CHIẾC ÁO BÀ BA – TS Mai Thanh Truyết

Chiếc áo Bà Ba

Vừa chuyển lên FB và gửi qua email chia xẻ cùng bè bạn bài tản mạn vui về…Những tam giác thiên thần, có nhiều phản hồi từ khắp nơi như sau:

  • Một chiến hữu già từ Paris viết qua:”Sao toa lại khều “Chống Tàu Diệt Việt Cộng” vào đây làm loãng đi tính dí dỏm của bài viết?”
  • Có một người bạn khác trên FB tuổi trên dưới 60 (do một người bạn khác cho biết) phán:””Em” tức tác giả còn quá trẻ trung”.
  • Một người bạn trong Nhóm chụp hình COFFA cho ý kiến:”Ha ha, anh bấy giờ lại có ý nghĩ …lợn cợn rồi đây. Ý nói là kỷ niệm xưa của tam giác tt thôi bác ah!!! nhớ ngày xưa các nữ sinh trung học phải mặc áo lót phía trong áo dài nữa, nên tam giác tt phải đợi tới cuối tuần!!!”
  • Nhận định của một nữ nhân trên FB:”Cám ơn anh những nhận định về tam giác thiên thần bên chiếc áo dài VN, một nhận định không giống phàm phu tục tử mà nó thuộc hàng tao nhân mặc khách. Hiện nay giới trẻ họ thích cách tân nhưng áo dài truyền thống với tam giác thiên thần vẫn còn hiện diện xuất hiện nhiều nhất ở các con chiên đi lễ nhà thờ Công giáo.”
  • Một người trẻ khác góp ý:”Chiếc áo dài với tam giác thiên thần của tác giả hiện giờ đã thành hiếm lạ tại quê nhà rồi, người ta chỉ thích Tây đầm cho sang trọng thôi!?”
  • Một nữ nhân vui tính viết lên mạng:”Mới đọc đến hình tam giác đã …hết hồn rồi.”
  • Một BS ở Việt Nam, Đại diện cho Quỹ Khuyến học Cao Đài xuất khẩu thành thơ:”Thấp thoáng em về trong giấc mơ – Chập chờn áo lụa tóc buông hờ – Em là ảo vọng hay mây trắng – Để lại hương thầm cho khách thơ.

Thân tặng ai còn mơ áo dài.”

Và để giữ lời hứa, hôm nay người viết bắt đầu truy tìm trên mạng về những hình ảnh biếm họa về những tam giác thiên thần trong chiếc áo bà ba. Có khó khăn gặp phải là các hình ảnh chiếc áo bà ba cổ truyền dành cho các cô gái miền Đồng bằng sông Cửu Long chơn chất hầu như không còn nữa. Đó là hình ảnh chiếc áo bà ba cổ tròn đơn sơ, vạt áo ngắn vừa đủ để che phủ “bàn tọa” và chiếc quần lãnh đen óng ánh màu xanh đậm do phẩm màu từ trái mặc nưa mọc đầy rẫy ở vùng Châu Đốc dọc theo biên giới Miên – Việt.

­

Có thể nói, hình trên mạng bây giờ chỉ trình bày những chiếc áo bà ba đủ màu sặc sỡ, có tà áo rất dài đôi khi chỉ ngắn hơn tà áo dài chút xíu mà thôi. Và chiếc quần lãnh đen được thay thế bằng các màu tổng hợp, nhiều khi áo bà ba và quần cùng một màu không thể nào so sánh được với chiếc quần lãnh đen dân tộc được!. Tất cả biến thể không còn là chiếc áo bà ba nguyên thủy nữa, không khác chi biến thể Delta của con Covid Wuhan!

Trở lại hình ảnh tam giác thiên thần qua chiếc áo ba ba, đây cũng là một trong những hình ảnh đặc thu của miền Nam sông nước. Chiếc áo bà ba hiện diện khắp nơi trong mọi sinh hoạt của người dân dù nam hay nữ, trong tư thế ngồi, lúc giã gạo, lúc giặt quần áo bên bờ sông, khi chèo ghe, lúc hong tóc ngoài nắng sớm… Và nhiều nhiều nữa. Đây mới chính thức là một nét văn hóa Nam Kỳ (Từ nhỏ từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ trước, tôi đã từng học, từng đọc là Nam Kỳ, chứ có nào nghe “Nam Bộ” như trong hầu hết các bài viết ở hải ngoại khi nói về địa danh nầy).

Thưa bạn,

Tôi sắp nói đến sự khác biệt giữa hai “tam giác thiên thần” của chiếc áo dài và áo bà ba đây.

Các bạn có thấy điều gì khác không? Có lẽ không, tôi trả lời dùm cho bạn đó.

Nhưng đối với riêng tôi, có một khác biệt rất lớn làm cho “người ngắm” có những rung động với “nồng độ” của mức …”sững sờ” khác nhau.

Vì sao?

  • Thứ nhứt, hai tà áo dài rất dài phủ tận chân và được kết nối nhau bằng một nút bóp, hay một móc áo, hoặc một dây kéo (fermeture), từ đó làm cho hai mép áo tạo ra hai cạnh của tam giác khó di động được qua nhịp bước đi hay do gió…và tam giác thiên thần không linh động hay “lung linh” nếu không nói là…tam giác chết.
  • Ngược lại, với chiếc áo bà ba, hai tà áo ngắn do đó hai cạnh của tam giác thiên thần tương đối dễ di động hơn và cạnh huyền của tam giác là ranh giới của lưng quần lãnh đen. Khi xưa lưng quần được luồn bằng sợi dây thun cho nết không bám chặt vào thân thể người mặc. Qua hai đặc tính trên, mỗi khi đi đứng hay làm bất cứ một công việc gì, chúng ta có thể thấy được ba cạnh của tam giác thiên thần…di chuyển, lung linh, mờ mờ, ảo ảo…Từ đó càng làm cho …lòng trai rộn ràng hơn những tam giác thiên thần của chiếc áo dài.

        Các bạn nghĩ người viết phân tích như vậy có đúng hay không?

        Xin được nghe và đọc ý kiến phản hồi của các bạn, nhứt là trong phái nữ, người viết có một câu hỏi phụ thêm

        là:”Khi bạn đang mặc một chiếc áo bà bà với quần lãnh đen, được một người nam đứng ngó trân trân (tôi không dùng chữ …nhìn), bạn cảm thấy thế nào? Bạn có lúng túng…vân vê tà áo không?

        Người viết rất muốn nghe tiếng nói của các bạn.

         Riêng phần người viết, những điều ghi lại trên đây, tuy viết qua ký ức từ hơn 60 năm về trước. Nhưng hôm nay, kỷ niệm lại về, một kỷ niệm cách đây 9 năm tại phi trường Hobby, Houston. Hình ảnh một ông già, 70 tuổi bước ra khỏi phi trường sau khi lấy hành lý xong. Hình bóng một chiếc áo bà ba màu “beige” quyện khúc với chiếc quần lãnh đen đứng chờ bên cạnh xe. Chính buổi tao ngộ nầy làm dừng bước giang hồ của một lãng tử …già!

         Xin dừng lại đây, và chúc các bạn có được vài giây phút trở về thời hoa niên và chiêm nghiệm lại khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người: chiếc áo bà ba.

          Mai Thanh Truyết

         Cô đơn-Cô độc-Cô liêu-Emptiness-Nothingness

         Houston – Thứ sáu 13-8-2021




Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ (Vũ Đình Liên)

 Giao Chỉ San Jose                                            

Hơn nửa đời người sống tại San Jose, dài gần nửa thế kỷ, chúng tôi có nhiều bằng hữu. Mỗi lần tiễn người đi, tôi có dịp viết một bài ai điếu. Có duyên thì sáng tác, bất kể thân sơ, nhưng không may mắn viết cho tất cả anh chị em. Không phải vì giàu nghèo hay sự nghiệp hơn kém. Bây giờ gần đến lượt mình bèn góp lại những bài vô tình còn lưu lại trên thế giới ảo để in thành tác phẩm. Giữ cuộc đời của anh chị em còn ở lại bằng văn tự Giao Chỉ. Lấy câu thơ của cụ Vũ Đình Liên làm tựa đề tác phẩm. Mỗi bài tạp văn mang linh hồn của một bằng hữu đã cùng một thời sống gần nhau. Xin gọi là nhờ văn chương một lần giữ Đời cho nhau. Năm nay 2021, nhân danh Viet Museum chúng tôi sẽ đem tất cả các DVD và tác phẩm hiện có và sẽ xuất bản, gửi đi bốn phương cho tất cả bè bạn xa gần. Bán cũng không phải bán, biếu cũng không hẳn là biếu. Chỉ là chương trình nhờ độc giả và khán giả Giữ Đời Cho Nhau.  Cuốn tạp văn này cũng thế. Trân trọng.

