Khổng Trọng Hinh : Thư gửi ông bạn sắp cưới!

Thư gửi ông bạn sắp cưới!

Gửi ông!

Tôi vừa nhận được thiệp mời của ông cách đây 2 phút. Thế là tôi sắp toi vài lít, còn ông sắp toi cả cuộc đời…
Giờ này tôi có khuyên nhủ chắc cũng không nhằm nhò gì, bởi khi ông trao nhẫn cưới cho vợ ông cũng có nghĩa là vợ ông đã xỏ nhẫn cưới vào… mũi ông
(Đấy, chúng ta luôn thua từ khi trọng tài thổi còi bắt đầu hiệp đấu).
Mụ vợ tôi (thư này dành riêng cho ông nên tôi gọi như vậy mong ông giữ mồm, giữ miệng cho), mụ vợ ông và các mụ vợ trên đời tuy không cùng cha, cùng mẹ nhưng đều giống nhau bởi dòng máu chiếm hữu lúc nào cũng chảy rần rật.
Mụ ấy đổ đồng tình yêu và sự chiếm hữu. Cái thân xác này, mụ chiếm hữu đã đành, nhưng cái khoảng thời gian bé tí tẹo vênh ra vào giữa giờ ăn trưa cũng bị mụ kiểm soát chặt chẽ. Giờ trưa nghỉ ngơi tí chút, Yahoo Messenger phải vàng khè, thi thoảng mụ xì-pam một cái.  Không thấy thì mụ gọi điện thoại, gọi bàn, di động, không được thì mụ gọi cho đồng nghiệp. Ông có tin không, 8 năm nay, chưa bao giờ tôi thoát khỏi tầm mắt mụ. Mụ gọi thế là yêu, là quan tâm, lo lắng…
Mỗi lần thông báo đi công tác là tôi phải lấy tinh thần, mở miệng như người có lỗi và y rằng mặt mụ dài như cái bơm. Mụ buồn vì không có chồng trong 2,3 ngày, còn tôi như mở cờ trong bụng vì không “bị” yêu thương, lo lắng ít nhất trong 48 giờ.
Mụ thuê ô-sin để trông con, còn mụ rảnh rang để… trông tôi.
Năm thì mười hoạ mụ mới cấp cho cái “quota” được đi bù khú với đám bạn… 10 năm không gặp. Mà đám bạn đó, ai, ở đâu, làm gì, điện thoại bi nhiêu… mụ đều lưu trong bộ nhớ phi thường mà đôi khi tôi nghĩ người trần không mấy ai có. Và suốt cái buổi nhậu hiếm hoi ấy mụ cứ réo rắt gọi. Nghe ồn ào thì mụ hỏi: “Tại sao ồn thế, có phải nhậu xong rồi rậm rật đi karaoke bàn tay vàng?”, im lặng thì mụ dán tai vào, rít lên: “Tại sao yên tĩnh, có phải rửng mỡ mò vào nhà nghỉ?”. Nếu đêm đó tôi mà về muộn thì quả là thảm kịch.
Biết mình có lỗi, tôi rón rén bước vào nhà, vén màn thất kinh khi thấy mụ tóc tai dựng đứng, mắt thâm quầng, ngồi nhìn trừng trừng lên trần nhà (sau này tôi mới biết mụ quả là cao tay, mụ vẫn ngủ, ngáy ngon lành, nhưng khi nghe tiếng kẹt cửa, mụ ngồi phắt dậy, xõa cho tóc tai dựng ngược, quệt tí phấn mắt màu chì vào quanh mắt, rồi ngồi chờ chồng như thể từ kiếp trước). Cho dù, có mệt rã rời vì bia rượu, tôi vẫn cố gắng trả đủ bài vì đó là phép thử của mụ. Vậy mà sáng sau, chưa kịp hồi sức, đã nghe thấy tiếng mụ cha chả, xoong nồi xủng xoảng, mụ quát chó, chửi mèo, đánh con chí chóe…
Và tôi, cố lết tấm thân xác bèo nhèo – 8 năm trước còn lịch lãm, hào hoa nhất lớp (ông biết mà) – dắt xe ra khỏi cửa, đứa lớn ngồi sau, đứa bé ngồi trước (mà vẫn thò tay cấu nhau), khăn bịt mặt, nón trùm đầu, sữa, cặp sách… lôi thôi như dân tị nạn.
Than ôi, làm người đã khổ, làm chồng còn khổ hơn gấp bội! Đôi khi (nhất là khi tôi nộp cho mụ một cục tiền), mụ cũng nới chút đỉnh cho tôi “thở”, nhưng cũng chỉ là “thở hắt”, nhất quyết không cho “thở dài”.
Về nhà, nếu tắt điện thoại thì mụ tra: “Sợ em nào gọi hay sao mà tắt”, nhưng cứ có điện thoại gọi đến là tôi giật mình thon thót. Không nghe cũng chết mà nghe thì con người mất hết văn minh, lịch sự. Tôi phải nói thật to, càng ông ổng càng tốt, càng thô bạo (mày, tao, ông, tôi) càng tốt, đi lại thật hoành tráng, vung chân, vung tay dù có khi đầu dây bên kia chỉ hỏi mỗi câu: tài liệu để đâu? Nếu tôi nói nhỏ thì mụ sẽ cho là có vấn đề, mụ sẽ khảo, sẽ tra cả đêm cho ra vấn đề… vì sao nói nhỏ.
Thực ra mụ (và các mụ) lo hơi thừa, thân thủ phi phàm như các mụ thì tôi (và chúng ta) là vỏ quýt chứ có là vỏ dừa mụ đâm cũng thủng.
Ông có biết, khi về nhà bộ mặt của lũ chúng ta phải thế nào các mụ mới hài
lòng không? Câu hỏi không bao giờ có đáp án, bởi:
Nếu ông cáu gắt: Mụ cho là ông có bồ ruồng rẫy vợ con.
Ông vui vẻ: Mụ cho là ông có bồ nên phởn phơ, hứng chí.
Ông chu đáo: Mụ cho là ông có bồ nên thấy cắn rứt, hối hận.
Nói chung, trong mắt các mụ vợ tự cho mình là Sơ-lốc Hôm, kiểu gì ông cũng “phải” có bồ.
Mụ xấu cũng bảo tại chồng, già cũng bảo tại chồng (thời gian mụ dành để quản thúc đâu có chịu vào sa-lông làm đẹp bao giờ). Tuần rồi, xem chung kết hoa hậu, tôi toàn nhìn… ngón chân cái, thi thoảng mới dám liếc trộm mấy em.
Triết lý cơm-phở luôn đóng đinh trong đầu mụ, mà mụ đâu có biết cơm có thể ăn cơm nguội hoặc chiên, chứ phở có ai ăn nguội hay chiên bao giờ. Cơm dù không ngon nhưng ngày nào người ta cũng có thể ăn, còn phở thì ai có thể xơi triền miên.
Hôm nay, tôi có hẳn 1 tiếng tự do, dĩ nhiên tôi phải nói dối mụ, phải huy động bạn đồng nghiệp, phải lạy lục em lễ tân để lỡ mụ có kiểm tra. Nhưng tôi mất 25 phút viết thư cho ông, còn 35 phút nữa tôi phải đi lai rai cốc bia với bạn bè trước khi… chui về lồng.
Giờ này năm sau, nếu ông quá bức xúc, cứ đến tôi, tôi chỉ cho ông cách khởi nghĩa mà không bị dìm vào bể máu.
Tôi đi đây. Không, tôi bắt đầu khởi nghĩa đây. Cũng phải chọn quán bia gần gần, vì còn cái đồng hồ công tơ mét nữa chứ…



Đỗ Mai Lộc : TIẾNG NÓI từ MỘ ĐỨC


Những Thằng Bán Nước

“Không ai làm Thủ tướng lâu như tôi và cũng không ai làm khổ dân nhiều hơn tôi!”  PVĐ

  

Posted  by hoanghaithuy

Ho Chi Minh + Pham Van Dong
 
Tiếng Nói từ Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Trang Nhà “VietQuoc.org” đăng bài “Tiếng Nói từ Mộ Đức” của ông Đỗ Mai Lộc. Ông này tự nhận là cháu của Cựu Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam Phạm Văn Đồng. Mời độc giả đọc bài của người công dân Mộ Đức-Quảng Ngãi viết về người “Thủ Tướng” sinh truởng ở xứ ông. Người viết Đỗ Mai Lộc hiện ở trong nước.

