gốc hủ bại không? Hôm qua trên đường phố Trùng Khánh có rất nhiều người đốt pháo. Ta không biết ba năm sau liệu bọn họ lại có phải đốt pháo nữa hay không? Sợ rằng đến lúc đó những người đã bán đứng ta sẽ lại ca ngợi ta và dân chúng không rõ chân tướng lúc này sẽ thấy Văn Cường cũng có chỗ tốt đấy chứ. Khi ta làm Phó Giám đốc công an Trùng Khánh tỷ lệ phạm tội có cao nhưng so với mấy thành phố lớn khác, Trùng Khánh tốt hơn nhiều…

 

… Biến ta thành người như thế này là do chính xã hội, chính chế độ này. Ta nói như vậy không phải là muốn đẩy hết trách nhiệm cho người khác. Nếu như năm đó ta không rời huyện Ba, yên tâm làm một anh cảnh sát bình thường ở đó thì hôm nay ta không phải như thế này.Tham công danh lợi lộc là sai lầm lớn nhất đời ta. Sau khi ta chết con cháu không lấy họ Văn nữa mà đổi thành họ khác, và con cháu các đời từ nay trở đi đừng theo nghiệp chính quyền, đừng làm quan, hãy xa lánh công danh lợi lộc.

 

Bình thường, bình yên mới là phúc.”

 




The photo Việt Cộng firing Colonel Ho Ngoc Can

The photo Việt Cộng firing Colonel Ho Ngoc Can

If the picture is US in the western press release as they have released the name of Communist General Loan shooting in which the story or to make a lot of controversy.

Please read widely.
Thank you.
sk 

 
Ho Ngoc was Colonel MILITARY HERO OF THE REPUBLIC OF VIETNAM.

Colonel Ho Ngoc Can

image

"In the name of patriotism, in the name of the ideal of social justice … a patriotic Vietnam went shooting another man in love Vietnam, but said that he fought for Vietnam Fatherland? … "

ARVN Colonel Ho Ngoc said the last words before being executed Communists:
"If I won the fight, I will not condemn all of you as you sentenced me. I do not humiliating to all of you as you humiliated me. I did not ask you questions that you ask me. I fighting for the freedom of the people. I can work without guilt. No one is my conviction. History will judge all of you as the enemy of my red puppet. brothers wanted to kill me, please kill me . Do not be blinded me.
Down with the Communists. Long live the Republic of Vietnam. "

 Tấm hình vc xử bắn ĐT Hố Ngọc Cẩn

Nếu hình này được tụi báo ở tây phương tung ra như chúng đã từng tung hình tướng Loan bắn tên cs năm nào thì chắc có nhiều chuyện hay để bàn.
Xem xong xin phổ biến rộng rãi.
Cám ơn các bạn.
sk
 
HỒ NGỌC CẨN Là ĐẠI TÁ ANH HÙNG CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA .

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

image

Nhân danh lòng yêu nước, nhân danh lý tưởng công bằng xã hội… một người yêu nước Việt Nam lại đi bắn giết một người khác cũng yêu nuớc Việt Nam, mà nói rằng mình tranh đấu cho Tổ Quốc Việt Nam?…”

Đại tá VNCH Hồ Ngọc Cẩn nói lời cuối cùng trước khi bị Cộng Sản hành hình:
"Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt. Đả đảo Cộng Sản. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm".

 




Lưu Hà : Nhà thơ Hữu Loan và di sản để lại cho con

Nhà thơ Hữu Loan và di sản để lại cho con

Sau 95 năm tồn tại nhọc nhằn nhưng rắn rỏi giữa cuộc đời, “cây gỗ vuông chành chạnh của” đất Nga Sơn đã nằm xuống, nhẹ nhàng và thanh thản, để lại cả một pho chuyện kể, thật nhưng lạ kỳ như huyền thoại, về một lão thi nhân luôn “bận làm người”.

Dưới đây là câu chuyện về tác giả Màu tím hoa sim từ những ký ức sống động của anh Nguyễn Hữu Đán – con trai nhà thơ.

Nhà thơ Hữu Loan.
Anh Đán chia sẻ, trong 6 anh em trai anh, không ai có được dung mạo đẹp như bố. Bởi vẻ đẹp của ông toát lên từ tính cách, tâm hồn phóng khoáng, thẳng thắn, cao thượng. Ảnh: st.

Sinh năm 1969, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đán là con trai thứ tám trong số 10 người con của thi nhân. Tuy sinh sau đẻ muộn, nhưng trong trí nhớ của anh, tuổi thơ khốn khó và hình ảnh người cha lầm lụi kiếm gạo nuôi con vẫn là những ám ảnh khôn nguôi.

Anh Đán kể: “Thời đó, nhà nào cũng khổ, nhưng bố mẹ tôi rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo hơn, vì gia đình sống ngoài hợp tác, hầu không có tem phiếu, gạo thịt”. 10 đứa con của vợ chồng thi nhân lần hồi lớn lên bằng những chuyến xe kĩu kịt đá của bố và những mớ bánh chui nhủi của mẹ – bà Phạm Thị Nhu. Chính sách hồi đó cấm nghiêm ngặt việc chế biến, buôn bán, giết mổ. Để có mỡ làm bánh, gia đình nhà thơ từng phải nuôi chui một con lợn trong chuồng kín. Lúc giết thịt, để ngăn tiếng kêu của con vật, ông phải trộn tro và ớt đổ cho lợn bị sặc, rồi cho vào bao tải, ngâm xuống ao cho đến lúc chết hẳn rồi mới giết. Làm ra mớ bánh, gánh bún là bao nhiêu nhọc nhằn, lam lũ của hai vợ chồng nhưng không phải lúc nào gánh quà của bà Nhu cũng đông buổi chợ.

“Những hôm phòng thuế bắt chợ, cũng như người ta, gánh bún của mẹ tôi bị hắt xuống hào. Thương con, xót của, mẹ tôi lội xuống, bốc về. Bố tôi đãi nước cho hết cát để cả nhà ăn trừ bữa. Nhà đông miệng ăn, gạo thường phải trộn thêm rau, nấu thành cháo, ưu tiên chia phần theo thứ tự từ đứa bé đến đứa lớn. Nhà tôi giờ vẫn còn giai thoại về những người anh húp cháo nóng rất nhanh”, kể đến đây, anh Đán miệng cười, nhưng mũi ửng đỏ, đôi mắt, sau cặp kính trắng, dường như không dám chớp mi. Người đối diện, chỉ còn cách cũng vờ nhìn quanh quất, để giúp anh ngăn dòng nước mắt, bước qua một trong muôn vàn đoạn ký ức khó nhọc chưa chịu phai mờ.

10 đứa con đã lần lượt lớn lên, tưởng như trời sinh voi, hẳn phải sinh cỏ. Nhưng theo anh Đán, anh chị em anh đã thành người bởi họ có một người cha kiên cường và một người mẹ biết chắt chiu, tần tảo. Thi sĩ Nga Sơn, ban ngày mòn vai, chai chân thồ đá, ban đêm còn vác te vó, xiếc tép nuôi con. Đất nhiều, vườn rộng, ông chịu khó trồng rau, trồng sắn, để tháng ba ngày tám, phòng lúc đói có sẵn cái để đào lên cho các con ăn.

Vợ chồng nhà thơ Hữu Loan.
Vợ chồng nhà thơ Hữu Loan. Ảnh: st.

Ngoài sự thiếu thốn, cực nhọc về vật chất, nhà thơ Hữu Loan, theo con trai ông, còn phải chịu đựng nỗi khổ về tinh thần, trước sự nhiếc móc của họ hàng vì cách sống thẳng thắn và khẳng khái của ông. Tuy vậy, anh Đán khẳng định, 10 anh em anh chưa từng trách móc, hờn giận bố về lựa chọn của ông. Ngược lại, họ tự hào vì trong mỗi đứa con, dù ít dù nhiều đều thừa hưởng sự tài hoa và tính cách trung thực, thẳng thắn để trưởng thành.

Nghèo khổ, vất vả nhưng con cái của nhà thơ Hữu Loan đều có tư chất và năng lực. Sự đỗ đạt của những đứa con là niềm hạnh phúc của mọi bậc cha mẹ, nhưng với riêng nhà thơ Hữu Loan, mỗi lần con đỗ đạt là một lần ông nhọc lòng, day dứt. Khi con trai cả của nhà thơ – anh Nguyễn Hữu Cương – đủ điểm đi học ở Liên Xô nhưng không nhận được giấy báo, nhà thơ đành bất lực để con bỏ dở đường học hành, đi làm thợ. Đứa con gái thứ hai đỗ Sư phạm, cũng không nhận được giấy báo. Lần này, thương con, ông quyết tìm ra ngọn ngành. Nhà thơ lên Ty giáo dục huyện, huyện bảo xuống xã. Về xã, xã bảo lên huyện. Năm lần bảy lượt như thế. Cuối cùng ông xông thẳng vào Ty giáo dục huyện tìm bằng được giấy báo cho con. Nay con gái thứ hai của nhà thơ là giáo viên dạy học ở quê.

Trong số 10 người con của Hữu Loan, anh Nguyễn Hữu Đán là người thành đạt nhất. Tốt nghiệp PTTH, anh ở nhà mở xưởng cơ khí đỡ đần bố mẹ và các anh em. Sau 5 năm làm thợ, anh ôn thi và đỗ vào trường kiến trúc. Bây giờ, anh đã có cả một cơ ngơi và là chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần bảo tồn di sản văn hóa kiến trúc Việt.

Khi đã có điều kiện, anh muốn làm mua sắm mọi thứ, để bù đắp cho cả cuộc đời thiếu thốn của bố mẹ. Nhưng những con người đã quen dành dụm, chắt chiu, đã quen khổ cực dường như vẫn không muốn thay đổi nếp sống của mình. “Bố tôi vẫn vậy, ăn uống rất thanh cảnh. Ông hầu như không ăn thịt, chỉ ăn ít cá và rất thích rau, dưa, hay chuối xanh chấm mắm tôm. Mẹ tôi đến giờ vẫn cặm cụi giữ từng chiếc đũa sờn, vá từng chiếc thúng rách”, anh Đán kể.

Anh Nguyễn Hữu Đán trong một chuyến công tác ở Campuchia. Ảnh nhân vật cung cấp.
Anh Nguyễn Hữu Đán trong một chuyến công tác ở Campuchia. Ảnh nhân vật cung cấp.

Theo đuổi công tác bảo tồn di sản, anh Đán ý thức rất rõ, nhiệm vụ lớn nhất của anh là bảo tồn di sản của bố mình. Hiện tại, anh đã sưu tầm được một số bản thảo, gồm câu đối, thơ, trường ca và thơ dịch. Anh dự định xuất bản một tuyển tập, viết hồi ký về bố và xây một nhà lưu niệm nhỏ về nhà thơ tại chính nơi ông đã gắn bó gần như cả cuộc đời mình.

Trở lại với cái chết của nhà thơ, anh Nguyễn Hữu Đán cho biết, thi nhân ra đi rất thanh thản. Trước đó vài hôm, ông còn âu yếm đùa vui với người vợ hồn hậu. “Vài ngày trước khi mất, bố gọi mẹ vào ngồi cạnh giường. Mẹ tôi lóng ngóng ngồi cả vào chân bố bị khuất dưới lớp chăn. Ông trìu mến càu nhàu: ‘Sao đã sống với tôi cả 50 – 60 năm mà bà còn đè cả vào chân tôi thế này”. Khi mẹ tôi hỏi: ‘Ông có thương tôi không?’, bố tôi trả lời: ‘Tôi không thương bà thì thương ai'”, anh Đán kể.

Nhà thơ Hữu Loan gọi mình là “cây gỗ vuông chành chạnh”. Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi Hữu Loan là “Ông Từ Thức Nga Sơn”. Còn với các con của nhà thơ, ông trước hết và trên tất cả, là người chồng, người cha, đã để lại cho vợ cùng 10 người con, 37 đứa cháu không chỉ di sản thơ ca mà cả một nhân cách sống.

Lưu Hà

 

Cụ vẫn sống mãi

Chúng con kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt cụ – một nhà thơ khí phách quật cường. Đối với chúng con cụ vẫn còn sống mãi vì nhân cách cũng như thơ của cụ – nhân cách cao cả – thơ của muôn đời

  

Tiếc thương màu hoa tím!

Tiếc thương màu hoa tím/ Tiếc thương một mối tình/ Tiếc thương người nằm xuống/ Hồn đã thành phiêu linh/ Người đi Thơ còn mãi/ “Vuông chành chạnh” bên đời/ Nhân cách và tư tưởng/ Nghìn thu vẫn sáng ngời/ Một phút thôi tưởng niệm/ Để rồi nhớ suốt đời/ Màu hoa chiều xưa ấy/ Sắc tím hoài không thôi … (Mai Nguyên thế Giang – một người con xứ Thanh xin được chia buồn cùng gia đình Thi nhân!)

  

Bồi hồi với ‘Màu tím hoa sim’

Mỗi khi nghe Elvis Phương hát bài hát này lòng tôi lại bồi hồi khôn tả. Cám ơn nhà thơ Hữu Loan, xin cảm ơn về những áng thơ bất hủ. Xin mãi nhớ về Cụ.

  

Tiểu sử cuộc đời

Là người rất hâm mộ thơ ca và tiểu sử cuộc đời của nhà thơ, tôi hy vọng một ngày nào đó cuộc đời Ông sẽ được tái hiện bằng hình ảnh thông qua bộ môn nghệ thuật thứ bảy, rất mong các nhà văn, đạo diễn điện ảnh giúp ý nguyện của tôi trở thành hiện thực
Xin chân thành cám ơn.

  

‘Bận làm người’ – còn gì cao đẹp hơn thế

Tôi rất khâm phục ông, một con người có khí chất thanh tao khí khái, phẩm chất con người mà ở thời buổi này rất khó tìm thấy. Mong ông an nghỉ nơi suối vàng!

  

Xin vĩnh biệt ông

Cháu được nghe kể nhiều về cuộc đời ông, bố thường ngâm thơ ông thời chúng cháu còn nhỏ. Núi đá, hoa Sim, làng Vân Hoàn là những ký ức tuổi thơ của chị em cháu những mùa hè quê nội. Cháu không thể nén nổi nước mắt mỗi khi đọc thơ ông và hiếm khi cháu đọc được hết cả bài Màu Tím Hoa Sim cùng một lúc. Xin vĩnh biệt ông… mong ông nơi suối vàng được yên nghỉ, mong cuộc sống nơi thế giới bên kia của ông được yên bình và siêu thoát. 
Cháu Nguyễn Thị Việt Nga

  

Xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình bác

Xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình bác !Xin thắp một nén nhang lên mộ bác, mong linh hồn bác được siêu thoát. Em một người bạn học cũ phòng bên trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc họa Trung ương.