Giao Chỉ, San Jose.

 (1) HÀ THƯỢNG NHÂN, không một lời than thở. 

 Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm.                                                                                           

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của Văn bút Việt Nam Hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca. Không tác phẩm là không hội viên. Nói gì là chủ tịch.

Chàng thi sĩ niên trưởng ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (1939- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Xanh của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra…”

Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các đàn anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình.Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

Các anh từ khu Tư nổi tiếng về họp tại đình làng Bình Hải.Năm đó, tuổi 16 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh 15 tuổi tham dự chống nạn mù chữ hát bài chữ i chữ tờ.

Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

Một đời văn nghệ

Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến trung tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú.

Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

Buồn xưa náo động mấy vần thơ…

Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thuở xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

Do nhu cầu của tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me-xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang lon đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

* Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc: 1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobile, và nhà dưỡng lão.

Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là Trung tá Lực lượng Đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

 Sau đây là giai đoạn cuộc đời bằng Anh Ngữ.

DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobile Home, Nursing Home.

Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn.Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Willow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa…

“Ta từ có bạn đến giờ,

Lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…”

Những bài thơ…

Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bảy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha Chiến tranh Tâm lý xuất bản.

Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

Ông đã từng viết :

“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

Ta viết vào trang Thơ, tình yêu ta không mất.”

  Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

“Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu dao.”

Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp Sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh.Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau:

Thắp sáng muôn vì sao

Nếu như không đau khổ.      

Làm sao biết căm hờn.     

Càng muôn trùng sóng gió.

Tay chèo càng vững hơn.

Chúng ta cùng có nhau.

Nhìn nhau vui hớn hở.

Trên luống cày khổ đau.

Hoa Tự do vẫn nở

Những mái đầu cất cao.

Không một lời than thở.

 Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là:

“Những mái đầu cất cao, không một lời than thở”.

Nhưng có hai bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa Buồn từ trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ Biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4/75.Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

Ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

 Mưa Buồn Long Giao

Trời có điều chi buồn?

Mà trời mưa mãi thế!

Cây cỏ có chi buồn?                                                                                                               

Mà cỏ cây ứa lệ!                                                             

Anh nhớ em từng phút,

Anh thương con từng giây.

Chim nào không có cánh,

Cánh nào không thèm bay.

Người nào không có lòng,

Lòng nào không ngất ngây.

Gửi làm sao nỗi nhớ, 

Trao làm sao niềm thương. 

Nhớ thương như trời đất,

Trời đất vốn vô thường.

Ngày xưa chim hồng hộc,

Vượt chín tầng mây cao,

Ngày xưa khắp năm châu,

Bước chân coi nhỏ hẹp,

Bây giờ giữa Long Giao,

Ngồi nghe mưa sùi sụt,

Cuộc đời như chiêm bao.

Có hay không nẻo cụt,

Anh châm điếu thuốc lào,

Mình say, mình say sao!! 

Trại Long Giao 1975 

Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, liên khu 4, Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa: 

Xin Làm Cỏ Biếc

Anh cầm tay em, 

Bàn tay khô héo.

Anh nhìn mắt em, 

Gió lùa lạnh lẽo.

Anh nhìn lòng mình, 

Mùa Đông mông mênh.

Cỏ non mùa Xuân,  

Còn vương dấu chân.

Trăng non mùa Hạ, 

Ướt đôi vai trần.

Có xa không nhỉ 

Ngày xưa thật gần.

Thời gian! Thời gian.  

Em vẫn là em…  

Nụ cười rạng rỡ,

Ngày nào vừa quen, 

Mai đưa em về,

Xin làm cỏ biếc, 

Vương chân em đi.

Xin làm giọt mưa  

Mưa dầm rưng rức.

Trên vai người yêu,

Sài Gòn Sài Gòn,                                                                                                                 

Không là quê hương,                                                                                                       

Mà sao mình nhớ,                                                                                                             

Mà sao mình thương. 

Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh Chương Nghệ Tĩnh 1978.

Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Sài Gòn. Nhưng có ai yêu Sài Gòn hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

Saigon Saigon, / không là quê hương.

Mà sao mình nhớ, / mà sao mình thương.

Gửi ông bạn già, 

Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi thập niên 70 ở Sài Gòn tôi cũng không quen bác. Bác H.O. về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bản tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó.

Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

“Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

Năm nay bác đã ngoài 90.Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê.Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác.Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

Bác phê bình Giao Chỉ tôi viết văn như bổ củi.Hết bó này đến bó khác.Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi.Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp: “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng:

“Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh.             

Bác sống say say.

Bác tự hỏi lòng : “Mình say sao? Bác say thật rồi.

Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời.

Bác thuộc về một số rất ít.

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

Ngoc Lan post (theo Giao Chỉ)

Phần tiểu sử Nhà thơ HÀ THƯỢNG NHÂN

  Hà Thượng Nhân (1920- 11/10/2011) là bút hiệu của nhà thơ Phạm Xuân Ninh, nguyên danh Hoàng Sĩ Trinh.Ông quê ở Hà Thượng, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.

  Ông từng dạy học ở trường Dũng Lạc Hà Nội và trường Thiếu Sinh Quân Liên khu IV, rồi theo Kháng chiến nhưng đến năm 1952 thì ông về thành rồi di cư vào Nam. Ông gia nhập Quân đội VNCH lúc đó thăng đến cấp trung tá.

Đóng góp văn học

Nhà thơ Hà Thượng Nhân làm Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia, chủ bút rồi chủ nhiệm nhật báo Tiền tuyến, lúc đầu do Cục Tâm lý chiến đảm nhiệm, sau tập thể của quân đội. Với nhật báo Tự Do ông thường góp bài dưới bút hiệu Tiểu Nhã và phụ trách mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung”. Bút hiệu khác của ông là Nam Phương Sóc trên báo Ngôn luận. Ông là thành viên của Trung tâm Văn Bút VN.

Về tài văn thơ, ông có biệt tài làm thơ trào phúng nhưng khi còn trẻ tuổi ông cũng sính thơ Đường. Khi vào Huế trong một cuộc chơi thơ, ông có ứng khẩu một bài thơ vịnh “Trăng Thu” được chấm là hay nhất.”

Nhà thơ Hà Thượng Nhân từng được Phủ Quốc vụ khanh Văn hóa của VNCH đề cử làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật về bộ môn Thơ.

Sau năm 1975 ông đi “tù cải tạo” cho đến năm 1983 mới được về và sang định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990 dưới diện HO. Ông mất vào ngày 11/10/2011 tại San Jose California, thọ 91 tuổi.                    

(Thụy Vi) 

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Tiền và Người

Quý Vị và Các Bạn thân mến,

Trong đời sống, quả thật đồng tiền hết sức quan trọng cho chính mỗi chúng ta. Vì tiền là thước đo sự thành công và giàu có của một người, một gia đình hay một quốc gia. Khi có nhiều tiền thì ta trở nên giàu có; nhiều của cải, nhiều vật chất, cũng như có được địa vị, có được danh tiếng… Và thế nên nó trở thành một động lực và chúng ta luôn cố gắng tìm mọi cách để sở hữu đồng tiền. 

Tuy nhiên có một sự thật rằng, dẫu chúng ta có sở hữu thật nhiều tiền chăng nữa cũng không thể tránh khỏi bệnh tật – hay nói một cách khác là tránh được sự chết. 

Để kiếm được nhiều tiền, cũng có nghĩa ta phải dành nhiều thời gian để làm việc, và như thế ta lại bỏ qua những điều quý giá và ý nghĩa khác trong cuộc sống.

Thật ra bản chất của đồng tiền không mang giá trị, nhưng nó chỉ là một phương tiện để chúng ta trao đổi với nhau trong cuộc sống. Giá trị đích thực của đồng tiền chỉ có khi chúng ta nhận thấy bản thân mình có giá trị hơn nó. Nghĩa là chúng ta sẽ không chỉ nhìn một người có nhiều tiền và giàu có, mà còn thêm vào các giá trị trải nghiệm mà họ có từ tư cách, nhân cách, danh dự, chân chính và đạo đức con người… Vì cuộc đời đã cho ta thấy không phải ai giàu có cũng đều được kính trọng !

Quan điểm của nhiều người cho rằng : “Tiền không phải là tất cả, nhưng không có tiền là không có tất cả”. Rất đúng nhưng, riêng cá nhân tôi điều đó đúng trong tương đối. Vì tiền không thể mua được sự hiểu biết và tri thức con người. Nghĩa là bạn có thể mua được bằng cấp bằng tiền, hoặc tiền có thể mua được cuốn sách, nhưng tuyệt nhiên không mua được kiến thức.

