Cánh Chim Lạc Lìa Đàn : Tịnh Nguyệt Anh Nương (1922-2009)

Cánh Chim Lạc Lìa Đàn

Tịnh Nguyệt Anh Nương (1922-2009)

 

Tháng 11 năm 1946 vở kịch thơ Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm được trình diễn lần đầu tiên tại nhà hát lớn Hà Nội. Nghệ sĩ Tuyết Khanh đóng vai Kiều Loan rất sống động. Sau buổi diễn kịch này nghệ sĩ và thi sĩ gắn bó không rời. Đến năm 1950 một Kiều Loan thực sự là tác phẩm của hai người ra đời. Mối tình lãng mạn ấy đành chấm dứt cùng với hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Nhà thơ Hoàng Cầm ở lại miền Bắc, nghệ sĩ Tuyết Khanh bồng con theo đoàn người di cư vào Nam, từ đó nàng vừa làm thơ vừa dạy con làm thơ và diễn kịch thơ. Nhà thơ nữ lại có một bút hiệu trùng với một pháp danh, để sau này làm thơ dưới bóng mát bồ đề, bút hiệu Diệu Lộc theo mãi đến ngày nay.

Trong tập thơ Hương Sen xuất bản năm 1991, Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã cho lời cảm tưởng như sau:

“Là con Phật đã có sẵn lòng từ bi, lại thêm có tâm hồn khoáng đạt, phật tử Diệu Lộc bâng khuâng trước cảnh vật sắc không vô thường; .. than thở trước kiếp sống lưu đày, đau khổ, chia lìa xa cách…  Nhìn vào tâm, tâm viên ý mã. Tâm vẫn chưa yên. Nhớ lại cảnh chùa xưa, bóng trăng xưa, lúa vàng thơm, bóng người sư nữ… tất cả là hoài tưởng. Thức tỉnh. Quy hướng. Trông vào giọt nước cành dương. Nhất tâm sám nguyện. Nhất tâm cầu nguyện. Tưởng niệm hồng ân trong mùa vu lan thắng hội. Noi gương tín nữ Thắng-Man. Ngước nhìn Hoa-Nghiêm ảnh hiện. Hướng theo mười Đại Nguyên Vương. Tâm nguyện giữ vững niềm tin, quán tâm, thiền hành, thấm nhuần hạt mưa cam lộ, nguyện mau chứng quả bồ đề. Biết rõ đường về, hoa vàng trải lối, ngát hương giải thoát, đem lại sự an vui như mùa xuân Di Lặc. Đó là hương sen tỏa từ tâm hồn an tịnh và trong sáng.”

 

Năm 1990, nữ sĩ Tịnh Nguyệt Anh Nương đã khuyến khích con gái mình là nghệ sĩ Kiều Loan diễn lại vở kịch ngày xưa đã làm tên tuổi của Tuyết Khanh vang lừng cả Sài Gòn Hà Nội. Bà chỉ vẽ cho Kiều Loan từng bước đi, điệu bộ, từng lời nói giọng ngâm để Kiều Loan thời nay làm sống lại Kiều Loan của Hoàng Cầm ngày xưa. Năm 1946 ở Hà Nội. Năm 1990 tại San Jose, Hoa Kỳ vở kịch thơ Kiều Loan đã làm say mê giới thưởng ngoạn, đã làm cho kịch thơ bừng sống lại. Năm xưa người mẹ là Tuyết Khanh, ngày nay người con là Kiều Loan đều đã xuất thần trong trình diễn. Cả hai vai nhập một làm điên đảo cả hội trường.

Giai thoại về thời xuân sắc, người ta thường nhắc đến những mối tình giữa các nhà thơ. Lúc đó Vũ Hoàng Chương và Tuyết Khanh cũng có khoảng thời gian “đôi mắt cùng liếc, đôi tình cùng ưa” Sau này khi sống tại hải ngoại, nữ sĩ viết bài thơ Đường nhan đề Gửi Gió Cho Hương đề tặng “gửi cố nhân VHC”.

Gưi Gió Đưa Hương

Gửi cố nhân VHC

 

Ngọn gió đưa hương đến suối đào

Nhắn rằng thế sự lắm gian lao

Duyên thơ se kết bây nhiêu đó

Nợ bút ràng thêm tự thuở nào

Lá thắm chưa ngưng dòng ảo mộng

Cờ hoa đã khép cánh chiêm bao

Sương thu mờ xóa đôi bờ thẳm

Bóng nguyệt lênh đênh sóng dạt dào

 

Trong tập Hương Sen, thượng tọa Thích Giác Lượng, bút hiệu Tuệ Đàm Tử viết lời tựa có ý giới thiệu tác giả.

Thật là Hương Sen tỏa ngát bầu trời, không gian vô tận, thời gian vô cùng. Người Phật tử so duyên phát nguyện, giữ giới thọ trì. Tam quy hướng trọn, vững chí định lòng, huệ thông tâm sáng thì lâng lâng hồn bay bổng tuyệt vời. Hương giải thoát quyện dâng lên Tam Bảo.

Hương Sen là tập thơ chứa đầy niềm tin chân chính của người phật tử tại gia, là một nữ thi sĩ, Tịnh Nguyệt Anh Nương đã trải lòng hiến tâm cầu đạo pháp mà lòng hướng về đất tổ quê cha cùng mẹ Việt Nam đang ngụp lặn dưới ách thống trị bạo tàn vời vợi xót đau.

 

Hơn ba năm sống trong một viện dưỡng lão, nhà thơ sáng tác thưa thớt. Lúc mới vào đây bà đã viết bài Ngậm Ngùi để tưởng nhớ đến cố nhân, một người tự nhận là Thi Vương với một tình yêu mong manh khi còn tuổi xuân thời, nay đã nằm yên trong lòng đất lạnh tại quê nhà. Một tình yêu hơn nửa thế kỷ qua nay là nguồn an ủi vô biên trong những đêm vắng lặng. Muốn có một cái gì cho nhau, nhưng sáu chục năm qua rồi, nay đâu còn gì để tặng, để trao. May ra còn nỗi Ngậm Ngùi…

 

Ngậm Ngùi

 

Chiều nay bỗng nhớ cố nhân

Cảm thương thì đã âm phần cách xa

Người xưa lòng nặng thiết tha

Thờ ơ ta chẳng chung hòa chén xuân

Người xưa đã khuất cõi trần

Thôi còn đâu nữa một lần cảm thông

Cuộc đời thì vẫn mênh mông

Còn ta thì vẫn cô phòng bấy lâu

Bóng câu đã xế ngang đầu

Vắng tanh tri kỷ bỗng đâu trạnh lòng

Bừng lên một chút nắng hồng

Trái tim khép kín lạnh lùng bấy lâu

Chẳng còn chi để tặng nhau

Vài dòng tưởng niệm đôi câu tạ lòng

 

Năm 2007 cơ sở Văn Thơ Lạc Việt trong chương trình Tiếng thơ Lạc Việt, đã mượn làn sóng phát thanh để gửi hương cho gió bay khắp bốn phương những lời thơ của nữ sĩ Tịnh Nguyệt Anh Nương để cầu chúc nhà thơ được an bình hạnh phúc bên bóng Kiều Loan là hậu duệ của chính mình. Tính ra đã hơn hai năm rồi.

 

Nhà thơ Tịnh Nguyệt Anh Nương, bút hiệu Diệu Lộc, tức nghệ sĩ Tuyết Khanh tên th?t là Bùi Thị Khanh, sinh năm 1921 tại Hải Phòng, Việt Nam. Mất tại San Jose, California ngày 15 tháng 8 năm 2009. Hưởng thọ 88 tuổi. Linh cửu đựơc quàn tại

Chapel of Flowers, 900 South 2nd Street, San Jose , Ca 95112

Chương trình tang lễ và thăm viếng ???c ?n ??nh nh? sau:

                                                Thu Tư ngày 19 tháng 8 năm 2009:

                                                9:30 am 10:00am Lễ Nhâp quan và phát tang 

                                                10:00am đến 3:30 pm Giờ thăm viếng

                                                3:30pm đến 4:15 pm Cầu Siêu  

                                                4:15 pm đến 8:00pm Giờ thăm viếng

 

                                                Thứ Năm ngày 20 tháng 8 năm 2009:

                                                8:30am đến 10:00am: Thăm viếng, lễ tưởng niệm,

                                                10:00am: Lễ di quan đến nơi hỏa thiêu

                              Irvington Memorial Creamatory  41001 Chapel Way, Fremont 94538

 

Nhà Thơ Tịnh Nguyệt Anh Nương đã từng hoạt động với Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và tham gia trong 2 Tuyển Tập Lạc Việt 2006 và 2007.  Tập Hương Sen, xuất bản năm Tân Mùi 1991 với bút hiệu Tịnh Nguyệt Anh Nương. Ngoài ra bà còn viết nhiều cho các tạp chí Phật Giáo với bút hiệu Diệu Lộc.

 

Hôm nay Văn Thơ Lạc Việt nhận được tin buồn là nhà thơ Tịnh Nguyệt Anh Nương đã từ biệt trần thế vào lúc 3 giờ chiều ngày 15 tháng 8 năm 2009 nhằm ngày 25 tháng sáu năm Kỷ Sửu. Một cánh chim Lạc lìa đàn lên cõi Niết Bàn để lại muôn vàn thương tiếc cho gia đình và cho tất cả anh chị em thuộc cơ sở Văn Thơ Lạc Việt. Xin nguyện cầu hương linh nhà thơ tác giả tập Hương Sen với pháp danh Diệu Lộc ngao du nơi tiên cảnh bên ánh hào quang sáng ngời của Đức Phật.

 

Văn Thơ Lạc Việt




Huyền Thoại Học sinh Việt Nam Tại Đức.

"Huyền thoại học sinh Việt Nam" tại Đức…

Tr ong các bài viết về giáo dục Đức, VietNamNet đã giới thiệu hiện tượng"Huyền thoại học sinh Việt Nam" giữa lòng châu Âu dẫn nguồn tin trên báo Đức DIE ZEIT  cho hay, không một nhóm nhập cư nào ở Đức giàu thành tích học tập như người Việt Nam.

Dưới đây là bài viết  của tác giả Martin Spiewak khi nghiên cứu “điều kỳ lạ Việt Nam” tr ong trường phổ thông Đức.

Mô tả ảnh.

 

Hơn 50% học sinh người Việt vào được trung học loại ưu

Mới đây, Detlef Schmidt-Ihnen nhận được những kết quả ban đầu của trường mình tr ong cuộc thi Ôlympích toán học.