TIẾNG NÓI từ MỘ ĐỨC

Viết tưởng niệm 50 năm ngày ông Phạm Văn Đồng, người là Bộ Trưởng Thứ Nhất chính phủ Bắc Việt Cộng Sản, ký công hàm công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc.

Tôi xin tự giới thiệu: Tôi là một công dân sinh ra và lớn lên trên quê hương Mộ Đức của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tôi được đào tạo liên tục từ tiểu học lên đại học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Về mặt gia đình tôi gọi ông Đồng bằng “ông”. Do có quan hệ họ hàng nên trong gia đình tôi năm xưa có người theo ông Đồng rồi bị Pháp bắt và sát hại từ những năm 1930.

Không khoe khoang nhưng tôi muốn nói rằng không có lý do gì mà tôi lại không tự hào tôi có liên hệ gia đình với ông Phạm Văn Đồng và không nói tôi kính trọng ông Phạm Văn Đồng.

Đúng là thế hệ chúng tôi đã từng tự hào là quê hương chúng tôi đã sinh ra một người con ưu tú như ông Phạm Văn Đồng. Một sự tự hào đã được giáo dục để trở thành “bản năng”, như là một “phản xạ không điều kiện”, mà trong tất cả các bài tập làm văn chúng tôi đều phải có những câu đại loại: “tự hào là một học sinh dưới mái trường XHCN, tự hào được sống trong thời đại Hồ Chí Minh, tự hào quê hương đã sinh ra Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại“, vân vân và vân vân.

Nhận thức về sự kính trọng và tự hào cũng được đúc ra từ những khuôn mẫu có sẵn nhưng rồi cũng đến lúc chúng tôi phải tìm hiểu về giá trị thật của những gì mình đã từng tự hào kính trọng. Chẳng hạn, cái gọi là mái trường XHCN mà chúng tôi ca ngợi cho đến bây giờ như thế nào vẫn chưa định hình được. Ngày xưa “nhất quyết theo Xã Hội Chủ Nghĩa, bây giờ theo ” kinh tế thị trường với định hướng Xã Hội Chủ Nghiã.” Xã hội được đánh giá là “xã hội phát triển”, như vậy có nghĩa là càng đi xa Chủ Nghĩa Xã Hội thì xã hội càng phát triển?

Còn về ông Hồ Chí Minh thì nhiều người đã nói rồi, tôi chỉ có thể ghi thêm lời dân gian quê chúng tôi ta thán:

“Sống dưới triều đại Đười Ươi
Làm con thì được, làm người thì không.”

Hôm nay, là người dân Mộ Đức, tôi nói về ông Phạm Văn Đồng — người hơn 30 năm làm Thủ tướng, ông Phạm Văn Đồng đã làm được gì cho đất nước,cho dân tộc?

Gọi ông là một nhà ngoại giao, một nhà chính trị tài ba đã giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là không đúng, bởi vì cuộc chiến tranh này có thể tránh được. Vả lại “thắng” nhưng không có “lợi”, những người Mỹ, chính sách Mỹ mà ông Đồng chống và làm mất bao nhiêu xương máu nhân dân ta bây giờ được mời quay lại Việt Nam. Cũng không có “nhà ngoại giao tài ba” nào lại ký công hàm công nhận lãnh thổ của mình là của quốc gia khác.

Nếu gọi ông là một nhà kinh tế cũng không đúng; vì lúc có một nửa đất nước ở miền Bắc ông không đưa ra được quốc sách nào có tính vĩ mô để tăng trưởng kinh tế, ngoài chính sách “tiết kiệm” để tích lũy, kiểu như “hạt gạo cắn làm hai, làm ba”. Còn sau Tháng 4/1975 với chính sách hợp tác xã nông nghiệp và di dân đi kinh tế mới, ông đã bần cùng hóa cả miền Nam, nơi vốn trước đó là một nước mạnh trong khu vực Đông Nam Á.

Gọi ông là một nhà lý luận, một nhà văn hóa cũng không ổn. Ông có câu nói với thanh niên, học sinh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa.” Lê Duẩn đã nói câu này trước ông, nhưng ông lại giải thích vòng vo về cái chủ nghĩa xã hội và con người xã hội chủ nghĩa của ông. Con người mới khác con người cũ cái gì? Kiểu như “con gà, cái trứng” hay chính sách “có hộ khẩu mới có việc làm, có việc làm mới cho nhập khẩu” dưới thời ông làm Thủ Tướng. Còn về văn hóa thì hình như ông hơi thiếu vốn tiếng Việt nên ông thường dùng đệm tiếng Pháp trong lời nói.

Người dân Mộ Đức “kính trọng” ông lắm! Tôi xin kể một số giai thoại về ông Phạm Văn Đồng ở quê hương Mộ Đức:

Thời kỳ còn hợp tác xã nông nghiệp, mỗi lần ông về quê là dân Mộ Đức khốn khổ. Trước khi ông về là công an tập trung ngụy quân, ngụy quyền từng tham gia chế độ cũ đưa lên núi giam giữ cho đến khi nào ông đi mới thả về.

Trên tuyến đường ông qua, ruộng hai bên đường được bón rất nhiều phân u-rê, lúa xanh đậm trông rất đẹp. Ông khen địa phương làm ăn giỏi, chẳng mấy chốc sẽ tiến lên Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đến khi ông đi thì lúa chỗ phân nhiều bị cháy, lúa chỗ thiếu phân còm cõi không trổ bông nổi. Mỗi lần ông về thăm quê, một ngày công của xã viên được 4 lạng lúa (0,4 kg)!

Có một năm các xã ven biển ở Mộ Đức như Đức Lợi, Đức Minh, Đức Phong có con cá ông (dân biển gọi cá voi là cá ông, cá bà) cứ bơi lởn vởn ngoài biển làm ghe tàu nhỏ của ngư dân không dám ra biển đánh cá; còn ở xã miền núi Đức Phú thì đêm đêm nhiều bầy heo rừng ra phá hoại hoa màu của dân, chính quyền địa phương bất lực. Gặp lúc ông Thủ Tướng về thăm quê, nghe báo cáo tình hình địa phương xong, sáng hôm sau ông ra biển chờ cho cá ông nổi lên, ông nói:

“Yêu cầu các đồng chí kết nạp đồng chí Cá thành xã viên hợp tác xã”.

Cá ông nghe thế lặn tuốt ra biển. Chiều đến, ông lên núi xem heo rừng phá hoại hoa màu. Ông cũng nói với cán bộ địa phương cho đàn heo vào hợp tác xã là chúng sẽ thuần hết, nhưng cán bộ địa phương nói:

“ Thưa bác, chúng nó đã vào hợp tác xã lâu rồi, chúng cũng làm ăn tập thể đàng hoàng, lúc nào xuống phá làng, phá xóm chúng cũng đi hàng đàn từ vài ba chục con trở lên”.

Ông Đồng nói:

“Vậy thì cho chúng đi kinh tế mới!”