Như tôi đề cập ở trên. Bản chất của đồng tiền vốn chẳng tốt cũng chẳng xấu, nhưng do người biết sử dụng nó vào mục đích gì. Đồng tiền do con người làm ra, nhưng cũng vì nó mà con người gặp bao lao đao, đắng cay và tai ương. Người có nhiều tiền mà không chân chính và đạo đức, họ sống vô cảm và sẽ làm suy đồi phẩm chất con người. Họ sẽ mua thế lực và dùng tiền để làm điều sai trái cho mục đích đen tối của mình. Họ cũng dùng đồng tiền để ức hiếp và lăng nhục những người làm trái ý họ, và cũng không ngoại trừ dùng những thủ đoạn giết đi mạng sống của người khác.

Trong khi bạn và tôi vì cuộc sống, nên cũng không tránh khỏi và đã nhiều lần khiến ta phải nô lệ đồng tiền. Cũng vì nô lệ nó mà tôi với bạn đã đánh mất biết bao điều quý giá trong cuộc sống mà đôi khi hối hận thì đã quá muộn.

Bài thơ TÔI CHỈ LÀ TỜ GIẤY của một thiền sư : Thượng Tọa Thích Tánh Tuệ. Bài thơ này tôi chọn để phổ thành ca khúc mà Quý Vị và Các Bạn sẽ nghe dưới đây. 

Quả thật lời và ý thơ là một sự mỉa mai cay đắng cho chính mỗi chúng ta – trong đó có tôi và có bạn. 

Vâng, chỉ là một tờ giấy mỏng manh có in hình đồng tiền đó mà nó có uy lực vô song, khiến chúng ta phải long đong trong đời sống, khiến ta phải run rẩy để đổi giọng và đổi cả tấm lòng. Tờ giấy mỏng manh đó nó “hóa phép” để biến đen thành trắng, và trắng nó nhuộm thành đen. Tờ giấy đó nó cũng khiến người xa lạ trở thành thành thân quen – ôm hôn nhau thắm thiết như các lãnh tụ Xô Viết ! Cũng là tờ giấy đó mà lắm kẻ cao thượng bỗng dưng…. hèn, và kẻ hèn thành…. thượng đế !?

Chưa hết, đồng tiền giấy đó nó cũng có khả năng không những chỉ xua Đời mà còn khiến đến cả Đạo. Nghĩa là nó có thể khiến một số tu hành cũng bị lôi cuốn, lẩn quẩn trong vòng xoáy của luân hồi !

Tư Mã Thiên đã cảm nhận sâu sắc và thấu đáo để rồi ông phải thốt lên rằng : “Thiên hạ ồn ào đều vì lợi mà đến…” Và tôi xin thêm rằng : Thiên hạ cũng không chịu buông bỏ dù biết lợi đó là lợi bẩn !

Thưa Quý Vị và Các Bạn,

Những điều trên đây cho ta thấy về giá trị đồng tiền trong đời sống, cũng như mặt phải và trái, là “dao hai lưỡi” của nó. 

Không gì giá trị và quý nhất mà đồng tiền do chính bản thân và công sức của mình làm ra một cách chân chính và lương thiện. Điều quan trọng hơn là cũng đừng vì đồng tiền mà đánh mất đi sự lương thiện và chân chính luôn có và hiện hữu trong lòng của mỗi chúng ta.

Nhân đây, tôi xin cám ơn đặc biệt đến người anh em là ca sĩ Anh Dũng đã thu âm bài hát này bằng tấm lòng và nghệ thuật mà không bị chi phối bởi “tờ giấy mỏng manh” đó. 

Quả thật anh ấy đến với tôi trong nghệ thuật và âm nhạc, và cùng nhau muốn tôn “cái đẹp” trong thế giới nhiễu nhương hôm nay. Vì anh ấy biết rất sâu sắc, rằng : “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”.

Xin chia sẻ đến Quý Vị và Các Bạn ca khúc TÔI CHỈ LÀ TỜ GIẤY theo link Youtube sau đây :

Thơ : Thích Tánh Tuệ

Nhạc : Văn Duy Tùng

Ca sĩ : Anh Dũng

Diễn ảnh : Trúc Tiên

Muốn hát karaoke ca khúc này, xin bấm vào đây : 

Và bài hát PDF (đính kèm)

Trân trọng,

Văn Duy Tùng




Ngày Sau Nối Lại Ngày Xưa

Ngày thứ ba 17 tháng 3 năm 2020 nghe tin cô Thái Thanh ra đi, dẫu biết cô đã 86 tuổi, cái tuổi của Sinh, Lão, Bệnh và bây giờ là Tử. Giữa lúc bệnh dịch Covid_19 lây lan hoành hành khắp nơi, mọi người đều bị cách ly ở nhà, chẳng ai gặp ai, tôi thật ngậm ngùi thương cảm Cô mất trong hoàn cảnh éo le, không có bạn bè thăm viếng, đưa tiễn…

Cô là người gắn liền biết bao kỷ niệm thời con gái. Tôi nghĩ phải có một bài viết về thần tượng của mình. Từ lúc nào tiếng hát của Cô đã thấm trong tim trong óc tôi “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ, nhạc Phạm đình Chương)

“Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu

Mưa mù lên mấy vai gió mù lên mấy trời

Người đi qua đời tôi hồn lưng miền rét mướt,

Vàng xưa đầy dấu chân đen tối vùng lãng quên

Bàn tay mềm khói sương tiếng hát nào hơ nóng

Và ai qua đời tôi chiều âm vang ngàn sóng

Trên lối về nghĩa trang

Nghe những lời linh hồn, nghe những lời linh hồn

Trong mộ phần đen tối đen…”

            Hồi đó Huế có những quán cà phê bàn ghế thường đặt trong sân vườn rất thơ mộng, dân Huế đi uống cà phê như cái thú tao nhã , ngồi trầm ngâm hàng giờ, nhìn phin cà phê nhỏ giọt, thả hồn theo dòng nhạc êm dịu, không nhất thiết phải là đôi tình nhân, hay đám thanh niên, mà còn có đám nữ rủ nhau lựa góc hiên thềm nhìn những giọt mưa rơi tí tách xuống thành bong bóng vỡ, nghe Cô TT ru hồn với “Ngàn Thu Áo Tím”

“Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím

Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím

Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau

Tháng năm càng lướt mau

Biết bao giờ thấy nhau…” (Hoàng Trọng & Vĩnh Phúc)

            Những chiều Hạ vàng nhóm chúng tôi thường rủ nhau đến nhà bạn Nhã Phương bên Đập Đá hái khế ngọt và nhiều thứ trái cây trong khu vườn rộng, trải chiếu sau vườn nhìn ra bến sông, bạn xách cassette kèm cuốn băng Thái Thanh, có lúc gặp anh Cường của bạn đi lính về thăm nhà, thấy tụi này cũng nhập bọn vác đàn theo ca hát. Chúng tôi ngồi nhìn bóng con đò lững thững trôi chầm chậm với hình ảnh người đứng buông tay chèo, chiều nhạt bên kia bờ, thấm từng lời nhạc của Cung Tiến theo tiếng hát réo rắc huyễn hoặc của Cô trong bài “Hương Xưa”

“Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hoà sưởi ấm nơi nơi?

Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?

Tình có ghi lên đôi môi. Sầu có phai nhoà cuộc đời

Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi.

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”

            Mặc ai nói chuyện, tôi vẫn thu mình trong thế giới xa xôi mơ hồ theo cung điệu trầm bổng cùng “Dạ Khúc” (serenade) lời Việt: Phạm Duy

                                  “Chiều buồn nhẹ xuống đời

                                    Người tình tìm đến người

Thấy run run trong chiều phai

Vẻ sầu của đóa cười

Tình bền của lứa đôi

Thoáng hương trong chiều rơi…”

            Giọng càng lúc càng cao vút điệu luyện về nhạc lý và kỹ thuật, nhất là bài “Dòng Sông Xanh” với điệu valse dồn dập ngây ngất cho ta mơ cảnh đẹp nước Pháp tuyệt vời lãng mạn.