( trần trung phan quynh hoa )

 

  

Thân cây vuông, hoa tím, quả ngọt, bóng mát

Sim Hữu Loan: Là một loài sim, thân cây vuông, hoa tím, qủa ngọt, rễ sâu tận nguồn dân tộc. Có thể sống khỏe xanh tươi trên những nơi khắc nghiệt nhất của Việt Nam. Thời đại may mắn còn có vài người như cụ, con cháu sau này tìm hiểu về Văn học Việt Nam đỡ tủi thân hơn. Ngheblog.

  

Giọt nước mắt tiễn đưa cụ

Tôi đã bao lần muốn đến gặp cụ tại nhà riêng ở Nga Sơn, nhưng rồi bận bịu mà vẫn chưa thực hiện đươc. Mỗi lần đọc bài “Mùa tím hoa sim” tôi đều ngấn lệ, vì cảm nhận được nỗi đau của nhà thơ Hữu Loan, nỗi mất mát do chiến tranh đem lại, tâm hồn tan nát của nhà thơ và sự tài năng hiếm có dùng thơ để diễn tả nỗi đau mất mát. Hôm nghe tin cụ mất tôi thực sự đau buồn vì mình đã không thực hiện được ước vọng. Kính cẩn nghiêng mình trước một tâm hồn cao thượng, một tài năng xuất chúng, một con người bất khuất không bị khuất phục bởi thế lực, bởi sự ngu dốt và ấu trĩ, không bị khuất phục vì hoàn cảnh. Vĩnh biệt nhà thơ Hữu Loan, những câu thơ của cụ còn mãi trường tồn khi con người còn nỗi đau.

  

Kính tiễn Nhà thơ của quê hương tôi

Xin cho tôi đươc thành kính thắp nén hương thơm cho nhà thơ, một tấm lòng thành kính tiễn biệt cụ, một người con của quê hương Nga Sơn thân yêu của tôi. Cảm ơn ông đã mang lại cho nền văn học nưóc nhà một bài thơ hay, đi vào lòng biết bao nguời yêu thơ. Tác động mạnh mẽ đến tình yêu của tôi dành cho Thơ ca và Văn học Nghệ thuật. Thành Kính Phân Ưu Tiễn Ông Đi!

  

Một thi nhân của đất Việt đã ra đi

Những đồi sim… những đồi sim… chiều tím hoa sim… chiều tím hoa sim… Tím cả chiều hoang biền biệt… Ôi những câu thơ lãng mạn mà u uất… Cụ ra đi nhưng hồn thơ của cụ mãi mãi trường tồn. Một nén nhang xin tiển đưa cụ an nghỉ nơi chốn vĩnh hằng. Kính.

  

Ngàn thu vĩnh biệt

Người đã ra đi nhưng kho tàng của cụ vẫn còn đó! Con cháu dòng họ Nguyễn Hữu ngàn thu lưu truyền thơ của ông!

  

Kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt cụ

Xin cho cháu được tỏ tấm lòng thành kính tiễn biệt cụ. Qua các câu chuyện về cụ, về Nhân văn giai phẩm, cháu rất kính trọng và kính phục cụ ở nhân cách sống, thẳng thắn, khẳng khái. Sống hết mình vì lý tưởng, lối sống mình đã chọn, không chịu sự tác động của bất kỳ thế lực nào, không chịu sự tác động của tiền bạc mà bán rẻ mình.

  

Thắp một nén nhang

Xin thắp một nén nhang chia buồn vì sự ra đi của ông, một “nhà thơ lớn”. Vĩnh biệt ông!

  

Mãi một màu tím

Xin gửi lời chia buồn cùng 10 người con và 37 người cháu của nhà thơ.
Cuộc đời là vậy có sinh, có tử nhưng đối với nhà thơ Hữa Loan về thể xác đã ra đi nhưng tâm hồn của thi sĩ còn lắng đọng mãi trong lòng mọi người.

  

Một nén nhang cho nhà thơ “Màu tím hoa sim”

Xin một nén nhang thắp cho thi sĩ! Cám ơn ông đã để lại những dòng thơ lãng mạn lay động tâm hồn bao nhiêu thế hệ! Biết được cuộc sống thanh bạch, đầy nghị lực của ông, càng thấy được một nhân cách lớn, một tâm hồn Việt Nam. Xin vĩnh biệt ông!

  

Thể xác ra đi nhưng tâm hồn luôn còn mãi!

Tạm biệt nhà thơ! Một cách từ giã cõi trần nhẹ nhàng như những vần thơ của tác giả. Nhà thơ ra đi nhưng hồn thơ vẫn mãi còn trong lòng bạn đọc! “…Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết. Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo sách vai tôi hát trong màu hoa. “Áo anh sút chỉ đường tà Vợ anh mất sớm Mẹ già chưa khâu …”

  

Thành kính tiễn đưa lão thi sĩ

Xin thành kính tiễn đưa lão thi sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng! Di sản lớn lao của ông vẫn trường tồn trên trần thế, đặc biệt là đối với giới mộ điệu thi ca! Xin chia buồn cùng gia quyến! TTT

  

Màu tím hoa sim vẫn còn mãi với thời gian

Vĩnh biệt nhà thơ, nhưng tôi tin Màu tím hoa sim và các tác phẩm khác của ông sẽ sống mãi, trường tồn mãi với thời gian.

  

Xin kính cẩn nghiêng mình!

Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh tác giả của bài thơ MÀU TÍM HOA SIM!


Những vần thơ bất tử của Ông luôn luôn lắng đọng mãi trong tâm hồn những thế sau của chúng tôi!

  





Tóm lược Lịch sử Nghĩa Trang Quân Ðội tại Biên Hòa (Giao Chỉ)

Tóm lược
Lịch sử Nghĩa Trang Quân Ðội tại Biên Hòa
 
Giao Chỉ – San Jose
I- Trước năm 1975      

                 
1) Hiệp định Geneve: Năm 1954, Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, quân dân miền Nam tái tổ chức chính phủ và quân đội, xây dựng hai nền Cộng hòa trong 21 năm.
2) Chiến Tranh Nam Bắc: Năm 1960, Cộng sản miền Bắc thành lập ‘Mặt trận giải phóng miền Nam’, khởi sự cuộc chiến tranh nổi dậy.Bắt đầu du kích chiến rồi tiến tới tổng tấn công bằng toàn thể binh đội từ miền Bắc với sự yểm trợ tối đa về quân dụng vũ khí của Nga sô và Trung cộng. Miền Nam được sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ và một số các nước trong thế giới tự do để chống lại cuộc xâm lăng.
3) Hiệp định Paris: Năm 1973, Hiệp định đình chiến Paris, Mỹ rút quân về.Tháng 4 năm 1975 miền Bắc tổng tấn công và chiếm đóng miền Nam.
4) Chung sự vụ: Trong gần 20 năm chiến tranh, các tử sĩ miền Nam được chôn cất tại các nghĩa trang tiểu khu. Tại Saigon, và vùng phụ cận sử dụng nghĩa trang quân đội tại Gò vấp và một phần nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi tại Saigon.
5) Thành lập Nghĩa trang Biên Hòa. Kể từ năm 1965, chiến tranh ngày càng gia tăng, Bộ Tổng tham mưu QLVNCH quyết định thành lập Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa. Khu đất rộng 125 mẫu, bên cạnh xa lộ Biên Hòa, được Công binh khởi công thiết lập và do Quân nhu quản trị. Sau này dự trù thành Nghĩa trang quốc gia Việt Nam.
6) Xây dựng: Nghĩa trang đủ chỗ cho 30,000 ngôi mộ với đường xá, đồi nhân tạo theo hình con ong. Mũi kim con Ong có bức tượng Thương Tiếc, dẫn vào cổng Tam Quan, đến đền Tử Sĩ. Phía sau là Nghĩa dũng Ðài với Tháp mũi kiếm giữa Vành khăn tang.
7) Mai táng: Cho đến tháng 4 năm 1975, nghĩa trang này đã chôn cất 16 ngàn tử sĩ.Ða số chiến sĩ hy sinh thuộc các đơn vị Tổng trừ bị, Không quân, Hải quân, Quân đoàn III, Biệt khu thủ đô, Tiểu khu Gia Ðịnh. Phần lớn tổn thất nhiều trong các chiến dịch Mậu thân 68, mùa hè 72, hành quân vượt biên Cam bốt và Lào.
8) Ngày Quân Lực 75: Nếu không có ngày đau thương 30 tháng 4 năm 1975, thì Bộ Tổng tham mưu dự trù sẽ hoàn tất toàn bộ xây cất tại nghĩa trang và khánh thành vào ngày 19 tháng 6 năm 1975, là ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.Nhưng việc này không thực hiện được.

 
II- Sau năm 1975   
                                                                      
1) Tháng 4 năm 1975: Cộngsản kéo tượng Thương Tiếc đem đi mất. Hiện chưa tìm được dấu vết. Chúng phá phách các ngôi mộ làm hư hại các mộ bia. Các đơn vị và cả dân chúng tháo gỡ các bệ ciment trên phần mộ.
2) Chiếm đóng: Ðất chung quanh và hai bên đường xa lộ bị chiếm đóng làm nhà, lò gạch, thiết lập các cơ xưởng tiểu công nghệ.Bộ đội và dân chúng chiếm các vùng đất trống phía Nam nghĩa trang, lấn sát vào các khu đã chôn cất.
3) Doanh trại: Một đơn vị huấn luyện của Cộng sản chiếm đóng doanh trại của Liên đội chung sự ở phía Bắc và lấn chiếm các phần đất sát vào khu có mộ phần.
4) Nhà máy nước: Nhà máy nước Bình An chiếm cứ một khu đất rộng lớn ngay chính giữa nghĩa trang, chắn ngang đường từ Ðền Tử sĩ vào Nghĩa dũng Ðài.
5) Xây tường: Ðể ngăn cản dân chúng và các đơn vị lấn chiếm thêm vào khu vực có chôn cất tử sĩ miền Nam, Cộng sản cho xây một bức tường vòng theo con đường phía Nam và có chừa một lối đi cho thân nhân vào thăm mộ.
6) Khu quân sự: Vì có doanh trại của bộ đội Cộng sản và đơn vị này được giao quản trị khu đất nghĩa trang làm chỗ huấn luyện nên toàn vùng trở thành khu quân sư. Cấm quay phim, chụp hình. Tuy nhiên thân nhân vẫn có thể vào tìm mộ thăm viếng. Nhiều gia đình vượt biên đã lên thăm trước khi ra đi. Sau này các cựu quân nhân ra đi theo diện HO có lên từ biệt tại nghĩa trang. Hầu hết từ trong nước đến hải ngoại, nếu không có liên hệ, đều không biết là nghĩa trang vẫn còn đó dù điêu tàn hoang phế.
           Trên đây là tình trạng chúng tôi ghi nhận được vào năm 1993.
7) Sưu tầm tài liệu: Vì nhu cầu muốn làm một mô hình Nghĩa trang quân đội cho Viện Bảo Tàng tại San Jose, cơ quan IRCC đi sưu tầm tài liệu và bắt đầu tìm hiểu hiện trạng Nghĩa trang Biên hòa từ năm 1993 đến năm 1997. Nhiều lần gởi người về thăm viếng, tảo mộ chui dưới hình thức thân nhân thăm mộ. Về sau thấy cần phải làm nhiều hơn và có tổ chức dù rằng vẫn dưới hình thức gia đình.
8) Tảo mộ: Từ năm 1997, bắt đầu tổ chức các toán Thương phế binh lên tảo mộ nhiều lần mỗi năm và chia làm nhiều toán.Năm nào cũng có quay phim, chụp hình và báo cáo tổng kết. Tính đến năm 2008, công việc đã diễn tiến được 15 năm, từ hình thức nhỏ đến nỗ lực ngày một nhiều hơn.
9) Dịch vụ nghĩa trang: Ðặc biệt từ năm 2000 đến nay thì các thân nhân và hội đoàn người Việt đã biết đến việc tảo mộ nên từ bốn phương tìm về thăm viếng dọn dẹp.Tại địa phương đã có những người chuyên làm công việc chỉ đường, sẵn sàng giúp việc tảo mộ hay săn sóc phần mộ quanh năm và trở thành một thứ dịch vụ tại nghĩa trang
10) Dân sự hóa: Kể từ tháng 7 năm 2007, chính quyền Cộng sản Hà nội ra lệnh
bàn giao việc quản trị cho dân sự tại quận Dĩ an, tỉnh Bình dương. Ðơn vị bộ đội rút đi. Khu vực doanh trại được sửa chữa dùng làm trường dạy kỹ thuật. Một bức tường ở phía Bắc được xây thêm để ngăn cách khu trường học với nghĩa trang. Các tấm bảng Cấm chụp hình được gỡ đi.Nghĩa trang này được chính quyền địaphương gọi là Nghĩa trang nhân dân xã Bình an. Sau khi các gia đình cải táng, vẫn còn lại trên 10 ngàn ngôi mộ. Từ 33 năm qua không có ai chôn cất thêm, và hiện nay cũng không có một quy chế rõ ràng về việc bảo toàn hay cho phép ai được chôn cất.

 
III- Ghi chú đặc biệt
1) Xây tường :  Có thể hiểu rằng hai bức tường do chính quyền Cộng sản xây tại phía Nam nghĩa trang vào năm 1990, và mới xây ở phía Bắc năm 2007, nhằm để giữ riêng khu có mộ không bị xâm nhập thêm.Nghĩa trang trước đây có 125 mẫu, nay thu hẹp trong phạm vi có mộ phần chỉ còn 52 mẫu.
2) Phá hoại quan trọng: Ngoài việc phá hoại quan trọng nhất là bức tượng Thương Tiếc năm 1975, thì vào năm 2004, bộ đội Cộng sản đã phá hủy 10 thước chiều cao của Nghĩa dũng Ðài.Hạ thấp xuống để làm một trạm gác. Khi bộ đội rút đi, thì trạm gác này không còn nữa. Ngoài các phá hoại trên các phần mộ từ 1975 đến 1980, sau đó không có dấu vết phá hoại thêm.
3) Ðền tử sĩ: Trước đây có lính Cộng sản tạm trú, nay bỏ trống được dọn sạch nhưng rất xác xơ.Ở giữa có kê một bàn thờ để khách thăm viếng thắp hương cúng bái. Nhiều du khách về thăm quê hương đã ghé thăm chụp hình.
 