Thầy hiệu trưởng hài lòng vì sáu học sinh trường ông lọt vào vòng tr ong cuộc thi của bang. Ở trường Barnim-Gymnasium thuộc Đông Berlin thì điều này chẳng có gì đặc biệt, vì nhà trường từ lâu vẫn đặt trọng tâm giảng dạy vào các môn khoa học tự nhiên.

Tuy nhiên, một vấn đề khá mới mẻ là làm sao phát âm chuẩn họ tên các học sinh xuất sắc. Cô học sinh đoạt giải ở khối lớp 7 có tên là Trần Phương Duyên hay Duyên Trần Phương? Còn tên cậu học sinh lớp 10 Đức Đào Minh phải đọc thế nào đây?

Thầy hiệu trưởng Schmidt-Ihnen thường xuyên đứng trước thử thách này: 17% học sinh trường trung học tại quận Lichtenberg là con em các gia đình người Việt, ở các lớp dưới con số này còn vượt 30%. "Nhiều em tr ong số đó giỏi chính các môn tự nhiên và môn toán“, thầy hiệu trưởng kể. Cậu học trò giỏi toán nhất trường cũng là người gốc Việt.

Không một nhóm nhập cư nào ở Đức giàu thành tích học tập như người Việt Nam: Hơn 50% học sinh người Việt vào được trung học loại ưu.

Như vậy, số trẻ em Việt Nam phấn đấu lấy bằng tốt nghiệp trung học hệ 12 năm nhiều hơn trẻ em Đức. So với các em cùng trang lứa đến từ các gia đình Thổ Nhĩ Kỳ hay Italia, thì số học sinh trung học người Việt cao gấp 5 lần.

Thành tích học tập của các em học sinh người Việt hoàn toàn trái ngược với hình dung của chúng ta về trẻ em nhập cư“, nữ viên chức về công tác ngoại kiều bang Brandenburg, bà Karin Weiss nói.

Viết một câu chuyện thành công

20 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, con em của những người công nhân xuất khẩu lao động sang Cộng hòa Dân chủ Đức trước kia đang viết một câu chuyện thành công mà cho tới nay còn ít được biết tới.

Đến Đức vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước, sau ngày nước Đức thống nhất, những người  VN nhập cư đến từ đất nước xã hội chủ nghĩa thường xuyên bị rơi vào cảnh thất nghiệp và đói nghèo, họ bị cô lập và trở thành nạn nhân của tệ bài ngoại.

Thành tích học tập của trẻ em Việt Nam đồng thời đặt dấu hỏi một loạt những điều mà người ta cho là sự thật tr ong các cuộc tranh luận về hội nhập.

Nếu ai đó cho rằng sự nghèo nàn về giáo dục thường xuyên có các nguyên nhân xã hội, thì sẽ thấy bị phản bác bởi ví dụ Việt Nam.

Ngay luận điểm cho rằng chính các bậc cha mẹ nhập cư phải hòa nhập tốt thì con cái họ mới có thể theo học tử tế cũng không đúng với những người nhập cư Đông Nam Á này.

 

Chắc chắn rồi – khác với những người Thổ Nhĩ Kỳ và người Italia – các bậc phụ huynh Việt Nam thế hệ đầu tiên thường có trình độ học vấn cao hơn. Nhưng ngay cả họ cũng hầu như không nói được tiếng Đức mà sống tr ong một cộng đồng chỉ có họ với nhau và thiết lập nên một thứ xã hội tồn tại s ong s ong .

 Việc con cái họ trở thành những học sinh kiểu mẫu tr ong số các học sinh nhập cư là một bằng chứng cho thấy sức mạnh của một nền văn hóa mà sự cần cù của nó tr ong chính những điều kiện khó khăn lại dẫn đến sự vươn dậy.

Điều này thể hiện từ nhiều năm nay tại Hoa Kỳ, nơi một tỉ lệ lớn sinh viên đến từ các nước châu Á – chính xác hơn: đến từ các nước chịu ảnh hưởng của đạo Khổng Tử – theo học tại các trường đại học hàng đầu của Mỹ. Giờ đây điều kỳ lạ tr ong giáo dục này lặp lại tại Đức.

Em Nguyễn Vân Dung đã cùng gia đình sống nhiều năm tr ong một trại tị nạn. Cô bé không giữ những kỷ niệm xấu về thời gian này, mà xét cho cùng thì hồi đó em luôn có bạn chơi.

Ngược lại, cha mẹ em ghét cảnh sống tập trung như thế: bếp chung, rồi xích mích cãi cọ giữa cộng đồng dân nước nọ với nước kia, s ong trước hết vẫn là cảnh sống chật chội. Duy một thứ không bao giờ thiếu, đó là một chỗ để Dung có thể ngồi học.

Và còn một điều nữa mà cha mẹ em đã làm đúng. Như hầu hết các cha mẹ người Việt, ông bà sớm đăng ký cho con gái đi nhà trẻ.

Vì vậy mà em học tiếng Đức hoàn hảo. Hiện Dung đang theo học một trường trung học ở Potsdam và là một tr ong những học sinh giỏi nhất lớp với điểm bình quân là 1,5 (ở Đức điểm cao nhất là điểm 1).

Mùa hè năm ngoái, Quỹ hỗ trợ học sinh nhập cư năng khiếu Start-Stiftung đã đưa cô học trò 14 tuổi này vào danh sách được cấp học bổng của quỹ.

Khoảng 30% số học sinh được chọn cấp học bổng tại Đông Đức là người Việt Nam. Dung không phải là tài năng ngoại lệ tr ong gia đình em. Cả em trai và em gái của Dung đều đang học trung học và có điểm trung bình trên 1 phảy.

Vậy mà mấy chị em đâu có ai có thể giúp chúng làm bài tập ở nhà. Tr ong nhà chúng chẳng có nhiều sách, cũng không thấy những đồ chơi mang tính giáo dục. Đối diện bàn thờ nhỏ có cắm hương – nơi gia đình thờ tổ tiên – là một màn hình phẳng to đùng ngự tr ong phòng khách.

Căn hộ nhỏ của gia đình các em nằm ở một khu dân cư ven Potsdam. Tr ong hành lang chất chồng những thùng nước quả dành cho xe bán đồ ăn nhanh lưu động của cha mẹ chúng.

Phần lớn người Việt Nam tự xoay xở kinh doanh để sống. Do không thạo tiếng Đức, họ không tìm được việc làm. Họ làm việc cho đến 60 tiếng một tuần tr ong những tr ong những hiệu gốm sứ, những cửa hàng hoa, những tiệm làm móng tay hay tr ong các khu chợ.

Thường thì bọn trẻ phải tham gia vào công việc nhà. Dung phải chăm lo cho em trai và em gái mình. Vì quanh năm bọn trẻ ít khi trông thấy cha mẹ. Chỉ đến chiều mẹ mới đảo về nhà chốc lát để nấu ăn. Còn suốt nhiều giờ chỉ có bọn trẻ ở nhà với nhau. Vậy mà chiều chiều chúng vẫn cắm cúi trên trang sách và mang về nhà toàn điểm ưu.

Sao thế được nhỉ, thưa ông Nguyễn? Vì sao trẻ em Việt Nam lại học giỏi như thế? Lúc này, người cha nãy giờ có ánh mắt khá là nghiêm khắc mới lần đầu tiên nở nụ cười. Ông thích đề tài này hơn là kể về quá khứ. Câu trả lời của ông giản dị đến kinh ngạc: "Vì mọi ông bố bà mẹ Việt Nam đều muốn con cái mình học giỏi“.

Hẳn nếu dịch nghĩa ra thì như thế này: Lũ trẻ sớm nhận ra rằng chúng mắc nợ cha mẹ mình những điểm giỏi và vì vậy chúng phải học thật nhiều.

"Với các gia đình Việt Nam, học hành là tài sản quý giá nhất“, nữ viên chức về công tác ngoại kiều bang Brandenburg Karin Weiss nói. Cho dù công việc khiến các bậc cha mẹ có rất ít thời gian, họ vẫn luôn hỏi con cái về bài vở của chúng. Và nếu cần thì họ cho con học thêm.

Bà Weiss kể rằng bà biết những gia đình sống tr ong điều kiện kinh tế eo hẹp nhưng vẫn tiết kiệm từng xu để chi cho con học thêm.

Dung và các em không cần phải học thêm. Nhưng chúng vẫn được cha mẹ giúp đỡ. Ai săm soi căn hộ trang bị sơ sài của gia đình ông Nguyễn sẽ phát hiện tr ong phòng trẻ một giàn máy vi tính. Khi Dung muốn học pianô, cha mẹ em bèn sắm một chiếc đàn Pianô điện tử.

Sự ham học của người Đông Á là thứ tài sản quý giá nhất mà họ mang theo từ quê hương. Chỉ có học hành mới thoát được khỏi đồng ruộng, đó là châm ngôn của họ.

Cũng giống như ở Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc, nhiều trẻ em Việt Nam theo học gia sư vào các buổi chiều sau giờ lên lớp chính thức hoặc cuối tuần. Khối lượng bài tập giao về nhà lớn hơn ở Đức rất nhiều. Cho tới lúc kết thúc chương trình học phổ thông thì học sinh Việt Nam học hơn học sinh cùng trang lứa người Đức hàng ngàn giờ.

Đây cũng là một tr ong những điều lý giải kết quả một nghiên cứu mà nhà tâm lý học Andreas Helmke công bố cách đây vài năm.

"Thậm chí ở cả những câu hỏi đòi hỏi kiến thức toán học sâu hơn, những đứa trẻ Việt Nam cũng hơn hẳn“, vị giáo sư của trường đại học tổng hợp Koblenz-Landau nói. Kết quả này giống với kết quả các cuộc nghiên cứu khác, cho thấy từ nhiều năm nay các nước châu Á luôn chiếm các vị trí dẫn đầu.

Chỉ có tiến

Đó cũng là phương châm của những người nhập cư châu Á tại Đức. Nói chuyện với các bậc phụ huynh người Việt, ta sẽ nghe thấy những câu gợi nhớ tới những châm ngôn về sự tiến thân của Cộng hòa liên bang Đức những năm 50 của thế kỷ trước như "Không cố gắng, chẳng nên người““ hay "Đời con phải hơn đời cha“.

Có lẽ vì vậy mà người ta gọi người Việt Nam là những người Phổ của châu Á.