            Có lần xem tivi chương trình nhạc “Tiếng Tơ Đồng”, lúc đó Cô chỉ 42 tuổi xuất hiện với bài “Ồ Mê Ly” của Văn Phụng. Cô đang hát, tóc xõa ngang vai, anh tôi đi đâu về vừa thấy thì la lên “Tội quá má ơi, cột tóc lên cho con nhờ…”. Vì tôi rất sợ anh nên không hề nói chuyện ngang hàng, nhưng trong lòng giận lắm chẳng thèm ngó mặt một thời gian. Tiếc là bây giờ anh đã nằm dưới lòng đất lạnh, chứ nếu còn sống thấy tôi xõa tóc, chắc bị anh rượt chạy khắp làng quá, mà cũng lạ thiệt… đến tuổi 65 tôi vẫn còn muốn xõa tóc mỗi khi mặc áo dài “dáng huyền tha thướt đê mê, tóc dài thả gió lê thê…”, thơ văn nhiều lúc đã trang điểm cho tôi cái cảm giác mình vẫn còn… trẻ, có lẽ sẽ làm ngứa mắt thiên hạ, nhưng lại làm tôi hạnh phúc mơ hồ rằng… tôi không còn thời xuân mộng, nhưng cũng chưa già, mà tôi ở thế giới của âm nhạc mây mưa ảo tưởng, đêm cụng chén nguyệt, ngày nhặt nắng hạ…, có lẽ tôi mê mẩn thơ văn, trong đầu chỉ muốn sống với thế giới đầy tiếng thu trăng sầu nên bị lạm “Mái Tóc Dạ Hương” (thơ Đinh Hùng, Nguyễn Hiền phổ nhạc).

“Rồi đây trên những lối đi này.

Ta sẽ cùng ai tay nắm tay.

Nhịp chân lưu luyến mãi cung đàn.

Buông lắng chìm tâm tư đắm say

Dĩ vãng nào xanh như mắt em.

Chao ôi! màu suối tóc buông mềm

Nét buồn Khuê các hoen sương phủ.

Nhạt ánh sao ngàn bên dáng xiêm…”

            Còn nhớ giờ ra chơi trong sân trường, từng cặp, từng nhóm đi dạo dưới hàng cây xanh, chúng tôi 3 đứa gồm Thu Sương, Hiền và tôi đi lượm từng giọt nắng đầu hạ, tình cờ nói chuyện về thơ Phạm Thiên Thư được Phạm Duy phổ nhạc bài “Ngày xưa Hoàng Thị”

“Em tan trường về. Mưa bay mờ mờ.

Anh trao vội vàng. Chùm hoa mới nở

Ép vào cuốn vở. Muôn thuở còn thương còn thương…”

Hiền đang say sưa hát, bỗng dưng ngừng lại, hỏi tôi

– Ê Minh …mi thích giọng ai hát

– Đối với tao nghe ai cũng không bằng Thái Thanh, thấy đậm đà làm sao

Hiền nghe vậy khoái quá

– Đúng, tao cùng sở thích như mi, tao thích giọng Cô lắm, rứa còn Thu Sương… mi thích ca sĩ mô

Thu Sương từ tốn nói

– Tao thích LT, nghe giọng TT có vẻ …mệt mệt làm sao

– Hiền nghe nói vậy như bị điện giật, lúc đó tôi đi giữa, nó chồm qua người tôi, giận dữ với Thu Sương

– Xin lỗi mi …chính LT giọng nghe mới mệt mệt

Dù tôi không cùng quan điểm với Thu Sương, dù thần tượng của tôi bị chê “nghe mệt mệt’, nhưng thường chơi bạn tôi không muốn mất lòng ai, nên im lặng và can ngăn 2 đứa bỏ qua chuyện đó. Thu Sương tánh đằm chẳng nói thêm gì nữa khi bị Hiền sừng sộ, bỏ ngang 2 đứa tôi, trở về lớp sớm. Còn lại tôi với Hiền

– Mi làm cái chi mà nổi nóng ghê rứa

– Chứ mi không thấy giọng ca như rứa mà hắn “nghe mệt mệt” à?

            Rồi thì 2 đứa giận đến mấy tháng, chúng nó nhìn nhau kênh kênh cái mặt lên, Thu Sương giận cả tôi luôn, nhưng không kênh mặt, chỉ là không thân như trước thôi

            Một hôm theo Tuyền Ái về quê Ngoại ăn đám giỗ, xe đò dừng ngoài lộ, muốn vào làng phải đi bộ rất xa, ngang qua thửa ruộng lúa chín vàng, có số người lom khom cắt lúa. Nhìn đồng hồ mới khoảng 2 giờ chiều, Tuyền Ái không muốn về nhà Ngoại sớm, hắn bảo về sớm phải phụ làm việc, chi bằng ngồi ngoài nhìn trời nhìn đất xem cảnh đồng quê thoải mái, canh giờ về chỉ có ăn thôi, tôi trợn mắt nhìn hắn nhưng rồi 2 đứa phá lên cười đồng tình cái lười biếng ở thành phố lâu nay chỉ có ăn học… nhác chảy thây.

            Hai đứa ngồi xuống lề bờ ruộng, hái những cây lúa non thấy hạt gạo bên trong, tự nhiên cảm giác bồi hồi thích thú. Có anh thanh niên đang hốt vén cỏ gần đó, Tuyền Ái mon men tới gần hỏi:

– Anh hốt cỏ đó về làm chi rứa ?

– Về phơi khô chụm nấu cơm

– Anh gặt lúa, làm lụng suốt ngày có mệt không?

– Mệt chớ, nhưng dưới quê thì chỉ làm nghề ni thôi, mà 2 O ở thành phố xuống phải không?

Bạn tôi gật đầu, rồi không biết hỏi chi nữa, máu nghịch ngợm hắn bắt đầu nổi lên

– Anh cúp tóc ở mô rứa ?

– Hỏi chi rứa?

Mắt anh chàng ngẩng lên nhìn có vẻ ngạc nhiên.

– Thấy đầu tóc anh đẹp quá hỏi cho biết

– Cám ơn …tui làm chi đẹp bằng mấy O mấy Cậu trên thành phố được.

– Anh có vợ chưa ?

Lần này anh thanh niên không thèm trả lời, cứ im lặng làm việc. Bạn tôi hết chọc ghẹo được, rủ tôi đi tà tà ngắm mọi người trên đồng ruộng. Tôi bắt đầu thấy rung động với nét đẹp quê hương, con người mộc mạc và sự cần cù lao động, mà từ lâu nơi thành phố chẳng hề thấy. Giọt nắng làm áo họ thấm ướt mồ hôi, mùi lúa thơm phảng phất, đồng ruộng bát ngát mênh mông, gió thổi rì rào những khóm tre trên bờ đường… Thật thỏa lòng tôi luôn ao ước, nên thường dặn dò các bạn “Khi mô về làng ngoại nội nhớ rủ đi với nghe”

Canh giờ tới nhà ngoại của Tuyền Ái, đến nơi đúng lúc bà con vừa cúng xong, dọn mâm xuống. Cậu, mợ, dì, bà Ngoại mừng rỡ ôm cháu hỏi đủ điều, đã có sẵn ba mẹ Tuyền Ái về trước hôm qua, còn dự tính mai mới lên lại thành phố. Mọi người chăm thức ăn cho 2 đứa, bới xôi, thịt gà, cam quýt trong vườn dồn lại một xách, bắt chúng tôi lên sớm, mai còn đi học.

            Sau chuyến đó, cứ nhớ hoài cảnh đồng quê, về nhà tôi thích nghe bài “Tình Ca” của Phạm Duy qua tiếng hát Thái Thanh thấm trong mạch máu từng lời nhạc, nghĩa tình quê hương đậm đà…

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời

À à ơi! Tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

Thoát nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi

…………………………….

Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu

Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo

Mình đồng da sắc không phai màu

Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao

Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi

Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao

Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, áo ơi

Tôi yêu biết bao người

Lý, Lê, Trần… và còn ai nữa

Những anh hùng của thời xa xưa

Những anh hùng của một ngày mai

Vì yêu, yêu nước, yêu nòi

Ngày xuân tôi hát nên bài tình ca

Ruộng xanh tươi tốt quê nhà

Lòng tôi đã nở như là đóa hoa…”

            Một thời xóm tôi xuất hiện chàng họa sĩ tới thuê nhà trước mặt, tôi nhìn anh chàng cũng như bao người khác với trạng thái bình thường, nhưng khi mỗi chiều hè anh ra đứng bất động, mắt chăm chú ngó nền trời, tôi đoán có thể quan sát chân trời, có thể mây bay, hoặc có thể ráng mặt trời… để lấy màu hòa sắc. Những lúc ấy tôi đang ngồi bên khung cửa sổ, ngẩng lên chợt rung động theo hình ảnh người thanh niên đứng  phút giây xuất thần. Không hiểu sao anh ta hay bỏ nhạc bài “Một Mùa Đông” được phổ thơ của Lưu Trọng Lư do cô TT hát, dù lúc đó đang vào thời tiết hạ, tôi hay lắng nghe và nhớ đoạn …

“Em ngồi trong song cửa. Anh đứng dựa tường hoa,

Nhìn nhau mà lệ ứa, Một ngày một cách xa

Yêu hết một mùa đông. Không một lần đã nói

Nhìn nhau buồn vời vợi. Có nói cũng không cùng…” (Phạm Duy)

            Buổi chiều trên đường đi học về, gần đến ngõ đã nghe tiếng cô TT vang lên điệp khúc ấy, lòng tôi cũng nao nao tưởng tượng như anh chàng đang dành tặng bài hát này cho mình, “chắc hẳn anh vẫn thấy mình ngồi bên song cửa…”, sắp tới nhà anh, người tôi run lên, tim đập rộn ràng, mặt quay ngược lại, bên tai tiếng hát vẫn vang lên “Em ngồi trong song cửa. Anh đứng tựa vườn hoa…”

            Rồi một chiều Thu… mùa Thu nơi xứ Huế thường pha chút tím trên nền trời, cuối chân mây và khắp nẻo đường biết bao tà áo tím thấp thoáng, đó là đặc điểm của Huế …Anh lại ra đứng ngoài ban công nhưng lần này có hình bóng người thiếu nữ diễm kiều trong tà áo tím, mái tóc xõa dài, cùng đứng cạnh nhìn theo hướng tay anh chỉ về phía chân trời. Hai người có vẻ tương đắc đang bàn điều gì, có lẽ cô đó học cùng lớp về ngành hội họa!!

Từ đó tôi ôm mùa đông xứ Huế buồn hiu hắt, bản nhạc vẫn mở, cô Thái Thanh vẫn thả làn hơi du dương nhưng tôi thấy “mỗi ngày mỗi cách xa…” xa trong cuộc sống, xa với tình yêu mà thật gần bài hát. Tôi đã biết cảm nhận “trên ngọn tình sầu”

Qua khỏi mùa đông anh cũng dọn nhà đi nơi khác, để lại trong tôi kỷ niệm về “Một Mùa Đông” anh đã cho những mơ màng rung động, những phút dệt mộng tình yêu đơn phương nhẹ nhàng như sương khói.

            Còn nhớ những buổi chiều bạn bè tìm đến quán Hoa hồng 9, trời mùa đông lạnh lẽo, bên ngoài mưa rơi, trong quán Thái Thanh hát “Giòng Sông Xanh”, “Tình Hoài Hương”, “Dưới Giàn Hoa Cũ”, “Dạ Khúc”… Cùng tách trà lipton nóng, được bỏ hạt ô mai vào trong, trên có lát cam, vị thơm của trà pha mặn, mùi ngọt của lát cam thật ấm áp và sảng khoái. Số bản nhạc được chúng tôi yêu cầu vì giờ vắng khách, mỗi đứa mỗi tâm trạng… có đứa đang yêu thầm, có đứa đang vỡ mộng chán chường, có đứa đang mệt mỏi tình cảm, thất tình… cho nên nghe bản nào cũng thấy hợp, cũng se lòng thắt dạ đến ngây ngất. Không nhất thiết phải nói với nhau, nhưng chúng tôi rất cần có nhau mỗi khi đi uống cà phê, bởi vì đa số những quán cà phê ở Huế rất trầm lắng và thanh lịch, hầu như vào đó để nghe nhạc cho nên bọn con gái chẳng ngại điều gì mà không hưởng những giây phút thần tiên như vậy.

            Sau 1975 mọi người như từ trên cao rớt xuống vực sâu, tinh thần suy sụp, không còn niềm tin, không còn nguồn vui bám víu. Mọi gia đình đều ly tán, bế tắc… Dân Huế bán nhà vào Nam rất đông. Gia đình bạn tôi tên Dung cũng vào cư xá Thanh Đa ở chật hẹp trong căn chung cư. Vào khoảng năm 80, 81 tôi cũng tìm đường vượt biển, ở nhà bạn thêu hàng áo dài chung. Tôi chỉ cần có chỗ tá túc trong thời gian chờ đợi liên lạc đường dây tổ chức, nên thêu kiếm bao nhiêu tiền tôi không để ý, giao hết cho bạn chi tiêu ăn uống. Gia đình bạn có tới 12 chị em, mẹ mất trước 75, cha đi “tù cải tạo” chưa về. Một hôm Dung mua được cuốn casettes cũ của ai với tựa đề “Em Ra Đi Mùa Thu” cô TT hát, nhưng trước khi mua, Dung hỏi cả nhà:

            Tiền chợ mỗi ngày tiêu chuẩn chỉ $10 (bạc bắc) có ai chấp nhận hôm nay ăn rau muống chấm xì dầu, để tiền mua cuốn nhạc không? Mấy em nhỏ chẳng để ý, người lớn muốn làm gì thì làm, các chị lớn hoan nghênh liền:

– Chị Dung mua đi, ăn rau một ngày mô có chết, nghe nhạc cho đã tai.

Thế là mâm cơm chỉ có tô xì dầu xắn ớt tươi chan cơm và mấy bó rau luộc. Giây phút lịm người nhất là sau những buổi cơm trưa, đóng cửa, không gian mờ tối cả nhà nằm hết dưới sàn xi măng, mở nhạc ru giấc ngủ, nghe đến thuộc làu các bản nhạc “Hòn vọng phu 1”, “Gánh Lúa”, “Cho Tôi Yêu Lại Từ Đầu”, “Em Ra Đi Mùa Thu”, “Quê Em”, “Thư Gởi Người Chiến Binh”, “Ca Dao Me”, “Phút Đầu Tiên” …v..v… Dù thời gian đó ai cũng bị tình trạng ăn uống thiếu chất, nhưng những buổi trưa như vậy đã bổ dưỡng nhiều cho tâm hồn chúng tôi được tươi mát dịu vợi, nhất là …

 “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại

Đếm lá úa mùa thu, đo sầu ngập tim tôi

………………………………..

Hôm em ra đi mùa thu. Mùa thu không trở lại

Lá úa khóc người đi. Sương mờ dâng lên mi

Em ra đi mùa thu. Mùa lá rơi ngập ngừng

Đếm lá úa sầu lên, bao giờ cho tôi quên… (Phạm Trọng Cầu)

            Còn gì sung sướng hơn được hài lòng với mộng, tôi còn nhớ thầy dạy môn đạo đức đã giảng “tưởng tượng hay giấc mơ là trạng thái của sự thiếu thốn đè nén”, nên nó giải tỏa và thỏa mãn bằng phương cách đó. Chúng tôi được ve vuốt bởi tiếng hát “thuốc phiện”, đưa hồn lâng lâng lên thấu tầng mây xanh, quay lưng thực tại để được ru, được đi vào khung trời lãng mạn của Paris với khu vườn Luxembourg, và hóng mát bên dòng sông Seine rồi đi dần vào giấc ngủ thần tiên.

Không còn niềm rung động nào bằng thời điểm đó chìm lắng theo “Cho Tôi Lại Từ Đầu” sáng tác của Trần Quang Lộc, chúng tôi gần như mê man với bản nhạc này, dĩ nhiên chỉ có “Tiếng hát vượt thời gian” mới diễn đạt sâu sắc được

“Cho tôi bước lại con đường làng. Ngày đầu cắp sách đến trường.

Bên tai tiếng cười tiếng nói lạ. Dịu dàng mùi thơm giấy mới

Cho tôi hát lại câu hát đầu. Như thuở mẹ ru rất yêu

Tay tôi xếp hoài con diều nhỏ. Để ước mơ vào mây cao

Cho tôi giữ lại khung trời mộng. Chiều về đuổi bướm trên đồng 

Nâng niu hát đùa với dế nhỏ. Trải mình nằm trên cỏ ấm

Cho tôi đứng chờ em cuối đường. Lá đổ lòng nghe vấn vương

Thơ tôi viết hoài cho tình mộng. Để hát cho người yêu nhau

Cho tôi lại từ đầu …Để được khóc, được thương được nhớ

Cho tôi lòng thật thà …trên môi đời nghiệt ngã

Để hương xưa …nhỏ xuống tình già

Cho tôi nói lại tiếng tình đầu. Một chiều em đứng bên cầu

Che nghiêng nón cười như dấu mộng. Thẹn thùng nụ hoa mới hé

Cho tôi nhớ lại hương tóc mềm. Gió chiều thả hương ấm vai

Đêm mơ thấy tình đi nhè nhẹ. Mà nhớ em ngày xa xăm…”

            Cuối năm 1985 tôi qua Mỹ bằng đường biển, cô em họ của ông xã tôi cũng vượt biển tới đảo Galang, được bố chồng tôi bảo lãnh qua Mỹ sống chung nhà. Một hôm ông Thầy cũ muốn thăm cô em, cô không muốn tiếp tại nhà đông đúc nên rủ tôi đến nơi ông ở. Hai người nói chuyện, tôi ngồi nhìn mấy tờ báo, tình cờ thấy tấm poster quảng cáo đêm nhạc Thái Thanh vừa qua Mỹ, thấy tôi cứ nhìn chăm, ông Thầy quay qua hỏi tôi:

– Chị thích tiếng hát ca sĩ nào nhất

– Thái Thanh

Ông Thầy sáng mắt:

– OK…tôi mời chị và Vân đi xem buổi ca nhạc cuối tuần này có được không?