IV- Chúng tôi kêu gọi
1) Hình ảnh & tin tức: Mặc dù chúng tôi có gởi người về thăm viếng thường xuyên nhưng vẫn cần thêm các tin tức và hình ảnh.Xin quý vị viếng thăm có hình ảnh, tin tức xin vui lòng liên lạc với chúng tôi.
2) Tượng Thương Tiếc: Thưởng từ $1,000 đến $5,000 US.tùy theo giá trị tin tức dành cho ai biết rõ về bức tượng Thương Tiếc. Ðơn vị bộ đội nào đã đem bức tượng đi đâu. Nếu còn, thì cất giữ tại đâu. Cần tài liệu và hình chụp.
3) Ngọn Tháp: Thưởng đặc biệt cho ai có hình chụp lúc ngọn tháp bị phá, hoặc biết rõ về lệnh ở đâu, ai quyết định phá đi 10 thước chiều cao của ngọn Tháp Nghĩa dũng đài tại nghĩa trang Biên hòa.
4) Ðịa chỉ liên lạc: Xin gởi về địa chỉ sau đây
IRCC,Inc. 1445 Koll Cir. #110. San Jose, CA 95112
Email: irccsj@yahoo.com
Tel: (408) 971-7878



Mênh mông hận nước (Việt Dương)


Mênh mông hận nước

Việt Dương

Rước voi dầy mồ
Nước mất nhà tan.

Tục ngữ

Ngày 28 tháng chạp Âm lịch (24/1/2009), Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hóa ở Hà Nội đã đến biếu quà tết cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu tại tư gia. Nhân dịp này, ông Phiêu đã dẫn các thành viên trong đoàn đi thăm nhiều nơi trong toà nhà mới và cuối cùng đã tặng cho mỗi người một tập sách do ông tự viết về đời mình với nhan đề: "Mênh mông tình dân". Nhan đề tập sách đẹp và cuộc đời của lê Khả Phiêu cũng rất đặc biệt trong binh nghiệp và chính trị của đảng Cộng Sản.


Về binh nghiệp, ông Phiêu đã nhập bộ đội từ một lính trơn năm 1950 lên tới thượng tướng năm 1992. Và trong suốt đời binh nghiệp, ông chỉ chuyên trách về chính trị, từ chính trị viên đại đội lên tới chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (1991).

Còn về chính trị, Lê Khả Phiêu cũng lên rất nhanh, từ ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1991 lên tới Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1997, và đã giữ nhiệm vụ này trong 4 năm (1997-2001).

Không hiểu Lê Khả Phiêu đã viết những gì trong "Mênh mông tình dân", nhưng chúng ta có thể hình dung là ông đã viết về cuộc đời cách mạng của một đảng viên Cộng Sản, chiến đấu chống thực dân, đế quốc giải phóng đất nước và làm cách mạng xã hội để đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân như tất cả các đảng viên Cộng Sản đã tự nhận là những người đầy tớ trung thành của nhân dân. Với cái tên Tình Dân, không hiểu ông Phiêu muốn nói về cái tình của dân đối với ông, đối với lãnh đạo, với đảng Cộng Sản hay ông muốn ám chỉ cái tình rộng lớn của ông đối với nhân dân. Dù ý gì thì "Mênh mông tình dân" cũng hàm ý về thứ tình hỗ tương giữa lãnh đạo với dân và dân với lãnh đạo, với đảng.

Làm cách nào để đo lường, để hình dung cái tình này. Nếu đo bằng lời thì trừu tượng vô cùng mà lời thì cũng đã có quá nhiều trong ngôn ngữ của đảng, của các cấp lãnh đạo trên nửa thế kỷ nay. May mắn là trong dịp Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hóa tới tư gia ông Phiêu đã ghi lại được một ít hình ảnh và đem công bố trên mạng, nên chúng tôi xin ghi lại đây ít điều về đời sống của ông Phiêu qua ảnh để so sánh với đời của đa số nhân dân đang sống quanh ông, để từ đó có thể nhận rõ sự biểu hiện của cái tình Mênh Mông giữa ông Phiêu với nhân dân.

I. Đời quan

Tầng lớp lãnh đạo đảng Cộng Sản sống kín cổng cao tường và trên 20 năm nay, sau việc quay về làm ăn với tư bản đã trở thành triệu phú, tỷ phú là điều không lạ gì với người dân. Nhưng người ta chỉ có thể nhìn ở ngoài và hiểu thầm với nhau như thế, còn không mấy người có thể nhìn vào bên trong của thế giới lãnh đạo này. Có lẽ ông Phiêu “cởi mở” hơn, nên đã cho đoàn đồng hương Thanh Hóa chụp nhiều ảnh ghi lại cuộc chúc tết và cho phép phổ biến. Vì thế chúng ta mới thấy được một phần đời sống của ông cựu tổng bí thư đảng Cộng Sản.

Trước hết đó là tòa nhà mới của ông Phiêu ở số 7/36 C1 Lý Nam Đế, Hà Nội. Tòa nhà 4 tầng trị giá 5 triệu mỹ kim. Từ tầng 4 có thể nhìn bao quát thành phố Hà Nội, chẳng hạn nhìn rõ khu Bộ Quốc Phòng và cột cờ thành phố.

Phòng khách rộng lớn, thiết trí như một đại sảnh với nhiều thứ quí giá. Ảnh cho thấy:
– Lọ lục bình cổ lớn nhiều màu bài trí khắp nơi với nhiều bức tranh lớn, ảnh Karl Marx, Lenin và Hồ Chí Minh.
– Những tủ sách cao, đầy ắp những bộ sách dày bìa cứng. Chắc hẳn đó là những tập sách kinh điển của Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, và có thể là những bộ bách khoa toàn thư…
– Cùng với sách là những bức họa, ảnh và tượng của lê Khả Phiêu ở khắp đại sảnh. Trong đó nổi bật là bức chân dung Lê Khả Phiêu trong khung lớn dát vàng trên nền đỏ, phía trước chân dung có bộ ngà voi lớn chầu đặt trên một tác phẩm điêu khắc bằng gỗ quí, theo lời chú trong ảnh thì giá không dưới 50.000 mỹ kim.
– Ảnh cho thấy 2 thứ đặc biệt: Thứ nhất, đại sảnh trưng bày trống đồng Đông Sơn, bảo vật của quốc gia. Như vậy là ông Phiêu đã lấy đồ quốc bảo ở bảo tàng viện về làm của riêng. Thứ nhì là bàn thờ với pho tượng Phật lớn và bên cạnh tượng Phật là tượng Hồ Chí Minh.

Ngoài đại sảnh, khách được dẫn lên sân thượng và ở đây ảnh cho thấy vườn rau xanh, trồng nhiều loại rau theo từng ngăn và được chăm sóc bằng hệ thống tự động với phí tổn thiết kế, theo lời chú trong ảnh là khoảng 20.000 mỹ kim. Vậy là gia đình ông Phiêu đã không ăn rau của nhân dân trồng vì có nhiều chất độc hại. Từ vườn rau trồng trên trời, gia đình ông có thể tránh chất độc của rau chợ, nhưng còn cá thịt, bánh trái, sữa, nước và không khí thì ai cung cấp, và đáng nói hơn là nhân dân thành phố Hà Nội đang ăn rau độc hại, đang uống nước ô nhiễm… Tình dân Mênh Mông mà sao lại cách biệt giữa chuyện ăn uống giữa quan và dân. Thời ông Phiêu nhập Việt Minh năm 15 tuổi ở Thanh Hóa thì ông ăn gì, uống gì và mấy chục năm qua ông sống với ai?


II. Tình dân

Xin ghi lại một số cảnh đời của dân trong giai đoạn đổi mới kinh tế mà ông Phiêu và các quan Cộng Sản thành triệu phú, tỷ phú.

1. Dân đói rét:
Trong bài ký “Nông Dân và Đất”, nhà báo Võ Đắc Danh đã ghi lại tình cảnh của “Nông dân xã Khánh Bình Tây thuộc Cà Mau, một xã có 2600 hộ dân với hơn 40% sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có gần 500 hộ dân không có đất, nghĩa là có hàng ngàn con người trên cái vùng đất nhỏ nhoi này không biết phải làm gì để sống. Làm mướn ư? Đâu phải lúc nào cũng có người ta mướn để mà làm. Mùa gặt họ vào nông trường săn chuột, bắt ốc, hái rau thì bị xô, bị tịch thu phương tiện, bị đánh đập, thậm chí bị bắn trọng thương, bởi dưới con mắt của cán bộ nông trường, họ là nhũng phần tử bất hảo cần phải cách ly. Nhiều người kéo nhau ra biển xúc cua giống để bán thì bị các anh bảo vệ nguồn thủy sản vây bắt vì cái tội ăn trộm tài nguyên thiên nhiên”.

Ngày nay trên khắp nước có những chợ người, như những vùng biên giới Tàu Việt, biên giới Căm Pu Chia là chợ của dân cửu vạn đi chuyên chở hàng lậu, chợ của phụ nữ đi bán thân, nhưng ngay ở thủ đô Hà Nội, trên đường Giảng Võ và nhiều đường khác có những chợ đầy người, ngày ngày chờ ai đó tới thuê để bán sức lao động độ nhật. Dân Hà Nội gọi đó là chợ người.

Nhà báo tự do (blogger) Tạ Phong Tần, trong bài “Lại thêm 1 người nhìn thấy “Thiên Đường”, có đoạn viết: “Mùa đông năm nay, thủ đô Hà Nội đã xảy ra tình trạng nông dân lê tấm thân ra thành thị kiếm miếng ăn và chết đói, chết rét vạ vật trước hiên nhà người khác như thời “nô lệ” trước tháng 8 năm 1945. Mới ngày 21/11/2008 vừa rồi, người dân Hà Nội đã phải chứng kiến một thanh niên quê Phú Thọ mới 34 tuổi, làm nghề đánh giày, đã chết ở hiên nhà khu tập thể Thành Công. Ngày 5/1/2009 lại thêm 1 người đàn ông trẻ khoảng 35- 40 tuổi chết ở vỉa hè phố chùa Bộc “Sau khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu, người đàn ông kể trên đã chết vì lạnh cóng”.

Người chết không phải là những con nghiện hay thành phần lang thang ngoài phố chờ cơ hội trộm cắp, cướp giật, cũng không già tuổi đến mức độ sức khỏe giảm sút, cũng không bị bệnh tật từ trước hay bị thương tích dẫn đến suy kiệt cơ thể; họ có sức khỏe và chăm chỉ làm lụng kiếm đồng tiền chân chính để sống; cay nghiệt thay, vậy mà họ vẫn phải chết. Hai cái chết thương tâm của 2 người trẻ vì đói rét, tha phương cầu thực, không nơi cư trú”.

Báo điện tử Dân Trí ngày 6/2/2009, trong bản tin “Dân đổ xô cướp gà tiêu hủy” đưa tin: “Chiều ngày 5/2, Chi Cục Thú Y Hà nội đã chở 1500 con gà bệnh (khoảng 3 tấn) đến bãi cát xã Hồng Vân, thường Tín để tổ chức tiêu hủy. Tuy nhiên tại đây, khi lực lượng chuyên ngành bắt đầu đưa gà xuống hố chôn theo quy định thì người dân địa phương đã đổ xô vào cướp gà. Do lực lượng chức năng quá ít, trong khi người dân lại đông nên đành bó tay. Người dân nhảy cả xuống hố để lấy gà, ném lên cho người đứng trên bờ cho vào bao tải. Tiếp đến, người dân đổ xô vây lấy xe chở gà và trèo lên cả xe để cướp. Thậm chí, để tiện cho việc lấy gà, có người còn leo lên ca bin, lái chiếc xe chở gà ra giữa bãi cát.

Kết quả là chỉ khoảng 20% số gà nói trên được tiêu hủy, còn lại đã bị cướp hết. Ngoài ra có những con gà chết bị vứt vương vãi khắp nơi”.


2. Dân oan
Từ thập niên 1990 đến nay, chính sách thu hồi đất của nhà nước xã hội chủ nghĩa để giải phóng mặt bằng xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, sân golf… đã biến 7 triệu nông dân thành dân không có đất sinh nhai. Trong đó, nhân danh chính sách thu hồi đất để phát triển kinh tế, các ông quan Cộng Sản địa phương, tỉnh, huyện, xã đã cướp đất của dân để làm của riêng, để bán cho tư bản đã tạo thành những lớp sóng phẫn nộ, phản kháng trên khắp nước. Để đối phó với vấn đề này, nhà nước đã thiết lập nhiều Văn Phòng Tiếp Dân từ tỉnh tới thành phố, quốc hội, thủ tướng để người dân bị cướp đất, nhà cửa, ruộng vườn tới nạp đơn khiếu kiện. Có được cửa công lý nên dân đã tới, nhưng đâu biết đó là một thứ công lý giả nên đơn khiếu kiện chồng chất từ năm này đến năm khác không được xét sử với đủ thứ lý do. Xét xử làm sao khi tất cả từ trên xuống dưới đều là một bọn tham quan có đảng bảo vệ để độc quyền tham nhũng thì ai xử ai? Vì thế, những Văn Phòng Tiếp Dân ở Hà Nội (khu vườn hoa Mai Xuân Thưởng và 110 Cầu Giấy) và ở Sài Gòn (210 Võ thị Sáu) đã trở thành những Công Trường Đòi Công Lý. Dân oan lấy vườn hoa, hè đường làm nhà và áo họ đã trở thành những tấm biểu ngữ (để công an nhân dân không thể cướp và xé) tố cáo đích danh những ông quan địa phương: Chủ tịch xã, huyện và tỉnh đã cướp nhà cửa, ruộng vườn của họ. Khi dân oan tụ tập đông quá trong thời gian quốc hội họp, hay có những phái đoàn quốc tế tới thăm thì công an nhân dân lại đem lực lượng cơ động đến bao vây, bắt dân oan quẳng lên xe chở tới giam vào một nơi nào đó, hoặc chở đi đổ xuống một vùng xa thành phố. Rồi sau đó, từng lớp dân oan bị giải tán lại tìm đường trở lại Văn Phòng Tiếp Dân (tên đẹp mà sao nơi này lại nhiều uất hận). Có nhiều người đã đi nhặt rác hay ăn xin để có thể ở lại thành phố lâu ngày.