Trái với những bậc phụ huynh nhập cư đến từ các nước khác – những người thường không biết đâu mà lần với cấu trúc nhà trường phức tạp ở Đức -, những người Việt Nam lập tức hiểu ngay rằng con em họ chỉ có vào các trường Gymnasium – hay không tốt bằng là trường Gesamtschule – mới lấy được bằng tốt nghiệp 12 năm phổ thông và theo học đại học, phần còn lại họ không quan tâm..

Chỉ một con 3 tr ong bản điểm đã là hồi chuông báo động đối với nhiều phụ huynh.

Đối với không hiếm bậc cha mẹ, nếu con em họ khi học x ong tiểu học chỉ vào được một trường Realschule (nơi học sinh sẽ chỉ lấy bằng sau lớp 10, không vào được đại học) đã là một sự mất mặt tr ong cộng đồng.

Nguyễn Minh L ong , một chàng trai 20 tuổi, người đã suy nghĩ nhiều về những người đồng hương ở Đức, kể về một cuộc ganh đua thật sự giữa những bậc cha mẹ người Việt. Nếu hai người cha hoặc hai người mẹ gặp nhau, thì một tr ong những câu đầu tiên họ hỏi nhau là "Lũ trẻ học hành thế nào?“.

Nếu kết quả học tập không được như m ong đợi, bọn trẻ sẽ bị trừng phạt, như bị mắng mỏ, nhốt vào buồng, có khi ăn tạt tai.

Cha mẹ tôi liên tục trách mắng tôi rằng những đứa học sinh khác được điểm tốt hơn tôi“, Minh L ong nhớ lại.

Họ không cần biết điểm của anh không đủ tốt để được giới thiệu vào một trường Gymnasium.

Và quả nhiên: mùa hè vừa qua nhờ nỗ lực to lớn, Minh L ong đã lấy được bằng tốt nghiệp 12 năm phổ thông với kết quả khá.

Trẻ con không đứa nào bẩm sinh giỏi hay dốt, mà chỉ có chăm hay lười mà thôi, nhiều cha mẹ người Việt tin như vậy.

Họ hầu như không bao giờ từ bỏ hy vọng về một đứa trẻ, đồng thời hiếm khi thứ lỗi cho những đứa học kém.

Ít lâu nay tại trường Barnim-Gymnasium ở Berlin niềm vui về lòng tự trọng cao của các bậc phụ huynh người Việt đã xen lẫn với sự lo lắng.

Lần đầu tiên các thầy cô giáo trở nên cảnh giác khi những học trò Việt Nam làm giả giấy bác sĩ để trốn một bài kiểm tra vì sợ bị điểm xấu.

Một lần khác thầy hiệu trưởng nói với một nam học sinh vi phạm nội quy rằng ông sẽ phải thông báo với cha mẹ cậu về việc này. Thế là cậu học sinh quỳ thụp xuống van xin thầy hiệu trưởng đừng làm thế. Tr ong suốt hơn 30 năm làm nghề giáo, thầy Schmidt-Ihnen chưa bao giờ chứng kiến một cảnh như vậy.

Nhà trường bèn phản ứng bằng cách cho mời một nhà công tác xã hội đến thăm trường vào mỗi thứ sáu, và lần đầu tiên tổ chức một tối gặp gỡ các phụ huynh, có người phiên dịch.

Cuộc gặp gỡ kéo dài nhiều giờ và các bậc cha mẹ có rất hiều câu hỏi. Mối lo lớn nhất của họ là nửa năm đầu tiên học thử ở trường. Vì gần đây học sinh Việt Nam đã không còn vượt lên dẫn đầu tr ong tất cả các điểm. Thậm chí rất có thể lần đầu tiên một số học sinh Việt Nam sẽ không vượt qua được thời gian thử thách ở trường Barnim-Gymnasium. "Các học sinh Việt Nam đần trở nên ngang bằng với học sinh Đức“, một cô giáo chủ nhiệm lý giải xu hướng này.

Thế nhưng điều bình thường đối với các gia đình Đức lại có thể dẫn tới một cuộc khủng hoảng thật sự tr ong cộng đồng người Việt.

Vì sự hòa nhập của trẻ em với tốc độ nhanh đã khiến chúng trở nên xa lạ với cha mẹ, đặc biệt khi chúng vào tuổi dậy thì. „

Các em sống tr ong hai nền văn hóa“, đó là quan sát của bà Tamara Hentschel thuộc Hội Trống Cơm – tổ chức giúp đỡ người Việt sống tại Berlin từ ngày thống nhất nước Đức. Giữa các thế hệ tr ong gia đình tồn tại một sự "không nói không rằng".

Bà Hentschel nhận xét theo đúng nghĩa đen của cụm từ này. Vì nhiều trẻ em Việt Nam đi nhà trẻ từ lúc còn rất nhỏ, nên sau đó chúng nói tiếng Đức như tiếng mẹ đẻ, tr ong khi vốn tiếng Việt của chúng lại chỉ đủ cho giao tiếp hàng ngày. Khi đề cập đến những vấn đề tế nhị hay phức tạp – như bị điểm xấu, bắt đầu có bạn trai – thì câu chuyện giữa cha mẹ và con cái trở nên ngắc ngứ hoặc ầm ĩ.

Thế là đôi bên cùng to tiếng bằng hai ngôn ngữ khác nhau. Nếu tình hình trở nên quá tồi tệ, các em sẽ quay lưng lại với nền văn hóa của cha ông và từ chối không ăn các món ăn Việt Nam, hay thậm chí bỏ nhà ra đi.

Tuy nhiên đấy (mới) chỉ là những trường hợp riêng lẻ. Phần lớn các gia đình Việt Nam gắn bó mật thiết với nhau. Và lòng kính trọng cha mẹ nơi bọn trẻ cũng lớn ngang chí tiến thủ của chúng. „Chúng tôi muốn học hành và vươn lên“, ngay L ong – vốn có cái nhìn phê phán – cũng nói như vậy. „Như thế, biết đâu sẽ có lúc chúng tôi thuộc vào tầng lớp ưu tú của đất nước này“.

  • Martin Spiewak – Báo DIE ZEIT (Theo Giáo dục và Thời đại)



Cao Ánh Nguyệt : Dư Hương Ngày Tháng Cũ.

DƯ HƯƠNG NGÀY THÁNG CŨ

CAO ÁNH NGUYỆT

Có lẽ trong tất cả những nỗi buồn da diết nhất, không có nỗi buồn nào lại ẩn chứa một chút giận hờn như nỗi buồn của người góa phụ. Bởi lẽ sự ra đi của một nửa kia không chỉ để lại nỗi cô đơn tưởng chừng như vô tận mà còn là một lần lỗi hẹn vĩnh viễn không bao giờ gặp lại. Một lần, đọc dòng tâm sự đầy xúc cảm của Thu Huyền, tôi dường như có thể nhìn thấy được đôi mắt in sâu nỗi buồn đau chấp chới dù chưa một lần gặp chị. Nỗi buồn này không đơn thuần chỉ là nỗi nhớ nhung khắc khoải hay sự trống vắng đến chơi vơi mà dường như nó đã được nhân lên gấp vạn lần, bởi Thu Huyền đã vĩnh viễn mất đi một điểm tựa tinh thần vững chắc nhất – cố nhạc sĩ Trường Kỳ. Thật đột ngột và ngỡ ngàng, tin anh ra đi đến với Thu Huyền trong lúc chị vẫn tin chắc rằng anh phải trở về và đang trở về. Bởi vì mới ngày hôm qua khi tiễn chồng ra phi trường anh còn dặn dò: “nhớ nhé ngày mai đón anh đúng chỗ này nhé…” và anh còn vui đùa: “ Chưa có chuyến đi xa nào lại ngắn ngày đến như thế…” Rồi chẳng bao giờ còn có lần trở về ấy nữa, ngày mai ấy mãi mãi là một ngày không bao giờ đến trong cuộc đời Thu Huyền. Điều đó khiến cho sự đau khổ tột cùng kia còn ẩn hiện một chút giận hờn qua tâm sự: "Tôi không còn biết gì nữa, trong đầu chỉ nghĩ đến cái hẹn với anh chiều nay đi phi trường đón anh về, nhưng anh đã lỗi hẹn với tôi."…” không tin, không tin, tôi nhất định không tin, người ta có nhầm lẫn không?”. Mặc cho Thu Huyền gào khóc, kêu la, chối bỏ nhưng sự thật vẫn đến như tự nó phải đến trong cuộc đời chị. Lạ lùng thay  con người có lúc ước mơ một sự nhầm lẫn. Nhầm lẫn giữa mộng và thực hay nhầm lẫn giữa đúng và sai, mọi thứ lẫn lộn để quật ngã và dày vò cái kiếp con người.  Thu Huyền đã bị đốn ngã, phải nói chị đã gục xuống với tận cùng của sự đau khổ và mất mát.

 Huyền kể lể, ngày tiễn biệt anh có thật nhiều bạn bè, không ngờ mọi người yêu mến Trường Kỳ nhiều quá, mọi người xung quanh và con cái lo cho anh thật chu đáo. Đám tang anh hoàn thành thật tốt đẹp, từ khắp mọi nơi trên báo chí, trên các phương tiện truyền thông, qua email, qua điện thoại chị nhận được rất nhiều sự chia xẻ, an ủi. Suốt thời gian tang lễ chị sống với sự vô cảm, đi đứng hành động như kẻ vô hồn, không biết mình đã và đang làm gì. Sống trong sự chia xẻ và an ủũi của bè bạn và thật sự nếu những giờ phút ấy không có bạn bè và người thân chị nói mình không biết sẽ ra sao. Rồi những ngày lao xao ấy cũng phải qua đi, đối diện với những tháng ngày  tiếp nối  theo sau nỗi đau chập chùng trĩu nặng là sự quạnh hiu não nề. Huyền nói nhìn ở đâu cũng thấy anh, từ những nơi chốn anh vẫn thường tới lui,  từ góc bàn làm việc, từ sách vở, và cả những bài viết còn dỡ dang chưa hoàn tất. Mọi thứ thật là như mới chỉ hôm qua mà hôm nay bỗng dưng biến mất hoàn toàn. Thu xếp đồ vật, sách vở anh để lại, đọc từng giòng chữ anh viết, Huyền lại nghẹn ngào, Huyền lại tức tối, giận hờn, lại vẫn chưa tin là anh sẽ không về. Mãi đến hôm nay mà Thu Huyền vẫn nói rằng chị còn cảm giác anh sẽ về sau một chuyến đi xa, chị vẫn cứ muốn chạy ra phi trường chờ đợi anh sau khung cửa kính của lần tiễn đưa hôm nào. Huyền vẫn chưa tin lần anh quay lưng bước vào khung cửa ấy là lần anh đã quay lưng lại với cuộc sống nầy. Làm sao và làm sao vẫn là câu hỏi của muôn đời không giải đáp!!