Kể từ tối hôm ấy ở xã Đức Phú không còn con heo rừng nào dám ra phá nữa.

Có người hỏi ông Đồng, sao ông không nhận để người ta gọi bằng Bác, ông nói:

“Ông Hồ xưng là Cha, nếu tôi xưng là Bác, tức là anh của ông Hồ à!”

Có lần ông Đồng tới thăm nhà bà chị ông là bà Thừa Xuân, nhà bà này có mảnh vườn trồng rau để ăn và để bán. Hồi đó tiền có giá, ông nghe người ta mua bán nắm rau, quả cà, cứ nói “một đồng, hai đồng”, ông giận lắm vì bị mấy bà cứ gọi cái tên Đồng của ông ra. Sau đó ông về Hà Nội và quyết định “nâng” tiền Việt Nam, để từ đó người ta không kêu “một đồng hai đồng” nữa mà chuyển qua “một ngàn, hai ngàn” cho đến bây giờ.

Sự kính trọng của người dân Mộ Đức đối với ông Đồng là như thế đó. Còn sự tự hào thì sao? Sau khi biết được ngày 14/9/1958 ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc thì người dân Mộ Đức cảm thấy nhục vì Mộ Đức có ông, vì ông là người ra đời ở Mộ Đức.

Cuộc đời con người hay chế độ chính trị có thể có nhiều sai lầm, nhưng “bán đất, bán nước” cho ngoại bang thì là cái sai lầm không thể tha thứ được.Việc ký giấy “bán nước” cuả ông Thủ Tướngv CSVN Phạm Văn Đồng không phải là một “sai lầm” mà là một trọng tội: “Tội Bán Nước.” “Noi gương” ông Phạm Văn Đồng là Trần Đức Lương — với tư cách là Chủ Tịch Nước đã ký hiệp định đường biên trên bộ và trên biển tiếp tục nhượng đất và biển cho Trung Quốc.

Rồi đây, lịch sử Việt Nam sẽ ghi:

– Ông Phạm Văn Đồng quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, với tư cách là Thủ Tướng Chính phủ CS, ngày 14/9/1958 đã ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

– Ông Trần Đức Lương quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, với tư cách là Chủ Tịch Nước, ngày 30/12/1999 đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền nhượng cho Trung Quốc hàng ngàn cây số vuông, tiếp đến ngày 25/12/2000 đã ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ tiếp tục nhượng hàng chục ngàn cây số vuông mặt biển cho Trung Quốc.

Vậy là Quảng Ngãi có hai tên tội đồ cùng tham gia bán nước dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi có thể có sự kính trọng, tự hào được không? Không, hoàn toàn không! Ngay cả chính con cháu trong tộc họ Phạm không ai dám ngẩng mặt để tự hào là con cháu ông Phạm Văn Đồng. Họ cũng biết rằng tên Việt Gian Nguyễn Thân, quê ở Thạch Trụ, Mộ Đức, Quảng Ngãi, là đại thần triều Nguyễn, câu kết với thực dân Pháp đánh phá phong trào Cần Vương, tiêu diệt nghĩa quân Phan Đình Phùng, sau năm 1945 đã bị Việt Minh cho đào phá toàn bộ mồ mả, nhà cửa. Có lẽ vì vậy mà Cộng Sản không dám đưa xác Phạm văn Đồng về chôn ở quê nhà, còn Trần Đức Lương khi hết làm Chủ tịch nước cũng không dám vác mặt về Quảng Ngãi.

Kể ra thì PV Đồng cũng biết sám hối, khi cuộc đời đã vào xế chiều sống trong bóng tối của sự mù lòa và sự khinh bỉ của nhân dân, ông có lời than:

“Không ai làm Thủ tướng lâu như tôi và cũng không ai làm khổ dân nhiều hơn tôi!”

Có lẽ đó là câu nói duy nhất đúng trong cuộc đời của ông.

Không những ông làm khổ dân lúc ông còn sống, mà ông còn làm khổ dân khi ông đã chết. Biết bao giờ nhân dân Việt Nam mới lấy lại được Trường Sa, Hoàng Sa? Còn người dân Quảng Ngãi thì cứ tiếp tục è cổ ra nộp thuế để xây lăng mộ cho dòng họ Phạm của ông, xây bảo tàng, nhà tưởng niệm Phạm Văn Đồng.

Ngày 1/9/2008 Quảng Ngãi đã khánh thành “Khu lưu niệm Phạm Văn Đồng”; theo thông báo chính thức từ chính quyền, tổng kinh phí hơn 46 tỉ đồng, trong đó phần xây lắp hơn 20 tỉ, trên diện tích hơn 2 ha (Giá đất là 1,3 triệu/m2, trị giá đất khoảng 26 tỉ).

Bốn mươi sáu tỉ kia có thể làm được những gì cho nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi?

Xin thưa:

– Xây dựng 3.067 ngôi nhà cho người nghèo;

– Tạo điều kiện cho 115.000 trẻ em nghèo có điều kiện mua sách vở đến trường trong năm học mới;

– Là tiền thuế của 144.230 người dân Mộ Đức trong 2 năm (Dự toán thu ngân sách năm 2008 của huyện là 23,1 tỉ đồng)

Đó là chưa tính đến các chi phí khánh thành, duy tu, chi lương cho nhiều người trông coi, bảo vệ.

Một người con của quê hương núi Ấn, sông Trà, nhưng đến khi chết rồi vẫn còn làm khổ nhân dân Quảng Ngãi, có phải vì ông là đảng viên Cộng sản, học trò của Hồ Chí Minh không? Trong khi cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nhà Yêu Nước, Quyền Chủ Tịch Nước đầu tiên của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, yên nghỉ trên núi Ấn lộng gió, ngôi mộ đơn giản được xây dựng từ thời ông Ngô Đình Diệm, ngày ngày khách trong ngoài nước, đủ mọi thành phần đến viếng thăm đều thể hiện lòng tôn kính.

“Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân”

Câu ca dao xưa đi vào tiềm thức của thế hệ chúng tôi, “thế hệ sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”; câu ca dao khơi mào cho cuộc khởi nghĩa nông dân mang tên “khởi nghĩa Chày Vôi” (năm Bính Dần 1866) xuất phát từ việc xây dựng Vạn Niên Cơ, quân sĩ và dân phu phải làm việc vất vả, khổ sở, nhiều người oán giận nên đã nổi lên làm loạn, vua Tự Đức một thời đã đi vào lịch sử dân tộc là vị vua hôn quân vô đạo.

Tôi đã đến thăm lăng mộ vua Tự Đức, tôi cũng đã đến khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng. Trên tất cả mọi phương diện (đất đai, diện tích, quy mô, kinh phí, thời gian …) Lăng Tự Đức còn lâu mới bằng Khu Tưởng niệm Phạm Văn Đồng — một vị thủ tướng dưới chế độ XHCN còn hơn cả vị hoàng đế của triều đại phong kiến, ngay cả khi đã chết.

Lịch sử rất sòng phẳng. Thời gian trôi qua, dân tộc sẽ có cái nhìn khách quan hơn, đánh giá công, tội một cách rõ ràng; sự kính trọng đối với từng nhân vật lịch sử không cần phải áp đặt, cưỡng chế. Và lòng yêu ghét của dân cũng không thể áp đặt, cưỡng chế.

Là một người dân Mộ Đức, tôi cảm thấy nhục và có tội khi tôi nói:

– Quê tôi là quê hương của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Đỗ Mai Lộc.

Sao y bản chính

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG




Giao Chỉ : Ngồi Lại Bên nhau Khoá Ngậm Ngùi.