Thảm kịch dân oan đã quá lâu, quá lớn và đã trở thành một phần lịch sử của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ vô sản tiến về tư sản. Ở đây, xin ghi lại hai trường hợp mới nhất biểu hiện rõ nét về tình dân và tình quan:

Thứ nhất là dân oan lạy quan cộng sản:
Ông Nam Bình ở Cần Thơ, trong bài “Việt Nam ngày nay: Dân cày mất ruộng” đã viết:
“Lão nông Lâm Văn Phát từ huyện Thạnh Trị, Sóc Trang đội đơn ra quỳ lạy ở số 48 Lý Thường Kiệt, đòi lại 5000 mét vuông đất thấy mà xót xa. Bà Nguyễn Minh Chiếu ở An Giang bị cướp mất 70 công đất và 650 giạ lúa lại bị tù 3 năm vì lũ cướp ngày gian ác. Bà đã lăn lết ra Hà Nội để đòi công lý, nhưng công lý xa vời quá.
Hình ảnh ông Nguyễn Thanh Đạo ở Mộc Hóa, Long An quỳ lạy ở nhà ông Đặng Quang Phương, Trần Văn Tú là những phó chánh án (?) Tỏa Án Tối Cao ở Hà Nội thấy đau lòng quá. Thức cả đêm chờ đến sáng các quan này đi làm, chờ cổng mở, quỳ xuống đội đơn trên đầu và lạy theo từng bước chân các quan. Nhưng các quan này y hệt bọn đàn em cướp đất dân nghèo, lạnh lùng bước lên xe hơi, đóng cửa cái rầm kèm theo vài lời chửi mắng. Vậy mà dân oan vẫn chờ đợi và quỳ lạy, vì họ không còn đường nào khác, quay về nhà thì đất bị cướp mất rồi”.

Thứ nhì là tiếng khóc của dân Văn Giang:
Trong tháng 12/2008 có nhiều vụ chính quyền điạ phương sử dụng lực lượng công an, bộ đội để cướp đất của dân, chẳng hạn ở ấp T4 xã Vĩnh Phú, Kiên Giang (17/12), ở các phường Vĩnh Ban, Vĩnh Lạc, An Hòa, Rạch Giá. Nhưng đáng kể là vụ chiếm đất 3 xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Theo bản tin của nhóm Phóng Viên Nhân Quyền thì dân 3 xã trên, khoảng 23.000 người, có hơn 500 hec ta đất làm vườn và trồng cây cảnh để sinh nhai, nhưng đã bị chính quyền ra lệnh thu hồi bán cho công ty Việt Hưng để công ty này xây dựng khu đô thị (biệt thự, sân golf) và đã đền bù với giá rẻ mạt: 135.000 đồng/m2, trị giá tương đương với 10 kí gạo. Trong khi đó lãnh đạo chính quyền thì bán trao tay nhau với giá 6 triệu/m2. Khi dân hỏi tại sao bù cho dân 135 ngàn lại công khai rao bán trên mạng là 6 triệu/m2 thì ông chủ tịch xã trả lời rằng: Đi buôn phải có lãi!


Trước sự tước đoạt để mua bán trắng trợn đó, dân 3 xã đã chống lại, quyết giữ đất bằng cách thay phiên nhau đêm ngày canh đất, canh cây. Cuối cùng ngày 25/12/2008, chính quyền huyện Văn Giang đã huy động hàng trăm công an, lực lượng cơ động, cả thành phần đầu gấu cùng các phương tiện cơ giới đến cày, san ủi cơ nghiệp mồ hôi, nước mắt của dân. Khi dân Văn Giang giàn hàng ngăn cản xe ủi thì công an, bô đội huyện đã thẳng tay đàn áp, kéo, lôi, ném những người dân cản đường lên bờ như ném những con vật, rồi đấm đá, dùng dùi cui điện đánh vào dân bất kể già trẻ làm nhiều người bị thương và ngất xỉu.

Bị chính quyền đàn áp dã man, nên ngày 7/1/2009, trên 2000 dân Văn Giang đã kéo lên Hà Nội biểu tình trước văn phòng thủ tướng để bày tỏ nỗi oan. Ở đây họ đã không được gặp một vị quan nào để nói lên nỗi oan mà lại bị lực lượng công an, cảnh sát cơ động và thành phần xã hội đen đàn áp dã man hơn. Cứ 2, 3 tên túm một người quẳng lên xe bít bùng, rồi chở về Văn Giang, liệng xuống ven đê sông Hồng, giữa sự vật vã, lê lết cùng tiếng khóc của hàng ngàn con người.

Với sức mạnh của chuyên chính (công an, bộ đội, xã hội đen), chính quyền sẽ tước đoạt được đất sống của dân Văn Giang để xây khu đô thị Văn Giang. Nhưng trước thảm cảnh này, chúng ta tự hỏi là chính quyền xây cất khu đô thị cho ai và để làm gì để phải quăng dân Văn Giang ra ngoài thứ đô thị này mà dân Văn Giang không có quyền biết đến, không có quyền tham gia xây dựng như khẩu hiệu nhật tụng của nhà nước Xã Hội Chủ Nghiã: Dân Biết, Dân Bàn, Dân Kiểm Tra, Dân Hưởng Thụ. Câu trả lời đơn giản là nhà nước liên kết với tư bản để xây khu đô thị cho một loại dân khác, gồm những thành phần giàu có của đảng, của tư bản nước ngoài, của tầng lớp thành đạt trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Vì thế mới có chuyện cướp đất đi buôn của chủ tịch Nguyễn Cảnh Hưng. Ông ta nói: Đi buôn phải có lãi. Tất nhiên là như thế, nhưng sao không cho dân Văn Giang một phần cái lãi này? Các ông quan vô sản cũng không thể làm như thế, không thể chia cái lãi của nghề đi buôn không vốn này cho ai. Vì với tiền bán đất cùng đủ thứ làm ăn chia chác với tư bản thì sau khi giải quyết xong dự án đô thị Văn Giang, chỉ một bước nhiều quan chức vô sản của tỉnh, huyện sẽ trở thành triệu phú, tỷ phú. Do đó họ phải hy sinh 23.000 người dân Văn Giang cho sự nghiệp làm giàu của họ như nhiều nơi khác trên khắp nước, dân cũng đã phải hy sinh như vậy. Đến như những miền ven biển, nhiều nơi dân chài phải than là các cấp lãnh đạo đã bán hết bờ biển cho tư bản nước ngoài xây dựng khu du lịch đến nỗi họ không còn chỗ để đậu ghe thuyền đánh cá.

Chuyện xây dựng kinh tế, xây dựng khu đô thị thì trên thế giới, nước nào cũng làm. Chẳng hạn như những quốc gia ở Á Châu như Nam Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai… mấy chục năm qua, người ta đã xây dựng nhiều khu đô thị, khu chế xuất, khu viên kỹ nghệ, nhưng không ở đâu có chuyện chính quyền huy động lực lượng cảnh sát, quân đội, băng đảng xã hội đen đến cưỡng chế, cướp đất của dân bán cho công ty tư bản, rồi mặc xác đám dân sau đó sống ra sao không cần biết. Và người ta cũng có bờ biển, có làng đánh cá, nhưng chắc chắn không đâu có thảm kịch chính quyền bán bờ biển cho tư bản nước ngoài làm khu du lịch để dân đánh cá không còn chỗ đậu tàu thuyền. Cũng cần nói thêm một điều là những quốc gia ấy đã phát triển kinh tế rất nhanh, nhưng dân có quyền và chính quyền tôn trọng dân. Từ đó nước có quy củ và người dân quí trọng lẫn nhau. Cứ quan sát dân Hàn, dân Đài Loan sẽ thấy họ đối xử lễ độ, tôn trọng nhau ở bất cứ đâu trong đời sống thường nhật và chúng ta sẽ thương dân ta, rồi tự vấn: Tại sao họ có thể sống như thế mà ta lại không?

Trên đây chúng tôi ghi lại ít tình cảnh đời dân dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, và tự hỏi không hiểu trong tác phẩm hồi ký “Mênh mông tình dân”, ông Lê Khả Phiêu đã ghi lại thứ tình này như thế nào và ông đã làm gì để đáp lại thứ tình Mênh Mông này?

III. Hận nước

Ngoài tình dân, đời của ông Phiêu còn gắn liền với nước, vì ông đã chiến đấu một đời cho độc lập, tự chủ của Việt Nam mà chắc nội dung tác phẩm “Mênh mông tình dân” sẽ phải nói đến những chuyện này. Cũng như tình dân, chúng ta không biết ông Phiêu viết về tình nước ra sao. Nhưng trong 4 năm làm Tổng Bí Thư với tinh thần khép mình, phụ thuộc tìm nơi nương tựa như ông nói: “Trung Quốc thành công thì chúng ta thành công”, Lê Khả Phiêu đã cắt nhiều đất biên giới và biển cho Tàu bằng 2 hiệp định:

Thứ nhất là Hiệp Định Về Biên Giới Việt Nam Tru
ng Quốc, ký tại Hà Nội ngày 30/12/1999 giữa Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Đường Gia Triền và Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm. Bản hiệp định không được công bố. Nhưng nay qua Bản Lên Tiếng của một số cựu chiến binh và giáo chức khu vực Hà Đông – Hà Nội gởi lãnh đạo đảng Cộng Sản ngày 14/1/2009 cho thấy diện tích lãnh thổ đã mất 1694 km2 (vì sách giáo khoa cũ và niên giám 1996 ghi diện tích Việt Nam là 336.991 km2, còn sách giáo khoa in năm 2006-2007 lại ghi 329.297 km2), trong đó khu vực danh thắng thác Bản Giốc thuộc Cao Bằng và khu địa linh Ải Nam Quan ở Lạng Sơn đã thuộc Trung Quốc như thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng mới công bố sau khi hoàn tất việc cắm mốc biên giới ngày 22/12/2008.

Thứ nhì là Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc, ký ngày 25/12/2000 giữa Nguyễn Mạnh Cầm và Đường Gia Triền. Bản hiệp định cũng không được công bố, nhưng theo những nguồn tin được tiết lộ thì với hiệp định này, Việt Nam đã mất cho Tàu trên 10.000 km2 biển.


Sau khi Lê Khả Phiêu cống cho Tàu gần 2000 cây số vuông đất biên giới và trên 10.000 cây số biển, Nông Đức Mạnh cùng với Đỗ Mười, Trần Đức Lương, Lê Đức Anh và Phan Văn Khải đã mở đường cho Trung Quốc xâm lấn Việt Nam theo chính sách “Hợp Tác Toàn Diện Giữa Các Ngành Ngoại Giao, Quốc Phòng, Công An, An Ninh…” qua tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc ngày 17/11/2006 trong dịp Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam. Và với mỹ từ hợp tác toàn diện, Tàu đã khống chế Việt Nam từ đất đến biển:

Với biển, Trung Quốc tuyên bố Nam Hải thuộc chủ quyền của Trung Quốc với luận điểm hàm hồ là từ thời Hán Vũ Đế (trên 2000 năm trước) và thời Minh thành Tổ (thế kỷ 15), hải quân Trung Quốc đã đi tuần thám Nam Hải và đã khám phá ra Hoàng Sa và Trường Sa. Từ luận điểm hoang đường về chủ quyền này, Trung Quốc khai thác Hoàng Sa, lấn chiếm Trường Sa, không cho Việt Nam đánh cá và thăm dò dầu khí ở vùng Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế, từ năm 2005 ngư phủ Việt Nam ra đánh cá những vùng gần Hoàng Sa và Trường Sa đã bị hải quân Trung Quốc bắt, bắn giết, đâm bể tàu và xua đuổi, còn chuyện tìm dầu thì không một công ty tư bản nào dám liên doanh với Việt Nam để thăm dò dầu khí ở vùng Trường Sa vì bị Trung Quốc cảnh cáo, phản đối là những hoạt động ấy đã vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc ở Nam Hải, chẳng hạn tập đoàn BP của Anh năm 2007 và tập đoàn Exxon Mobil của Mỹ năm 2008 đã ký hợp đồng rồi đã phải bỏ.

Rồi để thực hiện luận điểm chủ quyền Nam Hải, ngày 22/11/2008, Trung Quốc công bố tập đoàn dầu khí của Trung Quốc (Cnooc) sẽ thực hiện dự án 29 tỷ đô la để thăm dò khai thác tại biển Nam Trung Quốc, trong đó có khu vực Hoàng Sa và Trường Sa mà chính quyền Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền. Tất nhiên đối với việc Trung Quốc làm, bộ ngoại giao Việt Nam cũng như những lần trước đã lên tiếng phản đối với luận điểm “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và các quyền hợp pháp đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam”. Phản đối như thế, nhưng nếu Trung Quốc tiến hành việc thăm dò (mà chắc Tàu đã nói là Tàu làm) thì chính quyền Việt Nam sẽ làm gì để ngăn cản hay lại lên tiếng phản đối cho phải đạo để dối dân, rồi im lặng tuân thủ chính sách 16 chữ vàng và 4 tốt: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai và mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.

Đó là chuyện mất biển, còn chuyện lãnh thổ thì từ thời Lê Khả Phiêu tới nay, Trung Quốc đã lặng lẽ xâm lấn Việt Nam bằng chính sách 16 chữ vàng như sau:

Về kinh tế:

Từ sau trận chiến “Dạy cho Việt Nam một bài học” năm 1979, Trung Quốc vẫn không ngừng trận chiến phá hoại kinh tế Việt Nam bằng đủ thứ đòn hiểm ác. Khởi đầu là thu mua dây điện thoại, xích xe tăng, nòng đại bác, các loại rễ cây, cây con, sừng móng trâu bò, gỗ quí, các loại muông thú rừng, rồi đến biến vùng biên giới thành cửa khẩu để tuồn vào Việt Nam các loại hàng lậu và cả tiền giả.

Về di dân:
Năm 2008, chính quyền Việt Nam đã quyết định miễn chiếu khán nhập cảnh cho người Hoa vào Việt Nam. Quyết định này là một biện pháp giúp người Hoa ở lại Việt Nam dễ dàng, vì họ có thể nhập vào những cộng đồng người Hoa trên khắp Việt Nam để làm đủ mọi ngành nghề mà ngày nay thì cộng đồng người Hoa lại có nhiều ưu thế về kinh tế và cả chính trị.