Thu Huyền đã nói: Ngày tháng kế tiếp sau đó, khi mà mọi người đã trở về với công việc thường ngày của họ, mọi thứ đều yên ắng, chỉ còn một mình tôi ngồi đối diện với sự trống vắng cô đơn, tôi hụt hẫng, chới với, tôi thực sự bị khủng hoảng với sự lẻ loi này, tôi mất ngủ và thường mơ thấy anh. Nhiều đêm tỉnh giấc, tôi bàng hoàng hoảng hốt tự hỏi: chuyện gì đang xảy ra với mình vậy? Có phải đang nằm mơ không? Rồi sáng mai thức dậy mình làm gì đây? Không có anh, từ nay cuộc sống tôi – sẽ thay đổi hoàn toàn, tôi cảm thấy mình bị lạc mất phương hướng.

Tháng 3 ở Montreal, tuyết đã ngừng rơi nhưng vẫn còn những cơn mưa kéo dài và lạnh, cái lạnh còn sót lại của mùa đông vừa đi qua, cây cối còn tiêu điều xơ xác, nhìn đâu tôi cũng thấy buồn, thấy lạnh, tôi lạnh lắm, tôi đuối sức cả tinh thần lẫn thể xác, hình dáng tôi lúc này chắc tiều tụy lắm, vì người nào gặp mặt cũng đều nói:  Huyền không được như vậy, phải kiên cường lên, vững vàng lên chứ, Huyền mà cứ như thế này, anh Kỳ cũng buồn lắm đó. Biết vậy, nhưng chịu thua, tôi hoàn toàn sụp đổ, tôi đã cố gắng hết sức làm ra vẻ bình thường khi về nhà gặp mặt con cháu hoặc người thân bởi không muốn các con lo lắng nhìn thấy gương mặt sầu ủ rũ suốt ngày của mẹ, nên bù lại, để giải tỏa sự kiềm chế đó, tôi thường lái xe tìm chỗ vắng vẻ, vì trời còn lạnh, tôi đóng kín cửa, tự do gào khóc thỏa thích, không sợ ai nghe, không sợ ai thấy. Đôi lúc khóc xong, mệt mỏi quá, tôi thiếp luôn trong xe không biết bao lâu, thức dậy cứ suy nghĩ, lại thấy giận anh vôcùng”.

 

Làm sao để người góa phụ Thu Huyền có thể lau khô giòng lệ, vơi đi nỗi nhớ và góc đời thiếu vắng Trường Kỳ khi ngày còn rạng nắng, đêm vẫn mịt mờ? Dẫu biết rằng thời gian có thể xoa dịu mọi vết thương và làm vơi đi nỗi nhớ, nhưng có lẽ đối với Thu Huyền lúc nầy, thời gian càng làm cho sự cô đơn kéo dài thêm nỗi giận hờn. Giận anh lừng lững ra đi biền biệt, giận anh chưa nói năng gì, giận anh làm em đau đớn không nguôi. Chị vẫn ngày đêm muốn kể về anh, nhắc nhở đến anh. Huyền nói anh Kỳ chưa biết giận là gì, ai nói gì cũng tin, ai bảo gì cũng nghe, tánh tình hiền lành, chịu đựng nên lúc nào cũng thua thiệt. Anh sống rất vô tư, không phiền giận ai đến vợ giận cũng không biết. Say sưa viết lách, đam mê nghệ thuật, nhiều lúc chị có cảm tưởng mình bị bỏ quên và Huyền giận dỗi vì mỗi lần nhắc anh điều gì anh lại bảo.. để tuần sau…rồi lại…tuần sau. Trách anh như thế nhưng Thu Huyền tâm sự rất nể phục và yêu thương anh Trường Kỳ rất nhiều. Huyền nói: Anh đem bình an đến cho tôi trong cuộc sống, vì chúng tôi chẳng bao giờ có kẻ thù. Trường Kỳ học trường Tây từ nhỏ nhưng lại viết tiếng Việt rất lưu loát, vững vàng và pha chút dí dỏm. Anh rất thích được gọi là ông nhà báo, anh mê báo chí và viết lách hơn tất cả mọi thứ đam mê khác.

Cũng nhân ngày giỗ đầu, đúng 1 năm ngày mất của chồng, Thu Huyền vừa viết cho tôi một điều trong cuộc đời của Trường Kỳ mà chị nói rất ít khi thổ lộ cùng ai, đó là hình ảnh người mẹ của anh mà mãi cho đến tận ngày anh ra đi, Trường Kỳ vẫn đau đáu trong lòng một nỗi khắc khoải, chờ mong. Chị viết: “Thiếu tình mẫu tử từ lúc mới mấy tháng tuổi, anh lớn lên trong tình thương của ông bà nội, của bố, của các cô chú, tôi muốn bù đắp cho anh tình thương của người mẹ nên thường hay chiều chuộng anh để anh xuất ngoại, gặp gỡ bạn bè thoải mái. Tôi biết anh luôn làm như dửng dưng, không để ý gì đến chuyện thiếu đi người mẹ trong đời, nhưng cho dù anh bao nhiêu tuổi, trong anh vẫn luôn mong muốn có một người mẹ, để được gọi tiếng mẹ như những người chung quanh. Tôi không hiểu anh nghĩ gì, khi nghe mọi người ca ngợi về lòng mẹ bao la, vì lòng mẹ của riêng anh không là biển thái bình, không là bóng mát, là tàn che cho anh khi anh mỏi mệt, không có bàn tay kéo chăn đắp ngực khi anh đau ốm, không có vị ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp một và ngọt lịm như đường mía lau mà thiền sư Nhất Hạnh đã ví, mà chỉ có duy nhất một chút dư âm đủ để biết mẹ anh vẫn còn hiện diện ở một nơi nào đó trên thế gian này.

Và cứ thế, theo năm tháng mơ ước vẫn hoài ước mơ, cho đến ngày anh vĩnh viễn ra đi….Không biết bây giờ ở bên kia thế giới, anh có còn tiếp tục mơ ước nữa hay không? Hãy bình yên anh nhé”.

 Riêng tôi khi bài viết này được đăng lên báo, đưa lên Website ước mong rằng một ai đó đọc được hãy mang nỗi lòng này đến người mẹ vẫn còn sống của anh Trường Kỳ. Hay có một may mắn nào đó chính bà đọc được những điều mơ ước của anh qua lời tâm sự của Thu Huyền để biết rằng có một nỗi niềm và một ước mơ vẫn luôn dành cho bà, dù bây giờ Trường Kỳ đã không còn nữa nhưng chắc chắn người mẹ vẫn mãi là hình ảnh mà anh hằng mơ ước trong suốt cả cuộc đời.

Đúng ra tôi phải viết về Trường Kỳ, một người nghệ sĩ tài hoa và hiền hòa nhất tôi đã từng được tiếp xúc. Thế nhưng, bạn bè anh, người yêu mến anh đã viết về anh quá nhiều và quá đầy đủ. Cũng như anh trước đây đã từng viết về rất nhiều khuôn mặt nghệ sĩ, nhưng chắc chắn anh chưa hề viết về người vợ yêu mến của mình. Thay anh làm điều đó mong rằng anh sẽ mĩm cười. Chắc chắn  sẽ không có ai viết về Thu Huyền hay hơn Trường Kỳ nhưng vì anh đã từ bỏ cuộc chơi, lỗi hẹn ngày về nên bạn bè phải viết thay anh. Cũng không có ai viết về Trường Kỳ một cách đầy đủ, chính xác và tuyệt vời bằng Thu Huyền, bởi Huyền sẽ viết về anh bằng con tim người góa phụ thường lái xe tìm nơi vắng vẻ để gào khóc vì thương nhớ chồng. Và cũng không một lời thơ, câu văn nào có thể bộc lộ được cái đáng quý của Trường Kỳ bằng chính nỗi niềm trân qúy mà Huyền vẫn nâng niu ấp ủ trong những tháng ngày không còn anh bên cạnh.

Thu Huyền đã kể cho tôi nghe câu chuyện một lần nửa đêm tỉnh dậy, buồn qúa Huyền lấy sách ra đọc, vừa bật đèn lên thì có con bướm bay quanh trên đầu và đậu ngay trên trang sách chị vừa lật ra. Huyền đã hỏi: Có phải anh không anh? Anh về bên em, Anh hiện diện trong nhà này phải không? Huyền đã tin rằng có linh hồn, tin rằng anh vẫn quanh quẫn bên chị, Huyền nói người ta vẫn mượn bướm về báo mộng đó mà. Mùa đông Montreal trời lạnh lắm, nhà lại đóng kín cửa, làm sao bướm bay vào được. Cho nên chuyện con bướm đối với Huyền thật lạ kỳ. Thu Huyền nói, Huyền rất ngại viết, nhất là viết về chồng, gần 40 năm chung sống từ 1974 đến 2009 chưa bao giờ Huyền viết cái gì về Trường Kỳ nên chị nghĩ là chị không có khả năng và cũng không biết phải bắt đầu từ đâu. Thế nhưng chị vẫn viết, vừa khóc vừa viết, nước mắt ràn rụa và không hiểu sao Huyền đã viết một mạch. Chắc anh Kỳ đã viết thay Huyền. Nghe Huyền kể lại thấy thương và buồn.

Bây giờ Thu Huyền đang sống một mình, cô đơn với hoài niệm của những ngày tháng cũ. Huyền rất sợ phải sống trong căn nhà đã từng chung sống với Trường Kỳ, sợ thấy lại hình ảnh cũ nhưng làm sao Thu Huyền có thể xóa bỏ được những tháng ngày hạnh phúc như vẫn còn đong đầy. Chị vẫn bàng hoàng và từng tỉ mĩ ngồi đếm thời gian và cứ mãi u sầu trong tiếc nhớ: Tháng nầy, ngày nầy năm ngoái anh ấy vẫn còn ngồi ở đây, cạnh bên Huyền….Mãi mãi Thu Huyền vẫn còn nhìn thấy bóng dáng anh vừa khuất sau khung cửa  để nắm bắt tuyệt vọng sự quay về, mong rằng với thời gian tiếng khóc thương sẽ thay bằng nỗi đau đằm thắm để không còn một Thu Huyền quay quắt, đau đớn. Hãy tin rằng giữa sự cô đơn đến tột cùng kia, Thu Huyền luôn còn bên mình một tình yêu tuyệt vời hiện hữu.