 

 

Những cuộc họp khóa bỏ túi hàng năm

 

Mỗi độ Xuân về, các Hội đồng hương họp mặt đón Xuân. Sau Tết, các binh chủng chào mừng tân niên. Hè về anh em ta kéo nhau ra công viên Picnic. Hải Quân họp mặt theo từng khóa. Không Quân xum họp theo phi đoàn. Từ hai miền Nam Bắc Cali, quanh năm đều có những sinh hoạt tùy theo từng quê quán, quân trường,trường học và trường đời, đủ các sắc thái…

 

Năm nay bọn này họp ở San Jose, năm tới chúng tôi xuống chơi quận Cam. Xe đò Hoàng chạy tới chạy lui. Có ngày tăng cường thêm chuyến buổi chiều.

Riêng cái khóa Cương Quyết II Thủ Ðức và Ðà Lạt của chúng tôi cũng cùng chung một nhịp sống. Cũng Nam Bắc Cali họp đi họp lại.

Năm 2004 chúng tôi kỷ niệm 50 năm của một khóa quân trường. Năm 54 vào trường Ðà Lạt có 300 sinh viên. Về gặp lại sau nửa thế kỷ có 70 ông cụ. Ðược coi là thành tích vẻ vang.

Tiếp đến, năm 2009, kỷ niệm 55 năm, lần đầu tiên chúng tôi họp mặt Cương Quyết II gồm cả Thủ Ðức và Ðà Lạt tại San Jose. Gọi là họp khóa lúc hoàng hôn nhưng thực ra là họp khóa ngậm ngùi. Một anh bạn chúng tôi, trung tá Lê Xuân Ðịnh nguyên giám đốc cơ sở USCC tại Los Angeles đã đưa được xe lăn lên phi cơ mà đến với anh em. Khi đêm về, chúng tôi thắp nến lung linh để tưởng niệm bạn cùng khóa đã ra đi.

 

Ðó là chuyện năm ngoái. Cuối tuần này, anh em chúng tôi lại kéo nhau xuống miền Nam để tiễn đưa Lê Xuân Ðịnh lần cuối. Chúng tôi không muốn gọi là đi đưa đám. Ðây cũng là họp khóa. Dù trong tang tóc, dù còn lại chẳng được bao nhiêu, nhưng mỗi lần gặp mặt là một lần họp khóa.

Lê Xuân Ðịnh ra đi năm nay, vào cuối tháng 7-2010. Cái tháng 7 có quá nhiều kỷ niệm. Năm 1954, cũng vào tháng 7 chúng tôi ngồi trong Hội trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt nghe tin Genève chia đôi đất nước. Bây giờ cũng là giây phút chia tay anh em.

Bạn Ðịnh năm nay 77 tuổi. Nếu 70 năm đầu, anh có thể tung hoành ngang dọc thì 7 năm cuối cùng tất cả trăm sự nhờ vợ. Nhà thơ Hồng Phượng của khóa chúng tôi, đã dành 7 năm nuôi chồng ngồi trên xe lăn. Và tháng 7 cuối cùng, chị đã ngồi bên anh cho đến giây phút lâm chung trong bệnh viện.

 

Ðầu thập niên 70, chiến trường miền Trung đã lấy đi một anh bạn cùng khóa. Khi tiễn đưa Ðại Tá Nguyễn Thế Nhã,Trung đoàn trưởng Sư Ðoàn 1 Bộ binh, tôi đặt một vòng hoa có băng tang chạy ngang hàng chữ:

 

   ” Thương tiếc Nguyễn Thế Nhã, anh hùng”.

 

Gần 40 năm sau, chúng tôi đã già nua và khiêm tốn hơn. Lần này chúng tôi chỉ ghi rằng :

         ”Thương tiếc Lê Xuân Ðịnh, tử tế.”

 

Một chiếc xe lăn cô quạnh đặt cạnh bàn thờ, anh Ðịnh nằm yên nghỉ trong quan tài. Chúng tôi đứng chung quanh, chúng tôi họp khóa thêm một lần nữa. Chúng tôi là những người anh hùng mỏi mệt, chúng tôi chỉ còn cố gắng sống như những người tử tế. Tiễn đưa một người tử tế nhất trong anh em vừa ra đi.

 

Khóa Trần Hưng Ðạo:

Chuyện họp khóa của chúng tôi tuy có Cương Quyết nhưng vẫn là chuyện buồn. Tại San Jose chuyện họp khóa của ông Bùi Quý Ngọc là chuyện vui và trẻ trung hơn nhiều.

Khóa Thủ Ðức mang số 12 được Tổng Thống Diệm đặt tên là khóa Trần Hưng Ðạo, so ra còn nhiều phong độ. Vào trường năm 61 ra truờng ngày 1 tháng 8-1962. Tổng số 1560 sinh viên, được may mắn tốt nghiệp 100% chuẩn úy, không anh nào bị đeo trung sĩ cánh gà.

Ông Ngọc Bùi hiện là người tình nguyện phụ trách chương trình tiệc Việt Nam cho homeless Hoa Kỳ tại San Jose đã trên 15 năm.

Ông và các bạn hăng hái tổ chức họp khóa cuối tuần này, nhưng đây chỉ là buổi sơ giao để chuẩn bị cho giấc mơ vĩ đại vào năm 2012 mới đúng là họp mặt sau 50 năm.

Trong các câu chuyện ngồi lại bên nhau, trường nào, khóa nào, quê hương nào cũng tự coi là đặc biệt hơn cả. Khóa 12 Thủ Ðức của Ðức Thánh Trần cũng như vậy. Tôi được nghe  anh em nói rằng đây là khóa động viên đầu tiên của nền đệ nhất Cộng Hòa.

Khóa của người ta khi vào Ðà Lạt là tuổi trẻ trên dưới 20. Ða số là 18 hay 19 tuổi.

Khóa động viên này tuổi từ 18 mà lên đến ngoài 30. Anh thì có bằng cấp, anh có vợ con, anh có chức phận, có những anh thật giàu và cũng có anh thật nghèo.

Nhiều anh từ bên Tây bên Mỹ du học về, đem theo vợ đầm tóc vàng sợi nhỏ. Mỗi lần thăm viếng, cô vợ đầm ngồi khóc kiểu Tây. Anh em sinh viên độc thân cùng khóa kéo nhau ra xem mắt xanh nhỏ lệ chung tình. Khóa động viên đầu thập niên 60 có nhiều tay danh tiếng. Nào là Châu Kim Nhân, Ngô Khắc Tịnh, Hà Xuân Trừng, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Ngọc Linh…

Vào thời đó, bạn Nguyễn Ngọc Linh của tôi cao ráo, sạch sẽ lại nói được tiếng Tây, tiếng Mỹ nên tướng Lam Sơn chọn làm thủ khoa.

Sau này những tên tuổi của khóa 12 đều trở thành các thành phần quan trọng trong chính phủ.

 

Tôi hỏi chuyện anh em là các sinh viên võ khoa 12 có học hỏi gì được ở các vị chỉ huy trưởng hay không? Anh em ai nấy đều cười mà nói rằng chúng tôi tự học lấy trong trường đời. Nếu theo gương các vị chỉ huy trưởng thì chỉ có từ chết đến bị thương. Hỏi đi hỏi lại mới biết rằng thời đó anh em vào trường có tướng Hồ Văn Tố chỉ huy. Nữa đường ngài đứt gánh giữa khi lâm trận trăng hoa nên tướng Lam Sơn lên thay.

 

          Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ký lệnh động viên nên đã nhiều phen lên Thủ Ðức thăm sinh viên và ông giảng giải cả buổi về tác phong đạo đức sĩ quan. Chuyện tướng Tố bị thượng mã phong ngay giữa chốn quân trường xảy ra như thế, ông Diệm giận biết chừng nào. Tôi hỏi nhỏ anh em là các cậu có biết ai là người báo cáo cho Tổng thống biết đầu đuôi câu chuyện đã diễn tiến như thế nào?