Tôi đưa mắt nhìn Vân không trả lời, Vân lanh ý nói sẽ xem lại chương trình rồi trả lời sau.

Nhìn giá vé buổi ca nhạc dù không phải hạng nhất nhưng tôi cũng le lưỡi thấy số tiền rất lớn, mới qua lại tay trắng rất ngại chẳng muốn đi, còn Vân thì không mê nhạc cho lắm, nhưng ông Thầy có vẻ nhiệt tình mời mọc như người gặp được tri kỷ

– Chị mê tiếng hát Thái Thanh nên tôi mừng lắm, muốn có người hợp sở thích cùng đi nghe.

Vân thương tôi nên cũng xiêu lòng nhận lời. Đêm đó ông thầy đến nhà chở 2 chị em đi. Nếu như còn ở VN, mà lại ở Huế đời nào tôi được xem buổi văn nghệ như vậy.

Bước vào rạp, tim tôi hồi hộp như sắp được gặp lại cố nhân. Chương trình có phần phụ diễn ca sĩ Ngọc Lan. Cô TT hát say sưa những bản quen thuộc tôi từng nghe như “Mái Tóc Dạ Hương”, “Kỷ Vật Cho Em”, “ Quán Bên Đường”, “Tình Ca”, “Bóng Người Đi”….v..v…. Giờ giải lao tôi không ngần ngại chen chân mua cuốn CD “Quê Hương và Kỷ Niệm”, mừng rỡ có 2 bài tôi ghiền nhiều là “Giòng Sông Xanh” và “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Đó là món quà đặc biệt nhất ngày tôi vừa bước chân đến Mỹ được hơn 3 tháng.

            Thời gian kế tiếp tôi học lái xe có người chuyên nghề dạy. Ông là cựu sĩ quan, ngoài giờ làm hãng điện tử, dạy thêm kiếm tiền. Sau giờ học trên đường trở về nhà, tôi thấy ông bỏ nhạc Minh Hiếu trên xe, ông hỏi tôi thích giọng ai, tôi cho biết thích TT, ông nổi hứng hứa sẽ tặng tôi cuốn băng TT. Tối ông đến nhà đưa liền cuốn CD chủ đề “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, đây là những kỷ niệm liên quan đến tiếng hát cô Thái Thanh tôi rất trân quý giữ nó một góc trong tâm hồn…

            Cuộc sống bắt đầu thấm mệt theo những bận rộn công việc, không còn thời gian để nghỉ ngơi. Tôi cày ngày 12 tiếng, tháng 30 ngày, đạp theo chân người Mỹ vì cũng phải sắm xe, nợ nhà, thêm bản tính dân Huế hay lo xa, cày được cứ cày, lỡ ngày mai thất nghiệp. Về nhà chỉ biết thèm giấc ngủ, tuy nhiên cũng còn nũng nịu bắt cô TT dỗ dù chỉ 1, 2 bài rồi say giấc ngủ dễ dàng. Vài năm sau tôi thay công việc làm cho company Kyle Design nên được nghỉ ngày cuối tuần thong thả.      

Giấc ngủ muộn màng, mở tung cánh cửa sổ thấy bầu trời trong sáng rực nắng hạ, hay màn mưa mù ngoài song, cảm giác sung sướng thoát khỏi cảnh bị đồng hồ báo thức. Nằm nướng mở nhạc chiếc máy để đầu giường, nghe cô đưa vào kỷ niệm xa xưa… Hay là pha ly cà phê sữa nóng, ngồi một mình nơi phòng khách mở nhạc lớn thoải mái, ngồi bất động để tâm hồn lạc lối về miền quá khứ…

“Mời người lên xe về miền quá khứ.

Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu

Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu.

Sẽ có chẳng nhiều đớn đau

Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu.

Có lũ kỷ niệm trước sau …”

            Giọng hát cô uốn lượn theo nhiều cung bậc, xoáy sâu vào lời nhạc mang hồn thi ca phong phú, xoắn mạnh vào tâm hồn tôi ngây ngất, có lúc dồn dập….

“Chiều hành quân qua những đồi sim, những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…” (thơ Hữu Loan nhạc Phạm Duy )

Có lúc lâng lâng …

“Lắng trong tiếng chiều ngân, nhạc dặt dìu ái ân.

Người ơi nhớ mãi cũng đàn, năm tháng phai tàn, duyên kiếp vẫn còn lỡ làng… 

“Chiều Tà” (Phạm Duy dịch)

Có lúc thắt ruột 

“Lòng Mẹ bao la như biển thái bình dạt dào…”(Y Vân)

Có lúc chùng xuống “Đêm Cuối Cùng” (Phạm đình Chương).

“Đêm nay đêm cuối cùng gần nhau. Lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.

Nhịp bước bâng khuâng ngoài phố lạnh. Giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh….”

            Tất cả cô đều chuyên chở vào âm nhạc những vui buồn cảm xúc bằng tiếng ca lời nhạc, đã đem tâm hồn tôi đi xa, xa lắm …tạm quên đời cơm áo, những đè nặng lo âu hiện tại, tìm lại chiếc bóng ngây thơ dẫm trên đường hoa mộng, trở lại dòng sông xưa, có “bạn bè hiền như thỏ, đêm đêm về gặm cỏ dưới ánh trăng thanh…”. Thuở mây mưa giăng lối, thuở có giàn ti gôn trước hiên nhà, thuở một sớm thức dậy nghe tiếng chim hót, nhìn ánh nắng tràn qua song, vươn vai ra quét sân, thật nhẹ nhàng sợ đau những xác hoa vung vãi, nghe dư âm vang vọng tiếng hát thần tượng bên tai, rồi hát nho nhỏ:

                        “Bao nhiêu là ngày. Theo nhau đường dài

                        Trưa trưa chiều chiều. Thu đông chẳng nhiều

                        Xuân qua rồi thì. Chia tay phượng nở sang hè…”

Xứ Mỹ luôn luôn vội vã, tất bật, chính giọng hát cô đã kéo lại những giây phút thanh thản cho tâm hồn, bù đắp sau giờ làm việc mệt nhọc. Tôi chợt nhớ đã đọc đâu đó những tư tưởng lớn bày tỏ về giá trị tuyệt vời của âm nhạc, do những nhà soạn nhạc nổi tiếng thế giới đã nói:

Robert Schumann :“Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người”.

            Gioachino Rossini: “Ngôn ngữ của âm nhạc là ngôn ngữ chung của tất cả mọi thế hệ và mọi dân tộc; ai cũng hiểu được nó, bởi nó được hiểu bằng trái tim”.

Beethoven: “Âm nhạc khơi ngọn lửa trong tim người đàn ông và dâng lệ lên mắt người phụ nữ”.

J. B Bach: “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày”

Tôi làm việc trên thành phố Livermore, phải chạy qua 2 freeway 880& 580. Mỗi chiều trên đường về bị kẹt xe, mấy cuốn CD luôn là bạn gần gũi, cô luôn đi cạnh tôi an ủi, vỗ về theo nhịp “Tiếng Sông Hương” (Phạm đình Chương), “ “Hát Nữa Đi Hương” (Trầm Tử Thiêng), “ Mẹ Việt Nam Ơi” (Nguyễn Ánh 9)… Cô là người ve vuốt tôi rất nhiều bằng sự diễn đạt sâu sắc trong từng lời nhạc, bao nhiêu tình tự lãng mạn, về tình yêu quê hương, về đất nước đau buồn trong thời loạn ly, đủ sắc thái cho tôi rung động nhịp thở un đúc những cảm giác buồn vui lẫn lộn…

Cô ra đi… ngậm ngùi và nuối tiếc một bảo vật vừa bị mất mát. Đám tang Cô được tổ chức tại thành phố Westminster thuộc Nam Cali vào lúc 12 giờ trưa ngày 25 tháng 3. Trước khi tang lễ diễn ra có phần Livestream, tôi thấy có nhiều nghệ sĩ như Cô Kiều Chinh, cô Kim Tước, cô Châu Hà, nhạc sĩ Lam Phương, ca nhạc sĩ Từ Công Phụng, giám đốc Trung Tâm Thúy Nga Tô Văn Lai nói lời chia buồn. Nhìn các nghệ sĩ nay đã tuổi hạc bày tỏ cảm xúc, nước mắt tôi ràn rụa ngậm ngùi ….vì bệnh dịch Covid-19, bạn bè thân thiết, khán giả hâm mộ không thể đến thắp nén hương giã biệt, chỉ biết tưởng nhớ nén hương lòng buồn bã lặng lẽ.