Huyền phải cố để quen dần với nỗi trống vắng … Bởi Huyền có biết không?  Cuộc sống này vốn rất quạnh hiu dù không phải chỉ có một mình…

 

CAO ÁNH NGUYỆT

(Nhân một năm ngày giỗ cố Nhà báo Trường Kỳ,

22/03/2009- 22/03/2010 viết tặng Thu Huyền)

Xin quí vị click vào : Trường Kỳ : Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng của Nhà Văn Nam Lộc.

 

 




Duyên Lãng Hà Tiến Nhất : GIÁO HỘI CGVN: MỘT BƯỚC ĐỒNG HÀNH CAY ĐẮNG

GIÁO HỘI CGVN:  MỘT BƯỚC ĐỒNG HÀNH CAY ĐẮNG

 

 

                                                                                  Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Sau khi Nguyễn Thế Thảo, chủ tich Ủy Ban Nhân Dân Hànội hằn học nói, bằng mọi cách phải bứng TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi thủ đô, thì toàn thể bộ sậu bọn VGCS trên dưới im re. Tưởng đâu Thảo chỉ hù chơi, nói cho hả giận chứ chẳng làm gì được. Không ngờ đùng một cái, quyết định từ Vatican bổ nhiệm GM Nguyễn Văn Nhơn từ ĐàLạt ra làm TGM phó Hànội với quyền kế vị. Nghĩa là Tòa Thánh đã có chủ trương thay thế đức TGM Ngô Quang Kiệt. Mặc dù ngài vẫn còn tại vị, nhưng việc ra đi của ngài chỉ là vấn đề thời gian. GM Nguyễn Văn Nhơn vớt vát một chút thể diện với các ma soeur rằng, việc bổ nhiệm đối với ông thật là bất ngờ. Bất ngời sao được, tin tức và dư luận đồn ầm ĩ ông sẽ ra Hànội thay thế đức cha Kiệt từ cả tuần lễ trước mà còn bất ngờ cái nỗi gì? Phận làm con chiên như kẻ hèn này không dám nói ông giám mục nói láo, sợ phạm tội bất kính. Nhưng quả thật GM Nguyễn Văn Nhơn nói không thật. Ông làm bộ ngây thơ cụ với mấy ma soeur khờ. Có lẽ họ tin, nhưng người khác thì chưa chắc.  

     Cần phải nói cho rõ, đây là cuộc đọ sức giữa bè lũ cầm quyền tại thành phố Hànội với Tòa Thánh La Mã, chứ không phải với đức TGM Ngô Quang Kiệt, hay Giáo Hội Công Giáo VN, vì quyền bổ nhiệm một vị giám mục là quyền của Tòa Thánh. Màn so găng kể như đã ngã ngũ. Có thể có chuyển biến bất ngờ, nhưng dù sao giới viết lách cũng đã có thể làm tổng kết tình hình được rồi, và mục đầu tiên đáng tổng kết là:  

Một Chuyện Lạ Đáng Sợ

 

     Thời trung cổ, việc đặt để vị giám mục trông coi một giáo phận dưới áp lực không phải là chuyện lạ. Nhưng điều vừa xẩy ra tại Hànội vào thời hiện đại, GH dễ dàng chịu khuất phục do sự đòi hỏi của một tên chủ tịch thành phố thôi, chứ chưa phải là cấp trung ương, thì rõ ràng là chuyện chưa từng có. Điều càng làm ngạc nhiên hơn, theo như chính kẻ đòi đuổi đức TGM Ngô Quang Kiệt là tên chủ tịch thành phố bật mí, là chuyện này xử lý theo đường lối ngoại giao. Đường lối ngoại giao nào thì đây là vấn đề đáng nói.  

     Hiện nay giữa Tòa Thánh và VGCS chưa có bang giao chính thức, nên muốn thương lượng về một vấn đề gì đó giữa đôi bên, thường phải qua nhiều thủ tục nhiêu khê và phiền toái. Còn như qua trung gian một tòa đại sứ của một nước thứ ba tại Roma, thì lại càng không được, vì ai lại đi nhờ vả người ngoài giúp làm cái chuyện hết sức xấc xược và hỗn láo. Quí bạn đọc có thể tưởng tượng được việc đi nhờ một nhà ngoại giao quốc tế nói giúp vói Tòa Thánh để đuổi cổ một vị TGM ra khỏi giáo phận ngài đang cai quản là một hành vi ô nhục như thế nào. Vì thế, chỉ còn cách nhờ ngay người VN tại Roma là tiện nhất, linh mục VN làm việc tại Tòa Thánh không ít. Tên Thảo đã nghĩ ra. Đây là đường lối ngoại giao thiết thực và thích hợp nhất đối với hắn. Chuyện kín này lại do chính hắn úp úp mở mở bật mí ra mới là độc. Đi đời mấy ông cha nhà ta rồi còn gì. Tức thời ông GS Nguyễn Phúc Liên mò ra được những vết chim di (bài Diễm Xưa: làm sao em biết những vết chim di). Trong bài báo “Giáo Dân VN Phản Đối Vatican ” ngày 02-5-2010, GS Liên đăng nguyên văn một lá thư từ trong nước gởi ra. Lá thư có đoạn viết:  

……Về Dức Ông Dung (dưới tôi 6 lớp) thì quả thật từ lâu chúng tôi đã rất thất vọng. Bản thân cũng như gia đình Dung rất được CS o bế và ngược lại Dung cũng rất thân thiết với cán bộ CS. Mỗi lần về Huế (đặc biệt qua hai đám tang thân mẫu và thân phụ), Dung bao giờ cũng gặp mặt, tặng quà (hàng triệu đồng) cho mấy tên Công an tôn giáo (như trung tá Phạm Đức Thuận và trung tá Nguyễn Hồng Lam…). Lần đám tang thân mẫu của Dung, Đức Cha Thể ban đầu không muốn chủ sự lễ an táng (như ý Dung mời), nhưng khi nghe Dung nói là chính quyền và công an tôn giáo tỉnh đã đến phân ưu, Đức Cha liền thay đổi thái độ, nhân làm chủ tế.

Lần Dung về Hà Nội ngày 15-02-2009 cùng với Đức Ông Parolin và Đức Ông Nguyễn Văn Phương, chúng tôi đã nghe rằng Dung có lập trường đẩy Đức Cha Kiệt khỏi Hà Nộị. Lần đó phái đoàn không ở Tòa Giám mục mà ở nhà khách chính phủ, và CS đã cho xe vào Huế chở mấy em của Dung ra Hà Nội cho Dung gặp, ở lại nhà khách chính phủ cùng với Dung.  

Mỗi lần về Huế, Dung chỉ gặp Đức Cha Thể và gặp những cha nào có lập trường thỏa hiệp với CS thôi, không bao giờ gặp cha Giải (thầy dạy), cha Lý và ….. (cùng cha bảo trợ, cùng giáo xứ, cùng chủng viện). Thậm chí hôm đám tang thân phụ (ông Cao Minh Hiếu), Dung cũng không mời cha Giải và …… đồng tế vì sợ liên lụy.  

     GS Liên còn cho biết ông đã cẩn thận check lại nguồn tin rồi mới xin phép đăng. Theo ông Liên, nguồn tin là một linh mục có uy tín. Một linh mục, và là linh mục có uy tín, tiết lộ về một linh mục khác thì khẳng định không phải là chuyện dèm pha nói xấu. Phải nói là chuyện thật. GS Nguyễn Phúc Liên xưa nay có tiếng là người thẳng ruột ngựa. Những người loại này không biết nói láo. Theo cách đánh giá của ngành an ninh thì tin tức này có giá trị A1, nghĩa là xác suất đáng tin cậy cao nhất. Chúng ta thấy, chỉ chi có 3 triệu bạc tiền VNCH cho bọn tướng bất lương mà CIA giết được anh em TT Ngô Đình Diệm và tiêu diệt được cả một chế độ là một cái giá quá hời. Nguyễn Thế Thảo nếu chỉ tốn công sức chút đỉnh như lá thư trên tiết lộ mà xúi được Tòa Thánh bứng đi chiếc ghế của  một vị TGM được lòng dân  thì quả là hắn lời quá lớn. Affair này hời hơn của CIA rất nhiều.  

Những Hậu Quả Của Sự Việc 

     Việc thay đổi nhân sự tại tòa TGM Hànội đối với đại đa số tín hữu VN bị coi như một sư đầu hàng của Tòa Thánh. Chính quyền Mỹ giết TT Diệm để dần dần giao VNCH cho VGCS. Bứng đức TGM Ngô Quang Kiệt đi, không lẽ Tòa Thánh cũng có ý định giao GHVN cho bọn giặc cờ đỏ? Hai sự việc, một ý nghĩa. Thật sự người giáo dân VN không thể ngờ được chuyện xẩy ra đến nông nỗi này. Nhưng không tin cũng không được, vì đức TGM Ngô Quang Kiệt phải ra đi khỏi Hànội là điều rõ như ban ngày. Những hệ lụy của sự việc đang và sẽ dồn tới, đặc biệt hai vấn đề quan trọng người tín hữu không thể không lo lắng. 

1. Tòa Thánh Mất quyền chọn giám mục –  Hệ lụy đầu tiên là Tòa Thánh mất đi quyền chọn giám mục. Một vị giám mục được truyền chức và bổ nhiệm cai quản giáo phận, ngài phải lựa ngay, thường là 3 ứng viên linh mục có thể kế quyền mình, và gởi lên cho Tòa Thánh để phòng khi bất trắc. Khi cần thiết phải có người thay thế vị giám mục, thì Đức Giáo Hoàng sẽ chọn 1 trong 3 vị được đề nghị. Việc lựa chọn là thế, nhưng dưói chế độ VGCS, Đức Giáo Hoàng chỉ còn quyền đề nghị các ứng viên, quyền chọn lựa nay đã chuyển qua tay đảng VGCS. Thường thì Tòa Thánh phải đề nghị các ứng viên cho tới khi CS chọn được người vừa ý chúng mới thôi. Như thế tức là Tòa Thánh đã mất quyền tự do lựa chọn và bổ nhiệm các giám mục của mình. Một tên chủ tịch thành phố thôi mà bàn tay đã che được trời như vậy, thì cả cái guồng máy mà hắn phục vụ, sức mạnh của nó ghê gớm tới đâu! Quyền tự do tôn giáo quan trọng này đã bị mất đứt vào tay bọn VGCS.  