Nhưng rồi mọi việc cũng trôi qua. Ngày mãn khóa 1560 chuẩn úy xếp hàng chờ đợi khá lâu. Tổng thống cố gắng đi duyệt qua tất cả các hàng quân. Ông bắt tay hàng trăm sinh viên. Tuy là đã huấn nhục 10 tháng, nhưng anh em sinh viên thuộc hàng trí thức, vác súng Garant đứng nghiêm cả giờ đồng hồ, chịu không nổi đã có một số bị té sỉu.

Hàng phía sau, anh nào sỉu thì khiêng ra, phía trước ông tổng thống cứ nhẩn nha đi bắt tay anh em. Chính những câu chuyện kỷ niệm nhỏ bé như thế làm các bạn cùng khóa nhớ mãi suốt đời.

 

Bác Ngọc Bùi sẽ ghi nhận để cùng anh em chia sẻ ngọt bùi cho kỳ họp khóa 50 năm vào tháng 8 năm 2012. Năm nay tháng 8-2010 chỉ mới là chuẩn bị. Hỏi rằng hy vọng năm 2012 sẽ về được bao nhiêu.

Trả lời rằng nếu về được 20% thì sẽ có 300 người. Nếu về được 10% thì sẽ có 150 người. Kể cả Nam Bắc Cali. Dù là 10% hay 20% thì chắc chắn sẽ có mặt sinh viên sỹ quan Lê Bá Bình. Anh vẫn ngồi chờ sẵn tại San Jose từ năm 1991 đến nay.

 

Thủy quân lục chiến Lê Bá Bình.

Trong số 1560 chuẩn úy động viên khóa 12 Thủ Ðức, khi ra trường có 60 tân sỹ quan về thủy quân lục chiến.

Chuẩn úy Bình cầm danh sách cùng anh em về trình diện bộ chỉ huy mũ xanh. Ðây là lớp trung đội trưởng về nhận các đơn vị thay cho hàng trung sĩ đang nhận chức tạm thời. Chuẩn úy Bình ở lại với binh chủng từ 62 cho đến 75. Một đời lính là một đời thủy quân lục chiến. Trong quãng đời binh nghiệp lâu dài đó, anh đã từ chuẩn úy trung đội trưởng mà lên đến Trung tá Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 3. Ðơn vị anh hùng của Thủy quân lục chiến đã thay quân biết bao lần. Năm 62 ra trường với cấp bậc chuẩn úy trừ bị, 24 tuổi khóa động viên Thủ Ðức cho đến 10 năm sau, năm 72 Tiểu đoàn Trưởng Lê Bá Bình đã từng đón nhận biết bao nhiêu đợt sỹ quan đàn em về trình diện. Nhìn các tân sỹ quan, chuẩn úy Thủ Ðức, thiếu úy Ðà Lạt, các em dưới 20 tuổi, niên trưởng thấy xót xa cho thân phận, cho binh đoàn và cho đất nước.

Những tiếng kèn khải hoàn ca vang lên trong các dịp lễ thăng thưởng, gắn huy chương dưới sân cờ vẫn không át được tiếng khóc của vợ con lính từ khu gia binh vọng về. Có lần Tiểu đoàn 3 bị mất luôn cả Trung đội súng nặng. Khu gia binh ở liền nhau cả dãy dài, chủ gia đình chết chẳng còn ai. Tiểu đoàn trưởng ngồi trong văn phòng đứt ruột nghe tiếng khóc rền rĩ của đàn bà trẻ con trong canh khuya mãi mãi chưa dứt.

Anh Bình gốc gia đình là Bắc kỳ nhưng cha mẹ đã vào Nam trước cuộc di cư. Sinh năm 1937 anh có 24 năm tuổi trẻ Saigon và 14 năm thủy quân lục chiến. Nếu xét công bình cứ một năm lính là một năm tù cộng sản thì Lê Bá Bình vẫn còn nợ cộng sản một năm tù. Anh bị tập trung cải tạo mới hơn 13 năm. Như thi sĩ Hà Thượng Nhân đã viết “ Những mái đầu cất cao, không một lời than thở”.

 

Thực sự, chuẩn úy Bình, Thủ Ðức khóa 12 ra trường năm 1962 không có điều gì than thở. Anh là lính chiến, nhưng ăn nói từ tốn nhẹ nhàng. Sống độc thân cho đến khi lên Thiếu Tá mới lập gia đình. Anh chị được một cháu gái 2 tuổi vào ngày đứt phim. Những năm ngoài Bắc, vợ thăm chồng được 6 lần, coi như thành tích phi thường. Năm 91 vợ chồng và con gái qua San Jose theo diện HO. Ði làm điện tử 15 năm, nay đã về hưu, chở cháu ngoại đi học. Suốt một đời chinh chiến mũ xanh, biết bao nhiêu kỷ niệm chiến trường nhưng ngày nay hình ảnh và câu chuyện của tiểu đoàn trưởng Lê Bá Bình vẫn chỉ được nhắc đến nhờ báo chí và sách vở Hoa Kỳ nói về thành tích của Tiểu đoàn 3 TQLC giữ cầu Ðông Hà trong chiến dịch mùa Lễ Phục Sinh 1972.

 

            

              

Trung Tá MX Lê Bá Bình

 

          Cầu Ðông Hà (The Bridge at Ðông Hà)

Năm 1972, trận mùa hè bắt đầu, thiếu tá Lê Bá Bình chỉ huy tiểu đoàn 3 TQLC với sự phối hợp của thiết đoàn 20 kỵ binh Việt Nam giữ phòng tuyến Ðông Hà. Bình ra lệnh giữ Ðông Hà bằng mọi giá. Cầu Ðông Hà là con đường huyết mạch trên trục Nam tiến của Bắc quân.

 

Cầu Đông Hà – Quảng Trị

 

Chiến xa PT 76 và T 54 của cộng sản ào ào tiến tới. Cờ đỏ của địch phất phới trên cần câu truyền tin của đoàn xe tăng. Chiến xa địch tiến nhanh đến nỗi bộ binh cộng sản theo không kịp. Hai xe tăng của cộng sản từ bờ Bắc chạy ào lên cầu Ðông Hà. Chiến binh TÐ 3 TQLC hạ luôn một lượt 2 chiếc nằm chết cứng trên cầu. Không còn lối cho xe của địch tiến quân. Hai bên Nam Bắc nằm 2 bên bờ sông, bắn nhau suốt 2 tuần lễ. Mỗi đêm đều có tấn công thăm dò. Lúc thì quân Bắc đánh qua, lúc thì quân Nam đánh lại. Lòng sông cạn , muốn thử thách cứ việc chờ đêm xuống là lội qua. Có lần mặt trận TÐ 3 đã bị vỡ nhưng lại hàn gắn lại. Ðịch bỏ xác đầy bờ sông. Và câu chuyện cầu Ðông Hà lên sách vở báo chí Mỹ là nhờ Đại úy TQLC Hoa Kỳ John W. Ripley. Một loạt hình ảnh ngoạn mục được các cố vấn chụp được khi Ripley, đơn thương độc mà đu người dưới dạ cầu để hoàn tất việc gài mìn Ðông Hà. Lúc đó anh đại úy TQLC Hoa Kỳ này là cố vấn duy nhất của Thiếu tá Lê Bá Bình.

 

 

              

          

Đại Úy TQLC John W. Ripley

 

Khi gài mìn xong, lính của Thiếu tá Bình phá cầu Ðông Hà, tuyệt đường tiến quân của cộng sản, ít ra cũng được một thời gian.