Về chính trị quốc phòng:
Đảng Cộng Sản Việt Nam bị đảng Cộng Sản Trung Quốc chế ngự có một lịch sử lâu dài, nhưng đến nay, qua chính sách Hợp Tác Toàn Diện, với nhiều sự việc đã xảy ra, có thể nói là bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành cơ quan nội ứng của Tàu, mở đường cho Tàu vào Việt Nam. Vì thế chúng ta thấy:
– Dân Tàu được đi lại, cư trú ở Việt Nam như trên đất Tàu.
– Chính quyền cấm tất cả những biểu lộ và ngôn ngữ chống Tàu của dân Việt.
– Những di tích chống Tàu sau trận chiến 1979 đã bị xóa bỏ. Những nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc trong chiến tranh biên giới Việt Trung đã được đổi tên thành “Nghĩa trang Liệt Sĩ Trung Việt”. Chẳng hạn một tấm ảnh trên trang web www.ykien.net cho thấy Nghĩa Trang Liệt Sĩ Long Châu (Thủy Khấu) ở biên giới tỉnh Cao Bằng đã được đổi thành “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trung Việt Thủy Khấu Long Châu” với tượng đài lớn và hai hàng chữ Hoa và Việt. Như thế là Việt Nam đã đồng lòng với Tàu làm những đài tưởng niệm liệt sĩ Trung Việt ở biên giới để nhớ ơn đoàn quân Tàu đã sang xâm lăng Việt Nam.
– Trung Quốc đã chế ngự Việt Nam ở biển Đông.
– Và đến nay đảng Cộng Sản Việt Nam mời Trung Quốc lên Tây Nguyên với những dự án bauxite. Chuyện bauxite lộ liễu, bất thường v&
agrave; quá nguy hiểm về cả sự tàn phá môi trường lẫn an ninh quốc gia, nên từ tháng 11/2008 đến nay đã dấy lên một làn sóng phản đối từ các giới nghiên cứu khoa học, kinh tế, báo chí và dân chúng trên khắp nước. Cứ đọc bài nghiên cứu đầy tâm huyết của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công Ty Năng Lượng Sông Hồng, bác bỏ dự án mà Nguyễn Tấn Dũng đã duyệt, cùng những ý kiến của mọi giới về bài nghiên cứu này, sẽ thấy lòng dân phẫn nộ và âu lo như thế nào đối với dự án.

Đến Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng phải viết thư gửi Nguyễn Tấn Dũng (5/1/09) đề nghị dừng triển khai các dự án khai thác bauxite. Trong thư ông cho biết là năm 1980, chính phủ đã có chương trình khai thác bauxite trong kế hoạch hợp tác với khối COMECON, nhưng đã phải bỏ vì sau khi khảo sát, các chuyên gia Liên Sô và khối COMECON đã khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài, nghiêm trọng không thể khắc phục, chẳng những đối với dân cư tại chỗ mà còn cả với dân cư vùng đồng bằng Nam bộ. Ngoài chuyện sinh thái, ông còn nói đến vấn đề an ninh quốc phòng và đã nêu lên một sự kiện: Trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại mỗi dự án).

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã không đếm xỉa gì đến ý kiến của các nhà khoa học, đến ý dân, đến những lời khuyên can đầy lo âu của tướng Giáp, nên Nguyễn Tấn Dũng, trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 4/2/09 đã khẳng định: Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước.

Chuyện đã đến như thế thì chỉ có thể giải thích là đảng Cộng Sản Trung Quốc đã biến cả bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam thành nội tuyến mở đường cho Tàu vào xâm chiếm Việt Nam bằng con đường 16 chữ vàng.

Trước đây có những nhận định là Trung Quốc làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, ngoài chuyện kinh tế, Trung Quốc có một lợi thế là dùng hai quần đảo này làm căn cứ để tiến quân cắt đôi Việt Nam ở miền Trung. Nhưng đến nay thì chuyện dùng Hoàng Sa, Trường Sa làm bàn đạp không cần nữa, vì với những dự án bauxite cùng chục ngàn lính Tàu giả làm công nhân, Trung Quốc sẽ dễ dàng nắm yết hầu Việt Nam.

Kết luận

Từ câu chuyện Mênh Mông Tình Dân của Lê Khả Phiêu, chúng tôi xin kết luận mấy điều:

1. Với Lê Khả Phiêu:
Trước hết ông Phiêu là một đảng viên đảng Cộng Sản, đã từng là người lãnh đạo tối cao của đảng và trở thành một tỷ phú (theo tin, tài sản có 5 khách sạn 5 sao ở Hà Nội và Sài Gòn, và trên 1 tỷ Mỹ kim), sống xa hoa trên sự đói nghèo, tủi nhục của đa số dân Việt do chế độ độc trị và kinh tế xã hội chủ nghĩa của đảng Cộng Sản tạo ra.

Ông Phiêu nhập vào phong trào Việt Minh từ lúc 15 tuổi, chiến đấu cho độc lập, tự chủ của Việt Nam, nhưng khi lên làm Tổng bí Thư, Lê Khả Phiêu đã quên mất mấy chữ độc lập tự chủ nên đã cắt đất nhượng biển cho Tàu với tinh thần nô lệ: “Trung Quốc thành công thì ta thành công”.

2. Với đảng Cộng Sản:

Đời của Lê Khả Phiêu cũng như đời của nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản là đã đạt vinh hoa phú quí trong thảm kịch của nước, vì khi đảng phát động 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Việt Nam Quốc Gia (1946-1954), chống Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa (1960-1975) với mục tiêu giành độc lập, thì trong 2 cuộc chiến tranh hủy diệt gần 4 triệu sinh mạng này đã tiềm phục một mối họa cho nước là đảng Cộng Sản đã không độc lập tự chủ với Nga, Tàu vì đã nhận viện trợ để làm một tên lính xung kích cho Liên Sô và Trung Cộng phát triển đế quốc Cộng Sản. Vì thế, khi thế giới Cộng Sản tan rã thì đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa Việt Nam vào vòng lệ thuộc Trung Quốc theo tham vọng bành trướng của đảng Cộng Sản Trung Quốc như lời của Mao Trạch Đông đã nói với lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á” và “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng Đông Nam Á rất giàu, ở đây có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy” (Bạch Thơ – Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam – Trung Quốc Trong 30 Năm Qua”.

Trong đời Mao, Mao chưa thực hiện được giấc mộng đế quốc Đại Hán, nhưng tới thập niên 2000 thì đảng Cộng Sản Trung Quốc đã có Việt Nam trong tay và đã có thể tung hoành ở biển Đông. Vì thế năm 2000 và 2006, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đã từ Bắc Kinh đến thẳng Hội An tắm biển, nhìn ra Hoàng Sa, Trường Sa trước khi ra Hà Nội ban chỉ thị cho lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Hành động của Gi
ang và Hồ cao ngạo bất thường, nhưng hai tên này đã làm như thế để nói với thế giới là Việt Nam và Nam Hải đã thuộc quyền của Trung Quốc.

Và đến nay thì Trung Quốc đã đi dần tới việc kiểm soát Việt Nam toàn diện khi có thể thung dung đem quân lên Tây Nguyên vừa khai thác bauxite vừa chiếm giữ hiểm địa cao nguyên để thực hiện tham vọng bành trướng Đại Hán mà Mao đã vạch ra từ thập niên 1960.

3. Với đảng viên đảng Cộng Sản:
Trước những thảm kịch đang diễn ra trong xã hội Việt Nam, chúng ta thấy là 3 triệu đảng viên đảng Cộng Sản, từ thấp tới cao, đã dùng đất nước như của riêng và bóc lột 80 triệu dân, coi dân như những súc vật, để làm giàu cho cá nhân, nhưng họ đã quên một mối họa là rồi đây chính họ, con cháu họ sẽ trở thành những tên nô lệ của đế quốc Tàu, và lúc đó họ và dân Việt lại thành những con vật dưới ách thống trị của thực dân Tàu. Khi đó ai là Việt, ai là Tàu? Ai là kẻ thống trị và ai là kẻ bị trị?

Từ một số sự việc ghi lại trên đây xin thưa là trên nửa thế kỷ thống trị với chế độ chuyên chính, đảng Cộng Sản Việt Nam đã gây nên những thảm họa cho dân, cho nước như thế thì làm gì có chuyện tình dân, tình nước mà Lê Khả Phiêu lại lộng ngôn với tác phẩm “Mênh mông tình dân”?

Chúng ta hiểu những người lãnh đạo Cộng Sản luôn luôn dùng mỹ từ xảo trá để quay lưng lại những sự thật đen tối đau lòng. Vì thế chúng ta phải kéo họ quay lại một sự thật, một Thực Từ là đảng Cộng Sản Việt Nam, là chính họ đã tạo cho nước một bộ sử: Mênh Mông Hận Nước.

Việt Dương
Nguồn: Tâm Thức Việt

http://www.tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=7078


—

Bình Luận: Mênh Mông Hận Nước

[19/02/2009 – Tác giả: admin1 – Vietnam Review]

Việt Dương
18-02-2009

Hình: Ô. Lê Khả Phiêu, cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN, ngắm nghĩa chân dung của mình treo trong tư gia tráng lệ của ông tại Hà Nội.

Dước voi dầy mồ
Nước mất nhà tan.
(Tục ngữ)

Ngày 28 tháng chạp Âm lịch (24/1/2009), Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hóa ở Hà Nội đã đến biếu quà tết cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu tại tư gia. Nhân dịp này, ông Phiêu đã dẫn các thành viên trong đoàn đi thăm nhiều nơi trong toà nhà mới và cuối cùng đã tặng cho mỗi người một tập sách do ông tự viết về đời mình với nhan đề: Mênh Mông Tình Dân. Nhan đề tập sách đẹp và cuộc đời của lê Khả Phiêu cũng rất đặc biệt trong binh nghiệp và chính trị của đảng Cộng Sản.

Về binh nghiệp, ông Phiêu đã nhập bộ đội từ một lính trơn năm 1950 lên tới thượng tướng năm 1992. Và trong suốt đời binh nghiệp, ông chỉ chuyên trách về chính trị, từ chính trị viên đại đội lên tới chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (1991).

Còn về chính trị, Lê Khả Phiêu cũng lên rất nhanh, từ ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1991 lên tới Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1997, và đã giữ nhiệm vụ này trong 4 năm (1997-2001).

Không hiểu Lê Khả Phiêu đã viết những gì trong Mênh Mông Tình Dân, nhưng chúng ta có thể hình dung là ông đã viết về cuộc đời cách mạng của một đảng viên Cộng Sản, chiến đấu chống thực dân, đế quốc giải phóng đất nước và làm cách mạng xã hội để đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân như tất cả các đảng viên Cộng Sản đã tự nhận là những người đầy tớ trung thành của nhân dân. Với cái tên Tình Dân, không hiểu ông Phiêu muốn nói về cái tình của dân đối với ông, đối với lãnh đạo, với đảng Cộng Sản hay ông muốn ám chỉ cái tình rộng lớn của ông đối với nhân dân. Dù ý gì thì Mênh Mông Tình Dân cũng hàm ý về thứ tình hỗ tương giữa lãnh đạo với dân và dân với lãnh đạo, với đảng.

Làm cách nào để đo lường, để hình dung cái tình này. Nếu đo bằng lời thì trừu tượng vô cùng mà lời thì cũng đã có quá nhiều trong ngôn ngữ của đảng, của các cấp lãnh đạo trên nửa thế kỷ nay. May mắn là trong dịp Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hóa tới tư gia ông Phiêu đã ghi lại được một ít hình ảnh và đem công bố trên mạng, nên chúng tôi xin ghi lại đây ít điều về đời sống của ông Phiêu qua ảnh để so sánh với đời của đa số nhân dân đang sống quanh ông, để từ đó có thể nhận rõ sự biểu hiện của cái tình Mênh Mông giữa ông Phiêu với nhân dân.

I. Đời quan

Tầng lớp lãnh đạo đảng Cộng Sản sống kín cổng cao tường và trên 20 năm nay, sau việc quay về làm ăn với tư bản đã trở thành triệu phú, tỷ phú là điều không lạ gì với người dân. Nhưng người ta chỉ có thể nhìn ở ngoài và hiểu thầm với nhau như thế, còn không mấy người có thể nhìn vào bên trong của thế giới lãnh đạo này. Có lẽ ông Phiêu “cởi mở” hơn, nên đã cho đoàn đồng hương Thanh Hóa chụp nhiều ảnh ghi lại cuộc chúc tết và cho phép phổ biến. Vì thế chúng ta mới thấy được một phần đời sống của ông cựu tổng bí thư đảng Cộng Sản.

Trước hết đó là tòa nhà mới của ông Phiêu ở số 7/36 C1 Lý Nam Đế, Hà Nội. Tòa nhà 4 tầng trị giá 5 triệu mỹ kim. Từ tầng 4 có thể nhìn bao quát thành phố Hà Nội, chẳng hạn nhìn rõ khu Bộ Quốc Phòng và cột cờ thành phố.

Phòng khách rộng lớn, thiết trí như một đại sảnh với nhiều thứ quí giá. Ảnh cho thấy:

– Lọ lục bình cổ lớn nhiều màu bài trí khắp nơi với nhiều bức tranh lớn, ảnh Karl Marx, Lenin và Hồ Chí Minh.

– Những tủ sách cao, đầy ắp những bộ sách dày bìa cứng. Chắc hẳn đó là những tập sách kinh điển của Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, và có thể là những bộ bách khoa toàn thư…

– Cùng với sách là những bức họa, ảnh và tượng của lê Khả Phiêu ở khắp đại sảnh. Trong đó nổi bật là bức chân dung Lê Khả Phiêu trong khung lớn dát vàng trên nền đỏ, phía trước chân dung có bộ ngà voi lớn chầu đặt trên một tác phẩm điêu khắc bằng gỗ quí, theo lời chú trong ảnh thì giá không dưới 50.000 mỹ kim.

– Ảnh cho thấy 2 thứ đặc biệt: Thứ nhất, đại sảnh trưng bày trống đồng Đông Sơn, bảo vật của quốc gia. Như vậy là ông Phiêu đã lấy đồ quốc bảo ở bảo tàng viện về làm của riêng. Thứ nhì là bàn thờ với pho tượng Phật lớn và bên cạnh tượng Phật là tượng Hồ Chí Minh.

Ngoài
đại sảnh, khách được dẫn lên sân thượng và ở đây ảnh cho thấy vườn rau xanh, trồng nhiều loại rau theo từng ngăn và được chăm sóc bằng hệ thống tự động với phí tổn thiết kế, theo lời chú trong ảnh là khoảng 20.000 mỹ kim. Vậy là gia đình ông Phiêu đã không ăn rau của nhân dân trồng vì có nhiều chất độc hại. Từ vườn rau trồng trên trời, gia đình ông có thể tránh chất độc của rau chợ, nhưng còn cá thịt, bánh trái, sữa, nước và không khí thì ai cung cấp, và đáng nói hơn là nhân dân thành phố Hà Nội đang ăn rau độc hại, đang uống nước ô nhiễm…Tình dân Mênh Mông mà sao lại cách biệt giữa chuyện ăn uống giữa quan và dân. Thời ông Phiêu nhập Việt Minh năm 15 tuổi ở Thanh Hóa thì ông ăn gì, uống gì và mấy chục năm qua ông sống với ai?