     Từ việc CS có quyền lựa chọn những người lãnh đạo cho GH, đạo CG tại VN trở thành một giáo hội quốc doanh là việc đương nhiên. Nhưng đúng ra chỉ nên nói là quốc doanh phi quốc doanh, bởi vì các giám mục vẫn còn phục quyền Đức Giáo Hoàng. Với tình trạng này, GH cho dù có hiệp thông với Tòa Thánh thì đó chỉ là việc làm chiếu lệ. Các giám mục làm tôi hai chủ thì ông chủ cụ thể và quyền uy ngay bên cạnh hẳn có thế giá hơn Chúa ở đâu không thấy, lại là Đấng vô hình. Khi các giám mục thuần phục CS rồi thì hàng ngũ linh mục cũng cứ thế mà theo, vì đầu đã xuôi không lẽ cái đuôi lại không lọt. Hệ quả tất yếu của việc CS được quyền lựa chọn giám mục là, khi một giám mục được CS che chở có lỗi, Tòa Thánh không thể tự tiện truất quyền. Theo qui luật đó, khi các linh mục coi xứ được bọn cầm quyền địa phương bao che thì dù có thế nào các giám mục cũng đành chịu bó tay. Trường hợp “Phan Khắc Từ” là một điển hình. Tình trạng có thể xẩy ra tức cười thế này là, ông linh mục bố sản xuất ra hàng lô linh mục con, và cứ thế cha truyền con nối mà cai quản họ đạo. Những chuyện vui nho nhỏ khác thì vô kể. Thân thiết với cán bộ, ăn nhậu với công an, tụ tập hát karaoke với đủ hạng người để vui chơi giải trí hầu mua sự dễ dãi cho các công việc của giáo xứ. “Không vào hang hùm sao bắt được cọp con”, đó là phương châm của không ít linh mục trẻ sử dung để mở mang nước Chúa. Kể cũng có lý, ngày xưa Chúa đã chẳng ăn uống với bọn thu thuế, lê la gần hạng người tội lỗi là gì! 

2.  Giáo Hội Mất niềm tin của giáo dân –  Việc Tòa Thánh truất quyền lãnh đạo của đức TGM Ngô Quang Kiệt được coi là cú shock mạnh đập vào toàn thể khối giáo dân trong cũng như ngoài nước. Thứ nhất là đức cha Kiệt không có tội tình gì cả. Đức TGM Ngô Quang Kiệt làm đúng mà bị bay chức, trong khi Phan Khắc Từ phạm giáo luật công khai thì vẫn ung dung coi xứ. Như vậy có phải là trong GH có hai tiêu chuẩn (standard) luân lý không? Và thứ hai là Tòa Thánh không có lý do gì phải khuất phục bọn cường quyền vô đạo một cách dễ dàng như thế. Tình trạng mất niềm tin của giáo dân vào GH còn gây ra bởi 2 nguyên nhân khác nữa là sư chia rẽ trong hàng ngũ lãnh đạo GH, và sự tha hóa nếp sống đạo đức của một số vị về các mặt chức tước và quyền lực. Hiện tượng chia rẽ giữa các giám mục đã phô bầy ra hiển nhiên, cho dù nói thế nào cũng không thể lấp liếm được. Cứ nhìn vào chủ trương và cung cách hành xử của hai vị HY Phạm Minh Mẫn và giám mục Cao Đình Thuyên thì thấy được. Trước những biến cố đau thương xẩy ra cho GH, HY Mẫn vẫn tỉnh queo tự tại: “Tôi cố gắng đi theo con đường mới Công đồng Vatican II đã mở ra, là đối thoại và hợp tác với mọi tổ chức văn hoá và tôn giáo, kinh tế và chính trị trong cộng đồng xã hội, trên cơ sở sự thật và công ích.” Trong khi đức cha Thuyên đanh thép: “Việc của Thái Hà là việc của chúng tôi”. Và: “Giáo phận Vinh không chỉ có một Cao Đình Thuyên, mà có những 300.000 Cao Đình Thuyên”. Hai lập trường và hai chủ trương hành động như nước với lửa trong cùng một cơ cấu như thế thì làm sao gọi là có đoàn kết nhất trí được. 

     Thế nhưng nguyên nhân quan trọng nhất làm cho giáo dân mất dần tin tưởng vào GH là tính nô lệ vào Tòa Thánh của một số lãnh đạo, lúc này đây lại được phụ họa và cổ võ ồn ào bởi một vài phần tử cuồng tín tại hải ngoại. Thật vậy, những vị như HY Phạm Minh Mẫn, giám mục Bùi Văn Đọc luôn trình bầy Tòa Thánh Vatican như một đế quốc có quyền hoạch định đường lối chính sách mà GHVN phải tuân theo, trong đó việc đối thoại với VGCS như một đường lối bắt buộc. Nếu thế thì TGM Ngô Quang Kiệt và đức Cha Cao Đình Thuyên phải kể là những vị phản lại Tòa Thánh hay sao? Chẳng ai tin rằng Tòa Thánh lại áp đặt đường lối riêng của mình cho các GH địa phương để giải quyết các vấn đề đất nước của họ. Mỗi GH địa phương có những khó khăn riêng và có quyền áp dụng đường lối riêng phù hợp để giải quyết những khó khăn của mình. Lại nữa, nếu đối thoại là nguyên tắc của Phúc Âm như các ông hiểu, thì các ông lại quên mất rằng Chúa đã khiển trách các kinh sư và bọn Pharisieu giả hình và mù quáng. Ngài nguyền rủa chúng là thứ mồ mả tô vôi bên ngoài cho đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Chúa cũng còn phẫn nộ xua đuổi những kẻ buôn bán súc vật trong đền thờ vì họ lạm dung nơi tôn nghiêm để làm giầu và chia lợi tức cho bọn kinh sư và Pharisieu. Giả sử như nếu Chúa chịu khó đối thoại với bọn đầu lãnh trong đền thờ thì nhất định Ngài đã chẳng bị chúng giết, mà biết đâu chúng còn giúp đỡ để Chúa có điều kiện mà truyền đạo cho thong thả.  

     Tư tưởng mất gốc trong GH còn được cổ võ ồn ào bằng những lời lẽ đao to búa lớn của một vài phần tử cuồng tín rất hung hăng tại hải ngoại. Bọn này kẻ thì ra rả thóa mạ và bôi bác những tiếng nói của những người có lương trị. kẻ thì huênh hoang lòe bịp thiên hạ với những tổ chức không tưởng của chúng, nào là Đạo Binh Giáo Hoàng, nào là Khối Công Dân Công Giáo, rồi thì triều đình Vatican v.v. Không biết cái đạo binh hay cái khối của bọn này có được mấy ngoe. Tòa Thánh Phêrô bị chúng trần tục hóa một cách bẩn thỉu như nơi hội họp quan lại của một thời phong kiến đã đi vào dĩ vãng. Cái đạo binh Giáo Hoàng bon này thiết lập ra để làm gì. Giáo Hoàng có cần đến đạo binh của chúng không? Theo Ts Joel Richardson, trước năm 2001 thì hàng năm có khoảng 25.000 người Mỹ bỏ Thiên Chúa Giáo đi theo Hồi Giáo. Sau vụ tấn công World Trade Center ngày 11-9-2001 con số tăng lên gấp 4 lần. Và từ đó người Hoa Kỳ đi theo đạo Hồi tăng lên phi mã. Tại các nước Tây Âu cũng tương tự. 80% các nguời Mỹ theo đạo Hồi được giáo dục tại các trường học Thiên Chúa Giáo (Joel Richarson: The Islamic AntiChrist, p.4-5). Bọn cuồng tín có nên suy nghĩ về hiện tượng cải đạo này và những con số, rồi đặt ra câu hỏi là tại sao không. Đường lối sai, lối sống trần tục hóa, hành động cuồng tín há chẳng phải là những nguyên nhân trực tiếp sao? Phải chăng bọn cuồng tín muốn lập đạo binh Giáo Hoàng để phát động chiến tranh chống lại người Hồi Giáo? 

     Xét cho cùng thì cả lãnh đạo mất gốc lẫn con chiên cuồng tín đều phát sinh từ một nguyên nhân là người ta đã chẳng hiểu đạo là gì, và đời là gì. Lẫn lộn tùm lum giữa các khái niêm về tôn giáo và dân tộc. Tín ngưỡng nói nôm na là niềm tin vào một đấng linh thiêng vô hình, có quyền năng tuyệt đối. Tín ngưỡng của một số đông được định chế thành văn hoặc bất thành văn, cụ thể thành tôn giáo. Tôn giáo cần được quản trị và phát triển nên tự động lập nên giáo hội. Mỗi cá nhân trong một quốc gia đều mang trong mình hai con người, một là con người công dân của một quốc gia, và hai là con người tín hữu của một giáo hội nào đó. Hai con người trong một cá nhân này cần phân bìệt nhau. Con người công dân phải chu toàn trách nhiệm và bổn phận đối với đất nước. Trong khi con người tín hữu phải làm tròn các giao kết tinh thần đối với đấng thiêng liêng theo luật lệ mà giáo hội đặt ra. Lãnh đạo vong bản và con chiên cuồng tín cứ ù ù cạc cạc cho rằng việc nào cũng là việc đạo cả, việc quốc gia cũng phải theo chỉ thị của Giáo Hoàng mà thi hành. Hã trả cho Caezar những gì của Caezar và cho Thiên Chúa cái gì của Thiên Chúa. Đó là lời Chúa dậy. Cái may mắn nhất cho con người là con người có thuộc tính tín ngưỡng. Trái lại điều bất hạnh nhất cho con người là con người đấu tranh với nhau vì lý do tín ngưỡng, hoặc lợi dụng tín ngưỡng cho những dục vọng riêng tư.  