 

 

The Bridge at Ðông Hà được viết thành sách. Tác phẩm Ride the Thunder, trên lưng sấm sét. Ðại úy Ripley trở thành người anh hùng cô đơn của US Marine trong trận chiến mùa Phục Sinh 1972. Thiếu tá Bình với lời tuyên bố giữ Ðông Hà bằng mọi giá được in trên sách báo Mỹ đã trở thành tuyên ngôn rất đáng ngưỡng mộ. Sau cùng nhờ trấn giữ và phá cầu Ðông Hà, Thiếu tá Bình thăng cấp trung tá mặt trận tiếp tục chiến dịch mùa hè cho đến khi trận tái chiến Cổ thành bắt đầu thì ông bị thương và đưa về hậu cứ. Báo Mỹ ghi rằng ông bị thương lần thứ 9. Sau đó trận rút lui 1975 ông lại ra làm Tiểu đoàn trưởng TÐ 6 TQLC để cùng chịu trận tan hàng tại Ðà Nẵng, tái hợp tại Cam Ranh và tái tổ chức tại Vũng Tàu. Ngày 39 tháng tư oan nghiệt ông cùng anh em xếp hàng vào trại tập trung.

Suốt một đời TQLC, suốt một đời tù đầy và suốt một đời di tản, Lê Bá Bình rất ít khi xuất hiện ồn ào. Cùng với Bùi Quý Ngọc và hàng ngàn sinh viên Thủ Ðức động viên khóa 12, được nhận là con cháu Ðức Trần Hưng Ðạo, các anh không có đặc san, không có đại hội huy hoàng.

Suốt một đời quân ngũ, tù đầy di tản, dù là thương binh tử sĩ hay vẫn còn tồn tại trên cõi đời, các anh mãi mãi vẫn là sỹ quan trừ bị. Tháng 8 năm 1961, tưởng là phải lính thì đi. Sau vài năm quân dịch rồi trở về. Thấm thoát 48 năm qua vẫn chưa có giấy giải ngũ. Ðành phải chờ đến năm 2012, cho đủ 50 năm dâu bể một đời. Anh em ta họp lại rồi sẽ ký giấy giải ngũ cho nhau.

Giao Chỉ, San Jose.

 

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Ðộc giả của Giao Chỉ xin đón coi nay mai, bài viết dành riêng cho 35 năm nhìn lại. Với tựa đề: “Kịch bản viết lại lịch sử”.

Xin quí vị cùng chúng tôi, ngồi vào ghế Tổng thống của Trung tướng Nguyễn văn Thiệu vào ngày 13 tháng 3 năm 1975. Ðó là ngày Ban Mê Thuột hoàn toàn bị Bắc quân tràn ngập. Ngày hôm sau, ông Thiệu đơn phương quyết định ra lệnh rút quân tại quân đoàn II và quân đoàn I.

Hoàn cảnh của đất nước giữa tháng 3-75 chúng ta đều biết rõ.

 

Ðịch: Sau trận thăm dò chiếm Phước Long, Lê Duẩn hạ lệnh tổng tấn công, dự trù lạc quan nhất cũng phải mất 2 năm 75 và 76 mới thành công.

Bạn: Nixon đã từ chức. Mỹ hoàn toàn bỏ rơi Việt Nam. Không một nước nào khác có khả năng cứu VNCH.

Chính trị Sài Gòn: Không khí chủ bại, muốn hòa giải.

Quân Lực VNCH, thành phần nòng cốt: Tuy giao động nhưng vẫn còn ổn định. Nếu giữ vững tinh thần, dù khó khăn vẫn còn đủ phương tiện tiếp tục chiến đấu từ 8 tháng đến 1 năm. Sau đó sẽ ra sao?

 

Nếu bạn là Tổng thống Nguyễn văn Thiệu vào ngày 13 tháng 3-75, thay vì rút quân và sau cùng bỏ cuộc, bạn quyết định ở lại chiến đấu. Nếu Trung tướng Nguyễn văn Thiệu chọn giải pháp quyết liệt ở lại chiến đấu, ông sẽ phải hành động ra sao trong những giờ phút oan nghiệt đó để cứu đất nước.

 

Bạn là Tổng thống, Bạn sẽ làm gì. Ðó chính là nội dung của “Kịch bản viết lại lịch sử” .

 

Trong thời hạn là 50 ngày cuối cùng, với những nhân vật có thật, với những đường lối tích cực nhưng hợp lý, với những phương tiện hoàn toàn thực tiễn, với những giải pháp khả thi, chúng ta cùng viết lại kịch bản lịch sử mới cho miền Nam.

 

Xin đón đọc, góp ý và cùng lấy ước mơ đem vào cuộc sống ngõ hầu giải thích cho thế hệ tương lai hiểu rõ những sai lầm của cha anh trong quá khứ.

 

“Kịch bản viết lại lịch sử” sẽ trả lời tất cả các câu hỏi  "tại sao"  suốt 35 năm qua.

 

      Địa chỉ liên lạc :     

IRCC, Inc.1445 Koll Circle #110

      San Jose, CA 95122 – USA

   Emails :     irccsj@yahoo.com

   giaochisanjose@sbcglobal.net

 

  




Hồng Nguyên : Không có lửa vẫn có khói

Không có lửa vẫn có khói

Xin kính chuyển một phim tài-liệu rất công-phu (tiếng Anh, có phụ-đề Việt-ngữ).
Xin vui lòng phổ-biến rộng-rãi.
 
 
Kính,
 
Lê Huu Dào
www.dao-liege.org


Gần đây báo chí VN có bài " Không có lửa vẫn có khói " Cố ý cho rằng dư luận xuyên tạc  Đại lễ Thăng Long ngàn năm . nhưng vẫn không trả lời đuợc những dư luận .