II. Tình dân

Xin ghi lại một số cảnh đời của dân trong giai đoạn đổi mới kinh tế mà ông Phiêu và các quan Cộng Sản thành triệu phú, tỷ phú.

1. Dân đói rét:

Trong bài ký “Nông Dân và Đất”, nhà báo Võ Đắc Danh đã ghi lại tình cảnh của “Nông dân xã Khánh Bình Tây thuộc Cà Mau, một xã có 2600 hộ dân với hơn 40% sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có gần 500 hộ dân không có đất, nghĩa là có hàng ngàn con người trên cái vùng đất nhỏ nhoi này không biết phải làm gì để sống. Làm mướn ư? Đâu phải lúc nào cũng có người ta mướn để mà làm. Mùa gặt họ vào nông trường săn chuột, bắt ốc, hái rau thì bị xô, bị tịch thu phương tiện, bị đánh đập, thậm chí bị bắn trọng thương, bởi dưới con mắt của cán bộ nông trường, họ là nhũng phần tử bất hảo cần phải cách ly. Nhiều người kéo nhau ra biển xúc cua giống để bán thì bị các anh bảo vệ nguồn thủy sản vây bắt vì cái tội ăn trộm tài nguyên thiên nhiên”.

Ngày nay trên khắp nước có những chợ người, như những vùng biên giới Tàu Việt, biên giới Căm Pu Chia là chợ của dân cửu vạn đi chuyên chở hàng lậu, chợ của phụ nữ đi bán thân, nhưng ngay ở thủ đô Hà Nội, trên đường Giảng Võ và nhiều đường khác có những chợ đầy người, ngày ngày chờ ai đó tới thuê để bán sức lao động độ nhật. Dân Hà Nội gọi đó là chợ người.

Nhà báo tự do (blogger) Tạ Phong Tần, trong bài “Lại thêm 1 người nhìn thấy “Thiên Đường”, có đoạn viết: “Mùa đông năm nay, thủ đô Hà Nội đã xảy ra tình trạng nông dân lê tấm thân ra thành thị kiếm miếng ăn và chết đói, chết rét vạ vật trước hiên nhà người khác như thời “nô lệ” trước tháng 8 năm 1945. Mới ngày 21/11/2008 vừa rồi, người dân Hà Nội đã phải chứng kiến một thanh niên quê Phú Thọ mới 34 tuổi, làm nghề đánh giày, đã chết ở hiên nhà khu tập thể Thành Công. Ngày 5/1/2009 lại thêm 1 người đàn ông trẻ khoảng 35- 40 tuổi chết ở vỉa hè phố chùa Bộc “Sau khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu, người đàn ông kể trên đã chết vì lạnh cóng”.

Người chết không phải là những con nghiện hay thành phần lang thang ngoài phố chờ cơ hội trộm cắp, cướp giật, cũng không già tuổi đến mức độ sức khỏe giảm sút, cũng không bị bệnh tật từ trước hay bị thương tích dẫn đến suy kiệt cơ thể; họ có sức khỏe và chăm chỉ làm lụng kiếm đồng tiền chân chính để sống; cay nghiệt thay, vậy mà họ vẫn phải chết. Hai cái chết thương tâm của 2 người trẻ vì đói rét, tha phương cầu thực, không nơi cư trú”.

Báo điện tử Dân Trí ngày 6/2/2009, trong bản tin “Dân đổ xô cướp gà tiêu hủy” đưa tin: “Chiều ngày 5/2, Chi Cục Thú Y Hà nội đã chở 1500 con gà bệnh (khoảng 3 tấn) đến bãi cát xã Hồng Vân, thường Tín để tổ chức tiêu hủy. Tuy nhiên tại đây, khi lực lượng chuyên ngành bắt đầu đưa gà xuống hố chôn theo quy định thì người dân địa phương đã đổ xô vào cướp gà. Do lực lượng chức năng quá ít, trong khi người dân lại đông nên đành bó tay. Người dân nhảy cả xuống hố để lấy gà, ném lên cho người đứng trên bờ cho vào bao tải. Tiếp đến, người dân đổ xô vây lấy xe chở gà và trèo lên cả xe để cướp. Thậm chí, để tiện cho việc lấy gà, có người còn leo lên ca bin, lái chiếc xe chở gà ra giữa bãi cát.

Kết quả là chỉ khoảng 20% số gà nói trên được tiêu hủy, còn lại đã bị cướp hết. Ngoài ra có những con gà chết bị vứt vương vãi khắp nơi”.

2. Dân oan

Từ thập niên 1990 đến nay, chính sách thu hồi đất của nhà nước xã hội chủ nghĩa để giải phóng mặt bằng xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, sân golf… đã biến 7 triệu nông dân thành dân không có đất sinh nhai. Trong đó, nhân danh chính sách thu hồi đất để phát triển kinh tế, các ông quan Cộng Sản địa phương, tỉnh, huyện, xã đã cướp đất của dân để làm của riêng, để bán cho tư bản đã tạo thành những lớp sóng phẫn nộ, phản kháng trên khắp nước. Để đối phó với vấn đề này, nhà nước đã thiết lập nhiều Văn Phòng Tiếp D&acirc
;n từ tỉnh tới thành phố, quốc hội, thủ tướng để người dân bị cướp đất, nhà cửa, ruộng vườn tới nạp đơn khiếu kiện. Có được cửa công lý nên dân đã tới, nhưng đâu biết đó là một thứ công lý giả nên đơn khiếu kiện chồng chất từ năm này đến năm khác không được xét sử với đủ thứ lý do. Xét xử làm sao khi tất cả từ trên xuống dưới đều là một bọn tham quan có đảng bảo vệ để độc quyền tham nhũng thì ai xử ai? Vì thế, những Văn Phòng Tiếp Dân ở Hà Nội (khu vườn hoa Mai Xuân Thưởng và 110 Cầu Giấy) và ở Sài Gòn (210 Võ thị Sáu) đã trở thành những Công Trường Đòi Công Lý. Dân oan lấy vườn hoa, hè đường làm nhà và áo họ đã trở thành những tấm biểu ngữ (để công an nhân dân không thể cướp và xé) tố cáo đích danh những ông quan địa phương: Chủ tịch xã, huyện và tỉnh đã cướp nhà cửa, ruộng vườn của họ. Khi dân oan tụ tập đông quá trong thời gian quốc hội họp, hay có những phái đoàn quốc tế tới thăm thì công an nhân dân lại đem lực lượng cơ động đến bao vây, bắt dân oan quẳng lên xe chở tới giam vào một nơi nào đó, hoặc chở đi đổ xuống một vùng xa thành phố. Rồi sau đó, từng lớp dân oan bị giải tán lại tìm đường trở lại Văn Phòng Tiếp Dân (tên đẹp mà sao nơi này lại nhiều uất hận). Có nhiều người đã đi nhặt rác hay ăn xin để có thể ở lại thành phố lâu ngày.

Thảm kịch dân oan đã quá lâu, quá lớn và đã trở thành một phần lịch sử của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ vô sản tiến về tư sản. Ở đây, xin ghi lại hai trường hợp mới nhất biểu hiện rõ nét về tình dân và tình quan:

Thứ nhất là dân oan lạy quan cộng sản:

Ông Nam Bình ở Cần Thơ, trong bài “Việt Nam ngày nay: Dân cày mất ruộng” đã viết:

“Lão nông Lâm Văn Phát từ huyện Thạnh Trị, Sóc Trang đội đơn ra quỳ lạy ở số 48 Lý Thường Kiệt, đòi lại 5000 mét vuông đất thấy mà xót xa. Bà Nguyễn Minh Chiếu ở An Giang bị cướp mất 70 công đất và 650 giạ lúa lại bị tù 3 năm vì lũ cướp ngày gian ác. Bà đã lăn lết ra Hà Nội để đòi công lý, nhưng công lý xa vời quá.

Hình ảnh ông Nguyễn Thanh Đạo ở Mộc Hóa, Long An quỳ lạy ở nhà ông Đặng Quang Phương, Trần Văn Tú là những phó chánh án (?) Tỏa Án Tối Cao ở Hà Nội thấy đau lòng quá. Thức cả đêm chờ đến sáng các quan này đi làm, chờ cổng mở, quỳ xuống đội đơn trên đầu và lạy theo từng bước chân các quan. Nhưng các quan này y hệt bọn đàn em cướp đất dân nghèo, lạnh lùng bước lên xe hơi, đóng cửa cái rầm kèm theo vài lời chửi mắng. Vậy mà dân oan vẫn chờ đợi và quỳ lạy, vì họ không còn đường nào khác, quay về nhà thì đất bị cướp mất rồi”.

Thứ nhì là tiếng khóc của dân Văn Giang:

Trong tháng 12/2008 có nhiều vụ chính quyền điạ phương sử dụng lực lượng công an, bộ đội để cướp đất của dân, chẳng hạn ở ấp T4 xã Vĩnh Phú, Kiên Giang (17/12), ở các phường Vĩnh Ban, Vĩnh Lạc, An Hòa, Rạch Giá. Nhưng đáng kể là vụ chiếm đất 3 xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Theo bản tin của nhóm Phóng Viên Nhân Quyền thì dân 3 xã trên, khoảng 23.000 người, có hơn 500 hec ta đất làm vườn và trồng cây cảnh để sinh nhai, nhưng đã bị chính quyền ra lệnh thu hồi bán cho công ty Việt Hưng để công ty này xây dựng khu đô thị (biệt thự, sân golf) và đã đền bù với giá rẻ mạt: 135.000 đồng/m2, trị giá tương đương với 10 kí gạo. Trong khi đó lãnh đạo chính quyền thì bán trao tay nhau với giá 6 triệu/m2. Khi dân hỏi tại sao bù cho dân 135 ngàn lại công khai rao bán trên mạng là 6 triệu/m2 thì ông chủ tịch xã trả lời rằng: Đi buôn phải có lãi!

Trước sự tước đoạt để mua bán trắng trợn đó, dân 3 xã đã chống lại, quyết giữ đất bằng cách thay phiên nhau đêm ngày canh đất, canh cây. Cuối cùng ngày 25/12/2008, chính quyền huyện Văn Giang đã huy động hàng trăm công an, lực lượng cơ động, cả thành phần đầu gấu cùng các phương tiện cơ giới đến cày, san ủi cơ nghiệp mồ hôi, nước mắt của dân. Khi dân Văn Giang giàn hàng ngăn cản xe ủi thì công an, bô đội huyện đã thẳng tay đàn áp, kéo, lôi, ném những người dân cản đường lên bờ như ném những con vật, rồi đấm đá, dùng dùi cui điện đánh vào dân bất kể già trẻ làm nhiều người bị thương và ngất xỉu.

Bị chính quyền đàn áp dã man, nên ngày 7/1/2009, trên 2000 dân Văn Giang đã kéo lên Hà Nội biểu tình trước văn phòng thủ tướng để bày tỏ nỗi oan. Ở đây họ đã không được gặp một vị quan nào để nói lên nỗi oan mà lại bị lực lượng công an, cảnh sát cơ động và thành phần xã hội đen đàn áp dã man hơn. Cứ 2, 3 tên túm một người quẳng lên xe bít bùng, rồi chở về Văn Giang, liệng xuống ven đê sông Hồng, giữa sự vật vã, lê lết cùng tiếng khóc của hàng ngàn con người.

Với sức mạnh của chuyên chính (công an, bộ đội, xã hội đen), chính quyền sẽ tước đoạt đ
ược đất sống của dân Văn Giang để xây khu đô thị Văn Giang. Nhưng trước thảm cảnh này, chúng ta tự hỏi là chính quyền xây cất khu đô thị cho ai và để làm gì để phải quăng dân Văn Giang ra ngoài thứ đô thị này mà dân Văn Giang không có quyền biết đến, không có quyền tham gia xây dựng như khẩu hiệu nhật tụng của nhà nước Xã Hội Chủ Nghiã: Dân Biết, Dân Bàn, Dân Kiểm Tra, Dân Hưởng Thụ. Câu trả lời đơn giản là nhà nước liên kết với tư bản để xây khu đô thị cho một loại dân khác, gồm những thành phần giàu có của đảng, của tư bản nước ngoài, của tầng lớp thành đạt trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Vì thế mới có chuyện cướp đất đi buôn của chủ tịch Nguyễn Cảnh Hưng. Ông ta nói: Đi buôn phải có lãi. Tất nhiên là như thế, nhưng sao không cho dân Văn Giang một phần cái lãi này? Các ông quan vô sản cũng không thể làm như thế, không thể chia cái lãi của nghề đi buôn không vốn này cho ai. Vì với tiền bán đất cùng đủ thứ làm ăn chia chác với tư bản thì sau khi giải quyết xong dự án đô thị Văn Giang, chỉ một bước nhiều quan chức vô sản của tỉnh, huyện sẽ trở thành triệu phú, tỷ phú. Do đó họ phải hy sinh 23.000 người dân Văn Giang cho sự nghiệp làm giàu của họ như nhiều nơi khác trên khắp nước, dân cũng đã phải hy sinh như vậy. Đến như những miền ven biển, nhiều nơi dân chài phải than là các cấp lãnh đạo đã bán hết bờ biển cho tư bản nước ngoài xây dựng khu du lịch đến nỗi họ không còn chỗ để đậu ghe thuyền đánh cá.

Chuyện xây dựng kinh tế, xây dựng khu đô thị thì trên thế giới, nước nào cũng làm. Chẳng hạn như những quốc gia ở Á Châu như Nam Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai… mấy chục năm qua, người ta đã xây dựng nhiều khu đô thị, khu chế xuất, khu viên kỹ nghệ, nhưng không ở đâu có chuyện chính quyền huy động lực lượng cảnh sát, quân đội, băng đảng xã hội đen đến cưỡng chế, cướp đất của dân bán cho công ty tư bản, rồi mặc xác đám dân sau đó sống ra sao không cần biết. Và người ta cũng có bờ biển, có làng đánh cá, nhưng chắc chắn không đâu có thảm kịch chính quyền bán bờ biển cho tư bản nước ngoài làm khu du lịch để dân đánh cá không còn chỗ đậu tàu thuyền. Cũng cần nói thêm một điều là những quốc gia ấy đã phát triển kinh tế rất nhanh, nhưng dân có quyền và chính quyền tôn trọng dân. Từ đó nước có quy củ và người dân quí trọng lẫn nhau. Cứ quan sát dân Hàn, dân Đài Loan sẽ thấy họ đối xử lễ độ, tôn trọng nhau ở bất cứ đâu trong đời sống thường nhật và chúng ta sẽ thương dân ta, rồi tự vấn: Tại sao họ có thể sống như thế mà ta lại không?