Kết :  Phép Lạ Ông Thần Tài 

     Mọi người đều cho rằng cộng sản vô thần, nhưng kẻ hèn này thì không. Hồ Chí Minh mong ước sau khi chết được gặp Marx, Lenin. Phạm Văn Đồng về già sớm tối gõ mõ tụng kinh. Thằng thiếu tá trại trưởng trại tù nơi tôi bị nhốt, lúc đặt cây đòn giông của cái hội trường mới cất, bắt lính chạy đi mua nhang để cúng kiếng lấy hên. Chả biết nó cúng ai, nhưng dù sao cũng là cúng. Những tên đầu sỏ tôn thờ chủ nghĩa duy vật mà không vô thần thì còn ai là vô thần nữa? Ba tên loại đầu sỏ vô thần không nói lên biểu hiện về một dạng tín ngưỡng nào đó là gì? Ngày xưa thì chưa thấy, nhưng bây giờ người ta đã thấy rõ ràng, CS có tín ngưỡng. Thượng đế chúng thờ là Ông Thần Tài. Cứ theo như tin tức của GS Nguyễn Phúc Liên đưa ra thì đúng là ông Thần Tài đã ban ơn giúp cho Nguyễn Thế Thảo đẩy được đức TGM Ngô Quang Kiệt đi khỏi Hànội. Nếu tên này lấy lòng thành mà cầu thì có thể sẽ được những ơn to lớn về lâu về dài nữa. Chẳng hạn, đức ông Cao Minh Dung sẽ hoặc là được bổ nhiệm là giám mục phó, rồi TGM phó vói quyền kế vị tại Hànội, vì TGM Nguyễn Văn Nhơn đã 72 tuổi rồi, hoặc đức ông sẽ được cử sang làm đại sứ Tòa Thánh tại Hànội. Chuyện đoán mò này rất có khả năng trở thành hiện thực, nếu các tin tức về đức ông Cao Minh Dung do GS Nguyễn Phúc Liên phổ biến là xác thực. Những việc tiên đoán như vậy nếu xẩy ra thì phải hiểu là do tác động của thượng đế là ông Thần Tài chứ kông phải do Chúa Thánh Thần, bởi vì như triết gia Nietzsche người Đức cho biết, ở nơi đó Thiên Chúa đã chết rồi. 

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất




Thơ (Tạp ghi của NNS)


Phạm Duy (nhạc) Apollonaire (thơ)

tamtay.vn - photo - Hoa thạch thảo

1. Nhạc:

Apollinaire

Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi


L’Adieu

J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automme est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends.

                         Apollinaire


Và nhớ nhé! Ta đợi chờ em đó,

Bài thơ chỉ vẽn vẹn chỉ có năm câu. Năm câu phiêu hốt mang thiên nhiên nằm giữa nền thi ca Tây Phương Hiện Đại – năm câu cũng đồ sộ như toàn khối Đường Thi Trung Hoa hay mấy vần tứ tuyệt của một Thôi Hộ.

Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó…

Dịch ra làm sáu câu, tôi có phần áy náy. Nhưng không biết phải làm sao. Cái chất đạm nhiên bát ngát trong bài thơ Apollinaire đang trừ khử hết mọi lối dịch diễn dịch di, dịch tinh, dịch thể.

Cứ thử liều một trận xem sao.

Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng nhìn nhau trên đất nữa
Hương thời gian nhành thạch thảo tí hon
Và nhớ nhé ta đợi chờ em nhé…

Cũng tạm gọi là được.

Nếu ta đem bài thơ bát ngát kia đặt vào giữa nguồn thơ mênh mông của Apollinaire ắt ta dám dịch nó ra làm lục bát Huy Cận, lục bát Nguyễn Du hoặc làm thất ngôn Du Nguyễn.

Đã hái nhành kia một buổi nào
Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao
Thu còn sống sót đâu chăng nữa
Người sẽ xa nhau suốt điệu chào
Em nhớ anh quên và em cũng
Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh
Thời gian đất nhạt mờ năm tháng
Tuế nguyệt ta đà nhị hoán tam.

Dịch như thế là diễn giải một mùi hương ẩn tàng trong nếp gấp. Nhưng đâu có cần gì.

Nếu như cần, thì tớ cứ buông bừa bút mực viết bừa thơ.

Mùa thu chết liễu nhớ chăng em?
Đã chết xuân xanh suốt bóng thềm
Đất lạnh quy hồi thôi hết dịp
Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên


Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường
Nhành hoang thạch thảo ngậm ngùi vương
Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại
Thạch thượng khê đầu nguyệt điểu mang


Xa nhau trùng điệp quan san
Một lần ly biệt nhuộm vàng cỏ cây
Mùi hương tuế nguyệt bên ngày
Phù du như mộng liễu dài như mơ


Nét my sầu tỏa hai bờ
Ai về cố quận ai ngờ ai đi
Tôi hồi tưởng lại thanh kỳ
Tuổi thơ giọt nước lương thì ngủ yên.

Dịch ra như vậy thì tiếp giáp với bài thơ “Je me souvienns”:

Je me souviens de mon enfance
Eau qui dormait dans un verre
Avant les tempêtes l’espérance
Je me souviens de mon enfance


Tôi hồi tưởng tuổi thơ ngày trước
Đáy ly nào giọt nước ngủ yên
Trước khi giông bão muộn phiền
Giậy cơn hy vọng cuối miền thơ ngây.

Je songe aux métamorphoses
 Qui s’épanouissent dans un verre
 Comme l’espoir et la tristesse
Je songe aux métamorphoses

 C’est ma destinée que je lis
Dans les reflets incertains
 Les jeux sont faits rien ne va plus
 C’est ma destinée que je lis

Tôi nghĩ tới tháng ngày chuyển dịch
Những thay hình đổi dạng mở phơi
Trong ly nước mộng tuyệt vời
Với sầu dao động nỗi đời giao thoa


Linh hồn định mệnh âm ba
Bóng vang khép mở đầu hoa mơ hồ
Hỡi ôi dâu biển xô bồ
Hồn trong định mện bây giờ đọc ra.
                          
(Sương Bình Nguyên)
( Trích « Đi vào cõi thơ » của Bùi Giáng )

……………………………………
2.Thơ:


Mường Mán

Lá Tương Tư
 

Sáng nay anh thấy mộng rất đâỳ
Mộng về theo những cánh me bay
Bay từ vai quên sang vai nhớ
Xanh cả hồn anh bé có hay ?

Sáng nay anh thấy hai sao mai
Một trong mắt bé một trên trơì
Tim vui anh thốt lên thành tiếng
Chợt thấy tình cươì trong miệng ai

Sáng nay anh thất mưa rất dài
Mưa từ quá khứ tơí tương lai
Mưa trong coĩ vắng anh ngồi đợi
Mưa ngập ngừng chân bé coĩ ngoài

Sáng nay anh thấy một cánh diêù
Mang tiếng cươì ai vút lên cao
Anh vội xếp lòng thành đôi cánh
Ước đươc làm chim để bay theo

Sáng nay anh thấy một trơì hương
Hương dâng lụt lội cả tâm hồn
Ô hay ! mắt bé là thuyền giấy
Vưà chở Thu về đậu bến hương

Theo trong mắt bé một vầng trăng
Sáng từ mồng một đến đêm rằm
Soi đường tình ái cho anh tớí
Dẫn lối cho hoa tìm đến ong

Quàng lên vai bé một giòng sông
Mêng mông non nước thuở tang bồng
Sông ru tóc ngủ sầu xa ngái
Sông chở phù sa ươm mắt trong

Vẽ lên trán bé những ngày mưa
Khăn quàng áo lụa dài rất thơ
Đôi bàn tay yếu như lá cỏ
Lùa xuống lòng anh lửa bốn mùa

Gắn giưã môi bé một măt trời
Đỏ chùm mộng chín tuổi lên mươì
Cùng bâng khuâng nhớ năm mươì bảy
Và nụ hôn tròn thơm ô mai

Thổi vào lòng bé một tiếng đàn
Anh nghe chầm chậm bước Xuân sang
Những đường tơ nõn rung như nắng
Thứ nắng không màu nhưng rất nhung

Lăn vào hồn bé một cỗ xe
Hai con ngựa trắng bước trong mê
Nhạc vàng khuya rộn đôi vòng ngọc
Nhủ bé rằng anh sẽ trở về

…………………………………………..

Về

Về ngang qua đường cũ
Lá vẫn xanh nguyên màu
Có đôi chùm hoa lạ
Chợt tím vì mong nhau

Về ngang qua quán cũ
Nhạc vẫn vang trong chiều
Lời ca như sóng vỗ
Cuốn lòng ta bay theo

Về ngang qua sông cũ
Đò xưa nay đã già
Trăng hẹn hò thuở nọ
Giờ tách bến nào xa

Về ngang qua phố cũ
Lòng đàn theo nhạc mưa
Ngỡ hai đứa còn đứng
Chụm đầu dưới hiên xưa

Về ngang qua trường cũ
Không dưng thèm vu vơ
Trái me ai chia nửa
Đến bao giờ thôi chua ?

Nhạc:

Tiếng Hát Chim Đa Đa
Nhạc sĩ: Võ Đông Điền.
Ca sĩ: Quang Lê.
 
Về Chim Đa Đa: 
 
Chim đa đa thuộc Lớp (class) Aves (Chim), Họ (familia) Phasianidae, Loài ( species) F. pintadeanus (thuộc họ Trĩ). Loài chim Đa đa phân bố ở Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanma, Philippin, Thái Lan và Việt Nam. Môi trường sống tự nhiên của chim Đa đa là các khu rừng khô cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới và rừng nhiệt đới ẩm thấp. Hồi còn ở Âu châu NNS thấy rất nhiều trên cánh đồng.
Trong bài Thơ của Bà Huyện Thanh Quan có câu:

"Nhớ nước đau lòng con quốc quốc"

Chim Quốc (do tiếng kêu của nó) thuộc họ Gà Nước (Rallidae) nhóm Porzana. (Tiếng Anh: crake).  

"Thương nhà mỏi miệng cái gia gia"

Chim Gia Gia (còn gọi là Đa Đa – cũng do tiếng kêu của nó) tức gà Gô hay Giá Cô 鷓鴣 (Tự Điển Thiều Cửu),
có tên Anh: Chinese francolin.

Thật ra, hai con Quốc và Gia thuộc họ Gà, có người cho là như vậy.
Có thể chim trĩ ở Âu châu mới thật là Pheasant , họ Phasianidae, còn Á châu thì khác (họ Gà) chăng?…Cái này mấy nhà Điểu học ắt biểt rõ hơn.
Whatever, con chim gì cũng được, nhưng phải nói câu Ca dao này hay, nên  nhạc sĩ Võ Đông Điền mới đem phổ luôn vào 2 bản nhạc: Đừng Trách Đa Đa và Tiếng Hát Chim Đa Đa, là thế:

"…Chim Đa Đa đậu nhánh Đa Đa
Chồng gần không lấy, Bậu lấy Chồng xa
Mai kia Cha yếu Mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng…"

Nghe sao mà não ruột…như đọc truyện của nhà văn Sơn Nam…(Con bướm vàng đậu trái mù u..Lấy Chồng chi sớm lời ru thêm buồn…).

Tình Thân,
Kính.