     Sau 2 năm hì hục chuẩn bị 1000 ngàn năm Thăng Long , lãnh đạo Hà Nội không muốn đối mặt với dư luận và đang muốn lảng quên càng sớm càng tốt , nhưng dân chúng không buông tha . Đang cố gắng bưng bít những thông tin , nhưng dấu đầu lòi đuôi . Chủ tịch Thành phố Hà Nội 10 ngày Đại lễ Thăng Long thành công , hoành tráng .
      Không có kửa vẫn có khói : pháo hoa trong sân Mỹ Đình không có lửa vẫn nổ , chết 3 nguời nuớc ngoài va 1 cảnh vệ . Nguời nuớc ngoài không dấu diếm đuợc nhưng 10 xe cứu thương hú còi inh ỏi chạy từ sân Mỹ Đình ra ai cũng biết . Chẳng lẽ 10 xe đó chở 4 nguời sao ? Hay là mạng sống công dân rẻ như bèo , chết là hết không cần nhắc đến .
     – Tuyên bố bỏ mấy chục điểm bắn pháo hoa lấy tiền cứu trợ đồng bào miền Trung . Khi đuợc hỏi số tiền bắn pháo hoa là bao nhiêu ? Lãnh đạo Hà Nội đã lẩn tránh câu trả lời . Chắc pháo hoa đã cháy thành tro chỉ còn làn khói tặng đồng bào miền Trung
     – Những công trình hàng chục tỷ chào mừng Đại lễ đã nứt nẻ đang sụp đổ . Đồng tiền bỏ ra đã lọt vào túi lãnh đạo ai đến hiện truờng cũng phải lắc đầu . Vì sự làm ăn dối trá
     – Lãnh đạo không đến dự lễ bế mạc vì kẹt xe ? Chuyện này về nói với bọn trẻ chúng cũng không tin . Lãnh đạo về thăm quê đi du lịch còn có Pilot, Mô tô dẫn đuờng chứ đừng nói đi dự lễ . Nguời dân VN sợ công an hơn ai hết ai mà dám gây ách tắc giao thông và nếu cần   Lãnh đạo một nuớc có thể dùng trực thăng đi dự lễ . Nếu sợ khủng bố không dám đến dự thì cứ  thẳng thắn công nhận đi, làm gì mà sợ khủng bố đã chứ ? Có làm bậy mới sợ .
     – Báo chí VN đưa tin 9 ngư dân VN đuợc Trung Quốc cứu sống và đang ở đảo Hoàng Sa ( VN ) sẽ giao trả nay mai !!!  Nực cuời thay , dân mình đang ở trên đất  mình mà Trung Quốc giao trả là sao ? Nguời ít học nhất khi đọc tin này cũng phải lắc đầu ngán ngẩm .
    – Bỏ cả ngàn tỷ đồng để tổ chức lễ hội . Khi hỏi đển chủ tịch Hà Nội đã nói vòng vo : Đây khong phải toàn bộ là tiền ngân sách , trong đó có các xí nghiệp ủng hộ , tiền nào chẳng là tiền , tiền nào cũng phải đổ mồ hôi sôi nuớc mắt mới có đuợc chứ . Có tiền tham nhũng là xài vô tội vạ . Khi gạn hỏi chủ tịch Hà Nội đã trả lời chưa đến 1000 tỷ , nhưng chúng tôi chưa quyết toán .
     Bộ phim Đuờng về Thăng Long ngốn hết cả trăm tỷ lại không trình chiếu đuợc . Nào là sử gia đã duyệt , nào là nghệ sĩ nhân dân này , nghệ sĩ ưu tú kia viết sửa kịch bản ! Lịch sủ VN ai cũng biết , phục trang VN ai cũng biết thế mà cứ cố ý làm sai . Nhiều nguời cần xem lại cái bằng tiến sĩ của lãnh đạo Hà Nội , còn không phải coi con đuơng buôn bán của các vị lãnh đạo với Tàu cộng ra sao ?
     Cả nuớc đang huớng về khúc ruột miền Trung , đồng bào ta không nhà cửa , đang đói rét , xót xa hơn nữa là lãnh đạo Nghệ An , Hà Tĩnh kêu lá rách đùm lá nát – Không dám kêu gọi đến  lá lành . Ăn xài , chia chác nhau cả ngàn tỷ giờ đi xin bạc cắc của dân nghèo , dân bệnh hoạn , từ bệnh viện đến bến xe , ga xe lửa ..v.v… nhan nhản những thùng tiền kêu gọi cứu trợ – Lãnh đạo VN nghĩ gi ?  Còn chút luơng tri nào của con nguời nữa không ? Hoặc ai chết mặc ai . Cứu trợ là nhiệm vụ của toàn dân , còn kho bạc là của nhà nuớc !
     Hà Nội cứ muốn lãng quên kỷ niệm 1000 năm Thăng Long cũng không thể quên đuợc , dấu ấn đau lòng đã ghi sâu vào tâm não đồng bào cả nuớc .

     Quả thật không thấy lửa mà có khói , những làn khói đã gây phẫn nộ cho đồng bào cả nuớc .

     Hồng Nguyên .



Lễ Phát giải Văn Thơ Lạc Việt năm 2013

ắc Cali

http://www.youtube.com/watch?v=gsDa3as05dE

 

1/ Văn Thơ Lạc Việt thành lập thừ bao giờ ? 
       nhà văn : Hà Thượng Nhân, Hoàng Anh Tuấn, Thượng Quân, Chu Toàn Chung và Dương
       Huệ Anh. Cố Vấn có  Nữ Sĩ Trùng Quang và nhà báo bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết
       Khánh. Chủ tịch đầu tiên là nhà thơ/Văn Dương Huệ Anh .


2/  – Mục đích của Văn Thơ Lạc Việt là gì ?  
     a/ Giữ nền văn hoá nhân vị trước năm 1975 tại hải ngoại.
     b/ Tìm tài năng mới cho nền văn hoá Việt tại Hải Ngoại.
     c/ Muốn trao lại cho giới trẻ tiếp tục nền văn chương Việt Nam tại Hải Ngoại.

         trị tại quốc nội.
  

3/ Giài văn thơ Lạc Việt có tự bao giờ ? 
    Nguyên thủy của Văn Thơ Lạc Việt là thi đàn Lạc Việt do nhà thơ Dương Huệ Anh là chủ
    tịch, và chuyển tới nhà thơ Đông Anh là chủ tịch thì đổi tên thành Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.
    Sở dĩ đổi tên vì nhà thơ Đông Anh muốn mở rộng tầm hoạt động qua những bộ môn khác liên
    hệ tới văn chương nghệ thuật,và Giải Văn Thơ Lạc Việt được sáng lập từ năm 2008 và liên tục
    được mở ra hàng năm hầu tìm tài năng mới cho nên văn chương hải ngoại. Từ năm 2011 tới
    nay Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt là nhà văn/thơ Chinh Nguyên.


4/ Cám ơn mạnh thường Quân
     Đặc biệt ba nhà bảo trợ thường trực cho giải Văn Thơ Lạc Việt hàng năm là nhà báo Lê Văn
     Hải Báo thằng Mõ, Hair và Nail Salon, EV princess skin care Hoa hậu Bích Liên.

                           2000.00 
Ana Real Estate Nhà Báo Kiều Mỹ Duyên tại Nam Cali.                      500.00
Anh Thành chủ Tiệm vàng Victory  Jewelry,                                         200.00 
Anh Bryan Giám đốc 40 hours,                                                                 200.00
BS Đặng Phương Trạch,                                                                             100.00 
Anh Ngọc CarQuest United  Auto Supply.                                             200.00  
Shangri-la lotus salon Jenny Dinh.                                                           075.00 
BS Nguyễn Xuân Ngải,                                                                              200.00 
Lê Minh Hải, Robuert Mullins international.                                          150.00  
Ông Nguyễn Đức Nhữ/Hội trưởng nha Kỹ Thuật.                                100.00 
Miền Tây Auto Body Repair (anh Phúc)                                                 200.00
Nhà thơ Mạc Lan Đình                                                                               100.00
Nhà Báo Duy Văn                                                                                       100.00
Le hang T. Trương                                                                                       050.00 
Tiền bán sách và CD gía hổ trợ :                                                               094.00
King Wellness Center (BS Hồng Hà, quà tặng)                   100.00      tặng phẩn = 230.00
Thanh Xuân  (Tặng chương trình talk show VietFace)                                                                      

 


   Cám ơn quí vị đại diện hội đoàn
Báo chí:  
Xin cám ơn quí vị truyền thông báo chí đặc biệt cám ơn quí Đài TV  Radio :
 IRCC anh Phú Nam, 
Việttoday anh Quốc Bảo, 
VietFace, anh Tấn Phương, 
Quê Hương anh Nguyên Khôi,
 Phố Đêm và Báo CaliToday anh Nguyễn Xuân Nam, 
Tiếng Nước Tôi cô Hồng Nga,  
Lực Lượng  Sinh Viên sĩ Quan Thủ Đức anh Hoàng Thưởng .
Đài TV STBN.
 Báo chí  : Tin Việt New anh Cao Sơn,
Thằng mõ anh Lê Văn Hải,
Đời Mới anh Duy Văn,
Phụ Nữ Cali chị Cao Ánh Nguyệt.
 