Ý Lan, Quỳnh Hương và con cháu mặc áo hồng trong đám tang, cô Thái Thanh nằm bình thản được khoác y phục màu hồng tươi đẹp như mong muốn của cô lúc còn sống, cô đã quan niệm đó là “Màu Hạnh Phúc”. Nhạc vang trong đám tang bằng bài “Tình Ca”

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời

À à ơi! Tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”

            Chiếc xe đẩy quan tài và con cháu đi sau một đoạn đường xa, mọi người đều hát “Nghìn Trùng Xa Cách” (Phạm Duy)

Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi

Còn lời trăn trối gởi đến cho người

Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời

Đường dài hạnh phúc cầu chúc cho người…”

            Tiếng hát Ý Lan và Quỳnh Hương nức nở nghẹn ngào, chắc hẳn bao nhiêu người hâm mộ cô cũng hát theo và rơi lệ. Bài hát này đã xoắn vào tim tôi ngày xưa khi tôi thất tình, và khi vượt biên qua đảo Pulau Bidong đầu năm 1985, mỗi khi có chuyến tàu rời đảo, tôi thường chứng kiến những cặp yêu thương nhau phải rời xa đau khổ, tiếng hát cô Thái Thanh vang lên xé buốt, giờ đây tôi lại đưa tiễn cô, nghe lại bài hát trong nỗi luyến thương, dẫu biết mọi người cũng sẽ lần lượt ra đi mà thôi…

Bệnh dịch xáo trộn mọi thứ, mọi việc. Tôi đã nghỉ hưu, suốt ngày trong nhà không đi đâu, vì nghĩ tuổi mình không còn trẻ, sức miễn nhiễm có thể yếu đề phòng kỹ lưỡng vẫn tốt hơn. Ra vườn chăm tưới hoa, vào nhà ngồi đọc sách nhưng không tập trung đầu óc. Tôi mở Google gõ những bài yêu thích, chỉ trừ không tìm ra số bài cô Thái Thanh đã hát, thì quay qua dùng CD mở máy. Tiếng hát cô vẫn du dương, vẫn đưa tôi về nhiều kỷ niệm xa xưa. Tiếng hát muôn đời ở lại. Đêm tôi bị mất ngủ, bên tai nghe tiếng yêu thương của Cô, tôi say sưa làm thơ về Cô:

Nhớ Ca Sĩ Thái Thanh

Mưa buồn mở nhạc giọng trong thanh

Hơi vút đưa tình lướt phím nhanh

Tưởng nhớ yêu thương người nghệ sĩ

Năng tài lão luyện đã thành danh

Tròn trăng thiếu nữ thấm khi nào

Tuyệt diệu âm bè luyến láy cao

“Kỷ Vật Cho Em “ buồn ứa lệ

“Giòng Sông Xanh”, “Gánh Lúa” ngời ca

“Ồ Mê Ly” bộ tứ hoà nhau

Gắn bó anh em một chuyến tàu

Ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng

Dâng đời tài nghệ những viên châu 

“Người Về”, “Lòng Mẹ” nở ngàn hoa

“Dạ Khúc” ngày xưa quyện nắng tà

“Mái Tóc Dạ Hương” còn đắm đuối

“Nghìn Thu” tiếng hát chẳng rời xa      

                                Minh ThúyThành Nội

Giã Biệt Thái Thanh

Cánh Nhạn bay xa tiếc vạn hồi

Theo vời tiếng hát gởi mây trôi

Hơi cao thả sóng danh lừng đỉnh

Giọng vút buông thuyền tiếng nổi ngôi

Rộn rã lời duyên gieo ánh mắt

Êm đềm chữ ái thả làn môi

Người đi để lại lòng thương nhớ

Nghệ sĩ ưu tài chẳng nhạt phôi

                Minh ThúyThành Nội

Tưởng Nhớ Ca Sĩ Thái Thanh 

Chị Thái Thanh lìa cõi giá băng

Buồn dâng ký ức vẫn in hằn

“Người Về “thuở ấy trời mơ phủ

“Dạ Khúc” hôm nào khói ảo giăng

“Kỷ Niệm” từng làm trăng uốn đảo

“Tình Ca” đã khiến gió xoay quằn

Say mê tiếng hát ngôi thần tượng

Nguyện ước cho người sớm vãn thăng

                    Minh Thúy Thành Nội

Trời đã cuối thu… màu sắc bên ngoài héo úa, cành lá trơ trọi chuẩn bị đi theo mùa đông ảm đạm. Biết bao giờ cuộc sống hết con vi khuẩn tàn ác phá hoại. Thiên tai hỏa hoạn tại Bắc Cali, bão gió bên Texas, biểu tình bên Seattle… Buồn và lo âu đủ thứ chuyện. Mùa đông lại sắp đến, mùa thường làm con người ta trầm ngâm ngồi nhìn mưa… thả tâm hồn trở về ngày tháng cũ, ký ức mơ hồ hoang vắng, tâm tư lạc lõng chơi vơi buông rơi niềm đau nỗi nhớ trên cung sầu phím lạc…

Tôi đang nghe bài “Tình Cầm” (thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy)

Tiếng hát cô lanh lảnh, ngây ngất se thắt lòng tôi. Đêm tĩnh lặng, thơ nhạc giờ này là người bạn gần gũi tôi nhất, cô vẫn luôn bên tôi, tiếng hát cô đang vỗ về, dìu dắt tôi đi vào giấc mộng êm đềm thật xa…

“Nếu anh còn trẻ như năm cũ

Quyết đón em về sống với anh

Những buổi chiều buồn phơ phất lại

Anh đàn em hát níu xuân xanh

Nhưng thuyền em buộc bên sông hận

Anh chẳng quay về với trúc tơ

Ngày tháng Tỳ Bà vương ánh nguyệt

Mộng héo bên song vẫn đợi chờ

Có mây bàng bạc gây thương nhớ

Có ánh trăng vàng soi giấc mơ

Có anh ngồi lặng so phím cũ

Mong chờ em hát khúc xuân xưa

Nếu có ngày nào em quay gót

Lui về thăm lại bến thu xa

Thì đôi mái tóc không xanh nữa

Mây bạc, trăng vàng vẫn thướt tha…”

Minh Thúy Thành Nội 2020




Vọng xuân thanh bình

Tony Nguyễn

Nhân Tết Tân Sửu, thay lời chúc, xin mời quý bạn thưởng thức một bài thơ « đọc xuôi, đọc ngược » (thuận nghịch độc) :


Vọng xuân thanh bình
Ðông tàn, đã thắm rộ đào, mai,
Tết chúc mừng: vinh, phúc, lộc, tài.
Sông núi rộn reo hò chốn chốn,
Thị-thành vang hát xướng nơi nơi.
Mong chờ, vẫn biển ngàn ngăn cách,
Ðợi ngóng, hàng năm tháng miệt mài.
Lòng héo úa thêm chồng chất tuổi,
Nông, sâu, đục nước chuyện cùng ai ?

Ðọc ngược, ta có một bài thơ khác, vẫn giàu tính thơ:
Ai cùng chuyện nước đục, sâu, nông ?
Tuổi chất chồng thêm héo úa lòng.
Mài miệt tháng năm hằng ngóng đợi,
Cách ngăn ngàn biển vẫn chờ mong:
Nơi nơi xướng hát vang thành thị,
Chốn chốn hò reo rộn núi sông,
Tài, lộc, phúc, vinh, mừng chúc Tết,
Mai, đào rộ thắm, đã tàn Ðông.
 