NNS
………………………………………………………………………………………
2.Thơ:

Ngày Về, Qua Ðò Cuối Năm

Nguyễn Ðông Giang

. chiều cuối năm ta lên đó qua sông
gió thổi hiu hiu nắng úa bên lòng
An Hải ơi ! xin mừng ta trở lại
thuở ấu thời, con ngựa già long đong

ôi đời ta buồn như mùa đông
râu tóc hắt hiu cái rụng cái còn
già nửa đời người dạn dày lận đận
chợt nghe hồn vừa nở những nhánh bông

có ai đợi ta trên con đò cuối năm
ôi, chỉ bóng ta chao bóng xuôi dòng
mặt mũi tiêu điêu theo phần đời gió nổi
cái đời buồn như nước chảy trăm năm

thêm một mùa xuân ta già thêm một đổi
tim phổi héo hon theo ngày tháng vô tình
cũng gắng quay về nằm trên đất mẹ
chúa đã buồn nhưng ta lại buồn hơn

đã mấy mươi năm ta hát khúc tiêu dao
đời còn ai là bậc anh hào
chẳng lẽ khóc để cho đời mai mỉa
chẳng lẽ cười khi thế sự lao đao

ta cứ dửng dưng như không có gì
giả bộ yêu đời như mọi khi
dan diú đời ta những thơ cùng rượu
còn nắng còn mưa nên chẳng thiết gì

nghĩ quẩn nghĩ quanh thêm buồn đời thi sĩ
hương khói nhà ai chạnh nhớ quê nhà
thôi chào em, chào con đò năm cũ
trôi vào xuân – ta, lòng rụng xót xa

Nguyễn Ðông Giang

……………………………………………………………………………
Một Thuở Tam Kỳ

Trần Yên Hòa

. hồn rất lạ giữa bến bờ mông quạnh
ngày đi qua miên viễn xứ long đong
có một chút nắng vàng trong cốc lạnh
mùa xuân xưa còn vọng tuổi thơ hồng

có một dạo em ngồi hong tóc ướt
áo vàng bay chiều lạc lối đi về
nghe tim gọi từng đêm lòng thổn thức
nét son nào còn lại nỗi si mê

có một chút lòng em còn để lại
chút hương thơm của một thuở Tam Kỳ
năm tháng ấy còn in mùi hoa dại
áo trăng xưa cho lòng ta tình si

một chút nắng, một chút mưa, một chút nhớ
cõi lòng ta mưa gío tạc bùi ngùi
em giữ mãi trong lòng ta nỗi nhớ
và mùi hương ngào ngạt mãi khôn nguôi…

Trần Yên Hòa

………………………………………………………………………………………….
Tình Thân.
Kính.

NNS

Mùa Thu Chết
Nhạc: Phạm Duy
Ý Thơ: Apollinaire
Ca sĩ: Lệ Thu.
……




Kỵ Binh : Mơ Được Gặp Chúa / Thư để lại của một quan tham sắp bị tử hình ở Trung Quốc

Chào  Bác giữa đêm,

Nhận meo Bác cả tháng rồi mà mãi đến nay Tèo mới phúc đáp được. Lý do chậm trể là lòng dạTèo đang cực kỳ hoang mang, trăm mối tơ vò trước “việc đạo” nhà Tèo xem ra đang có mòi “đổi mới tư duy” quy lụy “việc đời”xã hội chủ nghĩa…Tâm tư của Tèo lúc này ngẫm ra hao hao  tâm tư tổng thống thiệu, “mất đất nước là mất tất cả”, việc nhà đạo cũng đang có mòi mất luôn, Tèo buồn quá chẳng còn muồn nói năng chi, chẳng  buồn i-meo i-miếc chút nào nữa. Xin Bác lượng thứ .








con kiến đen nằm dưới cục đá đen trong một đêm trời tối đen ( Tèo xin mượn lời cố LM. Trần Thanh Ngoạn giảng ở nhà thờ chánh tòa Banmêthuột thập niên 60 của thế kỷ trước)  đâu cần lên mạng như bác cháu ta lên mạng lâu nay . May nhờ Chúa chẳng chấp nhất gì nên chỉ nhìn Tèo cười khẩy rồi phán tiếp:

 bài “Miền Bắc 20 Năm Xây Dựng XHCN” với luận điệu ca ngợi CS khiến con tức giận, nhưng chính khi bọn linh mục quốc doanh lũng đọan hàng giáo phẩm nhằm hủy bỏ chuyện Giáo Hội phong thánh cho 117 vị tử đạo VN, cha Tín đã lên tiếng bênh vực mạnh mẽ quyết định của ToàThánh hơn cả hàng giám mục..” Tất cả chỉ là cái roi như cái roi chủ nghĩa CS chính ta sinh ra để vừa trừng phạt vừa cho sáng mắt ra loài người tội lỗi u mê. Trái đất con ở đang vào giai đoạn vàng thau lẫn lộn mà thau lắm hơn vàng; Giáo Hội Công Giáo VN  lúc này lại càng cần phải thanh tẩy ưu tiên hàng đầu.



******************************************************************************

“Thư để lại” của một quan tham sắp bị tử hình ở Trung Quốc

 
Văn Cường nguyên Giám đốc Sở Tư pháp
 
 

Dương Danh Dy giới thiệu

 

Văn Cường nguyên Giám đốc Sở Tư pháp, nguyên Phó Giám đốc Sở Công an thành phố Trùng Khánh do phạm tội tham ô( nhận hối lộ hơn 12 triệu NDT, không thuyết minh được số tài sản trị giá hơn 10 triệu NDT..) hủ hóa, bao che cho bọn mafia.. đã bị toà án thành phố này tuyên án tử hình ngày 7/7/2010. Trước khi chết hắn đã để lại bức thư, xin lược dịch giới thiệu.

“Ta sống không nổi mấy ngày nữa đâu. Ta không ngờ lại bị phán tử hình, nhưng đã đến bước đó thì kháng cáo lên trên cũng chẳng có kết quả gì. Ta đây, cả cuộc đời làm công an, đã xử rất nhiều vụ án lớn, đã giết rất nhiều người, trước đây đã từng lo rằng sẽ có một ngày sẽ chết trong tay người nhà một số kẻ bị mình xử tử hình, không ngờ cuối cùng lại bị chết trong tay người của mình…Thế nhưng, ta đã nghĩ ra, những sự việc mà ta tham dự và biết được quá nhiều, nếu ta không chết sẽ có rất nhiều kẻ ăn không ngon ngủ không yên. Không giết ta, hậu hoạn lớn vô cùng, ta chết sẽ có lợi cho bọn chúng…Vì vậy có mấy câu muốn nói rõ trước khi đi xa.

 

Văn Cường (người ngồi bên trái) trả lời phỏng vấn trước giờ thi hành án tử hình hôm 7/7.

 

Nói ta tham ô bao nhiêu tiền, chơi bao nhiêu con gái. Ta không phủ nhận điều đó.Nhưng điều ta muốn nói là, điều đó đáng trách ta nhưng cũng không đáng trách ta, tất nhiên trách nhiệm của ta là lớn hơn. Bất kể là ai nếu đặt vào vị trí của ta đều sẽ tham ô nhiều như vậy, chơi gái nhiều như vậy, thậm chí còn nhiều hơn. Có một số nữ học sinh, ta không chơi thì người khác cũng sẽ chơi. Nói Văn Cường ta đây cưỡng hiếp, ta mà lại phải cưỡng hiếp à?…Ai chẳng biết cán bộ hiện nay nếu không tham ô, không háo sắc thì ai dám tin, dám trọng dụng anh? Dù anh làm việc có tốt đi nữa cũng chẳng có ích gì! Loại cán bộ giống như ta, trong cả nước nếu không nói là mấy triệu thì chí ít cũng phải tới mấy chục vạn người. Chỉ bêu xấu rồi giết một mình Văn Cường, thì giải quyết được cái gì?

 

Điều ta muốn nói nữa là, con đường ta đi từ một anh cảnh sát nhỏ bé tại huyện Ba rồi lên tới chức Phó Giám đốc Sở Công an một thành phố trực thuộc trung ương, không phải là chỉ bằng con đường tham ô… Đối với ta trước tiên là công việc sau mới đến tham ô… Ai cho ta cái quyền muốn làm gì thì làm ở Trùng Khánh? Nhiều người biết rõ một số việc ta đã làm nhưng lại giả bộ là không biết? Đã không muốn để ta sống thì ta sẽ nói hết mọi điều ra: ta tham không chỉ có số tiền đến thế! Vậy số còn lại đi đâu? Tất nhiên là đến nhà người ta, có việc ta nhờ người làm, có một số việc tự ta làm. Nhờ người khác làm không có tiền có được không? Những người lấy tiền của ta cũng như những người đưa tiền cho ta hiện nay đang hướng dẫn quần chúng tham quan những trưng bầy chứng tích tham ô của ta. Ta không phủ nhận tính chân thực của các chứng tích đó, nhưng nếu các người tới nhà những kẻ đó xem xét sẽ thấy chút quà bẩn thỉu mà ta nhận thật đáng thương.

 

Văn Cường ta cũng là người có học… Trước đây ở Trung Quốc, đã có rất nhiều người vỗ tay khen ngợi việc chặt đầu bọn tham nhũng. Thế nhưng sau những cái vỗ tay khoái chí đó mọi việc vẫn như cũ. Mấy trăm năm qua Trung Quốc có thay đổi không? Ta thấy chẳng thay đổi gì cả. Giết ta chẳng qua là bịt được mồm một mình ta, nhưng liệu có bịt được nguồn gốc hủ bại không? Hôm qua trên đường phố Trùng Khánh có rất nhiều người đốt pháo. Ta không biết ba năm sau liệu bọn họ lại có phải đốt pháo nữa hay không? Sợ rằng đến lúc đó những người đã bán đứng ta sẽ lại ca ngợi ta và dân chúng không rõ chân tướng lúc này sẽ thấy Văn Cường cũng có chỗ tốt đấy chứ. Khi ta làm Phó Giám đốc công an Trùng Khánh tỷ lệ phạm tội có cao nhưng so với mấy thành phố lớn khác, Trùng Khánh tốt hơn nhiều…

 

… Biến ta thành người như thế này là do chính xã hội, chính chế độ này. Ta nói như vậy không phải là muốn đẩy hết trách nhiệm cho người khác. Nếu như năm đó ta không rời huyện Ba, yên tâm làm một anh cảnh sát bình thường ở đó thì hôm nay ta không phải như thế này.Tham công danh lợi lộc là sai lầm lớn nhất đời ta. Sau khi ta chết con cháu không lấy họ Văn nữa mà đổi thành họ khác, và con cháu các đời từ nay trở đi đừng theo nghiệp chính quyền, đừng làm quan, hãy xa lánh công danh lợi lộc.

 

Bình thường, bình yên mới là phúc.”