Trên đây chúng tôi ghi lại ít tình cảnh đời dân dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, và tự hỏi không hiểu trong tác phẩm hồi ký “Mênh Mông Tình Dân”, ông Lê Khả Phiêu đã ghi lại thứ tình này như thế nào và ông đã làm gì để đáp lại thứ tình Mênh Mông này?

III. Hận nước

Ngoài tình dân, đời của ông Phiêu còn gắn liền với nước, vì ông đã chiến đấu một đời cho độc lập, tự chủ của Việt Nam mà chắc nội dung tác phẩm Mênh Mông Tình Dân sẽ phải nói đến những chuyện này. Cũng như tình dân, chúng ta không biết ông Phiêu viết về tình nước ra sao. Nhưng trong 4 năm làm Tổng Bí Thư với tinh thần khép mình, phụ thuộc tìm nơi nương tựa như ông nói: “Trung Quốc thành công thì chúng ta thành công”, Lê Khả Phiêu đã cắt nhiều đất biên giới và biển cho Tàu bằng 2 hiệp định:

Thứ nhất là Hiệp Định Về Biên Giới Việt Nam Trung Quốc, ký tại Hà Nội ngày 30/12/1999 giữa Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Đường Gia Triền và Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm. Bản hiệp định không được công bố. Nhưng nay qua Bản Lên Tiếng của một số cựu chiến binh và giáo chức khu vực Hà Đông – Hà Nội gởi lãnh đạo đảng Cộng Sản ngày 14/1/2009 cho thấy diện tích lãnh thổ đã mất 1694 km2 (vì sách giáo khoa cũ và niên giám 1996 ghi diện tích Việt Nam là 336.991 km2, còn sách giáo khoa in năm 2006-2007 lại ghi 329.297 km2), trong đó khu vực danh thắng thác Bản Giốc thuộc Cao Bằng và khu địa linh Ải Nam Quan ở Lạng Sơn đã thuộc Trung Quốc như thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng mới công bố sau khi hoàn tất việc cắm mốc biên giới ngày 22/12/2008.

Thứ nhì là Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam – Trung Quốc, ký ngày 25/12/2000 giữa Nguyễn Mạnh Cầm và Đường Gia Triền. Bản hiệp định cũng không được công bố, nhưng theo những nguồn tin được tiết lộ thì với hiệp định này, Việt Nam đã mất cho Tàu trên 10.000 km2 biển.

Sau khi Lê Khả Phiêu cống cho Tàu gần 2000 cây số vuông đất biên giới và trên 10.000 cây số biển, Nông Đức Mạnh cùng với Đỗ Mười, Trần Đức Lương, Lê Đức Anh và Phan Văn Khải đã mở đường cho Trung Quốc xâm lấn Việt Nam theo chính sách “Hợp Tác Toàn Diện Giữa Các Ngành Ngoại Giao, Quốc Phòng, Công An, An Ninh…” qua tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc ngày 17/11/2006 trong dịp Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt
Nam. Và với mỹ từ hợp tác toàn diện, Tàu đã khống chế Việt Nam từ đất đến biển:

Với biển, Trung Quốc tuyên bố Nam Hải thuộc chủ quyền của Trung Quốc với luận điểm hàm hồ là từ thời Hán Vũ Đế (trên 2000 năm trước) và thời Minh thành Tổ (thế kỷ 15), hải quân Trung Quốc đã đi tuần thám Nam Hải và đã khám phá ra Hoàng Sa và Trường Sa. Từ luận điểm hoang đường về chủ quyền này, Trung Quốc khai thác Hoàng Sa, lấn chiếm Trường Sa, không cho Việt Nam đánh cá và thăm dò dầu khí ở vùng Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế, từ năm 2005 ngư phủ Việt Nam ra đánh cá những vùng gần Hoàng Sa và Trường Sa đã bị hải quân Trung Quốc bắt, bắn giết, đâm bể tàu và xua đuổi, còn chuyện tìm dầu thì không một công ty tư bản nào dám liên doanh với Việt Nam để thăm dò dầu khí ở vùng Trường Sa vì bị Trung Quốc cảnh cáo, phản đối là những hoạt động ấy đã vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc ở Nam Hải, chẳng hạn tập đoàn BP của Anh năm 2007 và tập đoàn Exxon Mobil của Mỹ năm 2008 đã ký hợp đồng rồi đã phải bỏ.

Rồi để thực hiện luận điểm chủ quyền Nam Hải, ngày 22/11/2008, Trung Quốc công bố tập đoàn dầu khí của Trung Quốc (Cnooc) sẽ thực hiện dự án 29 tỷ đô la để thăm dò khai thác tại biển Nam Trung Quốc, trong đó có khu vực Hoàng Sa và Trường Sa mà chính quyền Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền. Tất nhiên đối với việc Trung Quốc làm, bộ ngoại giao Việt Nam cũng như những lần trước đã lên tiếng phản đối với luận điểm “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và các quyền hợp pháp đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam”. Phản đối như thế, nhưng nếu Trung Quốc tiến hành việc thăm dò (mà chắc Tàu đã nói là Tàu làm) thì chính quyền Việt Nam sẽ làm gì để ngăn cản hay lại lên tiếng phản đối cho phải đạo để dối dân, rồi im lặng tuân thủ chính sách 16 chữ vàng và 4 tốt: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai và mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.

Đó là chuyện mất biển, còn chuyện lãnh thổ thì từ thời Lê Khả Phiêu tới nay, Trung Quốc đã lặng lẽ xâm lấn Việt Nam bằng chính sách 16 chữ vàng như sau:

Về kinh tế:

Từ sau trận chiến “Dạy cho Việt Nam một bài học” năm 1979, Trung Quốc vẫn không ngừng trận chiến phá hoại kinh tế Việt Nam bằng đủ thứ đòn hiểm ác. Khởi đầu là thu mua dây điện thoại, xích xe tăng, nòng đại bác, các loại rễ cây, cây con, sừng móng trâu bò, gỗ quí, các loại muông thú rừng, rồi đến biến vùng biên giới thành cửa khẩu để tuồn vào Việt Nam các loại hàng lậu và cả tiền giả.

Về di dân:

Năm 2008, chính quyền Việt Nam đã quyết định miễn chiếu khán nhập cảnh cho người Hoa vào Việt Nam. Quyết định này là một biện pháp giúp người Hoa ở lại Việt Nam dễ dàng, vì họ có thể nhập vào những cộng đồng người Hoa trên khắp Việt Nam để làm đủ mọi ngành nghề mà ngày nay thì cộng đồng người Hoa lại có nhiều ưu thế về kinh tế và cả chính trị.

Về chính trị quốc phòng:

Đảng Cộng Sản Việt Nam bị đảng Cộng Sản Trung Quốc chế ngự có một lịch sử lâu dài, nhưng đến nay, qua chính sách Hợp Tác Toàn Diện, với nhiều sự việc đã xảy ra, có thể nói là bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành cơ quan nội ứng của Tàu, mở đường cho Tàu vào Việt Nam. Vì thế chúng ta thấy:

– Dân Tàu được đi lại, cư trú ở Việt Nam như trên đất Tàu.

– Chính quyền cấm tất cả những biểu lộ và ngôn ngữ chống Tàu của dân Việt.

– Những di tích chống Tàu sau trận chiến 1979 đã bị xóa bỏ. Những nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc trong chiến tranh biên giới Việt Trung đã được đổi tên thành “Nghĩa trang Liệt Sĩ Trung Việt”. Chẳng hạn một tấm ảnh trên trang web www.ykien.net cho thấy Nghĩa Trang Liệt Sĩ Long Châu (Thủy Khấu) ở biên giới tỉnh Cao Bằng đã được đổi thành “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trung Việt Thủy Khấu Long Châu” với tượng đài lớn và hai hàng chữ Hoa và Việt. Như thế là Việt Nam đã đồng lòng với Tàu làm những đài tưởng niệm liệt sĩ Trung Việt ở biên giới để nhớ ơn đoàn quân Tàu đã sang xâm lăng Việt Nam.

– Trung Quốc đã chế ngự Việt Nam ở biển Đông.

– Và đến nay đảng Cộng Sản Việt Nam mời Trung Quốc lên Tây Nguyên với những dự án bauxite. Chuyện bauxite lộ liễu, bất thường và quá nguy hiểm về cả sự tàn phá môi trường lẫn an ninh quốc gia, nên từ tháng 11/2008 đến nay đã dấy lên một làn sóng phản đối từ các giới nghiên cứu khoa học, kinh tế, báo chí và dân chúng trên khắp nước. Cứ đọc bài nghiên cứu đầy tâm huyết của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công Ty Năng Lượng Sông Hồng, bác bỏ dự án mà Nguyễn Tấn Dũng đã duyệt, cùng những ý kiến của mọi giới về bài nghiên cứu này, sẽ thấy lòng dân phẫn nộ và âu lo như thế nào đối với dự án.

Đến Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng phải viết thư gửi Nguyễn Tấn Dũng (5
/1/09) đề nghị dừng triển khai các dự án khai thác bauxite. Trong thư ông cho biết là năm 1980, chính phủ đã có chương trình khai thác bauxite trong kế hoạch hợp tác với khối COMECON, nhưng đã phải bỏ vì sau khi khảo sát, các chuyên gia Liên Sô và khối COMECON đã khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài, nghiêm trọng không thể khắc phục, chẳng những đối với dân cư tại chỗ mà còn cả với dân cư vùng đồng bằng Nam bộ. Ngoài chuyện sinh thái, ông còn nói đến vấn đề an ninh quốc phòng và đã nêu lên một sự kiện: Trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại mỗi dự án).

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã không đếm xỉa gì đến ý kiến của các nhà khoa học, đến ý dân, đến những lời khuyên can đầy lo âu của tướng Giáp, nên Nguyễn Tấn Dũng, trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 4/2/09 đã khẳng định: Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước.

Chuyện đã đến như thế thì chỉ có thể giải thích là đảng Cộng Sản Trung Quốc đã biến cả bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam thành nội tuyến mở đường cho Tàu vào xâm chiếm Việt Nam bằng con đường 16 chữ vàng.

Trước đây có những nhận định là Trung Quốc làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, ngoài chuyện kinh tế, Trung Quốc có một lợi thế là dùng hai quần đảo này làm căn cứ để tiến quân cắt đôi Việt Nam ở miền Trung. Nhưng đến nay thì chuyện dùng Hoàng Sa, Trường Sa làm bàn đạp không cần nữa, vì với những dự án bauxite cùng chục ngàn lính Tàu giả làm công nhân, Trung Quốc sẽ dễ dàng nắm yết hầu Việt Nam.

Kết luận

Từ câu chuyện Mênh Mông Tình Dân của Lê Khả Phiêu, chúng tôi xin kết luận mấy điều:

1. Với Lê Khả Phiêu:

Trước hết ông Phiêu là một đảng viên đảng Cộng Sản, đã từng là người lãnh đạo tối cao của đảng và trở thành một tỷ phú (theo tin, tài sản có 5 khách sạn 5 sao ở Hà Nội và Sài Gòn, và trên 1 tỷ Mỹ kim), sống xa hoa trên sự đói nghèo, tủi nhục của đa số dân Việt do chế độ độc trị và kinh tế xã hội chủ nghĩa của đảng Cộng Sản tạo ra.

Ông Phiêu nhập vào phong trào Việt Minh từ lúc 15 tuổi, chiến đấu cho độc lập, tự chủ của Việt Nam, nhưng khi lên làm Tổng bí Thư, Lê Khả Phiêu đã quên mất mấy chữ độc lập tự chủ nên đã cắt đất nhượng biển cho Tàu với tinh thần nô lệ: “Trung Quốc thành công thì ta thành công”.

2. Với đảng Cộng Sản:

Đời của Lê Khả Phiêu cũng như đời của nhiều đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản là đã đạt vinh hoa phú quí trong thảm kịch của nước, vì khi đảng phát động 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Việt Nam Quốc Gia (1946-1954), chống Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa (1960-1975) với mục tiêu giành độc lập, thì trong 2 cuộc chiến tranh hủy diệt gần 4 triệu sinh mạng này đã tiềm phục một mối họa cho nước là đảng Cộng Sản đã không độc lập tự chủ với Nga, Tàu vì đã nhận viện trợ để làm một tên lính xung kích cho Liên Sô và Trung Cộng phát triển đế quốc Cộng Sản. Vì thế, khi thế giới Cộng Sản tan rã thì đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa Việt Nam vào vòng lệ thuộc Trung Quốc theo tham vọng bành trướng của đảng Cộng Sản Trung Quốc như lời của Mao Trạch Đông đã nói với lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á” và “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng Đông Nam Á rất giàu, ở đây có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy” (Bạch Thơ – Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam – Trung Quốc Trong 30 Năm Qua”.

Trong đời Mao, Mao chưa thực hiện được giấc mộng đế quốc Đại Hán, nhưng tới thập niên 2000 thì đảng Cộng Sản Trung Quốc đã có Việt Nam trong tay và đã có thể tung hoành ở biển Đông. Vì thế năm 2000 và 2006, Giang trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đã từ Bắc Kinh đến thẳng Hội An tắm biển, nhìn ra Hoàng Sa, Trường Sa trước khi ra Hà Nội ban chỉ thị cho lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Hành động của Giang và Hồ cao ngạo bất thường, nhưng hai tên này đã làm như thế để nói với thế giới là Việt Nam và Nam Hải đã thuộc quyền của Trung Quốc.

Và đến nay thì Trung Quốc đã đi dần tới việc kiểm soát Việt Nam toàn diện khi có thể thung dung đem quân lên Tây Nguyên vừa khai thác bauxite vừa chiếm giữ hiểm địa cao nguyên để thực hiện tham vọng bành trướng Đại Hán mà Mao đã vạch ra từ thập niên 1960.

3. Với đảng viên đảng Cộng Sản:

Trước những thảm kịch đang diễn ra trong xã hội Việt Nam, chúng ta thấy là 3 triệu đảng viên đảng Cộng Sản, từ thấp tới cao, đã dùng đất nước như của riêng và bóc lột 80 triệu dân, coi dân như những súc vật, để làm giàu cho cá nhân, nhưng họ đã quên một mối họa là rồi đây chính họ, con cháu họ sẽ trở thành những tên nô lệ của đế quốc T&agra
ve;u, và lúc đó họ và dân Việt lại thành những con vật dưới ách thống trị của thực dân Tàu. Khi đó ai là Việt, ai là Tàu? Ai là kẻ thống trị và ai là kẻ bị trị?