   Cám ơn ban giám khảo của giải Văn Thơ Lạc Việt 2013.
   Nhà thơ Đông Anh chánh chủ khảo,
   Nhà văn Vũ Ngọc Đĩnh,
    Nhà văn/tho Viêt Dương Nhân,
    Nhà văn/thơ  Hoàng Xuân Sơn,
    Nhà THơ Hư Vô,
    Nhà băn/thơ/Báo Hồ Nam,
    Nhà Thơ Lu Hà,
    Nhà Thơ Ngô Đình Chương,
    Nhà Văn/thơ  Phan Bá Thụy Dương,
    Nhạc sĩ/Thơ Phan Ni Tấn,
    Giáo sư nhà văn Nguyễn Văn Sâm,
    Nhà Văn Thế Phong,
    Nhà Văn Chu Tấn,
    Nhà Văn Giao Chỉ,
    Nhà Văn Lê Hữu,
    Nhà văn/thơ Trang Châu,
    Nhà thơ Trường Giang,
    Nhà văn/Biên  khảo Diệu Tần,
    Nhà Biên Khảo Phạm Trần  Anh.


  Cám ơn quí vị giám khảo xa gần ở hải ngoại và quốc nội đã bỏ công sức chấm những tác phẩm văn học
   từ năm châu gởi về Văn Thơ Lạc Việt để dự thi và gián tiếp gánh trách nhiệm cùng với Văn Thơ Lạc Việt.
  

   Nhà Báo Nguy
ễn Xuân Nam  gặp tôi tại Đài Quê Hương có nói : Văn Thơ Lạc Việt làm một việc rất khó
   và dễ mất lòng những văn nhân thi sĩ đó là Giải Văn Thơ Lạc Việt, đã phải vất vả đi xin tiền tổ chức giải, lại còn
   bỏ công mời những giám khảo chấm điểm,  anh có biết câu vợ người thơ ta ?

   Tôi hiểu nhà Báo Nguyễn Xuân Nam nói gì, tuy nhiên vì bốn mục đích của Văn Thơ Lạc Việt đã nói trên
   nên Văn Thơ Lạc Việt đànhchấp nhận những khó khăn để đi tới.  
  
  
   Cuối cùng tôi cám ơn quí vị quan kh ách, quí thành viên VTLV đã tới tham dự  lễ phát giải Văn Thơ Lạc Việt năm

   2013, và xin quí vị thông cảm và bỏ qua những  lầm lỗi thiếu  xót nếu có thể xẩy ra trong khi điều hành lễ phát
   giải.

 Xin kính chúc quí vị có những  ngày vui và đoàn kết.  

TM Văn Thơ Lạc Việt.
Chinh Nguyên






Câu Chuyện Văn Thơ 02

Tòa soạn xin giới thiệu với bạn đọc. Chúng tôi sẽ lần lượt trong 5 tuần, mỗi tuần một bài trên trang thơ của cơ sở Văn Thơ Lạc Việt, tuần báo Ðời Mới. Xin mời quý vị đón đọc sau đây bài thứ hai.

 

Câu Chuyện Văn Thơ 2

Hà Thượng Nhân

 

Lần trước tôi đã viết về thơ bốn câu của Ðông Anh. Lần ấy tôi chỉ viết đùa đùa vui chơi. Lần này tôi muốn viết nghiêm chỉnh hơn. Không những viết mà còn họa thơ tứ tuyệt của Ðông Anh. Ðủ hiểu rằng tôi rất tâm đắc lối thơ ngắn ngủi này của anh. Ðông Anh viết hàng trăm bài, mỗi bài mỗi vẻ. Viết về người yêu. Viết về người bạn. Về cái nhà mới, cái nhà cũ. Cái gì cũng thơ, bởi cái gì cũng gửi gấm ít nhiều hơi hướng của người thơ. Bán nhà mà nói:

 

“Căn nhà hạnh phúc đã thành tên.

 

Căn nhà đã gọi là căn nhà hạnh phúc nghĩa là nó dính chặt với đời sống của thi nhân mà phải bán đi thì cũng ngậm ngùi thật.

 

“Hiên trước sân sau, mái tới nền

Góc bếp vườn chơi đầy kỷ niệm

Nhặt hòn đá vỡ nát con tim

 

Nhặt một hòn đá vỡ mà đã nát con tim thì những gốc cây, những chỗ ngồi, những chỗ bù khú cùng bạn bè, chuyện trò, thơ thẩn mà sầu tủi, đau đớn đến cỡ nào nữa.

 

Ðông Anh là một kẻ đa tình. Ta vốn nòi tình, thương người đồng điệu. Ngày xưa Chu Mạnh Trinh viết như thế về chuyện Kiều. Nay tôi muốn bắt chước họ Chu cũng thương người bạn thơ là như vậy.

 

Ngày xưa bác sỉ Trần Văn Bảng vốn là kẻ đa tình và đa tài. Ông bắt tôi giới thiệu bạn nghệ sĩ cho ông. Ðể làm gì vậy? Làm con bệnh của ông. Ông cho rằng bọn nghệ sĩ “ít hay nhiều đều có bệnh” (malady). Tại sao tôi nghe gió lạnh mùa thu thì lo mặc áo, thấy lá vàng mùa thu thì biết sắp hết năm, còn các ông thì thương nhớ hão huyền, mang mang sầu thiên cổ. Ông muốn dùng văn nghệ sĩ làm đối tượng chữa bệnh. Nguyễn Du là một con bệnh. Hồ Xuân Hương cũng là một con bệnh hơn ai hết. Tôi nhớ lúc đi tù về có nhận một lá thư của ông kèm một bài thơ. Thơ rằng:

 

“Bước tới Orly hí hửng mừng

Trong lòng chắc mẩm có con cưng

Sân ga bỏ ngỏ không người đón

Hành lý kềnh càng thiếu kẻ bưng

Gặp mặt dâu đầm mồm lẩm bẩm

Vào nhà ảnh bác mắt trừng trừng

Nước nhà độc lập, sang chi thế?

Nghe chúng la, mình mắt lệ rưng!”

 

Chúng còn la bác sĩ của chúng ta nhiều chuyện, như la ông ăn bánh mì rơi chỗ vụn cũng vội lấy đút vào mồm. Cô con dâu đầm buông môt chữ sauvage (mọi rợ) quên rằng bố chồng mình là giáo sư y khoa đại học. Thấm thoát thế mà đã xong một kiếp người. Anh Bảy ơi! Viết về Ðông Anh lại nhớ đến anh, nhớ đến anh Nguyễn Tuấn Phát. Nay mai nếu tôi còn sống. Nếu Ðông Anh đi trước thì có lẽ viết về một người bạn trẻ nào đó lại nhớ đến Ðông Anh.

 

Bán căn nhà đầy kỷ niệm đã buồn. Mua căn nhà mới tinh cũng buồn. Buồn vì nó lạ hoắc. Lạ từ hàng xóm láng giềng đến những nỗi niềm riêng. Lúc nào cũng ngổn ngang tâm sự, đến nỗi vợ chồng mà cũng:

 

Ðôi ta còn đó chung giường

Tình yêu vẫn thiếu, tình thương lại thừa.

 

Tội nghiệp! Không gì buồn hơn tuổi già. Cách đây trên mười năm tôi gặp bác sĩ Phạm Bửu Tâm. Ông là bạn học của anh tôi. Gặp tôi, ông đưa bài thơ. Tôi cầm mà không thắc mắc. Sao cái ông khoa trưởng y khoa lại làm thơ thế này. Nói trước quên sau, ăn thì rơi vãi chẳng ra làm sao. Tôi đọc mà hết sức ngậm ngùi. Bèn họa lại để tạ lỗi với vong linh anh. Nhưng bài thơ chưa kịp đăng thì mất!

 

Anh Ðông Anh! Tôi sẽ còn viết nhiều kỳ về thơ tứ tuyệt của anh. Viết về anh mà cũng viết về bằng hữu.

 

Viết về hàng trăm bài thơ của anh thì không thể chỉ vài trang là đủ.