                  Đỗ Quang Vinh

Xin mượn bài thơ này gửi đến bè bạn mọi nơi : đây là lúc mà tâm tình những kẻ tha hương, ngày càng giống nhau và gần nhau hơn[1].
Có thể, vì chúng ta gốc gác Việt Nam nên khen « Tiếng Việt tuyệt vời » nghe không chói tai, chứ kỳ thực người nước nào mà chẳng trau dồi tiếng xứ ấy và sẵn sàng gán cho ngôn ngữ ấy hai chữ « tuyệt vời ». Cách « đọc ngược, đọc xuôi » (« thuận nghịch độc ») đâu phải chỉ là sở trường của ngôn ngữ thơ văn Việt Nam. Sử dụng ngôn ngữ như vậy, đọc xuôi, đọc ngược, gọi là « palindromes », tiếng Pháp tiếng Anh đều có cả.
Sau đây là vài thí dụ văn xuôi tiếng Pháp : ta có thể đọc một từ, hoặc một cụm từ, từ trái sang phải, hoặc đọc từ phải sang trái, đều giống nhau, và nghĩa cũng như nhau. Từng từ một, như : « non », « ici », « ressasser », hoặc một câu nhiều từ như : « élu par cette crapule », « Ésope[2] reste ici et se repose », « un roc si biscornu », « engage le jeu, que je le gagne », « eh, ça va la vache », « Léon n’osa rêver à son Noël », « à l’autel elle alla, elle le tua là »…
Tiếng Anh không thiếu trường hợp tương tự, hoặc một từ, như : « eye », « Eve », « noon », « civic », « madam », hoặc một câu nhiều từ như : « was it a car or a cat I saw ? », « even in eden I win eden in Eve », « Tivoli, I lov’it », « a man, a plan, a canal, Panama », hoặc đọc thuận đọc xuôi cả cụm từ : « King, are you glad you are King ? »…

Tuy nhiên, không phải ngôn ngữ nào cũng đưa cách chơi chữ này đến một vị trí như trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Ngọc, trong Nam Thi Hợp Tuyển, thơ thuận nghịch độc tuy làm theo thể thơ Đường nhưng lại là một lối riêng của thơ Việt Nam. Làm một bài thơ Đường luật đã khó, nhưng khi làm thơ « thuận nghịch độc » thì mỗi câu thơ lại đọc xuôi, đọc ngược làm sao cho cả hai cách đọc (xuôi, ngược) đều có ý nghĩa và hợp vần luật. Muốn được như thế, phải nắm bắt được một số quy luật, tuy không khó viết, nhưng viết xong lại khó hay. Hàn Mặc Tử, Tự Đức cũng từng làm thơ đọc xuôi, đọc ngược, nhưng nếu đem so những bài này với các bài thơ khác trứ danh, thì không có gì thật là « siêu phàm »[3]. Có người, vì đã nắm bắt được quy luật như thế, cho đăng luôn trên Mạng đúng 400 bài « thuận nghịch độc ». Làm thơ như vậy, đúng là để phá kỷ lục, chứ không phải vì yêu thơ.
Cho nên, thơ thuận nghịch độc tuy không hiếm, nhưng bấy lâu nay, vẫn chỉ thấy có một bài với tám cách đọc, không biết ai là tác giả :[4]

Bài thơ kỳ lạ, tám cách đọc : đọc xuôi, đọc ngược…

1. Bài thơ gốc:

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.

2. Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên:

Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.

4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài
(ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Mắt ai bóng thướt tha
Ðàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.

5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (tám câu, mỗi câu bốn chữ ):

Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.

6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu  bốn chữ):

Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.
7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ) :

Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Ðàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.

8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ):

Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta.
Âu cũng là một cách thưởng Xuân nhẹ nhàng, ý nhị…
Đ.T.H.
 


[1] http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=14893
[2] Ésope : tác gia ngụ ngôn, gốc cổ Hy Lạp.
[3] https://ocuaso.com/tho-viet-nam/chum-tho-bat-hu/2-bai-tho-thuan-nghich-doc-luc-chuyen-hoi-van-cua-han-mac-tu.html
[4] http://vuhungviet.blogtiengviet.net/2017/03/19/m_tinh

– TẢN MẠN VỀ THƠ THUẬN NGHỊCH ĐỘC Ta thấy, theo bảng luật trên thì câu 1 và câu 8 (2 câu này niêm luật như nhau) đã bị lỗi khổ độc ở 1 chiều đọc, …
http://vuhungviet.blogtiengviet.net/2017/03/19/m_tinh



Tự Hào hai chữ SÀI GÒN

Chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu.

SAIGON – cái tên địa danh 1 trong 40 thành phố nổi tiếng trên thế giới được khắc tên trên mặt đồng hồ Thụy Sỹ từ những năm 1953. Chiều qua uống cafe với đứa em, buôn chuyện khắp thế giới mới biết em cũng cùng sở thích mê đồng hồ (mình chỉ mê thôi nha). Em gởi hình cái đồng hồ và hỏi có biết  tin thú vị này không ? Xem xong thật sự mình rất rất ngạc nhiên xen lẫn tự hào cái tên SAIGON được khắc trên mặt đồng hồ của một thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới – PATEK PHILIPPE – model 2523 của Thụy Sỹ.  Tin quá hay và quá thú vị không phải ai mê đồng hồ cũng biết. 

***

Tối mình về nhà lật đật “lục tung” internet tìm hiểu mới càng “nổi da gà”, khi biết nó được sản xuất năm 1953, khi miền Nam lúc đó do Pháp đô hộ, nhưng thành phố SAIGON được khắc tên 1 trong 24 múi giờ thế giới. 

Cái tên được ngạo ngễ đứng chung với 40 thành phố nổi tiếng đại diện trên thế giới: Sydney, Montreal, Moscow, New York, California, Rio De Janeiro, London, Paris, Geneva, Tokyo,…..có cả Singapore (mình hơi thắc mắc nước Singapore thành lập năm 1965, nhưng đồng hồ này lại được sản xuất năm 1953 ?).

Tương truyền, vào năm 1876 sau khi lỡ chuyến tàu ở Ireland, kỹ sư đường sắt người Scotland – Mr.Stanford Fleming bắt đầu tìm cách chuẩn hóa thời gian. Phát biểu trước Viện Hoàng gia Canada ở Toronto năm 1879, ông đề xuất chia trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau một tiếng với thời gian chung cho từng múi giờ riêng lẻ. Ý tưởng của ông đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các chính phủ và cộng đồng khoa học nhưng sự kiên trì của ông đã được đền đáp khi khái niệm mang tính cách mạng của ông cuối cùng được thông qua vào năm 1884 tại Washington, khi 25 quốc gia tham gia hội nghị Kinh tuyến Quốc tế quyết định rằng kinh tuyến gốc của kinh độ 0 ° sẽ đi qua Greenwich, nước Anh.

Đồng hồ giờ thế giới dường như ít được các tín đồ đồng hồ quan tâm cho đến khi nhà chế tác đồng hồ thiên tài Mr.Louis Cottier thiết kế một bộ máy đồng hồ bỏ túi có giờ địa phương với kim giờ và kim phút ở trung tâm, được liên kết với một vòng xoay 24 giờ và được bao quanh bởi một vòng quay số cố định bên ngoài với tên của các thành phố khác nhau được ghi trên đó. Đồng hồ bỏ túi giờ thế giới, tiền thân của tất cả đồng hồ giờ thế giới, hiển thị đồng thời mọi múi giờ trên thế giới, đồng thời cho phép xem giờ địa phương dễ dàng và chính xác, và tất cả trên một mặt số duy nhất.

Cottier đã thu nhỏ phát minh của mình vào cuối những năm 1930, xuất hiện trên chiếc Patek Philippe model 1415. Đến năm 1953, Patek Philippe model 2523 có hệ thống hai núm vặn mới, một để lên dây cót và một ở vị trí 9h để điều khiển đĩa các thành phố. Khi được giới thiệu ra thị trường, đồng hồ hai núm mới này không thành công về mặt thương mại, nên rất ít sản phẩm được sản xuất. Chỉ có 7 cái được chế tác bằng vàng hồng,  5 cái có bản đồ thành phố Âu châu  và Bắc Mỹ. Trong đó, 1 trong 2 cái duy nhất dùng bản đồ Âu Châu & Á châu  có mặt sứ màu xanh nước biển, khi lặn xuống nước màu trên mặt có một chiều sâu như dưới biển. Đồng hồ duy nhất này có cả 2 thứ trên mặt mà các nhà sưu tập đồng hồ mong muốn là mặt bằng men Enamel (loại sứ trên cái mặt tròn ở giữa) phải nung 2 lần mới thành. Và mặt trang trí vói những pattern bằng máy (do huyền thoại Louis Cottier phát minh, sau đó hãng Patek Philippe sử dụng). Đặc biệt được sản xuất trong thập niên 50 thế kỷ trước, thập niên hoàng kim của chế tạo, thiết kế, kỹ thuật điêu luyện của đôi tay những bậc thầy.

Và…..chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu. Nghe nói đâu  vài triệu đô chứ mấy ?!? Ahihi…!

Minh Hoà Photographer  (SaiGon – Nov. 16, 2020)