Từ một số sự việc ghi lại trên đây xin thưa là trên nửa thế kỷ thống trị với chế độ chuyên chính, đảng Cộng Sản Việt Nam đã gây nên những thảm họa cho dân, cho nước như thế thì làm gì có chuyện tình dân, tình nước mà Lê Khả Phiêu lại lộng ngôn với tác phẩm Mênh Mông Tình Dân?

Chúng ta hiểu những người lãnh đạo Cộng Sản luôn luôn dùng mỹ từ xảo trá để quay lưng lại những sự thật đen tối đau lòng. Vì thế chúng ta phải kéo họ quay lại một sự thật, một Thực Từ là đảng Cộng Sản Việt Nam, là chính họ đã tạo cho nước một bộ sử: Mênh Mông Hận Nước.

 Bản để in  Bản để in

http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=8483




Bác Lại Tìm Đường (Kỵ Binh)

                           
BÁC LẠI TÌM ĐƯỜNG…
                                       Kỵ Binh
Cu Tèo cưng ,
Trước tiên Bác cám ơn Tèo – Bác bây giờ cũng biết cám ơn chớ bộ! Nhờ ra khỏi lăng-tù mà nay Bác mở mồm nói được hai tiếng “cám ơn” như ai. Cu Tèo có biết bác học được ở mô không? Số là từ ngày dấn thân vào chốn bụi đời, không còn nguồn tài trợ từ các đồng chí ấy nữa, Bác phải tự túc tự cường lo lấy thân; mấy ngày đầu, phần lo hoá trang, phần còn sợ hãi các đồng chí công an, không dám ló mặt đi mô nên ôm bụng chịu đói, nhưng nhờ bản tính mưu lược lại kinh nghiệm đầy người, luôn thích nghi hoàn cảnh, nhuần nhuyển việc giả dạng thường dân, thay tên đổi họ, Bác hoà mình mau với các đồng chí Cái Bang. Bác nhớ lời đồng chí Hoàng Trung Thông, “Bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm” dùng dạy các cháu nhi đồng, dạy các người xác lớn mà trí đần, và sau này đem dạy đám ngụy quân ngụy quyền tập trung cải tạo, dạy luôn ba chục triệu người Miền Nam không biết lao động là vinh quang nên sống trong cảnh phồn vinh giả tạo. Nhờ vậy, Bác vận dụng một cách tài tình sáng tạo hai bàn tay, ngửa ra cực kỳ khéo léo trước đám khách du lịch người nước ngoài và Việt Kiều. Hạng người này hành xử lạ cách chi: đã mất tiền cho người ta rồi lại còn nói cám ơn. Hồi đầu Bác thấy ngồ ngộ, dần dà hay hay,rồi đâm ra thích thú và bái phục. Thế là nhờ vậy mà Bác học nói được cám ơn.
Cám ơn CuTèo đã lo lắng, gợi ý khuyên Bác vô Nam, và giới thiệu gởi gấm Bác cho chú Lê Văn Th. ở trong đó. Bác rất hồ hởi phấn khởi, vì Bác nay chán ngấy cái thủ đô trước đây Bác lỡ huênh hoang là của phẩm giá con người này quá rồi. Hèn chi con “Bé Crys”, cách nay mấy năm ,mới có 17 tuổi đầu, lăn lội từ trong Nam ra đi tham quan cái nôi văn hóa loài người về, nó viết bài “Fucking Hanội” mà Bác mới đọc được ở www.ssc.vn/forum/showthread.php?t=35452. Bác chán đủ thứ, nhưng buồn nhất là Hà nội ngày nay đã làm Bác mất lửa, Nhớ hôm mới chuồn ra, mặc dầu sợ ơi là sợ các đồng chí công an, nhưng thấy xa xa hình Bác trên các maí nhà là Bác đứng lại nhìn khoái củ tỉ, lòng lâng lâng tự hào, hệt như cảnh chú Phiêu dịp Tết con Tru vừa rồi chụp chú Phiêu đang đứng cười mỉm chi tay chỉ chỏ hình chú ấy phóng to chưng sau cặp ngà voi vô tri vô giác nhưng thoát ra cái hồn cực kỳ bất mãn vì mình…qúy như ngà voi mà bị bắt buộc đứng chầu cái mặt đầy thịt gấp nếp túi tăm bần tiện. Hình nào của Bác cũng được chưng cao hơn lúc trước, mà lại đồng bộ, hình nào cũng giống hình nào: mắt thì đeo kính trắng trí thức, miệng thì cười tươi như hoa, áo trăng toát; các đồng chí họa sĩ nhân dân thiên tài  lại còn thắt thêm cho Bác cái cà-la-oắt màu đen. Những ngôi nhà treo hình Bác như thế toàn là những nhà mang tính hoàng tráng, mái nhà thì toàn ngói màu đỏ, tường vôi trắng xóa, nét đặc biệt thú vị là lúc nào cũng có người ra vào, nhất là giữa buổi trưa và chiều thì cực kỳ tấp nập. Nhưng sau này, khi thấy mình tự tin, đỡ sợ bị lộ tẩy, Bác lại gần xem …hình Bác: Bác ngã cái bịch, may mà gượng đứng dậy được, nếu xỉu, để người ta khiêng đi cấp cứu thì Bác khó mà dấu được tung tích.Tèo ơi, không phải hình Bác Hồ, mà hình ông già KFC, tức ông  Kenturkey Fried Chicken, tiệm bán gà rán Mỹ!!!…Vậy mà các đồng chí ấy mồm thì cứ xoèn xoẹt hô phải noi theo gương Bác Hồ. Hồ gì nữa mà Hồ; Bác KFC, Bác Gà Tây Mỹ Rán thì có.
Bác tưởng con cháu Crys nó giở giọng “Fucking Hanoi” vì nó là dân Saigon ra, mang ba đời dòng máu phản động, nó quen với văn hóa đôi trụy nên nó vừa dị ứng vừa cố tình bôi bác cái nôi của loài người, tức cũng có nghĩa rằng thì là nó bôi tro trát trấu lên mặt Bác. Bác tưởng thế, nhưng không phải thế.Nó phản ánh đúng người thật việc thật. Ngay những cháu tưởng là..ngoan của Bác, thuần chủng bần cố ba đời, sinh ra hoc hành trong lòng chế độ của Bác mà cũng đã “fucking..Bác Đảng” từ lâu rồi! Hôm kia, nghe lõm đồn đãi, Bác mần mò vào Google, đánh hai chữ “Thép Đen” rồi ấn con chuột một cái, Bác nghe người ta đọc “Hồi Ký Đặng Chí Bình”.Nghe vừa rờn rợn tóc gáy vừa khoái củ tỉ. Đặng Chí Bình là một điệp viên rất trẻ, từ Miền Nam xâm nhập đất Bắc năm 1962, bị bắt ngay sau thời gian rất ngắn, và bị nhốt ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Cu Tèo chỉ cần mở cái đoạn Đặng Chí Bình được chuyển sang ở chung với đám tù hình sự mà phần đông là thanh thiếu niên, nghe bọn này ca ngợi gián điệp Ngụy và chửi Cộng Sản thì hiểu Bác muốn nói gì…; cũng nơi nhà tù này,có cô cán bộ y tá tên Vân trẻ đẹp lại không dấu diếm, dâng tình yêu đầu đời cho anh gián điệp Ngụy đang tàn tạ cuộc đời! Ồ mà này Cu Tèo, Bác cũng “vượt tường lửa” đọc lóm được nhiều chuyện tình lâm ly giữa công an Kách Mệnh gái canh tù ngụy cải tạo. Bác cũng nghe đâu như hồi ở trại cải tạo A30 tỉnh Tuy Hoà có cô hộ lý trẻ của đồng chí Trung tá giám đốc Trại Nguyễn Hữu Hạnh hay thuổm dầu xăng của nhà kho, lén lút mang cho Ngụy quânTèo rồi Tèo phân phối tùm lùm cho bạn bè, có phải không nà ?
Bác chán vì đến đâu hỏi han bon trẻ thì cứ y như rằng, chúng trả lời “đê’..với đe..’. biết”. Bác đây dân cá gộ mà cũng phải ngán ngẩm gịọng nói, tiếng nói Hà nội bây giờ sao mà khăm khẳm “con thuyền Nghệ An” của Bác quá. Tèo biết, sau đúng bốn chục năm ăn toàn một thứ foọc-môn, thuốc ướp xác ấy, bây giờ cái chi Bác cũng thèm ăn. Bác đi ăn phở, ăn bún, ăn lung tung đủ thứ , nhưng nơi mô khách cũng bị chủ quát tháo; mình có phàn nàn đợi lâu quá thi chủ nó mắng ngay vào mặt “Làm đ. gì mà rối cả lên”; đang ăn, xin thêm vài cọng giá thì nó quát,”lần sau thì gọi mẹ nó một lần cho nhanh!”.Với lão già chống gậy mà nó còn đối xử như rứa .Có khi Bác vưà ăn vừa nước mắt lưng tròng;Bác tủi thân; Bác nhớ lúc trẻ làm bồi dưới tàu Tây, có khi vì thả hồn bay vào đất liền lo lắng về số phận cha mình giờ đang lang bạt kiếm ăn sau khi bi đuổi việc, mà lơ là việc rửa chén bát, Bác bị người Pháp bắt gặp mấy lần nhưng không lần nào Bác bị họ nặng lời kiểu này.Người Hà nội thuở trước thanh lịch bao nhiêu thì nay ngược lại bấy nhiêu. Đúng là thành quả của cuộc Kách Mệnh do Bác và Đảng làm long trời lở đất. Chưa đúng, cuộc Kách mệnhh này thành quả còn khủng khiếp hơn “trời long đất lở”. Trời có long ra, thì trời vẫn đứng đó; đật có lở ra thì bên này lở bên kia bồi nên đất có mất cục nào! Trời bị đạp xuống “thằng”; đất thì bị cắt dâng cho bắc phương. Ờ mà người ta đang sống cái văn hóa mới xã hội chủ nghĩa thì có gì mà phải nhao nhao lên trước việc hết đồng chí Hoàng Minh Chính, đến Nguyễn Thang Giang ..nay tới phiên cháu gái Trần Khải Thanh Thủy được Các đồng chí lãnh đạo bố trí các đồng chí công an nhân dân đội lốt côn đồ đến rắc phân tươi nơi sân nhà; nhưng người trần mà ăn thua gì, với thần thánh mà chúng còn sai người trét thứ ô uế ấy lên mặt như vừa rồi ở nhà thờ Thái Hà! Nhưng trong cái tinh thần cúi đầu ăn năn thống hối mà Bác đang sôi gan cho việc ..chính Bác đây là đầu dây mối nhợ của mọi sự cố đau thương đã diễn ra, đang diễn ra và sẽ diễn ra dài dài cho Dân Việt, Nước Việt Nam này. À Bác đang kể dở dang chuyện phở nhiếc, phỏ quát, phở chửi  đến mô rồi hỉ ? Bác nhớ rồị. Ăn có mỗi tô phở mà khi tính tiền, thấy trên tay Bác tờ giấy bạc in hình Bác Hồ, mụ chủ bỉu môi, lườm lườm mắt hỏi Bác có tiền Đô la Mỹ không. Hèn chi hồi còn nằm trong lăng, Bác đã nghe phong thanh nào là “bỏ đồng Rúp núp đồng Đô”, là “Đồng Đô xô đồng Hồ”. Bác chán Hà nội vì mới đây chỉ một trận mưa vừa vừa mà Bác suýt chết trôi ở giữa phố, may với kịp được cái chõng tre nhà ai bị nước cuốn ngang trước mặt. Ôi thì kể bao giờ cho hết chuyện Hà nội ba mươi sáu chán chường.
Trước khi rời Hà nội, Bac đã i-meo hỏi ông Bùi Tín bên Paris địa chỉ nhà cậu con trai thứ của Bác. Bác mò trong đêm và đã lẻn được vào nhà thằng Trung. Cha con gặp nhau, nhưng nó không nhận ra Bác;Bác giải thích sự tình đầu đuôi mà nó cứ ngơ ngơ ngáo ngáo, như người ngoài hành tình mới đổ bộ địa cầu; như vậy là đúng với tin đồn rằng các đồng chí lãnh đạo đã chích cho nó thuốc khù khờ đù đẫn rồi..Bác thấy có tội với mẹ con nhà nó quá. Bác cho giết mẹ nó, mà như giết cả đời nó, nó sống mà như chết rồi, mà chết đi còn hay hơn. Nhà thằng Mạnh thì ai cũng biết điạ chỉ, kể cả Bác đây, nhưng nhà nó hàng rào nhiều lớp quá; chó vàng chó đen, lại có cả chó xanh xanh cả bầy, không cách nào vào được, mà có vào được thì cũng như không, vì nó nói với báo chí nước ngoai, “người Việt Nam, ai cũng là con Bác Hồ cả”, nói trắng ra là thằng Mạnh đã chính thức từ Bác là cha ruột nó.
Lăng Bác đã trốn đi như trốn khỏi nhà tù, Hà nội thì ngao ngán, con cái thì đứa mất trí, thằng mất hiếu thất đức, các Đồng Chí khi xưa, nay đã đổi hướng Đồng Đô. “Có Đô La làm ra tất cả, ngu như bò, bằng giả cũng đầy kho”. Nhắc đến bằng giả, Bác nhớ có lần buồn quá đi lang thang đến Văn Miếu, Bác nhìn danh sách một lô tiến sỹ mà mếu vênh mặt mày: Bác thấy tên những đồng chí lúc xưa đang học trường làng, Thầy cô đục mãi không vô, bị đuổi về nhà đứa chăn trâu, đứa hoạn lợn, rồi đi theo Kách Mệnh làm du kích, không biết chui ở đâu ra mà nay tiến sĩ này tiến sĩ nọ.
                                       
Thôi, nghe lời Cu Tèo, Bác lên đường xuôi Nam đây. Càng sớm càng tốt,kẻo đường sá lại bị cúp ngang cho các đồng chí Trung Quốc yên ổn khai thác quặng bô xít. Bác nghe đồng bào đang bán tán, chuyến này quyết không để cho 15 đồng chí cưỡi cổ 85 triệu dẫn mãi, phải ra tay ngay. Không thì mất nước. Trời ơi, cũng vì Bác mê muội giấc Đại Đồng mà xúi đại chú Đồng ký công hàm bán nước 14/9/1958.
 
Mong tin cháu, cho Bác đỡ bước cô đơn.
Bác Hồ